Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Bất chấp những quan ngại về ô nhiễm môi trường, Trung Quốc tiếp tục tài trợ cho các dự án nhiệt điện than ở Đông Nam Á

Trong khi than đang bị dần loại bỏ ở thế giới phát triển vì những quan ngại về ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu, loại nhiên liệu này hiện vẫn là một lựa chọn năng lượng đang ngày một gia tăng ở nhiều nơi tại Đông Nam Á với vốn đầu tư từ Trung Quốc.

than1

Nhiệt điện Vĩnh Tân ở Bình Thuận. Hình chụp hôm 23/4/2019 - AFP

Trong khi nhiều thị trường, bao gồm Mỹ, Châu Âu và Đông Á, đang tránh sử dụng than, các ngân hàng, các công ty xây dựng và năng lượng của Hoa Lục vẫn tiếp tục cam kết cung cấp tài chính và xây dựng hàng chục nhà máy chạy than ở Indonesia, Việt Nam, Campuchia và Lào.

Điều này diễn ra bất chấp những quan ngại về sự xuống cấp của môi trường, mức cung về điện vượt quá mức cầu, và ô nhiễm không khí. Than hiện được nhiều nơi xem là nguồn nhiên liệu hóa thạch bẩn nhất cho việc phát điện, với việc thải khí gây hiệu ứng nhà kính cao nhất, cộng thêm là các vấn đề về chất lượng đất, nước và không khí rộng khắp do việc khai thác, đốt và chất thải từ than.

than2

Bầu trời Hà Nội bao phủ bởi khói bụi hôm 27/9/2019. Hình AFP

"Rõ ràng là Trung Quốc là nhà đầu tư chính cho than ở Đông Nam Á", Isabella Suarez, một nhà phân tích ở Philippines thuộc Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và không khí sạch (CREA) nói. "Nếu bạn nhìn vào hồ sơ đầu tư ở nước ngoài của than Trung Quốc, thì Indonesia, Việt Nam đứng thứ hai và thứ ba trên thế giới".

Nhiệt điện than chiếm 56% năng lượng điện của Indonesia, 34,3% ở Việt Nam và 29,3% ở Campuchia.

Trung Quốc thống trị than ở nước ngoài

Trung Quốc là nước duy nhất ngày càng tích cực trong việc theo đuổi việc đầu tư vào các dự án than. Các tổ chức tài chính của Trung Quốc bao gồm Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc, Ngân hàng Trung Quốc, ICBC, và Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc được xếp vào những tổ chức đứng đầu danh sách 11 tổ chức cung cấp tài chính cho nhiệt điện than và top 10 tổ chức cung cấp tài chính cho việc khai thác than. Đó là kết quả theo báo cáo có tựa Banking on Climate Chaos được công bố vào cuối tháng ba của một liên minh các tổ chức NGO quốc tế bao gồm Rainforest Action Network (Mạng lưới Hành động bảo vệ rừng), Sierra Club, và Oil Change International.

Báo cáo cho thấy trong tổng số vốn đầu tư, các ngân hàng Trung Quốc chiếm tới 244,7 tỷ đô la đầu tư vào lĩnh vực liên quan đến than kể từ năm 2016, nhiều hơn các ngân hàng lớn nhất của Hoa Kỳ, Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và Canada cộng lại.

Các dự án do Trung Quốc tài trợ ở Đông Nam Á bao gồm cơ sở 8 của trạm phát điện Baten Suralaya với công suất 625 MW và các nhà máy Bangko Tengah Sumsel 8 với công suất 1.200 MW ở Indonesia ; nhà máy điện Vĩnh tân 3 với công suất 1.980 MW ở Việt Nam ; trạm phát điện Botum Sakor 700 MW ở Campuchia ; và trạm phát điện Dinginin 668 MW ở Philippines.

Các cộng đồng cư dân địa phương tích cực phản đối các dự án này vì ảnh hưởng lên môi trường và xã hội. Nhà máy Sumsel 8 ở Indonesia là một dự án đặc biệt gây quan ngại vì cơ sở khai thác than lộ thiên mà gần đó nhà máy nhiệt điện than được xây dựng.

"Khi các nhà máy này hoạt động, cộng đồng dân cư gần đó sẽ phải đối mặt với ảnh hưởng kép", chuyên gia Pius Ginting - Giám đốc điều hành của tổ chức Akssi Ecologi Dan Energi Rakyat (AEER) ở Jakarta nói. Đây là tổ chức lên tiếng phản đối các dự án than của Trung Quốc. "Một là ô nhiễm nước và không khí từ nhà máy than, thứ hai là từ việc khai thác than, vì mỏ than cũng nằm cùng nơi".

AEER (Năng lượng của người dân và hành động sinh thái) hôi đầu năm 2021 đã gửi một bức thư bày tỏ quan ngại đến nhà cung cấp tài chính chính là Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Trung Quốc, công ty đi đầu trong việc xây dựng dự án nhiệt điện này tại Indonesia, Tập đoàn Huadian của Trung Quốc, và Đại sứ quán Trung Quốc tại Jakarta. AEER vẫn chưa nhận được phản hồi nào.

Bên cạnh những tác động về môi trường, chuyên gia Ginting lo ngại là việc tài trợ từ Trung Quốc cho các dự án than sẽ khiến Indonesia khó có thể đầu tư vào năng lượng tái tạo.

than3

Một tàu chở than ở sông Mahakam ở Samarinda, Indonesia hôm 2/3/2016. Reuters

Lo ngại ô nhiễm và tài chính

Một mối lo ngại nữa là ô nhiễm không khí. Các thành phố ở Đông Nam Á bao gồm Jakarta và Hà Nội thường xuyên bị xếp vào các thành phố ô nhiễm nhất thế giới, và than là tác nhân gây ra tình trạng này do sự hiện diện của các nhà máy than do Trung Quốc tài trợ.

Theo một báo cáo vào năm 2020 của CREA, ô nhiễm qua biên giới từ các nhà máy nhiệt điện than ở các tỉnh láng giềng, như nhà máy do Trung Quốc tài trợ ở Baten, có thể dẫn đến ảnh hưởng đến sức khoẻ cao một cách đáng kể ở Jakarta. Tương tự, một phân tích vào tháng ba năm 2021 ở Việt Nam cho thấy 24 nhà máy nhiệt điện than đã được lên kế hoạch, phần lớn được Trung Quốc đầu tư, có thể khiến 70.000 người chết sớm.

Một nhân tố lớn là thiếu tiêu chuẩn về kiểm soát ô nhiễm.

"Các nhà máy than đang được xây dựng ở nước ngoài nhìn chung gây ô nhiễm nhiều hơn và ít hiệu quả hơn so với các nhà máy được xây dựng ở trong Trung Quốc", Chuyên gia Suarez cho biết.

Một quan ngại nữa là những thoả thuận này đặt gánh nặng tài chính trong thời gian dài lên nước nhận đầu tư, bằng cách khóa chặt họ vào điều khoản thanh toán dài hạn ngay kể cả nếu như nhà máy đó không còn cần thiết nữa. Khi xem xét tuổi đời rất lâu của các nhà máy điện chạy than – lên đến 50 năm – các nước như Indonesia, Việt Nam, Campuchia có thể sẽ phải trả cho Trung Quốc vì năng lượng bẩn trong nhiều thập kỷ.

"Đối với Trung Quốc, đó là một trò chơi dễ dàng. Cung cấp vốn lưu động, xây dựng một nhà máy với lực lượng lao động của chính họ, rồi sau đó phía bên kia sẽ trả lại tiền, và thế là tôi đòi lại được tiền cho vay của mình", chuyên gia Ghee Peh, một nhà phân tích tài chính năng lượng than ở Hong Kong thuộc Viện Kinh tế Năng lượng và phân tích tài chính (IEEFA), cho biết. Theo IEEFA, phần lớn các tài trợ than của Trung Quốc ở nước ngoài tận dụng nguồn lao động Trung Quốc là chủ yếu, bao gồm các nhà thầu Trung Quốc, công nghệ Trung Quốc. Điều này đặt ra câu hỏi nền kinh tế địa phương thực sự được lợi bao nhiều từ các thoả thuận này.

than4

Những dự án nhiệt điện than do Trung Quốc tài trợ tại Đông Nam Á - Hình : RFA

Chờ đợi các lời hứa xanh từ Trung Quốc

Trong năm qua, những nhà cung cấp tài chính lớn thứ hai và thứ ba cho các dự án nhiệt điện than ở Đông Nam Á là Nam Hàn và Nhật Bản đã công bố kế hoạch giảm dần các khoản đầu tư vào than. Sau đó, vào đầu năm nay, Ngân hàng CIMB ở Malaysia tuyên bố ngân hàng này cũng loại bỏ than khỏi hồ sơ đầu tư chậm nhất đến năm 2040. Đây là ngân hàng đầu tiên ở Đông Nam Á làm như vậy.

Đã có nỗ lực nhằm đưa các nguyên tắc xanh và bền vững vào Sáng kiến Vành đai Con đường (BRI), một chiến lược phát triển hạ tầng cơ sở do chính phủ Trung Quốc đầu tư đưa ra vào năm 2013 nhằm đầu tư vào gần 70 quốc gia khắp thế giới. Cũng đã có hy vọng rằng việc Trung Quốc thêm điều khoản "Văn minh sinh thái" vào năm 2018 là một phần của chương trình phát triển kinh tế bền vững sẽ đồng nghĩa với việc ít đầu tư hơn cho than.

Tuy nhiên, tại Đông Nam Á, hiện vẫn chưa có dấu hiệu nào cho thấy Trung Quốc sẽ theo các nước láng giềng và ngừng xuất khẩu cũng như tài trợ rộng rãi cho công nghệ than gây ô nhiễm trong khu vực.

"Cho đến khi có được những hướng dẫn chính sách cho các tổ chức đầu tư, chúng tôi sẽ không nhìn thấy thay đổi nào, và đó là lý do một Sáng kiến Vành đai Con đường xanh vẫn chưa thực sự xảy ra", chuyên gia Suarez nói. "Việc đầu tư ra nước ngoài thì tốt cho các tổ chức nội địa của họ (Trung Quốc) và giúp cho nền kinh tế của chính họ"

Nithin Coca

Nguồn : RFA, 02/05/2021

Published in Diễn đàn

Trung Quốc "lôi kéo" ASEAN phản công chiến lược vac-xin của Bộ Tứ - QUAD

Thu Hằng, RFI, 09/04/2021

Khu vực Đông Nam Á hiện là điểm nóng trong cuộc đối đầu Mỹ-Trung. Bắc Kinh không để Washington gây ảnh hưởng với các nước ASEAN về vac-xin ngừa Covid-19 khi thông báo ý định kết hợp với ít nhất bốn nước Đông Nam Á để sản xuất đại trà vac-xin.

sinovac1

Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte (G) nhận lô vac-xin ngừa Covid 19 mà Trung Quốc tặng hôm 28/02/2021, tại sân bay Manila. AP - TOTO LOZANO

Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị lần lượt họp với ngoại trưởng bốn nước Singapore, Malaysia, Indonesia và Philippines tại tỉnh Phúc Kiến từ ngày 31/03 đến 02/04/2021 trong đó có dự án hợp tác riêng lẻ với 4 nước này để sản xuất vac-xin của Trung Quốc.

Huy động nhiều nước ASEAN tham gia sản xuất và phân phối vac-xin

Theo trang Global Times ngày 05/04, Trung Quốc và Indonesia, cũng như Trung Quốc và Malaysia thống nhất về nghiên cứu, phát triển các loại vac-xin, cũng như hợp tác về sản xuất. Trong khi đó, với Singapore, hai nước sẽ thúc đẩy hợp tác về toàn bộ chuỗi cung ứng trong việc cung cấp vac-xin. Còn với Philippines, hai nước nhất trí tăng cường công tác phê duyệt vac-xin.

Khác với dự án vac-xin của Bộ Tứ - QUAD, chủ yếu sản xuất tại Ấn Độ với mục tiêu cung cấp 1 tỉ liều từ nay đến cuối năm 2022 cho các nước Đông Nam Á và rộng hơn là cho vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương, Bắc Kinh chủ trương lôi kéo các nước ASEAN trực tiếp tham gia sản xuất và phân phối vac-xin của Trung Quốc.

Hầu hết các nước Đông Nam Á (trừ Việt Nam và Singapore chưa cấp phép sử dụng), được Trung Quốc tặng vac-xin. Indonesia và Malaysia kết hợp vac-xin AstraZeneca trong khuôn khổ chương trình Covax và vac-xin của Trung Quốc để thực hiện chiến dịch tiêm chủng từ đầu năm. Ngày 08/04, Jakarta cho biết đang đàm phán với Bắc Kinh để mua 100 triệu liều của tập đoàn Sinovac Biotech do vac-xin AstraZeneca bị giao chậm.

Một khó khăn khác cho chiến lược vac-xin của QUAD là Ấn Độ, nhà sản xuất chính, đang đối mặt với làn sóng dịch tái bùng phát. New Delhi từng tuyên bố hạn chế xuất khẩu vac-xin AstraZeneca để ưu tiên tiêm chủng trong nước. Trong khi đó, Mỹ, nước phát triển vac-xin Pfizer/BioNTech, dường như chưa sẵn sàng chia sẻ công nghệ. Ngày 05/04, đại sứ Việt Nam tại Mỹ gợi ý Washington hợp tác chuyển giao công nghệ, bằng sáng chế, sản xuất vac-xin. Đến ngày 08/04, Indonesia cũng "đề nghị Mỹ cung cấp vac-xin khi nước này kết thúc tiêm chủng và bán vac-xin ra nước ngoài".

Ngược lại với các nước phương Tây bị dịch tác động mạnh, Trung Quốc tăng tốc mở rộng ảnh hưởng khắp thế giới thông qua chính sách ngoại giao vac-xin nhờ khống chế được dịch ở trong nước. Đây chính là một trong những lý do để Bắc Kinh không ngừng chỉ trích "chủ nghĩa dân tộc vac-xin".

Chủng ngừa nền kinh tế Đông Nam Á ?

Thông qua chiến lược vac-xin ở Đông Nam Á, Trung Quốc còn muốn tái khẳng định "luôn là đối tác lớn của vùng", đồng thời gửi tín hiệu đến các nước ASEAN là nên "ngả theo Bắc Kinh thay vì ngả theo Washington", theo nhận định của giáo sư Stephen Nagy, Đại học Thiên Chúa Giáo Quốc Tế Tokyo, được trang VOA trích ngày 05/04.

Thúc đẩy hợp tác vac-xin với các nước ASEAN còn nhằm mục đích phục hồi kinh tế khu vực Đông Nam Á, bị sụt giảm nghiêm trọng trong năm 2020 do mất doanh thu từ du lịch và giảm xuất khẩu. Từ năm 2020, ASEAN trở thành đối tác hàng đầu của Trung Quốc nên Bắc Kinh cần nền kinh tế Đông Nam Á tăng trưởng trở lại và như vậy mới có thể tái khởi động các dự án trong khuôn khổ Con đường tơ lụa mới. Cuối cùng, nếu có được miễn dịch cộng đồng nhờ tiêm chủng, các nước Đông Nam Á mới có thể hy vọng đón được du khách Trung Quốc, chiếm nguồn thu chính của nhiều nước ASEAN.

Tuy nhiên, Bắc Kinh vừa quyết định tăng tốc tiêm chủng cho dân với mục tiêu đạt 40% vào tháng Sáu và 80% đến cuối năm để chuẩn bị cho Thế Vận Hội Mùa Đông 2022. Với số dân cư đông nhất thế giới, liệu Trung Quốc có thể vừa bảo đảm đủ được số liều trong nước lẫn tiếp tục chính sách ngoại giao vac-xin trên thế giới ?

Thu Hằng

*********************

Việt Nam khó cưỡng lại chính sách "ngoại giao vac-xin" của Trung Quốc

Thanh Phương, rfvi, 05/04/2021

Là nơi xuất phát đại dịch Covid-19, Trung Quốc đang đẩy mạnh việc cung cấp vac-xin ngừa virus corona như một chính sách ngoại giao để gia tăng ảnh hưởng trên khắp thế giới, đặc biệt là tại Đông Nam Á. Nhưng Việt Nam đang cố cưỡng lại chính sách ngoại giao vac-xin này của Bắc Kinh, cho tới nay vẫn chưa dùng thuốc tiêm ngừa "made in China". Vấn đề là, về lâu dài, để có đủ vac-xin chích cho toàn dân, chính phủ Hà Nội chắc sẽ buộc phải nhập luôn cả vac-xin Trung Quốc.

sinovac2

Một phụ nữ được chích ngừa tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Hải Dương, tỉnh Hải Dương, Việt Nam, ngày 08/03/2021. Reuters - THANH HUE

Mặc dù đã phê chuẩn tổng cộng 4 loại vac-xin, nhưng chính phủ Trung Quốc lại không vội vã chích ngừa Covid cho người dân nước họ. Tính đến tháng 3, chỉ mới có chưa tới 50 triệu dân Trung Quốc được tiêm chủng, tức chỉ khoảng 4% tổng dân số, so với tỷ lệ 19% ở Hoa Kỳ.

Trung Quốc đã từng tuyên bố họ có thể sản xuất ít nhất 2,6 tỷ liều vac-xin trong năm 2021. Là nước sản xuất vac-xin hàng đầu thế giới, Trung Quốc cũng là quốc gia xuất khẩu vac-xin nhiều nhất : 560 triệu liều, tức là một phần tư sản lượng quốc gia. Bắc Kinh đã ký hiệp định thương mại về cung cấp vac-xin với 27 quốc gia, tặng các liều vac-xin cho hơn 50 quốc gia. Theo tổng kết của hãng tin AP, Trung Quốc đã cam kết cung cấp tổng cộng nửa tỷ liều vac-xin cho hơn 45 quốc gia.

Mục tiêu chính trị, ngoại giao, kinh tế

Nhằm mục đích quảng bá cho vac-xin "made in China", gần đây Bắc Kinh còn đề nghị sẽ cho nhập cảnh dễ dàng đối với những du khách nào đã chích ngừa Covid-19 bằng một vac-xin của Trung Quốc.

Như nhận định của chuyên gia Pháp về chính sách ngoại giao và an ninh của Trung Quốc Antoine Bondaz, Quỹ Nghiên cứu Chiến lược, trả lời đài TV5MONDE ngày 27/03/2021, một mặt cố làm cho mọi người quên đi trách nhiệm của họ trong việc để cho đại dịch Covid-19 lan ra toàn cầu, mặt khác, Bắc Kinh "kể từ nay tìm cách lợi dụng đại dịch để thúc đẩy ngoại giao y tế nhằm đạt được những mục tiêu chính trị, ngoại giao và kinh tế".

Theo nhận định của nhật báo Anh The Guardian ngày 27/03/2021, chính sách "ngoại giao vac-xin" của Trung Quốc đang bị quốc tế chỉ trích, vì việc cung cấp thuốc tiêm ngừa kèm theo nhiều điều kiện và bị xem như là một công cụ để gia tăng ảnh hưởng địa chính trị. Ấy là chưa kể những cáo buộc rằng kiều dân Trung Quốc tại những nước nhận vac-xin "made in China" đã được ưu tiên chích ngừa.

Cũng theo đài TV5MONDE, đa số các liều vac-xin xuất khẩu là sang Châu Phi. Vào lúc mà Mỹ và Châu Âu đang phải lo chích ngừa cho dân của họ và chương trình COVAX của Liên Hiệp Quốc không thể đáp ứng nhu cầu của các nước nghèo, dĩ nhiên là các nước Châu Phi rất hoan nghênh món quà "made in China" này. Trung Quốc nay đã cung cấp thuốc tiêm ngừa Covid cho 17 nước Châu Phi, chủ yếu là loại vac-xin Sinopharm. Vac-xin này có ưu điểm là vừa rẻ tiền, vừa dễ lưu giữ, vì chỉ cần được giữ với độ lạnh từ 2 đến 8 độ, tức là trong những tủ lạnh thường, chứ không phải trong những tủ đá cực lạnh, như với các loại vac-xin Pfizer/BioNtech và Moderna.

Vac-xin "made in China" ở Đông Nam Á

Chính sách "ngoại giao vac-xin" của Trung Quốc cũng có vẻ thành công đối với các nước Đông Nam Á. Theo The Guardian, Bắc Kinh đã hứa tặng thuốc tiêm ngừa cho các nước Brunei, Cam Bốt, Lào và Miến Điện. Philippines, tuy đang có tranh chấp chủ quyền Biển Đông với Trung Quốc, cũng đã được tặng hơn 600.000 liều, trước khi đặt mua 25 triệu liều. Indonesia thì đã mua hơn 150 triệu liều vac-xin Sinovac, Sinopharm và CanSino. Malaysia, Thái Lan cũng đã đặt mua vac-xin Trung Quốc. Nói chung, các nước Đông Nam Á tiếp nhận chính sách "ngoại giao vac-xin" của Trung Quốc như thế nào, trả lời RFI Việt ngữ ngày 31/03/2021, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, cho biết :

"Hiện tại đã có rất nhiều nước ở Đông Nam Á phê duyệt và bắt đầu triển khai chương trình tiêm chủng sử dụng vac-xin Sinovac của Trung Quốc, nhất là Indonesia. Malaysia, Thái Lan, Cam Bốt ... đều đã triển khai sử dụng vac-xin Sinovac của Trung Quốc trong thời gian gần đây. Kể cả Philippines, nước có quan hệ khá là căng thẳng với Trung Quốc, đặc biệt là trên hồ sơ Biển Đông, cũng đã duyệt sử dụng vac-xin Sinovac của Trung Quốc.

Nhìn rộng ra hơn, chúng ta thấy có một số khác biệt trong thái độ đối với vac-xin Sinovac ở cấp độ chính phủ và cấp độ người dân. Chẳng hạn như Philippines, chính phủ đã phê duyệt sử dụng đại trà vac-xin Sinovac, tuy nhiên đa số người lại ngờ vực và không muốn được chích bằng vac-xin này.

Singapore thì mặc dù chưa phê duyệt vac-xin Sinovac của Trung Quốc và cũng chưa có đề nghị gởi vac-xin này sang Singapore, nhưng Trung Quốc đã chủ động gởi một lô vac-xin Sinovac cho Singapore cách đây hai tháng, hàm ý hối thúc Singapore phê duyệt sử dụng vac-xin này. Singapore là một quốc gia phát triển và có tiêu chuẩn rất cao về an toàn y tế, cho nên nếu Singapore phê duyệt vac-xin Sinovac của Trung Quốc thì uy tín của loại vac-xin này sẽ tăng lên trên thế giới.

Cùng quan điểm thận trọng như Singapore thì có Việt Nam. Cho tới nay Việt Nam cũng chưa phê duyệt sử dụng vac-xin nào của Trung Quốc cả. " Ngoại giao vac-xin" của Trung Quốc nhìn chung có một số bước tiến trong khu vực. Tuy nhiên, những bước tiến này không đồng đều và vẫn gặp phải một số trở ngại đáng kể.

Ngay trong người dân Trung Quốc cũng có rất nhiều người e ngại về sự an toàn và hiệu quả của vac-xin Trung Quốc, thì cũng dễ hiểu khi các quốc gia khác hay người dân ở các quốc gia khác không tin tưởng vào các loại vac-xin này".

Riêng tại Philippines, công luận đã tỏ ra quan ngại khi thấy có 400.000 liều vac-xin CoronaVac mà Trung Quốc tặng đã được đưa đến nước này vào ngày 24/03, chỉ một ngày sau khi Manila vừa lên tiếng yêu cầu Bắc Kinh rút các tàu ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Philippines.

Phó chủ tịch Hạ Viện Philippines Rufus Rodriguez đã yêu cầu làm sáng tỏ một điều : chính phủ có đã " đổi chác " gì với Trung Quốc hay không khi nhận món quà tặng này, bởi vì thời điểm tặng vac-xin trùng hợp với việc Trung Quốc đưa tàu xâm nhập lãnh hải của Philippines ? Nhưng ngoại trưởng Teodoro Locsin Jr. khẳng định là hai vấn đề này không có liên hệ gì với nhau.

Việt Nam : Cưỡng lại trong bao lâu ?

Còn Việt Nam thì đang cố cưỡng lại chính sách "ngoại giao vac-xin" của Trung Quốc, nhưng trong bao lâu nữa ?

Với chưa tới 3000 ca nhiễm và chỉ có 35 ca tử vong cho tới nay, theo các số liệu chính thức, Việt Nam hiện chưa phải gấp rút chích ngừa Covid-19 như nhiều nước khác. Nhưng để có thể mở cửa biên giới trở lại đón khách nước ngoài, về lâu dài, Việt Nam cũng phải làm sao tiêm phòng cho toàn dân.

Việt Nam đã khởi động chiến dịch chích ngừa từ ngày 08/03 với 117.600 liều vac-xin AstraZeneca nhận được vào tháng trước trong khuôn khổ chương trình COVAX. Nhưng chương trình này đang bị chậm trễ đối với toàn bộ các nước, kể cả Việt Nam. Cho nên, ngoài AstraZeneca, Việt Nam sau đó đã phải cấp phép cho vac-xin Sputnik V của Nga. Vì sao cho tới nay Hà Nội vẫn chưa muốn sử dụng vac-xin của Trung Quốc, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp giải thích :

"Có lẽ là do Việt Nam đã thành công đáng kể trong việc dập dịch vào năm ngoái, cho nên các giới chức Việt Nam có phần nào đây hơi chậm trễ so với các nước khác trong việc ký các hợp đồng mua vac-xin và triển khai sử dụng vac-xin.

Chỉ tới khoảng tháng 1, tháng 2 vừa rồi, khi dịch bùng lên trở lại, tôi mới thấy có sự cấp bách trong cách tiếp cận của Việt Nam đối với vac-xin. Điều này cũng dẫn tới việc là Việt Nam chưa xét duyệt nhiều loại vac-xin, cho tới nay chỉ mới phê duyệt hai loại vac-xin AstraZeneca và Sputnik V của Nga.

Ngoài lý do có sự chậm trễ, còn có lý do về sự an toàn. Các dữ liệu về vac-xin Trung Quốc thì không minh bạch, đầy đủ, cho nên Việt Nam chưa có đủ cơ sở để phê duyệt loại vac-xin này. Hôm nay (31/03/2021), bộ trưởng Y Tế Nguyễn Thanh Long có đề nghị là Trung Quốc nộp đơn đăng ký để cho các loại vac-xin này được kiểm tra và phê duyệt sử dụng ở Việt Nam.

Ngoài ra cũng có những người nói đến lý do tâm lý bài Trung Quốc, e ngại Trung Quốc, hay lý do nhạy cảm về chính trị. Cũng có thể như thế, nhưng tôi nghĩ lý do quan trọng nhất đó là sự an toàn. Nếu trong thời gian tới các loại vac-xin của Trung Quốc được chứng minh là an toàn và hiệu quả, thì Việt Nam sẽ sử dụng vac-xin này. Nếu như các nước khác đã sử dụng được, thì Việt Nam không có lý do gì để từ chối, nhất là trong bối cảnh Việt Nam cũng rất cần đẩy nhanh tiến độ tiêm chủng ngừa Covid-19, để có thể sớm khôi phục các hoạt động kinh tế, giao thương và du lịch".

Để có đủ thuốc tiêm ngừa cho dân số gần 100 triệu, Việt Nam hiện đang tiếp tục tìm kiếm và đa dạng hóa nguồn cung cấp vac-xin Covid-19. Theo lời phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng trong cuộc họp báo ngày 25/03, cho đến nay, Việt Nam "đã tiếp cận được với một số nguồn cung ứng vac-xin và đã có cam kết cung ứng trong khuôn khổ chương trình COVAX từ nhà sản xuất vac-xin AstraZeneca và vac-xin Sputnik V của Nga". Tuy nhiên, Hà Nội cũng đang "khẩn trương làm việc với một số nhà sản xuất khác trên thế giới tại các quốc gia như Hoa Kỳ, Ấn Độ và Trung Quốc".

Trước đó, Cục Quản lý Dược phẩm của bộ Y Tế Việt Nam cũng đã yêu cầu các nhà nhập khẩu đẩy mạnh việc nhập vac-xin Covid-19 từ nhiều nguồn khác kể cả AstraZeneca, Pfizer, Johnson & Johnson, Sputnik V, Moderna và cả Sinovac của Trung Quốc. Như vậy là không loại trừ khả năng Việt Nam sẽ buộc phải nhờ đến vac-xin của Trung Quốc, trong khi chờ hoàn tất việc nghiên cứu và phát triển vac-xin "made in Vietnam", theo dự kiến sẽ được sử dụng vào năm tới. Về khả năng này, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp nhận định :

" Trung Quốc đang gia tăng áp lực với các nước khác để đẩy nhanh chiến dịch "ngoại giao vac-xin" của họ. Trong bối cảnh đó, Việt Nam cũng sẽ chịu sức ép. Trong khi Việt Nam đã phê duyệt các vac-xin khác rồi mà các dữ liệu của vac-xin Trung Quốc chứng minh là an toàn và hiệu quả mà Việt Nam không sử dụng, thì Việt Nam sẽ rất là khó ăn, khó nói với Trung Quốc.

Điều mà chúng ta phải xem xét sau đó là ngay cả khi chính quyền Việt Nam đã phê duyệt cho sử dụng các vac-xin Trung Quốc thì thái độ của người dân Việt Nam sẽ như thế nào. Điều này sẽ là một thách thức đối với chính phủ Việt Nam, bởi vì ở Việt Nam, tâm lý thận trọng và e ngại các sản phẩm của Trung Quốc, đặc biệt là các sản phẩm liên quan đến sức khỏe, thì rất phổ biến. Trong bối cảnh đó, cũng sẽ có rất nhiều người ngần ngại hoặc không muốn sử dụng vac-xin của Trung Quốc, nếu họ không có nhu cầu đi sang Trung Quốc hoặc không cảm thấy có rủi ro cao để chích".

Nói chung công luận Việt Nam vẫn nghi kỵ các sản phẩm của Trung Quốc và chính phủ vẫn dè chừng đồng chí phương Bắc. Vào năm 2019, Việt Nam đã từng loại tập đoàn viễn thông Hoa Vi ra khỏi kế hoạch phát triển mạng di dộng 5G, do những lo ngại về an ninh quốc gia.

Thanh Phương

Published in Châu Á

Trong trận chiến tranh lạnh kéo dài 45 năm giữa Mỹ và Liên Xô, hai bên đã đụng độ hoặc nóng (qua những đại diện hoặc trực tiếp) hoặc lạnh trên khắp thế giới. Nhưng chiến truờng chính của cuộc chiến tranh lạnh là Châu Âu, nơi mà Liên Xô thường xuyên lo ngại các chư hầu có thể tách ra theo phương Tây, trong lúc Mỹ thì lo rằng các đồng minh của mình có thể tìm một thỏa thuận riêng với Liên Xô.

asean1

Đông Nam Á giữa Mỹ và Trung Quốc

Cuộc cạnh tranh lần này giữa Mỹ và Trung Quốc may mắn là còn ít căng thẳng hơn. Thứ nhất lực lượng quân sự hai bên hãy còn chưa ở trong tình trạng tích cực chuẩn bị chiến đấu qua một đuờng chiến tuyến vạch sẵn, tuy rằng tại Đài Loan và Bắc Hàn hai bên vẫn còn ở trong tình trạng căng thẳng vốn có từ nhiều chục năm nay. Tuy nhiên giống như chiến tranh lạnh, hai bên cũng có một chiến trường chính mà cạnh tranh sẽ gay gắt nhất : Đông Nam Á. Và tuy rằng tại đây không có một chiến tuyến vạch sẵn như Châu Âu thời chiến tranh lạnh, nhưng điều đó chỉ làm cho cuộc đấu tranh trở thành phức tạp hơn.

11111111111111111111111

Các nước Đông Nam Á lúc này đã nhìn Mỹ và Trung Quốc như hai cực của môt nam châm kéo đất nước mình đi theo hai chiều đối nghịch. Tỷ dụ như những người chống lại cuộc đảo chính gần đây tại Miến Điện đã giăng các biểu ngữ tấn công Trung Quốc vì đã ủng hộ các ông tướng cũng như kêu gọi Mỵ can thiệp. Các chính phủ vì thế cảm thấy bị áp lực phải chọn bên. Năm 2016, ông Rodrigo Duterte hung hăng tuyên bố nuớc ông, Philippines "ly dị nước Mỹ" và cam kết phục tòng Trung Quốc. Trung Quốc đòi chủ quyền trên hầu như toàn bộ vùng Biển Đông và việc Mỹ bác bỏ việc đòi chủ quyền này đã tạo ra những tranh cãi gay gắt bên trong tổ chức chính tập hợp các quốc gia này, Hiệp Hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) mà Trung Quốc tìm cách thu phục.

Tranh chấp về Đông Nam Á sẽ còn trở nên gay gắt nữa vì hai lý do. Thứ nhất Đông Nam Á càng ngày càng trở nên có tầm quan trọng chiến luợc đối với Trung Quốc. Đông Nam Á nằm ngay phía dưới Trung Quốc, chặn ngang con đường hàng hải huyết mạch chuyên chở dầu hỏa và các nguyên liệu đến cho Trung Quốc và mang hàng hóa Trung Quốc xuất cảng sang các nước khác. Trong lúc Trung Quốc bị chặn ngang ở phía đông bởi Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan, cả ba đều là những đồng minh trung thành của Mỹ, thì Đông Nam Á là trận địa đỡ khó khăn hơn cả về kinh tế và quân sự. Đông Nam Á cũng cung cấp cho Trung Quốc cửa ngõ để có thể đi ra đuợc cả Thái Bình Dương lẫn Ấn Độ Dương. Chỉ trở thành thế lực chi phối tại Đông Nam Á, Trung Quốc mới có thể giải tỏa đuợc mối lo bị bao vây.

Nhưng Đông Nam Á không chỉ là môt trạm trung chuyển trên đuờng đi đến các nơi khác. Đông Nam Á tự nó cũng có tầm quan trọng. Đông Nam Á là quê hương của 700 triệu người, đông hơn là Liên Hiệp Châu Âu, Châu Mỹ La Tinh hay là vùng Trung Đông. Kinh tế vùng, nếu tính như là một quốc gia sẽ đứng thứ tư trên thế giới tính theo chỉ số sinh họat, chỉ sau Mỹ, Trung Quốc và Ấn độ. Và các nước này còn đang tăng truởng kinh tế rất mau. Indonesia và Malaysia tăng truởng với tốc độ 5-6% trong 10 năm qua ; Việt Nam và Philippines với tốc độ 6-7%. Các nước nghèo như Myanmar và Cambodia còn tăng truởng nhah hơn nữa. Đông Nam Á nay trở thành nơi các công ty quốc tế lựa chọn làm nơi sản xuất, trong lúc dân chúng tại đây nay đã giầu đủ để có thể tạo ra một thị truờng hấp dẫn. Trên phương diện thương mại cũng như trên phương diện địa chính trị, Đông Nam Á là một phần thưởng đáng quý cho kẻ nào thắng.

Trong hai đối thủ, Mỹ và Trung Quốc, cho đến nay Trung Quốc đang dẫn truớc. Trung Quốc trở thành nước bạn hàng lớn nhất, và đầu tư vào Đông Nam Á cao hơn Mỹ nhiều lần. Ít nhất một quốc gia Đông Nam Á, Cambodia nay trở thành hầu như là chư hầu của Trung Quốc. Và hầu như không nước nào dám công khai đứng về phía Mỹ trong các cuộc tranh chấp giữa Mỹ và Trung Quốc.

Tuy nhiên Trung Quốc cũng có nhiều nhược điểm lớn. Đầu tư Trung Quốc, tuy nhiều nhưng có nhiều khuyết điểm. Các công ty Trung Quốc bị tố cáo là làm hủ hóa hay phá hũy môi sinh. Nhiều công ty mang công nhân Trung Quốc đến làm thay vì dùng dân bản xứ, tạo ra những tranh chấp với dân chúng bản xứ. Và ngoài ra còn thói của Trung Quốc dùng những biện pháp trừng phạt thương mại hoặc đầu tư để cảnh cáo các quốc gia nào mà có gì làm Trung Quốc không hài lòng.

Trung Quốc cũng làm cho các nuớc láng giềng bất mãn bằng những hành động đe dọa quân sự. Việc Trung Quốc chiếm đóng và xây dựng những đảo nhân tạo vũ trang trên các cồn cát và ghềnh đá trên Biển Đông cũng như quấy rối các tầu đánh cá hoặc các tầu thăm dò của các nước khác cũng là một nguồn căng thẳng với hầu hết các quốc gia trong vùng từ Việt Nam đến Indonesia. Trung Quốc cũng giữ liên hệ với các đám phiến quân chống lại các chính phủ trong quá khứ.

Chính những hành động đó đã làm Trung Quốc mất đi nhiều sự ủng hộ của dân chúng Đông Nam Á. Các cuộc bạo động chống Trung Quốc thường xuyên xảy ra tại Việt Nam và Indonesia. Ngay cả nước Lào nhỏ bé, một nuớc độc tài cộng sản mà dân chúng cũng lên tiếng chống lại sự hiện diện gia tăng của Trung Quốc. Lãnh tụ các quốc gia Đông Nam Á có thể không dám công khai chỉ trích Trung Quốc vì sợ những ảnh hưởng kinh tế, nhưng họ cũng không dám thân cận quá với Trung Quốc vì sợ phản ứng của chính dân chúng mình.

Thành ra việc Trung Quốc tìm cách bá quyền tại Đông Nam Á chưa chắc đã có thể thành công. Các quốc gia Đông Nam Á có thể không muốn từ bỏ buôn bán và đầu tư với nước láng giềng phía Bắc nhưng họ cũng muốn những cái gì mà Mỹ có thể mang lại : hòa bình, ổn định và một trật tự thế giới dựa trên luật pháp, Trung Quốc không phải cứ cậy sức của mình mà muốn làm gì thì làm. Giống như tất cả những nước nhỏ khác, các quốc gia Đông Nam Á đều muốn né tránh không theo một nước nào và tìm cách lợi dụng cuộc đấu tranh giữa hai bên để kiếm mối lợi cho nước mình.

Đó là cơ hội cho Mỹ. Để tránh cho Đông Nam Á rơi vào quỹ đạo Trung Quốc, Mỹ nên khuyến khích các quốc gia tại đây hãy mở cửa và xây dựng các đối trọng chống lại ảnh hưởng của Trung Quốc. Một nhu cầu là xây dựng việc hội nhập vùng cũng như củng cố các quan hệ với các nước Đông Á như Nhật Bản và Nam Hàn. Trên hết Mỹ phải sẵn sàng đứng ra bảo vệ trật tự quốc tế mỗi khi có những vi phạm về phía Trung Quốc.

Lê Mạnh Hùng

(14/03/2021)

Published in Diễn đàn

Đông Nam Á, trọng điểm của xung đột Mỹ-Trung

Cuộc xung đột Mỹ-Trung lần này sẽ tập trung vào khu vực Đông Nam Á, vốn có tầm quan trọng chiến lược rất lớn đối với Bắc Kinh. Theo The Economist, để tránh cho Đông Nam Á không bị rơi vào quỹ Trung Quốc, Washington nên buôn bán, đầu tư nhiều hơn vào khu vực, và không nên buộc các nước phải chọn phe.

dna1

Người Việt biểu tình bên ngoài đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội ngày 11/05/2014 để phản đối Bắc Kinh đưa giàn khoan đến vùng biển Hoàng Sa.  AP - Chris Brummitt

L’Obsdành trang nhất cho tỉ phú Pháp Vincent Bolloré, người đang có kế hoạch xây dựng một đế chế truyền thông mà tuần báo cánh tả cho là "siêu bảo thủ". Le Point chú ý đến "Những đòn chơi xấu của một nền tư pháp rất chính trị" nhắm vào cựu tổng thống Nicolas Sarkozy. Hồ sơ của L’Express nói về tập đoàn bán hàng trên mạng Amazon. Courrier Internationalbăn khoăn "Còn ai lắng nghe Châu Âu ?" : đang lạnh nhạt với Nga, bị Trung Quốc qua mặt tại Châu Á và vẫn chưa hòa giải với Mỹ, tiếng nói của Liên Hiệp Châu Âu khó có trọng lượng.

Khu vực chiến lược bị Bắc Kinh coi là "sân sau"

Liên quan đến Châu Á, The Economistnói về "Cuộc chiến Mỹ-Trung để giành sân sau của Bắc Kinh", chủ yếu ở Đông Nam Á. Trong cuộc xung đột kéo dài 45 năm, Hoa Kỳ và Liên Xô tiến hành những cuộc chiến ủy nhiệm ở nhiều nơi, nhưng chiến tranh lạnh gay gắt nhất tại Châu Âu. Cuộc xung đột Mỹ-Trung lần này sẽ tập trung vào khu vực Đông Nam Á, và do không có chiến tuyến rõ ràng nên càng phức tạp.

Người dân Đông Nam Á coi Mỹ và Trung Quốc là hai cực, kéo đất nước mình về hai hướng khác nhau. Chẳng hạn những người biểu tình chống vụ đảo chính ở Miến Điện mang biểu ngữ đả kích Trung Quốc và kêu gọi người Mỹ can thiệp. Các chính phủ cảm thấy chịu áp lực phải chọn phe : hồi năm 2016 tổng thống Philipppines Rodrigo Duterte đã lớn tiếng loan báo chia tay với Mỹ và quy phục Trung Quốc.

Sự giằng co này sẽ càng dữ dội hơn vì hai lý do. Trước hết, Đông Nam Á có tầm quan trọng chiến lược rất lớn với Bắc Kinh. Khu vực này nằm ngay cửa ngõ Trung Quốc, án ngữ con đường thương mại đưa dầu lửa, nguyên liệu vào và hàng hóa thành phẩm từ Hoa lục ra bên ngoài. Trong khi ở phía đông là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, những đồng minh trung thành của Mỹ, Đông Nam Á là vùng đất ít thù địch hơn, có thể mở đường ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương cho cả mục đích thương mại và quân sự. Chỉ khi nào khống chế được Đông Nam Á, Bắc Kinh mới mất đi ám ảnh bị bao vây.

Lý do thứ hai, Đông Nam Á là khu vực quan trọng trên thế giới với 700 triệu dân, đông hơn cả Liên Hiệp Châu Âu, Châu Mỹ La-tinh hay vùng Trung Đông. Nền kinh tế của các nước Đông Nam Á gộp lại có thể xếp thứ tư thế giới, chỉ sau Trung Quốc, Hoa Kỳ và Ấn Độ ; và lại tăng trưởng rất nhanh, như Việt Nam và Philipppines có tỉ lệ đến 6-7%. Đối với các nhà đầu tư muốn dịch chuyển khỏi Hoa lục, Đông Nam Á là chọn lựa hàng đầu, và người tiêu thụ tại đây đã đủ giàu để trở thành một thị trường hứa hẹn.

Khống chế về kinh tế, Trung Quốc bị ghét bỏ vì tham vọng đế quốc

Trung Quốc thoạt nhìn có vẻ chiếm ưu thế so với Hoa Kỳ, vì là đối tác thương mại lớn nhất và đầu tư vào khu vực nhiều hơn Mỹ. Ít nhất đã có một nước Đông Nam Á là Cam Bốt trên thực tế đã là chư hầu của Bắc Kinh, và không một nước nào dám đứng hẳn về phía Washington. Tuy nhiên đầu tư của Trung Quốc có những bất lợi : các công ty Trung Quốc thường bị cáo buộc tham nhũng, gây ô nhiễm, đưa lao động từ Hoa lục vào thay vì tuyển dụng người địa phương, và nhất là Bắc Kinh thường dùng thế mạnh kinh tế để trừng phạt những khi không hài lòng.

Trung Quốc còn làm các láng giềng sợ hãi khi phô trương sức mạnh quân sự. Việc cưỡng chiếm và quân sự hóa các đảo trên Biển Đông, quấy nhiễu tàu của các nước Đông Nam Á khi họ đánh cá, hoặc khoan dầu ở vùng biển nước mình, là nguồn gây căng thẳng với hầu hết các quốc gia trong khu vực, từ Việt Nam cho đến Indonesia ; xúi giục và vũ trang cho các lực lượng du kích trong toàn khu vực.

Sự hiếu chiến này khiến Trung Quốc bị ghét bỏ tại đa số các nước Đông Nam Á. Những cuộc biểu tình chống Trung Quốc thường xuyên diễn ra tại Việt Nam. Indonesia, nước Hồi giáo đông dân nhất thế giới, cũng có những cuộc xuống đường chống lại người nhập cư bất hợp pháp từ Hoa lục, hay phản đối việc Bắc Kinh đàn áp các thiểu số theo đạo Hồi. Ngay cả tại nước Lào cộng sản độc tài, người dân cũng không ưa sự thống trị của Trung Quốc. Các nhà lãnh đạo Đông Nam Á có thể không dám công khai chỉ trích Bắc Kinh do lo ngại hậu quả kinh tế, nhưng họ cũng không dám tỏ ra thuần phục, vì sợ bị người dân nước mình chỉ trích.

Theo The Economist, để tránh cho Đông Nam Á không bị rơi vào quỹ đạo Bắc Kinh, Washington nên buôn bán và đầu tư nhiều hơn vào khu vực, siết chặt quan hệ với Nhật Bản, Hàn Quốc, và nhất là không nên buộc phải chọn phe.

"Liên minh trà sữa" đối mặt với Bắc Kinh

Về quan hệ giữa Đông Nam Á và Trung Quốc, tuần báo Anh đề cập đến "liên minh trà sữa", một tập hợp gồm những người trẻ chủ yếu ở Đông Nam Á nhằm chống lại sự thống trị của Trung Quốc độc tài.

Ở Hoa lục, người ta uống trà không pha thêm sữa, nhưng tại Đài Loan, có cả sữa và những hạt tapioca được gọi là "trân Châu". Hồng Kông uống trà sữa kiểu Anh, người Thái dùng trà với sữa đặc. Cư dân mạng Ấn Độ sau vụ đụng độ đẫm máu với quân Trung Quốc ở vùng núi đã tham gia với món "masala chai" (trà gia vị) và tại Miến Điện, sau vụ đảo chính, hình ảnh "laphet yay" tức trà sữa của xứ Miến, tràn ngập mạng xã hội. Thật ra "liên minh trà sữa" không đồng nhất, và cũng không đơn thuần bài Hoa. Hiện tượng này cho thấy dù mang lại lợi ích kinh tế, mọi việc không dễ dàng như các nhà lãnh đạo Bắc Kinh vẫn tưởng.

Tập Cận Bình nhấn mạnh "đôi bên cùng có lợi", không can thiệp vào chuyện nội bộ của nước khác. Nhưng đầu tư của Trung Quốc luôn kèm theo các điều kiện, những hợp đồng không minh bạch và thường có giá trên trời, vì phải tính cả các khoản hối lộ.

Ai còn tin vào luận điệu "cộng đồng cùng chung vận mệnh ?

Tham nhũng có yếu tố Trung Quốc đã làm thủ tướng Malaysia, Najib Razak và đảng của ông – cầm quyền từ khi độc lập – bị thất cử năm 2018. Đại sứ Trung Quốc còn công khai mở chiến dịch ủng hộ đảng của người gốc Hoa trong liên minh cầm quyền. Người ta cũng cho rằng chiến thắng của Duterte trong cuộc bầu cử tổng thống Philipppines năm 2016 là nhờ tiền của Trung Quốc.

Một số dự án Trung Quốc như xa lộ cao tốc tại nước Lào nghèo nàn, nhỏ bé có cái giá khá đắt cho môi trường. Những đập thủy điện Trung Quốc ở thượng nguồn làm vùng hạ lưu sông Mê kông bị khô hạn, khiến cuộc sống hàng triệu ngư dân Việt Nam và Cam Bốt thêm khó khăn. Ở Cam Bốt, Lào và Miến Điện, việc Trung Quốc chiếm đất đồng nghĩa với phá rừng.

Bắc Kinh miệng hô hòa bình, nhưng lại yêu sách chủ quyền trên hầu hết Biển Đông, tranh chấp với Việt Nam, Philipppines, Malaysia, Indonesia, Brunei. Dù Duterte đã từ bỏ chiến thắng ở Tòa án Trọng tài Thường trực La Haye với hy vọng ông Tập sẽ đầu tư nhiều tỉ đô la vào cơ sở hạ tầng, nhưng đến nay vẫn chỉ là lời hứa trong khi Bắc Kinh ngày càng hung hăng trên Biển Đông. Như Bilahari Kausikan, nhà cựu ngoại giao cấp cao Singapore, đã nói : "Chỉ có những kẻ tham nhũng đã thành cố tật, hoặc ngây thơ vô biên mới tin vào luận điệu một cộng đồng cùng chung vận mệnh của Bắc Kinh".

"Đội quân thứ năm" của Trung Quốc ở Đông Nam Á

Cùng với việc Trung Quốc phát triển về phía nam là sự hiện diện của đông đảo di dân mới người Hoa. Nhiều người làm việc cho các dự án hạ tầng của Trung Quốc ở Đông Nam Á, số khác bám theo kiếm sống. Rõ nhất là tại các nước nhỏ yếu như Cam Bốt, Lào, Miến Điện.

Hàng trăm ngàn người từ Hoa lục tràn sang Miến Điện, đa số mang căn cước giả. Tại "đặc khu tam giác vàng" ở vùng ba biên giới (Thái, Lào, Miến) mọc lên một thành phố cờ bạc, buôn lậu, trác táng ; sử dụng đồng nhân dân tệ và chữ Hoa giản thể, lực lượng bảo vệ được tuyển từ Hoa lục. Ở xa hơn biên giới Trung Quốc, nhưng tại Manila các công ty cờ bạc trực tuyến của người Hoa chiếm nhiều văn phòng hơn các trung tâm dịch vụ hậu mãi. Trước đại dịch, có đến nửa triệu người Hoa hoạt động tại thủ đô Philipppines, đa số visa đã hết hạn nhưng các công ty dịch vụ Trung Quốc lo hết từ visa, nơi lưu trú do đến mát-xa và gái gọi.

Khắp Châu Á đều có những tiếng than phiền người Trung Quốc chiếm mất việc làm của người địa phương, nhập vật liệu từ Hoa lục và làm tăng giá địa ốc. Đáng ngại là tuy ngôn ngữ Trung Hoa phân biệt "hoa kiều" (huaqiao, người Hoa sống ở nước ngoài) với "hoa nhân" (huaren, người nước ngoài gốc Hoa), nhưng Tập Cận Bình trong diễn văn năm 2014 gọi chung là "hải ngoại kiều bào" (haiwai qiaobao), nhấn mạnh rằng họ có nghĩa vụ "xúc tiến sự phục hưng của quốc gia Trung Hoa".

Hungary : "Con ngựa thành Troie" của Bắc Kinh tại Châu Âu

L’Express nhận xét thủ tướng Viktor Orban của Hungary là người thân Trung Quốc nhất tại Châu Âu.

Mùa tựu trường 2024 đại học đầu tiên ở Châu Âu của trường Phục Đán, Thượng Hải, sẽ khai trương tại Budapest. Với ngân sách lớn bằng toàn bộ các trường đại học Hungary cộng lại, đại học này đào tạo 5.000 sinh viên mỗi năm. Chính quyền Orban đã hào hiệp bỏ ra 2,2 triệu euro mua đất cho ngôi trường Trung Quốc, bất chấp tai tiếng. Đáng chú ý là khi thương lượng với Phục Đán, ông Orban đã xua đuổi trường đại học Trung Âu do tỉ phú George Soros sáng lập, nơi đào tạo giới tinh hoa cho khu vực, khiến ngôi trường nổi tiếng này phải chuyển sang Vienna vào mùa thu 2019.

Từ năm 2013, tại Hungary đã khai trương trung tâm hậu cần Huawei lớn nhất ngoài Trung Quốc rộng 30.000 mét vuông, thủ đô Budapest có đến năm Viện Khổng Tử. Hungary là thành viên Liên Hiệp Châu Âu duy nhất mua vac-xin của Trung Quốc, và ông Viktor Orban tuyên bố bản thân ông sẽ tiêm chủng bằng vac-xin này "vì người Trung Quốc biết rõ con virus nhất".

Bắc Kinh đang hiện đại hóa tuyến đường sắt Belgrade-Budapest để đưa hàng Trung Quốc từ cảng Piraeus đến, cảng quan trọng này của Hy Lạp đã lọt vào tay Trung Quốc từ năm 2008. Hungary phải vay nợ của Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc để chi trả phần mình trong dự án này, món nợ 20 năm mà chi tiết hợp đồng sẽ được giữ bí mật trong 10 năm.

Có nên tẩy chay Thế vận hội Bắc Kinh mùa đông 2022 ?

Courrier International đặt câu hỏi : "Có nên tẩy chay Thế vận hội mùa đông 2022 tổ chức tại Trung Quốc ?". Tuần báo Pháp trích đăng các bài viết có quan điểm khác nhau. Một số báo như La Presse ở Québec (Canada) cho rằng không nên để vấn đề chính trị làm cho các vận động viên phải chịu thiệt thòi, còn theo The Conversation tốt nhất là đấu tranh trên mặt trận ngoại giao. Ngược lại, The Washington Examiner nhấn mạnh, khi tranh cử ông Joe Biden cam kết dành ưu tiên cho nhân quyền, thì đây chính là lúc chứng tỏ lời nói đi đôi với việc làm. Bắt đầu bằng việc phê chuẩn dự thảo của hai thượng nghị sĩ Cộng hòa là Rick Scott (Florida), Todd Young (Indiana) và kêu gọi các thượng nghị sĩ Dân chủ ủng hộ.

Gần đây đã có những chứng cứ không thể chối cãi về việc phụ nữ Duy Ngô Nhĩ trong các trại cải tạo bị cưỡng hiếp, bị buộc triệt sản – và đây không phải là những bằng chứng cuối cùng về cách đối xử phi nhân với những nô lệ thời hiện đại. Bản dự thảo nhấn mạnh, thảm kịch Duy Ngô Nhĩ chỉ là một trong những hành động tàn bạo từ Trung Quốc của Tập Cận Bình.

Tại Hồng Kông, ông Tập xé bỏ những cam kết quốc tế ; trên Biển Đông và dọc theo dòng sông Mêkông, quân của Tập đánh đập thậm chí sát hại các ngư dân không tấc sắt trong tay. Trên thế giới, đến tận quần đảo Galapagos, Tập Cận Bình phá hủy môi sinh, xây những cây cầu và công trình sau đó bị sập. Tại Châu Phi, ông Tập khai thác cạn kiệt hải sản, hối lộ các chính khách, làm ngơ trước nạn kỳ thị. Ngay trong Hoa lục, những bộ óc xuất sắc bị bịt miệng, đàn áp. Thế vận hội là nơi vinh danh những tài năng, lòng can đảm và tinh thần đồng đội, nhưng Trung Quốc cộng sản là phản ví dụ cho những giá trị này, nên không thể để cho Bắc Kinh tổ chức Olympic mùa đông 2022.

Thụy My

Published in Châu Á
samedi, 19 décembre 2020 21:09

Nồi đun Đông Nam Á

Khu vực này tiết lộ gì về tương lai của cạnh tranh Mỹ-Trung

Khi Tổng thống đắc cử Joe Biden và chính quyền sắp tới của ông bắt đầu đưa ra chiến lược nhằm quản lý sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, họ cần chú ý đến Đông Nam Á. Cuộc đua với Trung Quốc hiện đang diễn ra trên toàn thế giới và trên tất cả các lĩnh vực - ngoại giao, thương mại, an ninh, tầm ảnh hưởng, hệ tư tưởng, giá trị, giáo dục, khoa học và công nghệ, v.v. Sự cạnh tranh trong những lĩnh vực này ở Đông Nam Á đại diện cho một mô hình thu nhỏ và báo trước về cách nó có thể phát triển ở những nơi khác trên thế giới. Kết quả ở đó ít nhất sẽ ảnh hưởng đến phần còn lại của khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương rộng lớn, vốn ngày càng trở thành trung tâm trong các vấn đề quốc tế.

chaua1

Vẫy cờ Trung Quốc và Việt Nam tại Hà Nội, Việt Nam, tháng 11 năm 2017 - Hoàng Đình Nam / Pool / Reuters

Trong những năm gần đây, nhiều nước Đông Nam Á dường như đang "ngả theo" và thiết lập quan hệ chặt chẽ hơn với Bắc Kinh. Nhiều chuyên gia và quan chức trong khu vực và các nơi khác phát hiện ra sự thay đổi trong cán cân quyền lực và ảnh hưởng, một yếu tố có lợi cho Trung Quốc hơn Hoa Kỳ. Nhưng các nhà quan sát không nên phóng đại xu hướng này hoặc mong đợi nó sẽ tiếp tục vô thời hạn. Trung Quốc vẫn chưa thống trị Đông Nam Á và chắc chắn sẽ không làm được như vậy trong tương lai. Với các chính sách và cách tiếp cận đúng đắn, Washington có thể đối trọng với Bắc Kinh trong khi thúc đẩy các lợi ích của chính họ và đóng góp vào sự ổn định, an ninh và phát triển trong khu vực.

Tại sao Đông Nam Á là quan trọng ?

Đông Nam Á là quan trọng. Đó là một khu vực năng động và trải rộng, kéo dài 1,7 triệu dặm vuông : hơn 3.000 dặm từ đông sang tây và hơn 2.000 dặm từ bắc xuống nam. Khu vực này bao gồm 11 quốc gia, 10 trong số đó là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Với tổng dân số 636 triệu người, Đông Nam Á là một trong những khu vực đông đúc nhất trên hành tinh. Kích thước nhân khẩu học phù hợp với quy mô của sự đa dạng tôn giáo và văn hóa của nó, với 240 triệu người Hồi giáo, 140 triệu Phật tử, 130 triệu Cơ đốc giáo và bảy triệu người Ấn Độ giáo sống ở Đông Nam Á. Đây cũng là một khu vực đa nguyên về chính trị, bao gồm năm loại hệ thống chính trị khác nhau, từ các nhà nước theo chủ nghĩa Lênin đến các nền dân chủ hoàn toàn. Về mặt kinh tế, Đông Nam Á đã có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất so với bất kỳ khu vực nào trên thế giới kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Ngày nay, các thành viên của nó hợp lại tạo thành nền kinh tế lớn thứ sáu trên thế giới, với tổng GDP là 2,8 nghìn tỷ USD vào năm 2018.

Print

Bản đồ của quốc gia Đông Nam Á – Nguồn : sailordotorg.github.io

Tầm quan trọng chiến lược của khu vực là dựa trên địa lý. Eo biển Malacca và Biển Đông là những tuyến đường biển được sử dụng nhiều nhất trên thế giới ; hàng năm, khoảng 50.000 tàu thuyền, 40% hoạt động trao đổi hàng hóa và 25% nguồn cung cấp dầu của thế giới đi qua chúng. Điều này giúp giải thích sự nhạy cảm về an ninh ngày càng tăng trong khu vực. Đặc biệt, việc Trung Quốc xây dựng các tiền đồn quân sự ở Biển Đông đã làm tăng sự nguy hiểm và tính linh hoạt chiến lược. Kết quả là trong những năm gần đây, các nước ASEAN ngoại trừ Campuchia và Lào đã tăng chi tiêu cho mua sắm quốc phòng và quân sự.

ASEAN kỷ niệm 50 năm thành lập vào năm 2017. Mặc dù thường xuyên bị chỉ trích vì những thiếu sót của mình, nhưng tổ chức này vẫn có nhiều điều đáng tự hào - đặc biệt là sự vắng bóng của chiến tranh giữa các thành viên kể từ cuộc xung đột Campuchia-Việt Nam kết thúc vào giữa những năm 1990. ASEAN cũng đã khá thành công trong việc giải quyết các thách thức an ninh xuyên quốc gia như cướp biển, buôn người, buôn lậu, tội phạm có tổ chức, đại dịch và ô nhiễm môi trường. Tổ chức này tự hào về "Phương thức ASEAN" : các quyết định đạt được bằng sự đồng thuận, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và hợp tác tự nguyện. Những chuẩn mực đó đã giúp gắn kết nhóm nhưng cũng cản trở nghiêm trọng khả năng của tổ chức trong việc giải quyết các vấn đề khó khăn và hành động khi cần thiết. Một điểm yếu đặc biệt rõ ràng là không có khả năng làm trung gian hòa giải các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông hoặc ngăn chặn hoạt động xây dựng đảo quân sự hóa của Trung Quốc ở những vùng biển đó.

Khu vực này không còn xa lạ với sự cạnh tranh giữa các cường quốc. Kết quả là, các nước trong khu vực thực hành nghệ thuật phòng hộ chiến lược, có khuynh hướng trung lập và không liên kết, do lịch sử thuộc địa của họ. Mặt khác, một số nước Đông Nam Á đã lựa chọn chiến thuật phòng thủ truyền thống, áp dụng chính sách hình thành liên minh hoặc liên kết chiến lược với các cường quốc lớn hơn. Kể từ giữa những năm 1990, ASEAN đã áp dụng cách tiếp cận chủ động và bao trùm trong việc thu hút các cường quốc bên ngoài tham gia các cuộc đối thoại và gặp gỡ đa phương. Một số nhà quan sát chỉ trích các diễn đàn như vậy chỉ là "cửa hàng nói chuyện", thực hiện được ít thứ và tạo ra phần lớn các thỏa thuận không ràng buộc. Trong chừng mực các cơ chế này nhằm mục đích trở thành các biện pháp xây dựng lòng tin để liên kết các cường quốc chặt chẽ hơn với khu vực, cho nên, ít nhất chúng phải được coi là thành công.

Mắc kẹt ở giữa

Mặc dù sự cạnh tranh chiến lược giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đã bùng phát một thời gian ở Đông Nam Á, nhưng sự điều động giữa Washington và Bắc Kinh đã gia tăng đáng kể sau khi Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đưa ra chính sách "xoay trục" về Châu Á vào năm 2011, điều này đã kích thích Bắc Kinh gia tăng hiện diện riêng trong khu vực. Sự điều động chiến lược giữa hai đối thủ tiếp tục phát triển trong suốt những năm của chính quyền Trump. Về phần mình, Trung Quốc đã tăng cường can dự vào khu vực, đặc biệt là thông qua Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường (Belt and Roa   d Initiative-BRI), nhm tìm cách m rộng đáng kể các liên kết kinh tế và thương mại vốn đã rộng rãi của Bắc Kinh. Trung Quốc cũng đã tăng cường các hoạt động tiếp cận ngoại giao, giao lưu văn hóa và tạo ảnh hưởng trong toàn khu vực. Thách thức đối với tất cả các nước trong khu vực là điều hướng mối quan hệ ngày càng chặt chẽ với Bắc Kinh mà không trở nên quá phụ thuộc. Như một quan chức ngoại giao cấp cao của Thái Lan đã nói với tôi tại Bangkok : "Đã quá muộn để người Thái chúng tôi thoát khỏi vòng tay của Trung Quốc - chúng tôi chỉ đang cố gắng để không bị nó bóp nghẹt".

Hầu hết các quốc gia Đông Nam Á đều nhận thấy lợi ích thiết thực trong việc xích lại gần Bắc Kinh, và cho đến nay, họ chưa nhận thấy hậu quả thực sự nào từ Washington khi làm như vậy. Như một quan chức cấp cao trong Bộ Ngoại giao Malaysia giải thích với tôi, "Chúng tôi không có cách tiếp cận ý thức hệ đối với Trung Quốc, chỉ thực dụng và mang tính giao dịch. Trung Quốc cần bạn bè và chúng tôi có tư cách là bạn. Chúng tôi phải trả những giá nào khi đến gần Trung Quốc ? Mỹ có thể làm gì với nó ?".

Xu hướng ngả theo này là có thật và đáng kể - nhưng không nên bị phóng đại. Thật vậy, một số yếu tố có thể góp phần vào sự đảo ngược của nó trong những năm tới.

- Thứ nhất, Bắc Kinh hoàn toàn có khả năng sử dụng quá mức và quá tay bằng cách trở nên quá khắt khe và bóc lột. Bằng chứng về hành vi này đã có thể được thấy trong các quan hệ của Trung Quốc với Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam. Ngay ở quốc gia thân cận của Trung Quốc là Campuchia, cũng có sự bất bình trong xã hội về làn sóng đầu tư của Trung Quốc vào các giao dịch mua đất, các sòng bạc và các dự án xây dựng. Chính phủ Indonesia rất lo ngại về 30.000 lao động Trung Quốc trong nước cũng như việc Trung Quốc khai quật khoáng sản từ Kalimantan và Sumatra. Năm 2011, Myanmar đã từ bỏ việc xây dựng một con đập do Trung Quốc tài trợ trên sông Irrawaddy vì có sự lo lắng về những rủi ro mà nó gây ra cho môi trường và khiến hàng chục nghìn dân phải di dời. Tương tự như vậy, vào năm 2017, Malaysia đã đóng băng hầu hết các dự án BRI của mình vì lo ngại về các khoản nợ và chi phí quá cao, tham nhũng, cơ sở hạ tầng không cần thiết và chủ quyền bị xâm phạm. Những trường hợp như vậy phản ánh sự thiếu chú ý và thiếu hiểu biết của Bắc Kinh về cảm xúc địa phương, và những phản ứng tương tự dường như có thể xảy ra ở những nơi khác.

- Tai tiếng của Bắc Kinh là kết quả của việc các quan chức và nhà ngoại giao Trung Quốc sống trong bong bóng tuyên truyền và tạo tiếng vang của riêng họ, không quan tâm đến cách nhìn nhận về Trung Quốc trong khu vực. Các cơ quan tình báo của Bắc Kinh cũng có những hiểu biết đáng ngờ về khu vực, vì họ có xu hướng tập trung vào giới tinh hoa thương mại và chính trị và cộng đồng người gốc Hoa hơn là tìm hiểu những nghi ngờ và bất mãn của dân địa phương, xã hội dân sự, xu hướng chính trị, chính trị sắc tộc và những đặc thù phức tạp của các xã hội Đông Nam Á.

- Hầu hết người Đông Nam Á có bản sắc hậu thuộc địa ; họ nhanh chóng phản ứng trước những quyền lực lớn hơn đang tìm cách thiết lập các mối quan hệ bất đối xứng và hành động với thái độ kiêu ngạo. Họ cũng có những ký ức tươi mới về các chính sách và hành động lật đổ của Trung Quốc trong khu vực trong những năm 1960 và 1970, khi Bắc Kinh tích cực hỗ trợ các cuộc nổi dậy của cộng sản ở mọi quốc gia trong khu vực. Và các chính phủ và công chúng Đông Nam Á vẫn nhạy cảm sâu sắc với sự ủng hộ lịch sử của Trung Quốc dành cho các thành viên của cộng đồng người Hoa trong khu vực - đặc biệt là ở Indonesia, Malaysia, Philippines và Việt Nam, nơi ngày càng trở thành mục tiêu trong các hoạt động gây ảnh hưởng của Bắc Kinh.

Một sức mạnh không được ưa chuộng

Khi Trung Quốc mở rộng dấu chân của mình trong khu vực, nhiều nhà quan sát cho rằng sức mạnh và ảnh hưởng của Mỹ đang yếu đi và suy giảm nhanh chóng. Đây là một nhận thức sai lầm. Dấu ấn về văn hóa, kinh tế và an ninh của Hoa Kỳ trên khắp Đông Nam Á vẫn còn rất lớn. Trong hầu hết các tầm kích, nó thậm chí còn lớn hơn của Trung Quốc.

Chắc chắn, sự quan tâm ngoại giao không nhất quán của Washington là một trong những mắt xích yếu nhất đối với vị thế của Hoa Kỳ trong khu vực, vì các quan chức cấp cao của Hoa Kỳ hiếm khi xuất hiện trong khu vực. Nhưng trong các lĩnh vực khác, Hoa Kỳ sở hữu sức mạnh toàn diện. Sự hiện diện quân sự và mạng lưới các đối tác an ninh của Hoa Kỳ hoạt động rộng khắp và sâu rộng. Quyền lực mềm của Hoa Kỳ - đặc biệt trong văn hóa và giáo dục đại chúng - vẫn mạnh mẽ. Sự hiện diện thương mại của nó lâu đời và rất lớn : hơn 4.200 công ty Hoa Kỳ hiện đang hoạt động ở Đông Nam Á. Tổng hợp lại, các nước ASEAN hiện là đối tác thương mại lớn thứ tư của Hoa Kỳ trên toàn thế giới, chiếm khoảng 350 tỷ đô la vào năm 2018.

Con số đó không sánh ngang được với 587,8 tỷ USD thương mại của Trung Quốc với các nước ASEAN vào năm 2018, nhưng điều đó hầu như không đáng kể. Ấn tượng hơn nhưng ít được đánh giá cao hơn là lượng đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào các nước ASEAN, hiện đạt tổng cộng 329 tỷ USD - nhiều hơn cả Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc cộng lại. Theo ASEAN, hàng năm đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ vào khu vực này cao gần gấp đôi Trung Quốc : 24,9 tỷ USD so với 13,7 tỷ USD vào năm 2017.

Khi vị trí của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á được xem xét và đo lường một cách toàn diện thì các lợi thế so sánh và sức mạnh nội tại của Washington trở nên rõ ràng. Hơn nữa, các cuộc điều tra dư luận cho thấy một nguồn nhận thức tích cực về Hoa Kỳ trong nhiều công chúng Đông Nam Á (mặc dù, song song với xu hướng toàn cầu, đã giảm đáng kể trong thời Trump). Tuy nhiên, sức mạnh vị thế của Hoa Kỳ sẽ là một điều ngạc nhiên đối với bất kỳ ai chỉ sử dụng phương tiện truyền thông khu vực, vì nó duy trì thông tin lan truyền rằng Trung Quốc là cường quốc thống trị ở Đông Nam Á. Trên thực tế, Trung Quốc là một cường quốc được đánh giá hơi cao và Hoa Kỳ lại bị đánh giá hơi thấp.

Không bỏ Washington ra ngoài

Tất nhiên, sẽ là sai lầm nếu đánh giá quỹ đạo có thể có của khu vực bằng việc chỉ xem xét Bắc Kinh và Washington. ASEAN và các nước thành viên riêng lẻ có khả năng điều chỉnh lại, ở một mức độ nào đó, các mối liên kết bên ngoài của họ. ASEAN không phải là một khối thụ động, nó có tổ chức riêng và trong lịch sử đã chứng tỏ rất giỏi trong việc điều động và bảo hiểm rủi ro. Câu hỏi đặt ra lần này là : Với sức mạnh và ảnh hưởng ngày càng tăng của Bắc Kinh trong khu vực và mức độ thay đổi theo kỳ của Washington, liệu ASEAN có thể duy trì quyền tự chủ và tính linh hoạt của mình - hay Bắc Kinh sẽ dần dần xói mòn nó ?

Các cường quốc tầm trung ở Châu Á có thể giúp ASEAN tránh bị rơi vào gọng kìm giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Đặc biệt, Nhật Bản là một nước đóng vai trò quan trọng về kinh tế và quyền lực mềm ở Đông Nam Á, và Tokyo gần đây đang tăng cường hợp tác an ninh với một số quốc gia ASEAN. Ấn Độ cũng đang nhanh chóng mở rộng vị thế của mình ở Đông Nam Á, tương xứng với chính sách "Hành động hướng Đông" của Thủ tướng Narendra Modi. Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in cũng đã công bố "chính sách hướng Nam" cho đất nước của ông trong khu vực. Với sự gần gũi và liên kết thương mại của Australia với khu vực, Canberra tự coi mình có mối quan hệ đặc biệt với nhiều thành viên ASEAN. Ngay cả Nga cũng đang cố gắng đóng một vai trò lớn hơn trong khu vực. Những tác nhân này càng làm phức tạp thêm bàn cờ khu vực và khiến sự thống trị của Trung Quốc ít có khả năng xảy ra.

Do đó, bất chấp sự thay đổi lực hấp dẫn rõ ràng của Đông Nam Á đối với Trung Quốc, cái kết vẫn chưa được xác lập. Một trong những lợi thế so sánh của Hoa Kỳ trong cuộc cạnh tranh với Trung Quốc (ở Đông Nam Á và các nơi khác) là chính Trung Quốc. Sự bắt nạt ngông cuồng của Bắc Kinh, ngoại giao công khai kiểu "chiến binh sói", bong bóng tuyên truyền, không chú ý đến mối quan tâm của địa phương và không có khả năng đưa ra những lời chỉ trích một cách xây dựng, tất cả đều làm suy yếu sức mạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc.

Trong nhiều trường hợp, điều tốt nhất mà Washington nên làm là đơn giản để Bắc Kinh quá khích và xa lánh những người khác. Nếu chính quyền Biden đặt khu vực trở thành ưu tiên và liên kết lại với mục đích và tính nhất quán (đó là điều mà người Đông Nam Á tìm kiếm), thì Trung Quốc có thể trở thành đối trọng - và người Đông Nam Á có thể tận hưởng những gì tốt nhất của cả hai thế giới.

David Shambaugh

Nguyên tác : "The Southeast Asian Crucible ", Foreign Affairs, December 17, 2020

Vũ Duy Mẫn dịch

Nguồn : Viet-studies, 19/12/2020

David Shambaugh là Giáo sư Gaston Sigur về Nghiên cứu Châu Á, Khoa học Chính trị và các Vấn đề quốc tế, và Giám đốc Chương trình Chính sách Trung Quốc tại Đại học George Washington. Bài báo này được chuyển thể từ cuốn sách "Nơi các cường quốc gặp gỡ : Mỹ và Trung Quốc ở Đông Nam Á" (Bản quyền © Nhà xuất bản Đại học Oxford, 2020).

Published in Diễn đàn

Indonesia đưa bộ chỉ huy tác chiến Hải quân đến quần đảo Natuna

Trọng Thành, RFI, 24/11/2020

Chính quyền Indonesia quyết định tăng cường khả năng tác chiến của lực lượng Hải quân, để đối phó với nguy cơ từ Trung Quốc. Một lãnh đạo Hải quân Indonesia thông báo bộ chỉ huy lực lượng tác chiến của Hải quân nước này sẽ chuyển về quần đảo Natuna, khu vực mà tàu cá và tàu Hải quân Trung Quốc nhiều lần xâm nhập trong những năm gần đây.

bd1

Quân đội Indonesia được tăng cường khả năng tác chiến trên đảo Natuna. Ảnh minh họa chụp tháng 02/2020.  AFP - Handout

Hãng thông tấn Anadolu cho hay, phát biểu trước báo giới hôm 23/11/2020, tổng tham mưu trưởng Hải quân Indonesia, đô đốc Yudo Margono cho biết trụ sở của Hạm đội 1 kể từ giờ sẽ được chuyển từ thủ đô Jakarta về quần đảo Natuna. Các đơn vị của Hạm đội 1 có nhiệm vụ sẵn sàng tác chiến trên biển, bảo đảm việc tuân thủ luật pháp trên biển và bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Nói chuyện với báo giới, tổng tham mưu trưởng Hải quân Indonesia cho biết, quyết định này cho phép triển khai nhanh chóng chiến hạm để "phản ứng kịp thời" trước các sự cố bất ngờ. Việc Jakarta tăng cường lực lượng hải quân tại quần đảo Natuna ở Biển Đông diễn ra vào lúc căng thẳng gia tăng với Trung Quốc tại khu vực này.

Yêu sách chủ quyền "đường 9 đoạn" của Trung Quốc bao gồm cả một phần vùng đặc quyền kinh tế xung quanh quần đảo Natuna. Tháng 1/2020, Indonesia huy động lực lượng chưa từng thấy, gồm 120 tàu đánh cá, cùng tàu chiến, phi cơ để ngăn chặn sự xâm nhập của tàu cá Trung Quốc có tàu hải cảnh Trung Quốc hộ tống tại khu vực quần đảo Natuna. Tháng 5/2020, Jakarta đã gửi công hàm đến Liên Hiệp Quốc bác bỏ yêu sách "đường 9 đoạn" của Trung Quốc, vốn đã bị Tòa Trọng Tài Thường Trực bác bỏ hồi 2016, trong vụ kiện của Philippines. Tháng 7/2020, 24 tàu chiến của Indonesia đã tham gia cuộc tập trận 4 ngày ở Biển Đông nhằm thách thức các yêu sách "đường 9 đoạn" của Bắc Kinh. 

Trọng Thành

Nguồn : RFI, 24/11/2020

*********************

Đài Loan tự đóng tàu ngầm để đối phó với Trung Quốc

Thụy My, RFI, 24/11/2020

Tổng thống Thái Anh Văn ngày 24/11/2020 loan báo Đài Loan sẽ tự đóng các tàu ngầm để bảo vệ chủ quyền trước Trung Quốc, một dự án quan trọng được Hoa Kỳ hỗ trợ.

bd2

Tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn trong lễ phát lệnh khởi công đóng tàu ngầm tại Cao Hùng, Đài Loan, ngày 24/11/2020.  Reuters - Ann Wang

Trong lễ khởi công tại thành phố cảng Cao Hùng, có sự hiện diện của ông Brent Christensen, thực chất là đại sứ Mỹ, bà Thái Anh Văn tuyên bố đây là một quyết định "lịch sử", sau khi đã vượt qua được "nhiều thử thách và nghi ngờ". Bà nói : "Dự án này chứng tỏ quyết tâm cao độ của Đài Loan nhằm bảo vệ chủ quyền. Tàu ngầm rất quan trọng để tăng cường năng lực chiến đấu của hải quân, nhằm răn đe các tàu địch bao vây Đài Loan".

Tập đoàn Đài Loan CSBC cho biết sẽ giao chiếc tàu ngầm đầu tiên vào năm 2025, trong số 8 chiếc được đặt hàng. Chủ tịch tập đoàn nói rằng đã gặp phải rất nhiều khó khăn, nhất là việc mua thiết bị và những cản trở từ các thế lực bên ngoài.

Hải quân Đài Loan hiện có bốn tàu ngầm, trong đó có hai chiếc sản xuất tại Mỹ từ thập niên 40, không thể nào so sánh được với hạm đội hùng hậu của Trung Quốc gồm cả những tàu chiến trang bị vũ khí nguyên tử và cả hàng không mẫu hạm.

Trong những thập niên qua, hòn đảo này đầu tư rất lớn vào kỹ nghệ quốc phòng, do Bắc Kinh gây áp lực lên những nước bán vũ khí cho Đài Loan. Năm 2018, chính quyền Donald Trump đã bật đèn xanh cho các nhà sản xuất Mỹ tham gia cung cấp, nhưng không rõ là những công ty nào.

Quân đội Trung Quốc không ngừng đe dọa Đài Loan, với việc gia tăng các hoạt động quân sự sát hòn đảo. Năm nay các máy bay tiêm kích Trung Quốc đã nhiều lần xâm nhập vùng nhận diện phòng không của Đài Loan. Nhiều nhà quan sát lo ngại nguy cơ Bắc Kinh sẽ đánh chiếm Đài Loan nhân kỷ niệm 100 năm thành lập đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Hôm qua, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Triệu Lập Kiên (Zhao Lijian) đã "cực lực phản đối" mọi sự hợp tác quân sự giữa Đài Bắc và Washington, nhấn mạnh vấn đề Đài Loan là "hết sức nhạy cảm". Trước đó Reuters hôm Chủ nhật dẫn hai nguồn tin cho biết đô đốc Michael Studeman, phụ trách tình báo quân sự Mỹ tại Châu Á-Thái Bình Dương đã bất ngờ đến thăm Đài Loan.

Thụy My

Nguồn : RFI, 24/11/2020

**********************

Chỉ huy tình báo Bộ Tư Lệnh Ấn Độ-Thái Bình Dương của Mỹ đến Đài Loan

Tú Anh, RFI, 23/11/2020

Theo Reuters, tướng hải quân Mỹ Michael Studerman đã âm thầm đến Đài Bắc vào chiều Chủ Nhật 22/11/2020. Đến sáng hôm nay, thủ tướng Đài Loan Tô Trinh Xương mới xác nhận chuyến viếng thăm bất ngờ của một lãnh đạo tình báo Mỹ thuộc Bộ Tư Lệnh Ấn Độ-Thái Bình Dương. Phát ngôn viên bộ Ngoại giao Trung Quốc đe dọa trả đũa.

bd3

Khu trục hạm Mỹ USS Barry (DDG 52) đi qua eo biển Đài Loan để tiến vào Biển Đông ngày 21/11/2020. Ảnh US Navy.  © USS Barry (DDG 52) - Seaman Molly Crawford

Đề đốc Michael Studerman, chỉ huy trưởng đơn vị tình báo J2 Bộ Tư Lệnh Ấn Độ-Thái Bình Dương của Mỹ, đã đến phi trường Tùng Sơn, Đài Bắc. Chuyến viếng thăm của viên tướng Mỹ hai sao chỉ được Đài Loan, qua trả lời báo chí của thủ tướng Tô Trinh Xương, xác nhận vào sáng thứ Hai, kèm theo lời giải thích : "Phải đặt nhà hàng, món ăn đãi khách, chuẩn bị xong rồi mới báo cáo với dân chúng". 

Lịch trình thăm viếng của tướng tình báo Michael Studerman tại Đài Loan không được thông báo, nhưng theo Reuters, sự kiện chính quyền Donald Trump tăng cường trợ giúp Đài Loan trên nhiều mặt đã gây phản ứng tức giận tại Bắc Kinh.

Trong cuộc họp báo sáng nay, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Triệu Lập Kiên tuyên bố "kiên quyết chống lại mọi hình thức trao đổi giữa Mỹ và Đài Loan hay quan hệ quân sự". Phát ngôn viên này đe dọa thêm : "Trung Quốc sẽ theo dõi diễn biến tình hình và sẽ có hành động chính đáng để trả đũa".

USS Barry trở lại Biển Đông

Trong khi đó, Hải quân Hoa Kỳ tiếp tục duy trì hiện diện thường xuyên tại Biển Đông. Theo thông tin của Hạm Đội 7, khu trục hạm USS Barry, thuộc hải đội khu trục hạm số 15, đã trở lại Biển Đông với nhiệm vụ được giao phó là bảo vệ an ninh hàng hải và ổn định trong khu vực.

Trong năm nay, khu trục hạm trang bị tên lửa hành trình này từ Nhật Bản đã bốn lần băng qua eo biển Đài Loan để xuống Biển Đông.

Tú Anh

Nguồn : RFI, 23/11/2020

**********************

Trung Quốc chỉ trích Mỹ gây mất ổn định Biển Đông

RFA, 24/11/2020

Đại sứ quán Trung Quốc ở hai nước Philippines và Việt Nam hôm 24/11 đã đồng loạt lên tiếng chỉ trích Hoa Kỳ đang gây mất ổn định tình hình Biển Đông và chia rẽ Trung Quốc với các nước láng giềng.

bd4

Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ Robert O'Brien phát biểu tại Học viện Ngoại giao ở Hà Nội hôm 21/11/2020 - Đại sứ quán Mỹ

Tuyên bố này của hai Đại sứ quán được đưa ra sau chuyến thăm mới đây của Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ Robert O’Brien đến Việt Nam và Philippines.

Bài viết của Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội đăng trên Fanpage nói rằng phát biểu của ông O’Brien tại Việt Nam là "hoàn toàn đi ngược lại sự thật khách quan, chứa đầy tư duy chiến tranh lạnh và thành kiến ý thức hệ mạnh mẽ".

Phát biểu tại Học viện Ngoại giao ở Hà Nội hôm 21/11, ông O’Brien đã nói đến mưu đồ của Trung Quốc trong các hành động nhằm kiểm soát sông Mekong và Biển Đông : "Từ biển Đông đến lưu vực sông Mekong, những nguồn tài nguyên phong phú dồi dào của đất nước các bạn thuộc về con cháu của các bạn".

Quyền thừa hưởng những nguồn tài nguyên này không thể bị cướp mất chỉ đơn giản vì một nước láng giềng lớn hơn và thèm muốn những gì thuộc về các bạn".

Ông O’Brien đồng thời cũng khẳng định cam kết của Mỹ với các nước trong khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương : "Hoa Kỳ có một lập trường vững chắc phản đối sự cưỡng ép bắt nạt của Trung Quốc tại biển Đông và các mối đe dọa an ninh trong khu vực Mekong".

Bài viết của Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội khẳng định Trung Quốc luôn tuân thủ Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển" (UNCLOS), đồng thời khẳng định Trung Quốc đang làm việc với các nước ASEAN để giải quyết các vấn đề ở Biển Đông một cách hòa bình, không liên quan đến Mỹ.

Đại sứ quán Trung Quốc cũng cáo buộc Mỹ đã đặt vấn đề sông Mekong để vu khống Trung Quốc, phóng đại cái gọi là "mối đe doạ từ Trung Quốc", mục đích để chia rẽ mối quan hệ giữa Trung Quốc và các nước thuộc khu vực sông Mekong.

Cũng trong ngày 24/11, Việt Nam và Hoa Kỳ đã tổ chức đối thoại trực tuyến chính sách quốc phòng Việt - Mỹ 2020. Hai bên đã cam kết sẽ tiếp tục hợp tác, thúc đẩy quan hệ quốc phòng song phương, hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh.

Nguồn : RFA, 24/11/2020

**********************

Mỹ cam kết giúp Philippines bảo vệ chủ quyền

Tú Anh, RFI, 23/11/2020

Cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống Mỹ đến Manila ngày 23/11/2020 với lời khẳng định sẽ giúp Philippines chống lại các mối đe dọa biển đảo từ Trung Quốc. Robert O’Brien nhắc đến bổn phận của Mỹ qua hiệp ước phòng thủ hỗ tương Mỹ-Phi từ năm 1951.

bd5

Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ Robert O'Brien và ngoại trưởng Philippines Teodoro Locsin Jr. tại lễ trao đạn dược, vũ khí của Mỹ cho Philippines tại Bộ Ngoại giao Philippines ở Pasay City, vùng thủ đô Manila (Philippines), ngày 23/11/2020.  Reuters – Eloisa Lopez

Sau chuyến viếng thăm Việt Nam, cố vấn an ninh quốc gia Mỹ đến Manila. Trong buổi lễ trao tặng cho quân đội Philippines nhiều loại vũ khí mới, được tổ chức trong ngày thứ Hai với sự hiện diện của Ngoại trưởng Philippines Teodoro Locsin Jr, ông Robert O’Brien tuyên bố Hoa Kỳ "sẽ bảo vệ chủ quyền quốc gia và các nguồn tài nguyên trên biển của Philippines đúng theo quy định của luật quốc tế".

Lập trường của Mỹ tại Biển Đông, cũng theo ông Robert O’Brien, đã được ngoại trưởng Mike Pompeo xác quyết trong tuyên bố hồi tháng Hai năm nay : "Mọi cuộc tấn công quân sự vào quân đội Philippines, vào phi cơ hay thương thuyền của nước này trong vùng Biển Đông, sẽ buộc Hoa Kỳ thực hiện bổn phận tương trợ phòng thủ với Philippines".

Ngoài hiệp định 1951, cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống Mỹ còn xác quyết là Washington ủng hộ quyết định của Tòa Trọng Tài Thường trực La Haye công bố ngày 12/07/2016 sau khi xem xét lập trường của Philippines, bác bỏ các đòi hỏi chủ quyền của Bắc Kinh tại Biển Đông.

Đánh động tinh thần tự hào của người dân Philippines, cố vấn an ninh quốc gia Mỹ nhấn mạnh "tài nguyên thiên nhiên của Philippines là của thế hệ con, cháu của qúy vị … mà không thuộc một nước nào khác, dù lớn hơn hay mạnh hơn Philippines, cũng không thể bị chiếm đoạt và mang đi được", theo tường thuật của báo mạng Inquier.net.

Viện trợ vũ khí

Cũng theo nguồn tin này, vũ khí mới của Mỹ viện trợ cho quân đội Philippines trị giá 18 triệu đô la gồm bom thường, bom bộc phá hầm bê tông, tên lửa TOW 2A. Theo tuyên bố của ngoại trưởng Philippines Teodoro Locsin Jr, số vũ khí này được tổng thống Donald Trump hứa tặng cho Philippines để chống khủng bố Hồi Giáo nhân cuộc điện đàm hồi tháng Tư năm nay với tổng thống Duterte.

Tú Anh

Nguồn : RFI, 23/11/2020

*********************

Hoa Kỳ cung cấp tên lửa, gia hạn cam kết bảo vệ Philippines

RFA, 23/11/2020

Hoa Kỳ đã cung cấp tên lửa dẫn đường và các vũ khí khác để giúp Philippines chiến đấu với các tay súng liên kết cùng Nhà nước Hồi giáo và gia hạn hiệp ước cam kết bảo vệ đồng minh nếu nước này bị tấn công ở vùng Biển Đông, mà Manila gọi là Biển Tây Philippines. AP đưa tin hôm 23/11/2020.

bd6

Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ Robert O'Brien (phải) và Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Teodoro Locsin tại văn phòng Bộ Ngoại giao ở Manila vào ngày 23/11/2020. AFP

Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ, Robert O’Brien đã đại diện cho Tổng thống Donald Trump thông báo như vậy tại Manila. Chính quyền của Tổng thống Trump cam kết cung cấp số tên lửa trị giá 18 triệu USD trong cuộc điện đàm với Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte vào tháng 4 vừa qua.

Trong phát biểu của mình về việc cung cấp tên lửa cho Manila, ông O'Brien đã trích dẫn vai trò của chính quyền Trump trong việc đánh bại nhóm Nhà nước Hồi giáo ở Trung Đông và vụ giết thủ lĩnh của nhóm này, Abu Bakr al-Baghdadi, ở Syria năm ngoái, và tiếp tục cam kết giúp Philippines đánh bại các tay súng có liên hệ với IS ở miền nam nước này.

Ông O'Brien bày tỏ hy vọng về việc duy trì một thỏa thuận an ninh quan trọng cho phép các lực lượng Mỹ huấn luyện trong các cuộc tập trận chiến đấu quy mô lớn ở Philippines. Ông nói rằng Hoa Kỳ sát cánh với Philippines trong nỗ lực bảo vệ các quyền chủ quyền của mình ở Biển Đông.

Tổng thống Phillipines đã bãi bỏ Thỏa thuận các lực lượng thăm viếng với Hoa Kỳ vào đầu năm nay nhưng sau đó đã dời hiệu lực của quyết định này đến năm sau. Tháng trước, Philippines đã thông báo rằng họ sẽ nối lại các hoạt động thăm dò dầu khí trong hoặc gần Bãi Cỏ Rong (Reed Bank), nơi Trung Quốc đang tuyên bố chủ quyền.

Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ nhắc lại tuyên bố của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo vào đầu năm nay rằng "bất kỳ cuộc tấn công vũ trang nào nhằm vào máy bay hoặc tàu công cộng của lực lượng Philippines ở Biển Đông sẽ kích hoạt nghĩa vụ phòng vệ chung của chúng ta". Các đồng minh đã có hiệp ước phòng thủ chung 69 năm.

Trong một tuyên bố đưa ra hồi tháng 7 năm nay, Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo viết rằng, "các yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông là hoàn toàn phi pháp, đồng thời bác bỏ "đường lưỡi bò" của Trung Quốc tự vẽ ra và lên án chính quyền Bắc Kinh đang bắt nạt các nước khác trong khu vực. Thế giới sẽ không cho phép Trung Quốc ứng xử với Biển Đông như đế chế hàng hải của riêng mình".

Nguồn : RFA, 23/11/2020

*********************

M gia tăng mc đ ‘sn sàng’ Đông Nam Á

Trân Văn, 21/11/2020

Sau s kin Tư lnh Không quân khu vc Thái Bình Dương ca quân đi M yêu cu các đơn v thuc quyn ch huy ca ông phi sn sàng cho cuc chiến vi Trung Quc khu vc Thái Bình Dương (1), ti lượt hi quân và lc quân M thc hin hàng lot các kế hoch nhm gia tăng mc đ sn sàng ca nhng quân chng này.

bd7

Tàu khu trục USS Roosevelt (DDG-80). Hình minh ha.

***

Ông Kenneth Braithwaite, B trưởng Hi quân M, va gii thiu ý đnh tái thành lp Hm đi 1 đ nâng cao năng lc hi quân ca M khu vc n Đ - Thái Bình Dương nhm kim chế và đi phó vi tình trng Trung Quc dc sc phát trin b máy quân s trong khu vc này (2).

Hm đi 1 được thành lp hi đu năm 1947 và b gii th vào đu năm 1973. Nhim v và phm vi trách nhim ca Hm đi 1 được giao cho Hm đi 3 đm nhn. Vào lúc này, ti khu vc n Đ - Thái Bình Dương ch có Hm đi 7, đn trú căn c hi quân Yokosuta Nht.

Thnh thong, Hm đi 7 nhn thêm s h tr ca Hm đi 3 đóng San Diego (California, M) nhưng con s t 50 đến 70 chiến hm (bao gm c tàu ngm), 150 phi cơ quân s các loi, cng vói hàng không mu hm Ronald Reagan, không tương xng c vi bi cnh khu vc ln phm vi trách nhim (din tích khong 48 triu dm vuông, tri rng t ranh ca hi phn quc tế gia Thái Bình Dương đến hi phn ca n Đ, Pakistan và qun đo Kurin phía Bc Đi Tây Dương).

Ông Braithwait nhn mnh,thi gian va qua, Hm đi 7 còn phi thc hin các cuc tun tra bo v quyn t do hàng hi bin Đông, nơi Trung Quc bt chp các khuyến cáo ca cng đng quc tế, thn nhiên bi đp hàng lot bãi đá ngm thành đo ri xây dng mt chui các căn c quân s khu vc vn đang có tranh chp v ch quyn. Đó là lý do phi tái thành lp Hm đi 1, va nâng cao năng lc hi quân trong khu vc, va gia tăng mc đ răn đe.

Ti hi ngh thường niên v hat đng ca mng lưới tàu ngm, ngoài vic gii thiu d đnh tái thành lp Hm đi 1, ông Braithwait nói thêm,Hm đi 1 nên đn trú ngã tư nào đó gia khu vc n Đ Dương và Thái Bình Dương, phù hp vi li ích ca c M ln các đng minh, đi tác ca M ti khu vc này.

Ông Braithwaith ch đ cp đến Singapore như mt trong nhng nơi có th s được chn làm ch đ Hm đi 1 trú đóng, song vài chuyên gia khng đnh, Singapore là v trí phù hp nht. T 2013 đến nay đã có khong 1.000 quân nhân M và nhân viên dân s ca B Quc phòng M thuc Lc lượng Đc nhim 73 và B Ch huy Hu cn Khu vc Tây Thái Bình Dương trú đóng ti Singapore đ h tr cho hot đng ca Hm đi 7 cũng như nhng hot đng khác ca hi quân M.

Ian Chong – Ging viên v Khoa hc Chính tr ca Đi hc Quc gia Singapore gii thích,s dĩ Singapore là đa đim lý tưởng nht vì hi đ c yêu cu v v trí đa lý ln nn tng sn có v h tng, cũng như tim năng phát trin các kh năng gia tăng mc đ h tr toàn din cho Hm đi 1.

Theo Chong, khu vc Đông Nam Á vn còn mt vài đa đim phù hp vi mc tiêu ca hi quân Hoa K nhưng vì nhiu lý do rt khó nhm ti. Ví d mt s v trí Indonesia, Malaysia s cn rt nhiu thi gian đ chun b v h tng. Vnh Subic Philippines dù thun li hơn nhưng bi cnh chính tr Philippines khiến la chn này thiếu chc chn.

Vnh Cam Ranh ca Vit Nam du là mt đa đim lý tưởng nhưng Chong tin là h thng chính tr, h thng công quyn ca Vit Nam không sn sàng. Ngay c Thái Lan quc gia vn là đng minh ca M có l cũng s không hào hng vi vic gt đu đ M đt căn c ca Hm đi 1.

Bi rt nhiu quc gia không loi tr Singapore s ngn ngi trong vic công khai bt tay vi M, can d trc tiếp vào vic răn đe, sn sàng đi đu vi s hung hăng ca Trung Quc, mt s chuyên gia phng đoán, hi quân Hoa K có th nhm ti vic đt căn c cho Hm đi 1 ti qun đo Andaman ca n Đ - mt nơi rt gn Singapore

***

Ging như không quân và hi quân, lc quân M va công b hàng lot kế hoch gia tăng mc đ sn sàng tham chiến Đông Nam Á. Mt trong by l đoàn ca B Ch huy H tr an ninh (Security Force Assistance Command - SFAC) va được điu đng đến Joint Readiness Training Center (JRTC) Fort Polk (tiu bang Louisiana) (3).

SFAC được thành lp hi gia năm 2018, nay có by l đoàn chuyên đm nhn vai trò h tr hun luyn các lc lượng ngoi quc bo v an ninh, quc phòng (Security Force Assistance Brigade – SFAB). Các SFAB chuyên tuyn la nhng sĩ quan, h sĩ quan giàu kinh nghim, gii k năng trong lc quân M đ hun luyn thêm ri gi h đến hun luyn, gia tăng kh năng phi hp, k c v ha ym (ym tr bng pháo binh), không ym cho quân đi ca các quc gia hoc là đng minh, hoc là đi tác trên toàn thế gii.

Lc quân M có hai trung tâm hun luyn thc đa ni tiếng. Mt là National Training Center (NTC)  Fort Irwin (California) và mt là JRTC. Trong vài thp niên gn đây, đa s đơn v lc quân ch được gi đến NTC - nơi tp luyn chiến đu hoang mc đ làm quen, tp thích nghi vi đc đim các chiến trường khu vc Trung Đông. Gi, JRTC nơi tp luyn chiến đu khu vc rng rm nhit đi, đm ly vn là đc đim chung ca khu vc Đông Á bt đu được s dng thường xuyên.

Theo Army Times, s dĩ L đoàn 5 ca SFAC được gi đến JRTC vì vài tháng na, các đơn v ca l đoàn này s được gi đến mt s quc gia khu vc n Đ - Thái Bình Dương. Chun tướng Curtis Taylor, Ch huy trưởng L đoàn 5 thuc SFAC, tiết l, đơn v ca ông s h tr quân đi ca các quc gia đng minh và đi tác gia tăng kh năng tương tác gia vin thám, phòng không, pháo binh, công binh ca các bên. Mt nhóm ca l đoàn này đã đến Thái Lan. Sau đó hai bên đã tp trn chung Hawaii.

Mc tiêu sp ti là s dng các SFAB nhm ci thin hơn na kh năng hp tác h tr v hu cn, thu thp chia s thông tin tình báo, h tr c ha ym, không ym và nâng cht lượng đi ngũ h sĩ quan ca quân đi các quc gia đng minh, đi tác Đông Nam Á. SFAC không đ cp đến vic s gi các SFAB đến nhng quc gia nào trong khu vc này, tuy nhiên tướng Taylor tha nhn, trên thc tế, quân đi ca mt s quc gia Đông Nam Á mun tht cht quan h vi c M ln Trung Quc.

Cho dù đã có nhng lo ngi rng vic h tr nhng quc gia như thế có th giúp Trung Quc d dàng thu thp thông tin v k thut, chiến thut ca M nhưng tướng Taylor trn an :Vào lúc này, ưu tiên hàng đu là nâng cao năng lc cho quân đi ca các quc gia đng minh và đi tác. Các thành viên ca nhng SFAB ch hướng dn, h tr phi hp ch không được phép ép đng minh hay đi tác thc hin nhng tiêu chun ca M, theo kiu ca M.

Ch huy trưởng L đoàn 5 ca SFAC nhn mnh, điu mà SFAC mong mun là đ lãnh đo quân đi ca các quc gia đng minh và đi táchiu hơn v cách hot đng ca chúng ta, cách chúng ta chia s quyn hành cho cp dưới, cách chúng ta đu tư vào đi ngũ h sĩ quan. Chng có gì đáng phàn nàn nếu h mun chia s nhng yếu t đó vi Trung Quc. Chng có gì phi lo nếu h mun chia s nhng gì h tiếp nhn t chúng ta vi các đi tác khác ca h (3).

Trân Văn

Nguồn : VOA, 21/11/2020

Chú thích

(1) https://www.stripes.com/news/pacific/as-tensions-simmer-pacific-air-forces-leaders-say-troops-must-be-ready-for-conflict-with-china-1.651199

(2) https://www.stripes.com/news/pacific/navy-secretary-pitches-1st-fleet-revival-in-western-pacific-possibly-based-in-singapore-1.652617

(3) https://www.armytimes.com/news/your-army/2020/11/19/sfab-fends-off-an-invasion-in-exercise-ahead-of-indo-pacific-missions/

Published in Diễn đàn

Tương lai Biển Đông : Căng thẳng giữa Trung Quốc và Mỹ tiếp tục

Nguyễn Trường, RFA, 10/09/2020

Kể từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát vào tháng 3/2020, những căng thẳng tại biển Đông đã gia tăng. Nguyên nhân chủ yếu là do Trung Quốc tiếp tục tỏ thái độ quyết đoán, cùng với đó là việc quan hệ Mỹ-Trung xấu đi trong một loạt vấn đề, trong đó có vấn đề biển Đông. Những hành động của Bắc Kinh nhằm khẳng định quyền tài phán và thể hiện rằng Covid-19 không làm suy yếu ý chí chính trị hay khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) đã phản tác dụng. Mỹ đã tăng cường sự hiện diện quân sự tại biển Đông cũng như đẩy mạnh việc chỉ trích các hành động của Trung Quốc. Quan trọng hơn cả, để ủng hộ các nước Đông Nam Á có tuyên bố chủ quyền, Washington đã gắn chính sách biển Đông của mình với phán quyết của Tòa trọng tài năm 2016. Trung Quốc và Mỹ liên tục cáo buộc nhau kích động căng thẳng và quân sự hóa tranh chấp.

dna1

Tàu sân bay USS Ronald Reagan của Mỹ tập trận cùng tàu của Lực lượng phòng vệ Biển Nhật Bản ở Biển Đông hôm 31/8/2018 - Reuters

Các nước Đông Nam Á có tuyên bố chủ quyền tại biển Đông cho rằng Bắc Kinh đã lợi dụng đại dịch Covid-19 để thúc đẩy tuyên bố chủ quyền, đồng thời phản ứng bằng lập trường cứng rắn hơn. Các nước này tiếp tục bác bỏ cơ sở pháp lý "đường 9 đoạn" của Trung Quốc và viện dẫn phán quyết của Tòa trọng tài năm 2016. Mặc dù các quốc gia ven biển tại Đông Nam Á nhìn chung tán thành việc Mỹ ủng hộ họ thực thi quyền hàng hải trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của mình, nhưng các nước này cũng kiềm chế không công khai khẳng định điều này để tránh chọc giận Trung Quốc.

Trong vòng 18 tháng tới, căng thẳng không có khả năng hạ nhiệt. Quan hệ Mỹ-Trung sẽ tiếp tục đi xuống, bất luận ai là người chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2020. Trung Quốc và Mỹ sẽ tăng cường hoạt động quân sự tại biển Đông, làm gia tăng nguy cơ đối đầu. Căng thẳng gia tăng tại eo biển Đài Loan sẽ tác động tới tranh chấp tại biển Đông. Các nỗ lực của Đông Nam Á trong việc bảo vệ quyền chủ quyền bằng cách nhấn mạnh tầm quan trọng của luật pháp quốc tế và thông qua đàm phán với Trung Quốc về COC sẽ không làm thay đổi những động lực cốt lõi trong tranh chấp ở biển Đông.

Cạnh tranh chiến lược leo thang giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ tiếp tục đổ thêm dầu vào ngọn lửa căng thẳng tại biển Đông. Mối bất hòa giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ gia tăng đáng kể từ nay cho tới cuộc bầu cử tổng thống Mỹ tháng 11 tới. Với sự đồng thuận lưỡng đảng tại Mỹ về Trung Quốc, chính quyền Mỹ mới nếu do Joe Biden dẫn dắt cũng sẽ không thể thực hiện một chính sách mang tính hòa giải hơn tại biển Đông được. Nếu Tổng thống Trump tái cử, chính quyền của ông sẽ tiếp tục chính sách cứng rắn với Trung Quốc trong vấn đề biển Đông. Vì thế, trong giai đoạn 2020-2021, chúng ta sẽ chứng kiến sự gia tăng tần suất các chiến dịch quân sự của Mỹ tại biển Đông, bao gồm các sứ mệnh hiện diện, các chuyến bay qua, các cuộc tập trận và FONOP. Mỹ nhiều khả năng sẽ áp đặt các biện pháp trừng phạt bổ sung nhằm vào các công ty, cá nhân tại Trung Quốc mà Mỹ cáo buộc thực hiện chính sách của Bắc Kinh tại biển Đông.

Thông qua việc triển khai tàu hải quân tại EEZ của Malaysia cũng như qua tuyên bố của Pompeo, Mỹ đã cho thấy ý định gia tăng sự hỗ trợ dành cho các nước Đông Nam Á có tuyên bố chủ quyền. Sự hỗ trợ này có thể bao gồm việc chuyển giao trang thiết bị như radar, thiết bị không người lái và tàu tuần tra để các nước có thể giám sát chặt chẽ hơn các hoạt động của Trung Quốc trong EEZ của họ, nhất là việc đánh cá trái phép và sự hiện diện của các tàu của Chính phủ Trung Quốc. Pompeo cũng ám chỉ rằng Mỹ có thể sẵn sàng hỗ trợ pháp lý cho các nước Đông Nam Á có tuyên bố chủ quyền.

Trung Quốc sẽ đẩy mạnh các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ và quyền tài phán tại biển Đông và gia tăng sức ép với Đài Loan nhằm thúc đẩy tư tưởng dân tộc chủ nghĩa của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình và chuyển hướng sự chú ý khỏi các khó khăn kinh tế của Trung Quốc. Vì thế, quy mô và tần suất các cuộc tập trận của Hải quân PLA tại biển Đông cũng sẽ gia tăng. Các hoạt động quân sự của Mỹ, trong đó có FONOP, sẽ không ngăn cản được Trung Quốc. Nếu như tần suất FONOP tại biển Đông gia tăng, Hải quân PLA có thể áp dụng cách tiếp cận đối đầu hơn nhằm phản ứng trước việc các tàu hải quân Mỹ đi qua các quần đảo Trường Sa hay Hoàng Sa, làm gia tăng nguy cơ đụng độ trên biển mà có thể châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng quân sự-chính trị trong quan hệ Mỹ-Trung.

Dự báo trong năm tới, Trung Quốc sẽ tiếp tục triển khai tàu khảo sát tới EEZ của các nước Đông Nam Á có tuyên bố chủ quyền, cũng như quấy rối các tàu tiến hành khai thác và thăm dò dầu khí theo thỏa thuận với các nước này. Mục đích của Trung Quốc là ép buộc chính phủ các nước Đông Nam Á ký thoả thuận khai thác chung với Trung Quốc, đồng thời cản trở các tập đoàn năng lượng quốc tế tham gia các dự án khai thác dầu khí ngoài khơi cùng các công ty năng lượng Đông Nam Á khi không được Bắc Kinh chấp thuận.

dna2

Tàu hải cảnh Trung Quốc nhìn từ tàu cảnh sát biển của Việt Nam ở Biển Đông hôm 14/5/2014 – Reuters

Các nước Đông Nam Á có tuyên bố chủ quyền tại biển Đông quyết tâm bảo vệ tuyên bố về chủ quyền lãnh thổ và quyền chủ quyền trong EEZ của họ. Các nước này cũng không kém phần quyết tâm để không bị lôi kéo vào tranh cãi giữa Mỹ và Trung Quốc tại các vùng biển tranh chấp. Do sự bất cân xứng về sức mạnh, các nước Đông Nam Á không thể sử dụng hải quân hay lực lượng bảo vệ bờ biển để đối đầu với Hải quân Trung Quốc (PLA) hay lực lượng Cảnh sát biển Trung Quốc, mà chỉ có thể giám sát các hoạt động của họ. Trong tương lai, năng lực của họ trong hoạt động này có thể còn suy giảm vì các chính phủ phải cắt giảm chi tiêu quốc phòng do khủng hoảng kinh tế bắt nguồn từ đại dịch Covid-19 và phải điều chuyển bớt năng lực cảnh sát biển và hải quân vốn đã hạn chế nhằm đối phó với tình trạng cướp biển đang ngày càng gia tăng trong và ngoài các vùng lãnh hải. Do đó, các nước Đông Nam Á còn lại 2 lựa chọn chính sách, và không lựa chọn nào có thể ngăn cản Trung Quốc hành động quyết đoán.

Lựa chọn thứ nhất là tiếp tục nhấn mạnh rằng các quyền trên biển của họ được xác định theo UNCLOS, và được phán quyết của Tòa trọng tài năm 2016 bảo vệ. Tuy nhiên, Trung Quốc cho rằng các quyền lịch sử của họ tại biển Đông phải được ưu tiên so với UNCLOS và phán quyết của Tòa trọng tài là vô giá trị. Chiến lược của các nước Đông Nam Á nhằm làm cho Trung Quốc phải hổ thẹn và điều chỉnh các tuyên bố chủ quyền theo UNCLOS sẽ không thành công và Bắc Kinh sẽ sẵn sàng chấp nhận việc uy tín bị suy giảm.

Lựa chọn thứ hai là đàm phán COC giữa ASEAN và Trung Quốc, với hy vọng rằng nó sẽ điều chỉnh cách hành xử của Trung Quốc và làm giảm căng thẳng. Tuy nhiên, do đại dịch Covid-19, từ đầu năm tới nay, các quan chức 10 nước thành viên ASEAN và Trung Quốc chưa thể gặp nhau để tiếp tục đàm phán. Tháng 7/2019, các quan chức đã nhất trí về dự thảo thứ nhất của COC. Cuộc gặp gần đây nhất của Nhóm làm việc chung (JWC) ASEAN-Trung Quốc về COC diễn ra tại Đà Lạt, Việt Nam vào tháng 1/2019. Hai cuộc gặp của JWC dự kiến diễn ra vào đầu năm 2020 – tại Brunei vào tháng 2 và tại Philippines vào tháng 5 – đều đã bị huỷ do đại dịch Covid-19. Tính chất nhạy cảm của các cuộc đàm phán này không cho phép tiến hành thông qua hình thức họp trực tuyến. Tình hình có thể thay đổi vào cuối năm nay và các nội dung ít nhạy cảm của COC có thể được đàm phán trực tuyến. Bắc Kinh có vẻ muốn nối lại đàm phán. Tuy nhiên, ngay cả khi các cuộc thảo luận được nối lại, sự ngắt quãng trong công việc của JWC có nghĩa là mục tiêu hoàn tất COC trong năm 2021 mà Trung Quốc đơn phương tuyên bố sẽ khó có thể đạt được. Ngay từ trước khi đại dịch xảy ra, nhiều nước thành viên ASEAN đã bày tỏ nghi ngờ về khả năng đạt được mục tiêu này khi xét tới tính phức tạp của các vấn đề thảo luận. Vì thế, có thể phải tới năm 2022 hoặc 2023 thì COC mới được ký kết, và vào thời điểm đó, Trung Quốc hẳn đã củng cố vững chắc hơn đáng kể vị thế của mình tại biển Đông.

Không có nhiều lý do để tỏ ra lạc quan rằng căng thẳng sẽ lắng dịu tại khu vực biển Đông trong giai đoạn 2020-2021. Cạnh tranh Mỹ-Trung, động lực trung tâm của tình trạng này, chắc chắn sẽ leo thang. Đối mặt với thực tế khó khăn này, các nước Đông Nam Á sẽ không có sẵn nhiều công cụ để hạ nhiệt tranh chấp ngoài việc viện dẫn luật pháp quốc tế và chủ nghĩa đa phương. Như vậy, tranh chấp tại biển Đông sẽ vẫn đứng đầu nghị trình an ninh của Đông Nam Á trong tương lai sắp tới.

Năm nay là năm Việt Nam giữ vai trò Chủ tịch ASEAN, Việt Nam đã rất hy vọng đẩy mạnh vấn đề biển Đông và tiến trình đàm phán COC trong nghị trình của ASEAN cũng như tại Hội nghị Đông Á (EAS) và Diễn đàn khu vực ASEAN. Tuy nhiên, với sự bùng phát của đại dịch Covid-19, các nỗ lực của Việt Nam bị giảm đi rất nhiều.

Chúng ta còn nhớ mới đây, hồi tháng 7 năm nay, phía Việt Nam đã phải tiếp tục rút khỏi việc thăm dò tại Lô 06.1 do lo ngại sức ép từ phía Trung Quốc và sự chưa sẵn sàng của lãnh đạo Việt Nam trong việc đối mặt với đe doạ từ Trung Quốc. Trước đó, năm 2017 và 2018, Việt Nam đã phải yêu cầu công ty Repsol rút khỏi các Lô 136.3 và 07.3.

Như vậy, trong tương lai, khả năng Trung Quốc sẽ được đà lấn tới, tiếp tục đe doạ hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí của Việt Nam ngay tại EEZ của Việt Nam. Dư luận quốc tế gần đây cũng rộ lên khả năng Việt Nam sẽ theo gót Philippines để sử dụng phương án Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS, nhằm lôi Trung Quốc ra Tòa quốc tế. Tuy nhiên, khả năng này vẫn còn chưa rõ ràng, khi Việt Nam năm nay đang chuẩn bị cho Đại hội đảng cộng sản lần thứ 13, là dịp mà các phe nhóm chính trị giành quyền lực cho nhóm mình. Chính vì vậy, các khả năng có các hành động pháp lý mạnh mẽ tại biển Đông khó có thể xảy ra năm nay.

Việt Nam cũng đặt hy vọng nhiều vào tiến trình đàm phán COC năm nay. Tuy nhiên, với các dự báo như trên, khả năng COC khó mà có thể ký kết được trong tương lai gần. Và đương nhiên, Trung Quốc muốn sử dụng COC để loại Mỹ ra ngoài vùng ảnh hưởng. Và đây cũng sẽ là một trở ngại cho Việt Nam trong việc cân bằng quyền lực giữa Mỹ và Trung Quốc trong vai trò chủ tịch ASEAN năm nay.

Nguyễn Trường

Nguồn : RFA, 10/09/2020

***********************

Trung Quốc lại ‘thổi lửa’ ở Biển Đông

Hoàng Lan, Thoibao.de, 10/09/2020

Trung Quốc ngày càng hung hăng trên các hồ sơ mà nước này có tranh chấp chủ quyền từ Biển Đông, Biển Hoa Đông cho đến Eo biển Đài Loan bằng việc tiến hành hàng loạt các cuộc tập trận. Chính quyền Trung Quốc mới đây đã phát đi thông báo từ ngày hôm 07/09/2020 sẽ tiến hành nhiều cuộc tập trận hơn nữa trên vùng biển phía đông và đông bắc Trung Quốc.

dna3

Ảnh : Phái đoàn quân sự Mỹ – Nhật, do hai bộ trưởng Quốc Phòng dẫn đầu, hội đàm tại căn cứ không quân Anderson, Guam, ngày 29/08/2020

Chiến dịch mới nhất này gồm hai cuộc tập trận.

Cục Hải sự Trung Quốc cho hay cuộc tập trận thứ nhất diễn ra ở vùng biển Bột Hải, ngoài khơi thành phố cảng Tần Hoàng Đảo thuộc tỉnh Hà Bắc, vào ngày 07/09.

Cuộc tập trận thứ hai, trong đó có phần bắn đạn thật, sẽ được tổ chức ở khu vực phía nam của vùng biển Hoàng Hải trong ngày 08-09/09. Theo thông báo, tất cả tàu thuyền bị cấm vào khu vực tập trận.

Tháng trước, Trung Quốc đã tiến hành một sự kiện hiếm thấy và bất thường là tổ chức 4 cuộc tập trận kéo suốt từ biển Hoa Đông, Hoàng Hải cho đến Biển Đông.

Trong đợt tập trận nói trên, Trung Quốc đã bắn 2 tên lửa đạn đạo chống hạm, gồm tên lửa Đông Phong 21 (DF-21) và Đông Phong 26 (DF-26) về phía Biển Đông, vào một khu vực giữa tỉnh Hải Nam và quần đảo Hoàng Sa. Một nguồn tin từ Bộ Quốc phòng Mỹ cho rằng Trung Quốc đã bắn đến 4 tên lửa đạn đạo đến Biển Đông.

Trước đó, hai Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ và Nhật Bản đã có cuộc gặp tại căn cứ quân sự Andersen trên đảo Guam ngày 29/08/2020 nhằm thắt chặt hợp tác quân sự song phương.

Lãnh đạo quân sự hai nước lên án mạnh mẽ những nước đơn phương dùng vũ lực để thay đổi nguyên trạng các tuyến lưu thông hàng hải, ám chỉ đến Trung Quốc.

Theo RFI, Bộ trưởng Mark Esper và đồng nhiệm Taro Kono nhất trí duy trì kiểm soát chiến lược hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông và biển Hoa Đông. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ nhắc đến cam kết Washington bảo vệ Tokyo theo điều 5 của Hiệp ước An ninh Mỹ – Nhật, được áp dụng với trường hợp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, hiện do Nhật Bản kiểm soát, nhưng Trung Quốc đòi chủ quyền.

Về vụ bắn tên lửa của Trung Quốc ra Biển Đông, bộ trưởng Quốc phòng hai nước đều xác nhận đó là nhằm cảnh cáo các máy bay trinh sát của Mỹ hoạt động gần khu vực hải quân Trung Quốc đang tập trận.

Trước mối đe dọa tên lửa từ Trung Quốc, vào tháng 09 này, Nhật Bản có thể sẽ thảo luận những giải pháp phòng thủ thay thế, sau khi từ bỏ dự án triển khai hệ thống chặn tên lửa Aegis Ashore của Mỹ.

Các nước trong khu vực và các nước liên quan đều đã lên tiếng phản đối việc Trung Quốc bắn tên lửa ra Biển Đông.

dna4

Ảnh : Thông cáo ngày 27/08 của Bộ Quốc phòng Mỹ về việc Trung Quốc bắn tên lửa ở Biển Đông

Tên lửa DF-26, được bắn thử với tên lửa Đông Phong DF-21 ngày 26/08, có tầm bắn 4.000 km (2.485 dặm), được coi là "loại tên lửa diệt tầu sân bay" và có khả năng mang đầu đạn hạt nhân. Loại hỏa tiễn này nằm trong các loại vũ khí bị cấm trong Hiệp ước về loại bỏ tên lửa tầm trung (INF) được Hoa Kỳ và Liên Xô ký từ khi kết thúc Chiến tranh lạnh. Do không bị ràng buộc vì Hiệp ước này, Trung Quốc đã triển khai khoảng 2.000 tên lửa liên lục địa hoặc tên lửa hành trình có tầm bắn từ 500 km đến 5.500 km. Đây là lý do được Washington nêu khi giải thích về việc rút khỏi INF.

Vụ thử nghiệm tên lửa diễn ra trong khuôn khổ cuộc tập trận từ ngày 24 đến 29/08 ở phía bắc quần đảo Hoàng Sa.

Bộ Quốc phòng Mỹ phát đi thông cáo ngày 27/08 khẳng định "các hành động của Bắc Kinh, kể cả việc thử tên lửa, càng gây thêm bất ổn cho tình hình ở Biển Đông".

Bộ Quốc Phòng Mỹ cho rằng cuộc tập trận của Quân đội Trung Quốc nằm trong hàng loạt hoạt động của Bắc Kinh nhằm áp đặt các yêu sách hàng hải phi pháp và gây bất lợi cho các nước láng giềng Đông Nam Á tại Biển Đông.

Theo Lầu Năm Góc, Trung Quốc đã đi ngược lại cam kết ghi trong bản Tuyên bố về Cách ứng xử trên Biển Đông (DOC) năm 2002 và đặt ra nghi vấn về động cơ thực thụ của Bắc Kinh trong đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử (COC).

Ngày 26/08/2020, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam, Lê Thị Thu Hằng cho biết "việc Trung Quốc liên tiếp tiến hành tập trận ở khu vực quần đảo Hoàng Sa vi phạm chủ quyền Việt Nam (…) đi ngược lại tinh thần Tuyên Bố về Ứng Xử của Các Bên ở Biển Đông (DOC)" và khiến tình hình thêm phức tạp, bất lợi cho tiến trình đàm phán giữa Trung Quốc với các nước ASEAN về Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC).

Ba mục tiêu

Các cuộc tập trận ngày càng hùng hậu và trên quy mô lớn của Trung Quốc nhằm ba mục tiêu.

Thứ nhất là nhằm kích động tinh thần dân tộc trong nước. Thứ hai là để ngăn chặn các lực lượng bên ngoài, đặc biệt là Mỹ, can thiệp vào Biển Đông. Và thứ ba là cảnh cáo các nước láng giềng về các yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh.

Nhưng các nước có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc ngày càng phản đối mạnh mẽ : Việt Nam thì yêu cầu Bắc Kinh hủy các cuộc tập trận ở Hoàng Sa đồng thời đề nghị tăng cường hợp tác với Ấn Độ vì sự ổn định của khu vực Ấn Đô – Thái Bình Dương, Philippines cho biết sẽ cầu viện Mỹ nếu Trung Quốc tấn công tầu của Philippines ở Biển Đông.

Riêng Mỹ sẽ không từ bỏ các chiến dịch FONOP ở trong vùng. Chiến hạm Mỹ đã thực hiện tuần tra vùng biển Hoàng Sa vào lúc Trung Quốc tập trận bắn đạn thật. Một hôm sau khi Trung Quốc phóng thử tên lửa ở Biển Đông, ngày 27/08, chiếc khu trục hạm USS Mustin (DDG-89) đã đi ngang qua vùng quần đảo Hoàng Sa nhằm "duy trì các quyền hạn, quyền tự do và quyền sử dụng hợp pháp vùng biển được luật pháp quốc tế công nhận".

Phát ngôn viên Mỹ khẳng định là chiến dịch bảo về quyền tự do hàng hải vừa thực hiện cũng nhằm "thách thức yêu sách của Trung Quốc đối với các đường cơ sở thẳng bao quanh quần đảo Hoàng Sa".

Để đối phó với Trung Quốc, Mỹ còn quyết định tổ chức họp "Bộ Tứ kim cương".

dna5

Ảnh chụp thông báo của Bộ Ngoại giao Mỹ về việc trừng phạt các công ty Trung Quốc cải tạo Biển Đông

Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Robert O’Brien đã lên án "thái độ rất hung hăng" hiện nay của Trung Quốc khi phát biểu tại tổ chức phi chính phủ Hội đồng Đại Tây Dương (Atlantic Council) ngày 28/08.

Hãng tin Reuters cho biết Hoa Kỳ dự trù tổ chức nhiều cuộc họp cấp cao với các đối tác an ninh Nhật Bản, Úc và Ấn Độ trong "Bộ Tứ" (QUAD). Cụ thể, Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo sẽ họp với đồng nhiệm Bộ Tứ vào tháng 09 và 10/2020. Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Robert O’Brien sẽ họp với các đồng nhiệm Bộ Tứ ở Hawaii vào tháng 10.

Ngày 26/08, Bộ Ngoại giao Mỹ công bố lệnh trừng phạt các công ty Trung Quốc và cá nhân tham gia xây đảo nhân tạo ở Biển Đông và cho biết "Washington sẽ tiếp tục hành động cho tới khi Trung Quốc chấm dứt các hành vi cưỡng ép trên Biển Đông, hướng tới lợi ích chung và cư xử một cách thân thiện, tôn trọng các nước láng giềng".

Một trong những cái tên nổi trội nhất danh sách trừng phạt là Tập đoàn Kiến thiết giao thông Trung Quốc (CCCC). Không chỉ tham gia vào quá trình bồi đắp và xây dựng trái phép các thực thể nhân tạo ở Biển Đông, Mỹ xác định CCCC còn là nhà thầu hàng đầu được Bắc Kinh sử dụng trong sáng kiến "Vành đai, con đường".

Lệnh trừng phạt ngày 26/08 được coi là một trong những nỗ lực đáng ghi nhận sau tuyên bố lập trường mới về Biển Đông và cam kết hỗ trợ các nước bị Trung Quốc xâm phạm chủ quyền.

Hoàng Lan

Nguồn : Thoibao.de, 10/09/2020

Published in Diễn đàn

ASEAN khai mạc các hội nghị thường niên trong bối cảnh căng thẳng Mỹ-Trung

RFI, 09/09/2020

Hôm 09/09/2020, các ngoại trưởng ASEAN khai mạc các hội nghị thường niên, kéo dài đến ngày 12/09, để bàn về hợp tác đối phó với các mối đe dọa toàn cầu, cũng như tìm cách làm giảm căng thẳng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.

dna6

Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh chủ trì cuộc họp các ngoại trưởng ASEAN, qua video hội nghị, tại Hà Nội, ngày 09/09/2020. Reuters – Stringer

Cuộc họp trực tuyến hôm nay giữa các ngoại trưởng ASEAN diễn ra dưới sự chủ tọa của phó thủ tướng kiêm bộ trưởng Ngoại Giao Việt Nam Phạm Bình Minh. Tiếp theo là một loạt các hội nghị khác trong những ngày tới, trong đó có hội nghị bộ trưởng ASEAN với các đối tác Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản.

Với tư cách chủ tịch luân phiên của ASEAN, ngày 12/09, Việt Nam cũng sẽ chủ trì Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), một cơ chế đối thoại về an ninh khu vực, quy tụ tổng cộng 27 quốc gia, trong đó có cả Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc, Nga và Ấn Độ.

Các hội nghị thường niên của ASEAN diễn ra trong bối cảnh tình hình Biển Đông ngày càng nóng lên và căng thẳng Mỹ-Trung gia tăng, gây lo ngại cho các nước Đông Nam Á.

Trong bài phát biểu khai mạc hội nghị hôm nay, thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh "môi trường địa chính trị, kinh tế khu vực, trong đó có cả Biển Đông, đang có nhiều biến động ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định". Bộ trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh ghi nhận là vai trò của luật pháp quốc tế và của các định chế đa phương đang bị "thách thức nghiêm trọng".

Trả lời hãng tin Reuters trước hội nghị, ngoại trưởng Indonesia Retno Marsudi cảnh báo Hoa Kỳ và Trung Quốc không nên lôi kéo các nước Đông Nam Á vào cuộc đối đầu địa chính trị giữa hai cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới. Bà Retno nhấn mạnh là ASEAN không muốn ngả theo phe nào, nhưng bà bày tỏ quan ngại về những hành động quân sự hóa đang gia tăng ở Biển Đông.

Washington vẫn cáo buộc Bắc Kinh hù dọa các láng giềng Đông Nam Á bằng cách đưa tàu đến sát những nơi mà những nước này đang thăm dò dầu khí, đồng thời lợi dụng lúc đang có dịch Covid-19 để mở nhiều cuộc tập trận và thử nghiệm các vũ khí mới tại những khu vực đang tranh chấp trên Biển Đông. Hoa Kỳ gần đây đã ban hành trừng phạt đối với 24 thực thể Trung Quốc bị cáo buộc có tham gia vào việc xây dựng và quân sự hóa các đảo nhân tạo ở Biển Đông.

Trả lời Reuters, ông Collin Koh, chuyên gia về an ninh tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam ở Singapore, cho biết là nhân các hội nghị lần này, các nước ASEAN sẽ thảo luận với Trung Quốc về bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông COC, mà tiến trình đàm phán đã bị chậm trễ rất nhiều, cũng như bàn về việc tiếp cận vac-xin ngừa Covid-19. Cũng theo lời chuyên gia Collin Koh, khi thảo luận với Hoa Kỳ, ASEAN sẽ kêu gọi nước này nên có thái độ kềm chế về quân sự cũng như thúc giục các công ty Mỹ gia tăng đầu tư vào các nước Đông Nam Á.

Mỹ gia tăng giám sát Trung Quốc

Trong khi đó, theo nhật báo Hồng Kông South China Morning Post, Hoa Kỳ dự trù sẽ gia tăng các chuyến bay giám sát, vào lúc Trung Quốc tiến hành một cuộc tập trận mới trên biển trong khoảng thời gian từ hôm qua cho đến thứ sáu tuần này. Các hình ảnh vệ tinh cho thấy nhiều phi cơ do thám của Mỹ đang hoạt động, trong đó có một chiếc đến sát bờ biển tỉnh Quảng Đông cũng như một chiếc gần vùng cấm xâm nhập đối với tàu dân sự.

Thanh Phương

********************

M cùng Vit Nam thúc đy tm nhìn n Đ-Thái Bình Dương

VOA, 08/09/2020

Hoa Kỳ s công b các sáng kiến và khon đu tư mi ti n Đ Dương và Thái Bình Dương ti din đàn doanh nghip khu vc do Chính ph M cùng hp tác vi Chính ph Vit Nam t chc trong tháng ti ti Hà Ni.

dna1

B trưởng Ngoi giao M Mike Pompeo ti Din đàn Doanh nghip n Đ-Thái Bình Dương đu tiên được t chc Washington, DC, hôm 30/7/2018. Din đàn thường niên ln 3 s được t chc ti Hà Ni vào tháng 10/2020.

B Ngoi giao M hôm 6/9 cho biết Din đàn Doanh nghip n Đ-Thái Bình Dương thường niên ln th 3 s din ra ti Hà Ni vào ngày 28-29/10 dưới s phi hp t chc ca chính ph M, chính ph Vit Nam, Phòng Thương mi M, Phòng Thương mi và Công nghip Vit Nam và Hi đng Kinh doanh M-ASEAN.

"Din đàn thúc đy mt tm nhìn cho n Đ-Thái Bình Dương như là mt khu vc t do và rng m ca các quc gia đc lp, mnh m và thnh vượng", theo thông báo ca B Ngoi giao M ra hôm 6/9.

Lãnh đo chính ph và doanh nghip ca M, Vit Nam và trên toàn khu vc n Đ-Thái Bình Dương s tho lun vác vn đ như năng lượng và cơ s h tng, kinh tế k thut s, kết ni th trường, y tế và phc hi kinh tế sau đi dch Covid-19, cũng như cơ hi xây dng quan h đi tác và thương mi gia M vi khu vc n Đ-Thái Bình Dương, qua hình thc trc tuyến.

"Din đàn s gii thiu các khon đu tư có nh hưởng ln ca khu vc tư nhân và các n lc ca chính ph nhm h tr cnh tranh th trường, tăng trưởng vic làm và phát trin tiêu chun cao vì s thnh vượng hơn na n Đ-Thái Bình Dương", thông cáo ca B Ngoi giao M cho biết.

Ti din đàn thường niên ln th 2 din ra vào tháng 11/2019 Bangkok, Thái Lan, B trưởng Thương mi M Wilbur Ross dn đu đoàn doanh nghip ca Hoa K tham d vi nhim v ng h các mc tiêu ca chính quyn Tng thng Donald Trump trong vic đy mnh hot đng thương mi ca M trong khu vc, thúc đy các cơ hi xut khu to vic làm cho các công ty M, và đáp ng các nhu cu ca khu vc v phát trin kinh tế.

Theo B Thương mi M, nhim v này nhm chng minh cam kết ca Hoa K đi vi s hp tác kinh tế bn vng Vit Nam, Thái Lan, và Indonesia.

Din đàn Doanh nghip n Đ-Thái Bình Dương ln đu ra mt vào tháng 7/2018 ti M, được xem là tr ct kinh tế trong chiến lược ca chính quyn Tng thng Trump đi vi khu vc đi din cho hơn mt na dân s thế gii và hơn mt na nn kinh tế toàn cu, đng thi là công c đ m rng vai trò ca M đi vi nn kinh tế ca khu vc này thông qua đu tư và tăng cường xut khu hàng hoá và dch v ca các công ty M.

Theo gii quan sát, Din đàn Doanh nghip n Đ Dương-Thái Bình Dương được M khi xướng nhm đ đi trng vi Sáng kiến Vành đai và Con đường ca Trung Quc, mt chương trình đu tư cơ s h tng kết ni ba Châu lc - gm Châu Á, Châu Âu và Châu Phi - vi quy mô rt ln.

Chiến lược n Đ-Thái Bình Dương t do và rng m ca M ln đu được Tng thng Trump công b ti Hi ngh cp cao Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC) t chc Đà Nng tháng 11/2017, nhm tăng nh hưởng ca M và kim chế s bành trướng ca Trung Quc trong khu vc. Ngoài kinh tế, 3 trong s 4 tr ct còn li ca chiến lược này còn gm có hp tác v ngoi giao, quc phòng và an ninh hàng hi.

************************

Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc công du Malaysia và Indonesia

RFI, 08/09/2020

Lãnh đạo Bộ Quốc phòng Trung Quốc có vòng công du Đông Nam Á, ngay trước một loạt cuộc họp giữa ngoại trưởng Mỹ với các đối tác Đông Nam Á qua mạng. Hôm nay, 08/09/2020, bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc gặp đồng nhiệm Indonesia.

dna2

Bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phượng Hòa (Wei Fenghe) tại Diễn đàn An ninh khu vực Shangri-La, Singapore, ngày 02/06/2019.  AFP – Roslan Rahman

Theo báo Hồng Kông South China Morning Post, bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phượng Hòa (Wei Fenghe) hội kiến với bộ trưởng quốc phòng Indonesia Prabowo Subianto tại Jakarta. Người phát ngôn của Bộ Quốc phòng Indonesia, Dahnil Anza Suimanjuntak, xác nhận là hai bộ trưởng gặp nhau vào lúc 16 giờ, giờ địa phương. Ngày hôm qua, 07/09, bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc đến Malaysia, và có cuộc hội kiến với lãnh đạo Bộ Quốc phòng Malaysia Ismail Sabri Yaakob. Chuyến công du của bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc diễn ra ngay trước loạt cuộc họp qua mạng giữa lãnh đạo Ngoại Giao Mỹ với các đối tác Đông Nam Á, dự kiến diễn ra từ ngày mai, 09/09 đến ngày 12/09.

Báo Hồng Kông coi chuyến công du nói trên của bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc đến một số nước ASEAN ven Biển Đông là để "cân bằng" lại các ảnh hưởng của Mỹ tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương, trong bối cảnh căng thẳng tại Biển Đông gia tăng, có nhiều nguy cơ xảy ra đụng độ giữa Trung Quốc và Mỹ. 

Trong lúc hai láng giềng Indonesia và Malaysia tiếp đón lãnh đạo Bộ Quốc phòng Trung Quốc, bộ trưởng quốc phòng Philippines hôm nay, 08/09, lên án Bắc Kinh tiếp tục tăng cường phát triển cơ sở quân sự tại các đảo tranh chấp ở quần đảo Trường Sa, Biển Đông. Báo Philippines Philstar cho hay, trong một cuộc họp tại Quốc hội, bộ trưởng quốc phòng Delfin Lorenzana khẳng định việc Trung Quốc nỗ lực quân sự hóa các đảo nhân tạo là mối đe dọa đối với Philippines.

Trọng Thành

********************

Philippines : Hải quân phản đối dự án sân bay do công ty Trung Quốc trúng thầu

RFI, 07/09/2020

Chính quyền tỉnh Cavite chuẩn bị khởi động dự án xây sân bay Sangley Point, nằm gần Bộ Chỉ Huy nhiều cơ quan trọng yếu của Hải quân Philippines. Dự án có trị giá 500 tỷ peso, nhằm giảm tải cho sân bay quốc tế Ninoy Aquino (Naia, ngoại ô Manila), cách đó 35 km, và được nhà thầu Trung Quốc CCCC liên doanh với công ty dịch vụ hàng không MacroAsia Corp xây dựng.

dna3

Vịnh Manila nhìn từ thành phố Cavite City, tháng Tư năm 2017. Tỉnh Cavite của Philippines nằm bên vịnh Manila, nơi có rất nhiều cơ sở của Hải quân Philippines.  © Wikipedia

Theo trang Inquirer ngày 07/09/2020, phó đô đốc Giovanni Carlo Bacordo, chỉ huy Hải quân Philippines, nêu lý do là công trình do tập đoàn Trung Quốc China Communications Construction Co. Inc. (CCCC) hợp tác xây dựng, trong khi tập đoàn này bị chính quyền Mỹ liệt vào danh sách đen do tham gia hoạt động bồi đắp và xây dựng đảo nhân tạo ở Biển Đông. Tuy nhiên, tuần trước, tổng thống Duterte vẫn cho phép các doanh nghiệp Trung Quốc nằm trong danh sách đen của Mỹ tiếp tục tham gia các dự án cơ sở hạ tầng ở Philippines.

Ngoài việc nêu vai trò của CCCC trong các dự án bồi đắp đảo nhân tạo ở Biển Đông của Trung Quốc, chỉ huy Hải quân Philippines còn nhấn mạnh đến vai trò chiến lược của Sangley Point vì từ vị trí này, Hải quân Philippines có thể triển khai và là điểm xuất phát các chiến dịch giám sát. Ngoài ra, Sangley Point còn có vị trí "canh giữ lối vào vịnh Manila, trong khi vịnh này lại là trung tâm trọng điểm của chính phủ. Nếu Manila thất thủ, cả nước cũng thất thủ".

Ngoại trưởng Mỹ : Trung Quốc vi phạm trắng trợn UNCLOS ở Biển Đông

Tập đoàn CCCC nằm trong danh sách những thực thể và cá nhân bị Mỹ trừng phạt do "chịu trách nhiệm về kiểu chủ nghĩa đế quốc mà Đảng cộng sản Trung Quốc đang tiến hành, như giám sát bất hợp pháp các nguồn năng lượng, hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của đồng minh Philippines và các nước khác trong vùng", theo phát biểu của ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo trong một cuộc họp báo được Philstar trích ngày 07/09.

Ngoài ra, ông Pompeo tiếp tục tố cáo Trung Quốc là nước vi phạm "rõ ràng nhất" Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) với các biện pháp "quấy rối" các nước có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.

Thu Hằng

***********************

Trung Quốc mở thêm nhiều cuộc tập trận trên biển Hoa Đông

RFI, 07/09/2020

Theo hãng tin Reuters, giữa lúc tình hình khu vực đang gia tăng căng thẳng, chính quyền Trung Quốc thông báo từ ngày hôm nay 07/09/2020 sẽ tiến hành nhiều cuộc tập trận hơn nữa trên vùng biển phía đông và đông bắc Trung Quốc.

dna4

Tàu chiến Trung Quốc Ha Nhĩ Tân (112) tham gia cuộc tập trận với Nga ở biển Hoa Đông, ngoài khơi Thượng Hải. Ảnh chụp ngày 24/05/2020.  AP

Đợt diễn tập đầu tiên, bắt đầu hôm nay trong vùng biển Bột Hải, theo thông báo của Cục Hải Sự Trung Quốc. Đợt thứ hai, bao gồm các bài tập bắn đạn thật, sẽ diễn ra trên vùng biển Hoàng Hải vào các ngày 8 và 9/9 ngoài khơi thành phố Liên Vân Cảng (Lianyunggang). Trong thời gian tập trận, các tàu bè bị cấm đi lại trong khu vực.

Tháng trước, Trung Quốc cũng đã thông báo tổ chức 4 cuộc tập trận kéo suốt từ biển Hoa Đông, Hoàng Hải cho đến Biển Đông. Đây là những động thái được giới quan sát quân sự đánh giá là hiếm thấy và bất thường.

Gần đây, Bắc Kinh gia tăng các hoạt động quân sự gần đảo Đài Loan. Đặc biệt cuối tháng 8 vừa qua, Trung Quốc liên tiếp mở các cuộc tập trận quy mô lớn, bắn thử tên lửa đạn đạo trong vùng quần đảo Hoàng Sa, khiến tình hình Biển Đông thêm căng thẳng.

Trong khi đó Hải quân Mỹ cũng tiến hành nhiều hoạt động tuần tra trong khu vực Biển Đông, nhân danh bảo vệ quyền tự do lưu thông hàng hải quốc tế. Trong lúc quan hệ với Bắc Kinh còn rất nhiều căng thẳng, Washington rất quan tâm đến những động thái quân sự của Trung Quốc bị đánh giá là gây bất ổn trong khu vực.

Trong cuộc gặp bộ trưởng quốc phòng Mỹ-Nhật tại Guam hôm 29/08 mới đây, hai bên cam kết sẽ hợp tác chặt chẽ để kiềm chế các hành động lấn lướt của Trung Quốc ở Biển Đông cũng như biển Hoa Đông.

Anh Vũ

*******************

Covid-19 : Nghĩa trang tại Indonesia không còn chỗ để chôn cất nạn nhân

RFI, 08/09/2020

Tại Indonesia, quốc gia đông dân thứ tư thế giới, số người chết vì dịch Covid-19 tăng nhanh đến mức mà nhiều nghĩa trang rơi vào tình trạng quá tải. Người phụ trách một nghĩa trang ở vùng thủ đô Jakarta cho biết, sắp tới tại đây sẽ không còn chỗ nữa.

dna5

Một nghĩa trang do chính phủ Indonesia quy hoạch ở Medan, Ảnh chụp ngày 07/08/2020.  Septianda Perdana/Antara Foto via Reuters

Thông tín viên Gabrielle Maréchaux tại Đông Nam Á, gửi về bài tường trình :

"Người phụ trách nghĩa trang Pondok Ranggon ở phía đông Jakarta đưa ra một cảnh báo đen tối : từ giờ cho đến giữa tháng 10, tại đây sẽ không còn chỗ cho các mộ phần mới, sau đợt lây nhiễm lớn đầu tiên kéo dài mới đây tại Indonesia.

Bất hạnh thay, đây là một thông báo hoàn toàn không gây ngạc nhiên, bởi kể từ đầu đại dịch đến nay, số các cuộc mai táng đạt mức kỷ lục. Ví dụ như vào tháng Ba, số thi hài được chôn cất là cao nhất kể từ một thập niên, nhiều hơn một phần ba so với mức trung bình. Trong tháng 8 vừa qua, tại thủ đô Jakarta, chỉ trong một ngày, riêng một nghĩa trang đã tiếp nhận đến 27 đám tang.

Nếu như các con số này là mang tính báo động, thì chúng hoàn toàn tương phản với con số chính thức của chính quyền. Từ sáu tháng nay, thống kê chính quyền đưa ra thấp hơn nhiều so với thực tế dịch bệnh. Indonesia làm ít xét nghiệm hơn 30 lần so với Mỹ. Tại quốc gia Đông Nam Á này, trung bình chỉ có ba giường bệnh cho 100 nghìn bệnh nhân. Một con số báo động khác, đó là tỉ lệ tử vong ở trẻ vì virus corona chủng mới cao gấp 45 lần so với Mỹ, quốc gia vốn được coi là bị dịch Covid-19 ảnh hưởng nặng nề nhất".

Trọng Thành

Published in Châu Á

Sự im lặng của Đông Nam Á trước vấn đề Hồng Kông nhắc nhở chúng ta về sự thiếu dân chủ trong khu vực.

silent1

Cảnh sát chống bạo động đứng ra bảo vệ cho bài đọc thứ hai về luật quốc ca gây tranh cãi tại Hồng Kông vào ngày 27 tháng 5 năm 2020. (Reuters / Tyrone Siu)

Chính xác vào một năm trước, vào ngày 9 tháng 6 năm 2019, hơn một triệu người ở Hồng Kông đã xuống đường và phát động phong trào phản đối dự luật chống dẫn độ, sau đó trở thành một cuộc đấu tranh kéo dài.

Bài viết này không bình luận về hành động của chính phủ Trung Quốc hoặc Hồng Kông, thay vào đó, tập trung vào những thiếu sót của Đông Nam Á.

Khởi nguồn câu chuyện dự luật dẫn độ có thể từ tháng 3 năm 2019, sau đó là hai cuộc tuần hành vào tháng 6, đánh dấu sự bùng nổ của cuộc xung đột lớn. Ngay cả khi Chính quyền đặc khu hành chính Hồng Kông rút dự luật, sự tàn bạo của cảnh sát vẫn là một vấn đề lớn và là trọng tâm của phong trào.

Nhà báo Indonesia Vither Mega Indah bị tổn thương mắt vì đạn cao su trong khi đưa tin về các cuộc biểu tình. Do đại dịch, loạt cuộc biểu tình hạ nhiệt trong một khoảng thời gian ngắn, nhưng khi mùa hè đến gần, các cuộc biểu tình như vậy đã nhen nhóm trở lại.

Lần gần đây nhất là ngày 28 tháng 5. Đại hội Nhân dân Trung Quốc (NPC) đã phê chuẩn đề xuất thực thi Luật An ninh Quốc gia lên Hồng Kông. Chris Patten, thống đốc cuối cùng của Hồng Kông, tuyên bố rằng "thế giới đơn giản là không thể tin tưởng chế độ Trung Quốc" và kêu gọi cộng đồng quốc tế đứng lên bảo vệ thành phố.

Luo Jianwei, Tổng Giám đốc Văn phòng Kinh tế và Thương mại Hồng Kông Jakarta, cơ quan thuộc đặc khu hành chính Hồng Kông, trong một bức thư gửi cho biên tập viên của The Jakarta Post đã bảo vệ quyền của chính phủ trung ương Trung Quốc đối với "thi hành luật pháp ở cấp quốc gia để thiết lập và cải thiện khuôn khổ pháp lý và cơ chế cho chính quyền đặc khu trong thực thi an ninh quốc gia".

Đông Nam Á dự kiến sẽ không có hành động cụ thể nào – tính trung lập của ASEAN là đặc điểm cơ bản của chính sách đối ngoại tổ chức này. Về mặt ra quyết định, các quy tắc thống nhất là cốt lõi trong lối tiếp cận của ASEAN. Campuchia và Lào được biết đến với mối quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc với Trung Quốc. Điều này có nghĩa là bất kỳ tuyên bố chống lại Trung Quốc dường như không được thông qua.

Có rất nhiều câu trả lời cho sự im lặng của Đông Nam Á đối với Hồng Kông. Câu trả lời rõ ràng nhất là sự phụ thuộc của Đông Nam Á vào Trung Quốc. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN, chỉ đứng sau thương mại nội khối ASEAN. Từ tuyến đường sắt Bờ Đông (East Coast Rail Link) của Malaysia đến tuyến đường sắt cao tốc Jakarta-Bandung, Trung Quốc đã đầu tư rất nhiều vào khu vực này theo chương trình nghị sự của Sáng kiến Vành đai và Đường đai.

Có lẽ quan trọng hơn, và là thực tế đáng buồn là về mức độ dân chủ trong khu vực, Đông Nam Á không cao. Năm ngoái, một số người Hồng Kông bày tỏ sự đồng cảm với các cuộc biểu tình ở Indonesia, nhưng hồ sơ theo dõi Đông Nam Á tại các nước dân chủ là nghèo nàn và suy giảm.

Singapore không có bất cứ bình luận về các cuộc biểu tình ở Hồng Kông. Và không có gì đáng ngạc nhiên, vợ của Thủ tướng Lý Hiển Long, bà Hà Tinh đã bày tỏ sự ủng hộ với cảnh sát Hồng Kông thông qua trang Facebook.

Chỉ riêng trong năm nay, chúng ta đã chứng kiến ​​sự giải thể của Đảng Hướng tới Tương lai – đảng đối lập tại Thái Lan, mối đe dọa bất kỳ của Tổng thống Philippines Duterte đối với báo chí cũng như vi phạm (quyền con người) trong thời gian cách ly xã hội vì Covid-19.

Trustan Yu

Nguyên tác : Why is Southeast Asia silent on Hong Kong ?, The Jakarta Post, 09/06/2020

Anh Khoa dịch

Nguồn : VNTB, 12/06/2020

Tác giả, Trustan Yu, là trợ lý nghiên cứu tại Đại học Hồng Kông.

Published in Diễn đàn

Qua khảo sát có 73% dân Đài Loan không xem chính phủ Trung Quốc là ‘bạn’ - 73% of Taiwanese do not consider Chinese government a ‘friend’.

khaosat1

Kết quả khảo sát đăng trên tờ Tin Tức Đài Loancho biết những người càng trẻ ở Đài Loan thì càng không thích Trung Quốc đại lục. Có tới 84% người trong độ tuổi từ 18 - 34 trả lời ‘không’ với câu hỏi "có xem chính phủ Trung Quốc là bạn của Đài Loan hay không ?". Tỷ lệ này giảm xuống còn 78% trong nhóm tuổi 35 - 49, 75% ở độ tuổi 50 - 64 và 74% từ 65 tuổi trở lên.

Chỉ 4,7% người tham gia cuộc khảo sát xem mình là ‘người Trung Quốc’, có 75,3% khẳng định mình là ‘người Đài Loan’, và 20% còn lại chọn cả hai.

Dĩ nhiên là với mối bang giao chịu sự ràng buộc của "Láng giềng tốt - Bạn bè tốt - Đồng chí tốt - Đối tác tốt", nên Việt Nam không thể thực hiện một cuộc khảo sát giống như Đài Loan . Tuy nhiên các hội đoàn dân sự của Việt Nam hoàn toàn có thể làm được điều này, nếu như họ không bị ám ảnh bởi ‘chiếc mũ’ của tội danh nào đó ở Chương XIII "Các tội xâm phạm an ninh quốc gia" của Bộ Luật hình sự.

Giả dụ như Việt Nam cũng có một cuộc khảo sát tương tự, nhưng là với hình thức lấy ý kiến cộng đồng mạng xã hội facebook (cuộc khảo sát ở Đài Loan được tiến hành qua điện thoại từ ngày 21-4 đến 28-5 năm nay, và nhận được 1.083 câu trả lời hợp lệ), và kêu gọi sự tham gia của lực lượng đông đảo ‘dư luận viên’ của Bộ Quốc phòng và Tuyên giáo Trung ương, thì có ít nhất bốn câu hỏi đặt ra với 5 lựa chọn : "Có" - "Không" - "Vừa có, vừa không" - "Không dám ý kiến" - "Không ý kiến".

Một, "Trung Quốc có là láng giềng tốt của Việt Nam ?" ;

Hai, "Trung Quốc có là bạn bè tốt của Việt Nam ?" ;

Ba, "Trung Quốc có là đồng chí tốt của Việt Nam ?" ;

Bốn, "Trung Quốc có là đối tác tốt của Việt Nam ?".

Câu hỏi mở rộng chung : Ông/ bà nghĩ gì về ý kiến, là tuy Việt Nam độc đảng chính trị, song tối thượng vẫn là đặt lợi ích quốc gia làm trục cốt lõi để xoay các quan hệ đối ngoại, sao cho tối đa hóa lợi ích quốc gia, chứ không phải chịu các giới hạn của từ ‘đồng chí’.

Nếu không xảy ra việc hai nhà báo của Hội nhà báo độc lập Việt Nam đang ở chốn lao lý, thì liệu hội đoàn này tại Việt Nam có ‘dám’ thực hiện ‘xé nháp’ cho một khảo sát như đề cập ở trên ?

Nguyễn Nam

Nguồn : VNTB, 05/06/2020

Published in Diễn đàn
Trang 1 đến 3