Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Kể từ thế hệ giáo sĩ tiên khởi, Alexandre de Rhodes và Joseph Tissanier – những người Pháp đến Đại Việt thế kỷ XVII, đến nay đã hơn bốn thế kỷ mối lương duyên Pháp-Việt chưa bao giờ đứt đoạn.

taynguyen1

Một số công trình nghiên cứu về Tây Nguyên của các học giả người Pháp đã được xuất bản tại Việt Nam.

Cùng với những thương nhân, thừa sai, nho sĩ người Ý, Anh, Hà Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, các giáo sĩ người Pháp đã để lại nhiều ghi chép quan trọng về văn hóa – lịch sử nước Việt xưa qua từng thời kỳ. Ban đầu là ghi chép mắt thấy tai nghe, đến những nghiên cứu bước đầu nhằm cung cấp cho người Châu Âu những hiểu biết cơ bản về con người và xứ sở Việt Nam cũng như phục vụ cho công cuộc thực dân của người Pháp nửa sau thế kỷ XIX. Đầu thế kỷ XX, khi người Pháp đã áp đặt được sự thống trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam, việc nghiên cứu về một Việt Nam đa diện được thực hiện rộng khắp, từ văn hóa, lịch sử đến luật pháp, thể chế, tang ma, căn tính, phù thuật, tín ngưỡng… Không chỉ ở vùng đồng bằng, người Pháp còn chú trọng đến vấn đề giáo dục và truyền giáo nơi vùng cao, vùng sâu, Tây Nguyên là vùng đất mà họ nhắm tới.

Từ thập niên 1840 đến đầu thập niên 1970, người Pháp đã đến truyền giáo, lưu trú dài hạn, khảo sát và nghiên cứu Tây Nguyên của chúng ta một cách liên tục, đầy đủ và khoa học. Họ thuộc đủ thành phần : nhà truyền giáo, nhà thám hiểm, tiếp sau đó là nhà cai trị, nhà khoa học. Họ bản địa hóa chính họ, mang đến những công trình nghiên cứu về vùng đất và người nơi đây vừa tổng quát vừa cơ bản, thực tiễn, sâu sắc và đôi khi mộng mơ. Để rồi giờ đây muốn tìm hiểu về mảnh đất Tây Nguyên, chúng ta không thể không đọc những hồi ký hay nghiên cứu dân tộc học của Pierre Dourisboure (1825-1890), Henri Maître (1883-1914), Georges Condominas (1921-2011), Jacques Dournes (1922-1993), Anne de Hautecloque-Howe, Jean Boulbet (1926-2007)…

Bước chân khai phá của Cố Ân

Linh mục Pierre Dourisboure thuộc thế hệ thừa sai đầu tiên trên vùng đất Tây Nguyên, được gọi trìu mến với tên Việt là Cố Ân. Trong 41 năm linh mục và tông đồ, ông dành 35 năm mục vụ truyền giáo cho người dân tộc ở Tây Nguyên. Sống giữa rừng thiên nước độc và thú dữ, sống với người bản xứ bất đồng ngôn ngữ, thiếu thốn vật chất, bệnh tật, cô đơn… nhiều đồng nghiệp của ông không thể trụ lại quá lâu, có thừa sai qua đời chỉ vài tháng khi đặt chân đến Tây Nguyên, có thừa sai chịu được mười năm rồi cũng về với Chúa, Dourisboure là trường hợp đặc biệt, có lẽ là lâu nhất trong lịch sử truyền giáo nơi vùng đất này.

Cha Dourisboure bắt đầu viết hồi ký tại Kon Kơ Xâm (Kon Tum) vào năm 1865 và hoàn tất vào ngày 28/1/1870 tại Chủng viện Hội Thừa sai Paris, tập hồi ký được xuất bản lần đầu năm 1873 tại Paris (Nhà xuất bản de Soye). Sống thực địa, ngủ thực địa, hy sinh thân mình trước các cuộc truy bắt đạo lúc bấy giờ… Cha Dourisboure có đủ thời gian để quan sát và trải nghiệm những gian khổ vì công cuộc truyền bá đức tin, tất cả những điều đó được ông ghi chép lại trong tập hồi ký có nhan đề Les sauvages Bahnars đã được dịch sang Việt ngữ là Dân Làng Hồ [1].

Qua tập hồi ký được gửi gắm nhiều cảm xúc, Cha Dourisboure kể lại hành trình truyền giáo gian khổ của các vị thừa sai tiên khởi và công cuộc khai phá miền đất Tây Nguyên Kontum, khởi đầu cho việc thành lập giáo phận Kontum sau này. Không chỉ là tài liệu quý về lịch sử truyền giáo, tập hồi ký còn dành một dung lượng khiêm tốn để miêu tả phong tục, tập quán, lối sống của người Ba Na nửa cuối thế kỷ XIX.

Nhà nhân học chân trần Jacques Dournes

Gần 100 năm sau khi Cha Dourisboure đặt chân đến truyền giáo ở Đông Đàng Trong năm 1849, có vị linh mục trẻ tên là Jacques Dournes, học triết học và thần học ở Đại chủng viện Versailles, được phái sang tòa Khâm mạng Sài Gòn năm 1946. Một năm sau ông về vùng Kala, gần Djiring (Di Linh – Lâm Đồng) truyền đạo và chuyên tâm học ngôn ngữ của người bản địa. Dournes gắn bó với người Srê gần chín năm thì bị triệu hồi về Pháp vào năm 1954 vì tội "xao lãng mục vụ". Năm 1955, Giám mục Paul Seitz ở Kontum mời Dournes trở lại Tây Nguyên, nơi có tộc người Jörai cư trú. Ông sống ở đó 11 năm trước khi bị buộc phải rời khỏi Việt Nam năm 1970 vì một số lý do khách quan khiến ông vô cùng đau đớn.

Dournes cắm mình ở Tây Nguyên gần ¼ thế kỷ vậy mà ông cho là còn quá ít, rằng mình đến vùng Jörai quá muộn. Ông chú tâm học tiếng bản xứ, không dùng phiên dịch, vì ông hiểu rằng chiều sâu nhất của truyền thống văn hóa Jörai là văn hóa truyền khẩu. Ông phải nói như người bản địa thay vì dùng phiên dịch, điều tối kị đối với một nhà dân tộc học như ông.

Vì người Tây Nguyên, vì say mê con người, tập quán và văn hóa vùng đất này, Dournes muốn bỏ lại tất cả những gì ông có, rời bỏ cội rễ, kể cả quê hương. Dournes dường như "bắt rễ" với người Thượng và giữ thế đứng ngoài xã hội chính thống để tự do quan sát. Chính vì vậy, trong một cuộc trả lời phỏng vấn Andrew Hardy bảo rằng "Tôi hiểu cặn kẽ, từ mọi phía : phía Pháp, phía Việt Nam, và phía những người dân tộc thiểu số" [2]. Dournes từng nói, "nếu người ta không dầm chân trần trong ruộng, thì sẽ không biết gì hết, bởi vì mọi sự diễn ra trong đầu con người" [3]. Suy nghĩ, phản ứng, tư duy, mơ mộng đủ cả, khi bùn lên đến gối. Nghiên cứu thực địa, nghe-nói và sống như người bản địa là một phần của dân tộc học. Vì tất cả lẽ đó nên Dournes được gọi là nhà nhân học chân trần. Khi về Pháp, cũng là lúc không còn được đi chân trần trong bùn, ông tìm được nơi trú ẩn trong giới khoa học nhưng sợi dây gắn kết ông với nơi gọi là nhà đã không còn. Tuy vậy, ông không thôi mộng mơ, không thôi mơ tưởng về miền Jörai.

Dournes đến Việt Nam với tư cách là nhà truyền giáo tập sự người Pháp, rời Việt Nam – cũng là rời bỏ ngôi nhà trên vùng cao của mình – trong vài trò nhà dân tộc học chịu khó điền dã gần 25 năm nơi thực địa. Là nhà truyền giáo Cơ Đốc nhưng Dournes không cải đạo cho một ai ở Tây Nguyên, vì ông không muốn phá hủy nền văn hóa, tôn giáo nguyên thủy nơi này. Là người thích phiêu lưu cho nên Dournes xiêu lòng trước nền văn hóa sơ khai lãng mạn và con người Tây Nguyên. Lịch sử, văn hóa, kinh tế và nền văn minh người Thượng vì thế là những chủ đề Dournes đặc biệt quan tâm, tìm hiểu và thể hiện qua các nghiên cứu của mình.

Theo thống kê, Dournes đã xuất bản khoảng 250 công trình/sách/báo nghiên cứu về Tây Nguyên, ông là tác giả có nhiều sách được dịch sang Việt ngữ nhất trong chủ đề này.

Chưa đầy năm năm đến Tây Nguyên, Dournes xuất bản công trình dân tộc học đầu tiên có nhan đề Les populations montagnardes du Sud Indochinois (Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương) [4] ký bút danh Dam Bo – cái tên này do nhóm người K’Ho Srê đặt. Từ đó cho đến khi bị trục xuất hẳn khỏi Việt Nam, Dournes đã xuất bản rất nhiều nghiên cứu về Tây Nguyên trên các tạp chí uy tín, trong số đó có thể kể đến Bois-bambou : Aspect végétal de l’univers Jorai (Gỗ-Tre : Phương diện thực vật của thế giới Jörai) [5]. Giai đoạn 1972-1978 ông làm việc say mê, những công trình quan trọng nhất của ông về người K’Ho, Srê, Mạ, Jörai cũng ra đời trong khoảng thời gian này. Năm 1972, ông xuất bản cuốn sách Coordonnées : Structures Jörai familiales et sociales (Tọa độ : Cấu trúc gia đình và xã hội của người Jörai) [6], vừa được Omega dịch sang Việt ngữ lần đầu. Từ lựa chọn định đô, lắng nghe người bản xứ đến nhu cầu tìm hiểu bản nguyên hay không gian sống và tinh thần của người Jörai, Dournes đã định nên cấu trúc quan trọng, gia đình và xã hội, của họ. Năm 1973, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại trường Sorbonne với đề tài Pötao, les maîtres des états, étude d’anthropologie politique chez les Jörai (Pötao : Những bậc thầy lãnh thổ, nghiên cứu nhân học chính trị ở người Jörai). Đến năm 1977, ông cho xuất bản luận án dưới nhan đề Pötao, une théorie du pouvoir chez les Indochinois Jörai (Pötao, một lý thuyết về quyền lực ở người Jörai Đông Dương) [7], ông đạt đến đỉnh cao trong sự nghiệp dân tộc học ở công trình này và qua đó xác lập được vị thế trong giới khoa học lúc bấy giờ. Qua Pötao, Dournes định ra một hệ thống nghi lễ, chính trị của vua Pötao, xác lập "một hệ thống chính trị mà không có thể chế chính trị, không có nhà nước, quân đội hay những giáo điều chính trị, tôn giáo" [8]. Ông giễu cợt tất thảy những người lâu nay nhầm hiểu về người Pötao và Jörai, gọi họ là những kẻ ngoại lai, bao gồm nhà cai trị thực dân, triều đình ở miền dưới, nhà dân tộc học và cả nhà truyền giáo, trong đó có ông.

Ở trang 76 nguyên bản tiếng Pháp cuốn Pötao, một lý thuyết về quyền lực ở người Jörai Đông Dương ông viết, "Yo Sar Luk [tên Mnông Gar của Georges Condominas], và Dam Böt [tên Mạ của Jean Boulbet], người tình của các cô gái thuộc dòng họ lớn người Mạ, và chính tôi nữa, lúc bấy giờ là Dam Bo, chúng tôi chưng cái tên ‘man di’ của chúng tôi lên như là cái bích chương phơi bày giấc mơ của chúng tôi : hòa nhập vào một dân tộc khác biệt hẳn với cộng đồng gốc của chúng tôi, trong khi biết rõ rằng chúng tôi vẫn cứ là người da trắng, trong con mắt của những người mà chúng tôi cho rằng chúng tôi đã được người ta chấp nhận vào xã hội của họ – kỳ thực là chúng tôi được áp đặt vào đó – và đối với họ, vì là người lạ nên chúng tôi được miễn thứ cho cuộc sống bên lề và các ưu tiên của mình, bất chấp tất cả, trong một bối cảnh thuộc địa" [9]. Với Dournes, những người tự nhận là người bản xứ ấy vẫn đại diện cho quyền lực và đặc quyền thực dân, trong nhãn quan riêng biệt của ông việc tự nhận đó, nhằm thể hiện uy tín, là điều lố bịch.

Một năm sau, Dournes xuất bản công trình tuyệt vời khác, có lẽ là đỉnh cao cuối cùng của ông, Forêt, femme, folie : Une traversée de l’imaginaire Jörai (Rừng, đàn bà, điên loạn : Đi qua miền mơ tưởng Jörai) [10]. Đàn ông-ngoại giới ngoài kia, đàn bà-nội giới đến bìa rừng thiêng, đàn bà-"ký ức", "tự nhiên", đàn ông-"lời nói", phát điên vì nàng, đàn bà là chúa của làng, là niềm quyến rũ các chàng thế thôi… Trong hệ thống thuật ngữ của Dournes, ngoại giới là : cái ngoài kia, trong rừng, cái bất trắc ; nội giới là cái ở đây, tức là làng, cái yên bình ; tự nhiên vốn mang tính nữ, làng là phần tự nhiên đã được thuần hóa, đã thành của con người và mang tính người…

Đó là một Jörai nguyên bản ở mãi trong Dournes và khiến ông hoài mơ tưởng, cũng là một Jörai thực tế lúc đó đã cải đạo, đã biến đổi từ tác động bên ngoài và cả bên trong đời sống xã hội của họ. Một Jörai mà ông chua xót mỗi khi nghĩ về.

Đó là một Jörai với hàng trăm huyền thoại – "những huyền thoại về cái hiện tại, những mộng mị của con người đang sống hôm nay", một Jörai nguyên bản ở mãi trong ông và khiến ông hoài mơ tưởng. Cũng là một Jörai, thực tế lúc đó bên kia địa cầu, đã cải đạo, đã biến đổi từ tác động bên ngoài và cả bên trong đời sống xã hội của họ, một Jörai mà ông chua xót mỗi khi nghĩ về. Rừng, đàn bà, điên loạn là "một chứng nhân cho cách nghĩ, lối sống và quan niệm luyến ái của người Jörai từ góc nhìn của một người trong cuộc [J. Dournes]".

Ngoài ra, còn tập sách ảnh về Tây Nguyên do Dournes chụp được xuất bản ở Việt Nam dưới nhan đề Xứ Jörai, và một cuốn sách viết về ông cùng các nội dung ông trả lời phỏng vấn năm 1992 có nhan đề Nhà nhân học chân trần : Nghe và đọc Jacques Dournes.

Từ năm 1950, Dournes đã viết, và trở thành trích dẫn kinh điển, rằng "nếu phải hiểu để mà có thể yêu [Tây Nguyên], thì lại phải yêu để mà có thể hiểu". Dournes yêu Tây Nguyên hơn tất thảy, hiểu tư duy Jörai và có lẽ Jörai hơn bất kỳ người Jörai thực thụ nào.

Condominas nằm mơ bằng tiếng Mnông Gar

Georges Condominas từng bảo ‘tôi nằm mơ bằng tiếng Mnông Gar’, cũng chính mảnh đất miền Trung Việt Nam này khơi cho Condominas ý tưởng về khái niệm ‘Không gian xã hội’ nay đã quá nổi tiếng, và cũng nhờ những ghi chép của Condominas mà lần đầu tiên thế giới biết đến sự tồn tại của người Mnông Gar cùng với cách ăn mặc, sinh hoạt, hoạt động kinh tế, đời sống tinh thần và những phong tục tập quán đặc sắc của họ qua công trình Nous avons mangé la forêt de la Pierre-Génie Gôo  Chronique de Sar Luk, village mnong gar (tribu proto-indochinoise des hauts plateaux du Viet-Nam central) – (dịch) Chúng tôi ăn rừng Đá-Thần Gôo – Biên niên của Sar Luk, làng Mnông Gar (Bộ lạc Tiền-Đông Dương trên cao nguyên miền Trung Việt Nam).

Chúng tôi ăn rừng… đi kèm với một địa danh nhất định, được dùng để chỉ một năm cụ thể nào đó. Đây là cách tính thời gian đặc biệt của người Mnông Gar, thời gian được gọi tên bằng những vạt rừng do họ phát và đốt để gieo trồng hằng năm. Chúng tôi ăn rừng Đá-Thần Gôo là tên mà người dân ở làng Sar Luk dùng để gọi năm trồng trọt kèo dài từ cuối tháng 11 năm 1948 đến đầu tháng 12 năm 1949. Đây cũng là khoảng thời gian mà Condominas cùng hòa đồng với cuộc sống sinh hoạt của người bản địa và ghi chép lại những gì mắt thấy tai nghe để viết nên một biên niên sử của Sar Luk.

Cuốn sách là một sưu tập những tư liệu thô thu nhặt được và rút ra từ các sổ tay ghi chép của Condominas trong thời gian sống tại Sar Luk, và tạo nên tên tuổi của Condominas trong ngành Dân tộc học.

Dưới ngòi bút sắc sảo của người quan sát tỉnh táo – nhà dân tộc học đam mê khoa học thuần túy đứng ngoài chính trị, một cái nhìn từ bên trong chứ không phải từ nền văn hóa cao nhìn xuống nền văn hóa thấp kém hơn theo lề thói tư duy thông thường bấy giờ, từng tập tục lễ hội, từng lời nói, cử chỉ của người Mnông Gar được miêu tả một cách sống động, tường minh và chân thật hơn bao giờ hết.

Chúng tôi ăn rừng nguyên là luận án của Georges Condominas bảo vệ tại Viện Khảo cứu Cao cấp (EPHE, Pháp), trong "Lời nói đầu" cho bản tiếng Việt năm 2003, ông bảo rằng công trình này "được viết ra không phải để bảo vệ một luận án ở đại học, cũng chẳng phải để thực hiện một tác phẩm văn học". Mục đích của Condominas cũng không phải là vẽ nên một bức tranh kiểu chuộng lạ hay dựng nên một công trình mô tả dân tộc học tiền sử nào đó, mà là lột tả cái thực tế như nó được sống trong đời thực khi ông quan sát.

Condominas viết Chúng tôi ăn rừng "để đáp ứng mong ước trao gửi một thông điệp hữu nghị tối hậu", thực hiện một nghĩa vụ tình bạn thay vì nghĩa vụ khoa học, cũng là để trả ơn người Mong Gar ở Sar Luk – những con người đã cho phép ông được sống cùng trong suốt hai năm (1948-1949), chấp nhận ông đến với thế giới của họ một cách chân thành và đã cứu lấy mạng sống của ông.

Với Condominas, mục đích của cuốn sách này là trình bày những tư liệu thô về cuộc sống một làng Mnông Gar bấy giờ ông dự phần, quan sát và chịu chung mọi thăng trầm với tư cách là một "hộ" Mnông Gar. "Một làng, bởi vì đơn vị chính trị cổ truyền của bộ lạc này không vượt quá phạm vi đó : chính thông qua đơn vị này ta có thể cảm nhận ra quá trình thích nghi của nó với đời sống hiện đại".

Condominas khiêm tốn khi cho rằng, "đây chỉ đơn giản là những tư liệu, tức một mặt không hề có ý định xây dựng cấu trúc xã hội học, mặt khác cũng chẳng hề muốn làm văn học". Thế nhưng giá trị mà cuốn sách mang lại đã vượt xa hơn thế, trở thành cuốn sách kinh điển của ngành dân tộc học, đồng thời là một tác phẩm văn học tràn đầy hơi thở của con người trên mảnh đất núi rừng Tây Nguyên.

Ngay khi ra đời, Chúng tôi ăn rừng nhanh chóng được đón nhận và gây được tiếng vang lớn trong giới nghiên cứu học thuật của Pháp lúc bấy giờ. Cuốn sách được nhà nhân học lừng danh Claude Lévi-Strauss xem là "đánh dấu sự đăng quang trong nền văn học dân tộc học của một thể loại hoàn toàn mới, nổi bật vì sự gắn bó với hiện thực bản địa, sâu sắc hơn tất cả những gì đã từng có trước nay".

Người Ê Đê và trải nghiệm sống của Anne de Hauteclocque-Howe

Cũng chính Condominas đã dành những lời khen tuyệt vời nhất cho công trình nghiên cứu Les Rhadés : Une société de droit maternel (Người Ê Đê : Một xã hội mẫu quyền) của nhà nghiên cứu Anne de Hauteclocque-Howe – người đã hoàn thành giấc mơ dang dở của Condo : thực địa, nghiên cứu và phân tích về người Ê Đê và mẫu quyền – quy tắc điều hòa chủ đạo của xã hội này. Với thế mạnh tư duy của nhà toán học, Phi Châu học và đặc biệt là phụ nữ nên bà đã "sống thực sự trong lòng một xã hội nơi mà sự phụ thuộc về mặt gia đình cùng việc cư trú được quyết định chủ yếu bởi ‘các chị và các mẹ’". Vì thế, qua công trình Người Ê Đê : Một xã hội mẫu quyền – kết quả của 14 tháng (tháng Tư năm 1961 đến tháng Sáu năm 1962) tác giả sống ở Đắc Lắc, Condo tin rằng Anne de Hauteclocque-Howe đã đi xa hơn nhiều so với ông, nếu ông tự làm lấy công việc đó thay vì đi Togo. Việc nghiên cứu được tác giả "tiến hành một cách thông minh và tỉ mỉ để phát hiện trong các chi tiết thích đáng một cơ chế xã hội đặc biệt phức tạp". Trong quyển sách này, Anne de Hauteclocque đã biết kết hợp tính chặt chẽ "khoa học với một lối viết thượng thừa" nhằm phục hồi chất máu thịt của đời sống cho những sơ đồ tri thức.

Tây Nguyên với những nhà thám hiểm

Hai nhà thám hiểm lớn đã để lại những ghi chép quan trọng về Tây Nguyên có thể kể đến là Henri Maître và Jean Boulbet.

Boulbet đã bản địa hóa chính mình với cái tên Mạ Dam Böt, ở đó ông đi băng qua các chòm núi, lưu thông qua các rừng cây hùng vĩ nhất, thăm các phong cảnh danh tiếng nhất, tắm trong các lỗ nước có tiếng nhất, ngủ trong phần lớn các làng, tham dự nhiều cuộc lễ hiến sinh, tham dự vài cuộc thương thuyết và nhiều cuộc thanh toán, làm cho cư dân bản xứ nói càng nhiều càng tốt (thơ, cổ ca)… Mục đích đến Tây Nguyên được Boulbet viết trong cuốn sách dân tộc học Pays Maa’, Domaine des Génies (Xứ người Mạ, lãnh thổ của Thần linh) xuất bản năm 1967, rằng "chúng ta có mặt ở đây để làm lại cái xứ sở miền núi này, ‘xứ Mọi’ của những người xưa […] để giữ cho họ đứng ngoài những xáo động đáng lo của chính trị […]. Tôi đến xứ sở của họ để sống cái tuổi hai mươi của tôi một cách đầy đặn đến mức tối đa có thể […]. Tôi đã cưới một cô gái thuộc một trong những dòng họ lớn nhất trong vùng…" Nhận xét về điều này, Dournes viết trong Pötao "nhiều người Châu Âu muốn tự coi mình là vua vì nhu cầu áp đặt và ý muốn làm cho những người nguyên thủy được coi là dễ bảo ‘tiến bộ’, mà hoàn toàn không hề biết chút gì về cơ chế của quyền lực trong xã hội của họ". "Điều chẳng hề ngăn người ta làm tốt công việc dân tộc học, công việc mà anh chàng thực dân trẻ được cuốn vào một cách tự nhiên" [11]Xứ người Mạ thể hiện niềm mong muốn thầm kín của nhà dân tộc học trẻ, "không phải là ý chí muốn có quyền lực thúc đẩy anh ta, mà là sự hấp dẫn của ‘Cái lạ’, dầu anh chỉ cảm thấy một cách mơ hồ". Cái lạ (exotique), trong mọi mặt đời sống Tây Nguyên nói chung, với người Pháp thực sự hấp dẫn, gây tò mò, không cưỡng lại được. Cái lạ đó mê hoặc các nhà dân tộc học mới bước vào nghề, Condominas hay Boulbet không ngoại lệ.

Theo thông tin của Oscar Salemink, trong Nhà nhân học chân trần, nhà dân tộc học khó tính Dournes đánh giá rất cao cuốn sách Les jungles Moï (Rừng người Thượng), xuất bản năm 1912, của Henri Maître. Andrew Hardy thì viết rằng, Les jungles Moï và Pötao là hai cuốn sách tuyệt vời nhất về Tây Nguyên mà ông từng đọc. Rừng người Thượng gồm ba phần, đến nay chúng ta chỉ mới dịch ra Việt ngữ phần III của cuốn sách.

Nếu như hai phần đầu là những lời tụng ca của Maître dành cho rừng hay những câu chuyện về chính Maître một cách chủ quan và ít có giá trị dân tộc học, "chuyện kể về Henri Maître và rừng của Henri Maître", thì phần III là nội dung về con-người-sống-trong-rừng dưới góc nhìn khoa học, khách quan của một nhà thám hiểm đồng thời là nhà dân tộc học Henri Maître. Đánh giá về giá trị nội dung của phần III này, Andrew Hardy và Nguyễn Văn Huy cho rằng, "một nghiên cứu tổng quát không chỉ đầu tiên mà còn chất lượng nhất về Tây Nguyên trong số những gì đã xuất bản" [12]. Một lý do khác khiến công trình của Maître trở nên kinh điển là nhờ phương pháp nghiên cứu thực địa và khảo cứu tư liệu để tổng hợp về các dân tộc cao nguyên miền Thượng trong suốt chiều dài lịch sử.

Nếu Pierre Dourisboure là người, từ rất sớm, kiên trì khai phá Tây Nguyên ở góc độ tôn giáo thì Henri Maître là người tiên phong trong khoa học, trong nghiên cứu về nền văn minh, con người, vùng đất và núi rừng Tây Nguyên.

Vĩ thanh

Từ Pötao đến Tọa độ vừa được dịch ra Việt ngữ là khoảng thời gian tám năm chờ đợi, những gì còn lại là công việc tái bản các bản dịch được in trước đó, không có cái mới.

Mong trong một tương lai gần, chúng ta được đọc những bản dịch Việt ngữ quan trọng khác về chủ đề Tây Nguyên hay lịch sử-dân tộc liên quan, ví dụ : Sons of the Mountains (Những người con của núi) của Gerald Cannon Hickey, Bois-bambou : Aspect végétal de l’univers Jorai (Gỗ-Tre : Phương diện thực vật của thế giới Jörai) của Jacques Dournes, L’Exotique est quotidien (Cái xa lạ là cái thường ngày) của Georges Condominas, Les Mnong des Hauts-Plateaux (Người Mnông ở Tây Nguyên) của Albert-Marie Maurice, vân vân và vân vân.

Nhà văn Nguyên Ngọc từng nói, dân tộc học trong một cách hiểu nào đó không phải là nghề mà là một nghiệp, người ta không ‘làm’ dân tộc học, người ta ‘sống’ nó. Người Pháp đã ‘sống’ với ‘cái lạ’ và để lại cho chúng ta những hiểu biết căn bản nhất về vùng đất Tây Nguyên thông qua những nghiên cứu dân tộc học, ghi chép, sách vở. Nhìn lại những gì đang có, điều dễ thấy là hiện tại còn quá ít sách được dịch sang Việt ngữ, công việc nói tưởng dễ nhưng cũng thật khó nếu không yêu-hiểu-nghĩ về Tây Nguyên như Dournes đã từng nói.

Nguyễn Quang Diệu

Nguồn : Nghiên cứu quốc tế, 01/05/2021

[1] Theo tiếng Ba Na, Kontum nghĩa là Làng Hồ. Ban dịch thuật thuộc nhóm Đại Chủng sinh giáo phận Kontum chuyển ngữ, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2010.

[2] Andrew Hardy, Nhà nhân học chân trần : Nghe và đọc Jacques Dournes, Nguyên Ngọc dịch, Nhà xuất bản Tri thức, 2013, tr. 20-21.

[3] Andrew Hardy, Nhà nhân học chân trần : Nghe và đọc Jacques Dournes, Nguyên Ngọc dịch, Nhà xuất bản Tri thức, 2013, tr. 4.

[4] Dam Bo, Les populations montagnardes du Sud Indochinois, France-Asie, Lyon, 1950 (đặc san). Cuốn sách đã được Nguyên Ngọc dịch sang Việt ngữ với nhan đề Miền đất huyền ảo.

[5] Jacques Dournes, Bois-bambou : Aspect végétal de l’univers Jorai, CNRS, Paris, 1969, 196 trang.

[6] Jacques Dournes, Coordonnées : structures Jörai familiales et sociales, Institut d’Ethnologie, Paris, 1972. Nguyễn Phương Chi dịch sang Việt ngữ, Nguyên Ngọc hiệu đính và giới thiệu, Omegavà Nhà xuất bản Thế giới, 2021.

[7] Jacques Dournes, Pötao, une théorie du pouvoir chez les Indochinois Jörai, Flammarion, Paris, 1977. Nguyên Ngọc dịch sang Việt ngữ, Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội, 2013 ; Omega+ tái bản năm 2018.

[8] Oscar Salemink, "Barefoot in the Mud : Reflections on Jacques Dournes" (Chân trần trong bùn : Những suy ngẫm về Jacques Dournes), trong Nhà nhân học chân trần : Nghe và đọc Jacques Dournes, sđd, tr. 165.

[9] Jacques Dournes, Pötao, một lý thuyết về quyền lực ở người Jörai Đông Dương, sđd, 2018, tr. 149.

[10] Jacques Dournes, Forêt, femme, folie : Une traversée de l’imaginaire Joraï, Aubier, Paris, 1978. Nguyên Ngọc dịch sang Việt ngữ, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 20063 ; Omega+ tái bản năm 2018.

[11] Jacques Dournes, Pötao, một lý thuyết về quyền lực ở người Jörai Đông Dương, sđd, 2018, tr. 148.

[12] Henri Maître, Rừng người Thượng, Lưu Đình Tuân dịch, Nguyên Ngọc hiệu đính, Nhà xuất bản Tri thức, 2008, tr. 15.

Published in Văn hóa
mardi, 20 avril 2021 00:25

Tây nguyên

Ký ức về một Tây Nguyên hồn nhiên, thanh sạch và thấm đẫm tình người, tình rừng… lẽ nào chỉ còn trong những tập khảo cứu người Pháp để lại từ gần trăm năm trước ?

1taynguyen1

Nay, người ta phá rừng không chỉ vì tiền, mà còn vì rừng không phải là ký ức của họ.

Tây Nguyên có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, quân sự, an ninh, là vùng giàu tiềm năng về văn hóa truyền thống Đông Nam Á… được coi là "xương sống" và "nóc nhà" của bán đảo Đông Dương.

Là một trong những khu vực phong phú và giàu có nhất của hệ sinh thái phổ tạp nhiệt đới, ở Tây nguyên có thảm thực vật nguyên sinh nhiều kiểu rừng được bảo tồn hàng triệu năm nhờ các khối núi cao và địa hình chia cắt mạnh.

Thống kê vào năm 1974 cho biết tại đây có khoảng 3.600 loài thực vật bậc cao trong đó có nhiều loại rất quý bao gồm cả thân gỗ và nhiều loại dược liệu. Với vị trí trung tâm của Đông Dương, Tây nguyên là nơi gặp gỡ của nhiều nhóm động vật có nguồn gốc khác nhau, phong phú và đa dạng về giống loài : hàng ngàn loài động vật nước ngọt, bò sát, chim và trên 100 loài thú trong đó có nhiều thú quý hiếm.

Điều kiện tự nhiên, khí hậu, môi trường cảnh quan Tây nguyên là "cái nôi" cho cuộc sống và văn hóa của các tộc người nơi đây phát triển và bảo tồn qua hàng ngàn năm lịch sử.

Trước năm 1975 Tây nguyên như là một vùng đất ngủ yên trong sự quên lãng về lịch sử, có chăng chỉ được nhắc nhớ trong vài tập khảo cứu về Nhân học của một số tác giả người Pháp, còn về khảo cổ học thì đây là "vùng đất trắng".

Lịch sử một vùng đất được đánh dấu bởi sự xuất hiện của con người, theo đó Tây nguyên có lịch sử từ thời đá cũ cách đây chừng 300 ngàn năm. Đến nay ở Tây nguyên phát hiện được trên 100 di chỉ khảo cổ học thời tiền sử và sơ sử, đã khai quật hơn 20 di tích lớn như Lung Leng (Sa Thầy, Kon Tum), Biển Hồ (Play-cu, Gia Lai…).

Đã tìm thấy hàng chục ngàn công cụ đá, hàng triệu mảnh gốm chum, vò, hàng trăm công cụ kim loại và nhiều dấu tích cư trú, mộ táng, lò luyện kim… Ngoài ra gần đây còn tìm thấy hàng chục trống đồng lớn nhỏ "kiểu Đông Sơn", những bộ đàn đá, đá kêu rất độc đáo… Đây là nguồn sử liệu cho phép chúng ta phác dựng bức tranh văn hóa và cảnh quan môi trường tiền sử Tây Nguyên.

Những sưu tập di vật khảo cổ học bằng các chất liệu ở Tây nguyên cho biết mối quan hệ sâu sắc và bền chặt giữa "người và rừng" Tây nguyên : từ bao đời rừng là sở hữu của cộng đồng, con người thuộc về cộng đồng buôn làng và thuộc về rừng, làng ở đâu cũng gần rừng, làng chuyển đi đất lại trở thành rừng, đốt rẫy làm nương rồi đi tìm rẫy mới đất bỏ hoang lại trở thành rừng…

Người Tây nguyên "ăn rừng" vừa đủ, không ăn phí phạm, ăn biết dành lại cho người sau không vừa ăn vừa phá. Sống với rừng, chết làm "ma" trong nhà mồ giữa rừng, sau lễ "bỏ ma" con người trở lại với rừng, thiên nhiên.

Rừng là ký ức di truyền và luôn hiện hữu trong mỗi người Tây Nguyên. Có thể nói nếu người ở đồng bằng sống chết với đất, vì đất, thì người Tây nguyên sống chết với rừng, vì rừng.

Mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên càng bền chặt bao nhiêu thì lối sống, tâm thức con người càng hài hòa, hướng thiện bấy nhiêu.

Bảo tồn sự đa dạng của môi trường cảnh quan, bảo tồn những loài động thực vật quý hiếm không chỉ là bảo vệ thiên nhiên, mà đó chính là bảo tồn sự đa dạng của văn hóa, sự giàu có của tài nguyên, và qua đó là bảo vệ sự đa dạng và giàu có của con người và văn hóa Tây nguyên, văn hóa Việt Nam.

Mỗi lần trở lại Tây Nguyên thấy rừng ngày càng ít, văn hóa bản địa càng ẩn sâu hơn trong tâm thức người Tây Nguyên. Ký ức về một Tây Nguyên hồn nhiên, thanh sạch và thấm đẫm tình người, tình rừng… lẽ nào chỉ còn trong những tập khảo cứu người Pháp để lại từ gần trăm năm trước ?

Buôn Mê Thuột 19/4/2021

Nguyễn Thị Hậu

Nguồn : VNTB, 20/04/2021

Published in Văn hóa

Giới chức ngoại giao Hoa Kỳ gặp gỡ người Thượng Tây Nguyên

VOA, 24/06/2020

Các nhà ngoại giao Hoa Kỳ va gp g các tín hu Tin Lành đc lp, các cu tù nhân, và đi din các nhóm tôn giáo khác nhau ti các tnh Tây Nguyên ca Vit Nam. Theo nhng người tham d, hai cuc gp ti Đăk Lăk và Gia Lai vào tun trước din ra suôn s, dù họ b an ninh "theo dõi" c trước và sau khi gp phái đoàn Hoa Kỳ.

nguoithuong1

Các nhà ngoại giao Hoa Kỳ gp g các tín đ Tin Lành thiu s khu vc Tây Nguyên, ngày 17/06/2020 ti Buôn Ma Thut, Đak Lak. Photo by Y Quy Buon Dap.

Mục sư Tin Lành Nguyn Hng Quang cho VOA biết ni dung trao đi gia các tín đ và ông Noah Zaring, tham tán chính tr và ông Gaetan Damberg-Ott, viên chc chính tr :

"Tại Gia Lai có 8 người gp, ti Đăk Lăk có 12 người gp. Khác vi các ln gp trước, ln này [phía M] quan tâm rt chi tiết hơn, hi thăm các nhóm Tin Lành chưa được công nhn, k c nhóm có pháp nhân, h có khó khăn gì và còn vn đ gì tn ti ? khi đã cho phép hot đng thì họ còn gp khó khăn gì ? Đi vi các tín đ vì lý do t do tôn giáo mà trước đây t 2001-2004 đu tranh mà b đi tù thì quay v phi đi din vi nhng khó khăn gì ?"

Ông Y Quy Buon Dap, người dân tc Eđê, làng Ea Khit, huyn Cư Kuin, tnh Đăk Lăk, mt tín đồ Tin Lành, đng thi là mt thành viên nhóm vn đng "Người Thượng vì Công lý" (Montagnards stand for Justice), cho VOA biết thêm v cuc gp gia ông, cùng các tín đ khác và hai viên chc ngoi giao Hoa Kỳ.

"Tôi nói lên sự tht v tình hình t do tôn giáo và nhân quyền ti Vit Nam, t năm 2018 cho đến nay chúng tôi vn còn chu s sách nhiu, đe da, đàn áp, bt b t nhà cm quyn. H canh gác, theo dõi thường xuyên. Nhiu tín đ và lãnh đo hi thánh b áp gii lên đn công an thm vn.

"Họ tuyên truyền trong các cuc hp vi qun chúng đ ty chay hi thánh ca chúng tôi, hăm da người dân không được tiếp cn vi giáo dân, tín đ trong hi thánh ca chúng tôi, cho rng đó là "tà đo".

"Họ nói chúng tôi li dng tôn giáo đ chng phá Đng và Nhà nước. H gán ghép như vy đ xóa b tôn giáo ca người Montagnard Dega ca chúng tôi.

"Nhiều hi thánh ca chúng tôi chưa dám công khai hot đng, th phượng vì s bt đi tù như trường hp ca thy truyn đo Y Pum Bya, tín đ Y Min Ksor, mc sư A Đo".

nguoithuong2

Tham tán chính trị Đi s quán Hoa Kỳ Noah Zaring và Mc sư Nguyn Hng Quang. Photo Facebook Nguyn Hng Quang.

Mục sư Nguyn Hng Quang cho biết lc lượng an ninh có mt xuyên sut và "làm phin" ti cuc gp Đăk Lăk hôm 17/06 :

"Rất đông an ninh, công an tnh Đăk Lăk biết trước cuc gp này, h ngi đó rt đông, gây áp lc vi khác sn Sài Gòn Buôn Mê, nơi phái đoàn Mỹ đt phòng hp. H hi danh sách, ly giy t ging như mình ngh qua đêm, trong khi mình là khách mi đến ch ung nước. Tôi có nói vi h là đng làm phin chúng tôi".

Ông Y Quy Buon Dap cho VOA biết c ba tín đ trong nhóm ca ông đu b an ninh theo dõi, có trường hp an ninh tìm đến nhà đ "dò xét" sau cuc gp.

"Cả ba người đu b theo dõi. Khi gp viên chc đi s quán M có công an chp hình lén. Hôm sau, tôi v ti nhà thì có công an canh gác tư gia rt nhiu".

VOA đã liên lạc vi công an tnh Đăk Lăk và khách sạn Sài Gòn Ban Mê đ tìm hiu thêm v cáo cuc "làm khó" khách tham d cuc hp vi các nhà ngoi giao M, nhưng chưa được phn hi.

Từ North Carolina, ông Y Phic Hdok, đi din cho Montagnards Stand for Justice cho VOA biết rng "cuc gặp g gia phái đoàn Hoa Kỳ và các tín đ ca hi thánh tư gia là mt điu rt quan trng".

Ông Y Phic cho biết thêm : "Đó là cơ hi đ h lng nghe nhng câu chuyn tht ca tng cá nhân b đe do, đàn áp v vn đ thc hành nim tin ca mình. Nhiu mc sư và tín đ khác hin ti luôn b đe do, ép b đo, đ theo tôn giáo mà h trn quyn kim soát, h tuyt đi không cho nhng tín đ hp li vi nhau, h kiếm nhng lý do đ mi các tín đ lên đn công an hay làm vic mt cách vô c, h cho rng tôn giáo mà các tín đồ đang theo là "ca M đang âm mưu lt đ chính quyn", nhưng đó ch là cái c đ chính quyn gán mác đ đàn áp, và xúi gic nhng người dân khác không đi theo".

Hôm 10/06/2020, trong phúc trình thường niên v t do tôn giáo 2019, B Ngoi giao Hoa Kỳ cho biết "chính quyn các tnh Tây Nguyên tiếp tc sách nhiu các tín đ Tin lành thuc dân tc thiu s", vi vic "các quan chc chính ph tiếp tc tn công, theo dõi, thm vn, bt gi mt cách tùy tin và phân bit đi x vi các tín đ, mt phần vì các hot đng tôn giáo ca h".

******************

Đạo Tin Lành ở Tây Nguyên và vấn đề đặt ra hiện nay

Tạp chí Lý luận chính trị số 11-2019, ngày 14/11/2019

Lời giới thiệu : Để có một cái nhìn khách quan và chính xác về người Thượng và đạo Tin Lành tại Việt Nam, chúng tôi đăng lại sau đây bài tham luận của Tiến sĩ Nguyễn Khắc Đức, Viện Tôn giáo và Tín ngưỡng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, về đạo Tin Lành trên Tây Nguyên.

Đảng và chính quyền cộng sản nắm và biết rất rõ những gì đang xảy ra trong cộng đồng người Thượng trên Tây Nguyên (phần 1). Trong phần 2, Tiến sĩ Nguyễn Khắc Đức để lộ những ưu tư của Đảng và chính quyền cộng sản trong việc quản lý những người theo đạo Tin Lành trong nước nói chung và trên Tây Nguyên nói riêng. Điều này cho thấy chế độ độc tài đảng trị ở Việt Nam không mạnh, tất cả những kết hợp đông người đều làm Ban lãnh đạo Đảng cộng sản lo sợ và muốn tìm cách làm suy yếu, chia rẻ hay trực tiếp quản lý. Có là công cóc không khi muốn lèo lái đức tin của người dân mà chính mình không hiểu và không tin ? (NVH)

nguoithuong3

Sinh hoạt tôn giáo tại chi hội Tin Lành Plei Breng (xã Ia Der- huyện Ia Grai). Ảnh: T.N

-----------------------

Đạo Tin Lành được du nhập vào Tây Nguyên từ cuối những năm 20 thế kỷ XX. Hiện nay, đạo Tin Lành đã có được vị trí quan trọng trong đời sống tôn giáo ở khu vực này và đáp ứng được nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Tuy nhiên, hoạt động của đạo Tin Lành ở Tây Nguyên cũng đang đặt ra những vấn đề cần được quan tâm giải quyết, như : tình trạng thiếu nơi sinh hoạt tôn giáo, hoạt động lợi dụng đạo Tin Lành của những lực lượng xấu. Nhận diện được những vấn đề đang đặt ra để Đảng và Nhà nước ta có được những quyết sách cho phù hợp.

Đạo Tin Lành chính thức được du nhập vào Việt Nam năm 1911. Công việc truyền giáo do Hội Truyền giáo Phúc Âm Liên hiệp (Christian and Missionary Alliance - C&MA), tổ chức đến từ Bắc Mỹ, thực hiện. Sau đó không lâu, các giáo sĩ thuộc C&MA đã bắt đầu truyền giáo vào vùng dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Đạo Tin Lành phần nào đáp ứng nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng của người dân, góp phần xóa bỏ các hủ tục, đưa đến những tiến bộ về đạo đức, lối sống... nhưng cũng tạo ra một số phức tạp.

1. Tình hình đạo Tin Lành ở Tây Nguyên hiện nay

Sau khi Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) được Nhà nước công nhận vào năm 2001, nhất là sau Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg, ngày 4/2/2005 của Thủ tướng Chính phủ Về một số công tác đối với đạo Tin Lành được ban hành, tình hình đạo Tin Lành ở Tây Nguyên diễn biến theo hướng tích cực ; số người theo đạo gia tăng nhưng không đột biến, không tạo những điểm nóng xã hội. Đến năm 2015, khu vực có 440.149 người theo đạo Tin Lành (1), phân bố như bảng (trang sau).

Đến năm 2018, Tây Nguyên có 600 nghìn tín đồ theo đạo Tin Lành (450 nghìn tín đồ là người dân tộc thiểu số), 1.665 điểm nhóm (1.300 điểm nhóm đã được cấp đăng ký), 300 chi hội, 120 nhà thờ, nhà nguyện (2). 18 tộc người thiểu số theo đạo Tin Lành, bao gồm : Ê Đê (133.593 người), Gia Rai (82.604), Bah Nar (35.309), K’Ho (74.864), M’Nông (23.284), Xê Đăng (6.473),Vân Kiều, Mạ, H’Mông, H’Lăng, Giẻ Triêng, Dao, Nùng, Tày, Sán Chỉ, Chăm, S’Tiêng, Thái. Hiện tại, có hơn 30 tổ chức, hệ phái đạo Tin Lành cùng tồn tại ở khu vực này.

Các tổ chức, hệ phái đã được Nhà nước công nhận có đông tín đồ hơn cả, như : Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam), chiếm 87% tổng số tín đồ ; Hội Truyền giáo Cơ đốc Việt Nam, chiếm 4,1%.

Thực hiện Chỉ thị Về một số công tác đối với đạo Tin Lành năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ, đến nay tình hình đạo Tin Lành ở Tây Nguyên đã từng bước ổn định, hoạt động tuân thủ pháp luật, đáp ứng nhu cầu tôn giáo của người dân. Hơn 90% tín đồ được sinh hoạt tôn giáo tự do trong các chi hội hay điểm nhóm ; nhiều nhà thờ, nhà nguyện được trùng tu, sửa chữa hay xây mới ; nhiều mục sư, truyền đạo được thụ phong.

Bên cạnh đó, hoạt động đạo Tin lành tại Tây Nguyên còn một số vấn đề cần giải quyết :

Thiếu nhà thờ, nhà nguyện đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của người dân

Tây Nguyên hiện nay có đông đảo tín đồ đạo Tin Lành, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, với 600 nghìn người, 1.665 điểm nhóm, 300 chi hội, nhưng chỉ có 120 nhà thờ, nên rất thiếu nơi sinh hoạt tôn giáo cho người dân (3). Nhiều tổ chức, hệ phái đạo Tin Lành phải tổ chức sinh hoạt tại những địa điểm ngoài cơ sở thờ tự, nơi công cộng, khách sạn, thậm chí là nhà riêng, từ đó đặt ra khó khăn cho chính quyền các địa phương trong quản lý xã hội (4). Do đó, việc cơi nới, mở rộng, thậm chí là xây mới nhà thờ, nhà nguyện ; mua bán, chuyển nhượng đất đai để xây cơ sở tôn giáo khi chưa được phép của chính quyền đã và đang diễn ra. Trong khi đó việc hỗ trợ xây dựng nơi sinh hoạt tôn giáo còn gặp nhiều khó khăn do thực lực của các tổ chức đạo Tin Lành, cũng như khó khăn chung của các địa phương (5).

Tình hình phức tạp trong chính đạo Tin Lành

Do có nhiều tổ chức, hệ phái đạo Tin Lành hoạt động rất khác nhau, nên tạo ra những phức tạp trong tình hình tôn giáo. Có những nhóm hoạt động ổn định, tuân thủ pháp luật, tôn trọng sự lãnh đạo quản lý của Nhà nước, có đóng góp cho cộng đồng. Trong khi đó, một số nhóm hoạt động không ổn định, thiếu hiểu biết về pháp luật dẫn đến những vi phạm. Một số tổ chức, hệ phái tranh giành ảnh hưởng, công kích lẫn nhau để phát triển tín đồ, mở rộng địa bàn truyền giáo gây nên những bất ổn trong cộng đồng, đặc biệt là ở vùng dân tộc thiểu số.

Nhiều tổ chức, hệ phái chưa được công nhận. Có đến 20 tổ chức, hệ phái, với hơn 18 nghìn tín đồ chưa được công nhận (6), cũng có nghĩa là bộ phận này hiện đang "ngoài vòng quản lý" của chính quyền, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất trật tự xã hội. Thí dụ như vụ việc "Hội thánh Đức Chúa Trời mẹ" năm 2018.

Hoạt động lợi dụng đạo Tin Lành

Các lực lượng xấu thường xuyên tìm mọi cách lợi dụng vấn đề tôn giáo, trong đó có đạo Tin Lành để gây rối xã hội, chống phá cách mạng nước ta. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa, cởi mở trong quan điểm, chính sách đối với đạo Tin Lành của Đảng và Nhà nước ; việc lợi dụng đạo Tin Lành ở Tây Nguyên ngày càng mạnh và tinh vi.

Hai cuộc bạo loạn chính trị xảy ra tại các tỉnh Tây Nguyên tháng 2/2001 và tháng 4/2004 là những trường hợp điển hình cho thấy âm mưu và hành động lợi dụng đạo Tin Lành, dân tộc của các thế lực phản động. Nghe theo những lời kích động, xúi giục của những phần tử phản động ở nước ngoài với âm mưu thành lập "Nhà nước Đê ga độc lập" và "Tin Lành Đê ga" (7) ở Tây Nguyên, đứng đầu là Ksor Kơk, hàng ngàn người dân tộc thiểu số từ các bản làng xa xôi, bằng những phương tiện thô sơ, kể cả công nông tiến về biểu tình, gây bạo loạn ở các thành phố, thị trấn thuộc các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk gây mất trật tự, an toàn xã hội.

Những năm sau đó, các vụ việc phức tạp liên quan đến tôn giáo, dân tộc vẫn diễn ra. Trong sáu tháng đầu năm 2006, đã có khoảng 70 vụ việc xảy ra : Gia Lai 33 vụ (chiếm 47%) ; Đắk Lắk 15 vụ (21%) ; Lâm Đồng 11 vụ (15,7%) ; Kon Tum 6 vụ (8,5%) ; Đắk Nông 3 vụ (4,3%) (8).

Gần đây, lực lượng FULRO và "Tin Lành Đê ga có dấu hiệu hoạt động trở lại. Tại tỉnh Gia Lai, những nhân vật thuộc "Tin Lành Đê ga" đứng đầu và tuyên truyền các tà đạo, như Tà đạo Hà Mòn, Thanh Hải Vô thượng sư, Bơ khắp Brâu, gây phức tạp tình hình, tiềm ẩn nguy cơ gây nên các cuộc biểu tình và bạo loạn chính trị.

2. Một số kiến nghị đề xuất

Để nâng cao hiệu quả công tác tôn giáo và công tác đối với Tin Lành, đặc biệt là thực hiện hiệu quả Luật Tín ngưỡng, tôn giáo ở Tây Nguyên, trong thời gian tới chúng ta cần tập trung làm tốt những nhiệm vụ sau :

Một là, tiếp tục tuyên truyền, quán triệt chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước trong cán bộ, đảng viên và nhân dân

Từ khi thực hiện đường lối đổi mới đất nước đến nay, Đảng và Nhà nước đã có những quan điểm, chính sách đổi mới về tôn giáo, tín ngưỡng. Những quan điểm, chính sách đó đã đi vào cuộc sống, đáp ứng nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân và góp phần vào sự phát triển chung của đất nước. Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX về công tác tôn giáo chỉ rõ : "Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta"(9).

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo do Nhà nước ta ban hành năm 2016 khẳng định :

"1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.

2. Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo ; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo ; tham gia lễ hội ; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo" (10).

Đối với đạo Tin Lành, chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước được thể hiện thông qua Chỉ thị số : 01/2005/CT-TTg, ngày 4/2/2005 về một số công tác đối với đạo Tin Lành của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, chúng ta từng bước bình thường hóa hoạt động của đạo Tin Lành ở nước ta, đặc biệt là ở vùng dân tộc thiểu số Tây Nguyên và Tây Bắc. Cần tiếp tục được tuyên truyền, quán triệt để nâng cao nhận thức về tôn giáo, về đạo Tin Lành cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ làm công tác tôn giáo, chức sắc, tín đồ tôn giáo và nhân dân.

Hai là, quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo

Ở nhiều nơi thuộc Tây Nguyên hiện nay, đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo thiếu về số lượng, hầu hết chưa được đào tạo cơ bản về công tác tôn giáo, làm hạn chế việc giải quyết những công việc liên quan đến tôn giáo và đạo Tin Lành. Thực tế cho thấy đa số cán bộ, công chức không muốn làm công tác tôn giáo vì nhiệm vụ này khó khăn, phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường củng cố, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo là yêu cầu cấp thiết. Đảng, Nhà nước và các địa phương trong khu vực cần tiếp tục chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo. Cụ thể là thông qua đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ trong thực tiễn ; đồng thời quan tâm chính sách đãi ngộ, kể cả động viên khen thưởng. Mục tiêu là có được đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo có năng lực công tác tốt, nắm chắc pháp luật và am hiểu về tôn giáo. Đây là điều kiện tiên quyết bảo đảm làm cho chính sách, pháp luật đổi mới về tôn giáo của Đảng, Nhà nước đi vào cuộc sống trên cả nước, cũng như ở Tây Nguyên.

Ba là, phát huy đóng góp của đạo Tin Lành cho phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Đạo Tin Lành là tôn giáo cải cách hiện đại, rất quan tâm và có đóng góp tích cực cho xã hội, điều này thể hiện rất rõ ở những nước có đông tín đồ đạo Tin Lành, như : Mỹ, Đức, Hàn Quốc, thậm chí là Trung Quốc trước đây.

Ở nước ta, trong thời kỳ trước năm 1975, đạo Tin Lành đã có đóng góp tích cực cho hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo thông qua nhiều trường học, bệnh viện. Ở Tây Nguyên, Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) đã thành lập Bệnh viện Phong năm 1951 ở Buôn Mê Thuột ; Bệnh viện Tin Lành Đà Lạt năm 1959, và năm 1960 một bệnh viện đa khoa được xây dựng ở Pleiku. Đến năm 1975, Hội Thánh đã có 5 bệnh viện và Chẩn y viện. Các tổ chức đạo Tin Lành khác, như : Giáo hội Cơ đốc Phục lâm, Hội Truyền giáo Cơ đốc, Giáo hội Báp tít cũng đã có những hoạt động xã hội thiết thực.

Hiện nay, các tổ chức đạo Tin Lành tích cực tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện, nhân đạo góp phần thực hiện an sinh xã hội, như : giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo, cứu trợ khẩn cấp, tặng xe lăn cho người khuyết tật. Tuy nhiên, những kết quả này chưa tương xứng với khả năng đóng góp của họ.

Một trong những chủ trương rất mới của Đảng và Nhà nước là phát huy nguồn lực của các tôn giáo đóng góp cho xã hội, vì vậy việc phát huy đóng góp của đạo Tin Lành cho sự phát triển của Tây Nguyên, nơi có rất đông đảo đồng bào dân tộc thiểu số theo đạo là rất cần thiết.

Tiến sĩ Nguyễn Khắc Đức

Viện Tôn giáo và Tín ngưỡng,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Nguồn : Tạp chí Lý luận chính trị số 11-2019, 14/11/2019

(1) Số liệu này do các tỉnh thống kê báo cáo. Số lượng tín đồ này ít hơn so với thực tế, vì có một bộ phận đáng kể tín đồ thuộc các tổ chức đạo Tin Lành chưa được công nhận, mà các tỉnh chưa thống kê được. Số người theo đạo Tin Lành ở Tây Nguyên hiện tại khoảng 600 nghìn.

(2) Thông tin từ Ban Tôn giáo Chính phủ.

(3) Số tín đồ đạo Tin Lành ở khu vực hiện đã tăng gần 10 lần, trong khi đó số nhà thờ lại giảm đi gần ½ do yếu tố lịch sử.

(4) Xem : Nguyễn Khắc Đức : Một số vấn đề về đạo Tin Lành ở Việt Nam, Nhà xuất bản Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2018, tr.93.

(5) Xem Vũ Thị Thu Hà (Chủ biên) : Giá trị và chức năng của Tin Lành trong vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2018, tr.173.

(6) Trong cả nước, hiện có hơn 70 tổ chức, hệ phái hay nhóm Tin Lành chưa được công nhận với số lượng khoảng 200 nghìn người.

(7) Cái gọi là "Tin Lành Đê ga" là một tổ chức chính trị phản động được tuyên truyền ở Tây Nguyên năm 1999.

(8) Xem : Đoàn Triệu Long : Đạo Tin Lành ở miền Trung Tây Nguyên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2013, tr.205.

(9) Đảng cộng sản Việt Nam : Văn kiện hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.488.

(10) Ban Tôn giáo Chính phủ : Tài liệu giới thiệu Luật tín ngưỡng, tôn giáo, Nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội, 2017, tr.10.

Published in Diễn đàn

Tây Nguyên, vùng đất đầy tiềm năng, phải nói rất nhiều nước trên thế giới mơ cũng không tìm ra vùng đất đầy tiềm năng như vậy ?

taynguyen1

Hình minh họa. Huyện Chư Pưh - Hình do tác giả cung cấp

Tây Nguyên hay trước đây còn có tên gọi Cao Nguyên Trung phần của Việt Nam, là dải Cao nguyên trải dài phía Tây vùng Nam trung bộ bao gồm 5 Tỉnh ngày nay là : Kontum, Gia Lai, Dak Lak, Dak Nông và Lâm Đồng.

Nơi đây có một vị trí địa chính trị vô cùng quan trọng, bởi nơi đây trước năm 1975 ngoài một diện tích rừng nguyên sinh khá lớn thì đây là một dải đất Bazan màu mỡ phù hợp cho nhiều loại cây công nghiệp có giá trị như : cafe, hồ tiều, cao su, cacao..., về văn hóa thì rất đa dạng từ bản sắc văn hóa đặc trưng của nhiều dân tộc bản xứ, mà từ thời Pháp người ta đã thấy được tiềm năng và sự quan trọng của vùng đất này ninh thì người ta thường nói "mất Tây nguyên là mất nước".

Sau khi đất nước chấm dứt chiến tranh, người dân các tỉnh miền Bắc và duyên hải Trung Bộ lần lượt kéo nhau lên đây lập nghiệp, tìm kiếm sự thịnh vượng ở vùng đất màu mỡ này và xem đây như một "vùng đất hứa". Sự thật là trong những thập niên cuối của thế kỷ trước nhiều người đã trở nên giàu có và nhiều đô thị được mọc lên, ngày càng sầm uất hơn.

Phát triển không bền vững và vùng đất sớm "chết yểu"

Mọi sự phát triển phải dựa vào người dân, kinh tế cũng vậy ? Nói đến nông nghiệp phải nghĩ đến đầu ra sản phẩm, phương thức sản xuất... ; và đương nhiên muốn có được điều này thì không ai khác phải cần có một nhà nước có năng lực, thực sự "của dân và vì dân", có đường lối và quan hệ ngoại giao đúng đắn và trong sáng để có những thị trường tiêu thụ bền vững cho sản phẩm. Ngoài ra, nhà nước còn phải có trách nhiệm nghiên cứu, hướng dẫn và hỗ trợ cho nông dân về mô hình, kỹ thuật, cây giống, vật nuôi để phù hợp từng vùng đất, nhu cầu thị trường nội địa và thế giới trong hiện tại và tương lai.

taynguyen2

Hình minh họa. Hình chụp hôm 12/3/2013 : người nông dân thu hoạch hạt tiêu ở huyện Chư Pưh, Gia Lai. AFP

Nhưng rất tiếc Việt nam ta thì hầu hết làm theo hình thức tự phát, hay nói cách khác là người dân "tự bơi". Thị trường đầu ra dường như ta hầu hết lệ thuộc Trung Quốc, và có thể nói nó có quyền "sanh sát" cả nền kinh tế của ta.

Chính vì vậy lẽ ra vùng Tây nguyên phải là bàn đạp để vực dậy kinh tế cả nước thì ngày nay nền kinh tế nơi đây đang khủng hoảng một cách trầm trọng, người dân chìm đắm trong nợ nần, nhiều vùng người dân phải tìm đến cái chết để hết nợ, nhiều nhà trở thành trắng tay vì ngân hàng siết nợ, bỏ đi về các thành phố làm thuê, gia đình ly tán...để lại nhiều hệ luỵ cho xã hội.

Câu chuyện "siêu sở" và vấn đề đặt ra về trách nhiệm của ngành nông nghiệp ?

Một hôm tôi có dịp về một địa phương nọ, lâu ngày gặp nên được vài người bạn cũng đang làm nhà nước mời ăn tối trong một quán ăn sang. Sau đó có một vị Lãnh đạo sở Nông nghiệp bước vào thì người bạn tôi chào "sếp siêu Sở"!

Tôi thì lâu nay cứ nghĩ trong các ban ngành thì chắc ngành Nông nghiệp là "bèo" hơn vì họ chỉ toàn tiếp cận nông nghiệp, nông dân thì có gì là ngon, Sở Tài chính, Sở kế hoạch đầu tư... chắc " thơm" hơn.

Nhưng sau khi vị lãnh đạo này đi bàn khác thì tôi hỏi nhỏ, được các bạn tôi mách không có sở nào " béo bở" bằng, vì hàng năm có quá nhiều dự án hỗ trợ nông nghiêp, lâm nghiệp và nông dân, nông thôn được rót về từ ngân sách, các tổ chức quốc tế, phi chính phủ, trong khi đối tượng được hưởng là nông dân là chính, các dự án thì hầu hết vùng nông thôn, vùng sâu nên không có mấy ai giám sát.

Ah ! Thì ra là vậy, nước ta không phải không có các cơ quan ngành nông nghiệp để hỗ trợ phát triển một ngành nông nghiệp theo hướng bền vững, thậm chí họ còn là "siêu Sở, siêu Bộ". Nhưng rất tiếc các Cơ quan này và cả bộ máy cồng kềnh của nó cũng chẳng giúp ích gì được cho người dân, và nó chỉ dừng lại ở cái "siêu sở, siêu bộ" nên nền Nông nghiệp của ta sớm "chết yểu" và người nông dân điêu đứng.

Vũ Ngọc Lục

Nguồn : RFA, 21/02/2020

Published in Diễn đàn

Ngày 11/3, tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã dự Hội nghị xúc tiến đầu tư vùng Tây Nguyên lần thứ 4 năm 2017.

Tại hội nghị, Thủ tướng đã chứng kiến lễ trao cam kết tín dụng đầu tư của các ngân hàng cho các dự án đầu tư với tổng vốn trên 29.000 tỷ đồng ; trao chứng nhận đầu tư, quyết định đầu tư, thỏa thuận đầu tư cho các dự án với tổng vốn khoảng 80.000 tỷ đồng.

Phát biểu tại hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh Tây Nguyên không chỉ là phên dậu của Tổ quốc, mà là điểm tựa phát triển của miền Trung, Đông Nam Bộ và cả Tây Nam Bộ.

Tây Nguyên có tiềm năng, thế mạnh to lớn, độc đáo nhưng chưa được khai thác tốt.

"Có thể nói, đến nay, Tây Nguyên của chúng ta vẫn như một cô gái đẹp, không những ngủ quên mà còn chưa chuyển mình kịp với đất nước và thời đại", Thủ tướng nói.

taynguyen1

Thủ tướng cho biết Chính phủ quyết tâm nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh đưa Việt Nam vào top đầu Asean. ảnh : vgp.

Tây Nguyên có gần 2 triệu ha đất bazan màu mỡ, tương đương 60% đất bazan cả nước, phù hợp với cây công nghiệp quan trọng như cà phê, cacao, hồ tiêu, trà, mắc ca…

Các mặt hàng này tuy đạt sản lượng lớn, nhiều mặt hàng xuất khẩu lớn nhất nhì thế giới nhưng chủ yếu vẫn là xuất thô, giá trị gia tăng thấp và chưa có khả năng dẫn dắt giá thế giới.

Thủ tướng lấy ví dụ, Việt Nam xuất khẩu hồ tiêu lớn nhất thế giới nhưng kim ngạch chưa đạt 1,5 tỷ USD, chủ yếu sản xuất theo thói quen là hạt tiêu đen, trong khi hạt tiêu trắng và đặc biệt là hạt tiêu đỏ có hiệu quả gấp 4 lần hạt tiêu đen.

Thủ tướng cũng chỉ ra các tồn tại khác như tình trạng di dân tự phát, nhiều doanh nghiệp đầu tư không gắn bó với cộng đồng, phát triển du lịch chưa xứng với tiềm năng…

Thủ tướng nêu tầm nhìn, kỳ vọng đối với Tây Nguyên, đó là phải phấn đấu trở thành cao nguyên trù phú về nông nghiệp hữu cơ, đa dạng về sinh thái, giàu có về vốn văn hóa.

Chìa khóa cho sự vươn lên giàu có của Tây Nguyên là phát triển ngành chế biến nông lâm nghiệp, dược liệu theo hướng đề cao bản sắc, tính độc đáo trong chuỗi giá trị nông sản thế giới.

Đồng thời Tây Nguyên phải là biểu tượng nổi bật của du lịch Việt Nam, mang đậm sắc thái huyền thoại và di sản của Châu Á trong thế kỷ thứ 21.

Tây Nguyên phải có chiến lược bền vững trong việc hồi sinh trở lại vẻ đẹp đại ngàn của một vùng đất đậm chất sử thi, phải luôn ý thức giữ gìn không gian sống, phát huy các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể.

Với tầm nhìn đó, Thủ tướng gợi mở một số giải pháp. Về du lịch, Tây Nguyên là một kho tàng văn hóa phi vật thể cùng với điều kiện tự nhiên, Chính phủ quyết tâm cùng với Tây Nguyên đưa sử thi Tây Nguyên trở thành di sản văn hóa phi vật thể của thế giới.

Càng nhiều người biết đến sử thi Tây Nguyên thì sức lan tỏa của du lịch Tây Nguyên càng lớn.

Về nông nghiệp, phải hình thành những vùng chuyên canh lớn và phát triển nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch, tập trung quy mô lớn, giá trị hàng hóa lớn, đặc biệt phải đi vào chế biến sâu, mở rộng chuỗi giá trị sản phẩm.

Về nguồn nhân lực, chất lượng giáo dục cơ bản ở vùng Tây Nguyên phải bằng hoặc cao hơn mức trung bình của cả nước. Tây Nguyên là nóc nhà Đông Dương, là vùng cao về địa lý thì không thể và không nên là vùng trũng giáo dục của cả nước.

Về bảo vệ, phát triển rừng, Thủ tướng tái khẳng định quyết tâm mạnh mẽ của Chính phủ trong việc đóng cửa rừng tự nhiên, bảo vệ rừng là bảo vệ phần cốt lõi của an ninh, không chỉ là an ninh của vùng đất được mệnh danh là nóc nhà Đông Dương, mà là an ninh của toàn Nam Trung Bộ, Tây Nam Bộ và cả nước.

"Bảo vệ rừng là bảo vệ không gian sinh tồn, nguồn nước, sinh kế của người dân, không gian di sản của cha ông. Mọi hành vi phá rừng, khai thác lâm sản trái phép là tội ác.

Tiếp tục trồng rừng, không phá rừng nghèo để trồng cây công nghiệp mà tập trung tái canh, nâng cao năng suất thông qua thâm canh các loại cây công nghiệp", Thủ tướng nhấn mạnh.

Về công nghiệp, bài toán công nghiệp cho Tây Nguyên chính là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nâng cao hàm lượng chế biến, mở rộng chuỗi giá trị sản phẩm cây công nghiệp. Phát triển năng lượng tái tạo tại những vùng đất không thể trồng trọt.

Về hạ tầng, cần tránh tư tưởng làm manh mún. Cần tập trung nguồn lực, "góp gạo thổi cơm" để có công trình hạ tầng then chốt ở Tây Nguyên. Phải xã hội hóa mạnh mẽ việc phát triển hạ tầng, kể cả hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội.

Thủ tướng cũng cho rằng, Tây Nguyên cần liên kết với duyên hải miền Trung, miền Đông Nam Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng có thể tiêu thụ được các sản phẩm có giá trị gia tăng cao của Tây Nguyên. Liên kết cả cơ sở hạ tầng, đặc biệt là liên kết du lịch.

Về tín dụng, khuyến khích vay tín chấp, nhất là với hộ nông dân, đồng bào dân tộc ; có nhiều hình thức hỗ trợ như cấp bù lãi suất… Cùng với đó, các tỉnh cần đặc biệt quan tâm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.

Về an ninh, Thủ tướng nêu rõ : "Trước đây chúng ta đặt vấn đề ổn định để phát triển thì nay chúng ta đổi lại là phát triển bền vững để ổn định an ninh lâu dài.

Chính vì vậy, một trong những yếu tố bảo đảm an ninh là phải phát triển bằng được kinh tế, phải quan tâm sâu sắc hơn đến sinh kế của người dân".

Cùng với đó, đấu tranh kiên quyết đối với kẻ xấu phá hoại bình yên của đất nước.

Để tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư yên tâm làm ăn lâu dài tại Tây Nguyên và Việt Nam, Thủ tướng nêu rõ, Việt Nam tiếp tục giữ ổn định kinh tế vĩ mô, giữ giá trị đồng tiền Việt Nam ; bảo vệ quyền tài sản, quyền con người, quyền công dân theo hiến pháp và luật pháp đã quy định.

Chính phủ cũng tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh tốt hơn nữa, đưa Việt Nam vào tốp đầu ASEAN.

Hoan nghênh các nhà đầu tư tìm hiểu cơ hội, bỏ vốn đầu tư vào Tây Nguyên, Thủ tướng đề nghị các nhà đầu tư thực hiện các cam kết đầu tư, đẩy nhanh các tiến độ dự án.

Trong triển khai phải bảo đảm giữ gìn môi trường, quan tâm chăm lo đến đời sống người lao động.

Diệu Linh

Published in Việt Nam