Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Vùng đồng bằng sông Cửu Long đang tiếp tục bị sụt lún, mà nguyên nhân chủ yếu là nạn khai thác nước ngầm quá mức, tiêu biểu là trường hợp của thành phố Cần Thơ, nơi mà tình trạng đường phố ngập nước ngày càng nặng nề.

cantho1

Tình trạng sạt lở bờ sông khu vực Đồng bằng sông Cửu Long diễn biến ngày càng phức tạp. Trong ảnh: Sạt lở ở quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ năm 2019

Sau nhiều thập niên xây dựng và phát triển, thành phố Cần Thơ đã có nhiều thay đổi theo chiều hướng tích cực, góp phần- nếu không nói là đóng vai trò nòng cốt - trong sản xuất nông nghiệp để Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu gạo nhất nhì trên thế giới. Cũng trong khoảng thời gian này, Cần Thơ đã thực hiện được vai trò trung tâm vùng Đồng bằng sông Cửu Long về thương mại, sản xuất - chế biến, dịch vụ, giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ.

thành phố Cần Thơ đã tổ chức hội thảo, nghiên cứu kế hoạch xây dựng để trở thành một đô thị hạt nhân của Đồng bằng sông Cửu Long, với một trung tâm khoa học-công nghệ về nông nghiệp của quốc gia và khu vực. Tuy nhiên, Cần Thơ là một đô thị của Đồng bằng sông Cửu Long, một trong 3 Châu thổ trên thế giới bị tác động trầm trọng nhất của biến đổi khí hậu.

Như vậy, thử hỏi có thể nào xây dựng Cần Thơ trở thành đô thị hạt nhân của Đồng bằng sông Cửu Long với những hình ảnh của hơn phân nửa diện tích thành phố bị ngập nước ? Đó chính là mối ưu tư rất lớn của tiến sĩ Huỳnh Long Vân, nhóm nghiên cứu Văn Hóa Đồng Nai Cửu Long Úc Châu, trong bài trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ từ Sydney ngày 27/04/2021.

RFI : Thưa tiến sĩ Huỳnh Long Vân, trước hết xin ông cho biết là tình trạng sụt lún của thành phố Cần Thơ nói riêng và của vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung là do những nguyên nhân gì ?

Huỳnh Long Vân : Thành phố Cần Thơ bị ngập nước do hai nguyên nhân :

Sụt lún gây ra bởi khai thác nước ngầm thiếu kiểm soát. Nền đất bị sụt lún, tương tác với thủy triều, nước lũ sông Mêkông, và hệ thống đê bao khép kín ở các vùng nông thôn phụ cận khiến thành phố Cần Thơ bị ngập úng.

Công trình thoát nước vốn đã kém chất lượng, lại xuống cấp, thiếu hoành chỉnh, được dùng để tháo rút nước thải lẫn nước mưa. Bên cạnh đó phát triển đô thị thiếu kiểm soát, cho phép xây nhà ở những vùng đất ngập nước, đô thị bị bê tông hóa làm giảm đi mức độ thấm rút nước mưa, do đó khi mực nước sông dâng lên bởi triều cường kết hợp với mưa lớn, thì đường phố bị ngập.

RFI : Như vậy, thưa ông, tình trạng sụt lún của đồng bằng sông Cửu Long đã bắt đầu từ khi nào ?

Huỳnh Long Vân : Hơn 10 năm trước đây, người dân Đồng bằng sông Cửu Long sử dụng nguồn nước mặt (nước sông) và nước mưa là chính cho mọi sinh hoạt, nước ngầm chỉ dùng trong mùa khô. Nhưng hiện nay nước mặt ở Đồng bằng sông Cửu Long đang bị ô nhiễm trầm trọng, nên mỗi ngày khoảng 2 triệu mét khối (m3) nước ngầm, hay nhiều hơn, được bơm hút để dùng trong sinh hoạt, trồng trọt, nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi, gây ra những hậu quả trầm trọng : sạt lở bờ biển, bờ sông và nhiều nơi ngập sâu với tần suất và cường độ ngày càng tăng.

Những kết quả nghiên cứu và khảo sát của Bộ Tài nguyên và môi trường cho thấy, trong khi mực nước biển dâng cao do biến đổi khí hậu chỉ khoảng 3mm/năm, thì mức độ sụt lún của toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long gây ra bởi khai thác nước ngầm là 10-13mm/năm và tốc độ sụt lún riêng của thành phố Cần Thơ trong khoảng thời gian 2005-2017 là 43,5mm/năm. Huyện Cờ Đỏ, hai khu công nghiệp Trà Nóc và Thốt Nốt là những địa điểm bơm hút nước ngầm nhiều nhất ở thành phố Cần Thơ.

RFI : Tình trạng sụt lún này gây ra những tác động gì đến vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhất là đến đời sống của người dân Cần Thơ ?

Huỳnh Long Vân : Ngoài việc gây ra ngập nước, sụt lún còn ảnh hưởng đến các công trình xây cất, nhà ở của người dân và rất dễ được nhận ra, như nứt tường, cơ sở nghiêng ngả, đường phố phải tráng thêm nhiều lớp nhựa để nâng cao, khiến cho nhà cửa dọc theo hai bên đường thấp hơn mặt lộ và bị ngập nước lúc triều cường đạt đỉnh.

Theo những tính toán của Ngân Hàng Thế Giới, tình trạng ngập nước theo mùa của phân nửa thành phố Cần Thơ trong nhiều ngày, gây thiệt hại khoảng 11% (650 đôla/gia đình/năm) mức thu nhập trung bình của mỗi hộ gia đình. Nếu các hoạt động khai thác nước ngầm tiếp tục theo kịch bản kinh doanh như hiện nay, thì đến năm 2100, phần lớn thành phố Cần Thơ có thể mất toàn bộ độ cao so với mặt biển.

RFI : Các chính quyền địa phương cho đến nay đã thi hành những biện pháp nào để kiểm soát khai thác nước ngầm và hạn chế sụt lún như vậy ?

Huỳnh Long Vân : Trước những hậu quả nghiêm trọng của khai thác nước ngậm thiếu kiểm soát, chính phủ đã ban hành Nghị định 167/2018/ND-CP quy định việc khai thác nước dưới đất ở các vùng chứa nước ngọt thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ý thức rõ tầm quan trọng của việc thực hiện nghiêm túc Nghị định 167, Sở Tài nguyên và môi trường thành phố Cần Thơ đang thực hiện các kế hoạch kiểm soát và khoanh vùng để hạn chế khai thác nước ngầm.

Cụ thể, họ quy định khai thác nước ngầm từ 10m3-3.000m3/ngày phải được Ủy ban nhân dân thành phố cấp phép, trên 3.000m3/ngày, như ở khu công nghiệp Trà Nóc và Thốt Nốt, cần được Bộ Tài nguyên và môi trường cấp phép (Phải chăng đây là một động thái nhằm chối bỏ một phần trách nhiệm của thành phố Cần Thơ trong việc kiểm soát và hạn chế khai thác nước ngầm ?). Đồng thời, họ đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố thu tiền cấp phép khai thác nước ngầm.

Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn thành phố Cần Thơ chọn 4 nơi làm thí điểm chuyển đổi từ khai thác nước ngầm sang nước mặt và bố trí các trạm quan trắc theo dõi diễn biến nguồn nước ngầm.

Ngoài ra, thành phố Cần Thơ còn tăng cường hợp tác quốc tế, như tham gia dự án "Quản trị sụt lún đất và quản lý nước ngầm tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long", do nhóm nghiên cứu của Ðại sứ quán Hà Lan tài trợ và hợp tác với Ðại Học Cần Thơ thực hiện. Dự án bắt đầu từ tháng 1/2020 kéo dài 15 tháng và chọn Cần Thơ và Kiên Giang, Bến Tre và Sóc Trăng là 4 địa điểm nghiên cứu điển hình của dự án. Dựa trên các kinh nghiệm và bài học rút ra từ 4 địa phương này, nhóm nghiên cứu sẽ xây dựng các giải pháp quản lý và lộ trình cho quản lý khai thác nước ngầm và sụt lún đất ở Đồng bằng sông Cửu Long và riêng cho thành phố Cần Thơ.

RFI : Nhưng theo ông, những giải pháp mà thành phố này đang thi hành liệu có thể mang lại hiệu quả mong muốn ? Liệu chúng ta có thể cấm tuyệt đối việc khai thác nước ngầm ở Cần Thơ để ngăn chận tình trạng sụt lún ?

Huỳnh Long Vân : Trong khi Đồng bằng sông Cửu Long chưa có được hệ thống cung cấp đầy đủ nhu cầu nước sạch, thì việc ngăn cấm tuyệt đối khai thác nước ngầm là điều không khả thi. Qua những kinh nghiệm và nhận định của các chuyên gia nghiên cứu về những tác động tiêu cực của khai thác nước ngầm như P. Minderhoud, G. Erkens, L. Erban, thì giảm khai thác nước ngầm ở Đồng bằng sông Cửu Long 50% so với hiện nay cũng không chận đứng được, mà chỉ làm giảm mức độ sụt lún. Vì thế, chúng ta không nên quá lạc quan về những giải pháp mà thành phố Cần Thơ đang áp dụng và vội tin rằng sẽ quản trị được sụt lún và Cần Thơ sẽ không còn bị ngập nước.

Ngoài ra, cũng không nên quá trông đợi vào dự án nghiên cứu của nhóm Hà Lan như một chiếc đũa thần, mà phải đề ra một giải pháp căn cơ để ứng phó với những thách thức gây ra bởi khai thác nước ngầm thiếu kiểm soát.

RFI : Theo ông thì trong khi chờ đợi có một hệ thống cung cấp đủ nước sạch toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long, chính quyền của thành phố Cần Thơ nói riêng và toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải thi hành ngay những giải pháp nào để tình trạng sụt lún không tiếp diễn ?

Huỳnh Long Vân : Ngoài việc kiểm soát và hạn chế khai thác nước ngầm, giới hữu trách ở Cần Thơ và Đồng bằng sông Cửu Long trước hết cần giải thích để thay đổi nhận thức của người sử dụng nước ngầm, theo hướng nước ngầm là "tài nguyên chiến lược", nên không thể sử dụng trong sinh hoạt và sản xuất hằng ngày, mà cần phải tồn trữ để sử dụng trong những trường hợp hạn hán như năm 2016, hay hạn hán trong tương lai ở Đồng bằng sông Cửu Long gây ra bởi biến đổi khí hậu

Ngoài ra, cần cung cấp cho người sử dụng nước ngầm những thông tin về những tác hại khác gây ra bởi khai thác nước ngầm quá mức, ngoài sụt lún nền đất :

Bơm hút quá mức nước ngầm khiến cho nguốn nước ngầm bị nhiễm mặn, nền đất bị mặn lây, ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ nước, chất dinh dưỡng và năng suất của cây trồng và gián tiếp ảnh hưởng đến thu nhập của người dân

Thói quen bơm hút nước, hết ở tầng nông (tầng trấm tích Holocene) rồi xuống đến tầng sâu (tầng trầm tích Pleistocene) về lâu về dài sẽ làm nguồn nước ngầm bị nhiễm Arsenic rò rỉ từ tầng nông. Nước ngầm nhiễm Arsenic có hại cho sức khỏe con người và vật nuôi.

Trong giai đoạn chuyển tiếp, trước khi xây dựng được môt hệ thống cung cấp đầy đủ nước sạch cho toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long, các chính quyền địa phương cần phải tiết kiệm nguồn nước, ví dụ như bằng cách xây dựng phương án dự trữ nước mưa (triển khai từ những kinh nghiệm của Bến Tre đào các ao mương trữ nước ngọt để dùng trong mùa khô).

Cần tiết kiệm nước trong tưới trồng (trồng rau cải, hoa màu trong nhà kính nơi độ ẩm được kiểm soát và duy trì ; ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt v.v.).

Cần nghiên cứu kỹ thuật bổ cập nhân tạo nước ngầm, như trước đây ở Hoa Kỳ từng có 6 dự án : (Water Factory 21, Orange County, California ; Montebello Forebay, California ; Phoenix, Arizona ; El Paso, Texas ; Long Island, New York ; Orlando, Florida). Đặc biệt là dự án Dan của Do Thái, đã được sử dụng trong suốt 20 năm qua và không gây ô nhiễm nguồn nước ngầm

Cũng cần nghiên cứu những kỹ thuật tái tạo nguồn nước đã được dùng qua để sau đó dùng tưới trồng cây kiểng, sân cỏ, trong công nghệ giặt ủi, vệ sinh hay trong những dịch vụ công nghệ không liên quan đến sức khỏe của con người (như CRC Technologies của Hoa Kỳ, những kỹ thuật hiện được dùng ở Australia và Nambia v.v.).

Chấm dứt hẳn tình trạng sụt lún ở Cần Thơ và Đồng bằng sông Cửu Long chỉ có thể đạt được khi Đồng bằng sông Cửu Long có được hệ thống cung cấp đầy đủ nước sạch cho sinh hoạt và sản xuất. Vì thế giới hữu trách trung ương và địa phương cần phối hợp tiến hành càng sớm càng tốt kế hoạch cấp nước sạch cho toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Kế hoạch này cần được xây dựng dựa vào nguồn nước mặt lấy từ sông Tiền và sông Hậu và chỉ cho phép sử dụng nước ngầm tại những vùng xa không có nguồn nước mặt. Đặc biệt, ở vùng ven biển nên ứng dụng công nghệ Nano và RO để xây dựng những nhà máy biến chế nước mặn thành nước ngọt.

Nếu vì lý do nào đó mà kế hoạch cung cấp nước sạch không thể thực hiện được, và để thành phố Cần Thơ và các đô thị khác ở Đồng bằng sông Cửu Long khỏi bị ngập nước theo mùa, thì có lẽ cần phải nghĩ đến giải pháp từ bỏ hẳn trồng lúa vụ 3, tháo gỡ các đê bao ở vùng nông thôn và ngược lại xây dựng các bờ kè, con đê, để bao bọc khép kín các khu dân cư đông đúc.

Kiểm soát-hạn chế khai thác nước ngầm, tiết kiệm lượng nước sử dụng và xây dựng hệ thống cung cấp nước sạch đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng là những việc làm và kế hoạch cần được triển khai khẩn trương và đồng bộ trong tiến trình thoạt tiên làm giảm dần sụt lún trước khi hoàn toàn chận đứng.

Là người dân sinh ra và lớn lên ở Cần Thơ, cá nhân tôi thành tâm mong mõi thành phố Cần Thơ được phát triển bền vững, sớm trở thành một đô thị văn minh, nơi đây một số sinh hoạt và dịch vụ thiết yếu cho đời sống con người không còn bị gián đoạn, giao thông không tắc nghẽn và người dân không phải bì bõm trong biển nước để lo cho miếng cơm manh áo trong những ngày mà phân nữa diện tích của thành phố bị ngập nước.

Thanh Phương thực hiện

Nguồn : RFI, 03/05/2021

Published in Diễn đàn

Phần I

Góc nhìn khác về nhận thức và giải pháp

vtx1

Giáo sư Võ Tòng Xuân

Nhận thức và phản biện quan điểm "Thuận Thiên" của giáo sư Võ Tòng Xuân trên Tạp chí Doanh Nghiệp và Tiếp Thị.

1. Cơn "lên đồng tập thể" về Nghị quyết "Thuận Thiên"

Ngày 11/03/2021, Tạp chí Doanh nghiệp và Tiếp Thị có đăng bài phỏng vấn giáo sư Võ Tòng Xuân nhan đề : "Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời" [1]. Bài báo được trang thông tin tổng hợp Soha dẫn lại nguyên văn và một số báo khác "mượn" các ý chính để tiếp tục đăng tải.

Trước hết, tôi xin có mấy lời thưa trước, cá nhân tôi kính trọng giáo sư Võ Tòng Xuân trong tư cách một nhà giáo, nhà khoa học cả đời gắn bó với cây lúa và nhất là luôn trăn trở cho bà con nông dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy vậy, tôi nghĩ, là một nhà khoa học có tiếng lại có cơ hội tiếp xúc với lãnh đạo tầm nguyên thủ quốc gia để tham vấn chính sách vĩ mô thì mọi sự cẩn trọng là không bao giờ thừa. Bởi người lãnh đạo đặt niềm tin vào nhà khoa học, dựa vào những nghiên cứu và đề xuất của nhà khoa học để ban hành chính sách nên nếu nhà khoa học không cẩn trọng, tham vấn sai "một li" sẽ "đi một dặm", nguy hại khôn lường cho quốc gia dân tộc.

Sở dĩ tôi nói điều này vì tôi vô cùng ngạc nhiên và lấy làm khó hiểu :

Một là, Nghị quyết 120 ra đời cách đây 3 năm về việc "Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu" nhưng không hiểu sao đến hôm nay – nhất là khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chuẩn bị kết thúc nhiệm kỳ và bàn giao chức Thủ tướng cho người kế nhiệm thì giới truyền thông mới đồng loạt thi nhau giật tít tán dương ca ngợi cái "Nghị quyết Thuận Thiên" này ? Tại sao khi nó vừa ra đời và những lần tổng kết trước đó hiếm ai nói gì về hai chữ "Thuận Thiên" ?

Hai là, tại sao một nhà khoa học như giáo sư Võ Tòng Xuân lại có thể phát biểu và tham vấn cho Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (như lời ông kể trong bài báo) một cách cảm tính và thiếu cẩn trọng như thế ? Sau đây tôi sẽ lần lượt phản biện những luận điểm chính của giáo sư Võ Tòng Xuân trong bài báo trên.

vtx2

Hội nghị lần thứ 3 về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu được tổ chức tại Cần Thơ ngày 13/3/2021, dưới sự chut trì và Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc

2. Giáo sư Võ Tòng Xuân có tự mâu thuẫn trong tư duy và nhận thức liên quan đến việc lý giải nguyên nhân hạn hán và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay ?

Trước hết, về nhận thức chung, toàn bài báo cho thấy quan điểm tiếp cận để giải cứu Đồng bằng sông Cửu Long của giáo sư Võ Tòng Xuân là phải "Thuận Thiên" – nghĩa là không nên "cãi trời". Nói cách khác, theo ông thời gian tới người dân Đồng bằng sông Cửu Long phải thích nghi với vấn đề biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn hiện nay. Tạm thời tôi chưa bàn sâu về nội hàm của khái niệm "Thuận Thiên", tôi chỉ muốn phản biện sự mâu thuẫn của chính giáo sư Võ Tòng Xuân khi ông cho rằng nguyên nhân dẫn đến sự khô hạn và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay "không phải do Trung Quốc xây dựng các đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mê Kông".

Có thể thấy, quan điểm này của ông thể hiện rất rõ ngay ở tiêu đề của bài báo cùng lập luận là tấm hình minh họa ông cựu Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo ngồi giữa cánh đồng ở tỉnh Vân Nam (theo lời giáo sư Võ Tòng Xuân tình cờ đọc được trên một tờ báo Thái Lan năm 2010). giáo sư Xuân nói :

"Suốt thời gian dài, chúng ta nói, thượng nguồn Trung Quốc xây đập thủy điện chằng chịt, chặn đứng nguồn nước Mê Kông gây hạn hán, ngập mặn. Việt Nam, Thái Lan, Campuchia nhiều năm nay vẫn kiện cáo, đòi mở đập để "giải cứu" cây lúa miền dưới. Nhưng thực tế không phải vậy ! Rõ ràng lúc Việt Nam đang gặp hạn thì trên Vân Nam họ cũng thế ! Từ sau năm 2015, mực nước sông Mê Kông mùa khô liên tục rơi xuống còn 1.600 m3 - 1.800 m3/s, trong khi trước đây nó từng đạt 40.000 m3/s vào mùa mưa và 2000 m3/s vào mùa khô. Chúng ta kiện, chúng ta đòi mở nước nhưng Trung Quốc họ đã không còn đủ nước cho cả đất nước họ nữa rồi. Mà cho là có năm dư, khi xuống tới đường ranh Thái Lan - Lào, hàng ngày hàng nghìn trạm bơm vẫn lấy nước đổ vào cho vùng hạn Đông Bắc Thái Lan thì đến lượt Việt Nam liệu có còn nước không ?".

vtx3

Đập thủy điện Trung Quốc chậm xả nước, Đồng bằng sông Cửu Long hạn mặn nghiêm trọng

Thiển nghĩ, tác động của các đập thủy điện ở Trung Quốc gây ra sự khô hạn ở Đồng bằng sông Cửu Long cụ thể như thế nào, thời gian qua đã được các nhà khoa học trong nước và trên thế giới chứng minh và công bố khá nhiều, tôi xin không bàn thêm. Tôi chỉ muốn nhắc lại câu nói của ông bà ta : "Thượng điền tích thủy hạ điền khan".

giáo sư Xuân nói con người muốn sống phải "Thuận Thiên", "không nên cãi trời", tôi đồng ý. Vậy xin hỏi ông, dòng sông Mê Kông tự ngàn xưa là một dòng chảy thông thoáng nhưng giờ đây người Trung Quốc đã xây tổng cộng 11 con đập thủy điện chắn ngang thì có phải là một sự "cãi trời", "nghịch thiên" không ? Tại sao ông không nghĩ rằng chính sự "nghịch thiên" này đã gây ra cảnh khô hạn ngay cho chính quốc gia họ (tỉnh Vân Nam) và các nước ở hạ nguồn sông Mê Kông ? Có lẽ nào chỉ qua một tấm hình mang nặng tính tuyên truyền của truyền thông Trung Quốc mà giáo sư Xuân lại khẳng định Đồng bằng sông Cửu Long hạn hán và xâm nhập mặn chỉ do biến đổi khí hậu toàn cầu chứ không phải tại Trung Quốc xây các đập thủy điện ?

vtx4

Các đập thủy điện trên sông Mekong : Trung Quốc đã xây dựng xong 6 đập thủy điện trên sông Mekong, trong khi Lào và Campuchia dự kiến thiết lập thêm nhiều cơ sở mới.

Thật sự, tôi rất lấy làm lạ cho cách tư duy này của giáo sư Xuân vì chỉ câu trước câu sau là đã mâu thuẫn, "chỏi" nhau chan chát. Với nhận thức này, giáo sư Võ Tòng Xuân đã xổ toẹt mọi nỗ lực lâu nay các nhà khoa học trên thế giới ; các quốc gia có chung dòng chảy sông Mê Kông từng nhiều lần tố cáo Trung Quốc che đậy thông tin về các đập thủy điện nhằm kiểm soát dòng chảy sông Mê Kông ? Hóa ra theo giáo sư Xuân những việc làm này của các nhà khoa học về môi trường là không có căn cứ và vô nghĩa hay sao [2] ?

3. "Thuận thiên" – cái nhìn cảm tính và lãng lạn hóa của (không chỉ) giáo sư Võ Tòng Xuân

Theo dõi quan điểm của giáo sư Võ Tòng Xuân thời gian qua liên quan đến vấn đề "Thuận Thiên" – thực chất là việc thích nghi, thích ứng với việc hạn hán và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long, tôi cho rằng ông quá chủ quan, cảm tính còn giới truyền thông thì lại quá hời hợt.

Có thể thấy, lập luận xuyên suốt của ông về chuyện này là "mấy mươi năm qua người dân Đồng bằng sông Cửu Long làm lúa nhưng không giàu" hay "lúa là cái vòng kim cô kiềm tỏa người dân miền Tây", vì thế, ông khuyến nghị không nên trồng lúa nữa mà phải chuyển sang nuôi tôm và trồng cây ăn quả… Đó cũng là lý do Nghị quyết 120 – "Nghị quyết Thuận Thiên" có một sự xác lập theo trình tự ưu tiên : Thủy sản, cây ăn trái, lúa. Còn đây là quan điểm của giáo sư Võ Tòng Xuân trong bài báo :

"Trong tương lai gần, với tình trạng hạn mặn và sạt lở diễn ra mạnh mẽ ở Đồng bằng sông Cửu Long như hiện nay, để phát triển toàn diện thì cần phải giảm lúa gạo. Tại vùng ven biên giới Campuchia, là vùng luôn luôn có đủ nước ngọt và không bị nước mặn xâm nhập, thì chúng ta nên thiết kế 1,2 triệu hecta lúa, trồng 2-3 vụ/năm để đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu một phần. Còn những tiểu vùng gần biển thì nên trồng lúa vào mùa mưa, mùa nắng có thể kết hợp nước mặn với nước ngọt trộn lại để nuôi tôm, nuôi cá thâm canh hoặc chuyển đổi cơ cấu cây trồng chịu mặn. Vùng giữa thì bắt đầu lên liếp đất để hạn chế nước mặn và có rảnh mương dự trữ nước trong mùa mưa để tưới cho cây trồng trong mùa nắng".

Trước hết, phải nói rằng, về thực trạng "người nông dân Đồng bằng sông Cửu Long làm lúa nhưng không giàu" giáo sư Võ Tòng Xuân nói là không sai. Tuy vậy, về giải pháp, theo tôi là rất cảm tính và lãng mạn hóa.

Xin thưa với giáo sư Xuân rằng, người dân Đồng bằng sông Cửu Long mấy mươi năm qua làm lúa nhưng không giàu thì một Tư Duy đúng và logic là PHẢI LÀM SAO ĐỂ NGƯỜI NÔNG DÂN LÀM LÚA GIÀU LÊN chứ không phải xúi họ bỏ đi cái Sở Trường của mình để chuyển làm cái Sở Đoản khi chưa có một sự chuẩn bị kỹ càng. Thử hỏi, nếu mấy mươi năm qua người dân miền Tây nhờ cây lúa mà thành đại gia, Việt Nam là một cường quốc thực sự về lúa gạo thì liệu ông có khuyên họ như thế không ?

Và cũng xin thưa với giáo sư Xuân, thời gian qua, việc trồng cây ăn trái hay kết hợp "vụ lúa, vụ tôm" trong năm theo như sự tham vấn của ông đã làm cho rất nhiều bà con nông dân nhất là các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau vỡ nợ phải bỏ xứ "đi bình Dương bán nước tương". Vì sao ư ?

Thứ nhất, nước ngọt ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay không những bị giảm đi mà quan trọng hơn là bị ô nhiễm nặng (nguyên nhân của vấn đề này tôi xin bàn ở phần sau). Vì thế, cái mô hình kết hợp "vụ lúa vụ tôm" (mùa nắng có thể kết hợp nước mặn với nước ngọt trộn lại để nuôi tôm) của ông trong thực tế hoàn toàn không khả thi. Con tôm là con vật rất khó nuôi, ngoài việc giá thành đầu tư về con giống khá cao thì phương tiện kỹ thuật chăm sóc là điều rất phức tạp. Thế nên, trên thực tế mô hình "vụ lúa vụ tôm" chỉ là nói cho vui, rất hiếm người thành công với mô hình này trong sự ổn định, bền vững.

Thứ hai, nước mặn và nước/đất bị nhiễm mặn là hai khái niệm, hai vấn đề rất khác nhau. Một số địa phương có vị trí địa lý tiếp giáp biển ở Đồng bằng sông Cửu Long có nước mặn quanh năm (Bạc Liêu, Cà Mau, Bến Tre, Trà Vinh…) thì việc nuôi thủy hải sản nước mặn là điều tất nhiên, chuyện này thì không cần ai khuyến cáo vì bao đời nay người dân đã làm rồi. Tuy vậy, một số địa phương hiện nay có nước/đất bị nhiễm mặn gần đây (diễn ra trong khoảng 3 đến 4 tháng mùa khô) như Vĩnh Long, Cần Thơ, các huyện Chợ Lách, Mỏ Cày của Bến Tre, Cầu Kè Trà Vinh…) thì việc chuyển đổi từ lúa sang cây ăn trái hay nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ không phải là chuyện đơn giản.

Cây lúa sau 90 ngày đã thu hoạch (khoảng 1,5 tháng cuối là người dân đã siết nước), lâu nay dù không được giá, không giàu nhưng bà con nông dân vẫn còn có gạo để ăn nhưng nếu bỏ hẳn để chuyển sang trồng sầu riêng, cam, xoài, bưởi thì phải từ 3 đến 5 năm mới có thể thu hoạch. Đó là chưa kể việc đất ruộng chuyển sang đất vườn ; việc đầu tư cây giống người dân phải bỏ ra một chi phí khá lớn. Trong khi đó, nguồn gen và cây giống chịu hạn mặn vẫn chưa được các nhà khoa học vẫn chưa/đang nghiên cứu và chuyển giao ?

Ngoài ra, trước đây, đất rộng người thưa, nay dân số tăng lên, mỗi gia đình trung bình sở hữu 2, 3 công đất ruộng (1.000 mét vuông) giờ chuyển sang trồng sầu riêng, cam, xoài, bưởi… như khuyến cáo của ông thì thử hỏi mỗi công đất trồng được bao nhiêu gốc ? Và nhất là trong 3 đến 5 năm đó người dân sống bằng gì ? Tiền đâu cho con cái học hành ?

Thứ ba, thời gian qua hẳn tất cả chúng ta đều đã biết và đã thấy, bài toán quản lý của chính quyền nhà nước liên quan đến vấn đề tìm thị trường - đầu ra cho nông sản không riêng gì cây lúa, không riêng gì ở Đồng bằng sông Cửu Long là một nan đề chưa/không giải quyết được. Các quan chức lãnh đạo ngành nông nghiệp luôn lớn giọng bảo người dân trồng lúa lãi 30% nhưng trên thực tế có đúng như vậy đâu ?

Vậy nên, lúa là cây dễ trồng, là thế mạnh của Việt Nam nhưng người dân bao đời nay vẫn không giàu, nay giáo sư Xuân xúi họ bỏ đi chuyển sang trồng cây ăn trái, hoa màu, mía hay nuôi tôm, nuôi cá cá ba sa… nhưng đầu ra cho tất cả vẫn là một sự bấp bênh (gần như chủ yếu phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc) thì lấy gì để đảm bảo bà con nông dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong tương lai sẽ giàu hơn so với việc trồng lúa ? Không phải hiện nay, chính quyền một số địa phương đang kêu gọi "giải cứu nông sản" (thanh long, xoài, củ hành tím, su hào, cam, bưởi….) cho người dân đó sao ?

3. Thay lời kết

Thích nghi, thích ứng với môi trường tự nhiên đồng thời chinh phục tự nhiên thật ra là vấn đề thuộc về bản năng của con người, là hai mặt của một vấn đề trong mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên.

Nhật Bản nằm trên vành đai núi lửa nên thường xuyên xảy ra động đất và sóng thần, Hà Lan thì thấp mặt nước biển, Israel chủ yếu toàn sa mạc. Nếu chỉ nhận thức về "thuận thiên" một cách giản đơn và máy móc chắc chắn Nhật Bản không trở thành cường quốc công nghiệp ; Hà Lan không là quốc gia số 1 về các công trình đê biển và Israel không là cường quốc về nông nghiệp công nghệ cao thậm chí xuất khẩu nước sạch…

Để "giải cứu" vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong tương lai, về phương diện nhận thức, việc giáo sư Võ Tòng Xuân và các nhà khoa học khác khuyến nghị người dân phải thích nghi với vấn nạn khô hạn và xâm nhập mặn là không sai. Tuy vậy, những lý giải của ông về nguyên nhân của vấn nạn này theo tôi là cần suy nghĩ lại. Bởi lẽ, sự lý giải này vô tình tạo ra một tiền lệ rất nguy hiểm cho vấn đề thương thảo, đối thoại đấu tranh với nhà cầm quyền Trung Quốc để họ chia sẻ thông tin về việc kiểm soát dòng chảy và nguồn nước sông Mê Kông trong thời gian tới.

Ngoài ra, phải khẳng định rằng, quan điểm phải chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, quy hoạch hay giảm diện tích trồng lúa nhằm thích ứng với những thay đổi do biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long của giáo sư Võ Tòng Xuân là cần thiết nhưng chuyển đổi và thích ứng như thế nào, lộ trình ra sao là vấn đề không đơn giản.

Nói tóm lại, trong tư cách nhà khoa học, việc bàn thảo và tham vấn các giải pháp mang tầm vĩ mô để xây dựng và phát triển đất nước thiển nghĩ phải hết sức cẩn trọng chứ không nên cảm tính hay tệ hơn là mang nặng tính hình thức, phong trào... Vì "mọi lý thuyết đều màu xám…" chỉ có sự vất vả, thiệt thòi và chiu đựng của người dân Đồng bằng sông Cửu Long là thực tế đã và đang hiện hữu mà ai cũng đều nhìn thấy.

**********************

Phần II

Tiếp cận trên tinh thần "bảo tồn để phát triển"

vtx5

Vườn quốc gia Tràm Chim, Đồng Tháp.

1. Tham vấn, xây dựng chính sách không phải chuyện… sáng tác thơ, văn

Cần phải khẳng định rằng, để "giải cứu" Đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian tới, về mặt nhận thức, quan điểm "Thuận Thiên" của các nhà khoa học là không sai. Tuy vậy, điều quan trọng là cần hiểu như thế nào về "thuận thiên" ? "Thuận thiên" có phải chỉ thuần thích nghi, thích ứng với vấn đề hạn hán và xâm nhập mặn trong vấn đề chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo thứ tự ưu tiên, thủy hải sản, cây ăn quả và cuối cùng là cây lúa ?

Ngoài ra, về phương diện tuyên truyền, thiển nghĩ cần có cách giải thích cụ thể và tường minh hơn. Bà con nông dân là đối tượng chính trong mọi chính sách và giải pháp nhằm xây dựng và phát triển Đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian tới. Và cái họ cần và mong muốn là sắp tới đây Nhà nước hỗ trợ cho họ như thế nào về các chính sách liên quan đến nguồn lực tài chính ; nhà khoa học giúp họ ra sao về mặt kỹ thuật và ứng dụng công nghệ (con/cây giống chịu hạn mặn...) ; các nhà đầu tư có hỗ trợ và cam kết về đầu ra sản phẩm trên tinh thần cùng có lợi hay không… ? Đây mới là vấn đề họ không quan tâm chứ không phải sự hô hào "Thuận Thiên" một cách chung chung, cảm tính. Vì tham vấn và xây dựng chính sách quốc gia mang tầm vĩ mô chứ không phải chuyện sáng tác thơ ca, tiểu thuyết.

Chúng ta nói nhiều về "thuận thiên" trong các buổi hội thảo, hội nghị và trên các phương tiện truyền thông nhưng người dân không hiểu và nhất là thể sống được bằng những mô hình chuyển đổi trong thực tế, phải tha hương cầu thực thì có phải là vô nghĩa, vô bổ và nguy hại lắm không ?

2. Giữ gìn, bảo vệ, bảo tồn nguồn nước ngọt và hệ sinh thái nước ngọt ở Đồng bằng sông Cửu Long nên là ưu tiên hàng đầu trong quan điểm "Thuận Thiên"

Nền tảng quan trọng làm nên cấu trúc và đặc trưng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long là nguồn tài nguyên đất (phù sa) và hệ sinh thái nước ngọt với vô số sông ngòi, kinh rạch. Tiếp theo mới là hệ sinh thái nước mặn, nước lợ (một số địa phương cố vị trí địa lý giáp biển). Đây chính là điều kiện về tự nhiên góp phần làm nên thế mạnh về kinh tế nông nghiệp của Đồng bằng sông Cửu Long lâu nay ; là lý do khi nhắc đến Đồng bằng sông Cửu Long chúng ta hay nói đây là "vựa lúa", "vựa lương thực" của cả nước.

Biến đổi khí hậu toàn cầu cùng với việc xây quá nhiều đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mê Kông (sự "nghịch thiên") là hai nguyên nhân chính gây nên hạn hán và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Người viết bài này, đã từng nói cả hai vấn đề này hiện tại khó mà thay đổi. Vậy nên, chuyện phải tự cứu lấy mình là điều không ai bàn cãi.

Nhưng vấn đề là làm sao để tự cứu ? Từ thực tế về đặc trưng kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như những gì đã và đang xảy ra ở Đồng bằng sông Cửu Long thời gian qua, tôi cho rằng vấn đề quan trọng nhất khi nói về "thuận thiên" là phải làm sao giữ gìn, bảo vệ, bảo tồn hệ sinh thái đặc trưng mà vùng đất này đã có, hiện có. Và như trên đã nói, đất phù sa và nguồn tài nguyên nước ngọt là vốn quý của Đồng bằng sông Cửu Long. Nhưng vốn quý này không những đang ngày một giảm sút, có nguy cơ cạn kiệt mà còn bị chính chúng thời gian qua "vừa xài vừa phá" nên đã bị ô nhiễm nặng. Có hai nguyên nhân chính gây ra sự ô nhiễm này là :

Một là, tư duy và thói quen sản xuất nông nghiệp của người dân (lạm dụng phân thuốc hóa học trong việc trồng lúa, hoa màu, cây ăn trái, nuôi trồng thủy sản trên ruộng đồng và sông rạch…) đã và đang hủy hoại môi trường đất, nước và toàn bộ hệ sinh thái nước ngọt ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Trong một báo cáo cách đây 3 năm, World Bank khẳng định có đến 50-60% nông dân trồng lúa ở Việt Nam đã sử dụng thuốc trừ sâu với tỷ lệ vượt quá mức đề nghị ; 38 - 70% nông dân các tỉnh phía Nam đang sử dụng thuốc trừ sâu với tỷ lệ vượt quá mức khuyến cáo ; khoảng 20% nông dân đang sử dụng thuốc trừ sâu vi phạm các quy định hiện hành, sử dụng thuốc trừ sâu bất hợp pháp nhập khẩu, cấm hoặc thậm chí giả mạo.

Ngoài ra, các nhà khoa học của tổ chức này đã gọi những khu vực tại Đồng bằng sông Cửu Long mà các sinh vật bản địa không còn sinh sống nổi là những "vùng đất chết" [3].

Trong khi đó, từ đầu năm 2020 cho đến ngày 15/6, Tổng cục Hải quan công bố Việt Nam đã nhập khẩu 308 triệu USD thuốc trừ sâu và nguyên liệu sản xuất mặt hàng này [4].

Các báo cáo và công bố trên phù hợp với thực trạng hệ sinh thái nước ngọt ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay gần như bị hủy diệt. Chẳng ai có thể ngờ được Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay không còn những con tôm, tép, cua, cá đồng…- những sản vật đã đi vào thơ ca, hò vè với một niềm tự hào của người dân nơi đây.

Hai là, mỗi tỉnh thành ở Đồng bằng sông Cửu Long gần như đều có các khu công nghiệp nhưng việc xử lý nước thải đảm bảo quy chuẩn trước khi xả xuống hai con sông Hậu, sông Tiền gần như là con số 0 tròn trĩnh.

Từ đây, có thể thấy, trước khi tính đến chuyện chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp để thích nghi với hạn hán và xâm nhập mặn thì vấn đề tối quan trọng là phải bảo vệ, bảo tồn nguồn tài nguyên nước ngọt hệ sinh thái nước ngọt của toàn vùng là vấn đề rất cấp thiết. Bởi nguồn tài nguyên nước ngọt đã khan hiếm mà còn bị ô nhiễm thì việc đầu tư nuôi trồng thủy hải sản, cây ăn quả chắc chắn khó mà thành công như mong muốn. Một khi hai con sông tiền và sông Hậu khô cạn và ô nhiễm thì còn đâu chợ nổi Cái Răng cùng hệ sinh thái vườn tược để phát triển du lịch miệt vườn, sông nước đây… ?

Thế nên, "Thuận Thiên" trước hết phải được tiếp cận ở ý thức giữ gìn, tiết kiệm, không hoang phí các nguồn tài nguyên và sản vật đặc trưng ; là sự bảo vệ, bảo tồn những gì còn sót lại cùng với đó "hồi sức", hồi phục lại những gì mà thời gian qua chúng ta đã vô tình hay cố ý xâm hại, bức tử…

Nói khác đi, "Thuận Thiên" trước hết là tinh thần "CỘNG SINH", "HÒA GIẢI" VỚI TỰ NHIÊN. Tuy vậy, cũng không nên lãng mạn hóa vấn đề này bởi lịch sử phát triển của con người còn là lịch sử phát triển của tri thức với những phát minh, phát kiến nhằm chinh phục tự nhiên. Vì thế, trong chừng mực nào đó chúng ta vẫn có thể thể can thiệp vào tự nhiên với một biên độ cho phép vì "xưa nay nhân định thắng thiên cũng thường".

3. Thay lời kết

Ở phương diện lịch sử và văn hóa, Đồng bằng sông Cửu Long trước đây là xứ "ma thiêng nước độc", "dưới sông sấu lội trên bờ cọp um", "muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lềnh tợ bánh canh"… nhưng cha ông ta cũng đã từng bước thích nghi và chinh phục.

Vậy nên, nếu chỉ thuần túy quan niệm "thuận thiên" là "chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp", là giảm trồng lúa để chuyển sang nuôi tôm, thủy sản thích nghi với hạn mặn thì vẫn là tư duy "khai thác" để phát triểnNếu như thế thì không cần ai khuyên bảo vì người dân Đồng bằng sông Cửu Long bao đời nay không phải đã tự thích nghi rồi sao ?

Trồng lúa không giàu, họ đào ao, đóng bè nuôi cá ba sa ; nuôi cá ba sa thất bại họ chuyển sang trồng dưa hấu, thanh long, khoai lang, hành tím, mía đường ; các cư dân ở ven biển từ lâu cũng đã chung sống với con tôm, con cua… Nhưng do phải "tự bơi" là chính nên những năm gần đây có hơn 1,3 triệu người phải bỏ xứ tha phương câu thực. "Đất lành chim đậu", trước đây, miền Tây dễ sống, giờ khó sống, khó ở nên họ phải tìm đường mưu sinh. Nói cho cùng đây cũng là quy luật, là sự "thuận thiên" đó thôi.

Nói tóm lại, về nhận thức, việc tiếp cận Đồng bằng sông Cửu Long trước hết bằng quan điểm và góc nhìn BẢO TỒN ĐỂ PHÁT TRIỂN trong đó xem việc giữ gìn và bảo vệ nguồn tài nguyên và hệ sinh thái nước ngọt là ưu tiên hàng đầu ; là nền tảng quan trọng để triển khai các giải pháp tương thích khác chắc chắn sẽ hạn chế những cách làm mang tính hình thức, phong trào, đối phó (tưởng là "thuận thiên" nhưng có khi lại rất "nghịch thiên").

*******************

Phần cuối

Đề xuất và gợi ý một số giải pháp
trên tinh thần "bảo tồn để phát triển" Đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian tới

vtx6

Câu chuyện "Thuận Thiên" ở Đồng bằng sông Cửu Long nhất định phải được tiếp cận với tinh thần "bảo tồn để phát triển" chứ không nên tiếp tục "khai thác để phát triển"

Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay đã không còn những lợi thế về điều kiện tự nhiên như trước. Nếu như trước đây, người dân "sống chung với lũ" thì nay phải sống chung với hạn mặn. Hay nói khác đi, trước đây là sự thích ứng trong hoàn cảnh "khủng hoảng thừa" (nguồn tài nguyên nước ngọt và đất phù sa tích tụ sau mỗi mùa nước nổi hàng năm) thì nay là "khủng hoảng thiếu". Vì là "khủng hoàng thiếu" nên việc thích ứng hôm nay khó khăn hơn rất nhiều. Thế nên, câu chuyện "Thuận Thiên" ở Đồng bằng sông Cửu Long nhất định phải được tiếp cận với tinh thần "bảo tồn để phát triển" chứ không nên tiếp tục "khai thác để phát triển" trong sự hoang phí hoặc đối phó với tầm nhìn ngắn hạn.

Thay đổi tư duy và nhận thức của tầng lớp lãnh đạo quốc gia trong cái nhìn về Đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long là xương sống của nền kinh tế nông nghiệp nhưng oái oăm thay cũng là "vùng trũng" của cả nước, đặc biệt là về hạ tầng giao thông, văn hóa, giáo dục, y tế... Đây là một thực tế mà ai cũng nhìn thấy.

Để Đồng bằng sông Cửu Long thoát khỏi lời nguyền - cái nghịch lý "đất giàu người nghèo" quan trọng và trước hết phụ thuộc vào nhận thức của tầng lớp lãnh đạo quốc gia. Theo đó, có một số vấn đề quan trọng mang tính nguyên tắc chung liên quan đến việc xây dựng và triển khai các chính sách vĩ mô đối với Đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian tới là :

Thứ nhất, xóa bỏ cái nhìn định nhìn định kiến vùng miền trong quy hoạch và phát triển chung về Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt là vấn đề huy động và ưu tiên tập trung nguồn lực về tài chính cho Đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian tới. Dĩ nhiên kèm theo là cơ chế kiểm soát minh bạch, chặt chẽ, tránh những "rơi rớt" dọc đường do thói quen "ăn không chừa một thứ gì của dân".

Thứ hai, việc "bảo tồn để phát triển" Đồng bằng sông Cửu Long được nhanh chóng cụ thể hóa bằng hệ thống chính sách liên quan đến việc bảo vệ, bảo tồn nguồn tài nguyên nước ngọt và hệ sinh thái nước ngọt hiện có. Với tinh thần này, Đồng bằng sông Cửu Long thời gian tới tuyệt đối không phát triển công nghiệp nặng mà tập trung phát triển công nghiệp nhẹ liên quan đến công nghệ chế biến nông sản và các phụ phẩm nông nghiệp. Nghiêm cấm việc khai thác cát trên hai con sông Tiền, sông Hậu. Bên cạnh đó, là tổng rà soát việc xả thải ở các khu công nghiệp khắp các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là với Nhà mấy giấy Lee & Man (Hậu Giang) [5] ; nhiệt điện than ở huyện Duyên Hải (Trà Vinh) [6]. Trong tương lai, nếu không kiên quyết xử lý vấn đề xả thải ra môi trường nước ở các khu công nghiệp và 2 cơ sở này thì toàn bộ hệ sinh thái nước ngọt vùng Đồng bằng sông Cửu Long chắc chắn sẽ bị phá hủy.  

Thứ tư, xây dựng chính sách đãi ngộ, "đặt hàng" các nhà khoa học, các chuyên gia về nông nghiệp và môi trường trong nước và quốc tế liên quan đến vấn đề nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ nhằm xây dựng và triển khai các giải pháp về kỹ thuật để bảo tồn nguồn nước ngọt như : xây hồ chứa tích trữ nước ngọt vào mùa mưa; kiện toàn hệ thống đê bao tích hợp với việc rửa mặn (giảm độ mặn) ở các cửa khẩu, tuyến sông lớn ; nghiên cứu bảo tồn nguồn gen, cây/con giống thích nghi với hạn mặn…

Cuối cùng, phối hợp chặt chẽ với các chuyên gia, tổ chức quốc tế có uy tín về môi trường và biến đổi khí hậu; các quốc gia có chung nguồn nước sông Mê Kông nhằm tiếp tục đối thoại, đấu tranh với nhà cầm quyền Trung Quốc trong vấn đề chia sẻ thông tin về các đập thủy điện ở thượng nguồn.

Luật hóa việc sản xuất nông nghiệp từng bước thay đổi nhận thức và tư duy của người dân trong vấn đề này

Được biết vừa qua, ông Lê Minh Hoan – Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (nguyên cựu Bí thư tỉnh Đồng Tháp) khi trả lời báo chí có nói rằng, trong tương lai người nông dân hoặc bất cứ ai "muốn sản xuất nông nghiệp phải có giấy phép".

Từ góc nhìn sản xuất nông nghiệp gắn với ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ hệ sinh thai nước ngọt ; cùng với đó là vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, nâng cao giá trị nông sản, tôi cho rằng quan điểm của trên của ông Lê Minh Hoan rất nên được đón nhận và chia sẻ với cái nhìn tích cực nhất thay vì vội vàng phê phán bằng cái nhìn thiếu thiện chí "trồng vài cây cam, cây xoài cũng phải xin phép".

Nếu xem sản xuất nông nghiệp là một nghề như bao ngành nghề khác trong xã hội thì đã đến lúc bà con nông dân cũng cần trang bị cho mình bên cạnh kinh nghiệm, kỹ thuật là nhận thức liên quan đến vấn đề "đạo đức nghề nghiệp". Thật khó để bênh vực và bào chữa cho hành vi "hai luống rau" trong cùng một khu vườn vốn khá phổ biến hiện nay. Nghĩa là, luống để gia đình mình ăn thì rất sạch, rất an toàn, còn luống bán ra cho người khác dùng thì mặc kệ. Thậm chí, không ít người vì lợi ích của bản thân còn mang những trái mít, sầu riêng, thanh long… "nhúng" thuốc bảo quản trước khi bán cho chính đồng bào mình mà các cơ quan truyền thông từng phản ánh.

Vấn đề này, nhìn rộng ra, phải chăng còn là một trong nhiều nguyên nhân gây ra tình cảnh "được mùa mất giá" để rồi cả xã hội phải chung tay "giải cứu" mà chúng ta đã từng chứng kiến thời gian qua. Bởi với cách làm trên, sản phẩm nông nghiệp của chúng ta chỉ tiêu thụ trong nội địa hoặc một vài thị trường "quen thuộc", có phần "dễ dãi" chứ khó có thể thâm nhập vào những thị trường với những yêu cầu nghiêm ngặt liên quan đến các quy chuẩn về bảo vệ môi trường (hủy hoại hệ sinh thái nước ngọt) và nhất là an toàn vệ sinh thực phẩm.

Thế nên, dù xót xa cho sự vất vả của bà con nông dân nhưng thiển nghĩ cũng không nên cảm tính, để rồi vô tình thỏa hiệp hay bỏ qua cho sự bảo thủ, lạc hậu chỉ thấy cái lợi trước mắt mà bất chấp những hệ lụy lâu dài về sau.

Dĩ nhiên, ở chiều ngược lại cũng không nên quá ảo tưởng xem "giấy phép sản xuất nông nghiệp" như "cây đũa thần" trong một sớm một chiều có thể thay đổi cả một nền nông nghiệp vốn còn nhiều bất cập hiện nay. Thậm chí là cái nhìn cục bộ, duy ý chí mang nặng tính phong trào, hình thức bề nổi… để nó lại trở thành một thứ "giấy phép con" - không những là một bước lùi mà còn làm cho bà con nông dân khổ sở và vất vả hơn.

Từ đây, thiển nghĩ, "giấy phép sản xuất nông nghiệp" nên được tiếp cận ở phương diện nhận thức và tư duy mang tầm chiến lược, vĩ mô thậm chí là mục tiêu quốc gia để củng cố và phát triển nền nông nghiệp nước nhà trong thời gian tới. Cụ thể ở các phương diện như sau :

Một là, tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến vấn đề sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp; quy trình thu hoạch, bảo quản, tiêu thụ nông sản gắn với ý thức bảo vệ môi trường và an toàn vệ sinh thực phẩm…theo quy chuẩn quốc gia và quốc tế…

Hai là, xây dựng hành lang pháp lý tạo điều kiện để ngày càng có nhiều doanh nhân, tập đoàn chọn nông nghiệp làm ý tưởng khởi nghiệp cũng như phát triển nền nông nghiệp nước nhà theo hướng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong toàn bộ quy trình sản xuất, thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ; từ đó góp phần thay đổi thói quen và tập quán canh tác lạc hậu, manh mún hiện nay của đại bộ phận bà con nông dân… Song song đó là chính sách hỗ trợ về vốn, kỹ thuật công nghệ cũng như định hướng về đầu ra… cho người dân với quy mô gia đình, vừa và nhỏ…

Cuối cùng, quy hoạch tiến đến đến luật hóa việc trồng lúa. Như đã nói ở phần trước, cây lúa là sở trường là thế mạnh của Việt Nam. Việc người dân miền Tây lâu nay làm lúa nhưng không giàu, lỗi trước hết là thuộc về chính quyền Nhà nước trong các chính sách có liên quan về chất lượng giống/gạo, quy trình sản xuất, giá thành đầu tư và nhất là thị trường tiêu thụ. Thế nên, một tư duy đúng để giải quyết bất cập và nghịch lý này là phải làm sao trong thời gian tới chính quyền Nhà nước phải hỗ trợ người dân để họ giàu lên từ việc trồng lúa chứ không phải khuyên họ từ bỏ sở trường và thế mạnh của mình trong khi việc "chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp" vẫn chưa co sự chuẩn bị kỹ càng. Và để giải quyết vấn đề này, thiển nghĩ, đã đến lúc cần phải luật hóa việc trồng lúa nhằm nâng cao chất lượng giá trị hạt gạo Việt Nam trên thị trường thế giới. 

Liên quan đến vấn đề này, tôi đồng ý với quan điểm của giáo sư Võ Tòng Xuân cũng nhiều nhà khoa học khác, đó là, thời gian tới chúng ta cần quy hoạch lại diện tích trồng lúa một cách căn cơ và khoa học hơn. Cụ thể, với vị trí địa lý là các tỉnh đầu nguồn của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nhất là không bị xâm nhập mặn, việc trồng lúa để cần được tập trung về hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp, một phần nào đó là Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long… Tuy vậy, theo quan điểm của tôi, đã đến lúc chấm dứt tình trạng trồng lúa 3 vụ để đất đai có thời gian "nghỉ ngơi".

Tóm lại, một thái độ và tinh thần cầu thị, trách nhiệm trong tư duy và nhận thức để cùng mở ra một hướng đi mới cho nền nông nghiệp nước nhà trong bối cảnh và điều kiện mới là rất cần thiết. Tuy vậy, trước khi triển khai cần có một lộ trình chuẩn bị căn cơ, dài hạn, cẩn trọng đặt trong cái nhìn tổng thể nhằm hướng đến sự chuyên nghiệp hóa, công nghệ hóa nền nông nghiệp. Đặc biệt, tránh cái nhìn cục bộ, duy ý chí hoặc tệ hơn là dùng truyền thông để PR, "dọn đường" cho sự thăng quan tiến chức của một vài cá nhân trong giai đoạn tranh giành và chuyển giao quyền lực.

5. Tổng kết

Nguy cơ tan rã Đồng bằng sông Cửu Long đang ngày một hiện hữu. Dù muốn dù không việc "giải cứu" Đồng bằng sông Cửu Long trong tương lai phụ thuộc hoàn toàn vào nhận thức và tầm nhìn về quản trị quốc gia của nhà cầm quyền.

Về chuyện này, khách quan và công tâm mà nói, thời gian gần đây, sau khi được nhiều người góp ý, phản biện, tầng lớp "lãnh đạo chóp bu" có vẻ đã biết lắng nghe; bước đầu có sự cầu thị và thay đổi, sửa sai. Đồng bằng sông Cửu Long vì thế, đã được chú ý và quan tâm nhiều hơn so với trước đó. Riêng vấn đề này cần ghi nhận công lao của ông Nguyễn Xuân Phúc trong tư cách người đứng đầu Chính phủ. Nhưng mừng đó mà cũng lo đó. Ông Phúc nhiệm kỳ tới chắc chắn không còn ngồi ở ghế thủ tướng để tiếp tục triển khai, giám sát Nghị quyết 120. Đồng bằng sông Cửu Long, vì thế lại phải chờ và phụ thuộc vào nhận thức và tài "thao lược" của một ê kíp Chính phủ mới. Nếu nhưng người mới vẫn tiếp tục bả thủ, không vượt qua cái nhìn định kiến vùng miền hoặc "tư duy nhiệm kỳ" thì mọi chuyện rất có thể đâu sẽ lại vào đấy.    

Ở phương diện khác, muốn "giải cứu" Đồng bằng sông Cửu Long thì tinh thần và trách nhiệm của các nhà khoa học trong tư cách của những trí thức – kẻ sĩ chân chính là vô cùng quan trọng. Đồng bằng sông Cửu Long muốn phát triển cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực khác nhau như : kỹ thuật, công nghệ, môi trường, lịch sử, văn hóa… nhằm tham vấn cho giới lãnh đạo bằng thái độ cầu thị; tránh sự chủ quan, cảm tính…hay tệ hơn chỉ vì tiền, vì phải giải ngân các đề tài, đề án mà bán rẻ phẩm cách.   

Nói tóm lại, suy cho cùng, không riêng gì việc "giải cứu" Đồng bằng sông Cửu Long, quốc gia này, dân tộc này muốn phát triển trường tồn điều quan trọng nhất là tất cả chúng ta (theo trình tự "Đảng ta", tầng lớp trí thức, dân chúng) có tự trọng, có biết xấu hổ và nhất là có dám thay đổi sau khi đã nhận ra những sai lầm, sự ích kỷ của bản thân và phe nhóm mình hay không ?

"Thuận thiên" không phải chỉ phụ thuộc vào "ý trời", "mệnh trời", hay quy luật của tự nhiên một cách giản đơn và máy móc mà "thuận thiên" trước hết là phải "tự hiểu mình" để ứng xử, hành xử theo quy luật của Con Người. Vì con người cũng là một phần của thế giới tự nhiên; trước khi hòa giải, hòa hợp với tự nhiên con người cần phải hòa hợp, hòa giải với chính mình bằng trí tuệ và các giá đạo đức mang tính nền tảng và phổ quát.

Cần Thơ, 24/03/2021

Quách Hạo Nhiên

Nguồn : Viet-studies, 24/03/2021

Nguồn tham khảo :

[1] "Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc nữa, chính chúng ta đang cãi trời

[2] "Chuyên gia Mỹ tố cáo Trung Quốc tàn phá sông Mê Kông

[3] Nguyễn Trọng Bình, "Chuyên gia Mỹ tố cáo Trung Quốc tàn phá sông Mê Kông" 

[4] Thanh Lam, Hoàng Phương, "Vòng xoáy thuốc trừ sâu trên những cánh đồng

[5] "Dân kêu cứu vì ô nhiễm từ nhà máy giấy Lee & Man

[6] "Trà Vinh : người dân bức xúc ô nhiễm tro bụi từ nhà máy nhiệt điện" https://baotainguyenmoitruong.vn/tra-vinh-nguoi-dan-buc-xuc-o-nhiem-tu-tro-bui-nha-may-nhiet-dien-271381.html

Published in Diễn đàn

12 năm sau khi phá bphà Rch Miu(1999), Vit Nam va chi 111 t đ khôi phc liphà Rch Miuvì cu Rch Miu – cây cu giúp Bến Tre thông thương vi bên ngoài bng h thng giao thông đường b lin lc - b quá ti, lưu lượng phương tin qua li đã tăng gp ba ln so vi thiết kế (1) !

dongbang1

Đồng bằng sông Cửu Long vi cnh hn hán khc lit năm 2016

Cu Rch Miu (tr giá 3.300 t) b quá ti là tình hung vn đã được d liu trước khi khi công nhưng Vit Nam vn xây dng cây cu ch có bn làn cho tt c các loi xe t hai bánh tr lên qua li vì không có tin ? Năm 2006 - by năm sau khi khánh thành cu Rch Miu - Vit Nam bt đu tính đến vic xây dng cu Rch Miu th hai nhưng d đnh đó được nâng lên, đt xung nhiu ln trong sut bn năm (2). Cui năm ngoái, Th tướng Vit Nam mi chính thc chp thunđu tư, xây cu Rch Miu 2.

Tin xâycu Rch Miu 2 cũng hết sc nhiêu khê, lúc đu, chính ph tính khoán cho Bến Tre t tìm nhà đu tư theo dng… xã hi hóa (3) ! Sau đó, có th vì thy quá… k vi dân chúng Bến Tre nói riêng và dân chúng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung, chính ph mi đng ý ly 5.100 t t ngân sách đ làm cu (4), còn lúc nào khi công thì chưa biết !

***

Cu Rch Miu ch là ví d mi nht minh ha cho nhn thc và cách hành x dường như hết sc nht quán đi vi Đồng bằng sông Cửu Long ca h thng chính tr và h thng công quyn Vit Nam. Càng ngày, tương lai ca Đồng bằng sông Cửu Long - nơi cư trú ca khong 17 triu người càng m đm vì thiên tai và nhân ha.

Khu vc có din tích khong 40.500 cây s vuông, tng ni tiếng vì s phong phú ca đ loi sn vt t nhiên, tng là va lúa cung cp ti 90% lượng go xut cng, 60% lượng thy sn xut cng, gia thp niên 2010 còn đt tc đ tăng trưởng 7,8%, vượt xa tc đ tăng trưởng chung ca Vit Nam (6,8%) tiếp tc tut t t xung đáy vì cơ hi sinh tn, phát trin gim dn (hn hán, sông rch, rung vườn nhim mn, st l, st lún, h tng không theo kp như cu cống càng ngày càng trm trng).

Thm trng đó không đơn thun vì nhng đp nước thượng ngun Mekong và thi tiết d thường. Xét cho đến cùng, nguyên nhân chính nm tư duy qun tr và năng lc điu hành (biến nhng vùng trũng tng là nơi tích nước cho Đồng bằng sông Cửu Long thành rung lúa, thc hin đ th d án nhm tăng sn lượng go, vì "ch tiêu tăng trưởng" cho phép xây dng nhng nhà máy mà hot đng hy hoi c môi trường sng ln ngun nước khiến ngun nước ô nhim trm trng phi bù đp bng gia tăng khai thác nước ngm...) !

Xưa nay, Đồng bằng sông Cửu Long va lúa giúp Vit Nam duy trì an ninh lương thc, góp phn đáng k vào tăng trưởng kinh tế hàng năm nh go và các loi nông sn, thy sn xut cng ni tiếng còn vì ch b buc đóng góp ch không được nhn li gì. Do không được đu tư tha đáng c v h tng giao thông ln giáo dc, y tế, cng vi nhng tác đng bt li ca các công trình thy đin thượng ngun Mekong và biến đi khí hu, Đồng bằng sông Cửu Long càng ngày càng tr thành nơi khó sng, cư dân lũ lượt b x tha phương cu thc.

Báo cáo Kinh tế thường niên 2020 v Đồng bằng sông Cửu Long cho biết, trong mười năm gn đây đã có 1,1 triu cư dân Đồng bằng sông Cửu Long ly hương. Con s này vượt xa dân s mt tnh trong khu vc Đồng bằng sông Cửu Long. Đó là lý do khiến Đồng bằng sông Cửu Long tr thành khu vc có t l xut cư cao nht, nhp cư thp nht và là khu vc duy nht Vit Nam có t l tăng dân s là 0% sut mười năm.

***

Trước nhng ch trích kch lit v cách đi x thin cn, bc bo đi vi Đồng bằng sông Cửu Long, năm 2017, chính quyn Vit Nam công b ngh quyết v "phát trin bn vng Đồng bằng sông Cửu Long" và c hai năm li t chc đánh giá vic thc hin ngh quyết này mt ln. Đã rt nhiu ln nhng viên chc hu trách như Th tướng Vit Nam, th tht :S có các gii pháp c th nhm phát trin Đồng bằng sông Cửu Long ch không phi ch đưa ra mt s ch trương, không kim tra, không gii quyết, không b trí ngun lc, không ch đo thc hin. Không đ như người ta nói "nước đ lá môn", chy tun tut hết… Hàng năm s xem nhng gì đã nói, đã làm đến đâu và phi làm gì thêm đ giúp Đồng bằng sông Cửu Long phát trin bn vng (6).

Nhng ha hn y chính xác đến mc nào ? Theo các chuyên gia ca VCCI (Phòng Thương mi và Công nghip Vit Nam) và FSPPM (Trường Chính sách Công và Qun lý Fulbright) hai nơi phi hp kho sát, thc hin Báo cáo Kinh tế thường niên 2020 v Đồng bằng sông Cửu Long : Vai trò kinh tế ca Đồng bằng sông Cửu Long đang gim dn so vi các khu vc khác Vit Nam vì phi thc hin s mnh đm bo an ninh lương thc cho c nước nên chm chuyn dch sang các lĩnh vc có năng sut cao hơn.Đến gi, mt trong nhng nguyên nhân chính khiến chuyn dch phát trin công nghip ì ch vn là b cn tr bi nút tht nghiêm trng v cơ s h tng, đc bit là h thng giao thông kết ni vi Đông Nam B.

Sau đi hi 13, vài tháng na Vit Nam s có Quc hi mi và chính ph mi. Tuy ông Nguyn Xuân Phúc tái đc c vào Ban chấp hành trung ương đng, B Chính tr nhim k 13 nhưng nhiu người tin rng, Th tướng mi s là mt nhân vt khác. Giai đon được nghe nhng tuyên b, ha hn dành cho Đồng bằng sông Cửu Long ca nhng Nguyn Tn Dũng, Nguyn Xuân Phúc coi như đã hết. Thi ca Đồng bằng sông Cửu Long cũng đã gn hết và chưa rõ vn mnh ca Đồng bằng sông Cửu Long s hết hn sau my đi Th tướng na !

Trân Văn

Nguồn : VOA, 04/02/2021

Chú thích

(1) https://tuoitre.vn/pha-rach-mieu-chinh-thuc-hoat-dong-chia-lua-voi-cau-rach-mieu-20210127085427745.htm

(2) https://tuoitre.vn/cau-qua-tai-ben-tre-tien-giang-dua-pha-rach-mieu-tro-lai-hoat-dong-20210127214714296.htm

(3) https://plo.vn/do-thi/hai-phuong-an-xay-cau-rach-mieu-2-738217.html

(4) http://www.tapchigiaothong.vn/xay-cau-rach-mieu-2--chon-phuong-an-dung-ngan-sach-hoan-toan-d73266.html

(5) https://danviet.vn/10-nam-dbscl-co-gan-11-trieu-dan-bo-xu-ra-di-lon-hon-so-dan-cua-mot-so-tinh-trong-vung-20201213122342516.htm

(6) https://vtv.vn/trong-nuoc/thu-tuong-chu-tri-dien-dan-ve-dbscl-khong-de-nuoc-chay-la-mon-20190618164719671.htm

Published in Diễn đàn

Trước Tết dương lịch ít hôm, báo chí Việt Nam đưa tin, con số thống kê những người dân vùng đồng bằng Cửu Long ly hương, với những tiêu đề rất bi thảm : Day dứt miền Tây  của báo Đại Đoàn Kết, Hơn 1 triệu dân Đồng bằng sông Cửu Long bỏ xứ đi lập nghiệp nơi khác của báo Dân Trí ; Nỗi niềm sau chuyện 1,3 triệu người miền Tây ly hương của báo Người Đô thị ; ‘Di dân nhiều cho thấy miền Tây kém phát triển’ của VnExpress và Dân bỏ xứ đi, Đồng bằng sông Cửu Long sẽ ra sao ? của RFA…

dongbang1

Vẫn có nhiều nghi ngại của các nhà khoa học môi trường ở vùng này về dự án Cái Lớn – Cái Bé, rằng nó vừa tốn tiền, vừa có thể làm thay đổi thiên nhiên một lần nữa mà nếu sai thì rất khó sửa.

Trước đó vài tháng lại có những tin rất phấn khởi là đại dự án thủy lợi "Cái Lớn – Cái Bé" được các tỉnh hoan nghênh, thúc giục chính phủ tiến hành giai đoạn 2. Đây là một dự án rất tốn tiền, nằm trong đại quy hoạch vùng châu thổ này, dự phòng những biến chuyển bất lợi về thiên nhiên như nước biển dâng, biến đổi khí hậu,… trong tương lai.

Chuyện đồng bằng sông Cửu Long bị tụt lại đằng sau không phải là mới. Vùng đất "gạo trắng nước trong", "vựa lúa của Việt Nam" vang bóng một thời, bây giờ trở thành khu vực có đông dân nghèo, thất học. Cách đây vài chục năm đã có những phong trào thể hiện sự tàn lụi đó, phong trào thiếu nữ đi lấy chồng Đài Loan, những người phụ nữ đi làm nghề massage trên cả nước…

Người ta có thể giải thích sự lụi tàn này bằng nhiều lý do. Thứ nhất, thiên nhiên thay đổi, thay đổi từ bên ngoài, như là biến đổi khí hậu, hay người Tàu, người Lào, người Thái, cả người Việt nữa, xây đập trên thượng nguồn làm nước ngọt và phù sa không xuống được đến châu thổ.

Thứ hai là do chính mình làm hại mình. Người ta khai thác cát vô tội vạ, làm nước xoáy lở bờ, và nhất là hai đại dự án rất ngốc nghếch chống lại thiên nhiên do lãnh đạo cộng sản chủ trương trước đây : Đắp đê làm mùa lúa vụ thứ ba, và ngọt hóa bán đảo Cà Mau.

Cuối năm 2017, Đảng cộng sản ra nghị quyết số 120 về vùng đất này với tinh thần là không chống lại thiên nhiên nữa. Một số nơi phá đê cho nước ngọt tràn vào như thời xưa, các vùng nước mặn, nước lợ không bắt buộc nông dân trồng lúa…

Với nghị quyết 120, người cộng sản tỉnh ngộ sau 42 năm ra tay phá hoại thiên nhiên ở vùng đất trù phú này một cách vô ý thức và duy ý chí.

Thôi thì muộn còn hơn không, và dự án Cái Lớn - Cái Bé như nói bên trên được cho là nằm trong tinh thần của nghị quyết 120, không chống lại thiên nhiên, hơn nữa còn được cố vấn từ một dân tộc sừng sỏ trong chuyện khai thác và quản lý châu thổ, là dân Hà Lan. Dự án này được cho là "thuận thiên", chỉ điều hòa nước mặn, nước ngọt giữa khu vực dòng chính của sông Cửu Long và bờ biển phía Tây thuộc Vịnh Thái Lan.

Vẫn có nhiều nghi ngại của các nhà khoa học môi trường ở vùng này về dự án Cái Lớn – Cái Bé, rằng nó vừa tốn tiền, vừa có thể làm thay đổi thiên nhiên một lần nữa mà nếu sai thì rất khó sửa. Người ta cũng nghi ngờ về sự quản lý một số tiền quá lớn, do các bộ từ trung ương thực hiện.

Cứ giả thiết rằng dự án sẽ thành công, thì liệu các tựa đề ai oán của các bài báo tôi đề cập bên trên có biến mất không ? Tôi nghĩ là không.

Theo tôi thì bi kịch ở đây không phải là chuyện người dân rời khỏi đồng bằng sông Cửu Long, mà cho dù di dân nhưng họ vẫn tiếp tục cuộc sống nghèo đói tại các khu công nghiệp dụng công ở Sài Gòn, Bình Dương, Long An. Thanh niên trai trẻ miền Tây chen chúc trong các khu nhà ọp ẹp của công nhân, với thu nhập vừa đủ trang trải bữa ăn hàng ngày và chỗ trọ, không còn đồng nào gửi về quê cho cha mẹ già, tệ hơn là cũng không giúp gì cho một thế hệ trẻ em đồng bằng sông Cửu Long, lớn lên không cha, không mẹ, không học thức.

Cứ giả định rằng đại dự án Cái Lớn – Cái Bé thành công, các dự án tiếp theo trên tinh thần nghị quyết 120 "thuận thiên" thì giá một kg gạo sắp tới đây là bao nhiêu, một ký tôm là bao nhiêu, một cần xé xoài là bao nhiêu ? …

Nông dân bỏ quê lên thành thị đâu phải là chuyện lạ, thế giới cũng đã có nhiều, từ hàng trăm năm nay, không thể cản được họ đâu. Vấn đề là họ rời bỏ quê hương rồi có làm ăn khấm khá lên hay không ?

Trả lời câu hỏi này sẽ là bức tranh lớn hơn về chính sách xã hội, tổ chức dân sự, nghiệp đoàn, trong đó những người gốc nông dân sẽ phải thay đổi cuộc sống mãi mãi khi họ không còn là nông dân nữa.

Theo tôi thì người Hà Lan, với kinh nghiệm trị thủy lừng danh của họ, sẽ giúp được người Việt trị thủy thành công vùng châu thổ Cửu Long. Vùng đồng bằng này cũng ngập nước, cũng có diện tích xấp xỉ nước Hà Lan.

Cái khác là Hà Lan không chỉ có phô mai, lúa mì, sữa… của nông dân, họ còn có cả Philips từng là nhà tiên phong trong kỹ nghệ điện tử, có cả thị trường chứng khoán đầu tiên của thế giới ở Amsterdam. Họ cũng đã từng thê thảm khi chỉ dựa vào tài nguyên thiên nhiên khi khám phá ra khí đốt. Họ cũng bỏ xứ ra đi hàng đoàn vào thế kỷ trước, nhưng ở chốn xa, họ lập nên được New York (trước đây là New Amsterdam), làm ăn khấm khá.

Để kết luận, tôi xin kể ấn tượng của tôi về hai chuyến đi. Một lần tôi đến Volendam, một cảng cũ của người Hà Lan nằm trên biển Bắc. Volendam có nhà rất đắt tiền, với giới giàu có về hưu của cả châu Âu đến thị trấn cổ kính này dưỡng già, nuôi sống cả một ngành dịch vụ thương mại ở đây.

Lần khác tôi đến một xã ở huyện Mỹ Tú, tỉnh Hậu Giang (không có tỉnh nào ở vùng đồng bằng sông Cửu Long mà tôi chưa đến). Đất ở đây đầy chất phèn, mùa nước nổi lên người ta phải đi bằng xuồng, mà nước thì không uống được, tôm cá cũng chẳng có. Tôi nghĩ là thời binh lính của các Chúa Nguyễn vào Nam, cả một huyện Mỹ Tú chắc chỉ có vài gia đình, thì mọi chuyện ổn cả, nhưng bây giờ có cả chục ngàn người sinh sống trên vài gò đất đầy phèn ấy, thì phải bỏ đi thôi, chứ ở lại làm gì ?

Jackhammer

Nguồn : Tiếng Dân, 02/01/2021

Published in Diễn đàn

Dân bỏ xứ đi, Đồng bằng sông Cửu Long sẽ ra sao ?

RFA, 17/12/2020

Đồng bằng sông Cửu Long : vựa lúa của Việt Nam

Khu vực miền Tây Nam Bộ, còn được gọi tên "Đồng bằng sông Cửu Long" là vùng châu thổ trù phú được thiên nhiên ưu đãi nhất ở Việt Nam. Đồng bằng sông Cửu Long được dân gian truyền miệng rằng vùng đất Phương Nam "chim trời cá nước" là một nơi không bao giờ bị đói khát vì được bao bọc bởi những đồng lúa cò bay thẳng cánh và dòng Mekong mênh mông với 9 nhánh sông đầy ấp tôm cá quanh năm, nhiều nhất vào mùa nước tràn đồng mỗi năm.

scl1

Một người nuôi vịt chạy đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long. Courtesy of Tùng Thien

Đồng bằng sông Cửu Long được xem là vựa lúa của Việt Nam, góp phần quan trọng để trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới. Nơi đây còn là khu vực phát triển nông nghiệp chủ lực với nhiều mặt hàng nông sản đa dạng, không những cung cấp cho thị trường tiêu thụ nội địa mà còn xuất khẩu ra nước ngoài.

Trong vòng 10 năm từ 2009 đến 2019, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long góp đến 54% sản lượng lúa, 70% sản lượng nuôi trồng thủy sản, 60% lượng trái cây và xấp xỉ 18% GDP của Việt Nam.

Theo số liệu thống kê, do Ban Chỉ đạo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Trung ương ghi nhận, trong năm 2020, tỷ lệ dân số ở Đồng bằng sông Cửu Long gần 17,3 triệu người, chiếm gần 18% dân số Việt Nam. Tỷ lệ tăng dân số ở Đồng bằng sông Cửu Long trong một thập niên qua thấp nhất Việt Nam, chỉ chiếm 0,05% trong khi chỉ số già hóa dân số lại cao nhất nước đến 58,5% và tỷ suất di cư thuần cũng cao nhất nước, ở mức 39,9%. Một trong những nguyên nhân dẫn đến các thông số này là do "sự đi ra khỏi vùng để làm ăn sinh sống của lớp người trong độ tuổi lao động".

scl2

Chợ nổi ở Cần Thơ. Courtesy of Duy Black

1,3 triệu người di cư trong một thập niên

Một nhà báo sinh sống tại Đồng bằng sông Cửu Long, hiện đang làm việc trong lĩnh vực phóng sự truyền hình, vào tối ngày 17/12 chia sẻ thêm thông tin liên quan về người miền Tây di cư, qua ghi nhận cá nhân của ông.

"Do sự đô thị hóa quá nhanh và cơ cấu kinh tế dịch chuyển từ sự yếu kém của nông nghiệp sang hướng về thương mại, dịch vụ và công nghệp cho nên lực lượng lao động trẻ đi đến các tỉnh phát triển công nghiệp mạnh, như người ta nói câu ‘Đi Bình Dương’, cho nên thanh niên ở tuổi lao động đi Bình Dương, Đồng Nai làm công nhân hết, cho nên đất đai thì do người già làm công việc đồng án nhiều, chứ không phải thanh niên trẻ. Do đó, nguồn lao động ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long bị mất và nằm trong diện di cư".

Báo giới quốc nội mới đây trích lời phát biểu của Chủ tịch tỉnh Đồng Tháp, ông Phạm Thiện Nghĩa, tại lễ công bố báo cáo kinh tế thường niên Đồng bằng sông Cửu Long năm 2020, được tổ chức vào chiều ngày 14/12 ở Cần Thơ, rằng "Nói Đồng bằng sông Cửu Long là trù phú, lao động nhiều, nhưng tổng hợp lại 10 năm di cư trên 1,3 triệu người là vấn đề rất buồn. Gần 40% lao động không học tiếp phổ thông, trong xã hội hội nhập như hiện nay là điều rất đau đáu".

Nhà báo truyền hình, không muốn nêu tên, chia sẻ thêm với RFA rằng Đồng bằng sông Cửu Long tuy có rất nhiều thuận lợi về quỹ đất đai, phát triển nông nghiệp và được nhà nước đầu tư khoa học kỹ thuật, đặc biệt là nguồn nhân lực lao động trẻ dồi dào ; nhưng con số người dân ở Đồng bằng sông Cửu Long di cư lên đến hơn triệu người, bởi khu vực này đang đối mặt với không ít khó khăn và thách thức.

"10 năm trở lại đây, bất lợi thứ nhất là biến đổi khí hậu và làm cho một số tỉnh ven biển bị ngập mặn như Bết Tre, Tiền Giang, Bạc Liêu, Cà Mau. Nước ngập mặn xâm phạm vô vườn cây ăn trái hoặc các loại thủy hải sản, làm cho bị hư, bị chết. Rất nhiều trường hợp nông dân bị lao đao do biến đổi khí hậu đó. Còn những tỉnh không bị xâm nhập mặn như Đồng Tháp, An Giang… nhưng bị xói mòn và lở đất do dòng chảy của nước bị thay đổi. Nguyên nhân thay đổi là do khai thác cát, nhất là ở khu vực đầu nguồn Campuchia bị tận thu cát quá nhiều cho nên rất nhiều hộ dân phải sống khổ sở do vấn đề dòng chảy bị thay đổi gây ra".

Vị nhà báo ẩn danh còn liệt kê tình trạng các đập thủy điện được xây dựng ở Trung Quốc và Lào, khu vực thượng nguồn sông Mekong gây ra tình trạng khô hạn và phù sa không còn. Bên cạnh đó, hệ thống đê bao ngày càng nhiều cùng với việc nông dân gia tăng năng suất cây trồng bằng phân thuốc hóa học, thải ra dòng nước gây ô nhiễm môi trường và tác động ngược lại hệ thống nước tưới tiêu, làm cho ngành sản xuất nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long bị tổn thất nặng nề.

scl3

Một phụ nữ đang làm việc tại lò gạch ở Đồng bằng sông Cửu Long. Courtesy of Duy Black

Bộ Tài nguyên-Môi trường Việt Nam, hồi năm 2016, công bố một báo cáo cho thấy các đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong gây ra nguy cơ làm mất đi hoặc thậm chí tuyệt chủng tới 10% các loài cá và thu nhập người dân có thể giảm tới 50%. Việt Nam bị tổn thất hàng năm về thuỷ sản và nông nghiệp, bởi các đập thuỷ điện đó, có thể lên đến khoảng 760 triệu USD.

Bà Kim, một nông dân ở Bến Tre, vào tối hôm 17/12, lên tiếng với RFA rằng gia đình bà không thể sống được qua thu nhập từ ruộng vườn nên bà phải tìm việc làm xa xứ.

"Tôi phải lên Đồng Nai làm công nhân từ năm 2008. Mức lương lúc đó chỉ có 38 ngàn đồng/ngày làm việc 8 tiếng đồng hồ. Thời gian mười mấy năm qua tôi không đủ sống, cho nên cũng khổ lắm và phải cố gắng bươn chải".

Chị Anh, một cư dân ở Đồng Tháp rời quê nhà đến làm việc ở Công ty Kinh Đô, tại khu công nghiệp Bình Dương từ năm 2001, tâm tình với RFA về cuộc sống công nhân của mình :

"Coi như gần 6 triệu đồng/tháng. Nếu tăng ca thì lãnh thêm được lên 7,8 triệu, có khi được tới 10 triệu. Làm việc 12 tiếng đồng hồ/ngày, từ 6 giờ sáng đến 6 giờ chiều".

Cuộc sống của chị Anh được cho làm tạm ổn khi chị đủ trang trải cho bản thân và gửi tiền về quê chu cấp cho bà mẹ già đơn thân, bệnh tật. Tuy nhiên, vào đầu năm 2020, chị Anh buộc phải trở về quê sinh sống, để chăm sóc cho mẹ vì bà bị xe đụng gãy chân, không đi đứng được. Dù trong dịch bệnh Covid-19, nhưng chị Anh cũng tìm được việc làm nhân viên lau dọn trong một công ty, nhờ vào sự giới thiệu của người hàng xóm.

"Hiện giờ làm mức lương 3,5 triệu/tháng. Nào là tiền điện, tiền nước, tiền ăn, tiền thuốc của má tôi. Chưa kể nhiều khi tôi bị đau ốm cho nên chi tiêu không đủ".

Ông K, giám đốc điều hành thuộc công ty tư nhân, kinh doanh các dự án bất động sản ở Đồng bằng sông Cửu Long, cho RFA biết về tình hình công ăn việc làm hiện nay tại khu vực này :

"Đồng bằng sông Cửu Long vừa bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 chung với cả nước và xâm nhập mặn làm cho nông nghiệp bị tác động nghiêm trọng và Covid-19 cũng gây ra hậu quả nặng nề cho lực lượng lao động trẻ có trình độ, còn lao động phổ thông thì còn tệ hơn nhiều. 1,3 triệu người di cư chỉ là một phản ánh rất khiêm tốn".

Ông Nguyễn Phương Lam, Phó Giám đốc Phòng Thương Mại- Công Nghiệp chi nhánh Cần Thơ, vào ngày 17/12 trong trả lời báo mạng VnEXpress cho rằng việc người dân miền Tây rời đi quá nhiều trong một khoảng thời gian nhất định cho thấy đó là tình trạng bức bách và vùng đất này kém phát triển. Về lâu về dài nếu không giải quyết, xã hội sẽ bất ổn.

scl4

Đạp xe lôi là công việc lao động phổ thông phổ biến ở Đồng bằng sông Cửu Long. Courtesy of Đặng Đại

Viễn cảnh Đồng bằng sông Cửu Long sẽ thế nào ?

Mùa hạn mặn năm 2020 tại Đồng bằng sông Cửu Long được đánh giá là "khắc nghiệt" và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, hồi đầu tháng 8, ra quyết định chi ngân sách cho 5 tỉnh bị thiệt hại bao gồm Bến Tre, Tiền Giang, Long An, Cà Mau, Kiên Giang số tiền 70 tỷ đồng/tỉnh để hỗ trợ nguồn nước sinh hoạt và đời sống người dân.

Vào đầu tháng 11 vừa qua, tại một phiên chất vấn, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng tuyên bố Chính phủ sẽ đặc biệt quan tâm và dành nguồn lực xứng đáng để đầu tư hạ tầng cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long, trước tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng cũng như hạ tầng yếu kém do đầu tư chưa tương xứng với nhu cầu phát triển của vùng. Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam còn đồng ý tăng thêm 2 tỷ USD cho quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050.

Nhà báo truyền hình ẩn danh xác nhận với RFA hiện tại chính quyền các tỉnh và thành phố ở Đồng bằng sông Cửu Long đang thực hiện và tiến hành nhiều dự án theo quy hoạch vừa được đề cập. Ông nói rằng Đồng bằng sông Cửu Long trong tương lai sẽ tập trung phát triển về công nghiệp, thương mại và dịch vụ du lịch. Đặc biệt, ngành nông nghiệp sẽ chuyển hướng nhắm đến nông nghiệp sạch theo tiêu chuẩn quốc tế để đáp ứng các thị trường xuất khẩu như Mỹ và Châu Âu.

Kiến trúc sư trẻ Duy Black, hiện sinh sống và làm việc ở Sài Gòn, nói với RFA rằng chắc chắn anh và rất nhiều người con của miền Tây Nam Bộ sẽ hồi hương nếu như vùng này được đầu tư và phát triển theo như kế hoạch đề ra :

"Tất nhiên rồi. Bất kể ai cũng muốn được ở gần quê và nếu có được cơ hội phát triển tốt thì sẽ quay trở về để phát triển sự nghiệp và ổn định cuộc sống. Nếu như nhà nước đầu tư tốt, bài bản và phát triển bền vững thì mọi người sẽ quay trở về. Nhưng mà, thật sự điều đó hơi khó tại vì theo các căn cứ của cơ sở khoa học thì khu vực miền Tây Nam Bộ đang ngày càng chết dần, chết mòn".

Truyền thông Nhà nước Việt Nam, hồi tháng 6/2019, dẫn lời của Vụ trưởng Vụ Kiểm soát An toàn Thiên tai, ông Tăng Quốc Chính cho biết trước đó vào tháng 2, Đại học Utrecht, của Hà Lan công bố một nghiên cứu về mức độ lún sụt ở Đồng bằng sông Cửu Long và đưa ra cảnh báo với mức lún sụt như hiện nay thì đến năm 2100 gần như toàn bộ vùng Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam sẽ bị chìm dưới mặt nước.

Đài RFA mượn lời của nhà báo truyền hình ẩn danh để kết thúc bài ghi nhận này, rằng trong "bức tranh tối tranh sáng" đời sống xã hội ở Đồng bằng sông Cửu Long, ông rất đồng cảm với những người di cư như chị Anh và hàng chục ngàn "cô dâu" miền Tây phải ra đi tìm miếng cơm manh áo và thật thương cảm hơn về sự trở về của họ, mà trong đó có những hũ tro cốt của phận đời như nhánh lục bình trôi bập bềnh trên dòng Mekong sắp cạn.

Nguồn : RFA, 17/12/2020

*********************

Thêm 4 bộ sách giáo khoa lớp 1 có lỗi : chuyện nhỏ hay nguy hại ?

RFA, 17/12/2020

Trong số 5 bộ sách giáo khoa lớp 1 theo chương trình giáo dục phổ thông mới vừa được Bộ Giáo dục và Đào tạo buộc phải rà soát, thì có đến 4 bộ sách giáo khoa lớp 1 mới do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam biên soạn phát hiện có lỗi.

scl5

Các bộ sách giáo khoa lớp 1 mới do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam biên soạn. Courtesy Tiền Phong

Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam trong báo cáo về việc 4 bộ sách giáo khoa có lỗi cho biết đã tổ chức rà soát lại toàn bộ các cuốn sách giáo khoa của mình chịu trách nhiệm biên soạn, xuất bản, phát hành. Theo Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam có lỗ ở một số môn như tiếng Việt, Giáo dục thể chất, tiếng Anh... nhưng các lỗi được nhà xuất bản này cho là không lớn.

Tuy nhiên câu hỏi được nêu lên là vì sao lỗi của 4 bộ sách giáo khoa lớp 1 mới do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phát hành, bị phát hiện quá muộn, trong khi học sinh đã được học nhiều tháng. Trách nhiệm về việc này thuộc về ai ?

Từ Hà Nội, thầy giáo Đỗ Việt Khoa nhận định với RFA hôm 17/12 :

"Có thể nói là một sự kỳ lạ của những người biên soạn sách giáo khoa gần đây, càng về sau này càng cởi mở cho phép nhiều bộ sách giáo khoa ra đời, khiến cho người ta cẩu thả không giám sát được hết. Cái này là trách nhiệm của những người giám sát sách giáo khoa. Thứ hai là cái tư duy của người soạn sách có vấn đề, sách lớp 1 mà toàn mấy cái chuyện ở Tây, ở đâu ở đẩu... hay chuyện ngụ ngôn quái dị đưa vào trong khi sách lớp 1 cần gần gũi, những thơ ca câu từ trong sáng đưa vào thì biến mất cả".

Thầy Khoa cho biết khi sắp học về sách mới, thì hầu như 100% giáo viên phải đi học bồi dưỡng về chương trình mới. Nhưng kỳ lạ là không ai biết sách như thế nào và không cho giáo viên thẩm định, đến khi in ra thì giáo viên mới tá hỏa sao lỗi nhiều quá, thiếu tính khoa học. Thầy nói tiếp :

"Nhưng đã muộn sao sửa, còn sửa chắp vá như Bộ Cánh Diều cũng không được, bỏ làm lại là cách tốt nhất. Cái này trách nhiệm, ý thức có vấn đề, Bộ giáo dục không kiểm soát chặt chẽ nên sẽ còn tiếp tục phát hiện lỗi. Đặc biệt từ năm học này sẽ dạy cuốn chiếu, năm nay lớp 1, năm sau sẽ lớp 2 sách mới... nhưng đáng lo là giáo viên không ai được thấy để góp ý trước khi phát hành đại trà".

Các lỗi trong 4 bộ sách giáo khoa lớp 1 mới do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam biên soạn, được truyền thông nhà nước nêu lên như bộ 1 Kết nối tri thức với cuộc sống phải chỉnh sửa nhiều nhất với 37 trang... lỗi cụ thể ví dụ như : ngữ liệu "sách đâu ếch học bài ?" là "sách đâu em học bài ?"... Hay sách tiếng Việt 1 có lỗi khoảng 16 trang... trong đó có một trang phải điều chỉnh nội dung văn bản do ngữ liệu không đúng thực tế, v.v...

Một giáo viên tiểu học ở Sài Gòn không muốn nêu tên vì lý do an ninh, khi trao đổi với RFA hôm 17/12 cho biết, tuy không trực tiếp giảng dạy 4 bộ sách giáo khoa của nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, nhưng việc đổi sách dù có huấn luyện trước nhưng cũng gây khó khăn :

"Nội dung chương trình lớp 1 mới thì hồi hè tụi tôi cũng phải đi học rồi. Đổi qua chương trình này thì tôi thấy rất nặng, có những bài bị dồn, đâm ra học sinh nắm không vững, chắc như những năm thế hệ trước. Do đó họ cũng gặp khó khăn nhiều".

scl6

Quầy bán sách giáo khoa lớp 1. RFA Photo.

Từ trước đến nay, độc quyền phát hành sách giáo khoa là Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, nhưng với Nghị quyết 88 của Quốc hội thì năm 2020 thế độc quyền này bị chia sẻ cho Nhà xuất bản Đại học Sư phạm và Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên dù có thay đổi thì vẫn có tới 24/32 sách giáo khoa mới được Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố đều của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Như vậy, các trường lựa chọn sách nào thì đa số cũng thuộc của nhà xuất bản này, do đó sách có sai sót đã đến với rất nhiều lớp học trong những tháng qua.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Mạc Văn Trang, từng có kinh nghiệm hơn 30 năm công tác ở Viện Khoa học Giáo dục trước khi về hưu vào năm 2002, hiện sống ở Sài Gòn, khi trả lời RFA hôm 4/11, nhận định :

"Cách làm sách ở đây có nhiều sai lầm, quan điểm chưa rõ ràng, người biên soạn chưa làm hết trách nhiệm ; không thực nghiệm ; Hội đồng (kiểm duyệt) không làm hết trách nhiệm nên mới xảy ra sai sót ; nhà xuất bản biên tập cũng không làm hết trách nhiệm nên biên tập, xuất bản rồi đến khi nhân dân kêu mới nói ‘có những sai sót không tránh khỏi, sách giáo khoa phức tạp, khó lắm’… Sai căn bản từ đầu cứ đổ loanh quanh mà không ai chịu trách nhiệm, không ai bị kỷ luật".

Đây là năm học đầu tiên được triển khai chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới, bắt đầu đối với lớp 1. Sau khi khai giảng vài tuần, Bộ sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1 trong bộ sách Cánh Diều đang nhận được nhiều sự chú ý từ phía dư luận và cả Quốc hội thời gian gần đây vì nhiều sai sót, nhưng đã được chính phủ chỉ đạo chỉnh sửa.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Dũng, nhà ngôn ngữ học, giảng viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, khi trả lời RFA hôm 17/12 cho biết sách giáo khoa nếu sai sót nhỏ thì cũng là điều bình thường :

"Sai sót là chuyện của con người mà, cho nên tôi quan đến những sai sót thuộc loại lớn, hay nó để ra từ một quan điểm sai lầm hay không. Tôi không có cơ hội đọc hết 4 bộ sách, nhưng tôi có đọc cuốn trong số đó thì thật ra cũng khó lòng mà nói sai. Mỗi người nói một kiểu nhưng tính chất sai nếu có cũng không lớn lắm, như thế là bình thường. Ngày xưa tôi ở miền Nam, sách giáo khoa đôi khi chỉ có 1 tác giả biên soạn thôi, và nếu cách nhìn như ngày nay thì sai sót nhiều lắm chứ không phải không, chúng ta phải bình tĩnh mà thấy những chỗ đó. Trông mong 1 bộ sách giáo khoa tuyệt đối không sai sót thì tất nhiên là mong ước chính đáng, nhưng không phải bao giờ cũng thỏa mãn đâu".

Tuy nhiên, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Dũng cho rằng chuyện đáng lưu ý hơn lỗi sai của sách giáo khoa là người dân càng ngày càng phản đối giáo dục dữ dội. Ông giải thích thêm :

"Thật ra là người ta bất bình xã hội bằng cách trút giận chỗ đó, chứ còn đất nước Việt Nam có rất nhiều chỗ tệ hại, tệ hại lắm chứ không phải chỉ thế đâu. Nhưng giáo dục ảnh hưởng đến từng gia đình một, và người ta trút cái nỗi bất bình xã hội vào giáo dục là dễ thông cảm, chứ trút giận vào chỗ khác không dễ đâu".

Theo Phó Giáo sư - Tiến sĩ Hoàng Dũng, ai ở trong nước đều biết, ngay cả nếu người dân muốn trút giận vào một ông quan có sai sót cụ thể cũng không dễ... vì sẽ có công an quân đội cần bắt ai là bắt... Cho nên người dân trút nỗi giận vô ngành giáo dục có vẻ sẽ an toàn hơn.

Nguồn : RFA, 17/12/2020

Published in Việt Nam

Tháng 04 và 05/2020, đồng bằng sông Cửu Long trải qua mùa hạn hán và xâm nhập mặn kéo dài nhất từ trước đến nay. Tuy nhiên, thiệt hại về mùa màng không lớn bằng đợt hạn 2016 do người dân và chính quyền địa phương đã rút được bài học và chuyển đổi một số diện tích cây trồng, theo nghị quyết số 120/NQ-CP Về Phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu, có hiệu lực từ ngày 17/11/2017.

mekong1 - Copie

Người dân Vĩnh Long, Việt Nam vận chuyển gạo trên sông Mekong. Wikimedia Commons

Nghị quyết này đã giúp tháo gỡ về mặt chính sách cho Việt Nam, theo nhận định của tiến sĩ Dương Văn Ni, chủ tịch Quỹ Nghiên cứu và Bảo tồn Mekong, khi trả lời phỏng vấn RFI tiếng Việt. Ngoài ra, ông cũng nhấn mạnh đến nguồn nhân lực và sự phối hợp giữa các nước trong vùng để có thể bảo đảm tương lai bền vững cho khu vực sông Mekong.

***

RFI : Mùa hạn 2020 đã khiến ngành nông nghiệp trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là ngành trồng lúa, bị tác động nặng, đâu là giải pháp cho lĩnh vực này ?

Dương Văn Ni : Năm 2017, thủ tướng ra nghị quyết 120. Tôi cho là nghị quyết 120 là một trong những tháo gỡ về mặt chính sách tốt nhất cho Việt Nam vào lúc này. Nghị quyết 120 đó đề cập đến mấy vấn đề cốt lõi.

Vấn đề thứ nhất đề cập là các nguồn nước, kể cả nước mặn, cũng phải xem như một dạng tài nguyên. Điểm này hoàn toàn khác với tư duy trước đó : Hễ thấy nước mặn là phải có một công trình nào đó ngăn chặn. Bây giờ công nhận nước mặn như một tài nguyên để mà khai thác nó dưới diện nào đó cho có hiệu quả về kinh tế. Tôi cho rằng sự thay đổi đó rất là căn cơ.

Nhưng điều quan trọng hơn nữa là nền nông nghiệp : Nhà nước cho phép chuyển dịch nền nông nghiệp theo hướng chiều sâu, hay là theo hướng có hiệu quả kinh tế nhất, chứ không phải là khư khư ép người dân trồng nhiều lúa để gọi là "bảo đảm an ninh lương thực". Đây là điều làm trong nhiều năm qua, chúng ta đẩy mạnh diện tích lúa ra sát bờ biển, trong khi vùng sát bờ biển vốn không thuận lợi cho trồng lúa. Bởi vì, năm nào khi dứt mưa, vùng này chắc chắn là sông rạch bị ảnh hưởng nặng, bị nhiễm mặn. Nhưng nhờ đợt hạn mặn 2015-2016 cho thấy những nỗ lực đưa nước ngọt, đưa cây lúa ra vùng duyên hải rất là bấp bênh. Những bài học đó giúp cho người dân, giúp cho chính quyền địa phương và cả cấp trung ương nhìn thấy ra được vấn đề chỗ nào rất bị tổn thương, chỗ nào không cần chăm chăm đưa cây lúa vào đó.

Tôi cho rằng 2017, Nhà nước ra được nghị quyết 120 là tháo gỡ khó khăn mang tính vĩ mô và như vậy nó giúp cho người dân có cơ hội điều chỉnh lại sản xuất của họ. Có nghĩa là nếu vùng đó thường xuyên bị mặn đe dọa và xâm nhập như vậy, tốt nhất là chúng ta nên chọn loại cây trồng, vật nuôi nào phù hợp hơn là cứ cố giữ khư khư cây lúa theo chỉ thị của Nhà nước. Đó là cái mở mang rất tốt !

RFI : Sau khi Nhà nước ban hành nghị quyết 120, nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long hiện chuyển sang hướng canh tác nào được cho là phù hợp với điều kiện thời tiết của vùng ?

Dương Văn Ni : Nghị quyết chỉ mang tính rất tổng thể, giải quyết được vấn đề vĩ mô. Còn để đi vào thực tế, thực tiễn từng vùng, thì điều này lại hoàn toàn phụ thuộc vào sự sáng tạo của người dân và chính quyền địa phương.

Bởi một lý do là trong một thời gian dài, chúng ta tập trung quá nhiều cho cây lúa, và bây giờ chuyển qua cây trồng và con khác, thì thứ nhất phải cần đến hạ tầng về kỹ thuật phải tương đối đồng bộ (hệ thống tưới tiêu, hệ thống dẫn nước…). Bây giờ ví dụ muốn nuôi trồng thủy sản, thì cũng phải có cải tiến hoặc thiết kế lại, công việc này tốn rất nhiều thời gian, cũng như kinh phí.

Điểm thứ hai, quan trọng hơn, đó là hạ tầng về xã hội và kinh tế. Ví dụ, ngày xưa trồng cây lúa, thì bao nhiêu chục năm nay, người dân biết trồng như thế nào. Bây giờ chuyển sang một cây trồng khác, việc đầu tiên là người dân phải nắm được kỹ thuật để quản lý mùa vụ của cây con đó. Khi người dân đã biết những việc đó rồi thì hạ tầng, dịch vụ phục vụ liệu đã có sẵn chưa, bởi vì một thời gian dài, chúng ta chỉ phục vụ cho cây lúa, giờ chuyển sang cây con khác, người ta không chuẩn bị sẵn vật tư, phân bón hay thuốc sâu, thuốc bệnh đó.

Tiếp theo phải nói tới công lao động. Phải nói rằng hiện nay cây lúa đã được cơ giới hóa với một tỉ lệ rất lớn, từ khâu làm đất đến thu hoạch. Bây giờ chuyển qua những cây trồng khác thì cần một lượng lao động nhiều để chuẩn bị gieo sạ hay thu hoạch. Điểm quan trọng cuối cùng là không biết bán cho ai và ai ăn, nên vẫn chưa biết thị trường ở đâu.

Những điểm trên cho thấy rằng mặc dầu nghị quyết 120 đã tháo gỡ những nút thắt, nhưng để chuyện đó thành hiện thực, cụ thể ở một nơi nào đó, thì cần sự quyết tâm và sự sáng tạo của người dân và chính quyền địa phương nơi đó.

RFI : Ngoài tình trạng thiên tai, còn phải nêu thêm vấn đề nguồn lao động do người dân, đặc biệt là thanh niên, di cư lên các thành phố lớn. Tương lai của đồng bằng sông Cửu Long sẽ ra sao ?

Dương Văn Ni : Nếu mà gọi là tương lai của đồng bằng sông Cửu Long như thế nào, chúng ta phải chia làm mấy loại tương lai.

Thứ nhất là tương lai gần. Tôi thấy trước mắt một vấn đề rất cụ thể là diện tích bình quân trên đầu người đã quá nhỏ do mật độ dân cư của đồng bằng đã quá lớn : Trước đây chỉ có 5-6 triệu người, giờ lên tới 20 triệu. Rồi vấn đề thiên tai, dịch bệnh, nước biển dâng, mưa bão... làm cho người dân không sống nổi trên mảnh đất của mình nữa, bởi thu nhập không đủ để trang trải nhu cầu của cuộc sống. Thành thử ra hiện nay, những người trẻ phải bỏ xứ, đi làm những nơi xa như ở trên thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Sông Bé... Đây là một vấn đề rủi ro cho tương lai. Rủi ro là vì nguồn nhân lực không phải là thanh niên nữa.

Thứ hai là các đập ở phía thượng nguồn sẽ làm cho dòng nước thất thường, lúc nhiều thì nhiều qua, lúc ít thì lại không có thêm, gây hạn chồng hạn, lũ chồng lũ. Do đó, những thiên tai do con người đóng góp vô làm cho thêm trầm trọng, càng ngày càng nhiều trong tương lai.

Cái thứ ba, nói gì thì nói, chúng ta nhìn năng lực sản xuất của người dân đồng bằng mới là vấn đề quan trọng. Trong vòng 100 ngày thôi, ở đồng bằng này, người ta có thể sản xuất ra 7-8 triệu tấn lúa. Chưa thấy một vùng đồng bằng nào trên thế giới lại có một năng lực sản xuất, gọi là tương đối đặc biệt như vậy. Nếu sức sản xuất của đồng bằng sông Cửu Long bị mai một bởi vì nguồn nhân lực trẻ không còn ở tại chỗ, rồi đất đai bị bạc mầu dần vì không còn được phù sa bồi thêm nữa, rồi nguồn nước thất thường... tất cả những yếu tố đó đe dọa đến một vấn đề rất căn cơ : Làm cho "bao tử" của nước Việt Nam bị đe dọa.

Do đó, nếu nói về sự ổn định của đồng bằng, ngoài yếu tố ổn định về môi trường, chúng ta phải coi sự ổn định năng lực sản xuất của người dân trong vùng này là điều gì đó quan trọng, từ bằng đến hơn sự phong phú của tài nguyên tự nhiên. Vì nếu tài nguyên tự nhiên có phong phú mà không có con người thì cũng không tạo được vật chất. Do đó, phải biết làm sao phải gìn giữ được năng lực sản xuất này và biết làm sao cho người dân, từng gia đình một, người ta sống nổi trên chính mảnh đất của họ, thì đến lúc đó, chúng ta mới duy trì được tính ổn định.

Thành thử ra, nói ổn định ở đây, nói về tương lai gần, tương lai xa, chúng ta thấy rõ ràng là chúng ta đang đối diện với một tương lai rất nhiều vấn đề bất định. Nếu chúng ta không tổ chức, gìn giữ được năng lực sản xuất của người dân trong khu vực này, thì chúng ta sẽ phải đối phó với nhiều rủi ro trong tương lai.

RFI : Nhiều nghiên cứu và diễn đàn khoa học đã cảnh báo rằng ổn định của lưu vực Mekong không được bảo đảm. Đâu là những nguyên nhân dẫn đến việc các nước trong khu vực vẫn chưa tìm ra được đồng thuận cụ thể ?

Dương Văn Ni : Đây là một vấn đề rất nổi cộm trong quá khứ, đặc biệt trong thời gian gần đây, nó lại nêu ra một vấn đề mang tính toàn cầu hơn. Trước hết, chúng ta thấy đồng bằng sông Cửu Long mỗi một năm xuất khẩu 6-7 triệu và 2-3 triệu tấn tôm cá... Lượng nông sản này phân phối ít nhất cho tầm 40 quốc gia trên khắp thế giới. Như vậy, đồng bằng sông Cửu Long không chỉ sản xuất để phục vụ cho 20 triệu người dân tại đồng bằng, hay là 100 triệu người dân của toàn nước Việt Nam mà nó còn đóng một vai trò quan trọng trong mắt xích kinh tế thế giới.

Do đó, vấn đề của đồng bằng sông Cửu Long phải vượt ra khỏi lưu vực của sông Cửu Long. Và không thấy ra được chuyện này, thì mọi người chỉ lo phát triển phần của mình. Ví dụ Lào có ưu thế phát triển thủy điện. Nhưng khi phát triển thủy điện thì lại gây ra những hệ lụy ở hạ lưu gồm có Campuchia, Việt Nam... Chúng ta thấy rằng Lào chỉ có khoảng từ 6-8 triệu dân, trong khi nội đồng bằng sông Cửu Long thôi đã có 20 triệu dân và có 60-80 triệu dân sống lệ thuộc vào dòng sông này. Dịch bệnh vừa xảy ra, chúng ta thấy rõ là ngành công nghiệp, dịch vụ bị ngưng trệ, thì lượng điện đâu có cần. Có nhiều điện nhưng không có lương thực thực phẩm trong khu vực, thì phải đối diện với rủi ro rất nhiều.

Điểm thứ hai mà chúng ta thấy là vừa rồi, khi dịch bệnh xảy ra, có hàng triệu người từ các thành phố lớn, như Sài Gòn, Bình Dương, Sông Bé... quay trở về đồng bằng sông Cửu Long tránh dịch. Chúng ta đặt tình huống là nếu đồng bằng sông Cửu Long không còn sức để hấp thụ thì mấy triệu người này đi đâu. Chúng ta biết là họ sẽ tìm những chỗ nào có nước, có lương thực để đi, thì đến lúc đó, liệu biên giới giữa các quốc gia còn thực sự yên ổn không hay là nó sẽ tạo ra sự xáo trộn trong khu vực và sự xáo trộn đó luôn luôn tạo ra nguy cơ lớn nhất cho những cộng đồng nào có số lượng ít.

Chính vì vậy, những quốc gia trong lưu vực sông Mekong phải thấy rằng đây là một vấn đề lệ thuộc lẫn nhau. Thế nhưng, đây lại là một thách thức rất khó, đã bàn từ vài chục năm mà vẫn chưa tìm thấy được một tiếng nói chung. Các quốc gia vẫn thấy phần của mình là quan trọng. Nhưng tôi vẫn tin rằng những đợt xáo trộn dịch bệnh như này cũng làm cho người ta thức tỉnh và nhìn lại tất cả những vấn đề. Hy vọng là sẽ có một tiếng nói, một sự đồng thuận về chia sẻ nguồn nước hợp lý, về gìn giữ hệ sinh thái của sông Mekong, bởi vì đây là tương lai không phải của một thế hệ mà của nhiều thế hệ tiếp theo.

RFI tiếng Việt xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Dương Văn Ni, chủ tịch Quỹ Nghiên cứu và Bảo tồn Mekong.

Thu Hằng thực hiện

Nguồn : RFI, 08/06/2020

Published in Diễn đàn

Bản Kiến nghị cứu Đồng bằng sông Cửu Long, với nơi gởi đích danh là Chủ tịch quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, được công bố trên trang mạng Tiếng Dân hôm thứ Hai 1/6 vừa qua.

kiennghi1

Người bán trái cây trên thuyền green sông Mekong ở Cần Thơ hôm 2/4/2016 Reuters

Đây là bản kiến nghị với chữ ký của nhiều nhà báo, nhân sĩ trí thức, chuyên gia trong ngoài các tổ chức xã hội dân sự, kêu gọi trách nhiệm của lãnh đạo Việt Nam trước nguy cơ cạn kiệt, suy kém tại khu vực nông nghiệp và kinh tế trọng điểm Tây Nam Bộ này.

Về sự hình thành bản kiến nghị, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng, ông Lê Thân, cho biết :

"Bản này được 3 vị giáo sư, 3 vị phó giáo sư, 5 vị tiến sĩ, trong này có 8 người liên quan trực tiếp với Đồng bằng sông Cửu Long. Đương nhiên có người soạn thảo rồi chuyển cho anh em đọc, góp ý, sửa chữa".

"Bản kiến nghị nêu tất cả mọi vấn đề mang tính giải pháp, tính chiến lược, những điều từ trước tới giờ không làm hoặc làm chưa tốt, thì bây giờ phải điều chỉnh lại"".

Tiếp lời ông Lê Thân, nhà báo, nhà văn Lê Phú Khải, trước đây từng có bài "Thư ngỏ gởi Bộ Chính Trị : Các vị phải có trách nhiệm cứu lấy Đồng bằng sông Cửu Long :

"Trên cơ sở đó thì anh em soạn thảo chung rồi đưa ra kiến nghị tập thể này. Kiến nghị này rất quan trọng vì Đồng bằng sông Cửu Long là nền kinh tế lớn của đất nước. Trước đây chúng ta đã dựa vào nó mà thoát được cái hiểm họa đói kém, thiếu lương thực. Trong thời kỳ bao cấp chúng ta cũng vượt qua được nhờ Đồng bằng sông Cửu Long".

Trong phần mở đầu, bản kiến nghị nhắc lại cuộc họp về phát triển kinh tế ngày 26/5, với yêu cầu của thủ tướng chính phủ cần đặc biệt quan tâm đến hạ tầng khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, được những người soạn thảo đánh giá là đại cuộc phát triển đất nước. Kiến nghị nhấn mạnh

"Đồng bằng sông Cửu Long là nơi chiếm 90% mức xuất khẩu gạo, vùng nuôi trồng thủy sản xuất khẩu, cây trái lớn nhất cả nước, nhưng là nơi mà cơ sở hạ tầng lại thấp nhất so với các vùng khác".

"Đời sống người dân Đồng bằng sông Cửu Long còn khó khăn muôn bề, trong lúc tình hình biến đổi khí hậu cũng như tác động của con người vào môi trường sống gây hậu quả tai hại khôn lường".

kiennghi2

Hình chụp hôm 8/3/2016 : một gia đình bắt cá gần một con mương cạn nước ở Sóc Trăng AFP

Cư dân Đồng bằng sông Cửu Long sẽ phải đương đầu ra sao để bảo vệ và phát triển cuộc sống của mình, là câu hỏi nêu ra kèm theo câu trả lời, rằng

"Trước tình hình bức xúc này, một số nhân sĩ, trí thức, chuyên gia nông nghiệp, thủy lợi chúng tôi cùng nhau viết bản kiến nghị này với mong muốn góp phần với Nhà nước trong việc vạch ra một chính sách chiến lược phát triển hợp lý hữu hiệu để phát huy các mặt thuận lợi có sẵn của vùng miền, đồng thời khắc phục những sai sót đã phạm phải, nhằm giúp Đồng Bằng sông Cửu Long phát triển đúng hướng, bền vững trong xu thế phát triển chung của cả nước".

Từ Paris, Pháp, giáo sư vật lý Phạm Xuân Yêm, bày tỏ :

"Thực ra tất cả đều do những vị trong nước, bác Huệ Chi, bác Chu Hảo, bác Nguyên Ngọc vân vân, bạn bè đưa kiến nghị về Đồng bằng sông Cửu Long thì tôi ủng hộ và tôi ký vào thôi"

"Là người sống xa nước, tôi cũng bức xúc, tôi nhớ như Phạm Duy nói rằng đất nước Việt Nam ngoài Bắc có sông Hồng, miền Trung có sông Hương, nhưng đặc biệt trong Nam có Đồng bằng sông Cửu Long là cái nôi của văn hóa, kinh tế và nông nghiệp rất quan trọng. Một nhà trí thức ở Mỹ là ông Ngô Thế Vinh có viết cuốn sách "Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Nổi Sóng" càng khiến tôi thêm ủng hộ việc làm của nhân sĩ trí thức trong nước hơn".

Không có tên nhưng hết lòng ủng hộ kiến nghị cứu Đồng bằng sông Cửu Long, Tiến sĩ Tô Văn Trường, chuyên gia độc lập về tài nguyên nước và môi trường :

"Đấy là bản kiến nghị từ những người có thiện chí, có tâm huyết và có nghiên cứu kỹ. Nội dung, mục đích và cách viết thể hiện quan tâm của người dân. Khi soạn thảo người ta đã căn cứ vào Nghị Định 120 của thủ tướng chính phủ năm 2017 về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long. Người ta cũng căn cứ vào tất cả những văn bản khác và cập nhật hóa để có thể nói lên mối quan tâm trước tác động của thiên nhiên và của cả con người đối với Đồng bằng sông Cửu Long".

Trong nhiều năm qua, bản kiến nghị nhấn mạnh, nạn khô hạn và tình trạng nhiễm mặn khiến nguồn nước ngọt cho sinh hoạt, canh tác và sản xuất tại Đồng bằng sông Cửu Long hao hụt trầm trọng và thường xuyên hơn. Việc tăng vụ mùa giúp lượng gạo xuất khẩu nhưng nông dân nghèo vẫn hoàn nghèo.

Lại nữa, xuất khẩu gạo càng tăng, thành tích chính phủ càng lớn thì chi phí đầu tư cũng lớn theo, nạn ô nhiễm môi trường càng cao do qui mô sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật ngày càng nhiều, đe dọa rõ ràng đến môi trường sống.

Có những điểm tưởng là quốc sách nhưng thật ra là sai sót cho Đồng bằng sông Cửu Long, được coi là vựa lúa của cả nước. Ông Lê Thân, Chủ nhiệm Câu Lạc Bộ Lê Hiếu Đằng, cho rằng muốn cứu Đồng bằng sông Cửu Long thì phải thuận theo tự nhiên của khu vực :

"Từ trước tới giờ người ta đặt chỉ tiêu về lúa gạo là chính, có những vùng phải chạy theo sản xuất lúa nên mới đẻ ra cái gọi là lúa vụ 3. Thực chất Nhà Nước lỗ mà nhân dân cũng lỗ vì phải chạy theo lúa vụ 3"

" Bây giờ thay vì lúa vụ 3 thì chỉ cần 2 vụ thôi, 2 vụ thì Đại Học An Giang đã thống kê rồi, là nếu cứ để cho nước mùa mưa, gọi là mùa nước nổi, ngoài Bắc gọi là nước lũ đó. Nó tràn về nó đưa phù sa mới về. Cũng trong mùa nước nổi người ta có thể khai thác, thu hoạch thêm hải sản. Khi nước rút xuống rồi thì đồng ruộng coi như được làm vệ sinh, được phù sa vào, khi trồng trọt lại ít tốn thuốc bảo vệ thực vật, ít tốn phân bón và thuốc trừ sâu. Nói chung nếu thuận thiên tức là không cần 3 vụ mà chỉ 2 thôi thì thu nhập của nông dân vẫn cao hơn chứ không phải là thấp hơn"

Điểm thứ hai mà bản kiến nghị nêu ra với lãnh đạo là nếu nhìn lại thì không thể nào không hỏi vì sao một vùng đất màu mỡ, giàu tiềm năng mà vẫn là vùng trũng về kinh tế, về cơ sở hạ tầng, cả về y tế lẫn giáo dục. Người trẻ vùng Đồng bằng sông Cửu Long vẫn phải đi xuất khẩu lao động, ở đợ hoặc lấy chồng bản xứ, cực khổ muôn bề trong hy vọng kiếm ít tiền gởi về cho cha mẹ.

Về môi trường tài nguyên thiên nhiên, biểu hiện dễ thấy nhất là sự bức tử dòng sông Mê-Kông. Nhà báo Lê Phú Khải phân tích :

"Khí hậu biến đổi, nước biển dâng lên, Trung Quốc làm nhiều đập ở thượng nguồn làm cạn kiệt dòng Cửu Long. Một số nước hạ nguồn cũng làm đập thủy điện, bản thân chúng ta cũng chặt rừng Tây Nguyên, cũng làm hại nguồn nước xuống Đồng bằng sông Cửu Long"

"Cho nên bây giờ phải có một chiến lược lâu dài, toàn diện để bảo vệ lấy Đồng bằng sông Cửu Long. Chính phủ phải giúp dân xây dựng những công trình giữ nước ngọt vào mùa mưa. Tôi lấy ví dụ như Israel, là một nước rất khô cạn, nhưng người ta giáo dục cho học sinh tiết kiệm từng giọt nước, người ta vẫn sống khỏe mà còn là nước nông nghiệp tiên tiến nữa. Vấn đề cứu Đồng bằng sông Cửu Long là cấp bách".

Việt Nam không thể di chuyển Đồng bằng sông Cửu Long xa ‘người láng giềng xấu bụng’ Trung Quốc, bản kiến nghị viết tiếp. Việt Nam cũng không thể ra lịnh cho Lào, Thái Lan, cũng không thể tự mình chống lại biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Việt Nam chỉ có thể làm cho người nông dân giàu hơn, Đồng bằng sông Cửu Long phát triển hơn bằng chính sách, biện pháp phù hợp, thuận với qui luật tự nhiên, là kế sách trong bản kiến nghị gởi chủ tịch quốc hội và thủ tướng chính phủ.

kiennghi3

Quang cảnh công trường xây đập thuỷ điện Luang Prabang trên sông Mekong ở Lào hôm 5/2/2020 Reuters

Tâm đắc, là lời giáo sư Nguyễn Huệ Chi :

"Kiến nghị kêu gọi Nhà Nước quan tâm đúng mức hơn về Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt năm vừa rồi nó báo hiệu một tương lai không tốt đẹp, không chỉ đối với vùng phía Nam đất nước này mà cả một phần cư dân trên thế giới"

"Làm cho vùng đất này không còn sinh sống được nữa là tự mình đánh mất đi tiềm năng của đất nước. Chúng tôi đặt vấn đề rất rõ ràng trong kiến nghị vừa về mặt ý thức vừa về mặt trách nhiệm, đồng thời phải hiểu biết về mặt kỹ thuật, trình độ khoa học để giải quyết sự sống trên vùng đất này. Không giải quyết ổn đáng là mình thất bại"

Cứu Đồng bằng sông Cửu Long phải là trách nhiệm ưu tiên của chính phủ trong việc bảo tồn nét văn hóa Tây Nam Bộ, là khẳng định tiếp của học giả Nguyễn Huệ Chi :

"Mỗi vùng đất tạo nên một bản sắc riêng, gắn với văn hóa của cộng đồng cư dân sống lâu đời tại đó. Là nơi sông nước cho nên tính cách của người Việt ở đây tích tụ nét văn hóa riêng, đóng góp vào văn hóa chung của cả dân tộc".

Đó là những nét chính trong bản kiến nghị hãy cứu lấy Đồng bằng sông Cửu Long, có thể tham khảo trên trang mạng Tiếng Dân hôm 1/6.

Sẽ lôi kéo được sự chú ý hầu dẫn tới hành động từ lãnh đạo, là kỳ vọng của ông Lê Thân :

"Năm 2017 ông thủ tướng đã có Nghị Quyết 120 về Đồng bằng sông Cửu Long nhưng nó không toàn diện, không mang tầm chiến lược như kiến nghị anh em chúng tôi viết ra. Tôi nghĩ bài toán đặt ra rồi Nhà Nước không thể không giải quyết"

Đối với nhà văn, nhà báo Lê Phú Khải, kiến nghị cứu Đồng bằng sông Cửu Long có lợi cho Nhà Nước và toàn dân là vì :

"Với chế độ hiện hành đang cai trị đất nước này, vấn đề mang tính chất chính trị, mang tính chất đòi dân chủ này nọ thì nó không có mẫu số chung"

Thế nhưng nếu Đồng bằng sông Cửu Long, cái nôi kinh tế Nam Bộ, được cứu sống, được giữ gìn, ông Lê Phú Khải giải thích tiếp, nhất định sẽ tìm được mẫu số chung giữa nhà cầm quyền và người dân trong chế độ.

Thanh Trúc

Nguồn : RFA, 03/06/2020

Published in Diễn đàn

Đồng bằng sông Cửu Long chống chọi với hạn, mặn và đập thủy điện Trung Quốc

Do dịch Covid-19, sự chú ý của công luận đối với tình trạng hạn hán và nước biển xâm lấn ở đồng bằng sông Cửu Long (Mekong) đã bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Theo báo mạng Le Courrier du Vietnam (14/02), vào tháng 02/2020, khoảng 79.700 hộ trong khu vực không có nước sạch sử dụng hàng ngày. Nhiều xe bồn đã được huy động chở nước cung cấp cho khoảng 40.000 hộ dân ở những khu vực xa xôi nhất thuộc các tỉnh Kiên Giang, Bến Tre, Long An, Cà Mau và Trà Vinh.

dongbang1

Kênh rạch nội đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long cạn trơ đáy. Ảnh : Nhật Hồ

Năm 2020, nước mặn xâm nhập không thua gì năm 2015-2016. Giai đoạn 08-13/04 là thời điểm nước biển xâm lấn đạt mức cao nhất, vẫn theo Le Courrier du Vietnam. Sau đó, tình trạng này giảm dần cho đến tháng Năm, nhưng vẫn ở mức cao. Năm 2019, hạ lưu sông Mekong từng trải qua đợt hạn hán nghiêm trọng do các đập thủy điện của Trung Quốc trên thượng nguồn đã cố tình giữ nước. Hiện tượng bất thường này được công ty nghiên cứu và tư vấn Mỹ Eyes on Earth Inc , do bộ Ngoại Giao Mỹ tài trợ, công bố ngày 12/04/2020.

Để hỗ trợ người dân tám tỉnh đang chịu thiên tai, ngày 10/04, thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đã phê chuẩn chương trình trợ giúp 530 tỉ đồng (hơn 22,7 triệu đô la) : Năm tỉnh Bến Tre, Long An, Tiền Giang, Cà Mau và Kiên Giang, mỗi tỉnh được nhận 70 tỉ đồng ; ba tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh và Bạc Liêu, mỗi tỉnh được nhận 60 tỉ đồng.

Kinh phí trên được dành cho việc triển khai các giải pháp khẩn cấp phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn vùng Đồng bằng sông Cửu Long, như bơm nước ngọt, nạo kênh, xây kè giữ nước ngọt, đào ao và giếng, mở rộng mạng lưới dự trữ nước, mua trang thiết bị lọc và giữ nước, phân phối nước…

Những biện pháp trước mắt này là hữu hiệu, nhưng phải tính phương án xa hơn. Đây là nhận định với RFI Tiếng Việt của tiến sĩ Dương Văn Ni, chủ tịch Quỹ Nghiên cứu và Bảo tồn Đồng bằng sông Cửu Long (gọi tắt là Quỹ Nghiên cứu và Bảo tồn Mekong, Mekong convervancy Foundation, MCF). Trách nhiệm nghiêm trọng của các đập thủy điện Trung Quốc trên thượng nguồn cũng được tiến sĩ Dương Văn Ni phân tích trong buổi trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt.

*****

RFI : Thưa tiến sĩ, đồng bằng sông Cửu Long đang trải qua một đợt hạn hán và nước biển xâm lấn nghiêm trọng. Xin ông cho biết nghiêm trọng đến mức nào ?

Dương Văn Ni : Theo báo cáo của các địa phương, so với năm 2015-2016, chúng ta có 10 tỉnh tuyên bố thiên tai so với 12 tỉnh của Đồng bằng sông Cửu Long. Năm nay, đến giờ phút này (tháng 04/2020), có 7 tỉnh đã công bố thiên tai. Như vậy, so về mức độ ảnh hưởng, năm nay không bị ảnh hưởng nhiều như năm 2015-2016.

Tuy nhiên, đó là vấn đề mang tính hành chánh. Còn trong thực tế, năm 2020 này, nước mặn xâm nhập không thua gì năm 2015-2016. Dù nước mặn xâm nhập nhiều, nhưng dù sao bà con ở vùng duyên hải ít bị thiệt hại hơn 2015-2016 là bởi vì vào năm 2015-2016, bà con không có tư thế chuẩn bị, bởi vì cả mấy chục năm trước đó không có xuất hiện cái mặn gay gắt như vậy, thành thử ra người ta cũng chủ quan. Thứ hai là chính sách nhà nước lúc đó vẫn giữ diện tích lúa vì sợ ảnh hưởng tới an ninh lương thực, thành thử ra không cho phép người dân chuyển đổi.

Sau 2015-2016, nhiều địa phương rút kinh nghiệm và người ta cũng chuyển đổi một số diện tích, không trồng lúa nữa. Thành thử ra năm 2020 này, mặc dầu mặn xâm nhập sâu cũng không thua gì năm 2015-2016 nhưng mức độ thiệt hại thấp hơn 2015-2016, bởi vì người dân đã được cảnh báo trước.

RFI : Đâu là những nguyên nhân giải thích hiện tượng này ?

Dương Văn Ni : Nói về mặn của đồng bằng sông Cửu Long thì chắc chắn chúng ta biết rồi, bản chất của đồng bằng sông Cửu Long được hình thành trong hai môi trường nước : nguồn nước ngọt trong mùa mưa và nguồn nước mặn trong mùa khô.

Vào mùa mưa, nó hình thành được là do nguồn nước ngọt truyền tải phù sa từ phía thượng nguồn về bồi thêm cho đồng bằng. Nhưng trong mùa nắng, thì nó lại nhờ dòng nước biển xâm nhập vào và mang phù sa biển vào để bồi cho vùng duyên hải. Vậy thì tự nhiên đã như thế rồi ! Hàng năm nước biển xâm nhập vào, tùy lượng nước ngọt trên phía thượng nguồn đưa về. Năm nào nguồn nước ngọt phía thượng nguồn đưa về nhiều và kéo dài khi mùa mưa chấm dứt thì mùa khô năm đó, mặc dầu đã dứt mưa giống như những năm bình thường, nhưng mà do lượng nước ở trên còn dồi dào đổ về, thành thử nó đẩy nước mặn ra ngoài biển, năm đó cái mặn xâm nhập vào đồng bằng ít hơn.

Nói nôm na lại, ở đồng bằng sông Cửu Long, cái mặn ngọt của vùng duyên hải lệ thuộc vào mấy yếu tố. Yếu tố thứ nhất là nguồn nước mặn, dồi dào đến mức độ nào. Yếu tố thứ hai là kiểu sử dụng đất của người dân. Ví dụ người dân trên vùng thượng nguồn hoặc ở những tỉnh phía trên, họ sử dụng nước để tưới tiêu nhiều thì sẽ chặn nguồn nước ngọt lại, do đó không đủ nước ngọt về bên dưới và bên dưới bị ảnh hưởng mặn. Yếu tố thứ ba là do mưa. Có nhiều năm, vùng duyên hải của đồng bằng sông Cửu Long nhận được một lương mưa khá lớn, từ 1.800 đến 2.200 mm. Do đó, lượng mưa này đóng góp rất đáng kể cho chuyện làm bớt mặn vùng này.

Ba nguồn nước này, nguồn nước mặn, nước mặt (nước ngọt) và nước mưa cùng kiểu sử dụng đất quyết định vấn đề mặn ngọt của vùng duyên hải của đồng bằng sông Cửu Long.

Nhưng mà mấy năm gần đây, chúng ta biết là trên chuỗi sông Mekong, từ phía Trung Quốc, qua tới Lào qua tới Thái Lan, Campuchia và xuống tới Việt Nam, thì trên dòng sông này, trong tự nhiên, nó có rất nhiều vùng chống ngập, những vùng chứa nước rất nhiều vào mùa mưa. Vào mùa khô, nó phóng thích từ từ ra dòng sông và chảy xuống dưới phía đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Điển hình nhất là Biển Hồ (Tonlé Sap) bên Campuchia, mỗi năm tích trữ một lượng nước khổng lồ. Khi mùa khô, hết mưa, nó cũng phóng thích từ từ ra dòng sông và do đó cũng góp phần đẩy mạnh, làm cho cái mặn của đồng bằng sông Cửu Long giảm đi.

RFI : Những công trình đập nước, nhà máy điện trên thượng nguồn sông Mekong tác động như thế nào đến hiện tượng này ?

Dương Văn Ni : Chúng ta có thể kết luận một cách chắc chắn mà không cần phải tranh cãi gì nữa, những đập thủy điện này tác động rất trầm trọng đến chế độ thủy văn của đồng bằng sông Cửu Long. Nói tác động trầm trọng, có nghĩa như thế nào ? Có nghĩa là có những năm bình thường, nói nôm na như người dân nói là "mưa thuận gió hòa", thì không có vấn đề gì xảy ra cả. Các đập thủy điện này ngăn nước để phát điện. Họ ngăn nhưng họ cũng phải xả nước. Vào những năm mưa thuận gió hòa, lượng nước về bình thường, nói chung không ảnh hưởng gì lớn.

Nhưng những năm thời tiết cực đoan, ví dụ hạn hán như năm nay, thì nguyên tắc của đập thủy điện là phải trữ nước, đủ nước mới phát điện được, thành thử ra, quá trình họ trữ nước, chắc chắn phía hạ du sẽ không thể nào nhận đủ nước. Nói tóm lại, những năm bị khô hạn thì những đập thủy điện này làm cho khô hạn thêm, như năm nay. Ngược lại, vào những năm mưa nhiều, khi đập thủy điện đã tích đầy, thì có ngưỡng an toàn, không thể nào tích cao hơn được nữa. Nếu tích cao hơn, trọng lượng của khối nước bên trên lớn hơn tính toán của đập, có thể làm vỡ đập và họ bắt buộc phải xả bỏ. Nói tóm lại, trong những năm mưa nhiều, trong khi phía hạ du nước đã ngập rồi, thì các đập thủy điện lại xả nước, làm ngập thêm. 

Do đó, các đập thủy điện có tác động, có thể nói, đối với nước, năm nào hạn thì sẽ trầm hạn, làm cho hạn hán trầm trọng thêm. Ngược lại, năm nào lũ thì sẽ chồng thêm lũ, làm trận lũ đó lớn thêm.

RFI : Vào đầu tháng 04/2020, thủ tướng Việt Nam đã thông qua kế hoạch hỗ trợ 530 tỉ đồng cho 8 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Khoản kinh phí này có đủ giúp cải thiện tình hình, cũng như trợ giúp người nông dân trong vùng không ?

Dương Văn Ni : Với số tiền đó, nếu tính đều ra cho 8 tỉnh duyên hải của đồng bằng sông Cửu Long thì không đáng là bao nhiêu cả. Nhưng số tiền đó tập trung vào giải quyết vấn đề nước sinh hoạt, thì có ý nghĩa tương đối tốt.

Tại vì nếu nói về nước, chúng ta chia làm mấy loại nước. Nước dùng để uống, để sinh hoạt hàng ngày tắm giặt và nước dùng để sản xuất. Với số tiền đó, nếu chính quyền địa phương từng nơi tập trung vào nguồn nước để người dân ăn uống, sinh hoạt, thì tôi cho rằng số tiền đó có ý nghĩa đáng kể.

Nhưng nếu số tiền đó để tập trung giải quyết nguồn nước sản xuất, thì chẳng thấm vào đâu bởi vì sản xuất cần nhiều nước lắm.

RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Dương Văn Ni, chủ tịch Quỹ Nghiên cứu và Bảo tồn Mekong.

Thu Hằng thực hiện

Nguồn : RFI, 27/04/25020

Published in Diễn đàn

Đồng bằng sông Cửu Long 2020 cánh đồng chết và 45 năm ảo vọng trí thức

mekong1

Tưởng nh giáo sư Phm Hoàng Hộ (trái) và giáo sư Nguyn Duy Xuân (phi), hai tượng đài trí tu kit xut, bt khut ca Min Nam.

Lời dn nhp

Giáo sư Phm Hoàng H sau khi hoàn tất b sách đ s "Cây C Vit Nam" mà ông gi là "công trình ca đi tôi" và vào my năm cui đi, như mt Di Chúc.

Giáo sư Phạm Hoàng H đã đ tng toàn s nghip y cho :

"Những ai còn sng hay đã chết trong tù vì tháng Tư năm 1975 đã quyết đnh li đ tiếp tc dâng góp cho đt nước.

Tặng giáo sư Nguyn Duy Xuân nguyên vin trưởng Đại học Cn Thơ, mất ngày 10/XI/1986 tại Tri Ci to Hà-Nam-Ninh.

Tặng hương hn nhng ai trên Biển Đông đã chết nghn ngào".

Thế h sinh sau 30/4/1975 nay cũng đã 45 tui ri, cũng là 45 năm của mt chính sách ngu dân lãng phí / hủy dit ngun chất xám, và lăng nhc cả mt thế h trí thc Min Nam. Và nghĩ xa hơn, mt Đồng bằng sông Cửu Long s không chết như ngày nay nếu có mt nhà nước biết trân trng sử dng ngun cht xám y, mà biu tượng là hai trí tu kit xut ca Miền Nam như giáo sư Phm Hoàng H, giáo sư Nguyễn Duy Xuân, là hai thành viên sáng lp Vin Đi hc Cn Thơ năm 1966, và sau 1975 c hai có cùng mt ý nguyn chn li đ xây dng đt nước sau chiến tranh và thng nht. Đ ri, giáo sư Nguyn Duy Xuân thì chết thm sau 11 năm b đy đa trong tri tù cải tạo Hà-Nam-Ninh Min Bc, và giáo sư Phm Hoàng H thì tri qua mt chng đường vô cùng đau kh qua "một thi kỳ sng trong o vng là s thy đt nước đi lên, giai đon đi xe đp, ăn go hm, tưởng hoa s n trên đường quê hương" để ri kết thúc là mt cái chết bun bã xa na vòng trái đt bên ngoài quê hương, mt quê hương mà ông sut đi gn bó và chng bao gi mun xa ri. 

Hình nh mt giáo sư Phm Hoàng H, mt giáo sư Nguyn Duy Xuân nhng năm sau 1975, là tm gương và cũng là mt tri nghim đau đn cho cả mt thế h trí thc Min Nam. Trang s m đm y là mt bài hc đng cay cho c mt dân tc s không th và không bao gi quên. Vi các thế h tr sau 1975  khp năm Châu, cùng vi bn tiếng Vit, nay có thêm bn tiếng Anh đ các bn d dàng tiếp cận hơn vi bài hc lch sy.

***

1. Giáo sư Phạm Hoàng Hộ và bộ sách "Cây Cỏ Việt Nam"

"Với nhng ghi chú bng tiếng Anh, cùng vi nhng nét minh họa tinh vi ca hơn 10.500 chủng loi, b sách Họa hình Cây Cỏ Việt Nam (Illustrated Flora of Vietnam) ca giáo sư Phm Hoàng H đã cung cp cho gii đc gi tiếng Anh ln đu tiên và cp nht mt tài liu tham kho thu đáo mà chúng tôi ít biết đến. Công trình này s đng như một tượng đài ca s quyết tâm, cng hiến, và uyên bác vi lòng can đm ca tác gi.

Giáo sư Phm Hoàng H hu như đơn đc hình thành mt công trình sinh hc thc vt có tm vóc hàn lâm (academic) ti Đại học Sài Gòn gia nhng năm tháng khó khăn. Trong hoàn cảnh cc kỳ th thách y, giáo sư H đã sưu tp được nhng cht liu cho b sách đc sc này và c nhng chuyến du kho nhm thu thp nhng mu vt đ minh họa. Và nay công trình được xut bn, đó s là ngun khích l cho các nhà sinh hc tr Vit Nam và cả hi ngoi.

Cây Cỏ Việt Nam có th lên ti 12.000 chng loi. Bi vì x s này nm sát b Châu Á-Thái Bình Dương nhit đi, đó là hành lang cho nhng chuyn dch theo chu kỳ bc-nam (periodic north-south migration) ca thm thc vt vô cùng phong phú từ phía nam Trung Hoa và phong phú hơn na là thm thc vt xích đo Mã Lai (equatorial flora of Malaysia). Trên các rng núi vn còn lưu li nhng chng loi tùng bách (conifer) và thc vt có hoa (angiosperm taxa) có tm quan trng vô song, trong khi các vùng bình nguyên mang dấu n ca quá kh có liên h ti các vùng hi đo Phi Lut Tân và Borneo Nam Dương. Đến nay s phong phú này hu như tiêu vong. Nhng n lc ca chính ph Vit Nam trong chiến lược trng cây tái sinh và bo tn s được h tr bởi công trình của giáo sư Phm Hoàng H như mt h sơ theo dõi các thm thc vt đến nay còn tn ti".

Peter Shaw Ashton, Giáo sư Charles Bullard
Ngành Lâm họ
c, Đi hc Harvard

mekong3

Mấy dòng tiu s ca Giáo sư Phm Hoàng H cùng vi Li ta ca Peter Shaw Ashton, nhà sinh hc gc Anh, Tiến sĩ Đại học Cambridge, Giáo sư Charles Bullard ngành Lâm hc, Đại học Harvard nơi bìa sau ca b sách Cây C Vit Nam [Quyn II, Tp 2] xut bn ti Montréal 1993.

***

Tiểu sử :

Giáo sư Phạm Hoàng H, trên giy t ngày sinh là 3 tháng 8 năm 1931 ti An Bình, Cn Thơ. Nhưng theo cáo phó mi đây ca gia đình giáo sư H sinh năm K T 1929, mt ngày 29 tháng Giêng năm 2017 ti Montréal, Canada hưởng th 89 tui. Anh Phm Hoàng Dũng, con trai giáo sư Phm Hoàng H xác nhn là "Ba tôi sinh năm K T 1929, nhưng theo l ngày xưa thì lâu sau đó mi khai sinh, là năm 1931".

Văn bằng :

- 1953 : Cử nhân khoa hc, th khoa Thc vt hc, Paris

- 1955 : Cao hc Vn vt hc, Paris

- 1956 : Thc sĩ (Agrégé) Vn vt hc

- 1962 : Tiến sĩ Khoa hc / Vn vt hc, Paris

Chức v :

- 1957-1984 : Trưởng phòng Thực vật Đại học Khoa học Sài Gòn

- 1965-1984 : giáo sư Thực vật học Đại học Khoa học Sài Gòn

- 1962-1966 : Giám đốc Hải học viện Nha Trang

- 1963-1963 : Khoa trưởng Đại học Sư phạm Sài Gòn

- 1963 : Tổng trưởng Quốc gia Giáo dục

- 1966-1970 : Viện trưởng sáng lập Viện Đại học Cần Thơ

- 1978-1984 : Chủ bút tuần báo Khoa học Phổ thông Sài Gòn

- 1984-1989 : Giáo sư khảo cứu tại Viện bảo tàng Thiên nhiên Quốc gia Paris

Hội viên Khoa hc :

- 1956 : Hội viên Hội Thực vật học Pháp

- 1963 : Hội viện Hội Tảo học Quốc tế (International Phycological Society)

- 1964 : Hội viên sáng lập Hội Sinh học Việt Nam

- 1965 : Phó Chủ tịch Ủy ban Danh từ Việt Nam

- 1967 : Hội viên Hội Viện trưởng Đại học Quốc tế (APU)

- 1969 : Sáng lập viên Niên san Đại học Cần Thơ

- 1971 : Hội viên Ủy ban Thẩm định hậu quả chất da cam tại Nam Việt Nam, Viên Hàn lâm Khoa học Quốc gia, Hoa Kỳ.

- 1973 : Cố vấn môi sinh Ủy ban Sông Mekong (MRC)

n phm :

- 1960 : Cây Cỏ Min Nam Vit Nam (Flore Illustrée du Sud Vietnam), B Giáo dc Vit Nam : 1 vol., 803 pp., 275 pls.

- 1964 : Sinh hc Thc vt, Bộ Giáo dc Vit Nam : 1 vol., 861 pp., nhiu hình

- 1968 : Hin hoa Bí t, Trung tâm Hc liu, B Giáo dc Vit Nam : 506 pp., 264 pls.

- 1969 : Rong Bin Vit Nam, Trung tâm Hc liu, B Giáo dc Vit Nam : 558 pp., 493 figs.

- 1970 : Cây C Min Nam Vit Nam, in kỳ 2, quyển I
Trung tâm H
c liu, B Giáo dc Vit Nam : 1.115 pp., 2.787 figs.

- 1972 : Cây C Min Nam Vit Nam, in kỳ 2, quyn II
Trung tâm H
c liu, B Giáo dc Vit Nam : 1.139 pp., 5.272 figs.

mekong2

Bộ sách Cây C Min Nam Vit Nam gm 2 quyn, do Trung tâm Hc Liu, B Giáo Dc Việt Nam Cộng Hòa xut bn 1970 [ngun : Sách Xưa]

Cây Cỏ Việt Nam (An illustrated Flora of VietNam)

- 1991, Tập 1 Quyn I : Khuyết Thc Vt. Lõa T. Hoa-cánh-ri đến Tiliaceae

- 1992, Tp 1 Quyn II Hoa-cánh-ri t Eleagnaceae… đến Apiaceae

- 1993, Tp 1 Quyn III T Smilacaceae, Cyperaceae, Poaceae... đến Orchidaceae

- 1991, Tp 2 Quyn I Hoa-cánh-ri t Sterculiaceae… đến Fabaceae

- 1993, Tp 2 Quyn II T Daphniphyllaceae, Fagaceae, Apocynaceae… đến Scrofulariaceae

- 1993, Tp 2 Quyn III T Smilacaceae, Cyperaceae, Poaceae... đến Orchidaceae

- 1998 : Cây c có v thuc Vit Nam
Nhà xuất bản Tr
, Thành phố H Chí Minh : 860 pp.,
Mô tả
2.149 loài có v thuc gp Vit Nam

Vẫn trong bn Tóm lược s nghip Khoa hc, giáo sư Phm Hoàng H tâm s"Có lẽ vì lúc còn rt nh tôi đã sng nơi vườn tược, rung đng xanh um vùng Châu th sông Cu Long, nên t nh tôi đã thích cây cỏ. Tôi không bao gi quên được hình nh ca bông Súng rung hay ao, lng ly dưới ánh mt tri ban mai, hay hình nh ca bông Nhãn lng phơi mình da b rung. Nên Thc vt hc và Sinh hc nhit đi đã hp dn tôi lúc đi du hc. Và lúc hc Đi hc Khoa học Paris, tôi đã bt đu tìm hiu Cây c Đông Dương. Tiếp xúc đu tiên mt cách khoa hc vi cây c y, tôi thc hin Vin Bo tàng Thiên nhiên Quc gia Paris. Lúc mi hc Vn vt, tôi đã vào nhà kiếng ca Vin này đ tìm coi có loi nào nước nhà hay không. Và một s loài đã được v t lúc y ! Tôi nh mt s Lan đã được v t năm 1950, trong nhà kiếng y. Đó là nhng hình "xưa" nht ca b Cây c ca tôi. Sau này khi làm lun án Cao hc, cũng Vin y, tôi mi có dp vào Tho Tp, và nhiu hình, nhất là ca ging Ficus, khó, vì chưa nhiu loài đã được v vì ngi s khó khăn y v sau khi v bên nhà mà tài liu tht là khó kiếm. Tht ra lúc y tham vng ca tôi vô cùng khiêm tn, là sau này được biết các loi Ficus Vit Nam mà thôi ! Cũng đã quá sung sướng ri.

Sau khi thi đậu Thc sĩ (Agrégation) hng sáu, trên 300 thí sinh, và ch có 30 đu, năm 1956 tôi v nước.

[Ghi chú của người viết : cn phân bit vi bng Thc sĩ hin nay Vit Nam tương đương vi cao hc (master), trong khi Thc sĩ (Agrégé) Pháp là hc v v sư phm, tri qua kỳ thi tuyn khó khăn, nếu thi đu s tr thành giáo sư thc th (professeur titulaire) từ bc trung hc (lycée) ti các trường cao đng (enseignement supérieur) thuc các ngành Khoa hc, Y dược, Lut khoa]

Giáo sư H viết tiếp : "Lúc y tham vng ca tôi ch là v dy hc mt trường Trung hc, và lúc rnh rang s tìm hiu cây c ca vùng Lục tnh mà thôi, nhưng Vin Đi hc Sài Gòn và Hi hc vin Nha Trang "kéo" tôi v ging dy và trông nom Hi hc vin. Khi làm vic Nha Trang tôi kho cu Rong bin, như là mt phn s. Và sau vài năm kho cu dưới s hướng dn ca giáo sư J. Felmann, tôi hoàn thành luận án Tiến sĩ mà tôi trình Đi hc Paris, năm 1961. Công trình này được đăng trong Niên san Khoa hc Đi hc đường Sài Gòn, và trong quyRong biển Vit Nam, cũng như mt s n phm trong vài tp chí khoa hc.

Sài Gòn, phn s chính của tôi là ging dy Thc vt và Sinh hc Thc vt (thay thế giáo sư Pháp Roger, mt nhà chuyên môn v nm gây bnh cây) cho sinh viên d b và chuyên khoa. Chính vì mun ging dy tt, thích nghi vào điu kin nhit đi Vit Nam, các môn y mà tôi lục lạo và sau đó cho ra đi công trình mà sau này s là công trình ca đi tôi là Cây Cỏ Vit Nam. 

[trích dẫn tư liu gia đình giáo sư Phm Hoàng Hvăn bằng, s nghip khoa hc, giáo sư thc vt hc].

1959-1960, tôi (người viết bài này) mi chỉ là sinh viên lp d b Y khoa PCB (Physique Chimie Biologie) tại Đi hc Khoa hc Sài Gòn và được hc thầy H mi tt nghip thc sĩ Pháp v, dy môn Sinh hc Thc vt. Tuy ch được hc thầy mt năm, nhưng thầy đã đ li cho đám sinh viên và riêng tôi mt nim cm hng vi nhng du n rt khó phai m. Vào trường Y khoa rồi, không còn được hc thầy H nhưng tôi vn mang lòng ngưỡng m và c theo dõi nhng bước đi và sưu tp nhng b sách công trình nghiên cu khoa hc ca thầy.

Vào đầu thp niên 1990, gii khoa hc trong nước và hi ngoi rt đi vui mng khi b sách Cây Cỏ Vit Nam của giáo sư Phm Hoàng H được ln lượt xut bn. Theo giáo sư Thái Công Tng, hin đnh cư ti Montréal thì các sách ca giáo sư Phm Hoàng H hin có đy đ Bibliothèque Jardin botanique Montréal, Canada, và dĩ nhiên là có trong nhiều thư vin ln trên thế gii.

Trọn bCây Cỏ Vit Nam gồm hai Tp, mi Tp 3 Quyn, tng cng khong 3.600 trang, chưa k Phn T vng tên Vit Nam và T vng tên Khoa hc các Ging (Chi) bao gồm thêm c công trình ca nhng năm tháng giáo sư ri quê hương Vit Nam sang Pháp, vn tiếp tc cm ci làm vic.

Riêng tôi (người viết) đã sm có được trn b 6 quyCây Cỏ Vit Nam xuất bn hi ngoi do bác sĩ Phm Văn Hoàng, nguyên Giám đc Trung tâm Phc hi Cn Thơ, mt đàn anh trong Y khoa gi tng, anh Phm Văn Hoàng chính là bào đ ca giáo sư Phm Hoàng H.

Tưởng cũng nên ghi li đây, là trước 1975, giáo sư Phm Hoàng H đã tng là Cố vn môi sinh Ủy ban Sông Mekong (Mekong River Committee) và khoảng năm 1974 hai giáo sư Phm Hoàng H và Thái Công Tng đã có mt nghiên cu chung v Môi sinh Đồng bằng sông Cửu Long (The Mekong Delta, Its environment, Its Problems), do Bộ Canh Nông Việt Nam Cộng Hòa xut bn, Sài Gòn 1974 ; khi tìm kiếm ti tài liu có tính cách lịch s y, tôi được anh giáo sư Thái Công Tng bùi ngùi cho biết : là đã mt hết sau cơn binh la...

Để tìm hiu thêm ti sao, các tác phm khoa hc ca giáo sư Phm Hoàng H li được ưu tiên xut bn bng tiếng Vit cho dù ngôn ng chính thông tho ca giáo sư H trong sut quá trình đào to và ging dy là tiếng Pháp.

Trong lời m đu quyRong Biển Vit Nam xuất bn năm 1969, giáo sư Phm Hoàng H viết : "Lúc đu, quyn sách này được tho bng ngoi ng, khi làm vic Hi hc vin Nha Trang và Museum, và tôi có hoài bão được xut bn trong ngoi ng y đ công b công trình kho cu ca mình ra bn phương, như li ha ngm lúc trình lun án.

Song nay tôi đã đổi ý và cho xut bn bng tiếng Vit Nam. Đó là đ chng minh rng ngôn ng nào, min được chăm sóc, đều có th din t kiến thc mi trình đ. Tôi biết rng có nhiu người cho rng không n hành trong mt ngôn ng quc tế là phí công, gii kho cu làm sao biết đến. Nhưng tôi thy chng cn đến vic y. Được my mươi triu người Vit Nam biết và dùng, có giá trị hơn là được vài ngàn hc gi chuyên môn thưởng thc. Tôi đã b cái t hào sai là tranh đua cùng người ngoài đ t to ly thanh danh, "làm thơm lây dân Vit". Tôi tin rng cái t hào y không thc tế, vì mt người Vit Nam hay không bng nhiu người Vit Nam khá : cm đuc soi thành ph người có v không thc thi trong khi nước nhà còn u ám. Cái t hào trên tht ra ch đ che đy s trn tránh trách nhim, s từ b phn s trước con cháu chúng ta mt cách không tha th được.

Tạo ra cho chúng ta mt nền văn chương khoa hc là mt công trình rt bao la. Vì thy nó quá to tát nên nhiu hc gi chp nhn gii pháp d nht : hc ngay trong văn chương khoa hc ngoi ng vô cùng phong phú, di dào. Cái hc như vy s cho ta nhng người gii, nhưng ta không quên rằng nn văn minh bây gi là văn minh ca đi chúng ch không phi ca vài người được na. Ta đng đ cho s phong phú ca văn hóa nước ngoài đè bp ta. Người Nht, cách đây mt thế k, há đã không hong s trước s hùng mnh ca khoa hc nước ngoài sao ? Mà nay họ đã t to được mt mt nn văn chương khoa hc riêng bit đã đến lúc gn hay hơn c nhng nước y !

n lúc nào hết, câu ca Nguyn Văn Vĩnh vn còn vng bên tai :

"Nước Vit Nam ta sau này hay hay d ch quc ng". Trong thế gii tương lai, sự l thuc v văn hóa, nht là v văn hóa khoa hc s là s l thuc chánh". 

[Lời m đu ca quyn "Rong Bin Vit Nam", Trung tâm Hc liu, B, Giáo vc (Việt Nam Cộng Hòa) xut bn, 1969].

Chặng đường đau khổ

Hình ảnh mt giáo sư Phm Hoàng H nhng năm sau 1975, là mt tm gương và cũng là mt tri nghim đau đn cho c mt thế h trí thc Min Nam mà giáo sư Phm Hoàng H là mt biu tượng.

Theo giáo sư Phm Hoàng H thì b sách Cây Cỏ Việt Nam đã được thc hin qua 4 giai đon :

- Nghiên cứu giai đon mt : hợp tác vi giáo sư Nguyn Văn Dương v phn dược tính, Cây Cỏ Việt Nam Vit Nam, do bộ Quc gia Giáo dc n hành năm 1960 mô t 1.650 loài thông thường ca Min Nam, "Đó là giai đon còn mò mm, hc hi mt thc-vt-chúng chưa quen thuc đi vi mt sinh viên va tt nghip t vùng xa l mi về".

- Nghiên cứu giai đon hai : kỳ tái bản ln hai 1970 bộ Cây Cỏ Việt Nam Vit Nam, số loài lên được 5,328 [Hình 2]. "Đó là giai đon mà tôi xem như vàng son ca mt nhà thc vt hc Vit Nam chúng ta. So vi bây gi, lúc y tôi yên n làm vic, có nhiu phương tin cá nhân cũng như ca non nước và nht là được s khuyến khích ca mi giới, bạn bè cũng như chính quyn".

- Nghiên cứu giai đon ba : tiếp tc công vic nghiên cu sau 1975, đưa thêm được vào b sách Cây Cỏ Việt Nam Vit Nam 2.500 loài và bộ được ni rng cho toàn cõi Vit Nam.

mekong4

Một s hình bìa b sách đ s Cây C Vit Nam gm 6 Quyn, 2 Tp ca Giáo sư Phạm Hoàng H xut bn ti hi ngoi [ngun : Ngô Thế Vinh]

Những năm ảo vọng

Sau biến c 1975, giáo sư Phm Hoàng H cũng như người bn đng hành trí tu ca ông là giáo sư Nguyn Duy Xuân đã cùng chn li đ xây dng đt nước sau chiến tranh và thng nht, nhưng vi cái giá rt đt mà sau này được giáo sư H ghi li là : "thời kỳ sng trong ảo vng là s thy đt nước đi lên. Giai đon đi xe đp, ăn go hm, tưởng hoa s n trên đường Quê hương".

Tuy giáo sư Phm Hoàng H vn còn chc danh là Hiu phó [phó Khoa trưởng] Đi hc Khoa hc, nhưng chính quyn mi ch s dng trí thc cũ như ông chủ yếu là "làm king", không có vai trò tương xng trong giáo dc. Vì không phải là đng viên, nên khi có vn đ gì thì Đng b hp riêng và quyết đnh, có vic ông không bao gi được biết. Năm 1977 sau tri nghim nhng ngày hc chính tr, mt lp hc kéo dài mười tám tháng v"Chủ nghĩa xã hi khoa hc" dành riêng cho các trí thức Min Nam t chc ti Thành phố H Chí Minh. T rt sm, giáo sư Phm Hoàng H đã phn đi cách đào to đưa thi gian hc chính tr quá nhiu vào chương trình. Ông cnh báo : "Nếu chính trị can d quá mnh, các nhà khoa hc s mt căn bn". [Huy Đức, Bên Thng Cuc]

Rồi phi chng kiến mt thiu s trí thc cũ xu thi, mau chóng hp tác toàn din vi chế đ mi, bt chp s liêm khiết, sn sàng cng hiến nhng công trình mnh danh khoa hc theo phong trào đ mng các ngày l hi 3/2 hay 19/5 như các bài báo chng minh "ăn my ký khoai mì b bng mt ký tht bò" hoc là "ăn bo bo nhiu dinh dưỡng hơn c go"... nhng công trình "gi khoa hc (pseudo-science)" y đã mau chóng tr thành giai thoại đy ma mai được lan truyn trong các tri tù ci to, nơi mà đám tù nhân Min Nam đang b thiếu ăn suy dinh dưỡng vi thc phm cung cp ch yếu là go hm "đi m" ca Trung Quốc cùng vi bo bo và khoai mì (ngoài bc gi là sn).

Giáo sư Phm Hoàng Hộ, cũng như s trí thc cũ khng khái ca Min Nam còn li, thy không th tiếp tc sng trong mt xã hi gi di và suy đi đến như thế, vic ông đi ti quyết đnh phi chm dt nhng năm "o vng" và lãng phí y, là điu không th tránh. Và rồi dpy đã ti, năm 1984 khi được chính ph Pháp mi sang làm giáo sư thnh ging, giáo sư Phm Hoàng H đã quyết đnh chn cuc sng lưu vong và li Pháp.

- Nghiên cứu giai đon bn : một giai đon mà giáo sư Phm Hoàng H gi là "vừa hiếm có va đau kh nht". Giáo sư H viết tiếp : "Đau khổ vì ri quê hương mà không hy vng tr li. Đau kh vì xa gia đình thân yêu, vĩnh bit m hin đã trn đi hy sinh cho các con. Đau kh vì thy đt nước thân yêu đang trong mt ni kh khôn lường, mt s nghèo khôn t, một s tuyt vng thương tâm".

Nhưng ri vi hùng tâm, ông cũng vượt lên trên s kh đau khôn lường y. Giáo sư H đã kiên nhn đm mình trong Vin Bo tàng Thiên nhiên Quc gia Paris, ct lc làm vic ròng rã sut sáu năm.

Vin Bo tàng Thiên nhiên Quc gia ở Paris (Muséum national d'Histoire naturelle - MNHN) thuộc h thng Đi hc Sorbonne, bên t ngn Sông Seine, được thành lp t thế k XVIII, thi kỳ Cách Mng Pháp.

Giáo sư Phm Hoàng H cho rng : "Hiếm có mt nhà Thc vt hc, nht là người Vit Nam, đã lục lo cây c nước nhà, li được li nghiên cu ti Vin Bo tàng Thiên nhiên Quc gia Pháp, cha mt tho tp phong phú vào bc nht thế gii, vi 8 ti 10 triu mu vt cây c. Ít nht cho Vit Nam, nó là kho tàng duy nht, vì cha hơn 10 ngàn loài thu được nước ta. Trong sáu năm làm vic Vin y, không mt ngày nào mà khi chiu ra v, dù tri đông âm u lnh lo, hay chiu hè vng v nóng khô, mà tôi không tht ra câu "Tht là mt ngày tuyt" vì đã biết thêm cho Vit Nam ít nht là mt loài hiếm, l hay mi !". Trong giai đoạn chót này, ông b túc thêm cho b Cây C được trên 3.000 loài. S loài mô t khong 10.500.

Tại Pháp khi gp li người hc trò cũ, nay đã là thành viên trong ban ging hun Đi hc Khoa hc Sài Gòn, cũng đang làm vic ti Viện Bảo tàng Thiên nhiên Quc gia Pháp, Phòng nghiên cu v Cá (Laboratoire d'Ichthyology), giáo sư Phm Hoàng H tâm s :

"Tôi ráng làm càng nhiều càng tt. B sưu tp ca Pháp rt di dào, đúng phương pháp khoa hc. Do được sưu tp t my mươi năm trước, các mu vt đã cũ, mình không làm gp e s hư hng thì ung quá... Nhiều người Trung Quc t đi lc và c t Đài Loan, Singapore đã đến tìm hc các b sưu tp thc vt Đông Dương ca Pháp. Tôi không biết h có ch trương gì đó không. Tài nguyên nước mình, mình phải biết. Mình không biết mà người ta biết thì người ta xài hết ca dân mình. Lãnh vc nào cũng vy riết ri người ta áp chế mình, ăn trên ngi trước còn mình cm đu dưới đt, tiếng là có đc lp mà còn thua hi thuc Pháp !".

mekong5

Viện Bảo tàng Thiên nhiên Quc gia Pháp, Paris nơi giáo sư Phm Hoàng H đơn đc làm vic ròng rã sut sáu năm đ hoàn tt b sách Cây C Vit Nam. [nguồn : Internet]

Sau khi hoàn tất b sách Cây Cỏ Vit Nam, giáo sư Phm Hoàng H đã bày t lòng tri ân sâu xa đi vi Viện Bảo tàng Thiên nhiên Quc gia Paris và các bn đng s Pháp, ông đã rt chân thành tâm s"thực hin nhng điu mà lúc nh dù điên rồ ti đâu tôi cũng không dám mơ ước : nô l ca mt thuc đa, hc mt trường thường, mt tnh nh, bao gi dám nghĩ đến to mt quyn sách dù nh bé, mê cây c xung quanh nhưng bao gi nghĩ đến biết cây c c nước !".

Người "trí thc đau kh" Phm Hoàng Hộ đã vươn lên và hoàn tt được "gic mơ điên r" tưởng như không th được y và tr thành cây "đi th" trong Khoa hc Thc vt ca Vit Nam và c thế gii.

Chút giai thoại văn học

Trong cuốBông Hồng T Ơn, khi viết v b sách ca giáo sư Phm Hoàng Hộ, nhà văn Nguyễn Đình Toàn nh li : "Các năm trước 1975, b sách ca giáo sư Phm Hoàng H còn mang tên là Cây Cỏ Min Nam. Cuộc chia ct đt nước đã gii hn tm mc ca cun sách. Thế nhưng công trình ca giáo sư Phm Hoàng H không phi ch được coi là quý đối vi các nhà chuyên môn v thc vt hc, mà theo nhà văn Võ Phiến có k li trong b sách Văn Hc Min Nam son tho ti hi ngoi sau 1975, thì đã có nhiu nhà văn, [trong s đó có Nguyn Đình Toàn] đã tìm đc cuCây Cỏ Min Nam để biết thêm v mt vài loại cây c quanh mình, đ khi cn, có th đưa vào tác phm". Giai thoi văn hc này có l, chính giáo sư Phm Hoàng H không h biết ti.

Sáng lập Viện Đại học Cần Thơ

Khoảng thp niên 1960, do s vn đng ca các nhân sĩ trí thc Cn Thơ, vi hai tên tuổi hàng đu là giáo sư Phm Hoàng H và bác sĩ Lê Văn Thun, Vin Đi hc Cn Thơ được phép thành lp vào ngày 31/03/1966 và cũng là Đi hc đu tiên ca vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Giáo sư Phm Hoàng H là Vin trưởng đu tiên ca Đi hc Cần Thơ t 1966 ti 1970.

Với uy tín ln v thành tích khoa hc và c v nhân cách, giáo sư Phm Hoàng H đã quy t được rt nhiu "cht xám" tinh hoa ca Min Nam thi by giờ. Ch riêng trong lãnh vc nông nghip, có th k ti s hp tác ca nhng tên tui như giáo sư Tôn Tht Trình, giáo sư Thái Công Tng, tiến sĩ Nguyn Viết Trương, tiến sĩ Trn Đăng Hng vi công lao bước đu đưa ging Lúa Thn Nông (HYV - High Yield Variety) vào Đồng bằng sông Cửu Long.

Rồi phi k ti mt đi ngũ ging hun đy kh năng khiến Đại học Cn Thơ mau chóng tr thành một trung tâm giáo dc và khoa hc có tm c, đáp ng nhu cu trí tu ca ca mt vùng châu th rng ln rt giàu ngun tài nguyên thiên nhiên nhưng chưa được khai thác. Đ có th thy được thành qu bước đu ca Vin Đi hc Cn Thơ, đó là các lp sinh viên đầu tiên trưởng thành và tt nghip 4 năm sau đó.

Giáo sư Đ Bá Khê [là thy dy tôi môn Vt lý năm PCB], trong "think tank" ca giáo sư Phm Hoàng H, cũng đến t Đi hc Khoa hc Sài Gòn, cách đây 50 năm, trong bài din văn "xut trường" ca Vin Đại học Cn Thơ, đã có mt tm nhìn rt xa v vai trò ca Vin Đại học này đi vi tương lai vùng Đng bng châu th :

"Ngày nay (19/12/1970) trong Thời đi Khoa hc k thut, các tnh Đồng bằng sông Cửu Long đang trông ch nơi ánh sáng soi đường ca Vin Đại học Cn Thơ ước mơ mt chân tri mi, tô đim bng nhng cành lúa vàng nng trĩu, nhng mnh vườn hoa qu on cây, dân cư thơ thi, mt cng đng trù phú trong mt xã hi công bng".

Giáo sư Đ Bá Khê cũng là người khai sinh ra h thng Đi hc Cng đng ti Miền Nam trước 1975, theo mô hình Community College Concept ca M, vi đin hình là Đi hc Cng đng Tin Giang thành lp năm 1971 ti M Tho, tiếp theo là Đại học Cộng đồng Duyên hi ti Nha Trang… Nhưng ri sau 1975, cùng chung s phn ca c mt h thng giáo dc tt đp Min Nam b sp đ, mô hình Đi hc Cng đng cũng đã hoàn toàn b chế đ mi làm cho biến th, và mt hết ý nghĩa tâm nguyn ban đu ca người khai sinh sáng lp.

mekong6

Tư liu Ngô Thế Vinh : thư tay ca giáo sư Đ Bá Khê viết t Thành ph Concord, California ngày 29/05/2002

Những năm v sau này, cho dù đã phi sng xa quê nhà, nhưng tm lòng giáo sư Đ Bá Khê vn c luôn đau đáu hướng v "tương lai Đồng bằng sông Cửu Long và vai trò ca Đại học Cn Thơ trong vic bo v và phát trin vùng này"

2. Giáo sư Nguyễn Duy Xuân, ngọn hài đăng trí tuệ Miền Tây, người bạn đồng hành

Đến năm 1970, bước đu xây dng được mt Đi hc Cn Thơ vng vàng, đ có th tr v Sài Gòn tiếp tc các công trình nghiên cu khoa hc và ging dy, giáo sư Phm Hoàng H chính thc mi giáo sư Nguyn Duy Xuân v thay ông, làm Vin trưởng th hai ca Viện Đại học Cn Thơ.

Giáo sư Nguyn Duy Xuân cũng là người Cn Thơ, sinh năm 1925, hơn giáo sư Phm Hoàng H 4 tui, tt nghip Tiến sĩ Kinh tế ti Đi hc Vanderbilt Hoa Kỳ, tr v Vit Nam 1963, giáo sư Lut. Nhn chc Vin trưởng t giáo sư Phm Hoàng H, giáo sư Nguyn Duy Xuân đã n lc phát trin Vin Đi hc Cn Thơ trên mi lãnh vc : t chương trình ging dy, đào to ban ging hun đến xây ct thêm ging đường, phòng thí nghim, thiết lp ký túc xá (như h thng campus) cho sinh viên đến t các tnh xa Min Tây.

Ông là người tiên phong thc hin giáo dc đi hc theo tín ch (credits) thay vì chng ch (certificate) như trước đây ; ging như mô hình h thng Đi hc Hoa Kỳ. Ông còn gi c mt đi ngũ ging viên tr đi du hc, đin hình như anh Trn Phước Đường đi Mỹ tt nghip tiến sĩ ti Đi hc Michigan, sau đó h tr v trường phc v ngành Sinh hc, giáo sư Trn Phước Đường sau này tr thành Vin trưởng Đi hc Cn Thơ t 1989 ti 1997.

Năm 1972, ông cũng đích thân mời nhà nông hc tr Võ Tòng Xuân khi y đang công tác ở Vin Nghiên cu Lúa go Quc tế Los Banos Philippines v trường ging dy. Sau này anh Võ Tòng Xuân k li, khi nhn được thư ca giáo sư Nguyn Duy Xuân : "Anh Nguyễn Duy Xuân nói Đồng bằng sông Cửu Long là cái va ca lúa go nên rt cn nhng nhà khoa hc v nông nghip. Chiến tranh ri có ngày hòa bình, đt nước s cn nhng người như tôi. Đó là mt trong nhng lý do tôi v công tác Đi hc Cn Thơ".

Tiến sĩ Võ Tòng Xuân sau này trở thành mt giáo sư Nông hc danh tiếng, tên tuổi anh Võ Tòng Xuân gn lin vi s tiếp ni phát trin cây Lúa Thn Nông "Doctor Rice",và sau đó anh là Vin trưởng Đi hc An Giang là Đi hc ln th hai ca Đồng bằng sông Cửu Long, sau Vin Đi hc Cn Thơ.

Chỉ trong vòng 9 năm [1966-1975] với công lao xây dng ca hai Vin trưởng tin nhim : giáo sư Phm Hoàng Hvà giáo sư Nguyn Duy Xuân, Viện Đại học Cn Thơ như mt Ngn hi đăng Min Tây, trở thành mt trung tâm đào to và nghiên cu khoa hc, đc bit bước đu ưu tiên phát trin hai lãnh vực Sư phm và Nông nghip, vng vàng sánh bước vi các Vin Đi hc lâu đi khác ca Min Nam, đóng góp cho s thăng tiến ca vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Từ ảo vọng tới thảm kịch

Chỉ my ngày trước biến c 30/4/1975, cũng như giáo sư Phm Hoàng H, giáo sư Nguyn Duy Xuân như mt trí thc dn thân, quyết đnh li và gia cnh du sôi la bng, ông vn can đm nhn chc Tng trưởng B Văn hóa Giáo dc cui cùng ca Vit Nam Cng Hòa. Gi chc v đó chưa đy mt tun l thì chính quyn Min Nam sp đ, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đu hàng.

Giáo sư Nguyễn Duy Xuân b đưa vào tri tù ci to, sau đó b đưa ra Bc, giam trong tri tù Hà-Nam-Ninh, hu như không có ngày v.

Vn theo anh Võ Tòng Xuân, năm 1983, trong mt ln ra Hà Ni d hp, anh Võ Tòng Xuân đã vô tri Ba Sao đ thăm lại v Vin trưởng ca mình khi còn Vin Đi hc Cn Thơ. Gp li đng nghip, giáo sư Nguyn Duy Xuân rt mng, và dù đang trong nghch cnh tù đy, ông vn đau đáu quan tâm hi han ti hin trng ca Đi hc Cn Thơ, nơi mà ông và giáo sư Phm Hoàng H đã dy công xây dựng.

Tôi, người viết bài này không th không t hi nếu không có 11 năm giam hãm đy đọa đc ác và vô ích ca nhng người cng sn thng cuc, nếu giáo sư Nguyn Duy Xuân, mt tiến sĩ kinh tế tài ba và giàu lòng yêu nước như ông vn tiếp tc li xây dựng Vin Đi hc Cn Thơ vi nhp đ 1966-1975, không biết Vin Đi hc Cn Thơ và Đồng bằng sông Cửu Long s phát trin và tiến xa ti đâu.

Năm 1983 là lần gp g đu tiên ca hai giáo sư cùng tên Xuân sau 1975 tri Ba Sao và cũng là ln cui cùng giáo sư Võ Tòng Xuân được gp li giáo sư Nguyễn Duy Xuân. Tiếp tc b đy i thêm 3 năm na, tng cng 11 năm, giáo sư Nguyn Duy Xuân đã chết trong tù ci to Hà-Nam-Ninh ngày 10/11/1986 trong đói khát và bnh tt không thuc men. Xác ca ông được vùi nông trong nghĩa đa tù ci to trên triền núi phía sau tri tù Ba Sao.

mekong7

Trại tù Ba Sao Hà-Nam-Ninh, Min Bc Vit Nam, nơi trin núi phía sau tri tù là nghĩa đa chôn vùi xác rt nhiu tù nhân ci to có gc t Min Nam sau 1975, thân xác giáo sư Nguyn Duy Xuân được vùi nông trong nghĩa đa tri tù Ba Sao này.

Phải mãi đến tháng 4 năm 2015, gn 30 năm sau, di ct ca giáo sư Nguyn Duy Xuân, mi được người con gái là bà Nguyn Th Nguyt Nga t Pháp v bc mộ, đưa t nghĩa đa tri tù Ba Sao Hà-Nam-Ninh v Chùa Thiên Hưng, qun Bình Thạnh Sài Gòn đ lưu gi ti đây. Trong bui l cu siêu, ngoài các thành viên ca gia đình c Vin trưởng Nguyn Duy Xuân, còn có mt s cu ging hun và các cu sinh viên tt nghip Đi hc Cn Thơ trước 1975 như giáo sư Võ Tòng Xuân, tiến sĩ Nguyn Tăng Tôn (cu sinh viên), tiến sĩ Nguyễn Văn Mn (cu sinh viên), kỹ sư Minh (cu sinh viên), ông Hòa (nhân viên hành chánh), đến tham d bui l.

mekong8

Từ trái, giáo sư Võ Tòng Xuân, bà Nguyn Th Nguyt Nga con gái giáo sư Nguyn Duy Xuân, ôm bình tro ct ca cha, bn trai Alan và mt thân hu [ngun : Võ Tòng Xuân]

Viện Đại học Cần Thơ sau 1975

Thay thế giáo sư Vin trưởng Nguyễn Duy Xuân là ông Phạm Sơn Khai, gc Min Nam tp kết, đng viên cng sn vi hc v"Chuyên ngành Lịch s Đng". Ông Khai được đ c gi chc Vin trưởng và lãnh đo Đi hc Cn Thơ trong sut 13 năm t 1976 ti 1989.

Kể t sau 1975, chính quyn mi với chủ trương mnền giáo dc "hng hơn chuyên" nên học trình ca Đi hc Cn Thơ, cũng như toàn h thng các Đi hc Min Nam đã có thêm môn hc chính tr cưỡng bách "Chủ nghĩa Mác Lê và Tư tưởng H Chí Minh". Một môn hc mà "thy không mun dy, trò không muốn hc" nhưng vn c được duy trì cho đến ngày hôm nay.

mekong9

Những Hiu trưởng Vin Đi hc Cn Thơ t ngày thành lp ti nay : t trái, 1. Giáo sư Phm Hoàng H, 1966-1970 ; 2. Giáo sư Nguyễn Duy Xuân, 1970-1975 ; 3. Ông Phm Sơn Khai, 1976-1989 ; 4. Giáo sư Trn Phước Đường, 1989-1997 ; 5. Tiến sĩ Trn Thượng Tun, 1997-2002 ; 6. Tiến sĩ Lê Quang Minh, 2002-2006 ; 7. Giáo sư Nguyn Anh Tun, 2007-2012 ; 8. Tiến sĩ Hà Thanh Toàn, 2013 đến nay. [ngun : tư liu Lê Anh Tuấn]

Ngót na thế k45 năm sau ngày thống nht đt nước, trên toàn cõi Vit Nam vn chưa có được mt nn "t tr đi hc". Quá sớm đ nói ti dân ch hóa đt nước, khi mà các Đại học như nhng "think tank" vẫn còn b chi phi lãnh đo bi nhng Chi b Đng cng sn.

mekong10

Giáo sư Võ Tòng Xuân mời giáo sư Phm Hoàng H tham gia chuyến kho sát Đng Tháp Mười của Đi hc Cn Thơ, tháng 3/1981. T trái, Tiến sĩ Trn Thượng Tun, Tiến sĩ Nguyn Th Thu Cúc (b che), Thạc sĩ Đ Thanh Ren, Giáo sư Võ Tòng Xuân, Giáo sư Trn Phước Đường, mt cán b Phân vin Qui hoch, Giáo sư Phm Hoàng H, mt cán b tnh Đng Tháp. [ngun : tư liu Võ Tòng Xuân]

Qua một email, anh Võ Tòng Xuân k li : "Tôi nh mãi giáo sư H trong chuyến đi đó, ông rt k v vn đ ăn ung, đem theo đ ăn và bình ton đng nước ung riêng".

3. Giáo sư Phạm Hoàng Hộ sinh nhật 80

Tháng 7 năm 2009, một s môn sinh đã t chc ti Montréal mt lễ mng sinh nht 80 tui ca giáo sư Phm Hoàng H, cùng vi mt bc tượng được đem ti tng thầy vi phát biu đy xúc đng ca mt môn sinh : "Bức tượng không phi ch là hình nh ca mt giáo sư Thc Vt đáng kính mà còn là biu tượng ca người trí thc Miền Nam, đã hiến trn đi mình cho khoa hc, hết sc khiêm tn so vi tài năng ca mình và nht là hết lòng yêu quê hương đt nước".

mekong11

Giáo sư Phạm Hoàng H bên bc tượng bán thân do mt điêu khc gia người Canada là bác sĩ Megerditch Tarakdjian thc hin nhân dp sinh nht th 80 do mt s môn sinh t chc ti Montréal, Canada.

Cũng rất ý nghĩa, trong bui hp sinh nht y, bác sĩ Tăng Quang Kit đã đc li chúc ca giáo sư Phùng Trung Ngân, đnh cư ti California, người sáng lp ra B môn Sinh môi hc (Ecology Department) cũng là Khoa trưởng Đại học Khoa Hc Saigon t 1973-1975, là bn đng môn và cùng tui vi giáo sư Phm Hoàng H :

"Anh Hộ thân mến, tôi thành thật cám ơn Anh Ch và gia đình đã cho phép tôi gi bài phát biu trong bui l long trng này. Vi 80 tui đi, Anh đã đóng góp mt công trình đ s v Cây C Vit Nam đng thi vi vic hướng dn sinh viên yêu Thc vt và Thiên nhiên Vit Nam.

Là người cộng tác gần gũi vi Anh trong công tác giáo dc sinh vt cho lp tr Việt Nam tôi đã thy s tn ty vi ngh nghip ca Anh và lòng hăng say nghiên cu ca Anh. Kết qu là công trình nghiên cu vĩ đi v Cây C Nam Vit Nam và nht là công trình b sung đy đ Cây cỏ toàn b Việt Nam vi các mu cây quý báu đang b b quên trong Vin Tho Tp Paris.

Trước năm 1975 Anh và tôi thường dn sinh viên đi thc tp Lâm Đng-Đà Lt, cho các em leo lên đnh Lâm Viên, mt trong nhng ngn núi cao khong 2000m min Nam, chúng ta thường ước mong khi hòa bình tr li s cùng nhau ra min Bc kho sát Cây c Đnh Fan Xi Pan cao hơn 3000m Hoàng Liên Sơn. Rt tiếc đến ngày hôm nay ước mong ca chúng ta chc không bao gi thc hin được. Tuy nhiên Anh đã t mình tiếp xúc vi đnh Fan Xi Pan qua các mẫu cây còn lưu tr ti Vin tho Tp Paris và cũng t đó hình thành b công trình Cây Cỏ Vit Nam cho Khoa học.

Tôi rt may mn là cng tác viên thân cn ca Anh trong nhiu năm nên đã hc được tính chu đáo trong nghiên cu, s tn ty trong ging dy và lòng say mê nghiên cu Thiên nhiên Vit Nam".

Di chúc Giữ xanh Đất Mẹ

Trong Quyển cui cùng ca b sách Cây Cỏ Vit Nam [Quyển III, Tp 2] xut bn ti Montréal 1993, ch vi hai trang Thay lời ta, giáo sư Phạm Hoàng H đã đ li mt Thông đip, cũng có th coi như mt Di chúc cho Vit Nam.

"Thực-vt-chúng Vit Nam có l gm vào 12.000 loài. Đó là ch k các cây có mạch, nghĩa là không k các Rong, Rêu, Nm.

Đó là một trong nhng thc-vt-chúng phong phú nht thế gii. S phong phú y là mt dim phúc cho dân tc Vit Nam. Vì như tôi đã viết t 1968, Hin hoa là ân nhân vô giá ca loài người. Hin hoa cho ta ngun thức ăn căn bn hàng ngày ; Hin hoa cung cp cho ta, nht là người Vit Nam, nơi sinh sng an khang. Biết bao cuc tình duyên êm đp khi đu bng mt miếng Tru, mt miếng Cau. Bao nhiêu chúng ta đã không chào đi bng mt mnh Tre đ ct rún, ri nhao ? Lúc đầy ngun sng lúc nhàn ri, chính Hin hoa cung cp cho loài người thc ung ngon lành đ say sưa cùng vũ tr. Lúc m đau, cũng chính cây c giúp cho ta dược tho hiu linh.

Các điều y rt đúng hơn vi chúng ta, người Vit Nam mà rt nhiu nơi còn sống với mt nn văn minh da trên thc vt.

Nhưng ân nhân ca chúng ta y đang b him họa biến mt, vì rng nước ta đã lùi dưới mc đ an toàn, đt màu m b soi mòn mt mt din tích ln, và cnh sa mc đang bành trướng mau l. Đã đến lúc theo nhc ca một bài ca, ta có th hát :

"Thn dân nghe chăng ? Sơn hà nguy biến. Rng dày nào còn, Xoi mòn đang tiến... Đâu còn muôn cây làm êm m núi sông". 

[Ghi chú của người viết : bài ca Hi ngh Diên Hng, nhc ca Lưu Hu Phước, li : Huỳnh Văn Ting - Mai Văn B - u Hu Phước].

Kho tàng thực vt y chúng ta có phn s bo tn. S bo tn và phc hi thiên nhiên nước ta rt là cp bách. Nó có th thc hin, vì mi người ca chúng ta, dù ln dù nh đu có th góp phn vào s bo tn y. Bng nhng c ch nh nht hàng ngày, sự đóng góp ca chúng ta quan trng không kém.

Không quăng bậy mt tia la, mt tàn thuc, là ta góp phn tránh nn cháy rng. Không đn by mt cây, là ta bo v Thiên nhiên ca ta. Trng cây là phn s ca chính quyn hay ca các Công ty gy rng. Nhưng quanh nhà chúng ta, chúng ta có th tìm trng mt cây l, đc bit, hiếm ca vùng hay ch Vit Nam.

Dân ta yêu cây hoa-king, nhưng các nhà nhàn ri có th trng cây l, đc bit, cũng là mt thú không kém hay đp. Các th xã nên có mt công viên hay vườn bách tho, không ln thì nh đ khoe các cây hay ca vùng, không bt buc là cây hu ích hay đp. Cây Dó đâu có gì l ? Nhưng nó là nim t hào cho dân tc vì t Hng Bàng, dân ta đã biết ly trm t nó. C ngàn loài cây khác ch Vit Nam mà thôi ! Các cây này có thể trng như cây che bóng mát da l. Các làng, các qun, các tnh nên to phong trào trng nhiu loài lý thú như vy. Ta không cn đi các lâm vin, khu d tr đ bo v tài nguyên quý báu cho thế h sau, mà ta cũng có th chính mình góp phần vào s bo v y. Trng các cây l, đc bit y còn là mt yếu t quến [ch giáo sư Phm Hoàng H theo cái nghĩa quyến rũ] du khách quan trng : Lan Thủy tiên hường Dendrobium amabile ca ta, ch mt Vườn Bách tho ngoi quc trng được và h t hào đến đi đã ghi trong "Sách ghi quán quân thế gii 1988".

Hàng năm ta có thể tuyên dương nhà nào đã trng cây hay, l. Tt nhiên là công vi nước nhà mi trông không bng nhng ai đã đem Rhizobium vào đ tăng năng xut đu nành, đã trng được cây Dó tạo trm, đã du nhp lúa Thn nông hay Nho. Nhưng nếu c ngàn người, c triu người đóng góp cho non nước nhng "nh-nhen" [ch giáo sư Phm Hoàng H theo cái nghĩa nh nht], c triu cái nh-nhen chc chn tr nên mt khi đ s.

Đóng góp lớn, tôi vn cho là việc khó. Tôi quý các đóng góp nh, hng ngày mà ai cũng làm được. Nó hay hơn. K sĩ, theo tôi không phi ch là nhng k đã làm được nhng chuyn ln. Đóng góp nhng chuyn nh hàng ngày cũng là hành đng ca mt k sĩ, k sĩ vô danh. K sĩ vô danh cao quý không kém. Với nhng đóng góp nh y, chc chn bn không làm bun lòng cho T Quc và không thn vi Non Sông. 

[lược dn Thay Li Ta, bộ sách Cây Cỏ Vi