Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Thì sao ? Từ một tấm hình trên báo Tiền Phong, một tấm hình những người lính khiêng quan tài cựu Bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh, báo chú hình nhầm tên Bộ trưởng Phan Văn Giang. Chuyện "lỗi đánh máy" này, tưởng đơn giản nhưng không hề đơn giản chút nào và nó gợi ra nhiều vấn đề khác để suy ngẫm về an ninh quốc gia, về chủ quyền đất nước.

danh1

Đại tướng Phan Văn Giang ghi sổ tang cố tướng Phùng Quang Thanh - Ảnh Tiền Phong

Hiện trạng của đất nước hôm nay là gì ? Là những thành phố đóng băng vì giãn cách, chống dịch, những làng quê đang ngấp nghé tình trạng "vườn không" nhưng nhà chật ních người do qui định "ai ở đâu ở yên đấy" của chị thị 16, là hàng chục ngàn gia đình rơi vào bi thương, đau khổ, tan hoang, hàng ngàn nhân mạng ngã xuống và có người chết gần tháng nay chưa tìm được tro cốt… Có rất nhiều, vô cùng nhiều chuyện đau lòng xảy ra trên đất nước.

Trong lúc này, nhà cầm quyền vẫn khư khư phong tỏa và phong tỏa. Và, khác với những đợt dịch có tính nhỏ lẻ ban đầu, đợt dịch lần thứ tư này kéo dài và lan tỏa khủng khiếp, nhà cầm quyền cũng đã tỏ ra mệt mỏi vì thiếu nguồn tài chánh, đã bắt đầu có động thái kêu gọi ủng hộ, tài trợ từ các nguồn người Việt nước ngoài, các doanh nghiệp… Trong khi đó, nguồn viện trợ nước ngoài chỉ có thể viện trợ vaccine, tài chính các quốc gia cũng đang cạn kiệt vì dịch cúm, mọi thứ đều rất căng. Sau gần bốn tháng chống dịch nặng, gần hại năm chống chọi nặng/nhẹ, thứ mà người ta nhận thấy là nguy cơ sụp đổ của nền kinh tế, sức dân mỏi mệt.

Trong lúc này, Trung Quốc chính thức thể hiện tham vọng bành trướng của họ trên biển Đông một lần nữa, bất chấp các qui ước quốc tế, họ đơn phương ra qui định giám sát và quản lý các hoạt động hàng hải trên biển Đông. Điều đó cho thấy Trung Quốc đã chọn rất đúng điểm rơi để thực hiện mưu đồ bành trướng.

Bởi ngay lúc này, lực lượng quân đội gần như mất hậu phương bởi tình hình dịch bệnh, hậu phương đang kêu gọi quân đội hỗ trợ kinh phí chống dịch. Đáng sợ hơn, nạn tham nhũng đã thành dịch trong quân đội, nạn bạo lực cũng thành một thứ bệnh hoạn của quân đội. Như vậy, giả sử lúc này Trung Quốc tấn công Việt Nam thì sao ?

Điều này làm nhớ đến ba lần đánh quân Mông – Nguyên với chiến lược vườn không nhà trống của nhà Trần và nhân dân. Thời đó, chiến lược bỏ nhà, bỏ vườn để kẻ thù không có chỗ phá phách mà tìm lương thực và gây hấn với dân, khiến cho nhuệ khí quân địch mất dần rồi bất ngờ đánh úp, vu hồi, giáp công… là một chiến lược khôn ngoan, thông minh không thể thông minh hơn trong trận mạc. Đến thời đại này, thời đại của chiến tranh kĩ thuật, việc chiếm cứ và ổn định lương nhu không giống thời xa xưa, thế nhưng chiến lược vườn không nhà trống vẫn còn chỗ đứng.

Bởi đó là sự đồng lòng giữa nhà nước, quân đội với nhân dân, nhân dân chấp nhận bỏ mọi thứ để di tản theo chiến lược quân sự, theo tiếng gọi nhà nước vì cái chung. Nhưng bây giờ thì sao ? Giả sử có một cái cớ nào đó của Trung Quốc tung ra để sau đó nổ súng, tấn công Việt Nam, thì ai sẽ đứng ra đánh ? Đánh vì cái gì ? Vì nhân dân ư ? Nhân dân đang bị chính nhà nước và quân đội phong tỏa theo kiểu giới nghiêm, sống chết mặc bây và các chốt kiểm soát hành xử với nhân dân chẳng có gì là tình quân dân hay công an nhân dân, hình như họ đang tự thấy thoải mái, tận hưởng với cái cảm giác bệnh hoạn rằng họ đang quản lý, chỉ tay năm ngón, chỉ gậy điều hành điều hành và ra lệnh với nhân dân !

Thực tại Việt Nam là một thực tại tan rã, tình quân dân không còn là bao, niềm tin, mối gắn kết giữa nhà nước và nhân dân hoàn toàn không có. Cái điều mà người ta vẫn tin rằng nhân dân còn tin đảng, tin nhà nước, nếu có huyễn hoặc cũng chỉ huyễn hoặc được trước đây vài tháng, cho đến lúc này, mọi thứ niềm tin hoàn toàn mất đi bởi cách quản lý mang tính áp đặt, thiếu khoa học và không tôn trọng quyền con người từ phía chính quyền. Điều này nhanh chóng đẩy nhân dân đến chỗ rệu rã mọi thứ. Cái điều mà người ta nhầm tưởng là niềm tin của nhân dân với đảng lãnh đạo, kì thực đó là sự sợ hãi hoặc mệt mỏi, mặc kệ, nhắm mắt đưa chân của nhân dân. Ngay cả người của đảng, của nhà nước, họ cũng đang trong tình trạng nhắm mắt đưa chân, bởi họ nhìn thấy cái sai, sự bất ập, chỉ có một số người không nhìn thấy và rất cố chấp.

Thử hỏi : Có bao nhiêu bác sĩ - lãnh đạo bệnh viện không phải là đảng viên ? Có bao nhiêu cán bộ giáo dục, hiệu trưởng và giáo viên không phải đảng viên ? Thế nhưng họ đã làm gì ngoài chuyện mệt mỏi và âm thầm kêu than vì chương trình làm việc quá tệ, chế độ đãi ngộ không những thiếu hụt mà còn bị ngắt bớt. Mọi thứ rối như canh hẹ, càng làm càng sai, càng chết chóc, lây lan dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế và rã rời cơ cấu.

Hình ảnh chú thích nhầm tên bộ trưởng quốc phòng, lấy ông đang sống ráp tên vào ông đã chết là minh chứng sinh động cho tâm thế rã rời này, dường như người ta làm để mà làm, theo một công thức có sẵn và cứ đến hẹn lại ráp, đến sự kiện lại ráp, vắng bóng của tâm trí và trách nhiệm.

Vì đâu ? Vì mọi thứ đều bị xô dạt để chạy, tăng tốc, mà càng tăng tốc thì càng mất sức mà chẳng thấy đích ở đâu cả. Bởi lộ trình đã bị chọn nhầm ngay từ đầu, và có thể vấp cạm bẫy trên đường chạy. Cái đường chạy của Việt Nam hiện nay là đường chạy chết chóc và mông muội, cạm bẫy giăng ra đã sẵn, chưa biết bao giờ là sập mà thôi. Bởi giả sử bây giờ Trung Quốc viện cớ Việt Nam gây hấn trên biển Đông để nổ súng tấn công, viện cớ bảo vệ công dân của họ ở các khu công nghiệp Việt Nam để đổ quân (đương nhiên trước lúc đổ quân và tân công đã có một kịch bản đủ để làm cớ) thì chuyện gì xảy ra ?

Chuyện xảy ra còn khó nói, nhưng có một điều là nhà nước đã tự trói tay mình bằng cách phong tỏa nhân dân mấy tháng nay, và tự biến mình thành kẻ xa lạ với nhân dân kể từ đó. Đừng quên, mặt trận nhân dân là mặt trận quan trọng nhất trong mọi mặt trận. Mặt trận này đã vỡ, chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra !

Hơn nữa, cái lý tưởng đánh vì nhân dân chắc chắn không có ở lúc này, đánh vì chủ quyền quốc gia nghe cũng rất xa vời và mơ hồ trước tình hữu nghị cộng sản và các thiết chế quyền lực tương ứng trong hệ thống. Chính cái thiết chế quyền lực tương ứng trong hệ thống cộng sản theo kiểu anh cả - em út đã nhanh chóng xóa nhòa các ranh giới chủ quyền quốc gia mặc dù ngoài miệng người ta vẫn lu loa về nó. Bởi lẽ, quyền lực chính trị khiến người ta mờ mắt, các sắp xếp hệ thống chính trị cộng sản khiến người ta ảo giác về sự lâu bền, vĩnh cửu trong quyền lực. Chỉ bấy nhiêu thôi, cũng đủ thấy tương lai chúng ta !

Và ngay lúc này, nếu chính quyền Việt Nam tiếp tục hành sự theo cách bấy lâu nay, thì chẳng bao lâu nữa, giả định này sẽ là hiện thực !

Viết từ Sài Gòn

Nguồn : RFA, 17/09/2021 (VietTuSaiGon's blog)

Published in Diễn đàn

Dù xuất khẩu nông, thủy sản sang Trung Quốc được ghi nhận chiếm tỷ trọng lớn, nhưng doanh nghiệp Việt Nam luôn phải chịu nhiều rủi ro.

nongpham1

Ảnh minh họa : Thương lái thu mua trái vải ở Bắc Giang. - AFP PHOTO

Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, thủy sản của Việt Nam sang Trung Quốc năm 2020 đạt 8,1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 16,6 % trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang thị trường này. Mặc dù lâu nay Trung Quốc vẫn là một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, nhưng khi xuất khẩu sang nước này, các doanh nghiệp, thương lái Việt Nam vẫn thường phải chấp nhận nhiều rủi ro, chưa kể giá bán cũng rẻ hơn khi xuất sang các quốc gia khác.

Dù mang về hàng tỷ USD, nhưng tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang Trung Quốc hàng năm không ổn định. Việt Nam vẫn chủ yếu xuất khẩu nông sản thô nên giá trị gia tăng thấp. Xuất khẩu một khối lượng lớn nông sản nhưng hiệu quả thu được còn nhỏ khi so sánh với các nước khác như Thái Lan...

Giáo sư, Tiến sĩ Võ Tòng Xuân, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học An Giang, một chuyên gia nông nghiệp có bề dày kinh nghiệm nửa thế kỷ, khi trả lời RFA hôm 6/8, nhận định :

"Rất ít công ty Việt Nam qua Trung Quốc ký hợp đồng với các bạn hàng bên đó. Cho đến thời điểm này thì vẫn còn lệ thuộc thương lái bên mình và thương lái Trung Quốc, và bán qua ngả Lạng Sơn hoặc Cao Bằng... tức là mình giao thương với họ qua con đường tiểu ngạch, chứ có rất ít doanh nghiệp của mình xuất khẩu chính thức. Chính cái chỗ làm tiểu ngạch nên mình rất lệ thuộc vào thương lái Trung Quốc, họ qua họ rải ra mớ tiền rồi họ biểu thương lái của mình đi gom hàng cho họ, rồi họ chở về hoặc mình phải chở đến cửa khẩu làm thủ tục tiểu ngạch. Ông thương lái mình tất cả phải phụ thuộc thương lái bên kia".

Cũng theo Giáo sư Võ Tòng Xuân, nông dân Việt Nam lại phụ thuộc thương lái, do đó ông Xuân cho rằng làm ăn kiểu này là phải luôn luôn gặp cảnh ‘giải cứu’. Ông nói tiếp :

"Trong cái nền kinh tế giải cứu này thì mình làm như thế. Cái chính là Nhà nước, mà cụ thể là Bộ Nông nghiệp và Bộ Công thương cứ để cho nông dân tự phát, họ muốn trồng gì họ trồng, họ muốn chặt gì họ chặt... nếu trúng mùa bán được thì nói là do chỉ đạo của Bộ, của Ngành... Nhưng mà nếu bán không được, hàng ế ẩm thì nói tại nông dân tự phát... rồi tội nghiệp nông dân thì phải tổ chức đi giải cứu".

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, chất lượng hàng nông sản xuất khẩu sang Trung Quốc hiện cũng chưa ổn định, tỷ trọng sản phẩm nông sản đạt tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP còn rất thấp. Hiện chỉ có chín loại trái cây tươi của Việt Nam được phép xuất khẩu sang Trung Quốc qua đường chính ngạch, đó là thanh long, dưa hấu, vải, nhãn, chuối, xoài, mít, chôm chôm và măng cụt.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, khi trả lời RFA hôm 6/8, nhận định :

"Trung Quốc thì hiện nay đang chuyển sang nhập khẩu chính ngạch, tức là họ đòi hỏi những thông tin khai báo chi tiết từ nguồn gốc, rồi điều kiện cây trồng và các thông tin khác. Xuất khẩu chính ngạch này thì giá cao hơn, và nếu đáp ứng được những tiêu chuẩn đó thì có thể ký được những hợp đồng ổn định. Nhưng tiếc rằng VN có những bước tiến nhưng chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của phía TQ. Còn xuất khẩu tiểu ngạch, tức là xuất khẩu trên cơ sở các điều kiện dễ dàng hơn, thì hiện nay phía TQ đã có giảm bớt, vì vậy xuất khẩu nông sản sang TQ hiện gặp khó khăn. Nhưng tôi hy vọng VN sẽ có những bước cải thiện trong thời gia tới, với ông Bộ trưởng Nông nghiệp Lương Minh Hoan, thì tôi hy vọng các nỗ lực đó sẽ đem lại kết quả tích cực trong sáu tháng cuối năm".

Mới đây, Việt Nam và Trung Quốc đã ký biên bản ghi nhớ hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp và mua bán trái cây, kỳ vọng tạo thuận lợi cho việc kinh doanh nông sản trong bối cảnh khó khăn do đại dịch Covid-19 gây ra.

Biên bản ghi nhớ đã được Hiệp hội Rau quả Việt Nam và Hiệp hội Xúc tiến Thương mại Quảng Tây - ASEAN ký kết tại hội nghị trực tuyến tổ chức vào ngày 2 tháng 8 năm 2021, nhằm thúc đẩy giao thương trái cây giữa hai nước.

Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc, nước này cũng đứng thứ hai trong số các nước nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn sau Hội nghị này cũng cho biết đang mở đường cho các loại trái cây khác như sầu riêng, bưởi, chanh dây, bơ, dừa vào thị trường Trung Quốc... Nước này đồng thời đã tạm cấp phép nhập khẩu khoai lang và ớt của Việt Nam.

Hoạt động giao thương nông sản giữa Việt Nam và Trung Quốc phát triển mạnh trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, do tác động của đại dịch Covid-19, thương mại song phương hàng nông sản năm 2020 đã giảm hơn 4% so với cùng kỳ năm 2019 xuống còn hơn 14,3 tỷ USD.

Dù trong sáu tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc tăng 24,8%... Nhưng theo bài phân tích của Bloomberg hôm 6/8, cuộc khủng hoảng Covid-19 đang diễn ra theo vòng xoáy tại Việt Nam sẽ ảnh hưởng đến lĩnh vực nông nghiệp và thực phẩm, ảnh hưởng đến sản xuất và xuất khẩu hàng hóa sang các thị trường chính bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan và Mỹ.

Bloomberg dẫn dự báo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết, xuất khẩu trái cây và rau quả sẽ giảm 30% trong nửa cuối năm so với một năm trước đó khi miền Nam Việt Nam, nơi sản xuất phần lớn sản lượng, phải đối mặt với đợt bùng phát đại dịch tồi tệ nhất.

Tuy nhiên Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho rằng, nếu Chính phủ Việt Nam cố gắng giải quyết một số vấn đề, thì tình hình sẽ được cải thiện trong những tháng cuối năm :

"Xuất khẩu nông sản của Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực trong sáu tháng đầu năm, có tăng lượng xuất khẩu sang thị trường EU nhờ Hiệp định thương mại tự do EVFTA và CPTPP. Nhưng sáu tháng cuối năm do bùng nổ của dịch bệnh, nên hiện nay thị trường Trung Quốc đã giảm nhập khẩu một số mặt hàng như thanh long và một số mặt hàng khác. Ngoài ra, Việt Nam cũng phải có những nỗ lực để giải quyết thẻ vàng về xuất khẩu thủy sản sang EU. Nếu như giải quyết được những việc đó thì tôi tin rằng xuất khẩu nông sản của Việt Nam sẽ được cải thiện và sẽ có những triển vọng tích cực".

Theo Bloomberg, lệnh cấm người dân rời khỏi nhà theo Chỉ thị 16 của Chính phủ để chống dịch Covid-19 áp dụng cho các tỉnh vựa lúa Đồng bằng sông Cửu Long... đã khiến các nhà chức trách ở Đồng bằng sông Cửu Long thậm chí còn tranh thủ sự giúp đỡ của quân đội để thu hoạch vụ lúa khi nông dân phải vật lộn để tìm nhân công do bị hạn chế.

Các biện pháp khắc nghiệt cũng đã gây thiệt hại cho ngành công nghiệp thủy sản của Việt Nam. Khoảng 70% các công ty ở miền Nam đã tạm ngừng hoạt động do họ không thể đáp ứng các yêu cầu của Chính phủ về việc bố trí cho nhân viên sống tại chỗ do chi phí cao hơn. Sản lượng thủy sản được cho biết đã giảm xuống khoảng 50% mức trước đại dịch và có thể giảm hơn nữa.

Trước tình hình này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đang kêu gọi Chính phủ thúc đẩy việc tiêm phòng vắc-xin Covid-19 cho tất cả công nhân nông nghiệp ở miền Nam, để giảm thiểu gián đoạn nguồn cung nông thủy sản.

Việt Nam hiện đã tiêm hơn tám triệu liều vắc-xin Covid-19, nhưng chưa đến 1% dân số 98 triệu người được tiêm chủng đầy đủ hai mũi theo như yêu cầu hiện nay.

Published in Việt Nam

Người Trung Quốc, cụ thể là các triều đại từ phong kiến cho tới cộng sản của Trung Quốc luôn miệng nói rằng họ thiết lập biên giới trong hòa bình, hai chữ hòa bình của họ như là thứ mặc định cho chiến tranh, cướp giết và chiếm được, đối phương im tiếng – đó là hòa bình của người Trung Quốc. Với người Việt Nam, các triều đại phong kiến trung ương tập quyền cũng luôn miệng nhắc đến khái niệm quyền con người, quyền của dân đen và đến thời cộng sản, khái niệm này càng được nhấn mạnh, là câu cửa miệng của nhà cầm quyền, thế nhưng càng nói đến dân chủ bao nhiêu, thậm chí càng cho rằng Việt Nam có dân chủ gấp vạn lần các nước dân chủ thì tính mất tự do, dân chủ bị chiếm đoạt trong nhân dân càng trở nên triệt để.

hoabinh1

Trung Quốc luôn miệng nói rằng họ thiết lập biên giới trong hòa bình, hai chữ hòa bình của họ như là thứ mặc định cho chiến tranh, cướp giết và chiếm được - Ảnh minh họa cuộc diễu hành đội xe tăng tại quảng trường Thiên An Môn ngày 1/10/2019

Câu chuyện hòa bình của người Trung Quốc và dân chủ của người Việt Nam, nghe qua có vẻ như chẳng có gì can hệ nhau nhưng kỳ thực, đây là mối quan hệ tương ứng và nhân quả của một mối quan hệ quá bền vững giữa các triều đại giữa hai nước. Có một điều không thể phủ nhận được là trong bất kì triều đại, chế độ chính trị nào, Việt Nam và Trung Quốc vẫn có những mối liên thông tư lợi cho cả hai triều đại của hai nước và điều này luôn đi ngược với quyền lợi nhân dân. Và để đảm bảo quyền lợi của triều đại, bất kỳ sự phản ứng nào từ phía nhân dân đều bị trừng phạt một cách không nương tay.

Thử nhìn lại "một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây, hai mươi năm nội chiến từng ngày", thì trong cái trăm năm đô hộ và hai mươi năm nội chiến ấy, có thiếu bóng Tàu không ? Hoàn toàn không, bàn luận phân chia vĩ tuyến 17 cũng có bóng Tàu, đưa quân sang Bắc Việt để đánh Nam Việt cũng có bóng Tàu, đến khi thống nhất hai miền, Tàu chính thức phủ bóng lên đất Việt, lần này, Trung Quốc không đơn thuần đưa quân sang xâm lược như cha ông của họ mà họ đánh trên mọi chiến tuyến, mặt trận, từ hải đảo đến biên giới, đất liền, từ lĩnh vực văn hóa cho đến kinh tế, chính trị. Thậm chí, người Tàu không ngần ngại đưa quân vào tận giường ngủ đàn bà Việt để đánh bằng con đường huyết hệ. Và chưa bao giờ Việt Nam có một chính quyền, nhà nước nhu nhược, chấp nhận rước giặc về nhà như lần này.

Mọi thứ quyền lợi do chính quyền Trung Quốc mang lại cho chính quyền Việt Nam đã khiến họ mờ mắt và nghẹn họng, không nói được gì, không phản ứng được gì ngoài ngậm miệng ăn tiền. Thậm chí, những kẻ nằm trong hệ thống quyền lực trung ương tỏ ra chống Tàu theo kiểu "không thể đổi tình hữu nghị viễn vông để đánh mất chủ quyền quốc gia, dân tộc…", kỳ thực lại là những kẻ đi đêm với Tàu mạnh nhất, những kẻ đĩ thỏa trong chính trị không hơn không kém ! Và một khi mọi thứ ràng buộc đã thành hệ thống giữa các triều đại, lợi ích giữa các triều đại luôn được qui đổi giữa tiền bạc, quyền lực và chủ quyền quốc gia thì đương nhiên, kẻ bề trên như Trung Quốc hay tàu phong kiến đều có quyền nói rằng "biên giới quốc gia được định vị trên tinh thần hòa bình, hữu nghị, tôn trọng chủ quyền của nhau. Đó là hòa bình, tôn trọng kiểu Tàu, không có gì lạ.

Ngược lại, với các chính quyền độc tài, xu phụ, bợ đỡ chính quyền cao hơn và xem nó là trung ương, là cha chú, là ông chủ… thì đương nhiên, việc tay này dâng tổ quốc cho bề trên để được chia cho quyền lực, tay kia cầm gậy vuột thẳng vào đầu nhân dân nếu có ai đó phát giác ra chuyện mình làm là việc rất tự nhiên của các chính quyền nô bộc. Điều đó cũng có nghĩa rằng suốt nhiều trăm năm nay, đặc biệt là lúc này, người Tàu sẽ vui vẻ, nhoẻn miệng cười để nói rằng họ xác lập ranh giới quốc gia trên nền hòa bình. Một kiểu hòa bình có được, chiếm được, lấy được sau khi đã im tiếng súng xâm lăng. Giấc mộng bành trướng của người Trung Quốc chưa bao giờ nguôi bởi họ đủ thông minh để nhận biết rằng các dân tộc đều muốn chủ quyền, đều cần chủ quyền và các bộ máy nhà nước đều có thể tham nhũng, phì đại và mua được. Một khi nắm được qui luật này, chủ quyền quốc gia và quyền lực nhà nước, lợi ích nhóm chỉ là món hàng kinh doanh của họ. Mà đã kinh doanh thì phải đầu tư, sơ sài, thô thiển thì đầu cơ kiểu Lã Bất Vi, tinh vi, tham vọng thì đầu cơ kiểu Mao, Đặng, Tập và sẽ còn nhiều nhà buôn chính trị. Điều đó như bản chất, căn tính của người Trung Quốc.

hoabinh2

Nhà nước độc tài cộng sản Việt Nam luôn rêu rao về dân chủ, tự do, bác ái trong lúc họ hành động hà khắc, tàn nhẫn và độc ác đối với nhân dân của họ. Ảnh minh họa Chính quyền Việt Nam đã bắt giam nhiều người bất đồng chính kiến trong nỗ lực ngăn chặn biểu tình hôm 2/9/2019, đến nay chưa thả và không thông tin cho gia đình

Và, với những nhà nước lệ thuộc Trung Quốc, việc lu loa về dân quyền là chiêu bài không thể thiếu nhằm che đậy bản chất bán nước, ở đây phải gọi là bán nước chứ không thể gọi khác đi bởi mọi tấm bình phong kêu gọi đầu tư, ưu tiên đầu tư nhằm phát triển đất nước không thể nào che kín được gương mặt tư lợi, chấp nhận đánh đổi chủ quyền quốc gia để mang về lợi ích nhóm của kẻ nắm quyền. Bởi nếu vì lợi ích quốc gia để kêu gọi đầu tư, nếu vì tương lai đất nước để kêu gọi đầu tư, thì chẳng ai dại gì kêu gọi kẻ chuyên bán hàng giả, kẻ chuyên ăn cắp sáng chế, kẻ chuyên xả rác và chuyên cướp ngang của người khác vào đầu tư.

Bởi nếu kêu gọi đầu tư một cách nghiêm túc để vừa đảm bảo chủ quyền quốc gia, dân tộc, vừa bảo đảm phát triển, thì người ta sẽ chọn những quốc gia tiến bộ, văn minh, có công nghệ tiên tiến để họ đầu tư, vừa làm giàu cho họ, vừa làm giàu cho đất nước, vừa đảm bảo học hỏi được công nghệ tiến bộ của họ lại vừa chơi một cuộc chơi sòng phẵng trong phát triển đất nước. Việc kêu gọi một kẻ chuyên đi ăn hiếp người khác vào đầu tư trong khi kẻ đó chưa bao giờ thôi dã tâm chiếm đoạt, xâm lược thì chẳng thể gọi là mời hay kêu gọi đầu tư được.

Hơn nữa, vấn đề nằm ở chỗ một chính quyền chấp nhận tuân phục luật chơi kẻ khác vì quyền lợi thì chắc chắn cũng vì cái quyền lợi này, chính quyền đó bắt nhân dân phải tuân phục luật chơi của họ, các giá trị hiến định chỉ mang ý nghĩa trưng bày, làm màu và trang điểm là chính. Những giá trị dân chủ, tự do sẽ không bao giờ có trong một gia đình mất tự do, một chính quyền mất tự do và một đất nước mất tự do. Sự mất tự do này có tính dây chuyền, từ trung ương xuống địa phương, từ nhà nước tới nhân dân. Và điều đó lý giải tại sao nhà nước cộng sản, độc tài (không riêng gì Việt Nam) luôn rêu rao về dân chủ, tự do, bác ái trong lúc họ hành động hà khắc, tàn nhẫn và độc ác đối với nhân dân của họ. Bởi hai chữ Tự do chỉ có trong một hệ thống chính trị có Tự do !

Viết từ Sài Gòn

Nguồn : RFA, 29/05/2021 (VietTuSaiGon's blog)

Published in Diễn đàn

Bất chấp những nét tương đồng, sẽ là sai lầm nếu cho rằng Trung Quốc và Việt Nam có chính sách liên minh giống nhau.

lienminh1

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mark Esper bắt tay Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Ngô Xuân Lịch tại Hà Nội, ngày 20/11/2019. Ảnh VnExpress / Giang Huy.

Chính sách liên minh trong bối cảnh không có Mỹ rõ ràng là một chủ đề còn ít được nghiên cứu. Vì thế, chúng ta nên hoan nghênh bài viết gần đây của Khang Vũ trên tạp chí The Diplomat về sự giống nhau trong chính sách liên minh của Trung Quốc và Việt Nam.

Nói như thế không có nghĩa rằng tôi đồng ý với kết luận của anh ấy. Trong khi Việt Nam và Trung Quốc có định hướng đối ngoại giống nhau do những tương đồng về hệ tư tưởng và văn hóa, sẽ là sai lầm nếu cho rằng họ có chính sách liên minh giống nhau. Trên thực tế, hiếm khi việc so sánh chính sách liên minh của một nước nhỏ với một cường quốc là hợp lý.

Một trong những lập luận chính của Khang là "Trung Quốc và Việt Nam, những nước cộng sản độc đảng, chỉ liên minh với các nước có cùng lợi ích an ninh quốc gia và các giá trị về hệ tư tưởng". Điều này có đúng hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc chúng ta định nghĩa thế nào là "đồng minh", trong khi liên minh có nhiều hình thái khác nhau và chính các nhà nghiên cứu cũng không sử dụng khái niệm này một cách nhất quán.

Bản thân Khang cũng không định nghĩa rõ ràng anh ấy coi đồng minh là thế nào, nhưng đọc kỹ bài viết của Khang sẽ nhận thấy khái niệm đồng minh được dùng theo nghĩa chính thức, tức hàm ý rằng hai nước là đồng minh với nhau chỉ khi mối quan hệ liên minh đó được ràng buộc bởi một hiệp định chính thức. Mặc dù vậy, đây lại là điều rất bất hợp lý vì một số lý do sau.

Trước hết, không phải tất cả mọi "hiệp ước đồng minh" đều có giá trị như nhau. Các nước thường được coi là đồng minh khi ít nhất một thành viên chính thức cam kết trợ giúp về quân sự cho các đối tác của mình, thường bao hàm một lời cam kết rõ ràng về việc bảo vệ lẫn nhau trong trường hợp xảy ra chiến tranh. Hệ quả là các hiệp ước nếu chỉ hứa hẹn một hình thức hợp tác mơ hồ nào đó khi một trong các bên tham gia bị tấn công không thể được xếp ngang hàng với các thoả thuận có điều khoản bảo đảm sự phòng thủ tương hỗ.

Hiệp ước phòng thủ giữa Trung Quốc và Bắc Triều Tiên rõ ràng là một liên minh chính thức bởi Điều II của hiệp ước nêu rõ các bên ký kết sẽ lập tức cung cấp sự trợ giúp về quân sự cho bên bị tấn công. Trong khi đó, ngôn ngữ trong Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác của Việt Nam với Lào lại linh hoạt hơn nhiều và để ngỏ cho nhiều cách diễn giải. Hơn nữa, nó không bao gồm điều khoản nào về sự bảo đảm an ninh song phương hoặc đơn phương. 

"Liên minh thực sự" duy nhất mà Việt Nam từng có là với Liên Xô năm 1978. Điều 6 của Hiệp ước liên minh Việt –Xô quy định rõ ràng cả hai bên sẽ "ngay lập tức trao đổi với nhau" và tiến hành "các biện pháp hữu hiệu để bảo vệ hòa bình và an ninh của hai nước" khi bất kỳ bên nào có nguy cơ bị tấn công quân sự. Do đó, việc Khang dùng Hiệp ước Việt – Lào để trợ giúp lập luận của mình rằng Trung Quốc và Việt Nam có chính sách liên minh giống nhau là thiếu thuyết phục.

Thứ hai, chúng ta biết rằng không phải tất cả các liên minh đều cần một hiệp ước chính thức để được coi là nghiêm túc. Mỹ chẳng cần một hiệp ước quốc phòng chính thức nào với cả Israel lẫn Đài Loan để chống lại sự xâm lăng đối với hai nước này. Vì cả lý do đối nội lẫn lý do chiến lược, một nước có thể chủ ý chọn cách theo đuổi một hình thức liên minh không chính thức chứ không phải là liên minh chính thức. Vì thế, chính sách liên minh không nên chỉ giới hạn xoay quanh các liên minh chính thức.

Nếu đúng như vậy, người ta có thể lập luận rằng Trung Quốc và Mỹ đã có liên minh không chính thức hồi đầu những năm 1970 sau khi Nixon bắt tay với Trung Quốc. Điều này mâu thuẫn với luận điểm của Khang rằng các nước cộng sản độc đảng như Trung Quốc và Việt Nam chỉ liên minh với các nước có chung cả lợi ích an ninh lẫn các giá trị hệ tư tưởng.

Có thể hiểu được nếu có người đọc xong phân tích của Khang lại lầm tưởng rằng Việt Nam mạnh ngang ngửa Trung Quốc. Sự thật là Trung Quốc từ trước đến giờ luôn là một cường quốc, trong khi Việt Nam tại thời điểm này cùng lắm cũng chỉ là một quốc gia tầm trung ở Đông Nam Á. Sự khác biệt là quá lớn : Các cường quốc bảo đảm an ninh cho các nước bé hơn để đổi lại ảnh hưởng và những đặc quyền khác, trong khi các nước nhỏ lại tìm kiếm sự bảo đảm an ninh bằng cách đánh đổi một phần tự chủ trong chính sách của mình.

Khi Việt Nam bước vào một liên minh thì lý do thường là để bảo vệ mình trước các mối đe doạ an ninh tức thời hoặc để phòng bị những nguy cơ trong tương lai. Trong khi đó, Trung Quốc lại sử dụng liên minh như công cụ để gây ảnh hưởng tới chính sách của đối tác yếu hơn (như trường hợp Bắc Triều Tiên) hoặc để làm suy yếu đối thủ cạnh tranh chiến lược. Như vậy, ngay cả khi nếu Trung Quốc và Việt Nam có cùng số hiệp ước phòng thủ với cùng các điều khoản y hệt nhau, thì vẫn là bởi các lý do khác nhau, và điều đó hàm ý rằng hai nước có những chính sách liên minh rất khác nhau.

Cuối cùng, anh Khang chỉ ra chính sách không liên kết như bằng chứng cho thấy Việt Nam và Trung Quốc theo đuổi các chính sách liên minh giống nhau. Thoạt qua điều này dường như có lý, song nếu xem xét kỹ sẽ thấy kém thuyết phục. Mấu chốt ở đây là tuy cả hai nước về cơ bản theo đuổi đường lối không liên kết nhưng vì các lý do không thể khác biệt hơn. 

Là một trong các siêu cường hàng đầu thế giới, Trung Quốc tránh liên minh quân sự bởi họ có thể tự bảo đảm an ninh cho mình được. Ngay cả nếu muốn thì Bắc Kinh cũng không thể tạo dựng được một mạng lưới an ninh như Mỹ đang có vì hiện không nhiều nước đối mặt với nguy cơ an ninh đủ nghiêm trọng để phải liên minh với Trung Quốc. Và thậm chí nếu những nước nhỏ này có theo đuổi một sự bảo đảm an ninh cho mình thì nhiều khả năng họ sẽ nhìn sang Mỹ chứ không phải là Trung Quốc bởi quân đội Trung Quốc hiện chưa có tầm với ở quy mô toàn cầu như Mỹ đang có.

Mặt khác, Hà Nội có sự nghi ngại đối với liên minh quân sự bởi kinh nghiệm lịch sử đã dạy các nhà lãnh đạo Việt Nam rằng một liên minh có thể làm tồi tệ hơn tình hình an ninh vốn đang xấu đi thay vì giúp đối phó với các nguy cơ tiềm tàng. Rốt cuộc thì một cuộc chiến tranh đã nổ ra năm 1979 ngay sau khi Việt Nam và Liên Xô ký một hiệp ước liên minh. Hơn nữa, như Trung Quốc đã thể hiện trong Chiến tranh Việt Nam, các cường quốc đồng minh sẵn sàng bán rẻ các đối tác nhỏ hơn khi tình hình chiến lược thay đổi. Vì thế, để đảm bảo lợi ích của chính mình, các nước nhỏ cần duy trì một chính sách đối ngoại độc lập chừng nào còn có thể. Nói như thế không có nghĩa là Việt Nam sẽ mãi mãi từ chối các liên minh quân sự. Như tướng Nguyễn Chí Vịnh đã trả lời trong một cuộc phỏng vấn sau khi công bố Sách trắng Quốc phòng năm 2019, "Chính sách Ba không" của Việt Nam là chính sách thời bình, ám chỉ rằng Việt Nam có thể thay đổi chính sách liên minh nếu bối cảnh chiến lược trong tương lai có những thay đổi đáng kể.

Vì tất cả những lý do này, bất luận chúng ta định nghĩa liên minh quốc phòng thế nào, chừng nào sức mạnh quốc gia của Việt Nam còn chưa đuổi kịp Trung Quốc, Trung Quốc và Việt Nam sẽ tiếp tục có các chính sách liên minh khác nhau một cách đáng kể.

Ngô Di Lân

Nguồn : Nghiên cứu quốc tế, 29/05/2021

Một bản tiếng Anh của bài viết đã được xuất bản trên The Diplomat.

Published in Diễn đàn

Rất ít khi thấy Bộ Quốc phòng Việt Nam lên tiếng về vấn đề chủ quyền biển đảo. Điều này cũng bình thường, vì thái độ của quốc gia thường được thể hiện qua các động thái của Bộ Ngoại giao. Chuyện xảy ra vào tuần rồi, trước diễn đàn Quốc hội. Đại diện Bộ quốc phòng lên "trả lời cử tri" về các chất vấn liên quan tình hình biển đảo.

vuot0

Đội hình tập trận của hải quân Trung Quốc - Ảnh minh họa

Theo tôi ý kiến của Bộ Quốc phòng trong thời điểm này có nhiều ý nghĩa.

Báo chí ghi lại nội dung : "Bộ Quốc phòng Việt Nam kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, giữ vững 21 đảo (33 điểm đóng quân) ở quần đảo Trường Sa và các giàn dầu khí".

Việt Nam như vậy đã "bỏ qua" lịnh cấm đánh cá của Trung Quốc từ 1999 đến nay, ở vùng biển phía bắc vĩ tuyến 13°.

Phải chăng Việt Nam muốn vạch ra cho Trung Quốc thấy đâu là "giới hạn" của Việt Nam ở Biển Đông ?

Tranh chấp giữa Mỹ và Trung Quốc hiện nay đang rất căng thẳng. Cái bẫy Thucydide có thể "khởi động", bất cứ lúc nào có hành vi "sai lầm" của một bên. Đài loan và biển Đông có thể là "đòn bẫy" làm thay đổi hiện trạng khu vực (và sắp xếp lại trật tự thế giới).

Một số các giới hạn, nếu Trung Quốc vượt qua, Việt Nam sẽ đứng về phía Mỹ và phát động chiến tranh. Đó là :

1/ Trung Quốc không được đặt vùng "nhân dạng phòng không - ADIZ" trên vùng biển dưới vĩ tuyến 13° ở Biển Đông.

2/ Trung Quốc không được chiếm các đảo Trường Sa hiện do Việt Nam chiếm đóng.

3/ Trung Quốc không được xâm phạm vùng kinh tế độc quyền 200 hải lý của Việt Nam, đặc biệt vùng nam vĩ tuyên 13°...

Ý kiến của Bộ Quốc phòng Việt Nam trước diễn đàn Quốc hội có thể xem như là "thông điệp" của Việt Nam cho Trung Quốc : Các anh làm gì ở vùng bắc vĩ tuyến 13° tôi không quan tâm. Mấy anh vượt qua lằn ranh 13° là không được.

Điều chắc chắn là Trung Quốc sẽ ra tuyên bố vùng "nhận diện phòng không - ADIZ" vùng biển Hoa Nam (tức biển Đông). Chỉ là thời điểm khi nào thì thích hợp và khi nào thì Trung Quốc có khả năng làm việc đó.

Logic thì Trung Quốc sẽ tuyên bố vùng ADIZ phù hợp với ranh giới "đường lưỡi bò" dưới biển. Điều khó khăn là làm thế nào xác định cụ thể "ranh giới" của đường này ? Vô phương ! Trong khi Trung Quốc chưa kiểm soát được các đảo Trường Sa. Và giả sử khi Trung Quốc kiểm soát tất cả các đảo Trường Sa thì tiềm năng không quân và hải quân Trung Quốc chưa đủ để bảo vệ một không gian và vùng biển lớn lao như vậy.

Luật và tập quán quốc tế nhìn nhận "vùng nhận diện phòng không" của một quốc gia tương ứng với ranh giới trên đất liền và ranh giới dưới biển (200 hải lý tính từ bờ, hay từ các đảo) của quốc gia này.

Lằn ranh vĩ tuyến 13° vì vậy có thể sẽ là ranh giới "tạm thời" phía nam của vùng "nhận diện phòng không - ADIZ" của Trung Quốc vùng biển Hoa Nam.

Nếu Trung Quốc tôn trọng giới hạn này thì Việt Nam "chưa lựa chọn phe nào" trong cuộc chiến Mỹ-Trung.

Nhưng ý kiến của Bộ Quốc phòng cũng là cách để "trả lời" Trung Quốc qua công hàm gởi Liên Hiệp Quốc ngày 17 tháng tư năm 2020. Nội dung công hàm này Trung Quốc nhắc lại các "cam kết" của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa năm 1958 là "nhìn nhận" chủ quyền của Trung Quốc ở Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc cho biết họ sẽ sử dụng mọi biện pháp để thu hồi các đảo Trường Sa.

Để ý, trước nay mỗi khi phía Trung Quốc nhắc công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng thì Việt Nam "im lặng". Giàn học giả "đỉnh cao" của Việt Nam không có lý lẽ nào "xuôi tai" để "tham mưu" Bộ Ngoại giao phản biện lại ý kiến của Trung Quốc.

Dĩ nhiên khi bên dùng lý lẽ hết ý thì phải giao cho bên cầm súng thôi.

Nhớ lại Hiệp định sơ bộ 1946. Ông Hồ Chí Minh đã phạm sai lầm trầm trọng, làm mất chủ quyền của Việt Nam tại Nam kỳ đồng thời đưa Việt Nam vào vòng lệ thuộc Pháp. Nhiều sử gia Việt Nam phê bình ông Hồ : để sửa chữa sai lầm gây ra do Hiệp ước sơ bộ 1946, ông Hồ đưa đất nước vào chiến tranh. Ông Hồ lấy máu của thanh niên Việt Nam để "rửa" cái sai lầm của mình.

Thì bây giờ cũng có thể xảy ra tương tự như vậy. Đảng cộng sản Việt Nam sẽ đưa đất nước vào chiến tranh để sửa chữa những sai lầm của họ.

"Học giả đỉnh cao" hết ý không có nghĩa Việt Nam không còn lý lẽ.

Trương Nhân Tuấn

Nguồn : fb.nhantuan.truong, 22/05/2021

Published in Diễn đàn

Việt Nam chuyển hướng từ Trung Quốc sang Mỹ

Quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc dường như ngày càng nguội lạnh đi. Hồi tháng 10 năm ngoái, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã đi thăm 4 nước ASEAN, rồi tháng 1 năm nay ông Vương Nghị đi thăm thêm 4 nước ASEAN khác, chỉ trừ Singapore và Việt Nam.

hunghan1

Các em học sinh Việt Nam vẫy cờ Việt Nam và cờ Mỹ ở Hà Nội nhân chuyến thăm của Tổng thống Donald Trump đến Việt Nam hôm 27/2/2019 - AFP

Đầu tháng 4 này, Trung Quốc cũng đã mời ngoại trưởng của 4 nước ASEAN đến hội đàm tại Bắc Kinh.

Cụ thể, có Ngoại trưởng Singapore Vivian Balakrishnan, Ngoại trưởng Malaysia Hishammuddin Hussein, Ngoại trưởng Indonesia Retno Marsudi và Ngoại trưởng Philippines Teddy Locsin. Trong tất cả các lần gặp này, đều không thấy Trung Quốc đề cập tới Việt Nam. Trái ngược với sự nguội lạnh này là sự nồng ấm trong quan hệ Việt - Mỹ. Việt Nam cùng với Singapore là hai trường hợp được nhắc tên cụ thể trong Hướng dẫn Chiến lược An ninh Quốc gia của chính quyền Biden hồi đầu tháng 3.

Tuy nhiên, quan hệ Việt - Mỹ vẫn còn nhiều trở ngại. Một trong những trở ngại đó chính là vấn đề thâm hụt thương mại giữa Hà Nội với Washington.

Cựu đại sứ Mỹ tại Hà Nội Ted Osius cho rằng, cựu Tổng thống Trump thường bị "ám ảnh bởi vấn đề thâm hụt thương mại". Đây là một trong ba vấn đề duy nhất mà ông Trump nêu ra trong cuộc đón tiếp Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc tại Nhà Trắng năm 2017 mà ông Osius là một trong những người có mặt.

Năm 2019, ông Trump lại tiết lộ nỗi ám ảnh của mình khi tuyên bố rằng "Việt Nam lợi dụng chúng tôi thậm chí còn tệ hơn cả Trung Quốc". Do đó, không có gì ngạc nhiên khi chỉ một tháng trước khi rời nhiệm sở, Trump đã dán nhãn cho Việt Nam là nước "thao túng tiền tệ", trong khi có nhiều tin đồn rằng ông ta sẽ áp thuế đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ. Những động thái này đã đe dọa hủy hoại mối quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam, vốn được coi là chìa khóa đối với chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Washington nhằm chống lại ưu thế của Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á.

hunghang2

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Tổng thống Donald Trump ở Hà Nội hôm 27/2/2019. AFP

Sau đó, ngày 15/1, Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) thông báo rằng cơ quan này không khuyến nghị áp thuế đối với Việt Nam, dù tuyên bố các hành động của Hà Nội là "vô lý". Quyết định này đã giúp cả Việt Nam và Tổng thống Joe Biden (người hiện đang ở vị trí tốt để có thể làm sâu sắc hơn mối quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam) tránh được một "viên đạn".

Mối đe dọa mang tên Trung Quốc

Không giống như nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam đã có một năm 2020 rất thành công : khống chế đại dịch Covid-19, thể hiện thành công vai trò Chủ tịch ASEAN và chủ trì lễ ký Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện Khu vực (RCEP). Nền kinh tế Việt Nam thậm chí còn ghi nhận mức tăng trưởng 2,91% trong năm 2020.

Tuy nhiên, không phải tất cả đều khả quan. Đã xảy ra một loạt diễn biến cho thấy mối quan hệ Trung-Việt vẫn còn rất khó khăn và có thể sẽ xấu hơn nữa. Hầu hết người Việt Nam coi cuộc kháng chiến chống lại sự bành trướng của Trung Quốc chỉ là sự tiếp nối của cuộc xung đột kéo dài hàng ngàn năm qua. Sự thận trọng của người Việt Nam đối với Bắc Kinh giờ đây còn thể hiện ở những mối quan ngại bình thường hơn : bản chất "độc hại" của hàng hóa Trung Quốc và bản chất bóc lột của các doanh nghiệp Trung Quốc.

Các đập thủy điện của Trung Quốc trên dòng sông Mekong cùng với tác động của biến đổi khí hậu đã cướp đi sự trù phú của dòng sông này và năm 2016 đã khiến Việt Nam phải hứng chịu đợt hạn hán tồi tệ nhất trong 90 năm qua. Năm 2019, việc Trung Quốc xây dựng các con đập đã đẩy nước mặn xâm nhập vào sông Mekong, gây thiệt hại cho việc trồng lúa của Việt Nam. Việt Nam cũng đang rất quan ngại khi nhìn sang Campuchia, nước láng giềng thân thiện một thời. Sự xâm phạm quá mức của Trung Quốc ở Biển Đông, sông Mekong và Campuchia có nguy cơ thúc đẩy tâm lý chống Trung Quốc của người Việt Nam đến mức Hà Nội sẽ không có lựa chọn nào khác ngoài việc xích lại gần Washington - nơi mà đa số người Việt giữ quan điểm tích cực đối với Mỹ sẽ ủng hộ.

Hà Nội dường như nhận ra nhiều vấn đề. Washington và Hà Nội thực tế đã là đối tác chiến lược về mọi mặt, nhưng Việt Nam có thể đóng vai trò lớn hơn trong chính sách đối ngoại của Mỹ bằng cách tiếp nhận nhiều hơn các chuyến thăm cảng của tàu Hải quân Mỹ và chấp nhận các gói viện trợ quốc phòng của Mỹ.

Gợi ý chính sách cho chính quyền Mỹ

Câu chuyện của Việt Nam cho thấy sự "xoay trục" hay là chuyển hướng chính sách từ Trung Quốc sang Mỹ ở Đông Nam Á, mà Việt Nam là trường hợp điển hình, cho dù Việt Nam là láng giềng thân thiết với Trung Quốc và cùng thể chế cộng sản giống như Trung Quốc.

Sự kiện Đá Ba Đầu gần đây lại nhắc nhở thế giới về tham vọng của Trung Quốc đối với khu vực Đông Nam Á. Hiện nhiều quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam đang "bâng khuâng" giữa việc chọn bên nào, Bắc Kinh hay Washington cho tương lai của mình. Mỹ có rất nhiều ưu điểm, đặc biệt là cái ô an ninh của Mỹ, cùng với việc Đông Nam Á không lo lắng trước sự xâm lược lãnh thổ từ Mỹ, thế nhưng vấn đề ưu tiên nhất của các quốc gia Đông Nam Á luôn là phát triển kinh tế, chính vì điều này mà các quốc gia Đông Nam Á luôn phải "hướng về Trung Quốc" cho dù các tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc khiến các quốc gia Đông Nam Á phải lo ngại.

Nhiều chuyên gia đã đưa khuyến nghị cho chính quyền Mỹ cần phải tăng cường sự hiện diện về quân sự ở khu vực biển Đông để đối trọng và kìm chế các hành vi hung hăng của Trung Quốc. Nhưng cũng chính biện pháp này sẽ đưa đến các rủi ro cho một nguy cơ của đụng độ quân sự Mỹ - Trung trên khu vực biển Đông. Vì vậy, biện pháp khác và hữu hiệu hơn việc tạo ra căng thẳng và đối đầu quân sự giữa các bên, đó là chính quyền Mỹ có thể sử dụng biện pháp kinh tế.

Để có thể cân bằng địa chính trị tại khu vực biển Đông, chính quyền Biden cần sử dụng các công cụ kinh tế và áp dụng cách tiếp cận ba mũi nhọn.

Đầu tiên, Mỹ cần đưa ra giải pháp thay thế cho các dự án cơ sở hạ tầng đắt đỏ và tài chính kiểu "săn mồi" của Trung Quốc trong sáng kiến "Vành đai và con đường" bằng cách hợp tác với các nước thuộc nhóm "Bộ tứ". Chính quyền Biden cần tận dụng Tổ chức tài chính phát triển quốc tế mới thành lập và các tổ chức tài trợ đa phương như Ngân hàng phát triển Châu Á và Tổ chức tài chính quốc tế để tài trợ cho các dự án phát triển và hạ tầng ở Đông Nam Á. Bằng cách áp dụng mô hình được sử dụng để sản xuất vaccine chống Covid-19 cho Đông Nam Á, theo đó Mỹ sẽ chia sẻ công nghệ và Nhật Bản sẽ tài trợ, thì Mỹ có thể giảm chi phí cho ngân khố.

Thứ hai, lệnh hành pháp do Biden ký để rà soát chuỗi cung ứng cần mở rộng ưu tiên dịch chuyển các nhà máy ra khỏi Trung Quốc và sang các nước ở Đông Nam Á như Việt Nam, Thái Lan và Philippines. Nền kinh tế Việt Nam và Thái Lan đã tận dụng thành công chiến tranh thương mại Mỹ-Trung và nhanh chóng tiếp nhận các nhà máy và ngành công nghiệp di dời khỏi Trung Quốc khi các công ty này tìm cách né tránh thuế quan. Việt Nam, Thái Lan và các nước khác trong khu vực có thể tiếp nhận các chuỗi cung ứng mới.

Thứ ba, chính quyền Biden cần tái gia nhập Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). CPTPP đã đưa Mỹ vào cấu trúc thương mại Châu Á. Nếu không có Mỹ trong CPTPP và với việc Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) do Trung Quốc đứng đầu được phê chuẩn, vai trò bá chủ khu vực của Trung Quốc sẽ được củng cố và vai trò của Mỹ trong khu vực giảm xuống mức thấp nhất. Hơn nữa, nếu thị trường Mỹ là một phần của CPTPP thì các nền kinh tế Đông Nam Á sẽ tăng gấp đôi tổng sản phẩm quốc nội, với mức tăng trưởng trên 10% như Việt Nam chẳng hạn.

Trong tương lai, các công cụ kinh tế như viện trợ, chuỗi cung ứng, hiệp định thương mại và các loại "cà rốt" khác cho Đông Nam Á sẽ là giải pháp lâu dài, hiệu quả hơn cho tranh chấp Biển Đông so với đối đầu quân sự.

Đinh Bá Trung

Nguồn : RFA, 10/04/2021

Published in Diễn đàn

Một cách tiếp cận thực dụng, thực tế với Trung Quốc là cần thiết

Trịnh Hữu Long, Tiếng Dân, 17/02/2021

Bất chấp chúng ta nuôi dưỡng những mong muốn nào về Trung Quốc, những điều sau đây là thực tế phũ phàng chúng ta phải chấp nhận :

china1

Trung Quốc là nước lớn, và sẽ luôn luôn là nước lớn, bất kể đảng cộng sản hay đảng nào nắm quyền, do đó sẽ luôn tìm cách kiểm soát Việt Nam, bất kể chế độ chính trị là gì.

1. Việt Nam ở ngay cạnh Trung Quốc, ở cửa ngõ thông ra biển của Trung Quốc. Không dời nước đi chỗ khác được.

2. Trung Quốc là nước lớn, và sẽ luôn luôn là nước lớn, bất kể đảng cộng sản hay đảng nào nắm quyền, bất kể Trung Quốc có bị tan rã ra làm 5, làm 7. Có tan ra thành 5, thành 7 thì từng tiểu quốc đó vẫn là nước rất lớn.

3. Kiểm soát các quốc gia láng giềng là việc bất kỳ nước nào cũng làm, không khác gì Việt Nam phải kiểm soát Lào và Campuchia, Mỹ kiểm soát Canada và Mexico. Dĩ nhiên cách Mỹ kiểm soát khác cách Trung Quốc kiểm soát. Nhưng nói vậy để thấy là Trung Quốc sẽ luôn tìm cách kiểm soát Việt Nam, bất kể chế độ chính trị là gì. Tôn Trung Sơn – người được cả Trung Quốc lẫn Đài Loan tôn thờ là quốc phụ – đã tuyên bố rõ Việt Nam là phần lãnh thổ bị mất của Trung Quốc, trước sau gì cũng phải thu hồi lại.

4. Châu Á là vùng có quá nhiều nước muốn xưng hùng xưng bá, Mỹ và phương Tây sẽ luôn luôn muốn chơi với tất cả để chống lại tất cả. Họ phải ghìm các tay giang hồ khu vực này lại bằng cách lấy thằng này đánh thằng kia chứ không dại gì trực tiếp nhúng tay vào khi chưa cần thiết. Mỹ sẽ dùng Nhật ghìm Trung Quốc, dùng Trung Quốc để ghìm Nhật, và cũng có thể dùng Trung Quốc để ghìm Ấn Độ khi tình thế thay đổi.

Đó là tình thế địa chính trị khó khăn mà Việt Nam phải đối mặt. Trong nhiều năm tới, chuyện Trung Quốc là cộng sản hay tư bản, độc tài hay dân chủ, gần như không có nhiều ý nghĩa lắm. Một nước Trung Quốc dân chủ vẫn muốn yên ổn biên giới của mình, một nước Trung Quốc manh nha dân chủ hóa càng cần ổn định biên giới của mình theo nghĩa là chủ động kiểm soát được tình hình.

Một cách tiếp cận thực dụng, thực tế với Trung Quốc là cần thiết. Đẩy chủ nghĩa dân tộc lên quá cao thì Việt Nam ăn đủ, như Lê Duẩn từng hoang tưởng trong những năm cuối đời và cuối cùng gánh thảm bại.

Ở cạnh Trung Quốc là cơ hội để làm ăn, cũng như để kêu gọi các nước lớn khác tới. Nếu đủ thực dụng, hạn chế lý tưởng hóa/cực đoan hóa vấn đề thì có thể ăn nên làm ra, không thì vừa bị Trung Quốc chi phối, vừa chẳng kiếm ăn được gì. Chửi Trung Quốc thì dễ, nhưng sống yên ổn và thịnh vượng bên cạnh Trung Quốc mới khó.

Vấn đề lớn là chừng nào chính quyền còn không thừa nhận thực tế lịch sử quan hệ với Trung Quốc thì người dân sẽ tiếp tục quay lưng với chính quyền và phản đối mọi chính sách đối ngoại với Trung Quốc, bất kể chính sách đó hợp lý hay không hợp lý.

Trịnh Hữu Long

Nguồn : Tiếng Dân, 17/02/2021

***********************

Lý do Trung Quốc xây tường biên giới với Việt Nam ?

Trung Quốc đã và đang cho xây dựng các bức tường biên giới với hai nước láng giềng là Việt Nam và Myanmar với mục đích được Chính phủ nước này giải thích trên tờ Global Times vào cuối tháng 1/2021 là cần thiết để ngăn chặn những người vượt biên trái phép trong đại dịch Covid-19.

china2

Cận cảnh bức tường biên giới của Trung Quốc - Ảnh minh họa

Bức tường phía biên giới với Việt Nam là một hàng rào sắt cao 4,5 mét, dài 12 km, trên đầu là hàng rào thép gai, dọc theo sông Bắc Luân (Beilun) mà phía Việt Nam gọi là Ka Long.

Được xây dựng từ năm 2012 đến năm 2017, trị giá 29 triệu đô la.

Đến năm 2018, Bắc Kinh có điều chỉnh dự án và được dự kiến sẽ sớm hoàn tất với chiều dài 200 km dọc biên giới với hai tỉnh Quảng Ninh và Lạng Sơn.

Trong khi đó, bức tường phía biên giới với Myanmar dài 659 km được cho là đã hoàn thành dọc theo biên giới dài 2.000 km của Trung Quốc vào tháng 12 năm ngoái.

Bức tường này nằm giữa tỉnh Vân Nam của Trung Quốc và bang Shan phía bắc của Myanmar.

Năm 2018, khi hàng rào biên giới với Việt Nam được tăng tốc xây dựng, Trung Quốc đồng thời đưa ra chủ trương tăng cường quản lý chất lượng hàng hóa nhập khẩu, đẩy mạnh phòng chống buôn lậu và đưa các hoạt động trao đổi hàng hóa cư dân biên giới vào nề nếp.

Giáo sư Carl Thayer, đại học New South Wales (Úc) từng nhận định, Việt Nam có lợi ích ngang ngửa với Trung Quốc trong việc chống buôn lậu xuyên biên giới, đặc biệt là vì nước này có thâm hụt thương mại lớn với Trung Quốc.

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, nhiều nước đóng cửa biên giới để ngăn chặn sự lây lan nhưng việc Trung Quốc xây dựng các bức tường biên giới với các quốc gia láng giềng Đông Nam Á mà mục đích chính theo phía Bắc Kinh giải thích là để ngăn chặn vượt biên trái phép trong đại dịch Covid-19, hoàn toàn không thuyết phục.

Giáo sư Carl Thayer đã từng nêu ý kiến của mình trên ABC News rằng việc xây dựng này dường như là một chương trình quốc gia.

Trang tin Global Times cũng từng dẫn phân tích sâu hơn về động thái của Bắc Kinh của Giáo sư Carl Thayer rằng, Bắc Kinh xây tường biên giới còn nhằm ngăn chặn những nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc.

Phía Hà Nội đến thời điểm này không lên tiếng về động thái trên của Bắc Kinh, tuy nhiên RFA đã ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia xung quanh vấn đề này. Trong đó, Trung tá quân đội Đinh Đức Long hôm 11/2 phân tích :

"Mọi việc đều có thể xảy ra vì trên thực tế là người Bắc hàn từng vượt biên sang Việt Nam.

Họ vượt biên qua Trung Quốc trước rồi sang Việt Nam. Cách đây ít năm chính quyền Việt Nam đã làm ngơ để Tổng lãnh sự Hàn Quốc tại Việt Nam thuê nguyên một chiếc máy bay không biết của nước nào chở 400 người Bắc Hàn tị nạn từ Thành phố Hồ Chí Minh về thẳng Seoul. Bắc Hàn lên tiếng phản đối nhưng Việt Nam lờ đi.

Thật ra họ muốn vào Việt Nam thì có nhiều đường để vào. Hàng rào xây có mấy chục cây số thì ăn thua gì vì biên giới Việt Nam – Trung Quốc cả nghìn cây cơ mà.

Nghĩa là không thiếu gì con đường đi, nhưng trên thực tế là người Duy Ngô Nhĩ đã từng vào Việt Nam qua biên giới phía Bắc và đã xảy ra chuyện cướp súng của biên phòng Việt Nam. Sau đó Việt Nam không xét xử mà giao về Trung Quốc hết.

Tóm lại, việc xây hàng rào như thế chả có hại gì cho Việt Nam. Thứ nhất là nó xây trên nước nó. Thứ hai là ngăn chặn vậy thì tốt cho Việt Nam. Mình đỡ phải đối đầu với những chuyện không cần thiết".

Cùng bàn về vấn đề này, Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp nhận định :

"Nó vẫn có những người Duy Ngô Nhĩ chạy sang Việt Nam và từ Việt Nam chạy sang một nước khác nhưng khoảng một năm trở lại đây thì gần như không có nhóm nào cả. Nếu có thì Việt Nam sẽ bắt giao trả về Trung Quốc luôn theo thỏa thuận hai nước.

Lý do vì những người Duy Ngô Nhĩ này từng có hai lần cướp súng của biên phòng Việt Nam và bắn chết cả lính biên phòng Việt Nam.

Rõ ràng giữa Bộ Công an Trung Quốc và Bộ Công an Việt Nam có thỏa thuận rằng nếu có người nào bên Trung Quốc vượt biên trái phép vào Việt nam trái phép thì Việt Nam sẽ bắt và giao ngược lại bất kể đấy là ai.

Ngoài ra, có những người từ Bắc Hàn chạy qua Miền Bắc Việt Nam rồi xuống Tây Ninh, qua Campuchia rồi qua các nước khác nhưng công an Việt Nam không ngăn cản".

china3

168 người Việt Nam vượt biên trái phép từ TQ được đưa đến khu cách ly của tỉnh Lạng Sơn 15/03/2020

Theo thông tin từ báo chí Nhà nước Việt Nam, vào tháng 4 năm 2014, 16 người Duy Ngô Nhĩ vượt biên vào Việt Nam bất hợp pháp.

Nhóm người này đã bị lực lượng biên phòng Việt Nam bắt đưa về đồn, chuẩn bị thủ tục trao trả cho Trung Quốc.

Tuy nhiên, trong khi đang chờ làm thủ tục thì bất ngờ vài người đàn ông trong nhóm trên cướp súng của một chiến sĩ biên phòng xả đạn vào lực lượng biên phòng Việt Nam.

Hậu quả cuộc đấu súng’ làm bảy người thiệt mạng, gồm hai sĩ quan Biên phòng Việt Nam và năm người đàn ông Trung Quốc.

Tất cả năm thi hài và 11 người còn sống đều được giao trả cho phía Trung Quốc ngay trong ngày.

Tại cuộc họp diễn ra ngày 21 tháng 12 năm 2020 ở Đà Nẵng về sơ kết công tác phòng chống dịch Covid-19, Bộ Công an cảnh báo trong năm 2020 có hơn 900 người nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Phần lớn trong số này là người Trung Quốc.

Ngoài ra, số người Trung Quốc nhập lậu vào Việt Nam trong năm 2020 tiếp tục tăng với 25.000.

Theo trang Irrawaddy ngày 23/12/2020, Trung Quốc khởi công xây hàng rào dọc biên giới với Miến Điện từ tháng 10/2020 tại các bang Kachin và Shan, "chủ yếu ở các khu đông dân cư", trong đó nhiều đoạn vi phạm quy định cách đường biên giới 10 mét (thỏa thuận biên giới tháng 10/1960), theo phát biểu của ông U Thein Min Tun, giám đốc vấn đề biên giới Cục Lãnh sự Pháp chế Bộ Ngoại giao Miến Điện.

Rất nhiều đoạn video đăng trên mạng xã hội, được truyền thông Miến Điến trích dẫn, cho thấy có những đoạn được rào tạm bằng các cuộn dây thép gai, nhưng rất nhiều đoạn được xây chắc chắn với trụ gạch hoặc bê-tông, chấn song sắt cao khoảng 3 mét, phía trên được cuốn thêm dây kẽm gai.

china4

Cửu vạn khiêng hàng nhập lậu từ Trung Quốc qua cửa khẩu Tân Thanh, tỉnh Lạng Sơn - Ảnh minh họa

Trả lời RFI tiếng Việt, giáo sư Jean-Pierre Cabestan, đại học Baptist Hồng Kông, nhận định :

"Ở phía biên giới với Miến Điện, chính quyền Bắc Kinh muốn kiểm soát nghiêm ngặt hơn đường biên giới và tránh gặp quá nhiều rắc rối với Miến Điện, trong đó có vấn đề quản lý các dân tộc thiểu số, như người Kachin, Karen, người Wa hoặc những tộc người khác, thường gặp khó khăn với chính quyền trung ương và vẫn vượt biên sang phía Trung Quốc.

Tôi nghĩ đó là một cách để Bắc Kinh ổn định khu vực biên giới với Miến Điện vì thường xuyên xảy ra vấn đề về an ninh, cũng như buôn bán vận chuyển lậu vũ khí. Có thể họ thấy đã không được kiểm soát được nhiều yếu tố, trong đó có những lực lượng nổi dậy ở phía bắc Miến Điện".

Hàng rào kiên cố được Trung Quốc tiếp tục xây từ khoảng năm 2018 dọc biên giới với hai tỉnh Quảng Ninh và Lạng Sơn, với chiều dài khoảng 200 km, dựa theo những thông tin dưới đây.

Quanh khu vực cột mốc 1089 (đồi Keo, tỉnh Lạng Sơn), khi giải trình về tình trạng buôn lậu tại đây, Chi cục Hải quan Tân Thanh, được trang Giadinh.net.vn trích đăng ngày 18/11/2019, cho biết :

"Từ tháng 05/2019, toàn bộ các điểm tiếp giáp với phía Trung Quốc trên biên giới thuộc địa bàn kiểm soát" của Chi cục Hải quan Tân Thanh "cơ bản đã được phía Trung Quốc rào chắn bằng hệ thống tường rào cao 3,7 mét (chỉ còn lại một khoảng cách nhỏ tại khu vực điểm đường đầu nối và đồi cao chưa có tường rào)".

Vào đầu tháng 04/2020, trước những thông tin Trung Quốc xây tường biên giới để đưa hàng hóa nhập khẩu vào quy củ, ông Nguyễn Công Trưởng, phó chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn, giải thích :

"Phía Trung Quốc đã xây dựng tường rào từ lâu với chiều dài khoảng 100 km.

Tường rào này được xây trên đất Trung Quốc, gần lối mở Co Sa (cửa khẩu Chi Ma, cột mốc 1223, tỉnh Lạng Sơn)","đúng quy định về hiệp định biên giới giữa hai bên""có thông báo cho Việt Nam",theo báo Tuổi Trẻ, ngày 07/04/2020.

china5

Hàng rào biên giới với Việt Nam do Trung Quốc xây dựng tại cột mốc 1328, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam.

Nhiều đoạn video của một số Youtuber Việt Nam cho thấy hàng rào có trụ sơn vàng, chấn song nhọn sơn xanh dương, được bao thêm lớp dây kẽm ở chân tường và phía trên rào, đã được hoàn thiện tại các cột mốc 1270, 1296 và đến tháng 11/2020, tạm ngừng ở cột mốc 1328 (huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh), theo video của Nếm TV trên YouTube. Từ khu vực này có thể nhìn toàn cảnh hàng rào trườn trên những ngọn núi, cắt ngang những lối mòn. Đoạn video còn cho thấy đầu sắt nhô ra chờ tiếp tục thi công "Vạn lý trường thành phương Nam" từ đông sang tây.

Xây tường để chống buôn lậu

Năm 2018, khi hàng rào biên giới được tăng tốc xây dựng, cũng là thời điểm Trung Quốc chủ trương tăng cường quản lý chất lượng hàng hóa nhập khẩu, đẩy mạnh phòng chống buôn lậu và đưa các hoạt động trao đổi hàng hóa cư dân biên giới vào quy củ.

Theo giáo sư Carl Thayer, đại học New South Wales (Úc), "Việt Nam có lợi như Trung Quốc trong việc ngăn chặn buôn lậu qua biên giới, đặc biệt là Việt Nam còn bị thâm hụt thương mại lớn với nước láng giềng".

Thống kê sơ bộ của Hải Quan Việt Nam khẳng định xu hướng này. Năm 2020, Việt Nam nhập siêu từ Trung Quốc 35,2 tỉ đô la, tăng 3,74% so với năm 2019. Trung Quốc tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam với tổng kim ngạch thương mại song phương đạt 133,09 tỉ đô la, trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 48,9 tỉ đô la, nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 84,1 tỉ đô la.

Cuối cùng, theo nhận định của giáo sư Carl Thayer, bức tường mà Bắc Kinh cho xây dọc biên giới có lẽ còn gây trở ngại cho những nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc muốn đào thoát. Tỉnh Vân Nam của Trung Quốc, giáp với Việt Nam, Lào và Miến Điện, từ lâu được coi là "ngả đào thoát cho người Duy Ngô Nhĩ và những người khác muốn xin tị nạn ở phương Tây". Đây cũng là con đường cho những người Bắc Triều Tiên tìm cách thoát khỏi chế độ Kim Jong-un.

Hoàng Trung (Tổng hợp)

Nguồn : Thoibao.de, 19/02/2021

*************************

Lý do Trung Quốc xây tường biên giới với Việt Nam ?

Diễm Thi, RFA, 11/02/2021

Trung Quốc đã và đang cho xây dựng các bức tường biên giới với hai nước láng giềng là Việt Nam và Myanmar với mục đích được Chính phủ nước này giải thích trên tờ Global Times vào cuối tháng 1/2021 là cần thiết để ngăn chặn những người vượt biên trái phép trong đại dịch Covid-19.

china6

Hàng rào tại thị trấn biên giới Wanding, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Photo: theaustralian.com

Chương trình quốc gia ?

Bức tường phía biên giới với Việt Nam là một hàng rào sắt cao 4,5 mét, dài 12 km, trên đầu là hàng rào thép gai, dọc theo sông Bắc Luân (Beilun) mà phía Việt Nam gọi là Ka Long. Được xây dựng từ năm 2012 đến năm 2017, trị giá 29 triệu đô la. Đến năm 2018, Bắc Kinh có điều chỉnh dự án và được dự kiến sẽ sớm hoàn tất với chiều dài 200 km dọc biên giới với hai tỉnh Quảng Ninh và Lạng Sơn.

Trong khi đó, bức tường phía biên giới với Myanmar dài 659 km được cho là đã hoàn thành dọc theo biên giới dài 2.000 km của Trung Quốc vào tháng 12 năm ngoái. Bức tường này nằm giữa tỉnh Vân Nam của Trung Quốc và bang Shan phía bắc của Myanmar.

Năm 2018, khi hàng rào biên giới với Việt Nam được tăng tốc xây dựng, Trung Quốc đồng thời đưa ra chủ trương tăng cường quản lý chất lượng hàng hóa nhập khẩu, đẩy mạnh phòng chống buôn lậu và đưa các hoạt động trao đổi hàng hóa cư dân biên giới vào nề nếp.

Giáo sư Carl Thayer, đại học New South Wales (Úc) từng nhận định, Việt Nam có lợi ích ngang ngửa với Trung Quốc trong việc chống buôn lậu xuyên biên giới, đặc biệt là vì nước này có thâm hụt thương mại lớn với Trung Quốc.

china7

Tài xế mặc đồ bảo hộ đang trình giấy tờ tại cửa khẩu Hữu Nghị, Lạng Sơn, trên biên giới với Trung Quốc hôm 20/2/2020. Reuters

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, nhiều nước đóng cửa biên giới để ngăn chặn sự lây lan nhưng việc Trung Quốc xây dựng các bức tường biên giới với các quốc gia láng giềng Đông Nam Á mà mục đích chính theo phía Bắc Kinh giải thích là để ngăn chặn vượt biên trái phép trong đại dịch Covid-19, hoàn toàn không thuyết phục. Giáo sư Carl Thayer đã từng nêu ý kiến của mình trên ABC News rằng việc xây dựng này dường như là một chương trình quốc gia.

Trang tin Global Times cũng từng dẫn phân tích sâu hơn về động thái của Bắc Kinh của Giáo sư Carl Thayer rằng, Bắc Kinh xây tường biên giới còn nhằm ngăn chặn những nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc.

Đối đầu không cần thiết

Phía Hà Nội đến thời điểm này không lên tiếng về động thái trên của Bắc Kinh, tuy nhiên RFA đã ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia xung quanh vấn đề này. Trong đó, Trung tá quân đội Đinh Đức Long hôm 11/2 phân tích :

"Mọi việc đều có thể xảy ra vì trên thực tế là người Bắc hàn từng vượt biên sang Việt Nam. Họ vượt biên qua Trung Quốc trước rồi sang Việt Nam. Cách đây ít năm chính quyền Việt Nam đã làm ngơ để Tổng lãnh sự Hàn Quốc tại Việt Nam thuê nguyên một chiếc máy bay không biết của nước nào chở 400 người Bắc Hàn tị nạn từ Thành phố Hồ Chí Minh về thẳng Seoul. Bắc Hàn lên tiếng phản đối nhưng Việt Nam lờ đi.

Thật ra họ muốn vào Việt Nam thì có nhiều đường để vào. Hàng rào xây có mấy chục cây số thì ăn thua gì vì biên giới Việt Nam - Trung Quốc cả nghìn cây cơ mà. Nghĩa là không thiếu gì con đường đi, nhưng trên thực tế là người Duy Ngô Nhĩ đã từng vào Việt Nam qua biên giới phía Bắc và đã xảy ra chuyện cướp súng của biên phòng Việt Nam. Sau đó Việt Nam không xét xử mà giao về Trung Quốc hết.

Tóm lại, việc xây hàng rào như thế chả có hại gì cho Việt Nam. Thứ nhất là nó xây trên nước nó. Thứ hai là ngăn chặn vậy thì tốt cho Việt Nam. Mình đỡ phải đối đầu với những chuyện không cần thiết".

Cùng bàn về vấn đề này, Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp nhận định:

"Nó vẫn có những người Duy Ngô Nhĩ chạy sang Việt Nam và từ Việt Nam chạy sang một nước khác nhưng khoảng một năm trở lại đây thì gần như không có nhóm nào cả. Nếu có thì Việt Nam sẽ bắt giao trả về Trung Quốc luôn theo thỏa thuận hai nước.

Lý do vì những người Duy Ngô Nhĩ này từng có hai lần cướp súng của biên phòng Việt Nam và bắn chết cả lính biên phòng Việt Nam. Rõ ràng giữa Bộ Công an Trung Quốc và Bộ Công an Việt Nam có thỏa thuận rằng nếu có người nào bên Trung Quốc vượt biên trái phép vào Việt nam trái phép thì Việt Nam sẽ bắt và giao ngược lại bất kể đấy là ai.

Ngoài ra, có những người từ Bắc Hàn chạy qua miền Bắc Việt Nam rồi xuống Tây Ninh, qua Campuchia rồi qua các nước khác nhưng công an Việt Nam không ngăn cản".

Theo thông tin từ báo chí Nhà nước Việt Nam, vào tháng 4 năm 2014, 16 người Duy Ngô Nhĩ vượt biên vào Việt Nam bất hợp pháp. Nhóm người này đã bị lực lượng biên phòng Việt Nam bắt đưa về đồn, chuẩn bị thủ tục trao trả cho Trung Quốc. Tuy nhiên, trong khi đang chờ làm thủ tục thì bất ngờ vài người đàn ông trong nhóm trên cướp súng của một chiến sĩ biên phòng xả đạn vào lực lượng biên phòng Việt Nam.

Hậu quả cuộc ‘đấu súng’ làm bảy người thiệt mạng, gồm hai sĩ quan Biên phòng Việt Nam và năm người đàn ông Trung Quốc. Tất cả năm thi hài và 11 người còn sống đều được giao trả cho phía Trung Quốc ngay trong ngày.

Tại cuộc họp diễn ra ngày 21 tháng 12 năm 2020 ở Đà Nẵng về sơ kết công tác phòng chống dịch Covid-19, Bộ Công an cảnh báo trong năm 2020 có hơn 900 người nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Phần lớn trong số này là người Trung Quốc.

Ngoài ra, số người Trung Quốc nhập lậu vào Việt Nam trong năm 2020 tiếp tục tăng với 25.000.

Published in Diễn đàn

Nguy cơ chiến tranh rất cao vì Lực lượng Hải cảnh Trung Quốc được quyền dùng vũ khí tấn công.

haicanh0

Luật Hải cảnh của Trung Quốc ở Biển Đông và biển Hoa Đông, dự trù có hiệu lực năm 2021 cho phép Lực lượng Hải cảnh sử dụng vũ khí chống người và thuyền, tầu nước ngoài.

Luật Hải cảnh của Trung Quốc ở Biển Đông và biển Hoa Đông, dự trù có hiệu lực năm nay, 2021, sẽ công khai gây chiến với Mỹ về quyền kiểm soát an ninh ở hai vùng biển chiến lược và bận rộn nhất thế giới, đồng thời đe dọa trực tiếp chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam và các nước Đông Nam Á.

Dự Luật dài 80 Điều, được Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Quốc (Quốc hội) công bố ngày 04/11/2020 và đã qua thời gian lấy ý kiến nhân dân ngày 3/12/2020, cho phép Lực lượng Hải cảnh sử dụng vũ khí chống người và thuyền, tầu nước ngoài.

Dự Luật này dự trù sẽ được Quốc hội Trung Quốc chấp thuận trong tương lai gần.

Khi Luật này có hiệu lực, Lực lượng Hải cảnh Trung Quốc có toàn quyền kiểm soát và thực thi luật pháp của Bắc Kinh về an ninh trên hai vùng biển đang có tranh chấp giữa Trung Quốc, Đài Loan và Nhật Bản ở Quần đảo Senkaku (Điếu Ngư) ở biển Hoa Đông (1), và toàn vùng trong hình "Đường 9 đoạn" (Lưỡi bò), do Trung Quốc tự khoanh, chiếm 3/4 diện tích của khoảng 3.447.000 cây số vuông ở Biển Đông. Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam nằm trong hình vẽ Đường Lưỡi bò.

Vì vậy, nguy cơ bùng nổ chiến tranh ở Châu Á giữa Mỹ và Trung Quốc và ở Biển Đông giữa Trung Quốc và Việt Nam, nước đang kiểm soát 21 vị trí ở quần đảo Trường Sa, sẽ rất cao nếu Lực lượng Hải cảnh Trung Quốc sử dụng các loại võ khí, như Dự Luật cho phép, để bảo vệ điều được gọi là "quyền lợi cốt lõi" của Bắc Kinh trên biển.

Bộ Ngoại giao và học giả Trung Quốc cho rằng Dự luật Hải cảnh là việc riêng của nước này nhằm bảo vệ an ninh vùng "nội thủy" của Trung Quốc và không liên quan đến các nước khác.

Nhưng vùng biển đảo bị Dự luật chi phối, lại hầu hết thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của các nước đang có tranh chấp với Bắc Kinh, lớn nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc từ Hoàng Sa xuống Trường Sa. Ngoài ra còn có Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai và Brunei cũng tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông.

Trung Quốc cũng muốn giành chủ quyền ở đảo Điếu Ngư đang do Nhật kiểm soát ở biển Hoa Đông.

Các học giả quốc tế và chuyên gia về an ninh hàng hải ở Biển Đông lo ngại Trung Quốc, tuy không đồng loạt thi hành những biện pháp mạnh để độc quyền kiểm soát Biển Đông vì muốn tránh bị lên án là thủ phạm gây bất ổn định trong vùng Châu Á-Thái Bình Dương, nhưng sẽ quyết tâm thi hành Luật Hải cảnh để ép các nước nhỏ chấp nhận vai trò bá chủ Biển Đông của Bắc Kinh.

Hành động đe dọa an ninh ở Biển Đông của Bắc Kinh cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lượng giao thương hàng hải có trọng tải hơn 500 triệu tấn hàng năm.

Trước tình hình này, Hoa Kỳ đã phối hợp với Ân Độ, Nhật Bản và Úc Đại Lợi lập thành một vòng đai để bảo vệ lưu thông trên biển, đồng thời ngăn chặn ý đồ bành trướng của Bắc Kinh ở Châu Á-Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

Bá quyền ngoan cố

Trước bối cảnh Luật Hải cảnh có hiệu lực, cũng cần nhắc lại rằng chủ trương bá quyền ở Biển Đông của Trung Quốc đã có từ thời Đặng Tiểu Bình (1977). Khi ấy, họ Đặng nói với các nước trong khu vực rằng rằng, "chủ quyền là của Trung Quốc, hãy gác tranh chấp để cùng khai thác". Từ đó đến thời Tập Cận Bình hiện nay, các lãnh đạo Trung Quốc luôn luôn bảo "tất cả các đá, đảo và vùng nước xung quanh ở Nam Hải là của Trung Quốc từ thời cổ đại", nhưng Bắc Kinh lại không có bằng chứng lịch sử để chứng minh.

Từ lập trường bá quyền thực dân này, Trung Quốc đã sử dụng võ lực chiếm Quần đào Hoàng Sa của Việt Nam ngày 19/1/1974. Sau đó, tấn công và chiếm 7 đá, đảo của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa năm 1988. Từ đó đến nay, Trung Quốc đã tân tạo, mở rộng và biến 7 đảo thành các căn cứ quân sự phòng thủ kiên cố có bến càng, sân bay và đài Radar theo dõi hoạt động của thuyền, tầu đi lại trên Biển Đông.

Riêng tại đảo Phú Lâm ở Hoàng Sa, Bắc Kinh đã xây dựng nhiều doanh trại cho lính đồn trú, trang bị các giàn hỏa tiễn và làm sân bay dài cho máy bay chiến đấu phản lực sử dụng.

Nay Trung Quốc lại muốn dùng Luật Hải cảnh để hợp thức hóa "quyền chủ quyền" của mình, trên vùng biển và đảo của nước khác hay đang trong tình trạng tranh chấp.

Chống Phán quyết 2016

Hành động này của Bắc Kinh đã công khai chống lại phán quyết ngày 12/07/2016 của Tòa Trọng tài thường trực quốc tế (Permanent Court of Arbitration -- PCA) tại The Hague, Hòa Lan, bác yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trong vùng Đường 9 đoạn (Lưỡi bò).

Quyền chủ quyền trong vùng Đường 9 đoạn tự vẽ của Trung Quốc bị phủ nhận trong vụ Phi Luật Tân kiện Trung Quốc, vì Bắc Kinh đã chèn ép để lấn chiếm vùng biển và đảo ở phía Tây Trường Sa mà Phi nhận có chủ quyền.

Sau 3 năm thụ án, Tòa đã phán quyết ngày 12/07/2016, về Quyền lịch sử và Đường 9 đoạn như sau :

"Tòa Trọng tài nhận thấy có thẩm quyền để xem xét tranh chấp giữa các bên liên quan đến quyền lịch sử và nguồn của quyền hưởng các vùng biển tại Biển Đông. Về mặt nội dung thực chất, Tòa kết luận rằng Công ước quy định một cách toàn diện về các quyền đối với các vùng biển, và việc bảo vệ các quyền tồn tại trước Công ước liên quan đến tài nguyên đã được xem xét, nhưng chúng không được thông qua và quy định tại Công ước. Theo đó, Tòa kết luận rằng trong phạm vi quyền lịch sử của Trung Quốc đối với các nguồn tài nguyên trong các vùng biển ở Biển Đông, quyền này bị xóa bỏ do chúng không phù hợp với chế định vùng đặc quyền kinh tế trong Công ước. Tòa cũng nhận thấy dù trong lịch sử, những người đi biển cũng như ngư dân từ Trung Quốc cũng như từ các nước khác đã sử dụng các đảo tại Biển Đông nhưng không có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy về mặt lịch sử Trung Quốc đã chỉ một mình thực hiện việc kiểm soát vùng nước này cũng như tài nguyên tại đây. Vì vậy, Tòa kết luận không có cơ sở pháp lý để Trung Quốc yêu sách quyền lịch sử đối với tài nguyên tại các vùng biển phía bên trong Đường 9 đoạn".

(Người Lao Động, 13/07/2016)

Sau khi giáng cho Trung Quốc đòn thua đau về Đường 9 đoạn, Tòa tuyên bố về yêu sách chủ quyền của Trung Quốc về các cấu trúc trên biển Đông : "Tòa tiến hành đánh giá liệu các có cấu trúc nào trong số các cấu trúc do Trung Quốc yêu sách có thể tạo ra vùng biển ngoài phạm vi 12 hải lý không. Theo Công ước (về Luật biển Liên Hiệp Quốc năm 1982), các đảo tạo ra vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa nhưng các "đảo đá không thích hợp cho con người đến ở và có đời sống kinh tế riêng không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa". Tòa kết luận rằng quy định này phụ thuộc vào khả năng khách quan của các cấu trúc khi chúng ở tình trạng tự nhiên để có thể duy trì một cộng đồng dân cư ổn định hoặc các hoạt động kinh tế mà không phụ thuộc vào các nguồn lực từ bên ngoài hoặc hoàn toàn chỉ có tính chất khai thác. Tòa cũng nhận thấy rằng sự có mặt của các nhân viên công vụ trên các cấu trúc là phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ bên ngoài và không phản ánh khả năng của các cấu trúc. Tòa cũng thấy rằng các bằng chứng lịch sử có ý nghĩa hơn và nhận thấy quần đảo Trường Sa trong lịch sử được sử dụng bởi một số nhóm nhỏ các ngư dân và rằng đã có một vài hoạt động khai thác phân dơi và đánh cá của Nhật Bản. Tòa kết luận rằng việc việc sử dụng ngắn hạn như vậy không phải là sự định cư của một cộng đồng ổn định và rằng các hoạt động kinh tế trong lịch sử chỉ là hoạt động mang tính khai thác. Theo đó, Tòa kết luận rằng không một cấu trúc nào tại Trường Sa có khả năng tạo ra các vùng biển mở rộng. Tòa cũng quyết định rằng các đảo Trường Sa không thể cùng nhau tạo ra các vùng biển như một thực thể thống nhất. Trên cơ sở kết luận không một cấu trúc nào mà Trung Quốc yêu sách có khả năng tạo ra vùng đặc quyền kinh tế, Tòa nhận thấy Tòa có thể không cần phải phân định ranh giới biển mà vẫn có thể tuyên bố rằng một số vùng biển nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines vì không bị chồng lấn với bất cứ quyền hưởng vùng biển nào mà Trung Quốc có thể có".

(Người Lao Động, 13/07/2016)

Âm mưu khống chế

Nhưng dù bị thất bại, Trung Quốc vẫn không thừa nhận phán quyết của Tòa. Ngược lại Bắc Kinh vẫn tiếp tục có hành động đe dọa các nước nhỏ, trong đó có Việt Nam, với hy vọng khống chế toàn bộ Biển Đông bằng võ lực.

Những Điều quan trọng dưới đây của dự Luật Hải cảnh, theo Bản dịch của Dự án Đại Sự Ký Biển Đông, đã chứng minh tham vọng của Bắc Kinh (2) :

Trước hết, Điều 2 quy định : "Cơ quan Hải cảnh là lực lượng vũ trang quan trọng trên biển và lực lượng thực thi pháp luật hành chính của Nhà nước".

Làm rõ hơn Lực lượng Hải cảnh còn có quyền kiểm soát trên không, Điều 3 viết : "Luật này được áp dụng cho cơ quan Hải cảnh khi triển khai công tác thực thi pháp luật, bảo vệ quyền lợi trên biển và trên không tại các vùng biển thuộc quyền tài phán của nước Cộng hòa nhân dân Trung Quốc".

Nhưng chi tiết hơn thì Điều 11 đã minh thị : "Cơ quan Hải cảnh thực hiện các chức năng nhiệm vụ dưới đây theo pháp luật :

1. Phụ trách triển khai tuần tra, cảnh giới trên biển ; trực ban canh giữ các đảo, đá trọng yếu trong vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc ; quản lý bảo vệ đường phân định ranh giới trên biển ; phòng ngừa, ngăn chặn, loại bỏ các hành vi gây nguy hại đến chủ quyền, an ninh và quyền lợi biển quốc gia. 

2. Phụ trách bảo đảm an toàn cho các mục tiêu trọng yếu và các hoạt động lớn trên biển ; áp dụng biện pháp cần thiết để bảo vệ các đảo, đá trọng yếu cũng như bảo đảm an toàn cho cho các đảo nhân tạo, trang thiết bị và cấu trúc nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Trung Quốc.

3. Phụ trách công tác quản lý và bảo vệ trật tự trị an trên biển, kiểm tra xử lý các hành vi vi phạm các quy định pháp luật về quản lý trật tự trị an, xuất nhập cảnh trên biển ; ngăn chặn và xử lý hoạt động khủng bố trên biển, duy trì trật tự trị an trên biển.

4. Phụ trách tiến hành kiểm tra phương tiện vận tải, hàng hóa, vật phẩm có dấu hiệu buôn lậu trên biển ; kiểm tra xử lý các hành vi buôn lậu trên biển.

5. Phụ trách kiểm tra, giám sát trong phạm vi chức năng và nhiệm vụ của mình đối với việc sử dụng vùng biển, bảo vệ hải đảo và khai thác sử dụng hải đảo không có người ở, thăm dò khai thác tài nguyên khoáng sản biển, trải đặt và bảo vệ đường dây cáp, đường ống dưới đáy biển, điều tra đo đạc biển, đo vẽ cơ bản bản đồ biển, nghiên cứu khoa học biển có liên quan yếu tố nước ngoài ; kiểm tra xử lý các hành vi vi phạm pháp luật…".

Kiểm soát tàu bè

Trong lĩnh vực "Bảo vệ an ninh trên Biển", Dự Luật này viết như sau :

Điều 13 :

Để duy trì trật tự trị an trên biển, cơ quan Hải cảnh có quyền tiến hành nhận dạng, xác minh theo pháp luật đối với tàu thuyền nước ngoài đi lại, neo đậu, tác nghiệp trong vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc ; làm rõ các thông tin cơ bản của tàu thuyền và tình hình cơ bản về hoạt động đi lại, tác nghiệp của tàu thuyền đó. Đối với các tàu thuyền nước ngoài có dấu hiệu vi phạm pháp luật, cơ quan Hải cảnh có thể thực hiện việc theo dõi và giám sát.

Điều 14 :

Với các tàu thuyền ngoại quốc đi vào nội thuỷ, lãnh hải trái phép, cơ quan Hải cảnh có quyền và trách nhiệm yêu cầu tàu thuyền đó lập tức rời khỏi hoặc áp dụng các biện pháp như tạm giữ, xua đuổi, và cưỡng chế lai kéo.

Điều 15 :

Do nhu cầu chấp hành nhiệm vụ bảo vệ an toàn trên biển, nhân viên cơ quan Hải cảnh có thể tiến hành lên tàu, kiểm tra đối với các tàu thuyền đi lại, dừng đậu, tác nghiệp trong vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc.

…Đối với các tàu thuyền từ chối phối hợp kiểm tra, cơ quan Hải cảnh có thể cưỡng chế kiểm tra ; các tàu thuyền bỏ chạy khỏi hiện trường, cơ quan Hải cảnh có thể áp dụng các biện pháp cần thiết để tiến hành ngăn chặn, truy đuổi…".

Gay gắt hơn, Điều 16 của Dự luật cho phép : "Cơ quan Hải cảnh có thể áp dụng các biện pháp sau để xử lý các yêu cầu cấp thiết trong các sự kiện đột xuất phát sinh trên biển : 

1. Ra lệnh cho tàu thuyền dừng di chuyển, dừng tác nghiệp.

2. Ra lệnh cho tàu thuyền thay đổi hành trình hoặc đi tới các địa điểm được chỉ định.

3. Ra lệnh cho nhân viên trên tàu thuyền rời khỏi tàu thuyền hoặc hạn chế, cấm nhân viên lên, xuống tàu thuyền.

4. Ra lệnh cho tàu thuyền dỡ hàng hoá hoặc hạn chế, cấm tàu thuyền dỡ hàng hóa.

Xây dựng và võ lực

Dự luật này không minh thị quy định về hoạt động thiết kế và đặt các giàn khoan dầu hay tìm kiếm khí đốt trên biển của các nước trong khu vực Biển Đông và Biển Hoa Đông, nhưng ai đọc cũng hiểu Trung Quốc đã ngăn cấm tuyệt đối, khi chưa có phép của họ, như ghi trong Điều 17 nguyên văn như sau :

"Đối với các tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài khi xây dựng công trình kiến trúc, cấu trúc hoặc lắp đặt các loại thiết bị cố định hoặc thả nổi trong vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc mà chưa được các cơ quan chủ quản Trung Quốc phê chuẩn, cơ quan Hải cảnh có quyền và trách nhiệm yêu cầu dừng các hoạt động vi phạm pháp luật hoặc điều chỉnh, thay đổi hành vi có (hoặc không có) thời hạn ; đối với các tổ chức, cá nhân từ chối dừng hoạt động vi phạm hoặc từ chối điều chỉnh, thay đổi hành vi có (hoặc không có) thời hạn, khi cần thiết, cơ quan Hải cảnh có thể cưỡng chế dỡ bỏ theo pháp luật".

Đới với hoạt động của các tầu thuyền quân sự và của chính phủ nước ngoài, Điều 18 của Dự luật ấn định : "Đối với tàu thuyền quân sự nước ngoài và tàu thuyền chính phủ nước ngoài hoạt động phi thương mại trong vùng biển thuộc quyền tài phán Trung Quốc mà có hành vi vi phạm quy định pháp luật Trung Quốc, cơ quan Hải cảnh có quyền áp dụng các biện pháp cảnh giới hoặc kiểm soát cần thiết để ngăn chặn, ra lệnh cho tàu thuyền đó lập tức rời khỏi vùng biển liên quan ; đối với các tàu thuyền kiên quyết không rời đi, gây ra nguy hại hoặc uy hiếp nghiêm trọng, cơ quan Hải cảnh có quyền áp dụng các biện pháp như xua đuổi hoặc cưỡng chế lai kéo". 

Nếu chỉ có bấy nhiêu thì Dự luật Hải cảnh chỉ hợp thức hóa những hành động bấy lâu nay của Trung Quốc ở Biển Đông.

Vũ khí và vũ khí

Nhưng điểm quan trọng và nguy hiểm nhất của Dự luật Hải cảnh mới là nhà nước Trung Quốc đã cho phép Lực lượng Hải cảnh được sử dụng mọi loại vũ khí khi cần thiết để bảo vệ an ninh và quyền lợi trên biển.

Nguyên văn của Điều 19 viết thế này :"Khi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc trên biển bị các tổ chức, cá nhân nước ngoài xâm phạm bất hợp pháp, hoặc đang đối mặt với nguy hiểm cấp bách bị xâm phạm bất hợp pháp, cơ quan Hải cảnh có quyền áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết, bao gồm sử dụng vũ khí để ngăn chặn việc xâm hại, loại trừ nguy hiểm theo các quy định của Luật này hoặc các bộ luật, quy định khác liên quan".

Khi cho phép dùng vũ khí để dành chủ quyền trên biển, Trung Quốc đã bất chấp luật pháp quốc tế và vi phạm Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982. Chiến tranh có thể xẩy ra vì Bắc Kinh đã sử dụng võ lực để cưỡng chế quyền chủ quyền và chủ quyền của nước khác, hay đang có tranh chấp với Trung Quốc, ở Biển Đông và biển Hoa Đông.

Ngoài Điều 19, việc sử dụng vũ khí theo nhu cầu trên biển còn được cho phép trong các điều ghi sau :

Điều 43 : "Khi xảy ra một trong các trường hợp sau đây nếu cảnh cáo không có tác dụng, nhân viên hải cảnh có thể sử dụng vũ khí cầm tay khi : 

1. Có chứng cứ cho thấy tàu thuyền chở nghi phạm hoặc vận chuyển trái phép vũ khí, đạn dược, tài liệu mật nhà nước, ma túy và những vật phẩm trái phép khác, mà cố tình bỏ trốn sau khi hải cảnh ra lệnh dừng lại.

2. Tàu thuyền nước ngoài sản xuất, hoạt động trái phép trong vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc không chấp hành hiệu lệnh của hải cảnh về việc dừng tàu, lên kiểm tra, mặc dù Hải cảnh đã sử dụng biện pháp khác nhưng không đủ để ngăn chặn hành vi trái phép. 

Điều 44 mở rộng hơn, khi viết rằng :"Ngoài vũ khí cầm tay, hải cảnh có thể sử dụng tàu thuyền hoặc vũ khí trang bị trên tàu khi xảy ra một trong các trường hợp sau :

 1. Thực hiện nhiệm vụ chống khủng bố trên biển.

 2. Xử lý vụ việc bạo lực nghiêm trọng trên biển.

 3. Phương tiện tàu thuyền, thiết bị bay của hải cảnh bị tấn công bằng vũ khí hoặc hình thức nguy hiểm khác". 

Điều 45 thả lỏng hơn : "Khi sử dụng vũ khí theo pháp luật, nhân viên hải cảnh có thể sử dụng lập tức trong trường hợp không kịp cảnh báo hoặc sau khi cảnh cáo có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng hơn".

Điều 46 căn dặn : "Nhân viên hải cảnh căn cứ vào mức độ cấp bách, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội và hành vi của người phạm tội, phán đoán hợp lý về mức độ cần thiết của việc dụng vũ khí, tránh và hạn chế tối đa việc gây tổn thất về người và tài sản ; khi sử dụng vũ khí với tàu thuyền, cần tránh tối đa việc bắn vào vị trí dưới đường nước (thuỷ tuyến)".

Quyền tài phán ở đâu ?

Vậy điều mà Trung Quốc tự cho thuộc "quyền tài phán" (3) của mình trên biển, nhưng thực tế phần lớn thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của các nước khác, bao gồm những vùng nào ?

Việc này Dự luật quy định trong Điều 74, theo đó : "Vùng biển thuộc quyền tài phán của nước Cộng hòa nhân dân Trung Quốc bao gồm : lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa cũng như các vùng biển khác thuộc quyền tài phán của nước Cộng hòa nhân dân Trung Quốc. Nội thủy là vùng nước bên trong đường cơ sở lãnh hải về phía đất liền của nước Cộng hòa nhân dân Trung Quốc, trong đó bao gồm vịnh và khu vực cửa sông".

Việt Nam phản ứng yếu ớt

Trước tham vọng bá quyền và thực dân rõ như ban ngày của Trung Quốc như vậy, phía Đảng và Nhà nước cộng sản Việt Nam đã nói gì ?

Hãy nghe người Phát ngôn của Bộ Ngoại giao phản ứng tại cuộc họp báo ngày 05/11/2020, theo tường thuật của báo Người Lao Động :

"Tại buổi họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao chiều 5/11, phóng viên nêu câu hỏi đề nghị cho biết bình luận của Việt Nam về việc hôm qua Trung Quốc vừa xem xét lại dự luật cho phép Cảnh sát biển Trung Quốc sử dụng vũ khí trong vùng lãnh hải của Trung Quốc.

Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Dương Hoài Nam nhấn mạnh như đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Việt Nam luôn ủng hộ giải quyết các tranh chấp thông qua thương lượng hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982".

Câu nói của Dương Hoài Nam chỉ lập lại điều phía Việt Nam đã nói đi nói lại nhiều lần, trong nhiều năm mỗi khi vấn đề chủ quyền ở Biển Đông của Việt Nam bị Trung Quốc vi phạm. Ngoài ra Việt Nam cộng sản đã kiềm chế đến mức thấp nhất của ngôn ngữ ngoại giao đề tránh gây bất bình với Bắc Kinh, nói chi đến hành động mạnh phản ảnh ý chí và bản lĩnh của một nước độc lập có chủ quyền.

Đó là lý do tại sao Lãnh đạo Việt Nam đã tránh tối đa chỉ trích Trung Quốc về Luật Hải cảnh, dù biết đó là cái thòng lọng đang chờ treo cổ Việt Nam ở Biển Đông.

Phạm Trần

(06/01/2021)

-------------------

Chú thích :

(1) Quần đảo Senkaku (Điếu Ngư) là một nhóm gồm các đảo không người ở do Nhật Bản kiểm soát ở biển Hoa Đông. Các đảo nằm về phía đông của Trung Quốc đại lục, về phía đông bắc của Đài Loan, về phía tây của đảo Okinawa, và ở phía bắc cực tây nam của quần đảo Ryukyu (đảo Yonaguni).

Từ khi Hoa Kỳ trao quyền quản lý các đảo cho Nhật Bản năm 1971, quyền sở hữu các đảo bị tranh chấp giữa Nhật Bản với Cộng hòa nhân dân Trung Quốc và Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). Trung Quốc tuyên bố rằng họ đã phát hiện và kiểm soát các đảo từ thế kỷ 14. Nhật Bản đã kiểm soát các đảo từ năm 1895 cho đến khi đầu hàng kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai. Hoa Kỳ quản lý quần đảo như là một phần của Chính quyền dân sự Hoa Kỳ tại quần đảo Ryukyu từ năm 1945 đến năm 1972, khi chúng được trao cho Nhật Bản theo Hiệp ước trao trả Okinawa giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản (theo Bách khoa Toàn thư mở).

(2) Dự án Đại Sự Ký Biển Đông : Do một số Trí thức trong và ngoài nước thành lập từ năm 2015 nhằm nghiên cứu về Tình hình Biển Đông.

Đứng đầu bởi Phó Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Hồng Thao, chuyên ngành luật quốc tế tại Đại học Quốc gia Hà Nội và Học viện ngoại giao Việt Nam.

(3) Quyền tài phán là thẩm quyền riêng biệt của quốc gia ven biển được quy định, cấp phép, giải quyết và xử lý đối với một số loại hình hoạt động, các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trên biển, trong đó có việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo các thiết bị và công trình ; nghiên cứu khoa học về biển ; bảo vệ và gìn giữ môi trường biển trong vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của quốc gia đó (theo Tài liệu Biên giới lãnh thổ của Việt Nam).

Published in Diễn đàn

Hoạt động quân sự của Trung Quốc tại Biển Đông thời gian qua

Trong suốt năm 2020, Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) đã tích cực thực hiện các hoạt động và tập trận ở Biển Đông. Sự gia tăng cường độ hoạt động này phần nào nằm trong dự đoán trong bối cảnh Trung Quốc tăng cường và mở rộng năng lực quân sự và PLA nắm trong tay các hệ thống có thể hoạt động thành thạo ở phạm vi xa hơn. Ngoài ra, trong năm 2016, Trung Quốc đã có được khả năng triển khai các hệ thống ở tiền phương bằng việc xây dựng các đảo nhân tạo với diện tích 3.200 mẫu cũng như các cơ sở hạ tầng quân sự đi kèm (bao gồm 3.000 mét đường băng, bến tàu hải quân, nhà chứa máy bay, hầm chứa đạn dược có gia cố, silo tên lửa và radar).

quansu1

Tàu sân bay Liêu Ninh của Trung Quốc tập trận trên Biển Đông vào tháng 12/2016 - Reuters

Trong 8 tháng qua, quân đội Trung Quốc rõ ràng đã tiếp tục tăng cường sự hiện diện ở Biển Đông. Một số hoạt động và tập trận lớn đã thu hút được sự chú ý của quốc tế. Trong số này, quan trọng nhất phải kể đến :

- Giữa tháng 3, hai máy bay quân sự của Trung Quốc đã diễn tập chống tàu ngầm ở Biển Đông.

- Ngày 6-11/4 : Tàu khảo sát Hải Dương Địa Chất 8, được sự yểm trợ của hải quân và cảnh sát biển Trung Quốc, đã làm gián đoạn dự án thăm dò dầu khí của Malaysia trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này.

- Ngày 6/5 : Hải quân PLA (PLAN) tiến hành diễn tập hộ tống ở Biển Đông khi đang trên đường tham gia tập trận chống cướp biển ở vịnh Aden. Nhóm tàu hải quân bao gồm tàu khu trục Type 52D Thái Nguyên và khinh hạm Type 54A Kinh Châu, đều thuộc phân đội 3 của Chiến khu miền Đông của PLA. Cuộc tập trận này bao gồm các nhiệm vụ cứu hộ và chống cướp biển.

quansu2

Hình chụp vệ tinh Đá Chữ Thập nơi Trung Quốc xây dựng căn cứ quân sự. AMTI

- Ngày 14/5 : Trung Quốc triển khai máy bay cảnh báo sớm và máy bay chống tàu ngầm đến đá Chữ Thập.

- Giữa tháng 6, phân đội tàu khu trục của hải quân thuộc Chiến khu miền Nam tiến hành tập trận nhằm cải thiện khả năng phòng không, chống tên lửa và chống tàu ngầm của PLA. Theo tờ Nhật báo Quân giải phóng, tham gia tập trận có tàu khu trục Type 52D Hohhot và khinh hạm Type 54A Hành Dương, đều thuộc phân đội 2 Chiến khu Miền Nam.

- Ngày 27/6 : Tàu chiến Type 071 (còn được gọi là "lớp Ngọc Châu") của PLAN đã cập cảng tại đảo Phú Lâm. Type 071 là một tàu đốc đổ bộ có khả năng chở nhiều trực thăng, các tiểu đoàn quân và hàng hóa, chẳng hạn như xe lội nước. Việc neo đậu tàu chiến này được cho là nhằm chuẩn bị cho cuộc tập trận từ ngày 1-5/7.

- Ngày 1-5/7 : Trung Quốc tiến hành tập trận kéo dài 5 ngày ở quần đảo Hoàng Sa. Trong thời gian đó, Cục An toàn hàng hải của Trung Quốc đã cấm các tàu đi qua toàn bộ khu vực quần đảo Hoàng Sa. Trong các cuộc tập trận này, đảo Phú Lâm được sử dụng làm căn cứ và theo các chuyên gia, Trung Quốc đã cho diễn tập chiếm đảo hoặc bảo vệ an ninh đảo. Trước cuộc tập trận, một tàu đổ bộ trực thăng Type 071 và ba tàu nhỏ hơn đã được phát hiện ở bến cảng của đảo Phú Lâm.

- Ngày 11-13/7 : Các tàu khu trục cỡ nhỏ Mai Châu (số hiệu 584), Lục Bàn Thủy (số hiệu 514) và Khúc Tĩnh (số hiệu 508) đa cùng với một đội tàu khu trục cỡ nhỏ thuộc Chiến khu miền Nam tham gia diễn tập thực tế trên biển, bao gồm hoạt động bắn đạn thật nhằm vào các mục tiêu trên biển.

- Ngày 17/7 : Trung Quốc đã đưa ít nhất 8 máy bay chiến đấu (được cho là các mẫu J-11B và JH-7) đến đảo Phú Lâm, căn cứ quân sự lớn nhất của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa.

- Ngày 30/7 : Theo Bộ Quốc phòng Trung Quốc, PLA đã tiến hành tập trận với các máy bay mới (Tây An H-6J và Tây An H-6G). Nội dung huấn luyện bao gồm cất cánh và hạ cánh ban đêm, hoạt động đường dài và tấn công các mục tiêu trên biển.

- Ngày 4/8 : Các máy bay chiến đấu Su-30 đã hoàn thành sứ mệnh tuần tra vũ trang kéo dài 10 giờ tới các đảo và đá xa xôi nhất trên Biển Đông (đá Subi thuộc quần đảo Trường Sa), phá kỷ lục trước đó của PLA về thời lượng bay trong một lần xuất kích bằng phi cơ chiến đấu.

- Ngày 6/8 : Lực lượng tên lửa PLA được cho là đã phóng tên lửa đạn đạo chống hạm DF-26 trong khuôn khổ một cuộc tập trận.

- Ngày 12/8 : H-6J, mẫu máy bay ném bom mới được tiết lộ của PLAN, lần đầu tiên được triển khai đến đảo Phú Lâm.

- Ngày 16/8 : Theo CCTV, PLAN tiến hành thử nghiệm thành công một ngư lôi phóng từ tàu hộ tống Giang Đảo.

- Ngày 24-29/8 : Trung Quốc tiến hành 3 cuộc tập trận riêng biệt, trong đó có 2 cuộc diễn ra gần Hoàng Hải và 1 cuộc diễn ra ở Biển Đông, gần quần đảo Hoàng Sa.

- Ngày 26/8 : Trung Quốc phóng một số tên lửa đạn đạo, bao gồm tên lửa DF-26B và DF-21D, được mệnh danh là các "sát thủ tàu sân bay", vào Biển Đông như một phần của cuộc tập trận quân sự tích hợp và tấn công mô phỏng vào tàu chiến Mỹ. Các tên lửa này đã rơi xuống giữa đảo Hải Nam và quần đảo Hoàng Sa.

- Ngày 28/9 : Trung Quốc đồng thời tổ chức 5 cuộc tập trận hải quân, trong đó có 2 cuộc tập trận bắn đạn thật diễn ra gần quần đảo Hoàng Sa.

Các tàu chiến của PLAN, tàu cảnh sát biển Trung Quốc (CCG) và tàu khảo sát mang cờ Trung Quốc cũng thường xuyên tới các đảo nhân tạo, đến mức những động thái này phần nào đã trở thành hoạt động thường kỳ và thường không được báo cáo trừ khi các phương tiện này tiếp xúc với các phương tiện của một quốc gia khác. Hơn nữa, ngoài một quãng nghỉ trong tháng 5 và khoảng 3 tuần trong tháng 7-8, thì kể từ đầu tháng 4, các tàu CCG đã liên tục được triển khai đến bãi cạn Scarborough, nơi cả Trung Quốc và Philippines đều tuyên bố chủ quyền.

Cảnh sát biển Trung Quốc cũng đã sử dụng vũ lực để ngăn chặn các bên tranh chấp khác đánh bắt cá hoặc đi lại trong vùng biển tranh chấp, chẳng hạn như vụ đâm chìm tàu cá Việt Nam vào ngày 3/4 và vụ đâm tàu Việt Nam vào ngày 8/7 gần quần đảo Hoàng Sa.

PLAN nói chung cũng đã có một số tiến bộ, mà có tác động tới cán cân quyền lực ở Biển Đông, chẳng hạn như sự ra đời của các tàu tuần dương lớp Nhậm Hải mới là tàu chiến mặt nước lớn nhất trên thế giới, tàu tuần dương lớp Nhậm Hải đã được đưa vào hoạt động tháng 1/2020. Các tàu sân bay Liêu Ninh và Sơn Đông đã tiến hành huấn luyện thường xuyên và các chuyến đi thử nghiệm trên biển trong mùa Hè và gần đây nhất là vào tháng 9. Mặc dù đã đi vào hoạt động trong tháng 12/2019, nhưng tàu Sơn Đông vẫn chưa sẵn sàng chiến đấu ; tàu Liêu Ninh mất 6 năm để đạt được năng lực vận hành ban đầu sau khi chính thức đi vào hoạt động năm 2012.

Trung Quốc đang tự tin hơn ở Biển Đông ?

Thế giới nhìn chung cho rằng quân đội Trung Quốc đang lợi dụng đại dịch toàn cầu để giành lợi thế trong các tranh chấp lãnh thổ. Quân đội Trung Quốc đang hoạt động tích cực hơn bao giờ hết : Cho dù đó là tình trạng đối đầu giằng co và bạo lực gia tăng dọc theo biên giới Trung-Ấn, gia tăng xâm nhập vào không phận Đài Loan hay tăng cường hiện diện quân sự gần quần đảo Senkaku/Điếu Ngư đang tranh chấp ở biển Hoa Đông.

Tuy nhiên, tình hình ở Biển Đông có đôi chút khác biệt : Tại đây, Mỹ vẫn nắm giữ lợi thế quân sự quyết định do khả năng triển khai sức mạnh và duy trì các hoạt động từ khoảng cách xa. Việc xem xét các hoạt động quân sự, những đợt triển khai và các tuyên bố của Trung Quốc liên quan đến Biển Đông mang lại một số hiểu biết về chiến lược quân sự của Trung Quốc trong bối cảnh nước này hiện ở thế bất lợi.

quansu3

Hình chụp hôm 7/10/2019 : Tàu sân bay USS Ronald Reagan của Hải quân Mỹ tham gia tập trận ở Biển Đông hôm 6/10/2019. AFP

Thứ nhất, PLA tỏ ra thận trọng trong các "tương tác" trực tiếp với quân đội Mỹ. Trung Quốc đã không mạo hiểm thực hiện chiến lược "bên bờ vực chiến tranh" với các phương tiện của Mỹ, và các cuộc đụng độ trực tiếp thường diễn ra an toàn và chuyên nghiệp. Thay vào đó, PLA đang sử dụng sức mạnh quân sự của mình một cách gián tiếp để gửi đi tín hiệu về khả năng gây thiệt hại lớn cho Mỹ nếu chiến tranh nổ ra.

Thứ hai, sự thay đổi vai trò của PLA ở Biển Đông mang tính định tính hơn là định lượng. Các hoạt động, các đợt triển khai và phản ứng bằng lời nói của PLA không chệch hướng đáng kể so với dự kiến, khi xét tới việc nước này từng bước tăng cường các năng lực của họ. Tuy nhiên, PLA đã trở thành phương tiện chính mà qua đó Trung Quốc đang cố gắng thuyết phục Mỹ tiết chế cách tiếp cận của nước này đối với Biển Đông.

Thứ ba, nhu cầu tăng cường khả năng răn đe Mỹ đã trở thành một ưu tiên, ngay cả khi Trung Quốc phải bộc lộ khả năng hoặc làm trầm trọng thêm căng thẳng với các bên tranh chấp khác. Trước đây, Trung Quốc sẽ lựa chọn thời điểm và xác định bản chất của các cuộc triển khai và các cuộc tập trận để làm giảm bớt ý nghĩa của các hoạt động đó và quảng bá câu chuyện rằng Trung Quốc đang ở thế thủ ; thường thì các tuyên bố công khai thậm chí còn không đi kèm với các sự kiện. Tuy nhiên, quân đội Trung Quốc giờ đây đang muốn chứng minh cho Mỹ thấy khả năng tấn công của mình.

Điều này phản ánh sự bất an sâu sắc ngày càng lớn ở Bắc Kinh rằng Mỹ có thể tìm cách khơi mào một cuộc chiến chống Trung Quốc ở Biển Đông. Do đó, Trung Quốc có động cơ để phóng đại các hoạt động và khả năng của mình ở Biển Đông - một điểm khác biệt rõ ràng so với các giao thức trước đây là hạ thấp và che giấu bất kỳ hoạt động nào để tránh nâng cao nhận thức về mối đe dọa.

Thông tin về nhiều hoạt động quân sự của Trung Quốc tại Biển Đông do Bắc Kinh trực tiếp cung cấp và rất khó có thể xác minh mức độ thành công của các cuộc tập trận nhất định, hoặc thậm chí là cả tính xác thực của một số hoạt động, chẳng hạn như liệu chuyến bay kéo dài 10 tiếng có thực sự xảy ra hay không. Tuy nhiên, nhịp độ quân sự gia tăng và việc công khai rộng rãi các hoạt động quân sự cho thấy Trung Quốc muốn thế giới, và nhất là Mỹ, biết rằng quân đội của họ có thể gây tổn thất lớn cho bất kỳ quốc gia nào đe dọa vị thế của họ ở Biển Đông.

Cuối cùng, việc Trung Quốc gia tăng hoạt động quân sự nhiều khả năng là dấu hiệu của sự bất an chứ không phải là sự tự tin. Trong lịch sử, Trung Quốc hành động nóng vội nhất khi nước này cảm thấy dễ bị tổn thương và lo sợ rằng các nước khác sẽ lợi dụng những điểm yếu được nhận thấy ở họ. Nếu PLA đang lên kế hoạch cho một chiến dịch quân sự để mở rộng quyền kiểm soát của Trung Quốc đối với Biển Đông, hoặc một trong những hòn đảo bị chiếm đóng khác, thì chúng ta sẽ không hay biết gì về điều đó cho đến khi quá muộn. Việc PLA tập trung phát đi tín hiệu công khai cho thấy Trung Quốc nhiều khả năng sẽ không có động thái quân sự trong khu vực này. Tuy nhiên, sự nhạy cảm, và trong một số trường hợp là chứng hoang tưởng, của Trung Quốc về chiến lược của Mỹ cho thấy nước này nhiều khả năng sẽ có những lời lẽ cứng rắn và tiến hành các hoạt động quân sự phô trương trong vài tháng tới.

Hàm ý đối với Việt Nam

Mặc dù trong các phát biểu chính thức, các lãnh đạo Việt Nam thường tuyên bố : "Lập trường nhất quán của Việt Nam là giải quyết các tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982, tôn trọng các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực". Tuy nhiên phía Việt Nam cũng đồng thời bày tỏ quan ngại về một số sự kiện diễn ra gần đây tại Biển Đông có sự xâm phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. Đây là một thực tế đang đe doạ tới môi trường an ninh của Việt Nam và khu vực trong thời gian qua. Với các dự báo về khả năng sẽ tiếp tục các hoạt động quân sự leo thang tại khu vực Biển Đông của PLA và CCG, điều này khiến Việt Nam cần có sự tích cực chuẩn bị các phương án để có thể đối phó trước các đe doạ này từ Trung Quốc.

Trương Tuấn Đạt

Nguồn : RFA, 14/12/2020

Published in Diễn đàn

Với Việt Nam dù quyết liệt chống tham nhũng song vẫn phải dựa trên và phải tôn trọng các nguyên tắc pháp quyền, phải bảo đảm hài hòa với các tiêu chuẩn nhân quyền được cả cộng đồng quốc tế thừa nhận.

lonong2

Phiên tòa xử tội phạm tham nhũng ở tỉnh Phúc Kiến hồi tháng 11/2010 - Ảnh : Reuters.

133 vụ án, 94 vụ việc tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, bao gồm những vụ tồn đọng nhiều năm, đã được cấp cao nhất trong bộ máy phòng, chống tham nhũng theo dõi, chỉ đạo trong giai đoạn 2013-2020.

Số liệu trên được công bố tại hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013 – 2020, sáng 12/12. Tính riêng từ năm 2016 đến nay, Uỷ viên Bộ Chính trị đầu tiên bị kỷ luật là ông Đinh La Thăng.

Liệu án tham nhũng ở Việt Nam có tương tự như với Trung Quốc – một quốc gia cùng thể chế chính trị với Việt Nam ?

Theo các tài liệu liên quan về vấn đề tham nhũng của Bắc Kinh, thì trong quá trình cải cách, các thế lực thù địch bên ngoài đã lợi dụng chính sách mở cửa để thâm nhập vào Trung Quốc, tìm mọi cách làm tha hóa lớp trẻ, lợi dụng, mua chuộc dụ dỗ một số cán bộ thoái hóa biến chất để lôi kéo họ vào con đường phạm tội.

Do tư tưởng phong kiến tồn tại lâu đời ở Trung Quốc như tham quyền, tham thế lực, mặc dù Nhà nước xã hội chủ nghĩa lấy dân làm gốc nhưng một bộ phận lãnh đạo vẫn tồn tại tư tưởng lấy "quan làm gốc", đã làm quan thì tranh thủ kiếm lợi và tìm cách thâu tóm quyền lực.

Các biện pháp phòng ngừa ngăn chặn chưa đầy đủ, việc trừng trị thì chưa nghiêm khắc kể cả lập pháp và cả thi hành pháp luật, những người phạm tội thì ngày càng gan lỳ, chưa bị tử hình thì họ không sợ.

Đứng trước tình hình đó, chủ trương của Đảng cộng sản Trung Quốc là đấu tranh triệt để và trừng trị nghiêm khắc đối với các hành vi tham nhũng, dù họ ở bất cứ cương vị nào, và với phương châm là phải dựa vào pháp luật, dựa vào quần chúng và tăng cường hợp tác quốc tế nhằm dệt nên "lưới trời lồng lộng", để không một hành vi tham nhũng nào là không bị phát hiện và trừng trị theo đúng pháp luật.

Ở Trung Quốc, đơn tố cáo, tố giác của nhân dân về tham nhũng là nguồn quan trọng nhất, chiếm 60 – 70%, để từ đó phát hiện ra tội phạm. Vì vậy pháp luật của Nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định rõ trách nhiệm của cơ quan đấu tranh chống tham nhũng trong việc xác minh đầy đủ và kịp thời các nguồn tin này, và trách nhiệm trong việc bảo vệ bí mật đối với người tố cáo, tố giác tội phạm.

Mặt khác nếu tội tham nhũng được phát hiện và xử lý thì người tố giác, tố cáo tội phạm được hưởng một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng số giá trị tài sản mà cơ quan đấu tranh chống tham nhũng thu giữ được. Có thể nói đây là những quy định nhằm phát huy vai trò của nhân dân trong công tác đấu tranh chống tham nhũng.

Có ý kiến là Ban Chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng của Đảng cộng sản Việt Nam cần học tập Trung Quốc về vấn đề liên quan "trừng trị nghiêm khắc đối với các hành vi tham nhũng, dù họ ở bất cứ cương vị nào" : Thứ nhất, trong điều kiện cải cách kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc, việc thành lập cơ quan đấu tranh chống tham nhũng thuộc Viện kiểm sát nhân dân là phù hợp với yêu cầu khách quan của cuộc đấu tranh chống lại loại tội phạm này, nhằm hạn chế và loại trừ các tác động xấu làm ảnh hưởng đến công tác điều tra và xử lý.

Việt Nam cũng nên như vậy thay cho việc đây là quyền lực tối cao thuộc Tổng bí thư.

Thứ hai, qua thực tiễn hoạt động của cơ quan đấu tranh chống tham nhũng ở Trung Quốc, cho thấy rằng đội ngũ cán bộ của Cục đấu tranh chống tham nhũng thuộc Viện kiểm sát nhân dân, phải là những người tốt nghiệp đại học Luật tử tế – không phải là ‘chạy bằng cấp’, có kinh nghiệm công tác, có trình độ ngoại ngữ, có bản lĩnh và tố chất nghề nghiệp, và được tổng kết thành "ba nên và ba không" ; theo đó, "ba nên" là dùng luật pháp để đấu tranh với người phạm tội tham nhũng, không được dùng lời hứa sẽ tha bổng hoặc giảm nhẹ tội ; dùng lời lẽ để giáo dục, thuyết phục, không dùng lời lẽ đe dọa ; dùng tình nghĩa, trách nhiệm để cảm hóa, không được làm nhục hoặc làm mất danh dự của họ.

"Ba không" bao gồm không sợ sệt trước quyền lực ; không vì lợi ích cá nhân ; không lợi dụng tình cảm.

Với Việt Nam, cần lưu ý là có học tập Trung Quốc đến đâu đi nữa, dù quyết liệt chống tham nhũng song vẫn phải dựa trên và phải tôn trọng các nguyên tắc pháp quyền và phải bảo đảm hài hòa với các tiêu chuẩn nhân quyền được cả cộng đồng quốc tế thừa nhận.

Điều này trước hết là bởi Việt Nam đã tham gia hầu hết các điều ước cốt lõi về nhân quyền của Liên Hợp quốc, và đã khẳng định rõ ràng mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong Hiến pháp.

Thêm vào đó, cần thấy rằng Trung Quốc là nước lớn trên thế giới, còn Việt Nam là nước nhỏ hơn. Những "ông lớn" có thể phớt lờ các tiêu chuẩn quốc tế, còn các nước nhỏ hơn thì nên theo cách hành xử khôn ngoan là tuân thủ để tạo ra quyền lực mềm qua đó sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế làm vũ khí kiềm chế các "ông lớn".

Hoài Nguyễn

Nguồn : VNTB, 13/12/2020

Published in Diễn đàn
Trang 1 đến 4