Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Các quốc gia Đông Nam Á có cơ hội hiếm có để tận dụng tuyên bố của Bắc Kinh về sự phụ thuộc lẫn nhau trong việc giải quyết các vấn đề cấp bách, chẳng hạn như sáng kiến "Vành đai và Con đường" và Biển Đông.

asean1

Thủ tướng Trung Quốc Li Keqiang đã nói chuyện với các nhà lãnh đạo ASEAN Plus Three trong một hội nghị thượng đỉnh ảo ngày 14/4/2020. Ảnh màn hình này được lấy từ một video do đài truyền hình quốc gia Việt Nam VTV cung cấp, qua AP

Đầu tháng 3/2020, khi đại dịch Covid-19 buộc các chính phủ trên toàn thế giới phải đóng cửa biên giới và tạm dừng hoạt động kinh tế, tờ Thời báo Hoàn Cầu của Trung Quốc đưa tin rằng Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã vượt qua Liên Hiệp Châu Âu (EU) để trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc. Theo tờ báo này, kim ngạch thương mại gia tăng là minh chứng cho "chuỗi cung ứng không thể phá vỡ với Trung Quốc" và các liên kết mạnh mẽ của nước này với các nền kinh tế Đông Nam Á.

Ở một mức độ nào đó, tin tức như vậy không có gì bất ngờ. Năm 2019, 10 nền kinh tế Đông Nam Á hình thành nên khối ASEAN nằm trong số những bên hưởng lợi từ cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung đang diễn ra, khi nhiều công ty nước ngoài từ Trung Quốc đã dời tới khu vực này. Tuy nhiên, giọng điệu hân hoan của tờ Thời báo Hoàn Cầu khi đưa tin về sự kết nối vững vàng giữa Trung Quốc và ASEAN cho thấy một đề xuất hợp lý khác : Trong bối cảnh bất ổn địa chính trị hiện nay và những dự đoán về khả năng chia tách giữa Trung Quốc và Mỹ trên toàn cầu, phải chăng lời kêu gọi phụ thuộc lẫn nhau của Bắc Kinh chỉ có thể thực hiện được khi các nước Đông Nam Á sẵn sàng tham gia ? Nói cách khác, tại thời điểm hiện tại, và với sự phản ứng ngày càng dữ dội của cộng đồng quốc tế chống lại Bắc Kinh, phải chăng Trung Quốc cần các quốc gia Đông Nam Á không chỉ với tư cách đối tác kinh tế mà còn là bên duy nhất ủng hộ tầm nhìn của Trung Quốc về hợp tác xây dựng cộng đồng chung vận mệnh ?

Những câu hỏi như vậy chắc chắn mở ra một kịch bản đáng chú ý, khác với những tính toán thông thường về toàn cầu hóa và các liên minh chính trị. Trong một thế giới với những câu chuyện địa chính trị đao to búa lớn, các quốc gia Đông Nam Á thường chỉ đóng một vai trò tương đối khiêm tốn. Cùng lắm thì họ chỉ được coi là khéo léo cân bằng giữa Trung Quốc và Mỹ, hoặc ngả sang một trong hai siêu cường này. Đông Nam Á chắc chắn không phải là một mục tiêu cân nhắc lớn đối với Chính phủ Trung Quốc vào đầu năm 2020. Đối với Trung Quốc, 2020 dự kiến sẽ là năm của những mối quan hệ hợp tác lớn, đặc biệt là với các nước thành viên EU. Bắc Kinh đã đạt nhiều bước tiến theo hướng này trong năm 2019 bằng cách ký một thỏa thuận với Ý trong khuôn khổ sáng kiến "Vành đai và Con đường" ; tiếp tục can dự với các nước Đông và Trung Âu ; và thay đổi một cách nhanh chóng và dễ dàng liên minh "16+1" ban đầu thành "17+1" với việc kết nạp thêm Hy Lạp. Ngoài ra, một cuộc họp cấp cao đặc biệt chưa từng có dự kiến sẽ được tổ chức tại Đức vào tháng 9/2020. Nhiều phương án hợp tác dường như đều khả thi, thậm chí cả với Mỹ. Đáng chú ý nhất là bất chấp các căng thẳng thương mại trong suốt năm 2019, hai chính phủ đã ký thỏa thuận thương mại giai đoạn I vào đầu tháng 1/2020.

Tuy nhiên, vào tháng 6/2020, tất cả những điều này đã là quá khứ xa vời với những dấu hiệu cho thấy sự thay đổi cơ bản tiềm năng trong nhận thức của thế giới hậu đại dịch. Mặc dù chỉ vài tháng trước, một thế giới kết nối với nhau được cho là lẽ đương nhiên, nhưng giờ đây chính ý tưởng này lại bị hoài nghi. Nói cách khác, ngoài các tác động tai hại về xã hội, kinh tế và chính trị, đại dịch Covid-19 còn làm đảo lộn các câu chuyện về sự phụ thuộc lẫn nhau và vũ khí hóa các lập luận chống kết nối và toàn cầu hóa. Bên cạnh đó, ngoài các viễn cảnh về sự tách rời giữa Mỹ và Trung Quốc, nay càng trở nên trầm trọng hơn do đại dịch, còn có ngày càng nhiều lời kêu gọi chấm dứt phụ thuộc vào các chuỗi cung ứng toàn cầu do Trung Quốc chi phối cũng như kêu gọi thảo luận về sự tự lực. Vào thời điểm bài này được viết, mọi dấu hiệu cộng tác tiềm năng với Mỹ đều đã tan biến, và khi cuộc bầu cử tổng thống Mỹ đang tới gần, nhiều người dự đoán giọng điệu của Washington sẽ còn gây hấn hơn nữa. Mối quan hệ đối tác giữa Trung Quốc và các nước thành viên EU cũng có viễn cảnh u ám không kém : Các cuộc đàm phán với Đức dự kiến vẫn diễn ra vào tháng 9, nhưng có nhiều bình luận cho rằng giọng điệu và trọng tâm đàm phán đã có phần thay đổi. Cho dù Chính phủ Trung Quốc đã bày tỏ thiện chí khi điều động các đội ngũ y tế và cung cấp viện trợ cho các nước châu Âu bị dịch bệnh tác động mạnh trong suốt tháng 3 và tháng 4, nhưng chính phủ các nước EU vẫn chưa vượt qua được sự nghi ngờ đối với chính sách "ngoại giao y tế" của Bắc Kinh. Ngay cả trong liên minh "17+1" cũng tồn tại những rạn nứt. Và thậm chí theo lời của chính các chuyên gia hàng đầu Trung Quốc, trên hết, việc Bắc Kinh cho phép các nhà ngoại giao "chiến lang" đứng lên bảo vệ phản ứng ban đầu của Chính phủ Trung Quốc trước đại dịch và tán dương những ưu điểm của hệ thống chính trị Trung Quốc phần lớn là phản tác dụng.

Tuy nhiên, có lẽ tín hiệu mạnh mẽ nhất cho thấy sự chuyển hướng cán cân giữa các liên minh và quan hệ đối tác xuất phát từ phản ứng ban đầu với dịch Covid-19. Ngược lại với Mỹ và EU, các nước Đông Nam Á đã nhanh chóng phối hợp với Trung Quốc ngay từ khi cuộc khủng hoảng Covid-19 mới bùng phát, nhanh chóng tổ chức Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc-ASEAN vào tháng 2. Tinh thần đoàn kết và phản ứng chung trong khủng hoảng không chỉ dừng ở đó. Trong những ngày đầu khi dịch bệnh bắt đầu lây lan, mặc dù thái độ bài Trung Quốc đang sục sôi trên toàn thế giới, nhưng các nước Đông Nam Á đã tiếp nhận tin tức từ Vũ Hán với sự đồng cảm, tinh thần đoàn kết và sự ủng hộ không gì lay chuyển được. Malaysia, Philippines, Việt Nam, Indonesia, Thái Lan và Singapore đều quyên tặng Trung Quốc nhiều loại trang thiết bị y tế. Một nghệ sĩ Thái Lan thậm chí đã sáng tác một bài hát thể hiện tình đoàn kết với Vũ Hán. Để đáp lại, ngay khi virus bắt đầu lan ra ngoài biên giới, Trung Quốc đã gửi viện trợ y tế và cử các chuyên gia y tế tới khu vực Đông Nam Á. Sự phối hợp giữa Trung Quốc và ASEAN ở nhiều cấp độ đã cho thấy cả sự cần thiết lẫn lợi ích của việc phụ thuộc lẫn nhau và sự hợp tác trong thời kỳ khủng hoảng. Ngoài ra, chúng cũng thể hiện sự tương phản rõ rệt với các phản ứng ban đầu của các khu vực còn lại trên thế giới, đáng chú ý nhất là việc EU không hỗ trợ Ýngay sau khi cuộc khủng hoảng bùng phát mạnh vào đầu tháng 3.

Điều này ảnh hưởng ra sao đến tầm nhìn của Bắc Kinh về toàn cầu hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau ? Một mặt là những viễn cảnh rời rạc về việc đẩy mạnh can dự với các nước đối tác châu Âu chủ chốt, sự thù địch với Mỹ và các thông lệ ngoại giao đáng ngờ. Mặt khác và trái ngược hoàn toàn là các quan hệ kinh tế mạnh mẽ, sự hợp tác chặt chẽ và đoàn kết với các nước ASEAN nhằm ứng phó với đại dịch Covid-19. Chính trong bối cảnh này nảy sinh một vấn đề hoàn toàn không thể ngờ tới : Đối với Bắc Kinh, việc hiện thực hóa tầm nhìn về sự phụ thuộc lẫn nhau rất có thể đòi hỏi Trung Quốc phải thể hiện sự thống nhất và đoàn kết với các nước Đông Nam Á với tư cách là đối tác chủ chốt trong khu vực cũng như trên toàn cầu. Trái lại, đối với Đông Nam Á, điều này mang lại cơ hội có một không hai để tiếp nhận tầm nhìn của Trung Quốc về một thế giới toàn cầu hóa theo đúng nghĩa đen. Nói cách khác, các quốc gia Đông Nam Á có một cơ hội hiếm có để tận dụng tuyên bố của Bắc Kinh về sự phụ thuộc lẫn nhau và chủ nghĩa đa phương trong việc giải quyết các vấn đề cấp bách, chẳng hạn như sáng kiến "Vành đai và Con đường" vàBiển Đông. Dưới đây là một số cân nhắc ban đầu về cả hai vấn đề.

Sáng kiến "Vành đai và Con đường"

Sự phụ thuộc lẫn nhau có thể là chìa khóa cho tính khả thi của BRI trong tương lai. Với đại dịch Covid-19, có nhiều tiếng nói hoài nghi về tính bền vững của sáng kiến chủ đạo này của Trung Quốc. Ngoài việc chấm dứt các hoạt động kinh tế trên toàn cầu, nhiều dự án cơ sở hạ tầng trong khuôn khổ BRI đã bị ảnh hưởng trực tiếp do thiếu nguồn nhân lực sau khi các biên giới bị đóng cửa.

Ở Đông Nam Á, có rất ít thông tin về các dự án cơ sở hạ tầng đang diễn ra cho dù có nhiều can dự, số liệu năm 2018 cho thấy tổng số vốn đầu tư thông qua BRI vào khu vực này vượt quá 740 tỷ USD. Hiện tại, dựa trên nghiên cứu của các nguồn tin tức truyền thông Trung Quốc và khu vực, chỉ 13 dự án đã được xác định là đang hoạt động. Chiếm một phần rất nhỏ trong tổng số các dự án đầu tư vào khu vực, đây là những dự án duy nhất cho thấy khả năng thực hiện, tạm hoãn và gia hạn tiến độ hoàn thành ở nhiều cấp độ khác nhau.

Chắc chắn các dự án cơ sở hạ tầng trong khuôn khổ BRI không phải là những dự án duy nhất bị ảnh hưởng do dịch Covid-19, và việc đình chỉ cũng như tạm hoãn có thể là kết quả của nhiều thách thức. Tuy nhiên, ít nhất một vấn đề có liên quan đến tình trạng nan giải hiện nay đã cho thấy một cơ hội chưa từng có : Trên tinh thần hợp tác, và tận dụng tình hình biên giới đóng cửa cũng như sự án binh bất động do cách ly, các nước Đông Nam Á có thể đàm phán lại việc tuyển dụng nhân lực địa phương tại các địa điểm xây dựng dự án BRI. Tình cờ thay, những lợi ích mà đề xuất này mang lại có thể không chỉ gói gọn trong việc đáp ứng nhu cầu cấp thiết là khôi phục và duy trì hoạt động của các dự án. Trước khi đại dịch Covid-19 bùng phát, các dự án cơ sở hạ tầng BRI đã nhiều lần bị chỉ trích vì sử dụng gần như hoàn toàn công nhân Trung Quốc. Trên thực địa, điều này thường được hiểu là gần như không hoặc hoàn toàn không có cơ hội tuyển dụng nhân viên địa phương và không có khả năng có sự tham gia của công nhân địa phương trong các khía cạnh vận hành và kỹ thuật của các dự án. Do đó, việc xây dựng năng lực địa phương hoặc sự phối hợp trên nhiều phương diện giữa nhân sự của dự án và các cộng đồng địa phương sẽ gặp nhiều hạn chế. Trong bối cảnh rộng lớn hơn, hiện tượng này cũng cho thấy sự thất bại trong việc thực hiện các mục tiêu bao trùm của sáng kiến BRI, cụ thể là mục tiêu xây dựng "cộng đồng chung vận mệnh" vốn được quảng bá rộng rãi, các kịch bản "đôi bên cùng có lợi" và kết nối nhân dân.

Việc đàm phán lại về sự tham gia của nước sở tại có thể có nhiều lợi thế bên cạnh việc ngăn chặn các thiệt hại kinh tế xuất phát từ tình trạng phong tỏa hiện nay. Tăng thêm số lao động địa phương sẽ là một phương thức hữu ích nhằm tăng cường sự tham gia của nước sở tại. Quan trọng không kém, điều này cũng sẽ biến những khẩu hiệu tuyên truyền về sự phụ thuộc lẫn nhau thành một chiến lược có thể thực hiện được.

Biển Đông

Kể từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát, Trung Quốc đã tham gia nhiều sáng kiến để thể hiện cam kết của mình với tiến trình toàn cầu hóa, sự phụ thuộc lẫn nhau và chủ nghĩa đa phương. Nổi bật nhất trong số này là sự hỗ trợ y tế trên toàn thế giới và sự ủng hộ không mệt mỏi của nước này đối với WHO. Tuy vậy, các tranh chấp trên Biển Đông là một ngoại lệ lớn trong nghị trình toàn cầu hóa của Trung Quốc.

Các tuyên bố chủ quyền và sự kiên trì của Bắc Kinh trong việc khẳng định các đặc quyền trong "đường 9 đoạn" ở gần như toàn bộ Biển Đông một lần nữa đã gây căng thẳng trong khu vực và cũng dẫn đến sự hiện diện gia tăng của Hải quân Mỹ. Trung Quốc cũng đã làm suy yếu thẩm quyền và uy tín của các tòa trọng tài quốc tế sau vụ tai tiếng bác bỏ phán quyết mang tính bước ngoặt theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 2016 ủng hộ Philippines và chống lại Trung Quốc. Chắc chắn, bản thân "đường 9 đoạn" là yếu tố gây rắc rối vì nó đi qua những khu vực thuộc đặc quyền của Philippines, Việt Nam, Malaysia, Brunei Darussalam và Indonesia (quần đảo Natuna). Và vì Trung Quốc không phải là bên duy nhất đưa ra các tuyên bố chủ quyền gây tranh cãi trong khu vực, tuyên bố gần đây nhất của Chính phủ Trung Quốc về việc đặt tên 25 đảo và bãi đá cũng như 55 thực thể địa lý dưới đáy biển ở Biển Đông là động thái mới nhất trong một loạt can dự trên biển gây tranh cãi tại khu vực trong nhiều năm qua.

Tuy nhiên, có nhiều dấu hiệu cho thấy Bắc Kinh hoàn toàn nhận thức được rằng cần phải phát triển sự hiểu biết chung với các nước láng giềng về vấn đề Biển Đông. Chẳng hạn, một trong những nỗ lực gần đây nhất nhằm thể hiện sự đoàn kết là việc Đại sứ quán Trung Quốc phát hành bài hát nổi tiếng "Một đại dương" tại Philippines. Bài hát nhằm tôn vinh sự đoàn kết giữa những người Philippines và người Trung Quốc trên tuyến đầu ứng phó với cuộc khủng hoảng Covid-19. Những lời ca như "nhờ có tình yêu dạt dào như con sóng, tay trong tay, chúng ta cùng hướng đến một tương lai tươi sáng, bạn và tôi trên cùng một đại dương" hàm ý nhắc đến sự phụ thuộc lẫn nhau và tình đoàn kết giữa hai nước. Tuy nhiên, chiến lược này đã phản tác dụng. Cư dân mạng đã kịch liệt chỉ trích bài hát này vì cho rằng đó là một nỗ lực tuyên truyền ; nhiều người nghi ngờ ý nghĩa và ý đồ đằng sau lời ca và ý tưởng về "một đại dương". Thái độ của cộng đồng mạng chắc chắn khó có thể được nêu ra tại các cuộc họp chính thức, chẳng hạn như các cuộc đàm phán về quy tắc ứng xử ở Biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc vốn đã bị hoãn lại. Tuy nhiên, với những người quan tâm, những lời chỉ trích về bài hát trên rõ ràng cho thấy giới hạn của ngôn từ đầy ẩn ý của Trung Quốc về sự tương đồng và thống nhất.

Cuối cùng, vụ việc bài hát "Một đại dương" cũng cho thấy rằng việc tìm kiếm tiếng nói chung chính là trọng tâm của bất kỳ cuộc đàm phán nào về Biển Đông. Đặc biệt, mặc dù cả ngôn ngữ trong các văn kiện luật quốc tế (nghị quyết của UNCLOS năm 2016) lẫn hành động tuyên truyền văn hóa (bài hát "Một đại dương") đều bị coi là không thể chấp nhận được, nhưng các tuyên bố tuân thủ các quan niệm và chuẩn mực chung có thể trở thành nền tảng cho cách đánh giá và cách hiểu khác về một không gian hàng hải chung. Chẳng hạn, việc Trung Quốc phản đối nghị quyết của UNCLOS năm 2016 có thể bị các nước khác lợi dụng như là một dấu hiệu để đưa ra những lời lẽ và tuyên bố tương tự về "quyền lịch sử" và truyền thống – đặc biệt là bằng cách tạo dựng các câu chuyện về kết nối trên biển và thể hiện sự hiện diện quan trọng từ trong lịch sử của nhiều cộng đồng địa phương trong khu vực. Chẳng hạn, Bắc Kinh đã nhiệt liệt tán thành chiến lược Trục hàng hải toàn cầu của Indonesia và thậm chí còn tìm cách liên kết với BRI.

Kết luận

Dưới sức ép địa chính trị và kinh tế vốn đã trở nên trầm trọng thêm do đại dịch Covid-19, các nước ở Đông Nam Á hiện có một cơ hội chưa từng có để tích cực định hình mối quan hệ mới với Trung Quốc, không phải dựa trên sự phụ thuộc mà thay vào đó là tận dụng các tuyên bố về sự phụ thuộc lẫn nhau mà Trung Quốc đề xuất. Việc can dự với Trung Quốc theo các điều khoản bình đẳng chắc chắn không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Dù vậy, khi Bắc Kinh vươn mình trở thành nước đi đầu ủng hộ chủ nghĩa đa phương trong thế giới hậu Covid-19, những thước đo và quy tắc về sự phụ thuộc lẫn nhau không chỉ do mình Trung Quốc quyết định. Khả năng của Bắc Kinh trong việc can dự với các đối tác khu vực có thể đóng vai trò là phép thử cho các khả năng và giới hạn của tầm nhìn "xây dựng cộng đồng chung vận mệnh" vốn được quảng bá rộng rãi. Vì một tầm nhìn như vậy chỉ khả thi khi các nước khác sẵn sàng tán thành và thực hiện nó./.

Marina Kaneti

Nguyên tác : ASEAN Must Make the Best of Its New Centrality in China’s Diplomacy, The Diplomat, 04/06/2020

Hồng Quyên giới thiệu

Nguồn : Nghiên cứu Biển Đông, 06/07/2020

Marina Kaneti, phó giáo sư trường Chính sách công Lý Quang Diệu, đại học Quốc gia Singapore. Bài viết được đang tải trên The Diplomat .

Published in Diễn đàn

ASEAN "rắn mặt" với Trung Quốc – Mỹ đồng tình ủng hộ

Hoàng Lan, Thoibao.de, 01/07/2020

Một ngày sau Tuyên bố "Tầm nhìn về ASEAN gắn kết và chủ động thích ứng" được các lãnh đạo ASEAN thông qua tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 36 ngày 26/6, Hoa Kỳ là trong những cường quốc đầu tiên đã lên tiếng hoan nghênh lập trường của các nước Đông Nam Á về Biển Đông.

asean1

Cuộc họp Thượng đỉnh khối ASEAN lần thứ 36 qua cầu truyền hình, Hà Nội, ngày 26/6/2020

Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo viết trên Twitter ngày 27/6 : "Mỹ hoan nghênh sự kiên định của các nhà lãnh đạo ASEAN về việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông theo luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982. Trung Quốc không được phép coi Biển Đông là đế chế hàng hải của mình. Chúng tôi sẽ sớm thảo luận thêm về chủ đề này".

Điểm đáng chú ý là trong thông điệp của mình, ông Pompeo đã đính kèm bản Tuyên bố của các lãnh đạo ASEAN mang tên "Tầm nhìn về ASEAN gắn kết và chủ động thích ứng : Vượt lên các thách thức và duy trì tăng trưởng", đã được thông qua nhân Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 36.

Các lãnh đạo ASEAN đã nhất trí tái khẳng định Công ước UNCLOS năm 1982 là cơ sở cho việc xác định các quyền trên biển, là khuôn khổ pháp lý cho tất cả các hoạt động trên biển và đại dương. Tuyên bố chung của Thượng đỉnh ASEAN, do nước chủ nhà Việt Nam, chủ tịch luân phiên của khối, chủ trì soạn thảo, khẳng định các lãnh đạo ASEAN "nhấn mạnh tầm quan trọng của thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), sớm xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu quả và thực chất, phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982.

Lo ngại về việc cải tạo các đảo, những diễn biến gần đây và những sự cố nghiêm trọng xảy ra gần đây tại Biển Đông, làm xói mòn lòng tin, gia tăng căng thẳng và có thể làm suy yếu hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực, các lãnh đạo khẳng định sự cần thiết phải tăng cường lòng tin và sự tin cậy lẫn nhau, tự kiềm chế trong các hoạt động và tránh các hành động có thể làm phức tạp thêm tình hình và giải quyết hòa bình các tranh chấp phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS 1982".

asean01

Ảnh chụp màn hình đoạn chia sẻ trên Twitter của Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo

Mặc dù Trung Quốc không được nêu đích danh trong Bản tuyên bố chung nhưng nhiều nhà quan sát cho rằng đây đã là một bước tiến cho thấy ASEAN đã bước đầu thống nhất được lập trường, để chống lại các tham vọng bành trướng của Trung Quốc.

Theo hãng tin Mỹ AP, tuyên bố về Biển Đông của khối ASEAN lần này là một trong những nhận định cứng rắn nhất của khối đối với việc Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền trên hầu như toàn bộ Biển Đông trên cơ sở lịch sử.

Trả lời hãng AP, ba nhà ngoại giao Đông Nam Á xin giấu tên nhận định : bản thông cáo nói trên "đánh dấu một bước tiến quan trọng" trên con đường khẳng định giá trị nền tảng của luật pháp quốc tế tại khu vực Biển Đông, nơi vốn được coi là một trong những địa điểm xung đột dễ dàng bùng phát thành chiến tranh, trong bối cảnh các tham vọng chủ quyền trên biển của Trung Quốc ngày càng gia tăng.

Theo giáo sư Carl Thayer, một nhà nghiên cứu nổi tiếng về khu vực Đông Nam Á, tuyên bố của ASEAN mang ý nghĩa là một động thái bác bỏ các cơ sở mà Bắc Kinh dựa vào để yêu sách chủ quyền trên Biển Đông, thể hiện một sự thay đổi đáng kể trong lời lẽ của ASEAN đối với Trung Quốc.

Theo báo Philippines, cũng trong Thượng đỉnh nói trên, Tổng thống Philippines đã báo động về căng thẳng gia tăng tại nhiều khu vực tranh chấp. Với tư cách quốc gia phụ trách điều phối đối thoại giữa ASEAN và Bắc Kinh, Tổng thống Rodrigo Duterte kêu gọi các bên tìm kiếm các biện pháp mới, có thái độ mềm dẻo để đạt được mục tiêu giữ hòa bình và ổn định.

Theo ông Duterte, Manila đang nỗ lực thúc đẩy các bên đi đến được một Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) trong thời gian sớm nhất. Quan hệ giữa Philippines và Trung Quốc tại các vùng biển tranh chấp cũng tiếp tục căng thẳng. Trong thời gian gần đây, Manila đã phải hai lần gửi công hàm phản đối Bắc Kinh về các hành động gây hấn.

Trong bối cảnh Trung Quốc tăng cường hoạt động quân sự trên biển Đông giữa lúc các nước trong khu vực gồng mình chống đại dịch Covid-19, Philippines đang thay đổi những tính toán địa chính trị.

Philippines đang thực hiện những động thái chậm rãi nhưng chắc chắn nhằm thách thức Trung Quốc trên biển Đông. Giới chức Bộ Năng lượng và Bộ Ngoại giao Philippines đang kêu gọi Tổng thống Rodrigo Duterte nối lại hoạt động thăm dò năng lượng trong vùng biển tranh chấp này với mục tiêu củng cố an ninh năng lượng và tái khẳng định tuyên bố chủ quyền đối với các nguồn tài nguyên năng lượng dưới đáy biển bị Trung Quốc tranh chấp.

Trong khi đó, Bộ Tư pháp Philippines đang gia tăng sức ép, yêu cầu Trung Quốc bồi thường cao hơn cho 22 ngư dân Philippines suýt thiệt mạng vào năm ngoái, sau khi bị tàu quân sự Trung Quốc đâm chìm tàu cá.

Theo báo Asia Times, những động thái cứng rắn nêu trên phản ánh quan hệ chiến lược Washington – Manila đã hồi sinh, cũng như nhu cầu gia tăng của Philippines về việc bảo đảm an ninh năng lượng trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế sắp xảy ra.

Bên cạnh đó, việc Philippines thay đổi thái độ với Trung Quốc còn phản ánh tầm ảnh hưởng vẫn lớn mạnh của nền tảng chính sách ngoại giao và quốc phòng của nước này, vốn từng bị đe dọa phá vỡ bởi lập trường thân thiện của Tổng thống Duterte đối với Bắc Kinh khi ông mới nhậm chức. Hồi đầu tháng này, Tổng thống Duterte quyết định tạm ngừng rút Thỏa thuận các lực lượng thăm viếng quân sự (VFA), vốn là trung tâm của quan hệ đồng minh Mỹ – Philippines. Theo giới chuyên gia, động thái này cho thấy Manila đang thay đổi những tính toán địa chính trị giữa lúc Bắc Kinh ngày càng hung hăng trên biển Đông.

Trước đây, Tổng thống Duterte từng vận động hành lang để đạt được thỏa thuận "đồng sở hữu" các nguồn tài nguyên tranh chấp thông qua những dự án thăm dò và phát triển với Trung Quốc. Tuy nhiên, động thái ngày càng ngang ngược của Trung Quốc trên biển Đông giữa khủng hoảng đại dịch Covid-19, trong đó có tăng cường tập trận hải quân trong các khu vực tranh chấp, dường như đã hủy hoại những nỗ lực trước đó của Bắc Kinh và Manila về một thỏa thuận chia sẻ tài nguyên.

Ngoài Philippines, giới quan sát nhận định ba nước khác có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc gồm Việt Nam, Malaysia và Indonesia, đã tỏ ra mạnh mẽ hơn trong việc bảo vệ chủ quyền và phản đối yêu sách của Bắc Kinh.

asean2

Công hàm của Mỹ gửi lên Liên Hiệp Quốc phản đối yêu sách ‘bất hợp pháp’ của Trung Quốc trên Biển Đông ngày 01/6/2020

Trên phương diện ngoại giao, các nước này đã lần lượt gửi công hàm lên Liên Hiệp Quốc phản đối "đường 9 đoạn" của Trung Quốc vi phạm Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển UNCLOS 1982.

Liên Hiệp Quốc đã chứng kiến một cuộc chiến công hàm phản đối Trung Quốc trên Biển Đông từ cuối năm 2019 đến nay.

Ngày 12/12/2019, Malaysia gửi lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa (CLCS) Báo cáo ranh giới thềm lục địa mở rộng tại khu vực phía Bắc Biển Đông. Ngay trong ngày, Trung Quốc gửi Công hàm số CML/14/2019 tới Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc phản bác Báo cáo này của Malaysia. Tại Công hàm này, Trung Quốc cho rằng :

i) Trung Quốc có chủ quyền đối với bốn nhóm đảo là Hoàng Sa, Trường Sa (của Việt Nam), Trung Sa, Đông Sa (gọi chung là Nam Hải chư đảo) ;

ii) Trung Quốc có các vùng biển (nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa) từ các nhóm thực thể và

iii) Trung Quốc có quyền lịch sử ở Biển Đông.

Tiếp theo, ngày 06/3/2020, Philippines gửi lên Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc hai công hàm : thứ nhất là Công hàm số 000191-2020 phản đối Công hàm số CML/14/2019 của Trung Quốc, Philippines tuyên bố các yêu sách của Trung Quốc không phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS) ; thứ hai là Công hàm số 000192-2020 của Philippines đưa ý kiến về Báo cáo của Malaysia. Ngày 23/3/2020, Trung Quốc gửi Công hàm CML/11/2020 lên Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc để phản bác các Công hàm của Philippines. Trong Công hàm này, Trung Quốc yêu sách chủ quyền đối với Trường Sa (của Việt Nam), bãi Scarborough (mà Trung Quốc gọi là Hoàng Nham) và các vùng biển lân cận ; yêu sách quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển liên quan cũng như vùng đáy biển và vùng đất dưới đáy biển. Trung Quốc cũng tiếp tục nhắc lại yêu sách quyền lịch sử ở Biển Đông.

Trong bối cảnh đó, ngày 30/3/2020, Việt Nam gửi Công hàm số 22/HC-2020 lên Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc để phản bác hai Công hàm CML/14/2019 và CM/11/2020 của Trung Quốc. Ngày 10/4/2020, Việt Nam gửi hai Công hàm số 24/HC-2020 và 25/HC-2020 lên Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc lần lượt nêu ý kiến về báo cáo của Malaysia và về các công hàm của Philippines.

Đến ngày 01/6/2020, Mỹ cũng gửi công hàm lên Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc liên quan tới Công hàm số CML/14/2019 do Phái bộ thường trực của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gửi cho Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc vào ngày 12/12/2019 để phản hồi đệ trình của Malaysia lên Ủy ban về Ranh giới thềm lục địa (CLCS) ngày 12/12/2019. Trong công hàm của mình, Hoa Kỳ bác bỏ các yêu sách hàng hải này vì nó không phù hợp với luật pháp quốc tế như được phản ánh trong Công ước Luật biển 1982.

Không dừng lại ở các động thái ngoại giao, Mỹ còn khẳng định sự hiện diện mạnh mẽ của mình tại khu vực Biển Đông nhằm răn đe Trung Quốc.

Một mặt, Mỹ tăng cường cuộc tuần tra bảo đảm tự do hàng hải (FONOPS) trên không và trên biển với sự điều động một lực lượng hùng hậu không quân và hải quân trong khu vực mà gần đây nhất là sự có mặt của ba tàu sân bay Mỹ tại cửa ngõ Biển Đông hồi trung tuần tháng 6.

Mặt khác, Mỹ tiếp tục hỗ trợ trực tiếp nhiều nước Đông Nam Á có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông với Trung Quốc : Chỉ tính từ đầu năm 2020 ; vào tháng 3, tầu sân bay USS Theodore Roosevelt thăm cảng Đà Nẵng Việt Nam ; vào tháng 4, chiến hạm Mỹ "hiện diện" gần khu vực giàn thăm dò dầu khí West Capella của Malaysia ; vào tháng 5, Mỹ tặng nhiều máy bay không người lái cho Hải quân Malaysia…

Một sự kiện khác được coi là những thay đổi tích cực mới trong quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ, đó là Việt Nam, cũng như New Zealand và Hàn Quốc được mời tham gia cuộc họp trực tuyến "Quad Plus" ngày 27/3/2020 với "Bộ Tứ" gồm Mỹ, Úc, Ấn Độ và Nhật Bản, trong đó nhiệm vụ chính của Quad là đoàn kết chống đà bành trướng của Trung Quốc ở Ấn Độ – Thái Bình Dương.

Còn với Trung Quốc, Biển Đông được coi là mặt trận bên ngoài thứ ba sau Đài Loan và Hồng Kông nhằm khơi dậy tinh thần dân tộc, khẳng định sức mạnh khổng lồ của quốc gia này.

Trả lời phỏng vấn RFI, Giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân Sự Pháp (IRSEM) nhận định :

"Kỳ họp Quốc hội hàng năm là sự kiện lớn, quan trọng đối với chính trị Trung Quốc. Kỳ họp lần này diễn ra sau đỉnh điểm khủng hoảng dịch tễ Covid-19 trong khi cách xử lý dịch của Trung Quốc bị phản đối từ trong nước lẫn ở nước ngoài, đặc biệt phải kể đến việc tổng thống Mỹ Donald Trump lên án Trung Quốc phải chịu trách nhiệm với quốc tế.

Trong bối cảnh căng thẳng, chính quyền Bắc Kinh cần phải khuấy động tinh thần dân tộc nhằm tái thể hiện sức mạnh Trung Quốc trước một sự kiện mang ý nghĩa lớn, đó là kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng cộng sản Trung Quốc vào năm 2021 (ngày 23/07/1921). Chính quyền trung ương tỏ rõ quyết tâm trong việc tập hợp, tăng cường đoàn kết dân tộc và khẳng định vị trí cường quốc bên trong lãnh thổ cũng như ở các vùng ngoại vi của nước này, như Đài Loan, Hồng Kông và mặt trận bên ngoài thứ ba chính là Biển Đông. Trong cả ba trường hợp, tầm cỡ tinh thần quốc gia và chính sách đối nội đều rất quan trọng".

Vì vậy mà ngay trong đại dịch Covid-19, Trung Quốc vẫn thúc đẩy chủ quyền phi pháp của mình trên Biển Đông. Về mặt hành chính, Trung Quốc ngang nhiên lập trái phép hai "quận" mới Tây Sa (Xisha) tại Hoàng Sa và Nam Sa (Nansha) ở Trường Sa, trực thuộc "thành phố Tam Sa" (Sansha) để hoàn thiện và củng cố hệ thống quản lý ở vùng biển chiến lược này. Về quân sự, Hải Quân Trung Quốc liên tục tập trận ở Biển Đông từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 5/2020, trong đó có cả tầu sân bay Liêu Ninh tham gia. Ngân sách quốc phòng cũng được Quốc hội Trung Quốc bỏ phiếu tăng thêm 6,6% ngay cả trong bối cảnh suy thoái kinh tế do đại dịch.

Greg Poling, Giám đốc Tổ chức Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á (AMTI) cho biết : "Hàng ngày có hàng chục tầu hải cảnh Trung Quốc khuấy đảo quanh các đảo ở Trường Sa và có hàng trăm tầu cá sẵn sàng ra khơi. Những hòn đảo này đầy những radar giám sát. Chúng theo dõi được hết những gì xảy ra ở Biển Đông. Trong quá khứ, Trung Quốc không biết bạn khoan dầu ở đâu, giờ thì họ biết chính xác vị trí". Và dĩ nhiên kể cả mọi hoạt động của tầu thuyền trong vùng.

Hoàng Lan (Hà Nội)

Nguồn : Thoibao.de, 01/07/2020

***********************

Vai trò của Việt Nam trong thông điệp ‘mạnh mẽ’ của ASEAN với Trung Quốc

VOA, 30/06/2020

Các nhà lãnh đạo ca Hip hi các Quc gia Đông Nam Á (ASEAN) va đưa ra mt tuyên bố chung, được coi là mnh m nht ca h đi vi các yêu sách ca Trung Quc t trước ti nay và nhn được s hoan nghênh ca M, trong đó nhc ti Công ước Lut bin Liên Hp Quc 1982 và tm quan trng ca t do hàng hi.

asean3

Thủ tướng Vit Nam Nguyn Xuân Phúc (phi) nhn chiếc búa làm ch tch lun phiên ASEAN t Th tướng Thái Lan Prayuth Chan-Ocha ti Bangkok hi tháng 11/2019. Vit Nam, thay mt 10 nước thành viên ASEAN, vừa đưa ra tuyên b vi thông đip mnh m ti Trung Quc.

Trong tuyên bố tm nhìn được đưa ra ti Hi ngh Thượng đnh ASEAN thường niên va được t chc ti Vit Nam qua hình thc trc tuyến trong bi cnh đi dch Covid-19, nhng người đng đu khi Đông Nam Á cho rng Công ước Lut bin ca Liên Hiệp Quốc (UNCLOS 1982) phi là cơ s cho các quyn chủ quyn và quyn li Bin Đông.

Tuyên bố, do Vit Nam – vi tư cách là ch tch luân phiên – giám sát vic son tho và đưa ra thay mt cho khi 10 nước thành viên, nói : "Chúng tôi tái khng đnh rng UNCLOS 1982 là cơ c đ quyết đnh các li ích hàng hài, quyền ch quyn, tài phán và các quyn li chính đáng trên các khu vc hàng hi", trong bi cnh Trung Quc ngày càng có nhng đng thái mnh m nhm tăng cường kim soát Bin Đông trong lúc các quc gia láng ging còn đang vt ln vi đi dch do virus corona bắt ngun t Vũ Hán gây ra.

UNCLOS 1982 chính là cơ s đ tòa trng tài quc tế ti La Haye đưa ra phán quyến bác b đường lưỡi bò 9 đon mà Trung Quc đơn phương tuyên b trên Bin Đông trong v kin vi Philippines năm 2016.

"Tôi không hiểu nội tình của quá trình thương lượng đ ra tuyên b chung nhưng nếu chúng ta nhìn vào ni dung ca bn tuyên b chung thì chúng ta thy có vic nhn mnh ca vai trò lut pháp quc tế đc bit là Công ước Lut bin ca Liên Hiệp Quốc năm 1982", Tiến Lê Hng Hip ca Viện nghiên cu Đông Nam Á ISEAS-Yusof Ishak có tr s Singapore nói. "Theo đánh giá ca nhiu người thì đây có th là mt bước tiến nht đnh khi so vi các bn tuyên b chung trước đây".

Tiến sĩ Hiệp còn cho rng bn tuyên b này "cũng có th coi là s ng hộ ca ASEAN đi vi phán quyết ca tòa trng tài năm 2016 trong v kin gia Philippines và Trung Quc vì phán quyết ca tòa trng tài đu da vào Công ước Lut bin 1982 và bên cnh đó phán quyết cũng ch ra là rt nhiu yêu sách ca Trung Quc trên Bin Đông không phù hợp vi công ước lut bin này".

Bản tho cui cùng ca Tuyên b Tm nhìn, được đăng ti trên trang web ASEAN Vietnam 2020, còn tái khng đnh "tm quan trng ca vic duy trì và thúc đy hòa bình, an ninh, n đnh và t do hàng hi cũng như hàng không trên Bin Đông".

Trung Quốc năm 2013 tuyên b mt khu nhn dng phòng không (ADIZ) trên hu hết khu vc Bin Đông và người phát ngôn ca B Ngoi giao nước này, Triu Lp Kiên, hôm 22/6 khng đnh rng "mi quc gia đu có quyn lp mt ADIZ và quyết đnh có thành lp mt ADIZ hay không da trên cường đ các mi đe dọa mà h phi đi mt trong an ninh quc phòng".

Vai trò chủ tch

Việt Nam, ch tch lun phiên ca ASEAN năm nay, luôn có mt lp trường cng rn hơn các quc gia khác trong khu vực đối vi Trung Quc. Nhng t ng như "các s c nghiêm trng gn đây xy ra ti Bin Đông" trong tuyên b ln này không có trong tuyên b ca năm ngoái khi Thái Lan làm ch tch.

Những tháng gn đây, căng thng gia Vit Nam và Trung Quc tăng cao khi Hà Nội t cáo Bc Kinh đâm chìm mt tàu cá ca ngư dân Vit gn qun đo Hoàng Sa. Trung Quc còn tiến hành các cuc tp trn quân s vào gia tháng 4 và tuyên b thành lp các qun hành chính Hoàng Sa và Trường Sa, mt đng thái mà Hà Ni phn đi.

Trong bài phát biểu khai mc hi ngh cp cao ASEAN ln th 36 hôm 26/6, Th tướng Nguyn Xuân Phúc nói rng "trong khi c thế gii đang gng mình chng dch, vn xut hin nhng hành đng thiếu trách nhim, vi phm lut pháp quc tế, nh hưởng đến môi trường an ninh và ổn đnh mt s khu vc, trong đó có khu vc ca chúng ta".

Tiến sĩ Hiệp, tác gi cun sách "Sng cnh Người khng l : Kinh tế chính tr ca các mi quan h ca Vit Nam vi Trung Quc trong thi kỳ đi mi", cho rng phát biu đó không nói c th ai "nhưng rõ ràng chúng ta hiu là nhc ti hành vi ca Trung Quc".

"Tôi nghĩ đấy là mt nhn xét khách quan và đúng vi s tht", Tiến sĩ Hip nhn đnh v phát biu ca Th tướng Phúc. "Tuy nhiên bn thân các lãnh đo Vit Nam dám nói lên thc tế đy thì tôi nghĩ là một điu đáng ghi nhn trong bi cnh mà Vit Nam lâu nay tương đi dè dt trong các phát biu liên quan ti tình hình Bin Đông liên quan ti Trung Quc".

Mỹ đã lên án vic Trung Quc li dng đi dch virus corona đ tiến hành các hot đng khiêu khích trên vùng biển có nhiu tranh chp cũng như "khuyến thích các quc gia phn đi hành vi sai trái ca Trung Quc", theo như li Đi s Daniel Kritenbrink nói hi cui tháng 4.

Theo Tiến sĩ Hiệp, ngôn t mnh m hơn ca tuyên b chung ASEAN mt phn là do nh hưởng ca vic Vit Nam làm ch tch vì "lâu nay trong lch s t các hi ngh ln trước thì Vit Nam đu có truyn thng là mun đưa vào các tuyên b chung nhng ngôn ng và nhng quan đim tương đi là mnh m, cng rn đi vi vn đ Bin Đông".

"Lần này với tư cách ch nhà, là nước làm ch tch ASEAN luân phiên thì ASEAN có li thế đ đưa các ngôn ng như mình mun vào trong tuyên b này", Tiến sĩ Hip nói.

Tuy nhiên một yếu t khác đóng góp vào "s mnh m hơn so vi các ln trước" trong ngôn t ca tuyên bố ln này, theo Tiến sĩ Hip, mt phn cũng vì "các đng thái gn đây ca Trung Quc trên Bin Đông đã đng chm ti các li ích ca các nước cùng tranh chp khác, ví d như Malaysia, Indonesia và Philippines chng hn. Nhng quc gia này cũng s có li ích trong việc đưa ra được mt bn tuyên b chung có ngôn ng mnh m hơn đ lên án các hành đng ca Trung Quc mt cách trc tiếp hay gián tiếp".

Bắc Kinh chưa lên tiếng v tuyên b tm nhìn ca ASEAN nhưng đã thông báo din tp quân s Hoàng Sa.

Sự hu thun ca M

Ngay sau khi bản tuyên b ca ASEAN 36 v Bin Đông được đưa ra, B trưởng Ngoi giao M Mike Pompeo hôm 27/6 nói rng "Hoa Kỳ hoan nghênh s kiên đnh ca các nhà lãnh đo ASEAN v vic gii quyết tranh chp Bin Đông theo lut pháp quc tế, bao gm Công ước Liên Hp Quc v Lut bin (UNCLOS) 1982". Trong đon chia s v Tuyên b "Tm nhìn v ASEAN gn kết và ch đng thích ng" trên Twitter, ngoi trưởng M còn nói "Trung Quc không được phép coi Bin Đông là đế chế hàng hi ca mình. Chúng tôi sẽ sm tho lun thêm v ch đ này".

"Lâu nay chúng ta thấy rng vn đ tranh chp Bin Đông đã tr thành mt phn trong đi đu chiến lược gia M và Trung Quc ti vì trong bi cnh Trung Quc m rng phm vi nh hưởng ca mình và gia tăng sức mạnh quân s, đc bit trong khu vc Bin Đông, thì nó nh hưởng ti các li ích ca Hoa Kỳ", Tiến sĩ Hip nói. "Chính vì vy mà Hoa Kỳ cũng đã can d ngày càng sâu hơn vào tranh chp Bin Đông. Và trong bi cnh gia tăng cnh tranh chiến lược gia M và Trung Quốc thì s là mt điu d hiu khi mà Hoa Kỳ có xu hướng hu thun các bên tranh chp Đông Nam Á, trong đó có Vit Nam".

Hai ngày sau khi Việt Nam đưa ra tuyên b thay mt các nước ASEAN, các hàng không mu hm ca M hôm 28/6 đã khi đng các cuc tập trận chung trên vùng bin Philippines.

Sau khi Trung Quốc đâm chìm tàu cá Vit Nam hi tháng 3, B Ngoi giao và B Quc phòng M đã ngay lp tc lên tiếng ch trích Trung Quc v hành đng "bt nt" Vit Nam và các nước trong khu vc. Hi tháng 4 va qua, Ngoại trưởng Pompeo đã đưa ra tuyên b v vic tái khng đnh cam kết ca M vi khu vc n Đ Dương-Thái Bình Dương và sc mnh mi quan h hp tác gia M và Vit Nam.

Tuy nhiên sự ng h ca M dù mang li thun li nhưng cũng s là thách thc cho Vit Nam cũng như các quc gia Đông Nam Á khác, theo Tiến sĩ Hip.

"Một mt thì v thế cũng như đòn by v mt ngoi giao ca Vit Nam và các nước Đông Nam Á trong vic đi phó vi các sc ép ca Trung Quc được gia tăng nhưng mt khác nó cũng có th to ra ri ro là bản thân Vit Nam cũng như các nước Đông Nam Á khác s b cun vào cnh tranh chiến lược gia M và Trung Quc, tr thành mt nn nhân theo mt nghĩa nào đó trong cuc đi đu gia (hai cường quc) và điu này có th gây ra nhng h lu lâu dài, khó lường đi vi v thế đc lp, t ch ca các quc gia trong khu vc, trong đó có Vit Nam", Tiến sĩ Hip nói.

Làm sao để va khôn khéo khai thác được s ng h ca M va đng thi không đ b cun vào cnh tranh chiến lược M-Trung Quc s là mt thách thc ln đối vi Vit Nam và các nước Đông Nam Á trong thi gian ti khi đi phó vi Trung Quc, theo Tiến sĩ Hip.

"Tuy nhiên tôi cho rằng bt chp nhng th thách, nhng ri ro như vy thì có s hu thun ca M vn là mt điu rt đáng quý, đáng k đi vi n lc của Việt Nam trong vic chng li các sc ép ca Trung Quc trên Bin Đông".

*************************

Báo Đảng Trung Quốc phản ứng sau tuyên bố ‘mạnh mẽ’ nhất của ASEAN về Biển Đông

VOA, 01/07/2020

Ngay sau khi Việt Nam thay mt các lãnh đo ASEAN đưa ra mt tuyên b được coi là "mnh m" nht t trước ti nay v Bin Đông, trong đó đ cp đến công ước lut bin 1982 và được M hoan nghênh, t Hoàn cu Thi báo ra mt bài xã lun nói truyn thông nước ngoài ám chỉ tuyên b nhm đến Trung Quc và rng s can thip ca M có th là nguyên nhân cho s "t tin" hơn ca các nước Đông Nam Á.

asean4

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại buổi khai mạc Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN trực tuyến từ Hà Nội hôm 26/6. Việt Nam thay mặt khối đư a ra m ột tuyên bố chung về Biển Đông mà truyền thông quốc tế nói là một thông điệp mạnh mẽ gửi đến Trung Quốc.

Tại Hi ngh Thượng đnh ASEAN ln th 36 do Vit Nam, vi tư cách ch tch luân phiên, t chc qua hình thc trc tuyến, các lãnh đo ca khi đưa ra mt tuyên b chung "tái khng đnh rng UNCLOS (Công ước Lut bin ca Liên Hp Quc) 1982 là cơ s cho vic quyết đnh các li ích hàng hi, quyn ch quyn, tài phán và các quyn li chính đáng trên các khu vc hàng hi".

Tiến sĩ Lê Hng Hip ca Vin nghiên cu Đông Nam Á ISEAS-Yusof Ishak nói vi VOA hôm 29/6 rng theo đánh giá ca nhiu người thì tuyên b đưa ra hôm 26/6 "có th là mt bước tiến nht đnh khi so vi các bn tuyên b trước đây" và được coi là "s ng hộ của ASEAN đi vi phán quyết ca tòa trng tài năm 2016 trong v kin gia Philippines và Trung Quc".

Ba nhà ngoại giao ca Đông Nam Á không được nêu danh tính có chung ý kiến trên khi nói vi hãng tin AP ca M rng tuyên b cho thy nhóm các nước ASEAN muốn tăng cường khng đnh lut pháp khu vc Bin Đông.

Các hãng tin quốc tế khác cũng cho rng các nhà lãnh đo ASEAN ln này đã gi mt thông đip mnh m nht t trước ti nay đến Trung Quc trong bi cnh Bc Kinh tăng cường các đng thái nhm kim soát Biển Đông gia lúc các nước láng ging đang tp trung chng dch virus corona có ngun gc t Vũ Hán.

Tờ Hoàn cu Thi báo, ph bn ca t Nhân dân Nht báo ca Đng cng sn Trung Quc, hôm 29/6 nói rng truyn thông quc tế nói quá lên rng tuyên b này c th nhm ti Trung Quc.

"So với các tuyên b trước đây ca ASEAN v Bin Nam Trung Hoa (mà Vit Nam gi là Bin Đông), tuyên b ln này dường như đã tăng cường s khng đnh ca h đi vi vùng bin có tranh chp", bài xã lun ca Hoàn cu Thi báo viết, và cho rng có mt s yếu tố đóng góp vào đng thái này.

Một ngày sau khi ASEAN đưa ra tuyên b chung ti Hà Ni, Ngoi trưởng M Mike Pompeo nói Hoa Kỳ hoan nghênh s kiên đnh ca các nhà lãnh đo ASEAN v vic gii quyết tranh chp Bin Đông theo lut pháp quc tế, bao gm UNCLOS 1982, và cảnh cáo "Trung Quc không được phép coi Bin Đông là đế chế hàng hi ca riêng mình".

Hoàn cầu Thi báo cho rng s can thip liên tc ca M trong khu vc có th đã "làm thúc đy s t tin ca ASEAN trong vic tăng cường tuyên b đi vi Bin Đông. Washington tin rằng các vn đ Bin Đông nh hưởng trc tiếp đến li ích ca h, vì vy h s không mun vng mt trong các cuc đàm phán v COC (b quy tc ng x trên Bin Đông)".

Trung Quốc và khi ASEAN đang trong quá trình thương tho mt b quy tắc ng x trên Bin Đông (COC) trong nhiu năm qua và t báo Đng ca Bc Kinh cho rng các thành viên ASEAN có ý đnh duy trì các tuyên b cũng như bo v các li ích ca h trong nhng cuc tho lun sp ti vi Trung Quc. S khng đnh mnh m hơn trong tuyên bố mi nht ca khi ASEAN th hin ý đnh này, theo Hoàn cu Thi báo.

"Trong số nhng nước này, Vit Nam dường như đang đưa ra nhiu yêu sách nht", bài xã lun viết. "Vi tư cách là ch tch luân phiên ca ASEAN trong năm nay, Hà Ni có th lôi kéo các nước khác c gng ti đa hóa li ích ca h trong các cuc đàm phán COC vi Bc Kinh".

Căng thẳng tăng cao trong nhng tháng gn đây gia Trung Quc và Vit Nam cũng như mt s quc gia Đông Nam Á khác, gm Indonesia, Philippines và Malaysia, về Biển Đông. Theo nhn đnh ca Tiến sĩ Hip vi VOA hôm 29/6, điu này cũng góp phn vào s mnh m hơn so vi các ln trước trong ngôn t ca tuyên b ln này vì các đng thái gn đây ca Trung Quc trên Bin Đông đã đng chm ti các li ích ca các nước cùng tranh chấp khác.

Hoàn cầu Thi báo nhc ti s căng thng vi mt s quc gia Đông Nam Á, và nói rng "nhng xung đt gn đây gia Bc Kinh và Hà Ni ch yếu xut phát t s xích mích liên quan đến vic khai khác du khí dưới đáy bin" và rng "Bc Kinh và Jakarta đang tranh cãi về nhng tuyên b ch quyn hàng hi chng ln trên các khu vc Bin Đông".

Hầu hết các tranh chp hàng hi trên khu vc Bin Đông là gia Trung Quc và mt s ít các nước thành viên ASEAN, nên, theo Hoàn cu Thi báo, Trung Quc nên dùng các cơ chế song phương đ thương lượng vi Vit Nam và Indoneisa. Theo nhiu nhà quan sát tng nhn đnh, Trung Quc luôn mun đàm phán song phương vi các nước láng ging có tranh chp trên Bin Đông đ tránh s can thip ca M.

Một bin pháp khác mà bài xã luận ca Hoàn cu Thi báo nói Trung Quc có th thc hin là dn dt dư lun quc tế.

"Các phương tin truyn thông phương Tây hin nay không tr mt n lc nào đ khuy đng rc ri khu vc Bin Đông vi s cường điu vô căn c", bài xã luận viết. "Vi mt câu chuyn quen thuc và git gân, h gieo rc bt hòa gia Trung Quc và mt s nước cùng tuyên b (ch quyn) trong khu vc. Dư lun phương Tây đã phá v nghiêm trng các n đnh hòa bình v vn đ Bin Nam Trung Hoa (tc Bin Đông)".

Tờ báo Đng Trung Quc còn cho rng Bc Kinh phi "n lc hơn na đ m rng hp tác vi các nước ASEAN, đc bit trong lĩnh vc an ninh phi truyn thng, như nghiên cu hàng hi chung, hot đng cu h và trn áp cướp bin. "Nhiu li ích ln nhau có kh năng tạo ra s tin tưởng ln nhau nhiu hơn. Đây là mt cách khác đ gim thiu các vn gia vi các nước Đông Nam Á vi Trung Quc".

Published in Diễn đàn

Dư luận Việt Nam đang quan tâm tin đồn rằng Trung Quốc có thể ra tuyên bố về Vùng Nhận dạng Phòng không (ADIZ) bao trùm toàn bộ quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa mà Việt Nam xem là thuộc chủ quyền của mình.

asean0

Trung Quốc đã xây dựng và lắp đặt các thiết bị quân sự của Trung Quốc triển khai trái phép ở đá Chữ Thập của Việt Nam. Ảnh : ISI.

Báo Hong Kong South China Morning Post ngày 31/5 dẫn một nguồn tin quân đội Trung Quốc nói Bắc Kinh đã lên kế hoạch cho việc lập ADIZ ở Biển Đông từ năm 2010.

Nguồn này nói cơ quan chức năng Trung Quốc chỉ đang chờ thời điểm thích hợp để công bố.

Trả lời BBC News tiếng Việt, Tiến sĩ Chunjuan Nancy Wei, Đại học Bridgeport, bang Connecticut, Hoa Kỳ, bình luận :

"Có thể đoán rằng kế hoạch ADIZ cho Biển Nam Trung Hoa (South China Sea) có tồn tại.

"Quan tâm chính yếu là liệu Trung Quốc có khả năng thực thi nó trên thực tế không".

Tiến sĩ Chunjuan Nancy Wei, nghiên cứu về tranh chấp Biển Đông, từng được Connecticut College mời để thuyết trình về chính sách Đông Á của Trung Quốc cho các đại diện bộ ngoại giao Việt Nam.

Bà nói : "Việc Trung Quốc có hoạt động xây đắp thành công tại Hoàng Sa và Trường Sa rõ ràng là bước quan trọng hướng tới việc hiện thực hóa vùng ADIZ".

Tuy nhiên, bà nói Trung Quốc nhận thức Vùng Nhận dạng Phòng không ở Biển Đông có thể gây tác hại cho quan hệ với các láng giềng Đông Nam Á, với Mỹ.

"Vì thế Trung Quốc vẫn thận trọng chưa tuyên bố", bà nói.

Hoa Kỳ là nước đầu tiên thành lập vùng ADIZ, năm 1950 trong Chiến tranh Lạnh với Liên Xô.

Nhưng theo tài liệu nghiên cứu của Quốc hội Mỹ, không có luật quốc tế nào cụ thể để quản trị vùng ADIZ, mà chỉ có một số quy tắc thông thường ví dụ tự do đi lại.

Theo định nghĩa chính thức của chính phủ Việt Nam, vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) là "vùng trời đặc biệt được thiết lập có kích thước xác định trong đó tàu bay phải tuân theo các phương thức báo cáo hoặc nhận dạng đặc biệt ngoài các phương thức liên quan đến việc cung cấp dịch vụ không lưu".

Ngày 23/11/2013, Trung Quốc tuyên bố thành lập vùng ADIZ trên biển Hoa Đông, tạo ra phản đối từ nhiều nước gồm cả Nhật và Hàn Quốc.

Tiến sĩ Chunjuan Nancy Wei cho rằng các biện pháp gần đây của Bắc Kinh ở Biển Đông cũng còn là nhắm tới Đài Loan.

"Bắc Kinh thất vọng vì họ là thành viên duy nhất trong Hội đồng Bảo an chưa hoàn tất thống nhất quốc gia".

"Vùng ADIZ sẽ giúp tăng cường độ sâu chiến lược của Bắc Kinh trong quốc phòng khi so với Đài Loan và các láng giềng".

Đối với Việt Nam, nếu Trung Quốc tuyên bố vùng ADIZ ở Biển Đông, dường như có nghĩa là tranh chấp chủ quyền biển đảo đã được đẩy lên cả vùng trời.

Lo ngại về kế hoạch ADIZ của Trung Quốc đặt trong bối cảnh năm 2019 xuất hiện các diễn tiến căng thẳng ở Biển Đông.

Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN thông qua Tuyên bố chung, ngày 31/7/2019, có đoạn : "Chúng tôi đã thảo luận về tình hình ở Biển Đông, trong đó các bộ trưởng bày tỏ lo ngại về việc cải tạo đất, các hoạt động và sự cố nghiêm trọng trong khu vực, làm xói mòn lòng tin, gia tăng căng thẳng và có thể làm suy yếu hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực".

Tháng 10 năm ngoái phát biểu tại Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói : "Tình hình biển Đông gần đây diễn biến phức tạp, trong đó có việc vi phạm nghiêm trọng các vùng biển của Việt Nam được xác định theo luật pháp quốc tế, trái với Tuyên bố DOC và các thỏa thuận cấp cao".

Gần đây hơn, ngày 9/4/2020, Việt Nam gửi Công hàm tại LHQ bác bỏ yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh ở Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 28/5 Việt Nam lại phản đối Trung Quốc khi có tin binh sĩ Trung Quốc đồn trú trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa đã thu hoạch nhiều kg rau xanh nhờ công nghệ trồng rau trên cát.

Phản ứng của Hoa Kỳ cũng gây quan tâm lớn.

Ví dụ ngày 29/5, Hạm đội 7 Hải quân Mỹ nói họ vừa điều khu trục hạm USS Mustin đã đi trong phạm vi 12 hải lý quanh đảo Phú Lâm và đảo Đá Tháp thuộc quần đảo Hoàng Sa.

Phản ứng ASEAN ?

Nếu một ngày Trung Quốc thực sự tuyên bố đơn phương lập vùng ADIZ ở Biển Đông, liệu có xảy ra xung đột vũ trang ?

Tiến sĩ Chunjuan Nancy Wei nhận định rủi ro chiến tranh phụ thuộc ba yếu tố.

"Liệu tuyên bố ADIZ có đưa ra trong bối cảnh một quốc gia khiêu khích Trung Quốc ?"

"Washington sẽ tuyên truyền thế nào về việc này, vì nó sẽ tác động tới cái nhìn của quốc tế".

"Thứ ba, hành động của Mỹ là gì. Yếu tố thứ ba này quan trọng nhất".

Từ khi Trung Quốc đơn phương tuyên bố vùng ADIZ ở biển Hoa Đông năm 2013, không lực Trung Quốc đã tiến hành tuần tra trong vùng này.

Tuy nhiên, có vẻ Trung Quốc ít khi thực thi "chấp pháp" với máy bay quân sự và dân sự tại đây.

Quay lại khả năng xảy ra vùng ADIZ của Trung Quốc trên Biển Đông, Tiến sĩ Chunjuan Nancy Wei nói tiếp.

"Nếu Hoa Kỳ chỉ thỉnh thoảng đưa máy bay vào vùng ADIZ, hai nước Mỹ và Trung Quốc sẽ có thể tự tuyên bố họ thành công, giữ mặt mũi cho nhau".

Nhưng với ASEAN, bà cho rằng ASEAN sẽ khó phản ứng công khai chống Trung Quốc "ngay cả nếu kế hoạch ADIZ được thông báo".

"10 nước trong ASEAN vẫn chia rẽ về Trung Quốc", bà chỉ ra.

Nguồn : BBC, 06/06/2020

Published in Diễn đàn

Tại sao Indonesia ban hành công hàm mới về Biển Đông vào lúc này ?

Nguyễn Lý Sơn, RFA, 30/05/2020

Indonesia lên tiếng

Chúng ta còn nhớ ngày 12/12/2019, Malaysia đã tái yêu sách khu vực thềm lục địa mở rộng bằng cách gửi một bản Báo cáo mới cho Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa (CLCS). Lần lượt các quốc gia liên quan như Trung Quốc, Philippines và Việt Nam đã gửi các công hàm ngoại giao lên CLCS để tỏ thái độ của mình, qua đó cũng thể hiện quan điểm của mình về tranh chấp Biển Đông.

indo1

Tổng thống Indonesia "Jokowi" Joko Widodo trong chuyến thăm quần đảo Natuna ở Biển Đông hôm 8/1/2020 - AFP

Đặc biệt đã có "cuộc chiến công hàm" giữa Việt Nam với Trung Quốc khi Việt Nam gửi công hàm bác bỏ các lập luận và yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông.

Ngày 26/5/2020, Phái đoàn thường trực Indonesia tại Liên Hợp Quốc đã gửi công hàm tới Tổng Thư ký Liên Hợp quốc để thể hiện quan điểm của Indonesia trước các quan điểm của các quốc gia đã kể trên.

Nội dung công hàm của Indonesia ngày 26/5/2020

Cụ thể, Indonesia muốn nhắc lại lập trường của mình như đã thể hiện trong một công hàm trước đây mang số 480/POL-703/VII/10 ngày 8/7/2010, như sau :

1. Indonesia nhắc lại một lần nữa rằng Indonesia không phải là một bên trong tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông ;

2. Hơn nữa, Indonesia nhấn mạnh rằng lập trường của mình về quyền có vùng biển của các thực thể trên biển như đã thể hiện ở công hàm năm 2010 đã được công nhận bởi Phán quyết ngày 12/7/2016 của Tòa trọng tài thành lập theo Phụ lục VII của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982) giữa nước Cộng hòa Philippines và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Tòa trọng tài Biển Đông), trong đó không có một thực thể nào tại quần đảo Trường Sa có thể có Vùng Đặc quyền Kinh tế hoặc Thềm Lục địa của riêng nó ;

3. Indonesia nhắc lại rằng bản đồ Đường chín đoạn thể hiện yêu sách chủ quyền lịch sử rõ ràng là thiếu cơ sở pháp lý quốc tế và vi phạm nghiệm trọng UNCLOS 1982. Quan điểm này cũng được công nhận bởi Phán quyết ngày 12/7/2016 của Tòa trọng tài rằng toàn bộ những quyền lịch sử mà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có thể có đối với các nguồn tài nguyên vật chất hay sinh vật đều bị bãi bỏ vì những giới hạn về khu vực biển xác định theo UNCLOS 1982.

Là một quốc gia thành viên của UNCLOS 1982, Indonesia kiên trì kêu gọi tuân thủ luật pháp quốc tế, bao gồm cả UNCLOS 1982. Indonesia sau đây tuyên bố rằng Indonesia sẽ không bị ràng buộc bởi bất kỳ yêu sách nào trái với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982.

Phái đoàn thường trực nước Cộng hòa Indonesia tại Liên Hợp quốc xin đề nghị lưu hành công hàm này tới toàn bộ thành viên của Ủy ban về Ranh giới thềm lục địa (CLCS), toàn bộ các quốc gia thành viên của Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển, và tất cả các quốc gia thành viên của Liên Hợp quốc.

Công hàm này của Indonesia thể hiện điều gì

Công hàm mới đây của Indonesia là văn bản mới nhất trong loạt công hàm từ các nước ASEAN và Trung Quốc sau khi Malaysia gửi lên Liên Hiệp Quốc bản đệ trình tuyên bố chủ quyền đối với thềm lục địa mở rộng ở Biển Đông ngoài khơi bờ biển phía Bắc nước này, nhiều khả năng là khu vực giàu tài nguyên.

Greg Poling, chuyên gia từ Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) của Mỹ cho rằng động thái của Indonesia cung cấp một "cơ sở quan trọng" cho Manila để theo đuổi phán quyết lịch sử bác bỏ "đường 9 đoạn" của Trung Quốc ở Biển Đông. Đây cũng là lần hiếm hoi Indonesia đề cập với Liên Hiệp Quốc về phán quyết của Tòa trọng tài ở La Haye (The Haag) năm 2016.

Trong công hàm, Indonesia cũng công khai đề cập đến phán quyết của Tòa trọng tài năm 2016 trong vụ Philippines kiện Trung Quốc về vấn đề Biển Đông, theo đó "không có bất kỳ thực thể nào thuộc Quần đảo Trường Sa được phép lấy làm căn cứ để tính Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) hay Thềm lục địa".

Indonesia cũng chỉ trích "đường 9 đoạn" phi pháp của Trung Quốc lấn chiếm các vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của một số quốc gia Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam, Philippines. Tiếp nối từ công hàm năm 2010, Indonesia tái khẳng định rằng bản đồ "đường lưỡi bò" mà Trung Quốc yêu sách về quyền lịch sử hoàn toàn thiếu cơ sở pháp lý quốc tế và có mức độ nghiêm trọng tương đương việc vi phạm UNLCOS 1982. Quan điểm này cũng đã được công nhận bởi phán quyết ngày 12/7/2016 của Tòa trọng tài, trong đó nói rằng mọi quyền lịch sử mà Trung Quốc đòi hỏi đối với các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật đều bị bác bỏ bởi giới hạn về vùng biển được xác định theo UNLCOS 1982.

Indonesia cũng cho rằng rằng bản đồ "đường lưỡi bò" ngụ ý yêu sách quyền lịch sử rõ ràng thiếu cơ sở pháp lý quốc tế và tương đương với việc làm đảo lộn UNCLOS 1982.

Như vậy, việc Indonesia gửi công hàm lên Liên Hiệp Quốc về vấn đề Biển Đông đã tăng thêm sức nặng cho một loạt động thái ngoại giao gần đây của các nước thành viên ASEAN phản đối các yêu sách của Bắc Kinh ở Biển Đông.

Cả 4 quốc gia : Malaysia, Philippines, Việt Nam và Indonesia mặc dù có những lợi ích khác nhau nhất định, nhưng các quốc gia này đều thống nhất với nhau ở hai điểm. Thứ nhất là các quốc gia đều phản đối "đường lưỡi bò" vì những sự tham lam và đi ngược lại UNCLOS 1982. Thứ hai, tất cả các quốc gia này đều viện dẫn Phán quyết năm 2016 của Tòa trọng tài, coi đó là một phần quan trọng trong luật biển quốc tế nói chung khi diễn giải điều 121 UNCLOS 1982. Theo đó, không có thực thể nào thuộc Trường Sa có thể có vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa kèm theo.

Có thể nói hành động của Indonesia đã tạo ra một nền tảng mới cho sự đoàn kết của các quốc gia ASEAN trước vấn đề này. Đặc biệt với sự thể hiện quan điểm như trên của Indonesia - quốc gia lớn nhất của ASEAN.

Hồi đầu tháng 5, Ngoại trưởng Indonesia Retno Marsudi đã tuyên bố Jakarta đang theo sát các diễn biến gần đây ở Biển Đông. Bà nhấn mạnh : "Indonesia quan ngại về các động thái gần đây ở Biển Đông, nơi có nguy cơ leo thang căng thẳng vào thời điểm toàn thế giới cần nỗ lực phối hợp chống Covid-19. Indonesia nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông, bao gồm đảm bảo tự do hàng hải và vùng trời ở khu vực này, đồng thời kêu gọi tất cả các bên tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS)".

Ngoại trưởng Indonesia cũng lưu ý trong bối cảnh các cuộc đàm phán COC bị ngưng trệ, tất cả các quốc gia liên quan nên thể hiện sự kiềm chế : "Chúng ta duy trì cam kết đảm bảo có được một COC hiệu quả, thực chất và khả thi bất chấp diễn biến hiện nay của đại dịch Covid-19". Đó cũng chính là mục tiêu quan trọng mà các nước ASEAN cần phải hướng tới.

Chính vì vậy, dư luận đang trông đợi Việt Nam, với tư cách là Chủ tịch của ASEAN năm nay có thể kết nối và tạo ra sự đồng thuận cần thiết trong ASEAN để có thể cùng nhau cất lên tiếng nói thống nhất trong tiến trình tìm kiếm COC cho Biển Đông.

Nguyễn Lý Sơn

Nguồn : RFA, 30/05/2020

**********************

Việt Nam, Đài Loan, Hồng Kông trong tâm bão cuộc đọ sức Mỹ - Trung

Minh Anh, RFI, 30/05/2020

Liệu Hoa Kỳ có quay trở lại cảng Cam Ranh của Việt Nam hay không ? Trung Quốc và Mỹ đọ sức ở đại hội đồng Y tế Thế Giới, ai thắng ai thua ? Tương lai nào cho quan hệ Trung Quốc - Đài Loan ? Tăng ngân sách quốc phòng, phải chăng Trung Quốc muốn tiếp tục khẳng định thế siêu cường ? Và Hồng Kông, thời kỳ tự do sắp chấm dứt ? Trên đây là những câu hỏi lớn trong tháng Năm này.

indo2

Mỹ và Trung Quốc đối đầu nhau trong mọi phương diện. Reuters/Hyungwon Kang/Files

Việt Nam khó có thể để Mỹ trở lại vịnh Cam Ranh

Tháng Năm chập chờn bóng đen một cuộc chiến tranh lạnh mới giữa Mỹ và Trung Quốc. Trong cuộc khẩu chiến giữa hai siêu cường hàng đầu thế giới liên quan đến nguồn gốc dịch bệnh virus corona chủng mới, tổng thống Mỹ Donald Trump dọa cắt đứt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Lời đồn thổi rộ lên từ cuối tháng 4 đầu tháng 5/2020 cho rằng Mỹ muốn quay trở lại vịnh Cam Ranh của Việt Nam chẳng khác gì như châm thêm dầu vào lửa.

Theo phân tích của chuyên gia người Úc, Carl Thayer, giáo sư danh dự Học Viện Quốc Phòng Úc với ban tiếng Anh đài RFI, điều này khó thể xảy ra do chính sách "Ba Không" của Việt Nam. Ông cũng ghi nhận là số lần tầu chiến Mỹ cập cảng Việt Nam ngày một nhiều : "Về vịnh Cam Ranh, vài năm gần đây, Hoa Kỳ đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa tại Việt Nam".

Dù vậy, giáo sư Carl Thayer thận trọng cảnh báo : "Bất chấp chuyến thăm cảng Đà Nẵng của hàng không mẫu hạm USS Theodore Roosevelt, ba chuyến thăm khác của tầu chiến Mỹ và cuộc thăm chính thức Việt Nam của tổng thống Obama, Trung Quốc vẫn là đối tác kinh tế lớn nhất của Việt Nam và là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Mỹ. Kinh nghiệm lâu nay của tôi về Việt Nam cho thấy Hà Nội chẳng được lợi gì khi xem Trung Quốc là kẻ thù vĩnh viễn của họ".

WHO : Trung Quốc ghi một điểm trước Mỹ ?

Ngày 19/05/2020, Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) kết thúc cuộc họp đại hội đồng trong bối cảnh Hoa Kỳ và Trung Quốc đối chọi nhau gay gắt về nguồn gốc dịch bệnh Covid-19 và cách xử lý cuộc khủng hoảng của WHO, bị Mỹ tố cáo là "theo đuôi" Trung Quốc.

Trước sức ép của Mỹ, WHO thông qua một nghị quyết yêu cầu "đánh giá độc lập và khách quan" hoạt động của cơ quan này trong công cuộc đối phó với dịch Covid-19. Nhưng nghị quyết này không tháo gỡ được áp lực đe dọa của Mỹ. Tổng thống Donald Trump kỳ hạn cho Tổ chức Y tế Thế giới trong vòng một tháng để cải cách cụ thể, nếu không, Hoa Kỳ sẽ rút ra khỏi Tổ Chức.

Về điểm này, chuyên gia địa chính trị Pascal Boniface, Viện Nghiên Cứu Quốc Tế và Chiến Lược IRIS đánh giá như sau :

"Trên bình diện ngoại giao, đương nhiên Trung Quốc đã thắng. Một phần là vì cam kết của chủ tịch Tập Cận Bình. Nếu Trung Quốc tìm ra được vác-xin, đây sẽ được xem như là tài sản chung của thế giới, và như vậy sẽ được đưa ra sử dụng đại trà. Cam kết này còn nhằm chống lại những tuyên bố của lãnh đạo người Anh hãng dược Sanofi, cho rằng vác-xin tìm được trước hết sẽ dành cho thị trường Mỹ. Tiếp đến là do sự vắng bóng của Trump đã nhường chỗ cho Trung Quốc.

Chúng ta có thể nghĩ rằng Liên Hiệp Châu Âu cũng là bên thắng cuộc trong lần họp này. Cuộc họp gây quỹ mà Liên Hiệp Châu Âu tổ chức hôm 08/5 để tìm nguồn tài trợ cho việc nghiên cứu một vác-xin đã thành công, quyên góp được 8 tỷ euro. Và Châu Âu đã đưa ra được một hình ảnh đa phương, không bị nghi ngờ giấu giếm như Trung Quốc, hay có sự thèm muốn trá hình. Do Hoa Kỳ thoái lui, sự có mặt của Liên Hiệp Châu Âu khẳng định sự hiện diện của phương Tây, và như vậy cũng nhằm không để Trung Quốc là cường quốc duy nhất độc chiếm địa bàn".

Chuyên gia Anh : "Bắc Kinh không tha thứ cho tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn"

Ngày 20/05/2020, trong bài phát biểu nhậm chức nhiệm kỳ hai tổng thống Đài Loan, bà Thái Anh Văn khẳng định người dân Đài Loan sẽ không chấp nhận đánh đổi "Hòa bình, Bình đẳng, Dân chủ và Đối thoại" cho nguyên tắc "Một quốc gia, hai chế độ" mà Bắc Kinh đang sử dụng để thâu tóm Đài Loan và làm thay đổi nguyên trạng giữa đôi bờ eo biển.

Ông Steve Tsang, chuyên gia ngành Nghiên Cứu Phương Đông và Châu Phi (SOAS) trường Đại học Luân Đôn, trả lời câu hỏi đài RFI nhận định về tương lai quan hệ hai bên bờ eo biển trong bốn năm tới sẽ không mấy gì sáng sủa hơn so với bốn năm vừa qua.

"Trong bốn năm tới chúng ta sẽ chứng kiến một sự tiếp nối nếu không muốn nói là xuống cấp trong mối quan hệ giữa Đài Loan và Trung Quốc, vốn dĩ đã rất căng thẳng. Đài Loan là một ví dụ điển hình cho thấy làm thế nào một đất nước dân chủ, về văn hóa và chủ yếu là người Hoa, đã xử lý tốt cuộc khủng hoảng Covid-19.

Đây chính là một sự tương phản rõ nét trước sự bất lực của Trung Quốc hồi đầu mùa dịch. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc, rõ ràng tỏ ra khó chịu và tức giận, chắc chắn sẽ không tha thứ cho Thái Anh Văn về việc đã chống dịch thành công và tái đắc cử trên cơ sở một cương lĩnh không chấp nhận quan điểm của Trung Quốc về Đài Loan".

Ngân sách quốc phòng Trung Quốc : Vẫn tăng cho dù khủng hoảng kinh tế.

Khóa họp Quốc hội thường niên của Trung Quốc ngày 22/05/2020, sau hơn hai tháng rưỡi bị trễ vì dịch bệnh Covid-19 đã tập trung mọi sự chú ý của giới quan sát. Lần đầu tiên Trung Quốc không thông báo mục tiêu tăng trưởng kinh tế như thông lệ. Ngược lại, Bắc Kinh cho biết duy trì mức tăng ngân sách quốc phòng ở mức 6,6%.

Theo nhận định của ông Mathieu Duchâtel, giám đốc chương trình Châu Á, Viện Montaigne với đài RFI, bất chấp bối cảnh kinh tế khó khăn, công cuộc hiện đại hóa quân đội Trung Quốc vẫn được tiếp tục.

"Những năm gần đây, mối tương quan giữa ngân sách quốc phòng và tăng trưởng kinh tế là khá mạnh. Thường thì tăng trưởng kinh tế thấp hơn mức tăng quốc phòng một điểm. Ví dụ như trong năm 2019, mức tăng chính thức cho quốc phòng là 7,5%, trong khi tăng trưởng kinh tế là 6,5%.

Năm nay, chúng tôi vẫn chưa có số liệu về tăng trưởng kinh tế Trung Quốc, nhưng chúng ta cũng có thể dự đoán bởi vì Ngân hàng Thế giới đưa ra con số là -3%, nhưng con số này có thể còn tệ hơn nữa. Tín hiệu mà Trung Quốc muốn đưa ra là quốc phòng vẫn là yếu tố được bảo đảm, tránh không bị tác động của khủng hoảng kinh tế, tiếp tục được tăng cường, đồng thời gởi đến quốc tế một tín hiệu về sức mạnh và ổn định".

Hồng Kông : Quy chế "Một quốc gia, Hai chế độ" đã chấm dứt ?

Đỉnh điểm thời sự tháng Năm là cuộc khủng hoảng ở Hồng Kông lại trỗi dậy, với việc Trung Quốc thông qua Luật An ninh Quốc gia mới. Đạo luật nghiêm cấm và trừng phạt mọi hành vi "phản bội, ly khai, phản loạn, và lật đổ" chế độ sẽ được áp đặt với Hồng Kông. Người dân đặc khu hành chính lên án đây là một biện pháp bóp nghẹt "các quyền tự do". Hoa Kỳ lập tức phản ứng dọa rút "quy chế ưu đãi thương mại" đối với Hồng Kông.

Trên đài RFI, ông Jean-Philippe Béja, giám đốc nghiên cứu thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Gia Pháp, chuyên gia về chính trị Trung Quốc cho rằng Bắc Kinh đã "thất hứa" với chính những cam kết của mình đưa ra vào thời điểm Anh Quốc nhượng địa.

"Đây là một sự thay đổi sâu rộng đến mức người ta không khỏi nghi ngờ việc gìn giữ công thức "Một nhà nước, Hai chế độ". Luật Cơ Bản - một dạng Hiến pháp của Hồng Kông ghi rất rõ là Luật quốc gia, tức là luật của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa không thể áp dụng ở Hồng Kông ngoại trừ các lĩnh vực ngoại giao và quốc phòng. Luật an ninh vùa được thông qua chẳng liên quan gì đến ngoại giao cũng như quốc phòng cả. Hơn nữa, lúc đầu, chính quyền Hồng Kông từng nói là không thể sửa đổi Luật Cơ Bản Hồng Kông trong một sớm một chiều, thế rồi chỉ trong một đợt nghỉ cuối tuần, họ đã thay đổi ý kiến.

Việc thông qua dự luật về an ninh cho thấy là Bắc Kinh hoàn toàn coi thường những cam kết mà họ đã đưa ra vào năm 1984 và năm 1990 khi thiết lập Luật Cơ Bản và muốn áp đặt đạo luật này ở Hồng Kông vì Trung Quốc hiểu rõ là người dân Hồng Kông đang đứng dậy chống lại mọi hành động can thiệp của Bắc Kinh. Và nhất là chính quyền Hồng Kông hiện nay tuân theo lệnh của Bắc Kinh, đã hoàn toàn bất lực không làm được bất kể điều gì để có được ảnh hưởng đối với xã hội Hồng Kông".

Minh Anh

Nguồn : RFI, 30/05/2020

Published in Diễn đàn

Một s nước ln trong ASEAN có li ích trc tiếp trên Bin Đông nên hp sc li đ phn công s ln ti ca Trung Quc trong bi cnh nguyên tc đng thun ca khi đã b Bc Kinh li dng trong thi gian qua, mt nhà nghiên cu am hiu tình hình khu vc nhận đnh.

asean1

Lãnh đạo 10 nước ASEAN ti hi ngh thượng đnh Bangkok, Thái Lan hi tháng 6/2019

Chuyên gia này cũng khuyên là khu vực không nên đi đu hay loi b Trung Quc mà cn phi kim soát s vươn lên ca Trung Quc theo hướng có li cho khu vc.

Những nhn đnh này được đưa ra ti bui tho lun bàn tròn vi ch đ ‘Đy lùi Trung Quc khu vc n Đ Dương-Thái Bình Dương’ được Vin Hudson, môt vin nghiên cu chiến lược th đô Washington D.C. ca Hoa Kỳ, t chc hôm 26/11.

Tầm quan trng ca ASEAN

Trong phần trình bày v cách các nước Đông Nam Á có th đương đu vi Trung Quc, ông Richard Heydarian, phó giáo sư chính tr hc thuc Đi hc De La Salle, Philippines, đã ch trích thng thng nhng đim yếu ca khi ASEAN mà Bc Kinh đã li dng.

Trước hết, ông nhìn nhn là k t khi thành lp, ASEAN đã ‘làm được rt nhiu vic’ trong vic duy trì hòa bình và n đnh cho khu vc.

Ông nhắc li vào đu nhng năm 1960 trước khi ASEAN thành lp, các nước ln trong khu vc như Indonesia, Malaysia và Philippines đã có chính sách thù nghịch vi nhau (chính sách Konfrontasi ca Indonesia) xung quanh vic ra đi ca Liên bang Malaysia.

Ông đưa ra dn chng là vic chính quyn cu Th tướng Abdul Razak Hussein (Razak cha) ca Malaysia đã thông qua các kênh ngoi giao đ nh tng thng M khi đó là Richard Nixon can thip vi nhà đc đài Ferdinand Marcos ca Philippines đng đ quân xâm chiếm Malaysia.

"Vào cuối nhng năm 1960, chiến tranh gia các nước Đông Nam Á là vn đ được nhc đến nhiu", ông nói.

Tuy nhiên, với s ra đi ca khi ASEAN vào năm 1967, sau hơn 50 năm, ‘ý nim v chiến tranh hay thm chí đe da chiến tranh gia các nước Đông Nam Á gn như đã là điu không ai có th nghĩ đến na’, ông cho biết, mc dù vn có nhng tranh chp ch quyn lãnh thổ dai dẳng gia mt s nước thành viên.

"Họ (các nước ASEAN) đã thiết lp được cái gi là cng đng an ninh", ông nói thêm. "Cho nên không phi là h không có ý đnh gây xung đt mà là h không h thiếu các phương cách x lý xung đt gia h vi nhau".

Nhưng trên hết, ông cho biết, vai trò ca ASEAN quan trng ch là ‘kéo các cường quc bên ngoài cùng ngi li vi nhau’ đ tránh xung đt và bt các cường quc (như M, Trung Quc) tuân theo lut chơi do ASEAN đ ra trong vic x lý căng thng và xung đt gia các nước.

Ngoài ra, các nước ASEAN còn có s hp tác hiu qu đ đi phó vi các thách thc an ninh phi truyn thng như khng b, cướp bin… Ông dn chng là ba nước Indonesia, Malaysia và Philippines đã có các cuc tun tra ba bên trên bin đ chng s thâm nhp ca các phn t thuc Nhà nước Hi giáo (ISIS).

Nguyên tắc li thi ?

Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra hn chế ln ca khi là trong vic x lý mi quan h vi các đi cường, chng hn như Trung Quc.

Ông dẫn ra hai nguyên tc cơ bn ca ASEAN là ‘tham vấn và đng thun’ mà trong đó đng thun đã ‘b hiu lm là nht trí’.

"Nếu chúng ta nhìn vào nhng vn đ như chính tr, an ninh, nhân quyn thì s nht trí là mt tr ngi ln bi vì nht trí có nghĩa là tng nước thành viên trên thc tế đu có quyn phủ quyết (đ chn bt c quyết đnh nào ca khi", ông nói.

"Nếu như anh là mt cường quc bên ngoài có mong mun không đ cho ASEAN đoàn kết trên mt vn đ nào đó thì vic anh cn làm ch là gây sc ép hay da vào ch mt thành viên ASEAN bt chp mc đ quan ngi ca các nước ASEAN khác", ông gii thích.

Ông đưa ra dn chng là Campuchia chu s chi phi ca Trung Quc ‘đ phá hoi ASEAN’ (saboteur) trên vn đ Bin Đông mc dù nước này không có li ích trc tiếp trên vùng bin này.

"Chúng ta không thể chê trách họ (Campuchia) bi vì trên quan đim ca h thì ti sao h phi gánh ly ri ro là chc gin Trung Quc vn là ngun đu tư chính và là nước ng h ch cht cho nước h v mt ngoi giao".

Ông tương phn cách làm vic da trên s nht trí này ca ASEAN với nguyên tc ca Hi đng châu Âu là phân b quyn b phiếu ca mi nước tùy theo sc nng ca nước đó và quyết đnh được thông qua ch cn đa s phiếu thun.

Ông Heydarian gọi đây là ‘cái by th chế lưng chng’ và cho rng chính ‘nguyên tc lỗi thời’ này đã khiến ASEAN t v trí trung tâm trong các vn đ trong khu vc b đy ra ‘ngoài l’.

"Cơ chế ra quyết đnh vn giúp cho các nước ASEAN to dng hòa bình vi nhau trong vòng 50 năm qua đã không còn hiu qu trong vic to ra hòa bình gia các đại cường", ông đúc kết.

Bên cạnh đó, trong khi ASEAN đang cht vt khng đnh vai trò trung tâm ca mình đ gii quyết các vn đ trong khu vc thì Bc Kinh ‘đang nhanh chóng thay đi thc đa trên Bin Đông’.

Ông dẫn chng là Trung Quc đang xây dng ‘Vn Lý Trường Thành tên la đt đi không’ (Great Wall of SAM) vi vic trin khai tên la loi này ra Bin Đông trong vòng ba năm qua bên cnh các máy bay ném bom, các thiết b phá sóng đin t.

Về lc lượng hi cnh ca Trung Quc, vn là lc lượng bán quân sự được Bc Kinh trin khai đ duy trì lut pháp ca h trên Bin Đông, ông Heydarian cho rng lc lượng này gi đây là ‘cánh tay ni dài ca Hi quân Trung Quc’.

"Mức đ ca các hot đng ngoi giao ca ASEAN không theo kp nhng din biến trên thc đa", ông nói.

"Khi chúng ta đang bàn thảo v B Quy tc ng x (COC) vi Trung Quc thì Trung Quc li nhanh chóng thay đi tình tình trên thc đa hàng ngày", ông nói thêm. "Vy thì ti sao chúng ta li lãng phí thi gian vào các cuc đàm phán trong khi chúng ta thậm chí còn không biết liu COC có ràng buc v pháp lý hay không ?"

‘Tiểu ASEAN’

Cho nên, vị giáo sư này đ xut ‘cách tt nht đ duy trì cơ chế đa phương và giúp cho khi ASEAN tr nên hiu qu hơn là xây dng cơ chế tiu đa phương (mini-lateralism) gia các nước ch cht trong ASEAN và tăng cường s tiếp xúc gia các nước B T (M, Nhật, n, Úc) vi các nước ch cht trong ASEAN.

Những nước ch cht trong ASEAN này mà ông nêu ra là Indonesia, Thái Lan, Philippines Malaysia và Vit Nam.

"Nếu nhng nước B T có th đnh chế hóa s hp tác vi các nước ASEAN ch cht trên nhng vn đề mà họ quan ngi v Trung Quc thì tôi cho rng điu đó đã quá đ. Chúng ta không cn đưa hết tt c 10 nước ASEAN vào".

Trả li câu hi ca VOA liu mô hình ‘tiu ASEAN’ có kh thi và có được s ng h ca các nước ASEAN hay không khi nó làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN, ông cho rng ASEAN ‘đã đâm vào chân tường’ và đang trong thế ‘bế tc v th chế’.

"Chúng ta cần phi tìm phương án thay thế", ông nhn mnh.

"Tôi cho rằng Philippines có quyết đnh đơn phương đưa vn đ ra tòa là vì chúng tôi cm thấy ASEAN không làm được gì và quyết đnh đơn phương đó gi đây có ích cho nhiu nước ASEAN như Vit Nam và Malaysia".

Chính vì lẽ đó, ông cho biết cho biết ông đã trao đi nhiu vi các quan chc Philippines, Malaysia và Vit Nam rng ti sao các nước này không làm việc cùng nhau (theo cơ chế tiu ASEAN) đ đt được B Quy tc ng x (COC) ca mình mà theo ý ông là ‘b quy tc ng x tht s ch không phi là gi to như b quy tc đang được bàn tho (gia Trung Quc và toàn b 10 nước ASEAN),’ ông nhn mnh.

Ông cho biết ông ‘hết sc lo ngi v ni dung bn d tho COC mà Trung Quc hin đang đàm phán vi các nước ASEAN’ đến mc ông cho rng vi văn bn như thế chng thà nó ‘không ràng buc v pháp lý’ còn hơn.

Theo đó, Trung Quốc có hai yêu cu ch yếu. Thứ nht, h mun các ngun li du m trên Bin Đông ‘ch được chia s gia Trung Quc và các nước ven Bin Đông mà thôi’. Điu này có nghĩa là các hãng du khí ca phương Tây không th nào hp tác khai thác vi các nước nh có tranh chp ch quyn.

Thứ hai, Trung Quốc mun có quyn ph quyết vic tp trn ca các nước trong khu vc vi các cường quc bên ngoài. Điu này không th chp nhn được vi M vì nước này có cuc tp trn thường xuyên vi Philippines trên Bin Đông, đó là chưa k các nước đi tác tập trn khác bên ngoài như Pháp, Nht, Úc, ông cho biết.

Khi đưa ra nhng yêu sách như vy đi vi COC, Bc Kinh đã th hin thái đ rt bo dn nhưng, theo ông, nhng nước như Vit Nam, Indonesia và Malaysia đã chng li. Tuy nhiên, ông cho rng vic Trung Quốc mnh dn tin rng h có th s dng ASEAN ‘như là lá chn’ đ đy các cường quc khác ra khi khu vc ‘là điu đáng lo ngi’.

"Mặc dù trong khi ASEAN, các nước thành viên được cho là bình đng vi nhau nhưng trên thc tế không phi nước nào nào cũng có lợi ích tương đương nhau và không phi nước nào cũng có trng lượng như nhau", ông gii thích.

"Bắc Kinh s lng nghe nhiu hơn gp 10 ln nếu đó là tiếng nói ca Indonesia ch không phi nhng nước như Campuchia và Lào", ông nói và cho biết Indonesia cũng đang đóng vai trò ngày càng lớn trong vic đàm phán COC vì h có vùng bin Natuna ca h cũng b nh hưởng trong đường chín đon ca Trung Quc.

"Chỉ cn nhng nước ch cht duy trì lp trường trước Trung Quc là đã quá đ", ông nói thêm.

‘Cường quốc bậc trung’

Ông cho rằng rt nhiu người đã đánh giá thp sc mnh ca nhng nước Đông Nam Á mà h cho là ‘nh’ như Indonesia, Philippines và Vit Nam.

Ông dẫn ra Indonesia có dân s 270 triu người, tc gn tương đương nước M, và có nn kinh tế được dư đoán sẽ ‘nm trong s 5 nn kinh tế ln nht thế gii trong vòng hai thp niên ti’.

Trong khi đó, quy mô dân số ca Vit Nam và Philippines s chóng vượt mc 100 triu dân. Tt c ba nước này, ông Heydarian d đoán, s có nn kinh tế vượt 1.000 t đô la trong khoảng thi gian trung hn.

"Do đó ASEAN không thật s là tp hp ca các nước nh mà bao gm nhng cường quc bc trung hết sc năng đng vn bn thân h cũng có sc mnh ca riêng mình", ông phân tích.

Tuy nhiên, vị giáo sư đến t Philippines này cũng lưu ý rng mc dù các nước ASEAN cn đ phòng mi đe da ca Trung Quc nhưng mc khác h cũng phi ‘công nhn vai trò ca Trung Quc trong khu vc’.

"Cho dù có muốn hay không thì Trung Quc vn là mt phn ca cuc chơi và vic can d (thay vì đi đu) với Trung Quc là không th tránh khi", ông nói. "Tuy nhiên, vn đ đt ra là can d vi Trung Quc như thế nào đ h phn hi nhiu hơn trước nhu cu và s nhy cm ca các nước nh".

Còn đối vi các nước B T, ông khuyên rng thay v tp trung vào việc hình thành liên minh đối chi Trung Quc thì hãy nên ‘tp trung vào xây dng năng lc cho các nước nh trong khu vc’.

Thời cơ cho Vit Nam ?

"Nếu chúng ta tìm xem nước nào s là cường quc mi ni Đông Nam Á thì không nghi ng gì đó s là Vit Nam. Và Việt Nam s là ch tch ASEAN vào năm sau", ông nói và nhn mnh vai trò ca Hà Ni hin nay là ‘dn dt c khu vc trong vic xác đnh ln ranh vi Trung Quc trên Bin Đông’ nhưng đôi khi ‘Hà Ni chiến đu ch có mt mình’.

Trả li câu hi ca VOA rng Hà Nội nên tn dng thi cơ là ch tch ASEAN vào năm 2020 như thế nào đ lãnh đo s đi phó ca khi trước s qu quyết ngày càng tăng ca Trung Quc trên Bin Đông, giáo sư Heydarian nhc li nhim kỳ ch tch ca Vit Nam cách nay gn 10 năm (vào năm 2010) mà khi đó Ngoại trưởng M Hillary Clinton đã tuyên b Hà Ni rng ‘M có li ích quc gia trên Bin Đông’ bt chp s cnh báo mnh m ca Bc Kinh.

Ông cho rằng ti ln làm ch tch ln này, Hà Ni nên xúc tiến hành đng pháp lý đi vi Bc Kinh trên Biển Đông da trên kinh nghim v kin ca Manila ra Tòa Trng tài Thường trc (PCA).

Ông cho biết trong nhng năm t 2013 cho đến 2016, phía Philippines đã nhiu ln mi Vit Nam sang nước h đ chia s nhng kinh nghim v v kin.

"Với quyết đnh đơn phương kin Trung Quc ra tòa án quc tế, Philippines đã đến cho khu vc mt đòn by và li thế ln (trong vic đi phó vi Trung Quc)", ông nói. Do đó, gi đây nếu Hà Ni đe da dùng đến công c pháp lý thì li đe da đó s ‘càng đáng tin hơn’ vì v kin ca Manila đã cho thy h có th chiến thng trước Trung Quc.

"Dĩ nhiên Hà Nội không nên kin v vn đ ch quyn (trên Bin Đông) mà v phm vi vùng đc quyn kinh tế mà h được cho phép theo lut quc tế", ông khuyên. "Hà Ni có thể nhờ đến Tòa Trng Tài đ chng minh rng Bc Kinh không có quyn đi vào Bãi Tư Chính (đ thăm dò) gì c".

"Đây là điều rt quan trng mà Vit Nam có th làm", ông nói thêm và cho rng nếu Hà Ni thc s đt lên bàn kh năng kin Trung Quc thì h s càng ‘củng c thêm lòng yêu nước ca người dân Philippines đ nhc nh Tng thng ca chúng tôi (Rodrigo Duterte) cn phi làm nhng gì ông y cn làm (v phán quyết ca PCA hi năm 2016 trao chiến thng cho Philippnes)".

Ngọc Lễ

Nguồn : VOA, 28/11/2019

Published in Diễn đàn

ASEAN nhắm đến hoạt động tập trận hải quân chung với Mỹ vào năm tới (RFA, 19/10/2018)

Bộ trưởng Quốc phòng Singapore Ng Eng Hen cho biết Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đang lên kế hoạch tập trận chung với Hải quân Hoa Kỳ vào năm tới.

taptran1

Bộ trưởng Quốc phòng Singapore Ng Eng Hen (trái) và Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ James Mattis tại Singapore ngày 18 tháng 10 năm 2018. AFP

Ông phát biểu điều này tại cuộc họp các bộ trưởng quốc phòng ASEAN tại Singapore hôm 19/10.

Ý tưởng về một cuộc tập trận hàng hải ASEAN - Mỹ được đưa ra vào khi ASEAN sẽ tiến hành diễn tập hải quân chung với Trung Quốc lần đầu tiên từ ngày 22 đến 27 tháng 10 tại vùng biển ngoài khơi thành phố Trạm Giang.

Cuộc tập trận ASEAN - Mỹ nhằm tạo thế cân bằng giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, hai quốc gia có ảnh hưởng đáng kể ở Biển Đông. Kế hoạch tập trận chung lần này dự kiến ​​sẽ được đưa vào bản tuyên bố chung sau cuộc họp của các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN, do Bộ trưởng Quốc phòng Singapore chủ trì.

Trong tuần này, các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN cũng sẽ gặp đồng nhiệm các nước lớn ngoài khu vực gồm Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ và Nga.

Hồi tháng Hai, các bộ trưởng quốc phòng của ASEAN và Trung Quốc đã đồng ý tiến hành một cuộc tập trận hàng hải chung đầu tiên trong tháng này tập trung vào việc tìm kiếm, cứu nạn trên biển.

Trong khi đó quân đội Mỹ đã tiến hành các cuộc tập trận quân sự song phương và đa phương với tất cả các quốc gia ASEAN, trừ Myanmar và Lào.

********************

Trung Quốc và ASEAN sẽ tập trận chung trên biển vào tuần tới (RFA, 19/10/2018)

Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á sẽ tổ chức diễn tập hải quân chung lần đầu tiên vào tuần tới. AFP loan tin vừa nêu hôm 19 tháng 10 năm 2018.

PHILIPPINES-JAPAN-MARITIME-DIPLOMACY

Hải quân Philippines thao diễn hải quân tại Biển Đông hôm 8/5/2015. AFP

Tin nói mặc dù có những bất đồng đối với tham vọng lãnh hải của Bắc Kinh, thế nhưng khối các nước ASEAN và Trung Quốc đang nổ lực có được hòa hoãn nhằm tránh căng thẳng leo thang vượt ra ngoài tầm kiểm soát.

Tuyên bố chủ quyền gần như trọn biển Đông của Bắc Kinh từ lâu đã là mối lo ngại của những nước Đông Nam Á cùng có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, cũng như Hoa Kỳ vốn là lực lượng hải quân thống trị thế giới bấy lâu nay.

Một phần của nổ lực gọi là hòa giải như thế là Hải quân Trung Quốc và Hải quân các nước thuộc Hiệp hội các nước Đông Nam Á gồm 10 thành viên (ASEAN) sẽ tổ chức các cuộc tập trận chung đầu tiên tại khu vực Biển Đông.

Tuyên bố tại Hội nghị bộ trưởng quốc phòng ASEAN tại Singapore, với sự tham dự của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Jim Mattis và người đồng cấp Trung Quốc- Ngụy Phượng Hòa, Bộ trưởng Quốc phòng Singapore Ng Eng Hen nói rằng các cuộc tập trận sẽ giúp xây dựng lòng tin và sự tự tin.

Các bài tập trên biển giữa ASEAN và Trung Quốc vào tuần tới đã được thảo luận tại Singapore vào tháng 8 vừa qua.

Tuy nhiên, một số nhà quan sát cho rằng việc tập trận chung này là một phần nỗ lực của Trung Quốc để giảm thiểu ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực.

*****************

ASEAN và Trung Quốc chuẩn bị diễn tập hải quân chung lần đầu tiên (RFI, 19/10/2018)

Vào tuần tới, Hải Quân các nước thuộc Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) sẽ tiến hành các diễn tập trên biển chung đầu tiên với Trung Quốc. Bộ trưởng quốc phòng của Singapore, nước hiện là chủ tịch luân phiên ASEAN, đã cho biết như trên vào ngày 18/10/2018.

taptran3

Hội Nghị các bộ trưởng quốc phòng ASEAN tại Singapore ngày 19/10/2018. Reuters/Edgar Su

Phát biểu tại Hội Nghị các bộ trưởng quốc phòng ASEAN khai mạc tại Singapore, bộ trưởng quốc phòng nước chủ nhà Ng Eng Hen xác nhận là tàu hải quân của các nước ASEAN đang trên đường đến Trạm Giang ở miền Nam Trung Quốc để tham gia cuộc diễn tập. Theo ông, sự kiện này giúp "xây dựng lòng tin" giữa khối ASEAN và Trung Quốc.

Cuộc diễn tập hải quân đầu tiên giữa ASEAN và Trung Quốc sẽ diễn ra tại Biển Đông, khu vực mà Bắc Kinh đòi chủ quyền 90% diện tích, bất chấp các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của 4 nước Đông Nam Á là Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei.

Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã tăng cường quân sự hóa các thực thể mà họ chiếm đóng ở Biển Đông, nhằm áp đặt các yêu sách chủ quyền. Hoa Kỳ thường xuyên cho tàu quân sự tiến vào Biển Đông để nhắc nhở Bắc Kinh là phải tôn trọng các nguyên tắc tự do hàng hải, đồng thời bày tỏ thái độ ủng hộ một số quốc gia ASEAN.

Để xua tan những lo ngại có thể có của Washington về việc ASEAN chạy theo Trung Quốc, bộ trưởng quốc phòng Singapore cho biết là ASEAN hiện cũng lên kế hoạch thao diễn Hải Quân với Mỹ vào năm 2019, và đó cũng sẽ là một sự kiện chưa từng thấy.

ASEAN ký thỏa thuận ngăn ngừa sự cố giữa phi cơ quân sự các nước

Tại Hội Nghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN vào ngày 19/10, các thành viên Hiệp Hội Đông Nam Á đã ký kết Bản Hướng Dẫn về việc phòng ngừa các va chạm trên không giữa Không Quân các nước.

Theo hãng tin Singapore CNA, đây là bản hướng dẫn không quân đa phương đầu tiên trên thế giới, nhằm mục đích xử lý các vụ chạm trán bất ngờ giữa các máy bay quân sự, đặc biệt trên các khu vực tranh chấp như Biển Đông.

Bên cạnh đó, các bộ trưởng quốc phòng ASEAN cũng đồng ý tăng cường hợp tác chống khủng bố trong khu vực và thiết lập một mạng lưới trong toàn vùng nhằm chống lại các mối đe dọa về hóa học, sinh học và phóng xạ.

Ngay sau Hội Nghị Bộ Trưởng quốc phòng ASEAN (ADMM-ASEAN Defence Ministers Meeting), các nước ASEAN cũng sẽ tham gia Hội Nghị Bộ Trưởng quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), với 8 quốc gia đối tác trong đó có Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản…

Mai Vân

Published in Châu Á

Không ảnh cho thấy Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông ra sao (CaliToday, 08/02/2018)

Theo tin tức từ trang mạng Inquirer.net thì Trung Quốc gần như hoàn thành việc biến 7 đảo và bãi đá cạn trong quần đảo Trường Sa thành các ‘công sự chiến đấu’

Đó là các bãi đá cạn có tên Fiery Cross Reef, Calderon, Burgos, Mabini, Panganiban, Zamora và McKennan. Trước đây Tòa án Quốc Tế The Hague của Liên Hiệp Quốc đã ra phán quyết là bãi đá cạn Panganiban là thuộc chủ quyền của Philippines.

Quần đảo Trường Sa ở Biển Đông có các quốc gia sau đây tranh giành chủ quyền là Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Đài Loan, Brunei và Malaysia.

Bản báo cáo cho hay ‘các tấm không ảnh cho thấy các bãi đá cạn nói trên đã bị biến thành các đảo nhân tạo có chứa các căn cứ không quân và hải quân, đang trong giai đoạn hoàn tất’. Đa số các tấm không ảnh được chụp từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2017 và ở độ cao 1,500 mét.

bd1

Photo Credit : http ://www.freemalaysiatoday.com

Những tấm ảnh cho thấy trên các đảo nhân tạo này có hệ thống các phi đạo, chổ cho trực thăng lên xuống, các hải đăng, trụ sở truyền tin, nhà kho, đài radar, các trạm quan sát và các trạm viễn thông. Có nhiều tàu quân sự và chở hàng của Trung Quốc hiện diện trong các tấm ảnh.

Như thế theo bản báo cáo này thì tuy Bắc Kinh có đặt bút ký kết với khối ASEAN vào năm 2002 một thỏa thuận ‘không làm thay đổi các hiện trạng trên biển’, nhưng cũng chính Trung Quốc ‘xé rào trước’ khi tiến hành xây dựng kiên cố các cơ sở quân sự như thế.

Theo nhóm Asia Maritime Transparency Initiative (AMTI) của Hoa Kỳ thì trong số các bãi này, bãi đá cạn Fiery Cross Reef là nơi Trung Quốc xây dựng nhiều nhất trong năm 2017, với tổng diện tích bành trướng xây thêm lên đến 110,000 mét vuông.

Đào Nguyên

********************

ASEAN tránh đụng Trung Quốc trên bầu trời Biển Đông ? (BBC, 07/02/2018)

Khối ASEAN đang hy vọng sẽ có được kết quả đàm phán về một bộ quy tắc ứng xử với Trung Quốc, nhưng việc đạt thỏa thuận trong vòng một năm là điều không thực tế, bộ trưởng quốc phòng Singapore nói hôm thứ Tư, 7/2/2018.

asean1

Tranh chấp về lãnh hải ở Biển Đông đặt ra nhu cầu liên kết quân sự trong khu vực

Các bộ trưởng quốc phòng hôm thứ Ba đã thảo luận một nội dung then chốt, nhằm phát triển một bộ quy tắc nhằm kiểm soát các vụ chạm trán không định trước (Code of Unexpected Encounters - CUES) ở trên không, theo báo Strait Times của Singapore.

Trung Quốc và 10 thành viên ASEAN hồi tháng Tám năm ngoái đã đưa ra được một thỏa thuận khung cho vùng biển có tranh chấp, nơi Bắc Kinh đang kiểm soát phần lớn nhưng một số nước khác cũng tuyên bố chủ quyền, nhằm xây dựng bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), và đã xúc tiến đàm phán kể từ đó.

"Chúng tôi hy vọng là sẽ vấn đề này sẽ được giải quyết, nhưng đó là chủ đề rất, rất phức tạp", hãng tin Reuters dẫn lời ông Ng Eng Hen nói với các phóng viên sau phiên họp của bộ trưởng quốc phòng các nước.

"Tranh chấp đã kéo dài cả thế kỷ. Việc trông đợi sẽ đạt được bộ quy tắc ứng xử trong vòng một năm là không thực tế", ông nói.

asean2

Trung Quốc : Hình vệ tinh cho thấy cơ sở của Trung Quốc ở Đá Chữ Thập

Một số thành viên ASEAN có tranh chấp trên biển từ lâu nay đã muốn có một bộ COC mang tính ràng buộc pháp lý và có hiệu lực thi hành đối với Trung Quốc.

Bên cạnh việc đàm phán về COC, các bên hồi năm ngoái đã đưa ra một CUES trên biển.

Tuy nhiên, ông Ng nói, việc có một bộ quy tắc ứng xử cho phi cơ các nước cũng mang tầm quan trọng không kém, Strait Times tường thuật.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Cảnh Sảng, phát biểu sau tuyên bố của ông Ng, rằng Bắc Kinh đã phối hợp với các nước trong khối ASEAN nhằm xây dựng một bộ quy tắc ứng xử làm hài lòng tất cả các quốc gia trong khu vực.

Tuy nhiên, Trung Quốc đã nhanh chóng mở rộng việc triển khai quân sự tại Biển Đông.

asean3

Trung Quốc xây cất trên Đá Subi

Cũng hôm thứ Tư, lực lượng không quân nước này nói rằng các chiến đấu cơ Su-35 của Trung Quốc gần đây đã tham dự một cuộc tuần tra chiến đấu ở Biển Đông.

Tuyên bố của không quân Trung Quốc không nêu thời gian diễn ra cuộc tuần tra, cũng như địa điểm cụ thể nào ở Biển Đông.

Gần đây, báo Daily Inquirer của Philippnes công bố những hình ảnh mà họ nói rằng cho thấy Bắc Kinh đã gần như hoàn tất việc cải tạo, cơi nơi bảy rặng đá mà Manila tuyên bố chủ quyền ở Quần đảo Trường Sa thành những pháo đài trên đảo.

Hầu hết các hình ảnh mà Daily Inquirer có được được chụp trong thời gian từ tháng 6 tới 12/2017 cho thấy các bãi đá đã được xây thành các đảo nhân tạo và đang trong giai đoạn cuối cùng của hoạt động phát triển thành các căn cứ không quân và hải quân.

Malaysia, Brunei, Việt Nam, Philippines và Đài Loan là các bên tuyên bố chủ quyền từng phần ở Biển Đông.

************************

Biển Đông : Singapore không hy vọng sớm có bộ Quy Tắc Ứng Xử (RFI, 07/02/2018)

Sau một cuộc họp của các bộ trưởng quốc phòng ASEAN tại Singapore vào hôm nay, 07/02/2018, bộ trưởng quốc phòng Singapore Ng Eng Hen xác định là khối Đông Nam Á đang hy vọng đẩy nhanh tốc độ đàm phán về một bộ Quy Tắc Ứng Xử trên Biển Đông với Trung Quốc. Tuy nhiên, theo ông, không nên chờ đợi là thỏa thuận sẽ đạt được trong năm nay.

asean4

Ảnh chụp chung các ngoại trưởng ASEAN tham dự phiên họp bộ trưởng ngoại giao - quốc phòng của khối, từ 04 đến 06/02/2018, tại Singapore. Reuters/Calvin Wong

Phát biểu với báo chí, bộ trưởng quốc phòng Singapore giải thích thêm rằng Bộ Quy Tắc Ứng Xử trên Biển Đông là một "vấn đề rất, rất phức tạp", liên quan đến một "tranh chấp từ một thế kỷ nay".

Vào năm ngoái 2017, Trung Quốc và khối ASEAN đã thông qua khuôn khổ đàm phán về vấn đề này, và ca ngợi sự kiện này như là một bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, theo hãng tin Anh Reuters, việc hai bên không nhất trí được là bộ luật quy tắc phải mang tính chất ràng buộc, về mặt pháp lý, đã làm dấy lên nghi ngờ về hiệu quả của văn kiện này.

Đối với một số nước đang có tranh chấp với Trung Quốc tại Biển Đông, việc ký kết một bộ quy tắc có tính ràng buộc là một điều quan trọng, vì cho đến nay, Trung Quốc thường xuyên bị tố cáo vi phạm chủ quyền, ngăn chặn đánh bắt hải sản hay thăm dò dầu khí tại những khu vực rộng lớn đang có tranh chấp mà Bắc Kinh tự nhận chủ quyền.

Trong bối cảnh đó, tại cuộc họp cấp ngoại trưởng ở Singapore, một số quốc gia ASEAN đã bày tỏ thái độ quan ngại về các hoạt động của Trung Quốc trong các khu vực tranh chấp tại Biển Đông, trong đó có các hoạt động bồi đắp, xây dựng cơ sở.

Theo hãng tin Pháp AFP, một tuyên bố chung sau hội nghị, dù không nêu đích danh Trung Quốc, đã đề cập đến những hoạt động cải tạo đất đá của Bắc Kinh trên Biển Đông, xem đấy là những hành vi phá hoại lòng tin tưởng lẫn nhau.

Tuyên bố nói rõ là hội nghị các ngoại trưởng "đã ghi nhận những quan ngại từ phía một số ngoại trưởng về việc bồi đắp và các hoạt động khác tại khu vực, vốn làm xói mòn lòng tin lẫn nhau, khiến căng thẳng gia tăng, đồng thời có thể làm tổn hại hòa bình, an ninh và ổn định khu vực".

Vào tháng 12/2017, Trung Quốc đã lên tiếng biện minh rằng các hoạt động xây dựng của họ trên Biển Đông là công việc "bình thường", sau khi một trung tâm nghiên cứu Mỹ công bố ảnh vệ tinh mới cho thấy các hoạt động triển khai hệ thống radar cùng các thiết bị khác của Trung Quốc tại đây.

Với Singapore làm chủ tịch luân phiên ASEAN, vấn đề tranh chấp Biển Đông đã được nêu lên trở lại, trái với năm ngoái, khi chủ tịch Philippines luôn tìm cách ém nhẹm hồ sơ này.

Trọng Nghĩa

Published in Châu Á

Các nước ASEAN và Trung Quốc hy vọng sẽ có thể đạt được một Bộ Quy tắc về ứng xử của các bên trên Biển Đông (gọi tắt là COC) trong năm nay, chấm dứt 15 năm dài đàm phán. Tuy nhiên một khung về COC được đưa ra mới đây bị chuyên gia quốc tế đánh giá là quá sơ sài và còn quá nhiều câu hỏi về khả năng thực hiện COC này một khi nó được thông qua.

asean1

Các quan chức cấp cao từ Trung Quốc và các nước ASEAN tham dự cuộc họp về việc thực hiện Tuyên bố về Cách ứng xử của các Bên ở Biển Đông, ngày 18 tháng 5 năm 2017. AFP

"Một con voi sinh ra một con chuột"

Trong bài phân tích được đăng tải trên trang blog Thayer Consultancy, giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về quân sự thuộc trường đại học New South Wales, Úc, nhận định những nỗ lực ngoại giao của các nước ASEAN và Trung Quốc trong việc đạt được một bộ khung COC giống như một con voi sinh ra một con chuột với một trang viết và những điểm chấm đầu dòng.

Khi đi sâu vào chi tiết, giáo sư Carl Thayer cũng chỉ ra những điểm có thể nói là còn thiếu trong khung COC :

Bản thảo hiện tại không chỉ ra các vùng địa lý được bao gồm trong COC. Trung Quốc nhất quyết COC chỉ áp dụng cho khu vực phía Nam của Biển Đông (quần đảo Trường Sa) nhưng lại bỏ bãi cạn Scaborough Shoal và quần đảo Hoàng Sa. Bản thảo cũng không chỉ ra là COC sẽ đi vào hiệu lực thế nào, ai sẽ ký COC ? ASEAN muốn COC phải được quốc hội của cả 11 nước tham gia thông qua. Trung Quốc thì ngần ngừ. Quan trọng hơn cả là bản thảo không nói đến một cơ chế để phiên dịch COC nếu có xuất hiện những khác biệt hoặc các vụ việc sẽ được giải quyết thế nào thông qua một quá trình giải quyết tranh chấp đã được thiết lập.

Hiện Trung Quốc là nước đòi chủ quyền đến 90% diện tích Biển Đông qua đường đứt khúc 9 đoạn mà nước này tự vẽ ra đi qua các vùng lãnh hải của một số nước khác. Các nước khác cũng đòi chủ quyền ở khu vực này bao gồm Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, Đài Loan.

Bãi cạn Scaborough Shoal của Philippines đã bị Trung Quốc chiếm vào năm 2012.

Quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm từ Việt Nam vào năm 1974.

Hồi cuối tháng 4 vừa qua, trang tin Forbes của Mỹ có bài viết nhận định Việt Nam sẽ là người bị thiệt hại nhiều nhất nếu một COC được thành hình vì Trung Quốc sẽ không chấp nhận đưa Hoàng Sa vào phạm vi của COC.

Thạc sĩ luật Hoàng Việt, thành viên Quỹ Nghiên cứu Biển Đông trước đó có đưa ra nhận định với đài Á Châu Tự do về điểm này :

COC có liên quan đến Hoàng Sa nên một trong những lý do mà COC dậm chân cũng là vì nó có liên quan đến Hoàng Sa. Các nước ASEAN đưa ra COC là toàn bộ Biển Đông còn Trung Quốc thì cho rằng Hoàng Sa là một phần lãnh thổ của Trung Quốc và không có gì phải đàm phán cả, chỉ có thể đưa ra COC cho vùng Trường Sa thôi.

Giáo sư Carl Thayer cho rằng, không ai có thể lấy lại được Hoàng Sa từ Trung Quốc và hy vọng lớn nhất mà Việt Nam có được đối với quần đảo này là ra tòa quốc tế.

COC sẽ không bao gồm tranh cãi là chủ quyền ?

Năm 2013, Philippines đã nộp đơn kiện lên tòa Trọng tài Quốc tế ở The Hague để yêu cầu tòa làm rõ những yêu sách phi lý của Trung Quốc ở biển Đông. Tháng 7 năm 2016, tòa ra phán quyết bác bỏ yêu sách đường đứt khúc 9 đoạn của Trung Quốc ở Biển Đông và xác định việc Trung Quốc ngăn cản các ngư dân Philippines vào bãi cạn Scaborough Shoal là trái pháp luật. Tuy nhiên Trung Quốc không công nhận phán quyết của tòa và nước này hiện vẫn nắm quyền kiểm soát toàn bộ bãi cạn.

Theo Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ của Việt Nam, việc Trung Quốc không muốn bỏ yêu sách đường 9 đoạn sẽ khiến COC đạt được sẽ không bao gồm những phần gây tranh cãi là chủ quyền.

Nếu các bên vẫn giữ yêu sách của mình thì người ta phải tìm một giải pháp khác là tạm thời gác tất cả những yêu sách tranh chấp chủ quyền sang một bên, chỉ giải quyết những vấn đề mang tính kỹ thuật thôi như vấn đề đánh cá, giao thông vận tải, hàng không, hàng hải và các tranh chấp dân sự và hình sự xảy ra trong khu vực này.

Theo ghi nhận của giáo sư Carl Thayer, bản thảo COC có nói đến Hiến chương Liên Hợp Quốc, Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á, 5 nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình, luật quốc tế bao gồm Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển (UNCLOS). Tuy nhiên vấn đề nằm ở chỗ Trung Quốc lại không chấp nhận phán quyết của tòa Trọng tài quốc tế trong vụ kiện mà Philippines đưa ra. Bản thảo COC cũng kêu gọi các bên tôn trọng chủ quyền. Tuy nhiên theo giáo sư Carl Thayer, điều này rất khó thực hiện vì các phần đất trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa hiện vẫn còn đang có tranh chấp giữa các nước. Ngoài ra, bản thảo COC cũng không đả động gì đến Bộ Quy tắc ứng xử trong các vụ đụng độ không báo trước tren biển (CUES) mà cả Trung Quốc và ASEAN đã thống nhất thực hiện đối với khu vực Trường Sa.

COC là một quá trình đàm phán kéo dài hơn 10 năm giữa ASEAN và Trung Quốc. Các nước hy vọng một COC đạt được sẽ có tính ràng buộc hơn giữa các nước, tránh những đụng độ trên biển. Tuy nhiên các chuyên gia quốc tế và quan chức ASEAN trước đây vẫn cho rằng Trung Quốc đã làm chậm tiến trình đạt đến COC trong suốt thời gian qua. Theo giáo sư Carl Thayer, việc các nước đạt được một bộ khung COC và tiến tới thông qua một COC trong năm nay một phần vì Tổng thống mới của Philippines Rodrigo Duterte muốn thân thiện hơn với Trung Quốc, nhưng một phần lớn là vì Trung Quốc muốn cho Hoa Kỳ thấy ASEAN và Trung Quốc có thể làm việc được với nhau về mặt ngoại giao mà không cần sự can thiệp từ Mỹ. Ngoài ra đại hội đảng cộng sản Trung Quốc thứ 19 sắp diễn ra vào cuối năm nay và Chủ tịch Tập Cận Bình muốn cho thấy là vấn đề Biển Đông không phải là vấn đề chính của đại hội lần này.

Việt Hà, phóng viên RFA

Published in Châu Á