Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Chiến tranh Việt Nam và ngày 30 tháng Tư

Trương Nhân Tuấn, 01/05/2021

Về nền dân chủ kiểu Mỹ

Đọc RFI thấy ông Vương Nghị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc, phê bình Mỹ "không nên áp đặt mô hình dân chủ Mỹ cho nước khác".

danchu1

Theo tôi "mô hình dân chủ Mỹ" là "duy nhứt", không thể mô phỏng hay áp đặt cho bất kỳ nước nào. Bởi vì cách tổ chức quốc gia liên bang của Mỹ là độc nhứt vô nhị. Không có quốc gia nào trên thế giới này có "nền dân chủ" như Mỹ (trong đó "thượng viện" đại diện cho "tiểu bang-Etat" và "hạ viện" đại diện cho "nhân dân").

Dầu vậy tất cả các "nền dân chủ" do Mỹ áp đặt, như Nhật, Đức, Đài Loan, Nam Hàn… đều là các nền dân chủ thành công. Hiến pháp dân chủ của Nhật là do Mỹ áp đặt. Hiến pháp của Đức cũng vậy. Đài Loan dân chủ hóa thành công là nhờ trí thức Đài Loan cùng các học giả thuộc Harvard thúc đẩy… Các quốc gia này có nền dân chủ "phù hợp" với đất nước và dân tộc mình.

Ý kiến của Vương Nghị vì vậy là không đúng.

Nhưng từ ý kiến của Vương Nghị nhìn lại nền dân chủ mà Mỹ áp đặt cho Việt Nam Cộng Hòa, sau khi ông Diệm lên nắm quyền. Rõ ràng sự "áp đặt" của Mỹ là một thất bại.

Đặt giả thuyết, nếu cuộc chiến "quốc-cộng" xảy ra bây giờ, vào năm 2021, phe "quốc gia" vẫn thua. Nền dân chủ do Mỹ áp đặt vẫn thất bại.

Ý kiến có vẻ "sốc", có vẻ như là lời nhục mạ "đau như thiến", nhưng sự thật rất có thể là như vậy. Dân Việt Nam không phải là dân Nhật. Dân Việt Nam cũng không phải là dân Đức, hay dân Đài Loan, Nam Hàn...

Dân Việt Nam có vẻ giống với dân Afghanistan, với tinh thần dốt nát "bộ lạc", "giáo phái", "phe đảng"... coi lợi ích của giáo phái, phe đảng cao hơn lợi ích quốc gia. Bởi vì họ không có khái niệm về "quốc gia" mà họ chỉ có khái niệm về bộ tộc, vùng miền, tôn giáo, đảng phái…

Việt Nam chia làm hai "phe", quốc và cộng

Phe gọi là "quốc gia" có ai định nghĩa được "quốc gia" là gì ? Có ai phân tích được vì sao phải "bảo vệ quốc gia" ? Có ai "định nghĩa" được "chủ nghĩa quốc gia" là gì và chủ nghĩa này khác với chủ nghĩa cộng sản ra sao ? Làm gì có, phải không ? Lại còn có vụ "bảo vệ chính nghĩa quốc gia". Cái gọi là "chính nghĩa quốc gia là gì" ? Vì sao phải bảo vệ ? Ngọng hết !

Không biết quốc gia là gì do đó mới đặt lợi ích của giáo phái, phe đảng lên trên.

Về "tuyên truyền", phe "quốc gia" xếp vào "hạng bét". Tuyên truyền cái kiểu gì mà "sự thật" nói ra cách nào cũng không ai tin. Tuyên truyền kiểu gì mà cái bánh vẽ do cộng sản Việt Nam vẽ ra từ 1945 đến nay 99% đồng bào Việt Nam vẫn tiếp tục khen ngon.

Phe "quốc gia" thua, bắt đầu từ lúc ông Diệm bị lật đổ.

Nền dân chủ Việt Nam đệ nhị cộng hòa là nền dân chủ "nhứt đĩ nhì sư tam cha tứ tướng". Những người yêu nước thực sự chỉ là những bóng mờ. Thành quả của họ, cũng là di sản của Việt Nam Cộng Hòa để lại hiện nay, tựu trung là văn hóa và giáo dục.

Đĩ, giai cấp cao nhứt trong chính trường miền Nam sau 1/11/1963 là thứ "đĩ chính trị". Tức lớp chính trị gia phục vụ cho chủ nhân, người nào có thể ban phát cho họ lợi ích nhiều nhứt. Lớp "đĩ chính trị" thời đó nhiều vô số. Lớp thì phục vụ cho cộng sản Việt Nam qua các lớp mặt nạ "thành phần thứ ba", "trí thức phản chiến", "phong trào tranh đấu" của sinh viên, học sinh… Lớp thì phục vụ cho "quan thầy" là Mỹ.

Đĩ chính trị, lợi dụng môi trường sinh hoạt dân chủ, lấy quốc gia, lợi ích của dân tộc làm vật buôn bán với cộng sản Việt Nam, với ngoại bang...

Sư và cha, thành phần tôn giáo làm chính trị.

Thành công, nhưng cũng là thất bại của ông Diệm là tách tôn giáo ra khỏi chính quyền, tức tách thần quyền ra khỏi thế quyền. Ông Diệm thành công loại bỏ các thế lực chính trị (do Pháp gài lại) đội lốt tôn giáo như Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa hảo… ra khỏi chính trường miền Nam. Nhưng ông Diệm thất bại vì không loại được thế lực của Thiên chúa giáo, qua các nhân sự trong gia đình, ảnh hưởng lên các chính sách xã hội. Hận thù tôn giáo đã giết chết ông Diệm và chế độ.

Ông Diệm bị lật đổ, các thế lực Phật giáo, Thiên chúa giáo, Cao đài, Hòa hảo… tham chánh, đứng sau lưng các đảng phái chính trị, lợi dụng dân chủ để khuynh đảo xã hội.

Chính đảng, tức đảng phái chính trị, thay vì phục vụ quốc gia, phụng sự cho quốc gia, lại phục vụ cho phe phái, cho lợi ích giáo phái. Đất nước vốn đã "nát" do cộng sản Việt Nam, nay càng thêm "bét" do mấy ông cha, mấy ông sư…

Việt Nam Cộng Hòa không sụp đổ mới là "phép lạ".

Còn lớp tướng lãnh làm chính trị có từ sau 1963.

Lớp tướng lãnh làm chính trị, tất cả không ai có kiến thức cơ bản về quốc gia. Thời quân đội "lãnh đạo quốc gia", Mỹ vô Việt Nam như vô nhà không chủ. Mỹ vô Việt Nam không thông qua bất cứ một thỏa ước "quốc tế" nào. Thì dĩ nhiên, Mỹ "tháo chạy"’ cũng không bị ràng buộc bởi bất kỳ một điều ước nào với Việt Nam.

Không ai có "tầm nhìn" về thời cuộc. Khúc quanh định mạng của Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu từ cuộc chiến 6 ngày ở Trung Đông, năm 1967. Phe Ả rập, gồm các quốc gia sản xuất dầu, cùng các quốc gia Ai cập, Syria, Iraq… Phe này được Liên xô chống lưng. Phe ủng hộ Do Thái gồm Thổ và Iran. Dĩ nhiên phe Do Thái được Mỹ chống lưng. Giá dầu các năm 70, từ 1 đô/thùng lên đến 10 đô, sau đó tăng vọt chưa từng thấy.

Nếu có chút kiến thức thời cuộc các tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa lúc đó phải thấy rằng chắc chắn Mỹ phải co cụm ở mặt trận Châu Á để củng cố Trung đông và Châu Âu. Khu vực dầu khí Trung đông thuộc về Liên Xô thì Mỹ và Châu Âu sẽ sụp đổ. Biến cố Mậu thân 1968, Việt Nam Cộng Hòa bị Mỹ kéo ngồi ngang hàng với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa thời đó chấp nhận được chuyện này tương tự như việc ký giấy khai tử nền tự do dân chủ ở miền Nam.

Trở lại vấn đề, nếu cuộc chiến "quốc-cộng" bắt đầu bây giờ, năm 2021. Phe "quốc gia" vẫn thua. Thua vì bọn họ vẫn giữ nguyên tinh thần bộ lạc, giáo phái, phe đảng… như trước 1963.

Không có ý thức về "quốc gia" thì công cuộc tranh đấu là tranh đấu cho "thập nhị sứ quân".

Trương Nhân Tuấn

(01/05/2021)

**********************

Quan hệ Việt-Trung trong quá khứ : Những sai lầm và hậu quả - Song Chi nói chuyện với nhà báo Võ Văn Tạo và nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn, 24/04/2021 

***********************

Người Mỹ thua cái gì ở chiến tranh Việt Nam ?

Việt Nam Cộng Hòa đã sụp đổ sau 30 tháng tư 1975, bây giờ có nói cái gì thì sự việc cũng đã xảy ra mà ta không cách nào thay đổi được. "Mỹ đã cút" và "Ngụy đã nhào". Nhưng sự thật lịch sử vẫn cần phải được tôn trọng. Sự việc đó đã xảy ra như thế nào người viết sử cần viết lại trung thực y như vậy. Thiết lập lại "sự thật lịch sử" là "trách nhiệm đối với ký ức - devoir de mémoire". Đó cũng là thái độ biết tôn trọng quá khứ và dám nhận trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai. Nói một cách "hoa mỹ", đó là thái độ "hòa giải" của các bên liên quan đến cuộc chiến.

danchu2

Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến "ý thức hệ" giữa "tư bản tự do" và khối "xã hội chủ nghĩa".

Ta thấy rằng những gì "phe thắng cuộc" nói về cuộc chiến là không luôn luôn đúng. "Thành kiến" và "lập trường chính trị" đã khiến cho những "sự thật lịch sử" hoặc bị chôn vùi, hoặc bị xuyên tạc. Ngay cả "tên gọi" của cuộc chiến 1954-1975 vẫn chưa ngả ngũ. Đối với Mỹ đó là "chiến tranh Việt Nam". Cái tên không chính xác nói lên điều gì nhưng cũng nói lên hết tất cả những gì liên quan đến cuộc chiến. Còn phía miền Bắc xã hội chủ nghĩa, cuộc chiến được phân định rõ rệt mục tiêu : "giải phóng dân tộc và thống nhứt đất nước". Còn miền Nam đơn thuần là cuộc chiến "bảo vệ tự do". Nhưng các học giả quốc tế nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam, tất cả cùng đồng ý một điểm : chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến "ý thức hệ" giữa "tư bản tự do" và khối "xã hội chủ nghĩa". Bối cảnh là một "thí điểm nóng" trong cuộc "chiến tranh lạnh". Bom đạn súng ống thừa mứa của hai bên trong Thế chiến thứ II được "tuồng" vào tiêu thụ ở Việt Nam. Vào đây "đồ cũ" nhưng giá trị được tính bằng "đồ mới". Trung Quốc tính toán ra rằng họ đã viện trợ cho Việt Nam tổng cộng hết 20 tỉ đô la. Vũ khí loại mới các phe cũng được đưa vào đây "thử lửa" để biết hiệu nghiệm và tác dụng.

Người Mỹ đã thua cái gì ở Việt Nam ?

Nếu ta theo dõi quan điểm của Mỹ về cuộc chiến Việt Nam, từ lúc đổ bộ vào Việt Nam năm 1965 cho đến khi "ngồi vào bàn hội nghị" 1968. Mỹ thua Việt Nam trước hết thua về "luật", về "quyền được can thiệp vào chiến tranh - jus in bello" của "quốc tế công pháp". Sau đó là thua về "mưu trí".

Mặc dầu "công pháp quốc tế" phần lớn nội dung là do Mỹ và các đồng minh Tây phương đóng góp tạo dựng lên, từ sau Thế Chiến thứ II, (đồng thời với sự thành lập Liên Hiệp Quốc), mục đích ngăn ngừa chiến tranh và bảo vệ hòa bình. Nhưng Việt Nam là phía tận dụng được mọi khía cạnh của Công pháp quốc tế, đảo chiều thuận lợi cuộc chiến về phía mình.

Người Mỹ lấy lý do gì, tư cách gì để can thiệp, sau đó là can dự vào "chiến tranh Việt Nam", để không vi phạm vào các nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc (do họ và các đồng minh đặt ra) ?

Ta có thể tìm đọc tập tài liệu "Why Vietnam ?" của The White House, Washington, D.C., 20 août 1965 (từ nay gọi là tài liệu Why Vietnam ?). Hồ sơ này có thể coi là tập "sách trắng" của Mỹ nhằm giải thích lý do, trước dư luận quốc tế và nhân dân Mỹ, vì sao người Mỹ can thiệp vào chiến tranh Việt Nam (jus in bello - quyền được can dự vào chiến tranh).

Từ năm 1960, qua những bức thư Tổng thống Eisenhower gởi ông Diệm, ta thấy người Mỹ đã có quan niệm miền Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Quốc gia đó tên gọi "South Vietnam". Tổng thống Eisenhower cảnh báo ông Diệm bằng thư riêng : "cộng sản miền Bắc đã và đang sử dụng vũ lực để khuynh đảo chính trị và phá hoại nền tự do của quốc gia South Vietnam".

Sang đến đời tổng thống Kennedy, cũng theo tài liệu "Why Vietnam ?", dẫn lá thư ngày 14 tháng 12 năm 1961 của Tổng thống Kennedy đã gởi cho ông Diệm, nội dung cảnh báo : "các cuộc tấn công bằng vũ lực hay các cuộc khủng bố chống lại nhân dân và chính quyền trên đất nước của quí ngài trong thời gian qua được sự ủng hộ và lãnh đạo của ngoại bang là cộng sản Hà Nội".

Cũng trong tập tài liệu đã dẫn, tháng tư năm 1965, Tổng thống Johnson còn đi xa hơn trong lập luận Việt Nam Cộng Hòa là một "quốc gia độc lập có chủ quyền" : "Miền bắc Việt Nam đã tấn công một quốc gia độc lập có chủ quyền là miền Nam Việt Nam".

Diễn văn 28 tháng 7 năm 1965 của Tổng thống Johnson tố cáo : "cuộc xâm lược của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nhằm mục đích bành trướng và thống trị của chủ nghĩa cộng sản trên toàn Châu Á. Cuộc chiến xảy ra âm thầm, không hề có "tuyên bố chiến tranh", cũng không có việc xua quân ào ạt như ở Cao Ly (Đại Hàn), bởi vì các lãnh đạo cộng sản hiểu rõ rằng làm như vậy họ sẽ bị trừng phạt nặng nề. Vì vậy họ tổ chức một cuộc xâm lược bán chính thức, qua các hình thức đưa các đạo quân đã được huấn luyện cùng vũ khí đạn dược, xâm nhập lén lút xuyên qua biên giới quốc gia".

Tài liệu nêu ra lý do sự hiện diện của Mỹ ở Việt Nam : "củng cố trật tự thế giới", từ "Berlin đến Thái Lan", để "bảo vệ hòa bình, tự do và quyền dân tộc tự quyết". Nhiều lần tập tài liệu trích dẫn ý kiến lãnh đạo Mỹ, theo đó Mỹ đổ bộ vào Việt Nam "không có một tham vọng nào về lãnh thổ" mà chỉ bảo vệ "quyền" của nhân dân miền Nam Việt Nam. "Quyền" này thể hiện qua sự "lựa chọn tương lai của dân tộc Việt Nam bằng lá phiếu và các cuộc bầu cử tự do". Tài liệu cũng dẫn những cam kết của các lãnh đạo Mỹ : "Đến khi nào mà Mỹ còn có thể ngăn cản, thì không có một thế lực nào có thể khuất phục dân tộc Nam Việt Nam bằng vũ lực hay bằng khủng bố".

Tức là, lập luận của Mỹ về chiến tranh Việt Nam gồm hai mặt : chiến tranh "quốc tế", nước này xâm chiếm nước kia, và "chiến tranh ý thức hệ", tức chiến tranh be bờ "từ Berlin đến Thái Lan" chống sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản.

Sự can thiệp của Mỹ, biểu lộ trong Hồ sơ "Why Vietnam ?" đặt trên lý do gồm 3 điểm :

1. Việt Nam Cộng Hòa là nạn nhân của một cuộc xâm lược của một quốc gia khác (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa).

2. Mỹ tham chiến nhằm bảo vệ quốc gia Việt Nam Cộng Hòa.

3. Mỹ chủ trương một giải pháp hòa bình cho cuộc chiến.

Việc tham gia của Mỹ vào cuộc chiến Việt Nam vì vậy phù hợp với Hiến chương Liên Hiệp Quốc, ở các điều "quyền được can dự vào chiến tranh" (jus in bello), điều 51 về "quyền tự vệ chính đáng", và giải quyết các tranh chấp quóc tế bằng biện pháp hòa bình. Mỹ cũng có thể áp dụng biện pháp tương đồng trong trường hợp Bắc Hàn xâm lược Nam Hàn, với nghị quyết ngày 25 tháng 6 năm 1950 của Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc.

danchu03

Lập luận của Mỹ về chiến tranh Việt Nam gồm hai mặt : chiến tranh "quốc tế" và "chiến tranh ý thức hệ"

Cùng "đổ bộ" vào Việt Nam, theo chân quân Mỹ là một đạo quân hùng hậu "phóng viên chiến trường" của các tạp chí Mỹ và Tây phương. Chưa bao giờ có trong lịch sử nhân loại chiến tranh được "công khai" trước mắt mọi người như chiến tranh Việt Nam. Các tổ chức quốc tế như hội Chữ thập đỏ quốc tế cũng đến Việt Nam. Không một nhà tù nào ở miền Nam lại không bị sự "kiểm soát" của các cơ quan này. Luật quốc tế về chiến tranh (jus ad bellum) đã "hạn chế", nếu không nói là "trói tay" những hành động của quân Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa. Vấn đề là luật về chiến tranh chỉ áp dụng (gắt gao) cho một phía : Nam Việt Nam.

Ta thấy các hình ảnh, những khúc phim… của các phóng viên nước ngoài công bố trong thời gian chiến tranh, không ngoại lệ, chỉ là máu me, thương tích, chết chóc… của lính Mỹ và những người mà Mỹ cho là "Việt Cộng", mà thực chất đó là những nông dân miền Nam.

Phe "trí thức thiên tả" thời chiến tranh Việt Nam có ảnh hưởng rất mạnh ở các nước Tây Âu. Những tấm hình của phóng viên chụp được ở chiến trường là bằng chứng để họ lên án "tội ác" và sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam. Miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã vận động khéo léo lực lượng này để làm "áp lực quốc tế", hạn chế các quyết định "sắt máu" của chính phủ Mỹ.

Nếu ta có tham khảo các tài liệu lịch sử về chiến tranh Việt Nam, ta thấy phe miền Bắc xã hội chủ nghĩa có hai quan điểm đối nghịch : Trong nước họ tuyên truyền chiến tranh Việt Nam là một cuộc "chiến tranh giải phóng", thanh niên xâm chữ "sinh bắc tử nam", toàn dân miền Bắc nhịn đói, dành lương thực để giải phóng miền Nam. Mỹ là "thực dân kiểu mới" và Việt Nam Cộng Hòa là "chính quyền ngụy, tay sai".

Nhưng trên phương diện "quốc tế", họ vận động dư luận quốc tế để cho rằng chiến tranh Việt Nam là một cuộc "nội chiến" giữa hai bên Việt Nam Cộng Hòa và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Phía Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hoàn toàn đứng ngoài cuộc. (Vì vậy trong một thời gian rất dài bộ đội hy sinh ở Trường Sơn không được nhà cầm quyền nhắc tới).

Áp lực của "dư luận" qua các cuộc biểu tình, các phong trào "phản chiến" tại các nước Tây phương như Pháp, Anh… hay tại chính quốc ở Washington, New York… ngày một mạnh, chi phối các chính sách về chiến tranh Việt Nam của các tổng thống Mỹ. Khúc quanh định mệnh, cuộc "tổng nối dậy" Tết Mậu Thân 1968, Mỹ phải thừa nhận chiến tranh Việt Nam là một cuộc "nội chiến".

Sau trận Mậu Thân 1968, Mỹ bắt đầu nhượng bộ trên phương diện ngoại giao, buộc Việt Nam Cộng Hòa phải "nhìn nhận" thực thể Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, buộc ngồi "ngang hàng" với thực thể này trong "bàn tròn bốn bên" ở Paris. Hiệp định Paris 1973 ra đời trong bối cảnh "nội chiến", để Mỹ "Việt nam hóa chiến tranh", chuẩn bị cho "đồng minh tháo chạy".

Phe cộng sản Việt Nam đã thành công, qua trận Mậu thân, vận động dư luận quốc tế để biến một cuộc chiến "quốc tế" và "ý thức hệ" thành một cuộc "nội chiến", trong nội bộ Việt Nam Cộng Hòa.

Và khi nhìn nhận chiến tranh Việt Nam là "nội chiến", hai bên đối đầu là Việt Nam Cộng Hòa và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, thì Mỹ không có lý do, hay danh nghĩa nào để can dự vào cuộc chiến.

Điều 51 Hiến chương Liên Hiệp Quốc về quyền "tự vệ chính đáng" chỉ có hiệu lực khi các bên Việt Nam là những "quốc gia". Việt Nam Cộng Hòa và Chính Phủ Lâm Thời Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (và ngay cả Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) không phải là những "quốc gia". Nguyên tắc "quốc gia duy nhứt" vẫn được các bên, ngay cả Mỹ và các định chế quốc tế như Liên Hiệp Quốc, tôn trọng cho đến ngày 30/4/1975.

Nghị quyết của Liên Hiệp Quốc về Cao Ly chỉ có hiệu lực khi miền Bắc "xâm lược" miền Nam. Bây giờ ai cũng biết là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam do lãnh đạo cộng sản Việt Nam dựng lên, từ Đại hội đảng toàn quốc năm 1960. Nhân sự lãnh đạo Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đều thuộc về một đảng. Tức là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam là một "bộ phận" của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Vấn đề là Mỹ (và cả thế giới) ở thời điểm đó không ai chứng minh được sự quan hệ này).

Tức là Mỹ (và Việt Nam Cộng Hòa) thua trên mặt trận truyền thông tại Paris, tại Washington, thua về "luật" do họ đặt ra, thua về "mưu trí" chớ không hề thua ở chiến trường.

Trương Nhân Tuấn

(30/04/2021)

Published in Diễn đàn

Dù đã tròn 46 năm, tính từ 30 tháng Tư năm 1975 ; dù ký ức đã trở thành từng mảnh vỡ bị mài mòn, tôi vẫn cố mày mò để ghép lại "bức tranh kỳ quái" một thời, ám ảnh hàng triệu người Việt Nam. Chắc chắn đó không thể là bức tranh sắc nét (nhất là cho thế hệ trẻ) như mong muốn, bởi lẽ từng góc, từng cạnh của mảnh vỡ ký ức đã bị sứt mẻ theo thời gian, mòn cụt theo cuộc đời nổi trôi từng phận người ngay trên chính quê Cha đất Tổ.

Thế hệ được sinh trưởng trong những năm '60 của thế kỷ trước, chắc chắn không đủ trải nghiệm với tư cách "người nhập cuộc" để luận bàn về chiến tranh - chính trị nhưng chắc chắn đủ thấm thía những hậu quả tàn khốc thời hậu chiến, sau khi "Bên Thắng Cuộc" cưỡng chiếm thành công Sài Gòn.

Chắc hẳn, nhiều người thấy lòng mình chùng xuống, se sắt và nhói đau khi nghĩ về một thời quá vãng kinh hoàng sau 1975 !

bongtoi1

Đường sách nằm ngay trung tâm thành phố.

Nếu ngồi kể cho nhau nghe những mảnh đời thương tâm làm cho thể xác biến dạng cùng tâm hồn tật nguyền - kể cả thù hận - bị gây ra bởi sự ngu xuẩn và hãnh tiến của người cộng sản Việt Nam, thì nói cả tháng cũng không hết. Vậy hãy nói cho nhau nghe những gì phổ quát nhất, bao hàm nhất và ấn tượng nhất để cùng ngẫm lại một giai đoạn lịch sử thảm thương, sau khi Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ.

Không quá chủ quan, khi tôi cảm nhận về "dấu ấn của quỷ" từ những tháng ngày điêu linh trong quá khứ, đó là : BÓNG TỐI.

Dấu ấn đậm nét mà khi nhắc lại, dễ làm nhiều người rơi nước mắt !

Bóng tối tôi muốn nói đến ở đây mang cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Nếu bóng tối hữu hình bao trùm cả Sài Gòn khi màn đêm buông xuống của những năm sau "giải phóng", thì bóng tối vô hình bao phủ tất cả các lãnh vực, mà từ đó nó tạo ra Con Người Nhân Bản và văn minh : kinh tế, pháp luật, giáo dục, y tế, tôn giáo, văn hóa – nghệ thuật.

Tất cả các lãnh vực nói trên tha hóa, bệ rạc và để lại di chứng nặng nề cho đến nay, đều xuất phát từ cái đói thể xác và của hàng chục năm trời dân Sài Gòn đối mặt với bóng tối triền miên !

Đói về thể xác và tập quen dần với màn đêm tinh thần u ám, từ đó hủy hoại tất cả những gì thánh thiện, thanh cao, tốt đẹp nhất của Con Người đặt trong bối cảnh những năm sau 1975. Không phải miếng ăn quyết định tất cả trong mọi thời đại, mọi xã hội, mọi hoàn cảnh, do đó xin nhấn mạnh : Cái đói và bóng tối theo quan điểm riêng tôi, cần đặt trong bối cảnh xã hội Việt Nam vào những năm, sau khi nhà nước Việt Nam Cộng Hòa tan rã.

bongtoi2

Chỉ nóc chuông Nhà thờ Đức Bà vẫn còn nguyên vẹn với thời gian

Quá khứ tồi tệ được tạo ra từ một thời u mê, nhiệt tình đến mức quá khích của cả một "hầm rượu chiến thắng" được cất từ cái thứ "men đặc quánh" gọi là : "tên đế quốc khét tiếng thế giới", mà chẳng quốc gia nào đánh bại nỗi, chỉ có người Cộng sản Việt Nam làm nên điều "kỳ diệu" đó" (!) Câu cửa miệng một thời của Bên Thắng Cuộc vẫn dai dẳng và âm ỉ, nhắc đi nhắc lại nhiều lần ở thế đứng của bề trên. Vâng ! Chính nó ! Chính nó đã làm cho những người cộng sản Việt Nam ngất ngây trên chín tầng mây xanh để tự tán dương, tự ca tụng bất tận. "Tự sướng" chưa đủ, họ buộc toàn dân phải hòa vào cùng "sướng chung" bằng bài ca chiến thắng :

Tổ quốc ơi ta yêu người mãi mãi

Từ trận thắng hôm nay ta xây lại bằng mười

Từ trận thắng hôm nay ta xây lại đẹp hơn !

(Tình đất đỏ miền Đông – Trần Long Ẩn)

 Lúc đó, đám thanh niên chúng tôi đổi lời mà rằng :

Tổ quốc ơi ! Ăn khoai mì ngán quá !

Từ giải phóng vô đây ta ăn độn dài dài !

Từ giải phóng vô đây ta ăn độn triền miên !

và còn hàng hà sa số bài hát dành cho những cơn say. Say khướt ! Say quắc cần câu trong nhiều năm liền. Người cộng sản càng say, càng sướng ; Càng sướng, càng say. Trong lúc người dân ngày càng héo queo, trở nên lầm lũi để... bằng mọi giá phải sống !

Họ – những người cộng sản Việt Nam – tự đưa vào trong não một thứ "hào quang lòe loẹt" về cái gọi là "chiến thắng" thì có gì mà họ không thể làm (và làm tốt nữa là khác !), bằng chứng [1] :

Trong vòng mười năm nữa, mỗi gia đình ở Việt Nam sẽ có một radio, một TV và một tủ lạnh" - Lê Duẩn hào hứng vào Tết 1976.

Mười năm sau, Lê Duẩn xuống mồ và ôm theo câu nói "nổi tiếng" một thời ! Người dân Sài Gòn còn phải bán tủ lạnh, tivi… nói gì người dân các vùng quê !

Nhiều người Sài Gòn cười khẩy và buông lửng : "Tưởng gì… !". Lúc này (1976) chưa… bị đói ! Miết sau này, nhiều người mới hiểu câu nói của Lê Duẩn, có lẽ dành riêng cho người dân miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở ra, vốn bị nhồi sọ từ tấm bé, cùng với hành trình mù quáng "xẻ dọc Trường Sơn" để "chống Mỹ cứu nước" (!).

Một thời quá vãng mông muội với Trần Văn Trà giữ chức Chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn - Gia Định, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7, nhằm trấn áp và tiêu diệt bất cứ biểu hiện nào bị cho là "chống đối". Tư tưởng "địch - ta" rõ mồn một như vậy, đã bác bỏ hoàn toàn thành ngữ "giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước". Thời đó, nói cho ngay, thường dân Sài Gòn, ai cũng xanh mặt khi nghe hai chữ "cách mạng", nên tuyệt đại đa số lặng thầm làm quen với cuộc sống đói khổ nghèo nàn cùng văn hóa "xin xỏ - ban bố" tràn vô từ miền Bắc...

Từ một cô gái đoan chính và gia giáo, Sài Gòn nhanh chóng trở thành người đàn bà vô học và hung tợn, chỉ trong vòng 10 năm. Từ đó, lòng nhân ái của người Sài Gòn, dần dà bạc thếch theo thời gian, tựa như cơn lũ dữ trong ngày giông bão xuất hiện theo tốc độ nhanh dần - đều đặn, từ những hành vi hỗn xược, giọng nói trịch thượng, thái độ bề trên của Bên Thắng Cuộc - chúng nó là cội nguồn cuốn trôi tất cả phẩm giá làm Người Việt Nam. Tình đồng loại, nghĩa đồng bào mất dần và mất hút theo những dấu chân thị thành về vùng "kinh tế mới" hay những bàn tay mò mẫm trong từng đêm đen chôn dầu vượt biển...

Văn hóa là cội rễ, giáo dục là dưỡng chất cho bất kỳ dân tộc nào. Cội rễ Việt Nam bị bứng gốc từ lâu ; dưỡng chất bị thay thành độc dược. Cành lá héo khô, trái đắng ngập tràn...

Một xã hội của thế kỷ 21 với đồng tiền ngự trị rộng khắp. Tiền bạc chễm chệ trong từng ngôi chùa mà ở đó các ông sư cạo trọc đầu còn mải miết tính toán lời lỗ với Phật tử. Học trò dù ở ngay những ngôi trường mang tên "quốc tế" cùng học phí cao ngất, vẫn có thể chết thật... ngẫu nhiên (!).

Tư duy "địch - ta" với điều 117 trong Bộ Luật Hình Sự (vẫn) mang tên "Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân", trong khi "chính quyền nhân dân" hoàn toàn nằm gọn trong tay của người cộng sản Việt Nam suốt 46 năm qua, thoát thai từ cuộc xâm lược bạo tàn thấm đầy máu và nước mắt của người dân Việt Nam !

Bóng tối ngày 30 Tháng Tư vẫn ngập ngụa trên dải đất ngày càng còi cọc và lụi tàn mang hình chữ S...

Nguyễn Ngọc Già

Nguồn : RFA, 06/04/2021 (nguyenngocgia's blog)

[1] https://vi.wikiquote.org/wiki/L%C3%AA_Du%E1%BA%A9n

Published in Diễn đàn

Dù đứng ở phía nào trong cuộc nội chiến Bắc-Nam, ngày 30/4/1975 vẫn là một ngày lịch sử.

Ngày này năm 1975, phe cộng sản Bắc Việt đã toàn thắng trong tiến trình ‘giải phóng miền Nam’ bằng bạo lực. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã toàn bại trong cố gắng tự vệ chống bị-giải-phóng. Chiếc xe tăng quân cộng sản Bắc Việt treo lá cờ Mặt trận Giải Phóng Miền Nam ủi sập cổng chính vào dinh Độc Lập của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa vốn đã được mở sẵn để chờ đón đoàn quân chiến thắng. Hình ảnh này đã được truyền thông thế giới phát ra khắp nơi và lấy đó làm biểu tượng cho chiến thắng toàn diện của phe cộng sản Bắc Việt trong ngày 30/4.

quy1

Chiếc xe tăng quân cộng sản Bắc Việt treo lá cờ Mặt trận Giải Phóng Miền Nam ủi sập cổng chính vào dinh Độc Lập của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa vốn đã được mở sẵn để chờ đón đoàn quân chiến thắng. Ảnh minh họa 

Hình ảnh tạo ra những xúc động tức khắc. Những người đã quá chán ngán chiến tranh Việt Nam thở phào nhẹ nhõm. Hòa bình rồi, thôi hết chiến tranh. Những người đạo diễn ra chiến thắng này được đi nhận lãnh giải Nobel hòa bình. Lê Duẩn và Bộ chính trị cộng sản Bắc Việt cả cười mê sảng. Hàng trăm ngàn quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa vào tù cải tạo. Người miền Nam hiền lành gom góp những mảnh vụn vỡ của giấc mơ được sống theo ý nguyện đi về Vùng kinh tế mới.

Phải một thời gian sống với cộng sản sau đó, người ta mới hiểu tại sao quân đội cộng sản Bắc Việt lại ủi sập một cánh cửa đã mở ra ? Tại sao không đủng đỉnh đi vào ? Hình ảnh này, dù phe cộng sản Việt Nam không mong muốn, đã trở thành biểu tượng cho một chế độ hung bạo sắp tới trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Không ai có thể thay đổi lịch sử. Người ta phải sống, chết, dỡ sống dỡ chết với những kết quả/hệ quả của những người đã tạo ra lịch sử. Những người chạy trốn được ngày 30/4 đã đi rồi, hàng triệu người. Có nhiều người đã chạy trốn phe cộng sản Bắc Việt từ những năm 1954, cũng hàng triệu người, năm 1975 lại chạy trốn nữa. Những người bị ở lại, phải sống với lũ, hàng triệu triệu con người, như người ta nói, kể cả những cột đèn không chạy được, phải khóc cười theo chế độ.

Đất nước Việt Nam thật quá lạ kỳ. Chế độ cộng sản có thể dửng dưng tổ chức ngày chiến thắng 30/4 tiệc tùng liên hoan trên sự đau thương của đồng loại đã nói lên tất cả vì sao đất nước đến nông nổi này như ngày hôm nay :

Đất nước mình ngộ quá phải không anh ?

Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn…

(Trần Thị Lam)

Vấn đề nhức nhối hiện tại là câu hỏi, chế độ cộng sản Việt Nam đã làm gì trên đất nước Việt Nam sau 44 năm thống nhất ? Xuất phát từ di sản ngày 30/4, chế độ cộng sản toàn trị hôm nay đã có thỏa đáp được ước mơ từ hàng ngàn thế hệ Việt Nam trước đó và hôm nay, là được tự do mưu cầu hạnh phúc trong xã hội văn minh, tiến bộ, không hận thù, được hòa mình vào dòng sống của nhân loại ? Câu trả lời là không.

Ngày ‘giải phóng’, nhìn lại, là phần mở đầu của cơn ác mộng.

Ông cựu thủ tướng cộng sản Việt Nam Võ Văn Kiệt không phải nhân bản gì đâu khi nói "(Ngày 30/4) có triệu người vui thì cũng có triệu người buồn". Nhân bản và cộng sản là hai khái niệm luôn luôn tương phản. Một xã hội nhân bản không thể có cộng sản và ngược lại. Ông Kiệt chỉ nói lên quan sát rất thông thường của một người cộng sản đã lấy được điềm tĩnh nhanh hơn đồng đảng sau chiến thắng. Ông là ngoại lệ trong đám ‘nhất tướng công thành’ vì ông có vẻ còn xót đến ‘vạn cốt khô’. Nhưng giải pháp ông đưa ra để hóa giải sự mâu thuẫn của hai trạng thái đối nghịch trong ngày 30/4 làm cho người ta nghi ngờ.

Ông Võ Văn Kiệt đã kêu gọi Việt kiều hãy quên đi quá khứ để hòa hợp với chế độ. Không ít nhân sĩ và học giả đã tán thưởng viễn kiến ‘nhân bản’ của ông Kiệt. Cũng như trước đây, một tầng lớp trí thức Việt Nam đã lầm tưởng đảng cộng sản có chính nghĩa và lòng yêu nước, đã quỳ xuống phục vụ đảng cộng sản Việt Nam xây dựng thiên đường xã hội chủ nghĩa. Ngày hôm nay họ lại lầm tưởng ông Kiệt là người cộng sản có nhân bản. Có lẽ không nên gọi họ là tầng lớp trí thức nữa vì trên nguyên tắc vận hành của chế độ, xét qua chính sách ‘trí phú địa hào đào tận rễ’, trong nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hôm nay không còn tầng lớp trí thức. Tầng lớp này đã bị nhổ tận rễ rồi, chỉ còn lại tầng lớp ngụy trí thức phục vụ chế độ.

Như một người cộng sản tận tụy với đảng, ông Kiệt khước từ sự hòa giải vốn là lẽ thường tình giữa hai phe đối kháng sau một cuộc xung dột đẫm máu, nhưng bị lịch sử và huyết thống dân tộc trói buộc phải sống chung với nhau và phải chia sẻ một tương lai vinh nhục với nhau. Không nói đến hòa giải, ông Kiệt chỉ nói đến hòa hợp, và chỉ nói trong những dịp tập trung ‘Việt kiều yêu nước’ đã được các tòa đại sứ cộng sản Việt Nam ở hải ngoại tuyển chọn trước, cho thấy sự khuất tất. Muốn có sự hòa hợp mà không trải qua nỗ lực hòa giải thì cũng giống như một người muốn ăn trứng nhưng không chịu đập vỏ trứng. Hoàn toàn ở đây không có ý sỉ nhục hay vô lễ với ai, nhưng quan sát thông thường cho thấy ăn trứng không cần đập vỏ chỉ có ở loài ăn tạp.

Mục đích của sự hòa giải là chấm dứt những xung đột bằng phương cách điều đình, thương lượng, phân biệt phải quấy, thiện ý cộng tác và mong đợi thái độ hợp tác của đôi bên. Nó đòi hỏi sự tương kính và chân thành hướng đến Lẽ Phải và Công bằng. Sự hòa giải đòi hỏi mỗi bên nhìn nhận khiếm khuyết của mình, nhìn nhận sự thiệt hại đã gây cho nhau và lấy làm tiếc nó đã xảy ra, nếu có thể, bồi thường cho nạn nhân dù chỉ là tượng trưng. Nói cách khác, phải sòng phẳng với quá khứ. Phủ nhận quá khứ chỉ vô ích vì những vết thương trên thân thể còn đó và đang chảy máu. Mỗi năm tổ chức ăn mừng chiến thắng 30/4 sinh ra phản ứng phụ là cào cấu vết thương trên thân thể Việt Nam thêm nhiễm độc. Chỉ khi vượt qua được sự tự hủy hoại thân thể, nước Việt Nam mới mong được phục hồi.

Người ta nói, dân tộc như thế nào xứng đáng với chế độ như thế ấy. Câu nói tủi cực cho mọi người đang phải gánh chịu ách cộng sản. Nhưng câu nói ấy cũng là lời buộc tội đích đáng cho tầng lớp trí thức của một dân tộc. Mọi chế độ bất nhân tồn tại được chứng tỏ sự thiếu trí tuệ và năng lực của giới trí thức của dân tộc đó.

Đất nước đến nông nỗi hôm nay có một nguyên nhân chính : giới trí thức Việt Nam đã quỳ xuống vì sợ hãi bạo lực đã khiến Đảng cộng sản Việt Nam lầm tưởng họ vĩ đại. Sự khống chế hoàn toàn xã hội Việt Nam bằng bạo lực đã thành công khiến Đảng cộng sản Việt Nam càng thêm táo tợn trong những chính sách cai trị. Chế độ cộng sản Việt Nam có thể đưa ra những bản án vô nhân đạo lên người dân bởi vì họ có thể. Chính quyền cộng sản Việt Nam đã đưa ra những chính sách kinh tế đạo tặc, tham nhũng, bán buôn sang nhượng tài sản của quốc gia, tước đoạt quyền tự quyết của dân, ăn của dân không chừa thứ gì chỉ vì họ có thể. Họ có thể vì họ đã đè bẹp được sự phản kháng của người dân bằng sự im lặng đớn hèn của giới trí thức

Sự ngạo nghễ của đảng cộng sản có lý cớ để kéo dài vì giới trí thức Việt Nam đã quỳ xuống. Trí thức Việt Nam đã quỳ xuống trong chính sách Cải cách ruộng đất năm 1956. Trí thức Việt Nam đã quỳ xuống sau vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm những năm 1956-1958. Quỳ xuống trong trận tổng công kích Tết Mậu Thân. Quỳ xuống bên thi thể người thân trong cố đô Huế năm 1968. Các anh cũng đã quỳ xuống khi cộng sản pháo kích bừa bãi vào đoàn người dân chạy trốn cộng sản trên Đại lộ kinh hoàng năm 1972 tại Quảng trị… Thường khi sự sợ hãi tăng lực cho sự hung bạo. Bởi vì chúng ta quỳ nên cộng sản đã đứng lên bạo ngược ngang tàng.

Nhưng giới trí thức Việt Nam không thể quỳ xuống mãi và đi bằng đầu gối mãi cho hết kiếp nhân sinh. Thời gian 44 năm đã quá nửa một đời người mà chế độ bạo lực, bất nhân, liên minh thẻ đảng, tiền, quyền và ngu xuẩn vẫn ngạo nghễ khống chế mọi mặt của đời sống quốc gia. Trí thức Việt Nam chân chính phải đứng lên thôi. Các anh phải đứng thẳng lưng lên để lãnh đạo dân tộc Việt Nam, đứng thẳng lưng lên trước lực lượng cộng sản chiếm đóng đất nước.

‘Người ta lớn bởi vì các anh quỳ

Hỡi công dân, hãy đứng thẳng lưng lên’

Tiếng thét của Cách mạng Pháp 1789 phải thức tĩnh giới trí thức Việt Nam ngày hôm nay trước sự hoành hành càng ngày càng táo tợn của Đảng cộng sản Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam.

Tầng lớp trí thức Việt Nam phải có trách nhiệm và đứng lên lãnh đạo người dân chấm dứt chế độ bất nhân ăn mừng chiến lợi phẩm là miền Nam Việt Nam trong ngày 30/4 hàng năm. Bằng cách thành lập hoặc tham gia tổ chức chính trị, vận động cho sự thành hình một lực lượng dân chủ trên toàn quốc làm đối lập với Đảng cộng sản Việt Nam. Phải thành lập được một lực lượng dân tộc lấy Lẽ Phải và Công bằng làm sức mạnh bắt buộc Đảng cộng sản Việt Nam thực hiện tiến trình Hòa giải và Hòa hợp Dân tộc, bằng các phương pháp Bất bạo động, người Việt Nam mới hy vọng nhìn thấy ánh sáng của một xã hội văn minh, tiến bộ và hòa bình, tình tự dân tộc sau bóng tối của đêm dài dường như bị Đảng cộng sản Việt Nam kéo dài đến vô tận.                       

Sơn Dương

Chú thích :

Tựa đề bài viết lấy cảm hứng từ một lời hiệu triệu trong cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 :

"On est grand, parce-que vous vous mettez à genoux

Citoyens ! Levez-vous droitement !"

(Révolution française 1789)

Một số tác giả ghi nhận hai câu trên là của nhà cách mạng Jean-Paul Marat thời Cách Mạng Pháp 1789. Nhưng qua bài khảo sát thận trọng của ông Trần Giao Thủy đăng trên Đàn Chim Việt Online tháng 10 năm 2012 thì có lẽ không phải Marat. Nhưng dù là ai thì hai câu này xuất hiện trong thời Cách mạng Pháp 1789 nên xin ghi nhận là (Cách mạng Pháp 1789) cho đỡ rắc rối. (SD)

Published in Quan điểm

Tôi viết bài báo ngn này như thp mt nén hương lòng, đy trĩu lo bun vì tng là mt nhân sng ti ch cho s kin lch s 30/4/1975, nhưng 43 năm qua tình hình đt nước xu đi trông thy v mi mt, chính tr lc hu, Nhà nước tham nhũng, đảng cộng sản thoái hóa suy thoái thê thảm, công an và quân đi mt phương hướng phc v nhân dân, xã hi băng hoi, đo đc suy đi, nn giáo dc v trn.

nennhang1

Thắp hương tưởng nhớ bạn trong Nghĩa trang Quân đi Biên Hòa, nơi an ngh ca những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa đã bỏ mình trong cuộc chiến vừa qua.

Cuộc hòa gii dân tc tùng ha hn đã b c tình lãng quên và phn bi. Các li cam kết long trng ghi trên giy trắng mc đen "tôn trng quyn t quyết ca nhân dân min Nam Vit Nam" và "không dùng vũ lc đ thôn tính nhau" đã b xâm phm thô bo vì đường li đu tranh giai cp mác-xít coi bo lc luôn đng nghĩa vi cách mng.

Đã có lời kêu gi tâm huyết ca giáo sư đng viên Đào Công Tiến, nguyên hiu trưởng trường Đi Hc kinh tế phía Nam t năm ngoái là nên t chc mt cuc đi cu siêu, đi sám hi nhân dp này, t chc thăm viếng thp hương, dâng hoa… tt c các nghĩa trang ln nh, phn m các lit sĩ hy sinh và mất tích thuc tt c mi bên trong chiến tranh, phía Quân đi nhân dân cũng như phía Quân đi Việt Nam Cộng Hòa, các nghĩa trang ca các đo Pht giáo, Cao đài, Hòa hHo, Tin lành… cũng như các nghĩa trang quân đi Hoa Kỳ, Canada, Tân Tây Lan, Úc, Thái Lan… nếu còn có trên đt nước ta.

Trong dịp tháng Tư này mà có nhiu văn phương Tây gi là "tháng Tư đen", "tháng Tư đc ác" - "Le noir Avril", "Le cruel Avril", rt nên chính quyn trong nước cùng toàn dân cùng t chc khp toàn quc nhng cuc tưởng niệm ti mi nghĩa trang, tu b các nghĩa trang to nh không phân bit, ti bàn th các gia đình có con em là lit sĩ hy sinh, b mt tích (B quc phòng cho biết con s này lên đến 300.000).

Tinh thần bao trùm ca cuc Đi tưởng nim là mt cuc Đi sám hối ca toàn dân tc nhn vi T tiên, Tin nhân, là đã phm ti li chung đ cho cuc chiến tranh huynh đ tương tàn ác lit kéo dài gia hai min Nam Bc, tiếp theo cuc chiến tranh giành đc lp.

Mục tiêu cuc Đi tưởng nim, Đi sám hi là Hòa gii hòa hợp dân tc tht s, t nay Nam Bc là anh em rut tht, không còn gi nhau là "Vit gian", "quân ngy", là "gic M xâm lược", là "tay sai quc tế cng sn"…

Rất tiếc là sáng kiến quý báu mnh dn ca giáo sư Đào Công Tiến chưa kp ph biến rng rãi, thảo lun rng khp sôi ni đ hình thành mt đng thun chung trong ngoài nước.

Tuy ngày 30/4/2018 sắp qua, chúng ta còn thi gian đ trao đi thc hin ý đ đp đ cao quý này vi tinh thn trách nhim, đoàn kết, bao dung, các bn blogger t do, các t chức dân s tham gia hăng hái, đt đến mt đng thun dân tc cao nht, không đt năm nay thì kéo dài thêm chút ít thi gian, min là đt đến mc đích tt đp chung cuc mà mi người mong đi.

Đây sẽ là nim hnh phúc cao quý nht ca c hơn 90 triu dân Việt ta, nm cht tay nhau đi ti trước, m đu cho mt thi kỳ lch s, phát trin mnh m v mi mt và thành qu s được toàn dân chung hưởng mt cách bình đng, công bng.

Tôi tin rằng l phi, s công bng, s hòa hp dân tc thiêng liêng cui cùng phải thắng vì hp chân lý, hp thi đi, hp lòng dân luôn yêu hòa bình chung công lý, dân ch và t do, hướng ti tương lai phát trin mnh m và phn vinh hnh phúc cho toàn dân cùng chung hưởng.

Đây sẽ là câu tr li đanh thép đích đáng cho bn bành trướng phương Bc luôn có âm mưu khut phc nước ta.

Bùi Tín

Nguồn : VOA, 30/04/2018

Published in Diễn đàn

Thưa quý vị, như vậy chỉ còn ít ngày nữa là đến ngày 30/4, ngày kỷ niệm chiến tranh Việt Nam chính thức kết thúc. Sự kiện này được nhắc đến với rất nhiều tên gọi khác nhau, tuy nhiên theo nhận định của ông Võ Văn Kiệt, nguyên Thủ tướng chính phủ Hà Nội thì đây là ngày triệu người vui nhưng cũng triệu người buồn.

Mời quý vị cùng theo dõi buổi trò chuyện giữa RFA và ông Nguyễn Mạnh Tiến, cựu nhà báo của RFA với bút danh Nam Nguyên, đồng thời ông cũng là một trong những phóng viên thời chiến tranh Việt Nam.

Xin chào nhà báo Nguyễn Mạnh Tiến, ông có thể chia sẻ những kỷ niệm đáng nhớ trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 ?

cuu1

Ông Nguyễn Mạnh Tiến, cựu nhà báo RFA với bút danh Nam Nguyên, trò chuyện cùng RFA nhân sự kiện 30/4. RFA

Nam Nguyên : Trong tuần lễ cuối cùng, những sự kiện quan trọng gồm có Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, rồi phó Tổng thống Trần Văn Hương lên thay nhưng cũng chỉ được 5 ngày thì trao nhiệm cho Đại tướng Dương Văn Minh với hy vọng Đại tướng Minh có thể hòa giải với phía bên kia để ngăn tình trạng sụp đổ của miền Nam và có thể là thành lập một chính phủ liên hiệp chẳng hạn.

Ngày 28/4/1975, tôi làm truyền thanh trực tiếp (live) từ dinh Độc Lập lễ trao nhiệm cho Đại tướng Dương Văn Minh để lãnh nhiệm vụ Tổng thống. Các bạn chắc cũng lấy làm lạ lùng vì sao có thể trao nhiệm tại vì thường nếu Tổng thống xuống thì Phó Tổng thống lên, Phó Tổng thống xuống nữa thì người Phó của ông này sẽ lên, không có người đó thì Chủ tịch Thượng viện phải lên. Nhưng đây lại là trao nhiệm, có nghĩa là Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa rất minh bạch, rành rọt nhưng nó đã không được thi hành kể từ ngày 28/4.

Khoảng 5 giờ chiều hôm đó diễn ra lễ trao nhiệm, có vẻ như chính phủ của Đại tướng Dương Văn Minh coi chuyện này là nghiêm túc, không phải nhận công việc này để đầu hàng. Có thể Đại tướng Dương Văn Minh là một nhà quân sự nên ông ấy biết tình hình như thế nào. Phòng tuyến Xuân Lịch mất rồi, sư đoàn 18 vỡ, ông tướng Lê Minh Đảo đã giữ được 10 ngày rồi mà ông ấy rất anh hùng, báo chí thế giới cũng ca tụng ông ấy.

Cái nghề báo là không được xúc động. Phải nói là tôi đã rất cố gắng để dặn mình không được xúc động nhưng cuối cùng trong khi tường thuật live tôi đã bình luận một câu. Nhưng câu đó thành ra lại được nhiều người biết đến. Họ nhắc lại câu tôi nói : "Vào lúc này trời âm u đổ mưa, cũng giống như tình hình của đất nước vậy !".

Khi tôi về đến đài sau buổi chiều hôm đó là đã thấy lộn xộn lắm rồi. Máy bay đã bay vô oanh kích ở Tân Sơn Nhất. Ngay ở đài tôi nhìn ra, có những máy bay đi ngang đó thì ở dưới người ta bắn lên. Có thể bắn cả những máy bay tôi thấy không phải của bên kia. Tình hình lúc đó rất khó khăn.

Đó là dấu ấn ngày 28/4. Ông Tổng thống Dương Văn Minh thực tế chỉ tại chức 36 tiếng đồng hồ.

Tới ngày 30/4, trong đài tôi được ông Tổng trưởng Thông tin mới gọi điện yêu cầu cử người qua để thu thanh một bản hiệu triệu của Tổng thống Dương Văn Minh. Thu xong phải phát vào lúc 10 giờ, nếu không phát đúng giờ thì Sài Gòn sẽ biến thành một biển máu. Hôm đó tôi không ở trong đài, nhưng sau này tôi hỏi thì họ nói là ông Lê Phú Bổn, phóng viên trẻ tốt nghiệp trường báo chí Vạn Hạnh là người được cử đi thu thanh. Và người kỹ thuật viên đi cùng là ông Hồ Ổn. Hai người đi qua Phủ Thủ tướng ở đầu đường Thống Nhất thu và mang về phát. Những ngôn từ rất chững chạc, cũng với nội dung đầu hàng thôi, Đại tướng Dương Văn Minh nói rằng mọi người buông súng, quân đội ở đâu thì giữ nguyên ở đó để chờ người đại diện phía bên kia đến và bàn giao trong trật tự. Tôi thấy cách ông ấy đầu hàng như vậy cũng rất hợp lý. Khi bản thu thanh loan ra được một thời gian ngắn thì quân đội Bắc Việt mới tiến vào dinh Độc Lập.

Câu chuyện đến đoạn này thì có nhiều điểm không rõ trong lịch sử, mỗi người nói một kiểu. Ông Bùi Tín thì nói rằng lúc đó vào trong dinh chỉ có cấp cao nhất là đại úy xe tăng, còn lại là nhỏ hơn, chưa có ông Chính ủy của đoàn đó. Bây giờ báo chí người ta cũng nói ông Chính ủy này có thể đến lúc kéo cờ lên rồi ông ấy mới tới.

Họ nói không chấp nhận lời đầu hàng ban đầu, đòi rằng bây giờ ông phải nói ông đầu hàng vô điều kiện bởi vì chính quyền của ông tan rã rồi, không có gì để bàn giao. Tôi thấy điều này cũng hơi cay đắng, bởi vì không nhất thiết phải như vậy vì người ta đã chấp nhận đầu hàng rồi, bây giờ làm mọi việc có thể để tránh đổ máu thôi. Những người cán binh cộng sản lúc đó đã rút súng và nói ông phải đọc lại bản mới và đi thu. Thế rồi họ chở ông ấy tới đài phát thanh để thu bản đầu hàng mới.

Trước khi ông Minh tới đài thì ông Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh đã tới rồi. Người hoàng viên (tên gọi người thu thanh lúc bây giờ) là một phụ nữ, đã quá sợ hãi, có lẽ vì lần đầu tiên trông thấy bộ đội nón cối, súng ống, trong khi ông Tổng thống gần như bị áp đảo. Cô ấy sợ hãi quá, chân tay run lẩy bẩy không thu được. Có một nhà báo ngoại quốc ở đó, đã dùng cát-sét để thu. Một lúc sau ở phòng thu phụ người ta trấn tĩnh lại và thu được bằng băng lớn.

Đó là lời đầu hàng vô điều kiện và có lời chấp nhận lời đầu hàng đó của phía bên kia. Sở dĩ tôi phải kể dài dòng như vậy là vì có hai bản tuyên bố đầu hàng. Lần thứ nhất do ông Dương Văn Minh soạn thảo và đi thu. Lần thứ hai ông ấy bị áp giải đi thu. Nhiều người thắc mắc tại sao phải kể những chi tiết đó làm gì, nhưng tôi nghĩ rằng đối với lịch sử, sự thật quan trọng hơn sự kiện. Trong cuốn sách "Đại Thắng Mùa Xuân" của ông Văn Tiến Dũng, ông ấy nói đài Sài Gòn bỏ trống không còn một ai nữa. Quân ta (tức là quân Bắc Việt) đã vô thoải mái. Nhưng điều đó không đúng ! Chính phủ không phải đã tan rã. Quân đội có thể mất phòng tuyến này hay phòng tuyến kia, nhưng đài tiếng nói quốc gia lúc đó vẫn còn.

Trong tháng 4 tôi còn có một kỷ niệm nữa không quên được. Khi Đà Nẵng mất, chắc khoảng 28/3, hôm đó tôi đang trực sở thời sự, thì ở dưới phòng kỹ thuật họ nói tôi xuống nói chuyện với đài Đà Nẵng. Ông quản đốc của đài Đà Nẵng, anh Huỳnh Quy, có vẻ mất bình tĩnh và giọng xúc động lắm. Anh ấy hỏi "Tiến ơi mày có thể cứu được tao và các nhân viên của tao không ?" Tôi cũng biết mình không thể giúp được gì, nên chỉ trấn an anh ấy thôi. Anh ấy bảo đang bị kẹt ở trong đài không thể ra được. Chúng tôi đang tìm cách giúp anh ấy, thì khoảng 15 phút sau anh ấy gọi lại bảo rằng "Tiến ơi không còn hi vọng gì nữa rồi, đã trông thấy họ ở ngoài hàng rồi". Anh ấy chào vĩnh biệt, rồi về sau tôi không biết anh ấy như thế nào nữa. Đó là câu chuyện ám ảnh tôi hoài.

RFA : Qua những cảnh tượng ông được chứng kiến khi làm những phóng sự chiến trường, ông suy nghĩ như thế nào về cuộc chiến tranh Việt Nam ?

Nam Nguyên : Đây là một câu hỏi lớn, tôi chỉ nêu ra suy nghĩ của một người phóng viên đã trải qua cuộc chiến thôi.

Tôi thấy rằng giá không có cuộc chiến này thì tốt hơn. Khi kết thúc cuộc chiến vào ngày 30/4, đã có tổng cộng khoảng 2 triệu người miền Bắc và miền Nam chết, hàng trăm ngàn người bị thương, không đếm xuể những người còn sống nhưng cụt tay, cụt chân của cả hai bên. Và cuộc chiến tranh đó mục đích là gì, giữa cùng là người Việt Nam với nhau ? Bản thân tôi cũng có một phần gia đình ở miền Bắc. Tôi cũng sinh ra ở Hà Nội.

Nói không có thì tốt hơn là vì giả dụ ngay cả khi chưa có Điện Biên Phủ, cứ để nguyên thì chậm nhất đến thập niên 60, tất cả những nước có thuộc địa đều phải trả lại cho người ta hết, bang giao tốt đẹp, buôn bán làm ăn với nhau mà không bị chết người.

Trận chiến Điện Biên Phủ giành độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh coi như đã thành công, đưa đến Hiệp định Geneva chia hai miền đất nước. Giá mà dừng ở đó thì vẫn còn tạm ổn. Nhưng đằng này, chỉ vài năm sau, miền Bắc bắt đầu mang quân gây chiến, rồi chuyển vũ khí vào trong miền Nam với lý do Tổng tuyển cử đã không diễn ra như Hiệp định Geneva nên phải đánh. Miền Bắc đã chuẩn bị chiến tranh ngay từ lúc đó rồi.

Trên chiến trường khốc liệt quá ! Những gì tôi được chứng kiến, nhận xét về quân sự cả hai bên, binh sĩ binh lính của cả hai bên rất can trường, anh hùng và sẵn sàng chết để phục tùng lệnh từ trên. Khi tôi và đồng nghiệp vào mặt trận An Lộc bằng máy bay, chưa kịp nhảy xuống thì khói đã bốc lên trên máy bay rồi. Trông thấy bãi đáp Khánh Ly rồi mà bị đánh bom phải lượn ra luôn. Tôi thấy bay được có một khúc là may bay bị rớt rồi, và ngay lập tức họ bắn hủy máy bay đó. Thế là chúng tôi vẫn chưa vào được An Lộc. Nhưng cuối cùng kiên trì tôi và một người phóng viên tên Dương Phục cũng đã vào được.

Đi đến đó thì thấy thành phố An Lộc không còn một căn nhà nào nguyên vẹn hết. Toàn bộ là gạch vụ và một vài bức tường. Chúng tôi đến bộ chỉ huy của ông tướng Lê Văn Hưng, là vị tướng tử thủ ở đó để phỏng vấn, và coi như thành công.

Khi về lại không về được, cứ đi ra bãi đáp, máy bay cứ đáp xuống là phía bên kia họ pháo kích máy bay không xuống được. Chúng tôi không có cách gì để lên được, cứ đi ra đi vô mấy lần rồi lại phải quay lại. May mắn cuối cùng đài truyền hình họ đi trực thăng vào quay. Ông sĩ quan báo chí của ông Lê Văn Hưng, là ông đại úy Qúy, nói ông ấy sẽ đưa bọn tôi ra ngay khi máy bay truyền hình tới, chờ sẵn ở đó, máy bay hạ cánh là nhảy lên liền. Tôi cũng làm như vậy, và đội truyền hình đã cứu mạng tôi. Nếu không, tôi sẽ phải ở lại trong đó không biết đến bao giờ.

Đến ngày 6/7 tôi được lệnh chuẩn bị kỹ càng để đi công tác đặc biệt, nhưng không nói đi đâu. Đến ngày hôm sau họ chở tôi vào dinh Độc Lập, và chỉ tôi lên một chiếc máy bay. Trên đó chỉ có tôi, một người bên truyền hình, còn lại toàn các ông lớn. Tôi nghĩ chắc phải đi đâu ghê gớm lắm. Có một chiếc máy bay có ông Tổng thống và cả ông Hoàng Đức Nhã. Máy bay bên bọn tôi có ông đại tướng Cao Văn Viên là Tổng tham mưu trưởng. Tới nơi, tôi thấy rừng cao su và đất đỏ, tôi linh cảm là vào An Lộc. Tôi nghĩ ông Tổng thống này gan thiệt, vì An Lộc tới lúc này chưa có giải phóng. Đằng xa mình nhìn thấy bom đạn nổ dữ lắm, phi cơ oanh tạc các vùng cao điểm để hộ tống máy bay này. Câu chuyện này cũng để lại nhiều dấu ấn, và ông Tổng thống Thiệu cũng thành công trong việc thực hiện chuyến đi này.

RFA : Với nhiều người trẻ sinh sau năm 1975, thậm chí sau đến 20 năm, đã được mái trường xã hội chủ nghĩa dạy là cuộc chiến tranh Việt Nam này là để chống Mỹ cứu nước. Không biết nhà báo suy nghĩ như thế nào về quan điểm này của Chính phủ Việt Nam ?

Nam Nguyên : Tôi nghĩ là trong lúc học các bạn tin vào những câu chuyện như vậy. Tôi không nghĩ là chống Mỹ cứu nước, Việt Nam Cộng Hòa khi đó được thành lập và được viện trợ từ Hoa Kỳ để xây dựng lại đất nước. Khi chưa có chiến tranh, miền Nam trù phú, sung túc lắm, xuất cảng rất là khá, đời sống rất cao, được ví là hòn ngọc Viễn Đông. Đến ông Lý Quang Diệu cũng từng nói thời đó chúng tôi cũng chỉ mong được như miền Nam Việt Nam thôi. Đời sống rất sung túc mà không hề có quân Mỹ ở đó. Sở dĩ người ta giúp Việt Nam Cộng Hòa là vì theo chủ thuyết Domino, nếu cứ để Cộng sản tràn dần thì sẽ mất hết, tất cả sẽ là Cộng sản hết nên họ muốn chặn lại theo ý nghĩa Việt Nam Cộng Hòa sẽ là tiền đồ của thế giới tự do. Chiến tranh bên kia quá lớn thì người Mỹ mới đem quân vào vì họ sợ mất.

Bên kia từ thời trước đã tuyên truyền nhiều, đặc biệt những năm xưa không phải giống như giới trẻ được biết về miền Bắc sau này, thời trước miền Bắc khép kín không khác gì Bắc Hàn bây giờ. Người trong Nam chúng tôi không bao giờ được biết ngoài Bắc có cái gì, cũng không có hình ảnh luôn vì họ không cho người ngoài vào thăm, chỉ số ít những người thân chế độ mới được vào. Hình ảnh mà tôi biết được là khi ông Phạm Huấn ra Hà Nội công tác một ngày với một số phóng viên, họ có chụp một số hình ảnh và viết bài Một ngày tại Hà Nội. Hình ảnh rất nhiều và tôi cũng được xem. Khi xem, cảm giác Hà Nội y nguyên như hồi gia đình tôi di cư năm 1954. Không có thay đổi, không cất nhà thêm, trông nghèo nàn lắm. Ngoài đường phố ô tô không có, toàn xe đạp không à, và rất nghèo khổ rách rưới. Tôi hiểu miền Bắc họ dồn hết viện trợ vào chiến tranh và đời sống của người dân với họ không quan trọng. Một bên quan trọng đời sống của người dân, một bên làm sao thắng chiến tranh và tất cả dồn cho chiến tranh. Giáo dục từ nhi đồng, đều là tinh thần yêu tổ quốc, chiến đấu theo gương Bác Hồ vĩ đại. Đối với những người miền Nam nghe rất sáo rỗng và buồn cười, nhưng tôi hiểu người miền Bắc lúc đó tinh thần họ như một và họ tin cái đó. Và nhờ những cái dối trá đó đã đưa đến chiến thắng. Mục đích của họ là muốn đánh chiếm miền Nam thì tiền vào súng đạn hết. Dân đói, ăn độn, dùng tem phiếu một tháng được mua mấy lạng thịt hay một năm được mua mấy mét vải. Trong khi miền Nam là một thế giới khác. Bây giờ lại nói đi giải phóng miền Nam, cả những gia đình không phải Cộng sản và Cộng sản, đều có lấn cấn trong đầu bởi vì trong Nam họ sống quá sung sướng, đời sống cao. Phương tiện có rất nhiều, tất cả những tân tiến đã có rất sớm ngay trong thập niên 60.

Nói chống Mỹ cứu nước thì họ phải nói vậy vì họ rất nhất quán. Nghe mới đầu có thể không tin còn ngờ vực nhưng nghe hoài rồi cũng tin. Ông Hồ Chí Minh còn nói đại khái là nếu đánh thắng sẽ giàu mạnh gấp 10 lần năm xưa nên họ càng muốn đi đánh. Nhưng tôi không thể tin được họ có thể nói ra những điều như đi giải phóng miền Nam vì 20 năm người dân miền Nam sống dưới ách nô lệ của thực dân mới Hoa Kỳ, rồi chế độ ngụy,…mà toàn dân vẫn tin. Nên tôi phải bái phục người Cộng sản họ có những lý thuyết như vậy, nhưng trình độ người dân lúc đó không thoát ra được vì họ phải sống khép kín.

Nói đánh Mỹ cứu nước, nhưng ông Hồ Chí Minh là Cộng sản quốc tế từ thời ông qua bên Nga, bên Pháp. Và ông Lê Duẩn thì nói chúng ta đánh Mỹ là đánh luôn cho cả Trung Quốc và Liên Xô. Tức là họ muốn mở rộng chủ nghĩa Cộng sản ra toàn thế giới, đâu phải đánh Mỹ để cứu nước hay giải phóng miền Nam.

RFA : Sau năm 1975, có một khoảng thời gian nhà báo vẫn sống ở Sài Gòn dưới sự điều hành của Chính phủ Hà Nội. Vậy ông nhận thấy điểm khác biệt gì nổi bật ở thời kỳ đó so với trước năm 1975 ?

Nam Nguyên : Chúng tôi thấy mình ở dưới địa ngục. Những người giàu, kha khá thì ở tầng đầu địa ngục, còn những người nghèo thì ở tầng giữa, hay tầng đáy. Tôi khổ lắm. Khi giải phóng là tôi mất hết nghề nghiệp, rồi bị bóc lột lấy luôn tiền bạc bằng các trận đổi tiền giới hạn số tiền đổi. Nhiều người mất nhà mất cửa, và nền kinh tế suy sụp hoàn toàn vì áp dụng chính sách xã hội chủ nghĩa. Lúc đó ông Đỗ Mười bảo rằng kinh tế quốc doanh theo đúng xã hội chủ nghĩa là tốt nhất, ngăn sông cấm chợ. Lý thuyết của ông ấy là quốc doanh hết, tỉnh này xài không hết thì trung ương sẽ lấy mang đi tỉnh khác chia. Đại khái là kinh tế không có sự lưu thông. Thành ra miền Nam trong 10 năm đầu tiên tan hoang luôn. Nếu họ áp dụng kinh tế thị trường của miền Nam có kiểm soát ngay từ đầu, và đừng có đánh tư sản hay cướp giật của người ta để giải phóng, thì có lẽ không đến nỗi tệ. Về sau ông Võ Văn Kiệt nói rằng có sự tự kiêu của Cộng sản và đã bỏ phí những cơ hội mà để cho mãi đến khi đổi mới 1986 nhưng thực tế phải đến 1990 thì đời sống mới khá lên. Nhưng nó sẽ đến một ngưỡng nào đó thôi, bởi vì vẫn còn là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì nó nửa nạc nửa mỡ giống như độc tài chuyên chế nhưng do tổ chức của Đảng cộng sản làm.

Những câu chuyện này xảy ra sau giải phóng thật đáng tiếc. Tôi muốn nêu thêm một ví dụ nữa, ở miền Nam năm 1965 dưới thời ông Nguyễn Cao Kỳ, lúc đó là Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương, tức là Thủ tướng. Ông ấy có Chính phủ vì người nghèo, ông ấy đã làm một điều mà tôi thấy đến bây giờ Nhà nước Cộng sản vẫn chưa làm được. Ông ấy đã mở Tổng cục Tiếp tế và ở đó bán những thứ mà những người công chức quân đội có thể đến mua với giá rẻ, không có quota hay tem phiếu gì hết. Đặc biệt nữa là hữu sản hóa xe lam cho những người chạy xe lam, bán trả góp. Ông ấy đã thành công điều đó. Đối với cá nhân gia đình quân đội hay công chức, họ được mua trả góp hoặc trả hết. Chính phủ bây giờ còn chưa làm được điều đó cho quân đội hay công chức của mình. Và hữu sản hóa những cái như xe lam tôi thấy lại càng khó. Bây giờ thì họ đã thay đổi, nhưng lại nhiều vấn nạn sinh ra theo kiểu tư bản hoang dã, như lợi ích nhóm,…Cho nên tôi vẫn còn thương người Việt Nam mình lắm !

RFA : Xin chân thành cám ơn những chia sẻ của nhà báo !

Lan Hương & Phương Anh thực hiện

Nguồn : RFA, 26/04/2018

Published in Diễn đàn
samedi, 29 avril 2017 19:44

Ngày 30 tháng Tư

Ngày 30 tháng tư hàng năm những người cộng sản Việt Nam vui mừng vì ngày đó năm 1975 họ đã đánh thắng cả dân tộc Việt Nam, đã nô dịch được cả dân tộc Việt Nam, họ đã mang hận thù giai cấp đánh tan tác, li tán cả dân tộc Việt Nam. Còn những người Việt Nam chân chính phải nhận lấy nỗi buồn lịch sử, phải nhận lấy trách nhiệm lịch sử : Đấu tranh đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi nô dịch cộng sản và giành lại những mảnh đất thiêng liêng của tổ tiên người Việt đã bị mất mát, sang nhượng cho bành trướng Đại Hán dưới thời cộng sản.

30041

Cả triệu người Việt Nam dù yêu nước cháy bỏng cũng phải bỏ nhà cửa, bỏ tài sản, bỏ cả mồ mả ông bà, bỏ nước ra đi trốn chạy ý thức hệ cộng sản

Từ mấy năm nay, cứ gần đến ngày 30 tháng tư tôi đều phải rời căn hộ dịu mát, thoáng đãng, từ đó phóng tầm mắt ôm được cả một khoảng rộng Sài Gòn bừng sáng những tòa tháp cao tầng như những tòa ánh sáng. Từ mấy năm nay, cứ đến gần ngày 30 tháng tư tôi lại phải rời bỏ nếp sinh hoạt ổn định hàng ngày rồi hấp tấp khăn gói lưu vong khỏi Sài Gòn. Từ nhiều năm nay cứ đến ngày 29, 30 tháng tư cả đám an ninh cộng sản lại đến bủa vây quanh nơi tôi ở. Tôi phải lưu vong mấy ngày đó để thoát khỏi sự giam hãm.

Những ngày cả Sài Gòn giăng cờ, kết hoa, rực rỡ đèn đuốc chào mừng ngày 30 tháng tư được những người cộng sản gọi là ngày giải phóng miền Nam thì an ninh cộng sản lại đến giam cầm tôi ngay giữa "Sài Gòn giải phóng".

Vậy thực sự ngày 30 tháng tư, năm 1975 có phải là ngày nửa dải đất phía Nam của tổ quốc Việt Nam được giải phóng không ?

Giải phóng đích thực, giải phóng có giá trị lớn lao, thiết thực nhất phải là giải phóng con người, giải phóng tư duy, giải phóng sự sáng tạo của con người và giải phóng sức phát triển của xã hội.

Ngày 30 tháng tư năm 1975, cả triệu người Việt Nam dù yêu nước cháy bỏng cũng phải bỏ nhà cửa, bỏ tài sản, bỏ cả mồ mả ông bà, bỏ nước ra đi trốn chạy những người nhân danh là người yêu nước nhưng chỉ biết có ý thức hệ cộng sản, trốn chạy những người mang chuyên chính vô sản sắt máu vay mượn từ nước ngoài về nô dịch cả dân tộc. Ngày 30 tháng tư năm 1975 mang đến mất mát uất hận lớn như vậy cho cả triệu người Việt Nam làm sao có thể gọi là ngày giải phóng !

Với biến cố 30 tháng tư năm 1975, hàng trăm ngàn người dân miền Nam trở thành người tù trong những trại tập trung cải tạo, hàng triệu người thân của họ phải bỏ nhà cửa êm ấm, bỏ cuộc sống đầy đủ tiện nghi, lếch thếch đi lưu đày nơi đầu rừng cuối bãi hoang vu, khắc nghiệt với cái tên trá hình là đi xây dựng khu kinh tế mới.

Với biến cố 30 tháng tư năm 1975, nền công nghiệp non trẻ nhưng hiện đại, đầy sức sống và đang phát triển mạnh mẽ của miền Nam bị đánh sập. Những người chủ tài năng đã dựng nên cơ nghiệp cho gia đình, tạo ra nền công nghiệp tươi sáng cho đất nước phải giao nhà máy cho nhà nước cộng sản, giao tài sản mồ hôi nước mắt cho những cán bộ vô sản không có kiến thức kinh tế, không biết quản lí, điều hành sản xuất. Từ đó nhà máy hoạt động không hiệu quả, kinh doanh thua lỗ, sản xuất đình đốn, công nhân thất nghiệp. Sự dốt nát và vô trách nhiệm của những ông chủ vô sản đã tàn phá, xóa sổ cả một nền công nghiệp hiện đại đầy triển vọng rực rỡ của miền Nam.

Từ biến cố 30 tháng tư năm 1975, người kinh doanh lớn không được hoạt động. Chỉ còn những người buôn bán cò con, mua đầu chợ bán cuối chợ. Không còn kinh tế thị trường, chỉ còn nền kinh tế tự cấp tự túc từ thời mông muội xa xưa. Nghề thủ công và nghề làm ruộng cần sự cần cù, chịu thương chịu khó và sự sáng tạo cùng kinh nghiệm cá nhân thì hai nghề này phải vào hợp tác xã, chịu sự quản lí của cán bộ cộng sản quan liêu, tham nhũng và thành quả lao động bị mang chia đều, bình quân, làm cho người sản xuất không còn gắn bó với công việc, không còn cần đến sự cần cù, sáng tạo nữa. Miền Nam từ vựa lúa xuất khẩu gạo nay chính người làm ra hạt gạo cũng không có đủ gạo ăn. Người làm ra hạt gạo còn đói thì cả nước đương nhiên phải đói.

Từ biến cố 30 tháng tư năm 1975, con người miền Nam bị quản lí theo chế độ nô dịch, nền sản xuất miền Nam bị tàn phá và kìm hãm thì không thể coi ngày 30 tháng tư là ngày giải phóng miền Nam.

Ngày 30 tháng tư hàng năm, tôi cùng hàng ngàn người Việt Nam nói tiếng nói trung thực đòi tự do dân chủ, đòi những giá trị làm người đã bị bộ máy công cụ bạo lực nhà nước cộng sản Việt Nam đến bủa vây, giam cầm tại nhà thì ngày 30 tháng tư càng không thể là ngày giải phóng.

Ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày thống nhất đất nước, giang sơn thu về một mối ư ? Đất nước thống nhất trước hết phải thống nhất trong lòng người. Từ 30 tháng tư năm 1975, người Việt Nam bị chia rẽ đau đớn và sâu sắc nhất chưa từng có trong lịch sử hiển hách bốn ngàn năm dựng nước của dân tộc Việt Nam. 

Ngay cả thời Pháp đô hộ Việt Nam với chính sách chia để trị, Pháp chia đất nước Việt Nam thành ba kì với ba chế độ chính trị khác nhau thì người Việt Nam ở Bắc Kì và người Việt Nam ở Nam kì vẫn thương yêu đùm bọc nhau trong tình cảm đồng bào ruột thịt. Câu ca dao thương yêu của ông bà từ ngàn xưa để lại vẫn được cả người Bắc Kì lẫn người Nam Kì mang ra dạy bảo con cháu : Nhiễu điều phủ lấy giá gương / Người trong một nước phải thương nhau cùng. 

Từ khi đảng cộng sản Việt Nam ra đời, văn hóa yêu thương của ông bà để lại đã bị thay thế bằng văn hóa hận thù. Dân tộc Việt Nam yêu thương bị phân chia thành giai cấp đối kháng, phân chia thành trận tuyến ta - địch. Người dân bị đẩy vào cuộc đấu tranh giai cấp giả tạo mà đẫm máu và triền miên. Người dân nói tiếng nói yêu nước thương nòi mà động chạm đến tội của đảng cộng sản làm mất đất đai tổ tiên, động chạm đến tội của đảng cộng sản tước đoạt những giá trị làm người của người dân liền bị đảng cộng sản cầm quyền đẩy sang thế lực thù địch. 

Pháp đô hộ chia nước ta thành ba kì chỉ là vạch ranh giới trong không gian, chia địa lí hành chính trên giấy tờ. Đảng cộng sản chia dân tộc Việt Nam thành giai cấp đối kháng là chia rẽ trong lòng dân tộc, chia rẽ, li tán trong lòng người. Đặc biệt từ 30 tháng tư năm 1975 sự chia rẽ này càng độc ác, man rợ khi chuyên chính vô sản, hận thù giai cấp đã ào ạt, quyết liệt tước đoạt tự do, tước đoạt mạng sống của hàng triệu người dân miền Nam ở tầng lớp tinh hoa, những trí thức, những nhà chính trị, những quan chức nhà nước và sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa.

Từ 30 tháng tư năm 1975, chuyên chính vô sản, đấu tranh giai cấp đã làm cho người Việt hận thù người Việt sâu sắc, hàng triệu người Việt yêu nước thương nòi bị đẩy sang thế lực thù địch và hàng triệu người Việt yêu nước phải bỏ nước ra đi đã coi ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày quốc hận thì làm sao có thể coi ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày thống nhất lòng người.

Chia rẽ, li tán làm cho dân tộc Việt Nam suy yếu. Kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam là nhà cầm quyền bành trướng Đại Hán liền nhân cơ hội cướp hàng ngàn kilomet vuông đất biên cương của Việt Nam, cướp cả quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam thì không thể coi ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày thống nhất đất nước, giang sơn thu về một mối như sự khoa trương, lấp liếm của bộ máy tuyên truyền nhà nước cổng sản Việt Nam.

Ngày 30 tháng tư hàng năm những người cộng sản Việt Nam vui mừng vì ngày đó năm 1975 họ đã đánh thắng cả dân tộc Việt Nam, đã nô dịch được cả dân tộc Việt Nam, họ đã mang hận thù giai cấp đánh tan tác, li tán cả dân tộc Việt Nam. Còn những người Việt Nam chân chính phải nhận lấy nỗi buồn lịch sử, phải nhận lấy trách nhiệm lịch sử : Đấu tranh đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi nô dịch cộng sản và giành lại những mảnh đất thiêng liêng của tổ tiên người Việt đã bị mất mát, sang nhượng cho bành trướng Đại Hán dưới thời cộng sản.

Sài Gòn, ngày 29/04/2017

Phạm Đình Trọng 

Published in Quan điểm