Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Thua đậm, giờ Nguyễn Xuân Phúc mới lo o bế Tập Cận Bình ?

Trong Đảng cộng sản Việt Nam thì hầu như ai cũng thuần phục Bắc Kinh, chỉ có điều là khác nhau về mức độ. Chính như vậy mà Đảng cộng sản mới đảm bảo chính sách thân Trung Quốc từ thế hệ lãnh đạo này đến thế hệ lãnh đạo khác. Và từ sau Hội Nghị Thành Đô, Việt Nam ngày một tiến gần hơn với Bắc Kinh chứ chưa bao giờ giám độc lập. Nền kinh tế Việt Nam ngày một phụ thuộc Trung Quốc, hiện tượng nhập siêu cứ ngày một tăng.

tcb1

Từ sau hội nghị Thành Đô 1990, lãnh đạo nào thân Trung Quốc sẽ có sức mạnh - Ảnh minh họa Tập Cận Bình và Nguyễn Phú Trọng

Đấy là tình trạng nền kinh tế, còn vấn đề xây dựng cơ bản hoặc xây dựng công nghiệp thì từ nhiều năm nay, gói thầu EPC luôn rơi vào tay Trung Quốc. Dự án đường sắt Cát Linh – Hà Đông là quả đắng mà Việt Nam đã phải ngậm bồ hòn làm ngọt mà không dám cắt hợp đồng đuổi nhà thầu Trung Quốc có quá nhiều sai phạm.

Từ khi Đảng cộng sản giành quyền lãnh đạo cho đến nay, thì đảng luôn dùng đất nước này, dân tộc này như là công cụ phục vụ đảng chứ không phải ngược lại. Và vì thế chủ quyền đất nước cứ bị đem ra đổi chác từ thế hệ cầm quyền này đến thế hệ cầm quyền khác. Điều đó dẫn tới kết quả, đất nước này ngày càng phụ thuộc vào Trung Quốc. Nền kinh tế Việt Nam sống nhờ vào thị trường nguyên liệu của Trung Quốc cấp cho. Ấy vậy mà, các lãnh đạo đảng và nhà nước không tách số phận đất nước này ra khỏi bàn tay Bắc Kinh mà ngược lại. Vậy câu hỏi đặt ra là ai đã làm những điều đó.

Thời ông Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười là Hội nghị Thành Đô, thời Lê Khả Phiêu là hiệp định biên giới trên biển và trên bộ với Trung Quốc, thời ông Nông Đức Mạnh là 16 Chữ vàng và 4 Tốt, thời ông Nguyễn Phú Trọng là đã ký được 27 văn kiện bí mật giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 2017. Như vậy thì từ sau đời ông Lê Duẩn, mỗi đời tổng bí thư lên luôn củng cố quyền lực cho mình bằng những nhượng bộ trước Bắc Kinh. Ngược lại, để trả công cho những nhượng bộ đó thì sự nghiệp chính trị các tổng bí thư được đảm bảo. Từ yếu sẽ sang mạnh, từ mạnh trở thành độc tôn. Đấy là những hình ảnh được tổng kết từ sau hội nghị Thành Đô.

Điều đáng buồn là hầu hết những lãnh đạo cao cấp trong Đảng cộng sản hiện nay đều theo lối mòn đó, không ai đột phá cả. Ông Nguyễn Phú Trọng thì theo mẫu của ông Nông Đức Mạnh trong công tác đối ngoại với Bắc Kinh, và hiện nay ông Phạm Minh Chính chỉ mới ngồi lên ghế thủ tướng, nhưng có vẻ như ông Chính là người học trò xuất sắc của ông Nguyễn Phú Trọng.

Nguyễn Xuân Phúc trước đây đã học theo đường lối của ai ?

Ông Nguyễn Xuân Phúc vốn tiến thân trong môi trường chính phủ. Vì thế ông Phúc gần gũi với tiền nhiệm của mình hơn. Ông Nguyễn Tấn Dũng cũng thuần phục Bắc Kinh, tuy nhiên mức độ thân thiết với lãnh đạo Bắc Kinh thì không như ông Nguyễn Phú Trọng.

Sau khi tiếp nhận ghế thủ tướng của ông Nguyễn Tấn Dũng, ông Nguyễn Xuân Phúc cũng đã làm như vậy. Trước đây ông Nguyễn Tấn Dũng dùng tiền bạc để tạo vây cánh, còn bây giờ ông Nguyễn Xuân Phúc cũng làm nhưng không hiệu quả bằng ông Dũng. Kết quả là, ông Phúc chỉ ngồi ghế thủ tướng một nhiệm kỳ và phải bị mất ghế vào tay ông Phạm Minh Chính.

Ông Phạm Minh Chính từ cơ quan đảng tạt ngang giành lấy ghế thủ tướng thì có lẽ ông Nguyễn Xuân Phúc đã phải mở mắt mà không còn ngủ yên trên chiến thắng nữa. Đây là thất bại rất đau của ông Phúc. Vấn đề là lý do tại sao ?

Sau thất bại của ông Nguyễn Tấn Dũng, chính trường Việt Nam ngày càng chứng kiến sức mạnh của những chính trị gia thân Bắc Kinh. Ông Trọng trở nên mạnh hơn Nguyễn Tấn Dũng ở nhiệm kỳ đầu cũng bởi thân thiện Bắc Kinh, ông Trọng loại được Nguyễn Tấn Dũng ra khỏi đại hội 12 được cũng nhờ thân thiện Bắc Kinh ; ông Trọng ngồi xé bỏ điều lệ đảng tự tạo cho mình suất đặt biệt để ngồi lại ghế tổng bí thư ở nhiệm kỳ 3 cũng là nhờ gần giũi với Bắc Kinh, ông Phạm Minh Chính từ bí thư tỉnh về nắm trưởng ban tổ chức cũng nhờ thân mật với Bắc Kinh ; ông Phạm Minh Chính nhảy ngang cướp ghế thủ tướng của ông Nguyễn Xuân Phúc cũng là nhờ Bắc Kinh. Như vậy bao nhiều đó đủ để ông Nguyễn Xuân Phúc mở mắt ra chưa ? Chắc là điều này đã giúp ông Phúc sáng mắt ra rồi.

Hiện nay ai cũng sợ cái lò của ông Nguyễn Phú Trọng. Ông Trọng mạnh đến nỗi bắt luôn cả ủy viên bộ chính trị rồi hành hạ người này vào tù ra tòa nhiều lần. Sức mạnh như vậy là chưa từng có trong lịch sử.

Trước khi đưa ủy viên Bộ Chính trị Đinh la Thăng vào lò thì cũng chỉ có ông Nguyễn Phú Trọng là người chuyển từ cửa thua sang cửa thắng trước đối thủ đang ở chiếu trên – Nguyễn Tấn Dũng.

Thân Bắc Kinh có hại cho đất nước những có lợi cho sự nghiệp chính trị nên nó như một loại ánh đèn thu hút những con thiêu thân lao vào. Chính những con thiêu thân đặc biệt này không thiêu chính nó mà thiêu số phận đất nước.

Nguyễn Xuân Phúc tỉnh ngộ

Có thể nói khi mà mất chiếc ghế thủ tướng đầy quyền lực và bị đẩy sang ghế chủ tịch nước thì ông Nguyễn Xuân Phúc cũng phải thấm thía, sức mạnh của những người làm chính trị không gần gũi Bắc kinh là một thiệt thòi.

Ngày 28/03 Nguyễn Xuân Phúc cho biết, Chính phủ đã trình Quốc hội luật Đặc khu. Ông Phúc cho rằng do chưa làm tốt công tác hướng dẫn dư luận nên chưa thành công. Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu vấn đề này.

Luật đặc khu đã bị tạm hoãn do bị nhân dân biểu tình phản đối vào ngày 10/6/2018. Đây là dự luật dọn đường cho Trung Quốc vào thuê đất một thế kỷ tại các khu kinh tế. Dự luật này ai cũng biết là có lợi cho Trung Quốc và là có hại cho chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên với giới quan chức cấp cao của chính quyền Hà Nội lại nghĩ khác, họ thấy đây là cơ hội kết nối với Trung Quốc tạo quan hệ làm lợi thế chính trị để tiến lên.

Có vẻ như ông Nguyễn Xuân Phúc đã tỉnh ngộ ra rằng, ông cần phải làm gì đó để o bế Bắc Kinh nhằm tìm kiếm quyền lực chăng ? Nếu như vậy thì đấy là tội đồ dân tộc. Chủ quyền quốc gia, số phận dân tộc không thể bị đem ra đánh đổi như vậy.

Sáng 28/3, giới thiệu, quán triệt chuyên đề về Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021 – 2030 và Phương hướng, nhiệm vụ 5 năm tới (2021 – 2025) tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc quán triệt văn kiện Đại hội XIII, ông Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh nhiệm vụ, giải pháp về phát triển kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế vùng, kinh tế biển, đô thị nông thôn.

Nếu đây là vấn đề quan trọng thì ông Nguyễn Xuân Phúc lo công việc này chứ ông lo nói đến Luật đặc khu làm gì ? Hay ông Phúc kỳ vọng có thể gỡ gạt lại chiếc ghế quyền lực mà ông đã để mất vào tay Phạm Minh Chính. Không thể được nữa, muộn rồi.

tcb2

Cuối nhiệm kỳ ông Nguyễn Xuân Phúc o bế Bắc Kinh ?

Trong cuộc họp trực tuyến ấy, ông Phúc nói rằng : "Nhân đây, tôi nói rộng hơn. Chính phủ đã trình Quốc hội luật Đặc khu, nhưng hồi đó nhận thức còn nhiều vấn đề. Chúng ta chưa làm tốt công tác hướng dẫn dư luận cho nên chúng ta chưa thành công. Chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu vấn đề này. Cũng như đường sắt Bắc – Nam, đường sắt Hồ Chí Minh – Cần Thơ… Tất cả những vấn đề đó tốn tiền cũng phải làm, phải có nghiên cứu để làm".

Đảng cộng sản Việt Nam nói chung và các lãnh đạo cộng sản nói riêng, lúc nào cũng nói về ý dân. Tuy nhiên, người cộng sản thì bản chất từ xưa đến nay vẫn vậy, nói một đường làm một nẻo. Ý dân là chúng Luật Đặc Khu, nhưng quan chức thì vẫn muốn phớt lờ.

Nguyễn Xuân Phúc dọn lên mâm cho Phạm Minh Chính xơi

Sắp rời ghế thủ tướng lẽ ra ông Nguyễn Xuân Phúc nên im lặng. Bởi chức vụ sắp tới của ông là chủ tịch nước chứ không phải là thủ tướng. Như vậy việc ông đề xuất soạn Luật đặc khu rồi trình Quốc hội là làm để cho người kế nhiệm thực hiện chứ ông Phúc không thực hiện. Công tác hiện nay của ông Phúc là tranh thủ thực hiện tốt các chính sách khác.

Ông Phạm Minh Chính vốn hưởng lợi rất lớn từ chính sách kinh tế có dính đên Trung Quốc. Để có chức thủ tướng hôm nay thì khi còn làm bí thư tỉnh Quảng Ninh ông Chính đã tận dụng dự án xây dựng đặc khu kinh tế Vân Đồn để tạo mối quan hệ chính trị. Phần xây dựng đã xong, việc khó khăn nhất bây giờ là làm sao áp dụng luật đặc khu vào 3 khu kinh tế Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc là xong, Phạm Minh Chính sẽ làm Bắc Kinh rất hài lòng.

Những ngày cuối cùng ở vai trò làm thủ tướng, ông Nguyễn Xuân Phúc hối thúc soạn luật đặc khu rồi cuối cùng ông cũng phải trao bản thảo đó lại cho người kế nhiệm Phạm Minh Chính. Và khi Phạm Minh Chính trình lên Quốc hội khóa XV thông qua thì xem như lúc đó công lao với Bắc Kinh Phạm Minh Chính hưởng hết. Tuy nhiên tai tiếng thì ông Nguyễn Xuân Phúc sẽ gánh. Bởi vì nếu dự Luật Đặc khu mà được thông qua thành luật thì người cho soạn luật là người bị dân chửi nhiều nhất. Việc làm này chẳng khác nào chính Nguyễn Xuân Phúc làm cỗ dọn lên cho Phạm Minh Chính xơi.

Hành động cho khởi động lại Luật đặc khu, rõ ràng là Nguyễn Xuân Phúc muốn o bế Bắc Kinh. Tuy nhiên khi đã chắc chắn mất ghế thủ tướng thì ông Phúc o bế Bắc Kinh làm gì ? Hay là ông muốn xây dựng lại lộ trình thâu tóm quyền lực mà ông Nguyễn Phú Trọng và Phạm Minh Chính đã đi ? Không thể được nữa rồi, mọi thứ đối với ông Phạm Minh Chính là quá muộn.

Đảng cộng sản luôn nói về sự "vì dân" trong các khẩu hiệu. Tuy nhiên khi thực hiện thì muốn vì lợi ích đảng còn dân ý gì thì mặc kệ. Hành động này của ông Nguyễn Xuân Phúc và những người liên quan khác rồi đây cũng sẽ bị lịch sử ghi lại đầy đủ.

Phương Anh (tổng hợp)

Nguồn : Thoibao.de, 01/04/2021

*************************

Phan Văn Giang cúi đầu trước Tập trước khi ngồi vào ghế

Phải nói rằng dưới quyền cai trị của Đảng cộng sản Việt Nam thì nhân dân chịu uất ức rất nhiều. Không phải chỉ dân oan mới uất ức mà những ai yêu quý mảnh đất hình chữ S cũng uất. Bởi chủ trương của Đảng cộng sản là nhịn nhục để mua lấy sự bình yên cho đảng.

tcb3

Phạm Bình Minh, người chọn cách cúi đầu với Tàu

Bao nhiêu năm nay đảng đang luôn hô khẩu hiệu "chống mỹ cứu nước" mỗi khi 30/4 đến. Tuy nhiên xét cho cùng thì Mỹ cũng chẳng lấy một tấc đất nào của đất nước. Đã vậy hiện nay Mỹ là thị trường mà Việt Nam kiếm nhiều ngoại tệ nhất. Khoảng 40 tỷ đô la mỗi năm. Trong khi ấy, đảng luôn xem Trung Quốc là bạn thì nay Trung Quốc ngày càng trắng trợn lấn tới gặm nhấm lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam, từ Hoàng Sa năm 1974 đến Trường Sa năm 1988. Và điều đáng nói là đường lưỡi bò phi pháp mà Trung Quốc áp đặt đã làm cho Việt Nam mất gần hết lãnh hải truyền thống.

Việt Nam là quốc gia trăm triệu dân, tuy là ít hơn Trung Quốc, nhưng việc bắt nạt quốc gia trăm triệu dân không phải là dễ dàng gì đối với Mỹ chứ đừng nói đến Trung Quốc.

Ý thức được phận nước nhỏ, nhân dân không ủng hộ việc gây hấn với Trung Quốc, nhưng nhân dân cũng đòi hỏi là nhà nước phải có sự cương quyết chứ không thể cứ cúi đầu nhường nhịn chịu đựng, hễ người ta lấn tới là âm thầm nhường để mua lấy bình yên cho đảng.

Sự hèn nhát của quân đội Việt Nam thời nay không phải vì lính hèn, cũng không phải vì sĩ quan hèn mà vì sự hèn nhát hiện diện ngay trong những con người có quyền lực cao nhất.

Ở đất nước này, người có quyền lực lớn nhất là Nguyễn Phú Trọng, và cũng là người có quyền lực cao nhất về mặt đảng đối với quân đội. Với ông Nguyễn Phú Trọng thì nhân dân không xa lạ gì. Chính ông đã nhờ kết thân với lãnh đạo Bắc Kinh mà từ đó ông có được sức mạnh vô đối ở chính trường. Nếu Đảng cộng sản Việt Nam xem mình là Đảng cộng sản đàn em thì chính Nguyễn Phú Trọng cũng đang xem mình hoặc là đàn em, hoặc là học trò của Tập Cận Bình.

Sự nhu nhược của quân đội Việt Nam từ nhiều năm qua bắt nguồn từ con người đó chứ không từ ai khác. Hiện nay ông Trọng lại tham quyền ở lại ghế tổng bí thư nhiệm kỳ 3 thì quân đội Việt Nam thời Pham Văn Giang cũng chẳng khác nào thời Ngô Xuân Lịch hay thời Phùng Quang Thanh.

Kiểu mẫu Phạm Bình Minh, biết sợ trước thiên triều thì đổi lại số phận được thay đổi

Ngày 28/9/2019, trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc lần thứ 74, ông Phạm Bình Minh có bài phát biểu 15 phút nói về vấn đề an ninh Biển Đông. Nếu phát biểu 15 phút thì có thể nói, ông Phạm Bình Minh đã nói được khoảng 3.500 từ. Được biết, tính đến lúc ông Phạm Bình Minh phát biểu thì Trung Quốc đã có nhiều tháng quần thảo các cơ sở khai thác dầu khí của Việt Nam trên Biển Đông. Ấy vậy mà trong khoảng 3.500 từ nói liên tục, không từ nào ông dám nhắc tên Trung Quốc. Và thậm chí sự đe dọa bằng quân sự ở Biển Đông của hải quân Trung Quốc cũng được ông Phạm Bình Minh nói nhẹ nhàng bằn từ "sự cố". Ông Phạm Bình Minh đã hành động rất mất lòng dân.

Ngay sau hiện tượng câm nín tại phiên họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, Phạm Bình Minh đã bị rất nhiều người dân trong nước và hải ngoại chỉ trích và lên án dữ dội. Tuy nhiên thái độ nhất quán của Phạm Bình Minh là im lặng, chấp nhận chịu nhục để mưu cầu việc khác cho bản thân.

Hành động của Trung Quốc lúc đó được ví như anh cướp xem thường luật pháp xông vào nhà ông Việt Nam đòi cái này, lấy cái kia mà Việt Nam không dám tố giác mặc dù xung quanh đó có rất nhiều người mà anh Việt Nam có thể tìm kiếm sự hỗ trợ từ họ, ít nhất là hỗ trợ tiếng nói để cho kẻ cướp chùn bước.

Năm 1979, Việt Nam đánh cho giặc bay giáp rồi năm 1990 sang thần phục nhận làm phên giậu chư hầu. Đó là sách lược của rất nhiều tổng bí thư từ thời Nguyễn Văn Linh đến bây giờ. Đến nay, Việt Nam đã đi 1/5 của thế kỷ 21 nhưng lối ngoại giao đầu lụy ấy vẫn còn duy trì. Để rồi ông Phạm Bình Minh đi theo lối mòn ngoại giao như vậy.

Kết quả thì sao ? Hiện nay Phạm Bình Minh được nâng lên thẳng chiếc ghế phó thủ tướng thường trực. Vị trí mà cách ghế thủ tướng chưa đầy gang tay. Đó là phần thưởng cho những con người biết cúi đầu trước ngoại bang phương bắc. Ông Phạm Bình Mình khác với cha ông. Cha là người ngẩn đầu còn Phạm Bình Minh là người cúi đầu nên leo cao hơn cha mình lúc trước.

Thực ra nhiệm vụ đi phát biểu là ông Nguyễn Phú Trọng với vai trò chủ tịch nước phát biểu chứ không phải Phạm Bình Minh. Bởi nếu Nguyễn Phú Trọng đi dự phiên họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ở New York, ông ta chắc chắn cũng phải nhận rất nhiều phản ứng của dư luận bởi không mấp máy nổi một từ về Trung Quốc. Có lẽ vì thế mà ông Trọng né, hoạc ông muốn đẩy Phạm Bình Minh đi để xem Phạm Bình Minh có biết thuần phục hay không.

Phan Văn Giang học theo mẫu Phạm Bình Minh

Ngày 28/03/2021, diễn ra Hội nghị trực tuyến toàn quốc về nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Hội nghị này trình bày nội dung về Biển Đông diễn biến căng thẳng, và thách thức bảo vệ chủ quyền biển đảo.

tcb4

Phan Văn Giang, Thượng tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong những ngày sắp tới, làm theo cách Phạm Bình Minh

Đã nhiều năm nay, đã nói đến vấn đề Biển Đông là nói đến yếu tố Trung Quốc. Mà yếu tố Trung Quốc ở đây không phải để hợp tác lầm ăn mà nói đến chủ quyền quốc gia.

Với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Thượng tướng Phan Văn Giang cho hay Đông Nam Á có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng, là khu vực cạnh tranh giữa các cường quốc, tiềm ẩn nhiều bất ổn. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, trên biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Hòa bình, ổn định, tự do an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước những thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột.

Đánh giá về bối cảnh tình hình, Thượng tướng Phan Văn Giang nói môi trường chính trị, an ninh thế giới, khu vực dự báo tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường. Chủ nghĩa dân túy, dân tộc cực đoan, thực dụng, cường quyền và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn. Việc chạy đua vũ trang, không gian chiến lược mới đặt ra những thách thức mới đối với hòa bình, ổn định trên thế giới, khu vực, nhất là nước nhỏ đang phát triển.

Nói chung ông Giang nói rất nhiều bằng những ngôn từ quan thuộc. Tuy nhiên lại một làn nữa người đại diện cho Bộ Quốc Việt Nam làm công việc cúi đầu trước ngoại bang y hệt như Phạm Bình Minh cách đây 2 năm.

Ông Thượng tướng Phan Văn Giang – tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, thứ trưởng Bộ Quốc phòng – người đã được đảng phân công nắm bộ quốc phòng trong những ngày sắp tới.

Không biết đối với quan chức cấp cao của Đảng cộng sản thì nếu tình hình Biển Đông đang có những diễn biến căng thẳng, phức tạp hơn, thì họ mừng hay họ buồn. Những ai tỏ thái độ thuần phục là mừng vì đó là cơ hội thể hiện sự phục tùng. Họ biết buồn khi và chỉ khi họ biết xen quyền lợi của đất nước vượt lên quyền lợi đảng phái.

Thời đại công nghệ 4.0 thì khoa học cũng phát triển. Được biết năm 2021, Đảng cộng sản Việt Nam đã chi 7,2 tỷ đô la cho Quốc phòng. Một chi phí rất cao. Đó sẽ là cơ hội để Đảng cộng sản Việt nam không cúi đầu. Tuy nhiên, với tư duy nô lệ. Ông bộ trưởng Bộ quốc phòng vẫn phải cúi đầu.

Đảng đã cúi thì đảng viên làm sao thẳng ?

Phan Văn Giang (sinh năm 1960) thượng tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, hàm Thượng tướng. Ông hiện là Tổng tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Trong Đảng cộng sản Việt Nam, ông hiện là Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa XIII, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương

Biển Đông đang có những diễn biến căng thẳng phức tạp, đặt ra thách thức lớn trong bảo vệ chủ quyền biển đảo. Hiện đang có sự tranh chấp giữa các nước có liên quan đến Biển Đông như vùng tranh chấp, vùng chồng lấn, vùng chưa phân định rõ ràng, vùng nước lịch sử, vùng cùng đánh cá, thềm lục địa… chưa giải quyết được.

Trước sự e dè không dám nhắc tên Trung Quốc thì điều đó cho thấy, quốc phòng Việt Nam lại một lần nữa có ông bộ trưởng nhu nhược mặc dù ông xuất thân thì bổ thông mưu trưởng. Kẻ thù lớn bởi vì mi quỳ xuống

Từ không dám nổ súng cảnh cáo, không dám nhắc tên Trung Quốc và không dám kiện Trung Quốc, các lãnh đạo Việt Nam đã khiến Bắc Kinh không chỉ ngày càng coi thường ‘vùng chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam’, mà còn giành ưu thế vượt mặt Đảng cộng sản Việt Nam trong hoạt động vận động quốc tế, cũng là nguồn cơn khiến Bắc Kinh tự tin và ngạo mạn khi đưa ra tuyên bố mang tính khẳng định về vùng chủ quyền của Trung Quốc Biển Đông.

Kể ra ông Phan Văn Giang cúi đầu cũng phải. Nếu không biết cúi đầu thì ông đã không leo lên chức cao như ngày hôm nay của Việt Nam. Nói là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, nhưng sắp tới Phạn Văn Giang cũng sẽ chẳng làm gì khác so với những người tiền nhiệm trước đây.

Ở chế độ này, một khi Chủ tịch quân ủy trung ương mà cúi đầu thì nó như là cái khung buộc Phó chủ tịch quân ủy tuân theo thôi.

Cứ mỗi nhiệm kỳ, Trung Quốc cứ kéo dàn khoang, kéo tàu hải cảnh, xua dân quân xuống Biển Đông để nắn gân Việt Nam. Tuy nhiên, nếu họ gặp phản ứng trong Bộ Chính trị yếu ớt thì chắc chắn họ sẽ lấn tới.

Phan Văn Giang, dù nắm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nhưng khó mà ông có thể cứng rắn được. Vẫn theo thông lệ là kiên cữ tên húy của thiên triều để tránh rủi ro sự nghiệp.

Ngọc Thảo (tổng hợp)

Nguồn : Thoibao.de, 01/04/2021

Published in Diễn đàn

"Trung Quốc về cơ bản vẫn tiếp tục "đa chiến pháp", nhịp độ khi căng khi chùng, nhưng tổng thể vẫn là hành động kiên quyết, cứng rắn. Nếu nội bộ không có đột biến và áp lực bên ngoài chưa đủ độ (là khả năng hiện hữu) thì Trung Quốc không, hoặc khó nhượng bộ".

biendong1

Đội tàu cá Trung Quốc trên đường tiến xuống Biển Đông. Ảnh : Tân Hoa Xã

Việt Nam biết rõ ý đồ của Trung Quốc muốn ăn sống nuốt tươi mình ở Biển Đông, nhưng lãnh đạo đảng duy nhất cầm quyền tại Hà Nội chỉ biết tùy cơ ứng biến và cầu may được quý nhân phù trợ khi bị Bắc Kinh tấn công quân sự.

Lập trường này không mới, nhưng không bảo đảm giữ được chủ quyền, quyền chủ quyền và khối lượng tài nguyên khổng lồ và biển đảo của Việt Nam ở Biển Đông.

Nó phản ảnh tư duy lệ thuộc và bản lĩnh sợ hãi không bao giờ dám thoát Trung của lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam khiến 100 triệu dân Việt Nam phải co ro sống sợ trong cái lồng quyền lực của Bắc Kinh.

Nguyên nhân

Tình trạng này bắt đầu ngay từ Hội nghị thượng đỉnh Trung-Việt ở Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc, năm 1990, theo yêu của Lãnh tụ tối cao Trung Quốc lúc bây giờ là Đặng Tiểu Bình.

Bách khoa Toàn thư mở viết : "Hội nghị Thành Đô (hay gọi là Mật ước Thành Đô) là cuộc hội nghị thượng đỉnh Việt-Trung trong hai ngày 3-4 tháng 9 năm 1990, tại Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) giữa lãnh đạo cao cấp nhất hai đảng cộng sản của nhà nước Việt Nam - Trung Quốc. Cuộc họp mặt này nhằm mục đích bình thường hóa quan hệ giữa hai nước và hai Đảng. Cho đến nay, nội dung và các thỏa thuận trong cuộc họp của đôi bên vẫn chưa được công bố.

Thành phần tham dự :

- Phía Việt Nam gồm có Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, và Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng Phạm Văn Đồng,

- Phía Trung Quốc có Giang Trạch Dân, Tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc cùng với Lý Bằng, Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc.

Kết quả của hội nghị là một loạt các thay đổi trong đối nội và đối ngoại, không chỉ giữa Việt Nam với Trung Quốc, mà còn giữa Việt Nam với Hoa Kỳ và các nước ASEAN".

Lãnh đạo tối cao Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình là người đứng sau bày mưu tính kế buộc Việt Nam phải làm theo điều kiện của Bắc Kinh, từ việc Hà Nội phải rút quân khỏi Cao Miên cho đến những việc Việt Nam được làm và không được làm sau khi nối lại bang giao với Trung Quốc năm 1991.

Những chi tiết của Thành Đô chưa hề được tiết lộ, nhưng liệu trong số những thỏa hiệp bí mật này, có điều gì bất lợi cho cho chủ quyền biển đảo của Việt Nam ở Biển Đông không ?

Để trả lời câu hỏi này, không có gì rõ ràng hơn bằng cách nhắc lại nhận xét lịch sử của Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, người có lập trường chống Bắc Kinh thời bấy giờ. Ông nhận định về cuộc họp Thành Đô đầu tháng 9/1990 rằng : "Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu !" (theo cố Đại tá, Nhà báo lưu vong Bùi Tín, viết trên VOA ngày 20/3/2012).

Nhưng Đảng cộng sản Việt Nam đã để cho đất nước bị "Bắc thuộc" nghiêm trọng đền mức nào thì liệu ông Chủ tịch, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng có biết không ?

Hay ông biết mà phải ngậm đắng nuốt cay để nói cho dân yên tâm rằng : "Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay" (Phát biểu tại Đại hội đảng XIII, ngày 26/01/2021).

Trung Quốc đang làm gì ?

Nhưng ông Trọng nói "dzậy mà không phài dzậy", theo ngôn ngữ miệt vườn của đồng bào Nam Bộ. Bởi vì Bộ Ngoại giao Việt Nam mới cáo buộc Bắc Kinh : "Biển Đông lặng hay dậy sóng liên quan đến Trung Quốc. Năm 2020 và đầu 2021, Bắc Kinh vẫn tiếp tục thực thi "đa chiến pháp" trên Biển Đông. Truyền thông phủ sóng toàn cầu tuyên bố "chủ quyền không thể tranh cãi" và hình ảnh Trung Quốc xây dựng cộng đồng chung trên biển. Sửa đổi Luật Hải cảnh, công bố "danh xưng tiêu chuẩn" của các đảo, đá và thực thể đáy biển; phát triển "khu Tây Sa", "khu Nam Sa", dùng lục địa để gia tăng chủ quyền biển" (theo Tạp chí Thế giới & Việt Nam).

Nên biết Thế giới & Việt Nam là báo đối ngọai hàng đầu của Bộ Ngoại giao Việt Nam. Các bài viết đều phản ảnh quan điểm và lập trường về chính sách đối ngoại và những vấn đề quốc tế và khu vực liên quan đến Việt Nam.

Bài báo nêu trên đã vạch ra những mánh khoé tuyên truyền dành chủ quyền ở Biển Đông hiện nay của Bắc Kinh như: "Thu hút các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế ủng hộ cái gọi là "chủ quyền lịch sử" của Trung Quốc. Biến hóa "đường chín đoạn", "thuyết Tứ sa" để biến vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của các nước khác thành vùng biển tranh chấp, phần lớn Biển Đông thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Trung Quốc.

Tiếp tục củng cố và xây mới cấu trúc lưỡng dụng trên các đảo, đá thuộc quần đảo Trường Sa, mới nhất là đá Vành Khăn. Đẩy mạnh xây dựng lực lượng quân sự hiện đại, đa năng trên biển, đáng chú ý là đội tàu sân bay.

Duy trì hoạt động thường xuyên của lực lượng đa binh chủng, Hải quân, Hải cảnh, đội tàu nghiên cứu khoa học, dàn khoan nước sâu cỡ lớn, binh đoàn hàng ngàn tàu thuyền dân quân biển, xâm nhập, răn đe, ngăn cản hoạt động dân sự, kinh tế của các nước, thực hiện kiểm soát trên thực tế".

Đe dọa Việt Nam

Bài báo của Bộ Ngoại giao Việt Nam còn tố cáo: "Tàu hải cảnh, tàu bán quân sự Trung Quốc nhiều lần xâm phạm vùng biển khu vực thuộc bồn trũng Nam Côn Sơn, bãi Tư Chính (của Việt Nam), bãi cạn Scarborough (Philippines), bãi Luconia (Malaysia)…

Gần nhất, 24/2 (2021),có tin tàu Hải cảnh Trung Quốc áp sát dàn khoan Hải Thạch của Việt Nam đang hoạt động bình thường tại lô 5-02 trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam".

Trung Quốc cũng đã từng áp lực Việt Nam phải hủy bỏ một số dự án tìm kiềm dầu khí ở khu vục nam Hoàng Sa và ở Trường Sa, trong số này có nhiều Đại công ty đã bỏ Việt Nam gồm BP (Anh, 2008) Chevron (Mỹ, 2015), Repsol (Tây Ban Nha, 2018), ConocoPhillips (2012).

Ngày  9/7/2020, liên doanh dầu khí Rosneft Việt Nam đã hủy hợp đồng khoan dầu với công ty Noble Corporation tại Lô 06-01 vì bị áp lực từ Trung Quốc.

Vậy Việt Nam đã và đang làm gì để chống lại tham vọng của Trung Quốc ?

Trước hết, hãy nghe Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao  Phạm Bình Minh nói bang quơ với báo chí tại Hà Nội ngày 28/12/2020 rằng: "Việt Nam đã tiếp tục duy trì được môi trường ổn định ở Biển Đông thông qua nhiều biện pháp, trong đó có các biện pháp quan hệ song phương của chúng ta với các nước".

Nhưng riêng với Trung Quốc thì dù Việt Nam có song phương hay đa phương cũng "chết cửa tứ" với Bắc Kinh ở Biển Đông, vì Trung Quốc không coi nhược tiểu Việt Nam ra gì.

Hơn nữa, vì biết được  thân phận một nước đàn em trước láng giềng, đồng thời  là ân nhân  khi còn chiến tranh , Việt Nam đã thanh minh "4 không" trong Sách trắng Quốc phòng rằng: " (1)Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; (2) không liên kết với nước này để chống nước kia; (3)không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác;  (4) không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế".

Cam kết này chỉ nhằm cầu van Trung Quốc đừng tấn công Việt Nam, nhưng Việt Nam lại không có bất cứ Hiếp ước phòng thủ chung nào với bất cứ nước nào, đặc biệt với đại cường quân sự Hoa Kỳ, cho nên Hà Nội chỉ còn biết chơi lá bài nhũn như con chi chi để cầu may.

Tham vọng muôn đời

Cũng cần nhắc lại, Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974, dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, nhưng Hà Nội không dám giành lại sau khi chiếm Việt Nam Cộng Hòa ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Đảng cộng sản Việt Nam còn để mất thêm 7 vị trí đá, đảo chiến lược ở Trường Sa từ ngày 14/3/1988 đến năm 1995 gồm Châu Viện, Chữ Thập, Ga Ven, Gạc Ma, Tư Nghĩa, Xu Bi và Vành Khăn  trong Quần đảo Trường Sa.  Sau Vành Khăn bị mất năm 1995, Việt Nam coi như mất luôn quyền kiểm soát  bãi Cỏ Mây, một rạn san hô vòng thuộc cụm Bình Nguyên của quần đảo Trường Sa nằm về phía đông nam của đá Vành Khăn. Hiện bãiCỏ Mây đang bị tranh chấp giữa Phi Luât Tân và Trung Quốc.

Ngoài ra, Đài Loan cũng đã chiếm đảo Ba Bình (Itu Aba Island), lớn nhất ở Trường Sa từ sau năm 1956. Đảo này có diện tích  tối đa 0,4896 cây số vuông với chiều  dài 1.400 mét, rộng 379 mét. Có tài liệu nói Đài Loan đã chính thức đem quân đội và dân cư  đến sống và bảo vệ  đảo từ năm 1971.

Như vậy, cho đến nay, Trung Quốc và Đài Loan đã chiếm 9 đảo và đá của Việt Nam thuộc Trường Sa. Trong khi đó, theo tài liệu của Bách khoa toàn thư mở thì Việt Nam đang thực thi chủ quyền hợp pháp tại 21 điểm đảo.  Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ đã chia thành thành 2 nhóm đảo, tuyến Bắc Trường Sa và Nam Trường Sa.

Ông nói : "Các đảo Bắc Trường Sa mà Việt Nam đang canh giữ, thực thi chủ quyền gồm 10 đảo, đá lực lượng sau: Song Tử Tây, Đá Nam, Đá Thị, Sơn Ca, Nam Yết, Len Đao, Cô Lin, Sinh Tồn, Sinh Tồn Đông, Đá Lớn. Các đảo Phía Nam Trường Sa mà Việt Nam đang bảo vệ gồm 11 đảo, đá sau: Trường Sa,Trường Sa Đông, An Bang, Phan Vinh, Thuyền Chài, Tiên Nữ, Núi Le, Tốc Tan, Đá Tây, Đá Đông, Đá Lát" (theo Infonet).

Cuối cùng, bài viết của Bộ Ngoại giao Việt Nam kết luận : "Nhìn chung, năm 2021 chưa hội tủ đủ các yếu tố để tình hình sáng sủa hơn, Biển Đông chưa thể sớm bình lặng. Giải quyết tranh chấp chủ quyền là công việc phức tạp, lâu dài, cần sự kiên trì, nỗ lực của tất cả các bên, cả trong và ngoài khu vực. Cần đề cao chủ nghĩa đa phương, hợp tác, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế rộng rãi về thiết lập và tuân thủ một trật tự dựa trên luật pháp, luật lệ, giá trị chung và lợi ích chung".

Tác giả bài viết kêu gọi : "Kiềm chế và chủ động phòng tránh nguy cơ đụng độ không mong muốn trên biển. Đi đôi với hợp tác, cần đấu tranh để xây dựng một cơ chế giám sát có hiệu quả và giải quyết tranh chấp bắt buộc nhằm ổn định tình hình Biển Đông".

Nhưng ai giám sát ai khi mà mỗi nước trong khối 10 quốc gia ASEAN ( the Association of South East Asia Nations, Hiệp hội các nước Đông Nam Á) đều có quyền lợi riêng với Trung Quốc.  Bằng chứng cho đền nay, ASEAN và Trung Quốc vẫn còn xa mặt cách lòng trong việc thành hình quy ước COC (Code of Conduct) để kiềm chế các hoạt động gây hấn ở Biển Đông của Bắc Kinh.

Điều này đã được Bộ Ngoại giao Việt Nam nhìn nhận : "Đàm phán COC khó có thể kết thúc trong năm 2021 như tuyên bố của Trung Quốc, do độ chênh lớn về yêu sách chủ quyền".

Vì vậy, bài viết của Bộ Ngoại giao đã nhận ra chủ trương Biển Đông của Trung Quốc  trong năm 2021 vẫn là "Trung Quốc về cơ bản vẫn tiếp tục "đa chiến pháp", nhịp độ khi căng, khi chùng, nhưng tổng thể vẫn là hành động kiên quyết, cứng rắn. Nếu nội bộ không có đột biến và áp lực bên ngoài chưa đủ độ (là khả năng hiện hữu), thì Trung Quốc không, hoặc khó nhượng bộ".

Với viễn ảnh u tối này, Đảng và Nhà nước Đảng cộng sản Việt Nam đã làm gì để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, hay chỉ biết há miệng chờ sung rụng ?

Phạm Trần

(04/03/2021)

Published in Diễn đàn

Ra Luật Hải cảnh – Trung Quốc đuổi quân đội Việt Nam vào bờ

Hoàng Trung, Thoibao.de, 21/02/2021

Luật Hải cảnh mới cho phép tàu hải giám bắn tàu bè nước ngoài do Quốc hội Trung Quốc thông qua hôm 22/01/2021, chỉ vài ngày trước khi Đảng cộng sản Việt Nam tổ chức Đại hội 13, được giới quan sát quốc tế đánh giá là biện pháp mà Trung Quốc dùng vũ lực để khẳng định mình là "ông chủ duy nhất" ở các vùng biển có tranh chấp đặc biệt là Biển Đông.

haicanh1

Tàu hải cảnh Trung Quốc - Ảnh minh họa

RFI dẫn lời của nhà nghiên cứu người Pháp Laurent Gédéon, Trường Sư phạm Lyon (ENS de Lyon) nhận định đây là "một mối nguy hiểm cho các nước có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc".

Học giả này phân tích :

Về mặt chính thức, Bắc Kinh nói rằng Luật Hải cảnh nhằm mục đích bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh và các quyền hàng hải của Trung Quốc. Theo quan điểm của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, luật hoàn toàn phù hợp với các công ước và thông lệ quốc tế.

Tuy nhiên, nếu nhìn vào những gì được nêu trong 84 điều, được chia thành 11 chương, và cho dù luật cố định nghĩa chính xác bộ khung pháp lý can thiệp của lực lượng Hải cảnh Trung Quốc, thì vấn đề đặt ra là luật này vẫn không nêu rõ đâu là những vùng biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Thực vậy, người ta có thể thấy không gian này được nhắc trong điều 3. Điều này ghi : Luật được áp dụng đối với các hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển và ở phía trong và trên vùng biển nằm trong quyền tài phán của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Nhưng khu vực này lại không được nêu cụ thể.

Nhà nghiên cứu nhấn mạnh đến mưu đồ của Trung Quốc là qua luật này cũng như một số luật trước đó trong đó có "Luật lãnh hải và vùng tiếp giáp" năm 1992, Trung Quốc gia tăng áp lực pháp lý lên vùng biển tranh chấp cụ thể là nhằm mục đích củng cố tính hợp pháp trên thực địa những đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc, kể cả ở Biển Đông, bởi vì luật cũng đề cập rõ đến các đảo và đá ngầm.

Cụ thể, điều 12 ghi rằng Cảnh sát biển có thể tiến hành tuần tra để bảo vệ các đảo và đá ngầm và quản lý biên giới trên biển. Vẫn điều 12 quy định rằng lực lượng Cảnh sát biển có thể đưa ra những biện pháp cần thiết để bảo vệ an ninh cho các đảo và đá ngầm, cũng như các đảo nhân tạo và các công trình cơ sở hạ tầng. Điều đáng chú ý ở đây là các đảo nhân tạo nằm ở Biển Đông và không nằm trong vùng biển của Trung Quốc.

Vì thế, có thể thấy là luật này nhắm đến mục đích tăng tính pháp lý cho sự hiện diện của Trung Quốc ở Biển Đông, làm dày thêm kho tài liệu pháp lý của Trung Quốc về khu vực này và có khả năng dẫn đến thay đổi quyền tài phán liên quan đến Biển Đông được quy định theo luật pháp quốc tế. Tóm lại, đây là đích ngắm trong trung hạn ẩn sau kế hoạch này.

Trên một khía cạnh khác, Luật Hải cảnh còn biến một lực lượng có nhiệm vụ trị an, tìm kiếm cứu nạn, lực lượng Cảnh sát biển trở thành một công cụ hăm dọa của quân đội Trung Quốc, ép các nước láng giềng tuân thủ quy tắc do họ đặt ra nếu không muốn lĩnh hậu quả.

Nhà nghiên cứu người Pháp đánh giá đây là một sự nguy hiểm khác.

Quy chế của lực lượng hải cảnh Trung Quốc rất mập mờ.

Trên thực tế, đây là một lực lượng bán quân sự hơn là một cơ cấu cảnh sát.

Cảnh sát biển Trung Quốc, từng là một nhánh của Tổng cục Hải dương Quốc gia vào năm 2013, hiện nằm dưới sự quản lý của Quân ủy Trung ương do ông Tập Cận Bình làm chủ tịch.

Nhưng lực lượng này lại không được coi là một phần của Hải quân Trung Quốc. Và điều này cho phép lực lượng hải cảnh tiến hành những chiến dịch mà nếu do các tầu chiến đảm nhiệm thì có nguy cơ dẫn đến các cuộc đối đầu vũ trang.

Vì vậy việc sử dụng lực lượng này mang mục đích chính trị. Trung Quốc để quy chế mập mờ, nước đôi của lực lượng Cảnh sát biển vì điều đó cho phép Bắc Kinh giữ được thế mạnh trên thực địa mà vẫn tránh được các mâu thuẫn.

Từ những yếu tố trên, nhà nghiên cứu nhận định Cảnh sát biển Trung Quốc là một mối nguy hiểm tiềm tàng cho các nước láng giềng vì nó cho phép Trung Quốc chiếm ưu thế trên thực địa mà vẫn có thể tránh được đối đầu trực diện với các nước trong vùng.

Hơn nữa, ngoài nhiệm vụ áp dụng luật của Nhà nước trong các vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc, với luật mới này, Hải cảnh Trung Quốc có thêm chức năng địa – chính trị mới nhờ vào quyền hạn được trao cho lực lượng này về mặt pháp lý, trong đó có việc được phép can thiệp chống tầu thuyền nước ngoài và sử dụng vũ lực nếu cần thiết.

Những điều khoản liên quan đến tầu thuyền nước ngoài gồm có điều 7, 20 và 21, quy định rằng Cảnh sát biển Trung Quốc có quyền tiến hành các biện pháp cảnh cáo, kiểm tra để bắt giữ tầu quân sự nước ngoài.

Họ có quyền bắt các tầu nước ngoài rời khỏi những khu vực hoặc vùng biển có tranh chấp.

Họ cũng có quyền sử dụng vũ lực. Việc này được nêu trong các điều 22, 47 và 48. Theo ba điều này, Hải cảnh Trung Quốc được phép sử dụng vũ khí cầm tay, vũ khí được phóng từ tầu và hoặc từ trên không.

Bên cạnh đó, việc sử dụng vũ khí được trang bị trên tầu, hoặc phóng từ trên không cho thấy khả năng sử dụng vũ khí hạng nặng hơn, có tính chất hủy diệt hơn của lực lượng Cảnh sát biển Trung Quốc.

haicanh2

Tàu Hải cảnh 3901 của Trung Quốc trong lần xâm phạm chủ quyền Việt Nam vào năm 2019

Qua đó có thể thấy là nhiều loại vũ khí không được trang bị cho Hải cảnh Trung Quốc nhưng lực lượng này lại có thể dùng đến để đối phó hiệu quả hơn với tầu thuyền nước ngoài, trong đó có lực lượng Hải quân Mỹ.

Cảnh sát biển Trung Quốc là lực lượng Hải cảnh lớn nhất thế giới và có nhiều tầu nhất, từ 400 đến 500 tầu. Hải cảnh Trung Quốc cũng có những con tầu mạnh nhất thế giới trong đội tầu kiểu này.

Ví dụ, vào năm 2017 hai con tầu lớn nhất của Hải cảnh thế giới đã được bổ sung vào lực lượng này. Đó là những con tầu có lượng giãn nước tới 12.000 tấn và có tốc độ rất cao.

Người ta cũng nhận thấy là đội tầu Hải cảnh Trung Quốc còn có nhiều tầu thực ra được chuyển từ Hải quân của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc sang. Có nghĩa là đó là những con tầu chiến được tái bổ sung vào lực lượng Hải cảnh với chức năng được mở rộng, như chúng ta đề cập ở trên, và một số điểm trong phần nhiệm vụ của lực lượng này thực ra phải thuộc về Hải quân.

Do đó, chúng ta có thể thấy là chức năng của lực lượng Hải cảnh Trung Quốc vừa mơ hồ, vừa nhập nhằng, đặc biệt theo những chi tiết trên, thì đó là một đội tầu mang tính quân sự nhiều hơn.

Liên quan đến mối đe dọa từ Luật Hải cảnh cũng như lực lượng Hải cảnh Trung Quốc đối với Việt Nam và ngư dân Việt Nam, học giả người Pháp phân tích :

Khó khăn đầu tiên cho Việt Nam là ở chỗ thiếu sự rõ ràng trong hành động của Trung Quốc và tính mập mờ trong cách diễn giải về không gian có thể có liên quan đến việc áp dụng Luật Hải cảnh mới này. Vấn đề ở chỗ, tình huống không rõ ràng thì sẽ tăng nguy cơ tính toán sai lầm và như vậy sẽ tăng nguy cơ xảy ra sự cố.

Mối đe dọa thứ hai liên quan đến nội dung được đề cập trong điều 3 về việc áp dụng luật này ở trong và bên trên vùng biển.

haicanh3

Tàu cá của ngư dân ở Quảng Ngãi bị hư hỏng nặng nề sau khi bị tàu Trung Quốc tấn công hồi tháng 06/2020

Điều này ngụ ý rằng khi làm nhiệm vụ, Hải cảnh Trung Quốc chú ý đến cả không phận phía trên vùng biển. Đây là điểm gây lo ngại về khả năng Bắc Kinh gấp rút thiết lập vùng nhận dạng phòng không trên Biển Đông. Như vậy, Hải cảnh Trung Quốc có thêm nhiệm vụ áp dụng luật trong khu vực này.

Điểm thứ ba đáng lo ngại là nội dung được ghi trong điều 12, theo đó Cảnh sát biển Trung Quốc giám sát, kiểm tra các hoạt động bất kể đó là hoạt động nuôi, khai thác hải sản hay đánh bắt. Dĩ nhiên, đây là điểm gây lo ngại vì chúng ta biết rằng một phần sự cố giữa Trung Quốc và Việt Nam liên quan đến hoạt động của các tầu cá.

Việt Nam hiện phải đối phó với sức ép từ Trung Quốc. Hà Nội có thể phản ứng qua đường ngoại giao bởi vì nhiều nước khác đã lên tiếng phản đối Luật Hải cảnh của Trung Quốc, như Nhật Bản, Philippines, Malaysia. Việt Nam có thể thử theo lập trường của những nước này và cùng đưa ra một lập trường chính thức chung, có thể gây được chú ý trên thế giới và mang tính răn đe đối với Trung Quốc.

Nhưng song song đó, Việt Nam cũng có thể hợp tác với Trung Quốc bằng cách đề xuất tổ chức các cuộc diễn tập chung giữa lực lượng Hải cảnh hai nước theo hướng quản lý và dàn xếp các sự cố hoặc các trường hợp bất ngờ.

Tuy nhiên, trên thực tế, chính quyền cộng sản Việt Nam không có phản ứng gì đáng kể với việc Trung Quốc thông qua Luật Hải cảnh đe dọa trực tiếp đến sự an toàn tính mạng ngư dân Việt Nam cũng như chủ quyền trên Biển Đông của Việt Nam.

Đúng một tuần sau khi quốc vụ viện Trung Quốc thông qua Luật Hải cảnh cho phép hải cảnh bắn giết ngư dân Việt Nam trên biển Đông, chiều 29/01/2021 người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng mới công bố quan điểm của Hà Nội.

Chính quyền không hề lên tiếng phản đối hay lên án hành động côn đồ, xấc xược của người bạn vàng phương Bắc mà chỉ nhỏ nhẹ nhắc lại "chủ quyền của Việt Nam trên Hoàng Sa và Trường Sa là không thể tranh cãi".

Như bao lần khi nói về chủ quyền ở biển Đông, chính quyền Việt Nam luôn nhắc lại rằng :

"Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phù hợp với luật pháp quốc tế ; chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 và sẽ kiên quyết, kiên trì các biện pháp phù hợp với luật pháp quốc tế để bảo vệ các quyền hợp pháp, chính đáng đó".

Cho đến cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao hôm 04/02 được tổ chức theo hình thức trực tuyến, khi được đề nghị nêu quan điểm liên quan đến việc ngày 01/02 vừa qua, Luật Hải cảnh Trung Quốc bắt đầu có hiệu lực, người phát ngôn Lê Thị Thu Hằng cũng lặp lại những điều trên, không hề đề cập trực tiếp đến quan điểm của Việt Nam về văn bản pháp lý gây tranh luận này của Trung Quốc.

Facebooker Phan Nguyên bình luận :

"Tại sao Đảng cộng sản Việt Nam không lên án, không phản đối Trung Quốc, không làm như Philippines mà luôn luôn chỉ đưa bà Hằng ra khẳng định điều này điều kia một cách chiếu lệ ? Quốc thể Việt Nam đâu rồi ? Tại sao Trung Quốc dọa – và đã từng thực hiện hành vi bắn giết ngư dân Việt Nam nhiều lần dù chưa có luật hải cảnh – giết dân mình mà chỉ lên tiếng vừa trễ, vừa chiếu lệ mà chắc chắn Trung Quốc sẽ để ngoài tai.

Hơn hết, tại sao nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam chưa bao giờ cho ngư dân Việt Nam có cảm giác là mình được Chính phủ và Hải quân đất nước mình bảo vệ, ngoài việc khoe phát hàng vạn lá cờ ?

Ai là người có nhiệm vụ bảo vệ tính mạng và tài sản cho ngư dân nếu không phải là chính quyền và quân đội ?

Việc này vừa khôi hài vừa tàn nhẫn".

Hoàng Trung (tổng hợp)

Nguồn : Thoibao.de, 21/02/2021

***********************

Việt Nam trước lời hứa của Trung Quốc không áp dụng Luật Hải cảnh đối với Philippines ?

Thanh Trúc, RFA, 20/02/2021

Sau khi Philippines gởi công hàm phản đối Luật Hải cảnh được Quốc Vụ Viện Trung Quốc thông qua hôm 22/1/2021, cho phép tàu hải cảnh Trung Quốc quyền nổ súng vào tàu nước ngoài lai vãng trong vùng biển mà Bắc Kinh đòi chủ quyền, vào ngày 16/2 Trung Quốc tuyên bố không áp dụng luật này đối với Philippines.

haicanh1

Tàu hải cảnh của Trung Quốc truy đuổi tàu cảnh sát biển Việt Nam (không có trong hình) gần giàn khoan HD 981 ở Biển Đông hôm 15/7/2014 - Reuters

Tin được đại sứ Philippines ở Trung Quốc, ông Chito Sta Romania, loan báo trong buổi họp báo hôm 16/2 tại Manila. Ông nói rằng ông được phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao và cả Ngoại trưởng Trung Quốc cam kết rằng Luật Hải cảnh này không nhắm vào Philippines hay bất cứ một đất nước nào khác.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh hôm 22/1 cũng nói rằng luật mới được thông qua của Trung Quốc hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế. 

Tại Việt Nam ngày 29/1, phát biểu liên quan đến Luật Hải cảnh của Trung Quốc trên Biển Đông, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nói với báo chí rằng "Việt Nam yêu cầu các nước liên quan tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông, thiện chí thực thi luật pháp quốc tế, UNCLOS, không hành động làm gia tăng căng thẳng và tích cực đóng góp cho sự hòa bình, ổn định ở khu vực Biển Đông".

Theo nhà nghiên cứu Biển Đông, Thạc sĩ luật Hoàng Việt, lời hứa không dùng Luật Hải cảnh với Philippines có 2 hàm ý gần xa liên quan tới Việt Nam mà Trung Quốc muốn gián tiếp bày tỏ :

"Trung Quốc đang tìm cách như là muốn cô lập Việt Nam. Quan hệ Việt Nam Trung Quốc những năm gần đây càng xa rời nhau. Cụ thể tháng 10/2020 ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đi thăm 5 nước ASEAN không có Việt Nam. Đầu 2021 ông Vương Nghị đi tiếp 4 quốc gia ASEAN nhưng cũng không có Việt Nam. Việt Nam là nước ASEAN duy nhất mà ông Vương Nghị không tới"

"Hàm ý thứ hai, lời nói của Trung Quốc có tin được hay không. Chủ tịch Trung Quốc từng hứa với Tổng thống Mỹ sẽ không quân sự hóa các đảo nhân tạo ở khu vực Trường Sa nhưng thực tế có như vậy không. Trung Quốc ít khi giữ lời hứa với nhiều quốc gia và thậm chí cả với Việt Nam. Chính vì vậy Philippines có tin được vào lời hứa không áp dụng Luật Hải cảnh mà Trung Quốc hứa hay không".

Thạc sĩ Hoàng Việt nói Việt Nam cần trình bày quan điểm một cách mạnh mẽ và cụ thể hơn thay vì cứ phát biểu chung chung như vậy. Với Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc thì Việt Nam phải làm gì để bảo vệ ngư dân, là câu hỏi mà thạc sĩ Hoàng Việt nêu ra :

"Về mặt lý thuyết Việt Nam vẫn nói cần nâng cao năng lực Cảnh sát biển để chống lại sự đe dọa từ Trung Quốc. Thực sự Hải cảnh Trung Quốc là lực lượng bán quân sự mà vũ trang còn mạnh hơn cả hải quân của một số quốc gia khác. Vì vậy rất khó có thể dùng lực lượng Cảnh sát biển nếu Trung Quốc xâm phạm vùng biển Việt Nam, đàn áp ngư dân Việt Nam cũng như các tàu thăm dò dầu khí trên vùng biển của Việt Nam".

Một nhà quan sát tình hình Biển Đông khác, nhà báo Đỗ Thông Minh đang sinh sống tại Nhật Bản, cho rằng giả sử Trung Quốc cũng hứa với Việt Nam y như đã hứa với Philippines thì cũng đừng lấy đó làm mừng vì :

"Trong quá khứ nhiều tàu cá Việt Nam đã bị Trung Quốc bắn (hoặc đâm chìm). Khi Trung Quốc đưa ra Luật Hải cảnh coi như là chính thức hóa chuyện có thể đụng độ. Quan hệ Philippines-Trung Quốc là mối quan hệ tế nhị, Tổng thống Duterte có thái độ khó khăn với Mỹ nhưng mềm mỏng với Trung Quốc, hai bên lại có thỏa thuận khai thác cá chung quanh quần đảo Hoàng Nhan (Scaborough)"

"Nhưng mọi lời nói có tính chất ngoại giao thì chỉ có giá trị nhất thời. Khi tình hình thay đổi hoặc khi có trường hợp ngoài dự tính thì có những chuyện không ngờ tới được. Trung Quốc nói gì thì nói chứ không có gì thực sự bảo đảm về lâu về dài hết".

Theo nguồn từ Kyodo News, Nhật Bản không loại trừ khả năng cho sử dụng vũ khí tại vùng lãnh hải quanh quần đảo Senkaku sau khi Luật Hải cảnh của Trung Quốc có hiệu lực từ ngày 1/2/2021.

haicanh2

Một tàu cá Việt Nam bị tàu Trung Quốc đâm chìm gần quần đảo Hoàng Sa hôm 29/5/2014. Reuters

Nhà báo Đỗ Thông Minh xác nhận tin được cục trưởng Cục Cảnh sát biển Nhật Bản loan báo ngày 18/2 vừa qua mà theo ông có thể khiến Việt Nam tự tin hơn trong việc đối phó với Hải Cảnh Trung Quốc :

"Quần đảo này Trung Quốc gọi là Điếu Ngư, ở phía Nam Okinawa cách bờ biển Phúc Kiến của Trung Quốc khoảng 300Km. Đôi khi có tình trạng căng thẳng nhưng chưa bao giờ có đụng độ. Mới đây Nhật Bản thông báo Trung Quốc cho lệnh nổ súng thì ngược lại Nhật Bản cũng có quyền nổ súng".

"Chuyện Nhật và Việt Nam hỗ trợ nhau trong vấn đề đối phó với Trung Quốc. Khi ông Shinzo Abe lên nắm quyền thủ tướng thì ông đi Việt Nam liền và hứa hẹn giúp cho Việt Nam từ vấn đề Cảnh sát biển. Hiện tại tàu Cảnh sát biển của Nhật có lẽ Việt Nam dùng nhiều nhất.Thứ nhì là những ca nô của Mỹ nhưng nhỏ hơn, còn Nhật thì đưa cho Việt Nam tàu lớn hơn cả cũ và mới". 

Việt Nam vẫn có thể khởi kiện Trung Quốc như Philippines trong tình thế cam go thường xuyên do Bắc Kinh tiếp tục gây ra trong hải phận Việt Nam, là lời nhà nghiên cứu Hoàng Việt : 

"Theo tôi cũng như một số các chuyên gia thì Việt Nam vẫn có thể sử dụng biện pháp hòa bình, đó là đưa vấn đề ra trước một Tòa Án Quốc Tế, cụ thể là Tòa Trọng Tài Quốc Tế như Philippines đã làm năm 2013 và được phán quyết năm 2016. Ngoài ra nếu Việt Nam đưa vấn đề này ra Tòa thì để xem Tòa giải quyết là Hải Cảnh Trung Quốc có thẩm quyền trên khu vực biển của Việt Nam hay không".

Chắc chắn Tòa Quốc Tế sẽ giải quyết như đã thụ lý hồ sơ kiện Trung Quốc của Philippines, Thạc sĩ Hoàng Việt nhấn mạnh. Giải quyết được tới đâu thì Việt Nam sẽ nương theo mối quan hệ đang tăng trưởng tới đó với Mỹ, Nhật, Australia vân vân để các nước này giúp đưa phán quyết của Tòa vào áp dụng thực tế. 

Thanh Trúc

Nguồn : RFA, 20/02/2021

Published in Diễn đàn

"Quyến rũ" Đông Nam Á trở lại

Việc Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị tiến hành chuyến thăm một loạt quốc gia Đông Nam Á trong tuần qua báo hiệu sự trở lại của chiến lược tấn công quyến rũ của Trung Quốc. Lợi ích địa chính trị và kinh tế đang thúc đẩy Trung Quốc đầu tư nhiều hơn vào một chiến lược ngoại giao láng giềng.

vntq1

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc bắt tay Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ở Bắc Kinh hôm 25/4/2019 - Reuters

Sự thù địch giữa Trung Quốc và Mỹ tiếp tục có dấu hiệu "tăng nhiệt". Cuộc gặp giữa ngoại trưởng các nước Bộ Tứ (Mỹ, Australia, Nhật Bản và Ấn Độ) tại Tokyo cách đây không lâu đã gây sức ép ngày càng lớn đối với Bắc Kinh. Năm 2019, Châu Âu miêu tả Trung Quốc là "đối thủ kinh tế" và "kẻ thù hệ thống". Tháng 9/2020, Anh, Pháp và Đức đã cùng Mỹ và Australia bác bỏ những yêu sách biển quá đáng của Trung Quốc ở Biển Đông. Cùng lúc đó, Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) lại vượt qua Liên Hiệp Châu Âu để trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong năm 2020.

Căng thẳng ngoại giao với các cường quốc khác và tầm quan trọng kinh tế ngày càng tăng của ASEAN đối với Trung Quốc có thể là động lực để Bắc Kinh thúc đẩy chính sách ngoại giao láng giềng trở thành ưu tiên hàng đầu. Bị kìm kẹp ở phía Bắc và phía Tây, Trung Quốc sẽ hướng về phía Nam và phía Đông. Để làm được điều này, Trung Quốc đặt ra một số mục tiêu :

1) ngăn chặn những nỗ lực của phương Tây nhằm xây dựng một liên minh thù địch bên trong phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc ;

2) làm cho tranh chấp Biển Đông chỉ là vấn đề nội bộ giữa các quốc gia tranh chấp, hoặc cùng lắm là giữa Trung Quốc với ASEAN ;

3) ngăn chặn ASEAN nghe theo lời kêu gọi của Mỹ hạ lệnh cấm đối với các công ty công nghệ và công ty xây dựng cơ sở hạ tầng của Trung Quốc ;

4) đảm bảo sự liên tục của các dự án "Vành đai và Con đường" ; và

5) mở rộng hợp tác kinh tế.

Ở chiều ngược lại, những mục tiêu này tạo ra cơ hội cho các quốc gia trong khu vực như Việt Nam nếu những quốc gia đó giữ được sự tự chủ chiến lược trong bối cảnh cục diện địa chính trị ngày càng bị phân cực như hiện nay.

Nhằm thoát khỏi sự bao vây, cô lập

Việc cải thiện quan hệ với ASEAN sẽ là yếu tố quyết định nếu Bắc Kinh muốn tránh tình trạng "tứ bề thọ địch". Cho dù kết quả cuộc bầu cử ở Mỹ vào tháng 11 tới như thế nào thì cạnh tranh giữa các cường quốc vẫn sẽ luôn tồn tại. Dù Trump thắng hay Biden thắng, chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương vẫn sẽ được duy trì. Tương tự, các tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp biển giữa Trung Quốc với Ấn Độ và Nhật Bản sẽ vẫn là một nhân tố gây khó chịu trong mối quan hệ giữa Bắc Kinh với những "gã khổng lồ" láng giềng Châu Á.

vntq2

Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị và Ngoại trưởng Malaysia Hishammuddin Hussein (phải) ở Kuala Lumpur, Malaysia hôm 13/10/2020 AFP

Tuy nhiên, việc tạo ra một "NATO của Châu Á" sẽ hoàn toàn làm thay đổi cán cân quyền lực khu vực. Ngay cả những lời kêu gọi thành lập một tổ chức như vậy cũng đủ đẩy cảm giác bất an của Bắc Kinh lên một cấp độ mới. Do đó, việc Trung Quốc hướng về ASEAN có thể đồng nghĩa với việc Bắc Kinh muốn ngăn chặn khả năng khối này tham gia Bộ Tứ mở rộng, vốn có thể trở thành hạt nhân của NATO Châu Á. Nhìn từ góc độ như vậy, chúng ta sẽ thấy không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên khi Bộ trưởng Quốc phòng Ngụy Phượng Hòa thăm các nước trong khu vực hồi tháng 9 và Ngoại trưởng Vương Nghị quyết định bỏ qua Việt Nam trong chuyến công du của mình bất chấp việc Việt Nam là chủ tịch ASEAN trong năm nay do Hà Nội đang có xu hướng tham gia "Bộ Tứ +".

Ngoài ra, khi nhận ra cách mà vấn đề tranh chấp Biển Đông tiếp tục ảnh hưởng xấu tới mối quan hệ với những nước láng giềng phía Nam, Trung Quốc đã kêu gọi sớm nối lại vòng đàm phán về bộ Quy tắc Ứng xử tại Biển Đông (COC). Việc tái cam kết đối với một cơ chế ASEAN-Trung Quốc như vậy cũng đồng nghĩa với việc ngăn chặn những động thái mà Trung Quốc coi là sự can thiệp của nước ngoài vào điểm nóng Biển Đông. Mặc dù vậy, việc Bắc Kinh tăng cường các hoạt động quân sự cùng việc đe doạ, ngăn cản các hoạt động khai thác dầu khí của các quốc gia thành viên ASEAN trên EEZ của họ sẽ tiếp tục vấp phải sự phản ứng của các nước khu vực Đông Nam Á cũng như các cường quốc bên ngoài. Điểm nóng Biển Đông sẽ tiếp tục là một "thùng thuốc súng" trong hoạt động ngoại giao ngoại vi của Trung Quốc và sẽ tiếp tục khiến nhiều cường quốc biển trên thế giới bất bình.

Việc Mỹ áp đặt lệnh cấm đối với tập đoàn công nghệ Huawei và các công ty xây dựng Trung Quốc cũng như kêu gọi các quốc gia khác làm theo đã tác động không nhỏ tới những dự án của Trung Quốc tại Đông Nam Á, khu vực địa lý chiến lược đối với sáng kiến "Vành đai và Con đường". Do đó, Bắc Kinh sẽ cố gắng xoa xịu những lo lắng trong khu vực này và đảm bảo thực hiện các dự án đã cam kết.

Khi ASEAN tiếp tục thu hút vốn đầu tư quốc tế và giảm dần sự phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc, Bắc Kinh hiểu rằng điều này có thể làm "loãng" tầm ảnh hưởng kinh tế của họ đối với ASEAN. "Củ cả rốt kinh tế" như vậy có thể được sử dụng như một quân bài lôi kéo các nước khu vực rời xa nước láng giềng lớn phương Bắc. Do đó, việc đẩy mạnh thương mại và đầu tư trong khu vực có ý nghĩa quan trọng hơn cả việc nắm bắt những cơ hội kinh tế ngay cả vào thời điểm suy thoái kinh tế hiện nay. Làm như vậy sẽ giúp duy trì "đòn bẩy" chủ đạo đối với tầm ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực chiến lược và đầy năng động này.

Mong muốn của ASEAN

Đối với ASEAN, gác lại các bất đồng và thúc đẩy hợp tác nhằm chống lại đại dịch và thúc đẩy quá trình phục hồi kinh tế vẫn là ưu tiên số 1 hiện nay. Cùng với Brazil, Mexico, Saudi Arabia, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE), Bahrain và hơn 10 quốc gia khác, Indonesia đang tham gia thử nghiệm ở cấp độ mới đối với chủng loại vắc-xin Covid-19 do Trung Quốc chế tạo. Malaysia và Thái Lan cũng thể hiện mong muốn hợp tác cùng Bắc Kinh trong quá trình phát triển vắc-xin. Trong bài phát biểu gần đây trước Đại hội đồng Liên hợp quốc, Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte, Tổng thống Indonesia JokoWidodo và Thủ tướng Malaysia Muhyiddin Yassin đã kêu gọi phát triển vắc-xin giá rẻ cho mọi người, đặc biệt là cho các quốc gia đang phát triển.

vntq3

Vaccine phòng chống Covid-19 do hãng Sinovac Biotech của Trung Quốc sản xuất hiện đang được thử nghiệm AFP

ASEAN vẫn luôn mở cửa đối với những dự án kết nối mà các quốc gia khác đề xướng. Ngoại trừ Manila, lời kêu gọi của Washington nhằm áp đặt lệnh cấm đối với các công ty xây dựng Trung Quốc đều không nhận được hưởng ứng nào từ hầu hết các quốc gia trong khu vực. Ngay cả trong trường hợp của Philippines, chính quyền Manila nhanh chóng khẳng định rằng các dự án của Trung Quốc sẽ còn tiếp diễn và quyết định này đã gây "tiếng vang" cho cả khu vực. Các dự án lớn được tài trợ bởi Trung Quốc như hệ thống đường sắt Jakarta-Bandung (Indonesia), đường sắt kết nối bờ Đông (Malaysia), đường sắt Trung Quốc-Lào và đường cao tốc Phnom Penh-Sihanoukville (Campuchia) tiếp tục được triển khai mạnh mẽ bất chấp đại dịch đầu năm nay.

Việt Nam cần làm gì ?

Việt Nam đang bước vào thời kỳ chuẩn bị cho Đại hội Đảng lần thứ 13. Đại hội kỳ này sẽ là kỳ đại hội quan trọng, bởi vì nó diễn ra trong bối cảnh thế giới đang trong thời gian biến động lớn.

Là quốc gia giàu tài nguyên, có dân số trẻ lớn thứ 3 ở Đông Nam Á, có quân đội thực chiến bậc nhất ở Châu Á, có vị trí địa chiến lược cực kỳ quan trọng, Việt Nam được xem như "lực lượng trấn giữ con đường Nam tiến cả trên bộ và trên biển của Trung Quốc", vì vậy, Trung Quốc luôn coi Việt Nam là đối thủ tranh đoạt, kiềm chế, kiểm soát của mình.

Chính sách đối ngoại chủ đạo của Trung Quốc với Việt Nam sẽ là vừa cân bằng vừa can dự, vừa kiềm chế, vừa lôi kéo. Mục tiêu trong quan hệ với Việt Nam nhằm không để Việt Nam có thể mạnh lên, thoát khỏi sự chi phối của Trung Quốc, nhưng cũng không để Việt Nam quá bất mãn, tìm đến các liên kết chống lại Trung Quốc. Nhìn chung, chính sách cơ bản của Trung Quốc với Việt Nam có thể đi theo các hướng sau :

Thứ nhất, hòa dịu với Việt Nam, để tránh quan hệ căng thẳng xấu thêm, gia tăng các hoạt động trao đổi ngoại giao cả thượng đỉnh và các cấp.

Thứ hai, tăng cường hợp tác trên mọi phương diện đặc biệt là kinh tế, giao thương buôn bán nhằm dùng lợi ích kinh tế đưa Việt Nam vào quỹ đạo của Trung Quốc, ít nhất đảm bảo Việt Nam giữ thế trung lập giữa Trung Quốc và Mỹ.

Trong tình hình này, Việt Nam vẫn đang cố gắng duy trì thế "cân bằng" giữa Mỹ và Trung Quốc. Việt Nam cần tránh việc đi với bên này để chống bên kia. Tuy nhiên, Việt Nam phải xác định rõ Trung Quốc thực chất là đối tượng đối phó của Việt Nam, đặc biệt với tham vọng trên biển Đông của Bắc Kinh ; Mỹ đang là đối tác tích cực của Việt nam. Mặc dù Việt Nam không có ý định chống lại Trung Quốc, nhưng không được để Trung Quốc sử dụng con bài "ý thức hệ", dùng quan hệ hai đảng để ru ngủ, vỗ về, nhưng trong thực địa thì tìm cách chiếm đoạt biển đảo. Các lãnh đạo Việt Nam cần nhận biết rõ ai là bạn, ai là thù trong thời điểm này, và phải đặt lợi ích của đất nước, dân tộc lên trên các mối quan hệ đảng phái.

Đỗ Thanh Long

Nguồn : RFA, 20/10/2020

Published in Diễn đàn

Đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa lớn nhất của Nam Việt Nam những năm trước 1975 và sau này, đây là vựa lúa của cả nước, đồng thời là nơi dự trữ sinh quyển lớn nhất Việt Nam bởi đồng bằng sông Hồng có nguy cơ già cỗi vì bê tông hóa và dân cư quá đông đúc. Và điều này ngày càng hiện rõ nét hơn khi đồng bằng sông Hồng đang thiếu trầm trọng diện tích đất sản xuất, nhu cầu xây dựng quá cao, mật độ dân cư phát triển cao nhất trên cả nước và sản lượng lúa, gạo hằng năm sụt giảm đáng kể, chỉ xấp xỉ ngang với vựa lúa Tuy Hòa, Phú Yên ở miền Trung.

song1

Mực nước sông Hồng xuống thấp kéo theo sự sụt lún đất nền ở Hà Nội

Câu chuyện an ninh lương thực của Việt Nam ngày càng trở nên trầm trọng bởi thời gian gần đây, hầu như nguồn xuất khẩu gạo chủ yếu của Việt Nam lại là Trung Quốc, giá gạo Việt Nam phụ thuộc rất nặng vào Trung Quốc và điều này dẫn đến hệ lụy là người nông dân đồng bằng sông Cửu Long phải phụ thuộc vào thanh biểu kế giá lúa từ Trung Quốc. Trong khi đó, một mặt Trung Quốc thâu tóm gạo Việt Nam bằng các chiêu trò thao túng, đẩy giá, hạ giá, một mặt lại bóp chết đồng bằng sông Cửu Long bằng hàng loạt đập thủy điện thượng nguồn Mê Kông. Kể từ lúc các đập thượng nguồn đi vào hoạt động, tích nước đến nay, đồng bằng sông Cửu Long rơi vào tình trạng chết khô nhiều nơi, hạn mặn nhiều nơi, và nguy cơ này càng lúc càng thêm nặng bởi hiện tượng nóng lên của vỏ trái đất, băng tan, mực nước biển dâng cao…

Với đà như hiện tại, chẳng bao lâu nữa, đồng bằng sông Cửu Long sẽ trở thành vùng chết, và khu dự trữ sinh quyển này sẽ bị mất dấu. Các đàn chim hồng hạc, chim cò, sếu, vạc, bồ nông… ở tràm chim đã bỏ đi gần hết, những rừng đước, sú, vẹt cũng chết dần chết mòn. Thực trạng đáng sợ nhất là các khu nhà hàng (mà khách du lịch Trung Quốc sang đây rất đông) với các món ăn đặc sản sông nước miền Tây đang chạy đua nước rút với nạn tuyệt chủng của một số loài thủy sản ở đây. Đặc biệt, nếu như nói về miệt Tây Nam Bộ ngày xưa chỉ cần mang rổ ra ruộng bắt một ít cá, tôm tép thì có thể có một bữa cơm ngon bất kỳ giờ nào… thì bây giờ, việc đó chỉ còn là ký ức, mùa cá linh èo ọp, mùa nước nổi hiếm hoi và thuốc trừ sâu Trung Quốc có mặt trên các đồng ruộng đã nhanh chóng tiêu diệt rất nhiều loài thủy sinh nơi đây.

song2

Đồng bằng sông Cửu Long đang hứng chịu trận hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng nhất từ gần 100 năm nay.

Tình trạng đồng bằng sông Cửu Long hiện tại, có thể mượn bản tin RFA để rõ :

"Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam ngày 7/10 thông báo mực nước lũ trong tháng 9 trên dòng chính sông Mekong ở mức thấp hơn rất nhiều so với trung bình nhiều năm và thấp hơn khá nhiều so với dòng chảy tháng 8/2020.

Truyền thông Nhà nước Việt Nam loan tin vào cùng ngày, dẫn thông báo của Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam rằng, do mực nước lũ trên dòng chính sông Mekong ở mức thấp, mực nước Biển Hồ mới chỉ đạt gần 5m, dung tích Biển Hồ chỉ đạt gần 14 tỷ m3, xấp xỉ 36% so với dung tích trung bình nhiều năm. Ngoài ra, mực nước tại hai trạm Tân Châu và Châu Đốc trong tháng 9 ở mức thấp hơn nhiều, chỉ khoảng hơn 2m và đây cũng là đỉnh lũ cao nhất từ đầu mùa lũ đến nay.

Dự báo thời gian đạt đỉnh lũ chính vụ vào ngày 18-22/10. Vào thời điểm này, ở vùng thượng Đồng bằng sông Cửu Long, các huyện đầu nguồn như huyện An Phú, Tân Châu của An Giang, huyện Hồng Ngự, thị xã Hồng Ngự và Tân Hồng của Đồng Tháp là khu vực chịu ảnh hưởng mạnh của lũ thượng nguồn.

Nhưng với mức lũ nhận định ở dưới báo động 1, hầu hết các ô bao bảo vệ sản xuất (lúa Thu Đông, cây ăn trái, nuôi trồng thủy sản…) cơ bản đều đủ cao trình.

Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam cũng cho hay lũ đến cuối tháng 9 vẫn ở mức thấp, triều cường đầu tháng 10 ở mức trung bình, triều cường đợt giữa tháng 10 ở mức cao hơn cùng kỳ năm 2019. Về cơ bản không ảnh hưởng đến sản xuất vụ thu đông năm 2020".

Ngược với miền Nam vốn trù mật, sầm uất, phồn thịnh và hào sảng một thời, giờ trở nên chộn rộn và khô khốc… thì miền Bắc, đồng bằng sông Hồng lại rơi vào tình trạng thừa nước mà thiếu đất. Nghĩa là hầu hết các tỉnh phía Bắc luôn bị ngập lụt, lũ quét, ngập úng trong thời gian gần đây. Một phần do nguyên nhân mật độ dân số quá đông, quá trình bê tông hóa quá nhanh, phần khác do lũ thượng nguồn sông Hồng và các con sông có đầu nguồn ở Trung Quốc liên tục đổ xuống vào mùa mưa. Bởi mùa nắng, lượng nước bị tích tụ cho mục đích thủy điện phía Trung Quốc, đến khi mùa mưa kéo về, mực nước lên nhanh và người ta cứu đập bằng cách xả nước vô tội vạ. Hệ quả là mùa nắng, đồng bằng sông Hồng thiếu nước, nguồn nước sinh hoạt bị ô nhiễm, tới mùa mưa thì ngập úng.

Nói cho cùng thì an ninh lương thực của miền Bắc hiện tại đang ở tình trạng báo động bởi mùa màng, sinh hoạt sản xuất và nông sản bị phụ thuộc quá nặng vào Trung Quốc, hay nói khác đi là thương lái Trung Quốc đã làm náo loạn thị trường nông sản phía Bắc. Trong khi đó, tình hình sản xuất lúa và an ninh lương thực của đồng bằng sông Hồng gần như mất ổn định và phải phụ thuộc không nhỏ vào nguồn gạo từ đồng bằng sông Cửu Long và vựa lúa Tuy Hòa ở miền Trung.

Và, tình trạng miền Trung, cũng theo RFA :

"Khu vực miền Trung trong 10 ngày tới phải đối chọi với những đợt mưa lũ liên tiếp, đặc biệt có những nơi mưa trên 1.000 mm.

Báo Nhà nước Việt Nam dẫn nội dung cuộc họp ứng phó với thiên tai nguy hiểm diễn ra ngày 7/10 và loan tin trong cùng ngày.

Theo lời ông Mai Văn Khiêm, Giám đốc Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia phát biểu tại buổi họp, một phân tích mới nhất vào sáng sớm cùng ngày cho thấy vùng áp thấp trên Biển Đông đạt mức ở cuối cấp 5 và ít khả năng mạnh lên.

Tuy nhiên, cần phải đặc biệt lưu ý vì có khả năng một áp thấp nhiệt đới đi vào Biển Đông vào ngày 13-14/10 trùng với thời điểm đang diễn ra mưa lũ đợt hai ở khu vực Trung bộ.

Bên cạnh đó, khu vực Trung bộ sẽ có mưa lớn kéo dài trong khoảng 10 ngày tới và chia làm hai đợt. Đợt một từ nay đến này 9/10, đợt hai từ ngày 12-14/10 với tổng lượng mưa hai đợt có thể lên tới 1.200 mm hoặc có nơi cao hơn.

Mưa kéo dài liên tục, tương đối lớn nên nguy cơ rất cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất, ngập lụt vùng trũng thấp và đô thị ở các tỉnh miền Trung.

Cũng tại buổi họp, ông Ngô Sơn Hải, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết hiện khu vực miền Trung, Tây Nguyên có 20 hồ chứa thuộc EVN và có thể trữ được nước mưa. Tuy nhiên, ông Hải cho hay nếu nước về hồ đầy, EVN sẽ cho xả theo quy trình vận hành.

Phó Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về Phòng chống thiên tai, ông Trần Quang Hoài lưu ý phía EVN cần rà soát phương án hạ du khi xả lũ vì có nhiều địa phương đồng loạt phản đối thủy điện xả lũ khiến tình trạng lũ chồng lũ từ bài học năm 2011.

Tại Quảng Nam, các địa phương trong tỉnh tiếp tục có mưa vừa đến mưa to, có nơi mưa rất to trong 24 đến 48 giờ tới. Tổng lượng mưa đến hết ngày 10/10 được dự đoán từ 300 – 500 mm, có nơi trên 600 mm. Dự báo sẽ có một đợt lũ xuất hiện trong 2-3 ngày tới.

Trong khi đó, ở Quảng Bình, Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn huyện Minh Hóa vào ngày 7/10 cho biết do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới trên địa bàn huyện này đang có mưa to khiến 1 số con sông, suối trên địa bàn dâng cao gây cô lập, chia cắt nhiều nơi khiến hàng ngàn học sinh phải nghỉ học.

Đài Khí tượng thủy văn tỉnh Đắk Lắk dự báo từ 13 giờ 7/10 đến 13 giờ 8/10, Đắk Lắk tiếp tục có mưa vừa đến mưa to, có nơi mưa rất to, trong mưa dông có khả năng xảy ra lốc, sét và gió giật mạnh. Đồng thời cũng cảnh báo nguy cơ cao xảy ra lũ quét, ngập úng cục bộ vùng trũng thấp, sạt lở vùng đất dốc".

Qua một bản tin tóm lược, đã thấy tình hình thời tiết, khí hậu miền Trung, thiên tai, nhân họa ngày càng nặng nề hơn.

Như vậy, quá trình bê tông hóa và biến đất nông nghiệp thành đất ở, bổ sung vào quĩ thổ cư trong thị trường bất động sản Việt Nam cũng một phần làm cho sự kiệt quệ của nền sản xuất lúa Việt Nam tăng tốc. Bên cạnh đó, quá trình Trung Quốc hóa nông nghiệp Việt Nam từ các loại thuốc hóa học trong sản xuất nông nghiệp, sử dụng nguồn giống gieo trồng và phụ thuộc vào Trung Quốc ở đầu ra nông sản, cộng với chủ mưu tích trữ nước, thao túng nguồn năng lượng quí hiếm này của Trung Quốc đã nhanh chóng đẩy an ninh lượng thực Việt Nam đến vạch báo động đỏ.

Và, để khắc phục tình trạng này, cứu lấy môi sinh Việt Nam mà cũng cứu một phần môi sinh thế giới, Việt Nam không còn lựa chọn nào khác ngoài việc loại bỏ Trung Quốc khỏi cuộc chơi kinh tế Việt Nam và làm lại từ đầu. Trước đây, nếu Việt Nam bỏ Trung Quốc sẽ dẫn đến tình trạng khủng hoảng kinh tế cục bộ bởi ngoài Trung Quốc bóp họng, chẳng nước nào thèm xắn tay vào bóp họng hay vịn vai Việt Nam. Còn bây giờ, anh em tiến bộ đến bá vai vịn cổ, chống lưng ngày càng nhiều, còn tiếc gì mà cứ chơi với đứa chuyên gia bóp họng người anh em chứ ? !

Viết từ Sài Gòn

Nguồn : RFA, 08/10/2020 (VietTuSaiGon's blog)

Published in Diễn đàn

Trung Quốc luôn luôn coi Biển Đông là "lợi ích cốt lõi", như Tân Cương, Tây Tạng, Đài Loan và sẽ dùng quân sự để chiếm toàn bộ khi có điều kiện, nhưng Việt Nam chưa biêt phải xoay xở ra sao, hay nương nhờ vào ai khi bị tấn công.

biendong1

Trung Quốc luôn luôn coi Biển Đông là "lợi ích cốt lõi" và sẽ dùng quân sự để chiếm toàn bộ khi có điều kiện

Đó là khẳng định đan xen băn khoăn đang lan rộng trong nội bộ Đảng cộng sản Việt Nam trước thềm Đại hội đảng XIII, diễn ra đầu tháng 01/2021.

Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nói ra tính "phức tạp" của tình hình Biển Đông trong bài viết ngày 31/08/2020, "Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới".

Ông nói : "Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng. Tại Đông Nam Á, môi trường an ninh, tình hình tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông tiếp tục diễn ra phức tạp".

Ông Trọng không nói ra chi tiết tình hình hiện tại ở Biển Đông phức tạp như thế nào, cũng như đã tránh chỉ đích danh Trung Quốc là nước duy nhất đã gây ra tình trạng bất ổn hiện nay.

Khối 10 nước của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of South East Asia Nations, ASEAN), trong đó có 5 nước tranh chấp chủ quyền biển đảo với Bắc Kinh gồm Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương và Brunei đã cáo buộc Trung Quốc không ngừng dọa nạt, tấn công và nuôi mưu đồ độc quyền chiếm trọn Biển Đông.

Các nước bên ngoài như Nhât Bản, Úc, Ấn Độ, khối Liên Hiệp Châu Âu và Hoa Kỳ cũng đã lên tiếng ủng hộ lập trường của khối ASEAN.

Bắc Kinh còn bị lên án tại nhiều diễn đàn Quốc tế đã gây ra sự bất ổn định ở Biển Đông từ Thế kỷ XX, khi các Lãnh đạo Trung Quốc liên tục tự nhận quyền làm chủ 85% vùng biển rộng trên 4 triệu cây số vuông từ thời Cổ đại.

Vì vậy, trong bài viết chủ tâm nói về "phương hướng, nhiệm vụ của nhiệm kỳ Đại hội XIII và giai đoạn sắp tới", công bố ngày 31/08/2020, ông Trọng đã, thêm lần nữa, báo động rằng : "Đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ còn phức tạp".

Ông nói : "Dự báo trong những năm tới, bối cảnh quốc tế, khu vực tiếp tục có nhiều thay đổi phức tạp, nhanh chóng, khó lường", vì vậy phải "Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa ; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những nhân tố bất lợi, nhất là những nhân tố có thể gây đột biến ; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch".

Sẵn sàng chưa ?

Người đứng đầu đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam đã vẽ ra đủ thứ hiểm họa và nêu lên ý tưởng chuẩn bị lực lương và khí tài để đối phó, nhưng trên thực tế, không có bằng chứng nào được nhìn thấy là Việt Nam đã sẵn sàng chiến đấu để thắng, nếu bị Trung Quốc tấn công, trên đất liền hay ở Biển Đông.

Thêm vào đó, cũng chưa thấy có kế hoạch học tập đại trào trong dân, tuyên truyền về hiểm họa Trung Quốc trên báo chí, truyền thông hay công tác chuẩn bị tinh thần "sẵn sàng chiến đấu, quyết chiến quyết thắng" trong lực lượng võ trang gồm Quân dội và Công an, lực lượng dân phòng về hiểm họa từ Bắc Kinh.

Mọi chuyện ở Việt Nam bây giờ, trước ngày khai mạc Đại hội đảng XIII, đều tập trung vào công tác nhân sự với hai việc cốt lõi là mọi người phải tuân thủ là :

1) "Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng" gồm kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương và chính sách của đảng.

2) "Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ".

Hai nhiệm vụ "then chốt của then chốt" (chữ của ông Nguyễn Phú Trọng) này, không có gì liên quan đến chuyện giữ nước và dựng nước mà chỉ có một mục đích duy nhất là bằng mọi cách phải bảo vệ quyền tiếp tục độc tôn lãnh đạo phản dân chủ của Đảng cộng sản Việt Nam.

Trong khi đó, Trung Quốc đã biến Hoàng Sa, chiếm từ tay quân đội Việt Nam Cộng Hòa tháng 1/1974, thành một thành phố thương mại và quốc phòng kiên cố với bến cảng và sân bay dùng cả cho dân sự lẫn quân sự. Bước sang năm 2020, Bắc Kinh cho biết quân đội của họ đã sẵn sàng cho phòng tuyến "nhận diện phòng không" (Air defense identification zone (ADIZ) hoạt động ở Biển Đông để kiểm soát lưu thông trên không, song song với việc dùng tầu hải giám và cánh sát biển để kiểm soát hải sản và tầu bè qua lại trên Biển Đông.

Tuy nhiên năm 2020 gần hết mà chưa thấy Bắc Kinh công bố thời điểm được đưa vào hoạt động chủ trương này. Hoa Kỳ, nước duy nhất có lực lượng hải quân hùng hậu lâu đời ở Châu Á-Thái Bình Dương, đã bác bỏ tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc.

Tuy nhiên, khối ASEAN, đặc biệt là Việt Nam, nước nhìn ra Biển Đông, đã tỏ ra rất lo ngại nếu Trung Quốc thi hành kế hoạch kiểm soát nguy hiểm này. Bởi vì, vùng trời và vùng biển đều có quyền lợi kinh tế như không lưu, vận chuyển hàng hải, khoáng sản, hơi đốt và các giàn khoan dầu cùng quốc phòng quan trọng của Việt Nam

Nên biết, để làm hậu phương cho kế hoạch chiếm trọn Biển Đông, Trung Quốc đã tân tạo và quân sự hóa xong 8 đá và bãi san hô trong vùng Trường Sa từ sau trận chiến ở Trường Sa với Hải quân Việt Nam năm 1988.

Các vị trí bị quân Trung Quốc chiếm gồm Châu Viện, Chữ Thập, Ga Ven, Gạc Ma, Tư Nghĩa, Xu Bi và Vành Khăn (mất năm 1995). Sau khi Vành Khăn mất, Việt Nam coi như mất luôn quyền kiểm soát bãi Cỏ Mây, một rạn san hô vòng thuộc cụm Bình Nguyên của quần đảo Trường Sa nằm về phía đông nam của đá Vành Khăn. Hiện bãi Cỏ Mây đang bị tranh chấp giữa Phi Luât Tân và Trung Quốc.

Phía Trung Quốc nói gì ?

Tuy nhiên, trong bài phát biểu viễn tuyến từ Bắc Kinh tới kỳ họp thứ 75 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc hôm 23/09/2020, Chủ tịch Trung Quốc, Tập Cận Bình, đã nhắc lại lập trường cũ của Trung Quốc về vấn đề tranh chấp với nước khác.

Ông nói : "Là nước đang phát triển lớn nhất thế giới, đi con đường phát triển hòa bình, phát triển cởi mở, phát triển hợp tác và phát triển chung. Trung Quốc mãi mãi không xưng bá, không bành trướng, không mưu cầu phạm vi thế lực, không có ý định Chiến tranh Lạnh hay Nóng với bất cứ nước nào, kiên trì hàn gắn bất đồng bằng đối thoại, giải quyết tranh chấp qua đàm hán", theo CRI (China Radio International-tiếng Việt).

Thông điệp của ông Tập là nhằm nói với Mỹ, vì cuộc chiến thương mại Trung-Mỹ đã tăng cao từ khi ông Donald Trump đắc cử Tổng thống năm 2016. Hai nước cũng đã căng thẳng ở Biển Đông, sau khi Ngoại trưởng Hoa Kỳ, Mike Pompeo lên án Trung Quốc đã đe dọa các nước nhỏ ở Đông Nam Á để dành phần lớn chủ quyền và nguồn tài nguyên ở Biển Đông.

Trong tuyên bố cứng rắn nhất của Mỹ từ trước đến nay, đưa ra ngày 13/07/2020, ông Pompeo đã nói : "Trung Quốc không có bất cứ quyền gì để áp đặt ý muốn của mình ở Biển Đông, cũng như không có căn bản pháp lý nào để dành quyền chủ quyền về Đường 9 Đoạn (hay còn gọi là đường Lưỡi bò) mà Bắc Kinh công bố năm 2009".

Người đứng đầu Bộ Ngoại giao Mỹ còn nhắc nhở Bắc Kinh rằng "yêu sách vô căn cứ của họ cũng đã bị Tòa hòa giải Quốc tế bác bỏ hoàn toàn ngày 12/07/2016 trong vụ kiện về đường 9 đoạn của Phi Luật Tân" (1).

Để kết luận, ông Pompeo nói thẳng với Trung Quốc : "Thế giới sẽ không cho phép Bắc Kinh coi Biển Đông là đế chế hàng hải của riêng mình. Hoa Kỳ sát cánh với các Đồng Minh và Đối tác ở Đông Nam Á để bảo vệ chủ quyền và các nguồn lợi ngoài khơi, phù hợp với lợi ích và nghĩa vụ theo luật pháp quốc tế".

Ngoại trưởng Hoa Kỳ nói (tạm dịch) : "Chúng tôi sát cánh với Cộng đồng thế giới trong việc bảo vệ tự do hàng hải và tôn trọng chủ quyền, đồng thời bác bỏ bất kỳ nỗ lực nào để áp đặt ý muốn của kẻ mạnh ở Biển Đông hay vùng rộng lớn hơn" (2).

Trong khi đó, các tướng lĩnh, học giả diều hâu của Trung Quốc và tờ Hoàn Cầu Thời báo, quản lý bởi Nhân dân Nhật báo, cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng cộng sản Trung Quốc, đã nhiều lần cảnh cáo nếu phải đánh Việt Nam để bảo vệ quyền lợi "cốt lõi" của Trung Quốc ở Biển Đông thì sẽ "dậy cho Việt Nam bài học thứ hai" khốc liệt hơn bài học thứ nhất năm 1979. Hồi đó Trung Quốc, dưới thời Đặng Tiểu Bình đã tung 600.000 quân có xe tăng và đại bác yểm trợ đánh vào 6 tỉnh miền biên giới Việt Nam gồm Lai Châu, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên và Quảng Ninh.

Sau 10 năm chiến tranh dai dẳng, nhưng không liên tục 2 lần (1979-1989), Trung Quốc bị tổn thất nặng, nhưng lại thắng về chiến lược là Đảng cộng sản Việt Nam đã biết sợ Trung Quốc, không còn dám quấy phá như trước năm 1979.

Vì vậy, hầu như để thể hiện sự quan tâm đặc biệt về tính nghiêm trọng của tình hình Biển Đông, Phó chủ tịch thường trực Hội đồng Lý luận trung ương Phùng Hữu Phú, đã tiết lộ vấn đề Biển Đông, là "điểm mới" được ghi vào Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIII.

Tại cuộc họp của Ban Tuyên giáo trung ương ngày 10/06/2020, ông Phú nhìn nhận : "Vấn đề Biển Đông vẫn là một thách thức rất lớn".

Ông nói : "Sau Covid-19, chúng ta đã thấy thái độ của Trung Quốc ở Biển Đông. Điều này khẳng định chắc chắn Trung Quốc không bao giờ từ bỏ ý đồ thao túng Biển Đông. Cao nhất là độc chiếm theo hình lưỡi bò. Không làm được thì ít nhất là kiểm soát, thao túng, khai thác. Vậy phải ứng phó thế nào ? Biển Đông không phải là câu chuyện ngày một, ngày hai mà là vấn đề lâu dài".

Ông được báo chí dẫn lời nói rằng : "Bảo vệ cho được độc lập chủ quyền nhưng không để xảy ra chiến tranh xung đột là bài toán hóc búa của thế hệ chúng ta và cả con em chúng ta".

Ông Phú, một trong 43 người của Hội đồng Lý luận trung ương còn cho rằng : "Dự báo tình hình trong văn kiện đại hội lần này có nhiều điểm mới, và phải tiếp tục được làm rõ để toàn Đảng, toàn dân thấy hết được thời cơ đang rất lớn ở phía trước nhưng khó khăn, thử thách cũng ngày càng gay gắt hơn".

(theo báo Thanh Niên Online, 11/06/2020)

Cũng nên biết, Hội đồng Lý luận tung ương là "cơ quan tham mưu cho Đảng về các vấn đề lý luận chính trị, chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa xã hội, định hướng và hoạch định các chính sách, chuẩn bị văn kiện cho Đại hội Đảng Toàn quốc".

(theo Bách Khoa Toàn thư mở).

Tuy nói mạnh như thế, nhưng liệu Ban Chấp hành tương lai XIII có đủ trí tuệ, sự hiểu biết và sáng kiến để bảo vệ Tổ quốc hay sẽ cứ ì ra đấy như bấy lâu nay, vì tư duy nhu nhược quen thuộc "mọi chuyện đã có nhà nước lo".

Chính sách quốc phòng Việt Nam

Cũng cần biết thêm, trong bối cảnh Việt Nam bị kẹt cứng giữa tư duy bạc nhược và lệ thuộc "vừa là đồng chí, vừa là anh em" với láng giềng đàn anh xảo quyệt Trung Quốc, Việt Nam đã theo đuổi chính sách quốc phòng 4 "không" gồm :

1) Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự ;

2) không liên kết với nước này để chống nước kia ;

3) không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác ;

4) không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế".

Chính quyền cộng sản Việt Nam cũng đã thanh minh không "bài Trung, thân Mỹ", hay chọn phe trong vấn đề Biển Đông. Việt Nam chủ trương "là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế".

Do đó, trong lĩnh vực quốc phòng, Bộ Quốc phòng tuyên bố : "Việt Nam chủ trương mở rộng đối ngoại quốc phòng, tham gia ngày càng tích cực vào các hoạt động hợp tác quốc phòng, an ninh của khu vực và của cộng đồng quốc tế".

Chính sách này nói thêm : "Quân đội nhân dân Việt Nam chủ trương mở rộng và nâng cao hiệu quả các mối quan hệ quốc phòng song phương đồng thời tích cực tham gia vào các hoạt động hợp tác quốc phòng đa phương. Việt Nam đẩy mạnh quan hệ đối ngoại quốc phòng dưới mọi hình thức như trao đổi các đoàn quân sự các cấp, tham vấn - đối thoại quốc phòng, tham gia các diễn đàn khu vực và quốc tế... nhằm tăng cường tình hữu nghị, sự hiểu biết lẫn nhau, xây dựng lòng tin và ngăn ngừa xung đột".

(Tài liệu chính thức của Bộ Quốc phòng Việt Nam)

Tài liệu này cũng cho biết :"Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ quốc phòng chính thức với 65 nước trong đó có các cường quốc trên thế giới ; đã thiết lập tuỳ viên quốc phòng tại 31 nước và đã có 42 nước thiết lập tuỳ viên quốc phòng tại Việt Nam".

"Việt Nam đã tiến hành đối thoại quốc phòng - an ninh thường xuyên ở nhiều cấp độ với các quốc gia trong khối ASEAN, Trung Quốc, Nga, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Pháp, Ấn Độ… Cùng với việc tăng cường trao đổi các đoàn quân sự cấp cao, giao lưu giữa các sĩ quan trẻ, hợp tác giữa các nhà trường, các viện nghiên cứu của Bộ Quốc phòng Việt Nam với các nước cũng được coi trọng".

Tương quan lực lượng

Vậy nếu xẩy ra chiến tranh trên Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc thì nước nào có cơ hội chiến thắng ?

Trước hết, "Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (APL) được cho là một đội quân đông đảo nhất thế giới với khoảng 2,18 triệu quân nhân - ưu tiên được dành cho hải quân và không quân".

(theo Bách khoa Toàn thư mở)

Tài liệu về Hải quân viết : "Trước thập niên 1990, Hải quân Trung Quốc đóng vai trò thứ yếu so với Lục quân. Từ thập niên 1990 đến nay, lực lượng hải quân được Trung Quốc nhanh chóng hiện đại hóa ; phát triển nhanh chóng, đến nay bao gồm thêm 35.000 Hải quân Biên phòng và 56.000 Thủy quân Lục chiến, cùng 56.000 quân thuộc Lực lượng Hải quân Không chiến với hàng trăm chiến đấu cơ trên bờ. Tổng cộng lối 250.000 người.

Trung Quốc có : 14 tàu khu trục, 28 tàu hỗ trợ, 3 tàu ngầm nguyên tử phóng phi đạn hạt nhân, 5 đến 7 tàu ngầm nguyên tử tấn công, 56 tàu ngầm diesel tấn công, 58 tàu đổ bộ, 80 tàu tuần duyên tên lửa dẫn đường, 27 tàu đổ bộ lớn, 31 tàu đổ bộ vừa và khoảng 200 tầu tấn công nhanh".

Trong khi đó, tài liệu phổ biến trân Internet cho biết :

Hải quân nhân dân Việt Nam có các binh chủng : Tàu mặt nước, Hải quân đánh bộ, Tên lửa-Pháo bờ biển, Không quân Hải quân, Tàu ngầm, Đặc công Hải quân... nhưng không có bộ tư lệnh riêng. Bao gồm các cấp đơn vị : hải đội, hải đoàn, binh đoàn hải quân đánh bộ, binh đoàn tàu mặt nước, binh đoàn tàu ngầm, binh đoàn không quân, tên lửa bờ và các binh đoàn bộ đội chuyên môn, các đơn vị bảo đảm phục vụ ra đa, thông tin, kỹ thuật, hậu cần…

Từ năm 2010 Hải quân nhân dân Việt Nam được đầu tư để tiến thẳng lên hiện đại theo hướng "tinh, gọn, mạnh, linh hoạt" đến nay đã có đủ 5 thành phần lực lượng là : tàu mặt nước ; tàu ngầm ; không quân hải quân ; pháo binh - tên lửa bờ ; hải quân đánh bộ, đặc công hải quân và lực lượng phòng thủ đảo…

Về số quân, Sách trắng Quốc phòng của Việt Nam, công bố 3 lần trong các năm 1998, 2004 và 2009 không tiết lộ số quân. Tuy nhiên, theo Internet, Cổng Thông tin Điện tử Bộ Quốc phòng cho biết : Tổng Quân số lực lượng chính quy khoảng 450.000 người. Lực lượng dự bị khoảng 5 triệu người.

Tài liệu này cũng chia ra Lục quân : khoảng 800.000 ; Không quân : 60.000 ; Hải quân : khoảng 70.000 ; Biên phòng : khoảng 50.000 ; Cảnh sát biển : 30.000 ; Không gian mạng lối 10.000 người.

Ngoài ra, theo Globalfirepower, chuyên về xếp hạng quân sự của các quốc gia, thì Việt Nam còn có một lực lượng phục vụ quốc phòng ngót 42.000 người.

Về kinh nghiệm chiến đấu, nhiều chuyên gia quân sự quốc tế cho điểm Quân đội Việt Nam cao hơn lính Trung Quốc, lấy kết quả từ cuộc chiến biên giới giữa hai nước năm 1979.

Tuy nhiên, nếu xẩy ra chiến tranh ở Biển Đông thì Hải quân và Không quân Trung Quốc có lợi điểm địa thế tấn công và tiếp viện hơn quân Việt Nam, nhờ vào một số sân bay, bến cảng Trung Quốc đã xây dựng trên một số trong 8 đá, bãi san hô chiếm của Việt Nam ở Trường Sa.

Trông vào ai ?

Như vậy, từ viễn ảnh biết rõ ý đồ của Trung Quốc ở Biển Đông, liệu Việt Nam có đủ sức chống lại một cuộc tấn công quân sự hay không ? Hơn nữa, Việt Nam không có đồng minh quân sự và thỏa hiệp an ninh chung với nước khác thì ai sẽ giúp Việt Nam bảo vệ Biển Đông ?

Vì vậy, dù giới chuyên gia ở Bộ Ngoại giao Việt Nam băn khoăn, lo lắng nhưng đồng thờ họ cũng tự đặt ra hy vọng chiến tranh Việt-Trung sẽ không xẩy ra, dù trên đất liền hay Biển Đông, nếu Việt Nam biết khôn khéo trong ứng xử với Trung Quốc.

Về mưu đồ của Trung Quốc đối với Việt Nam lúc này, theo nhận định của Phó Giáo sư tiến sĩ Đinh Công Tuấn, Viện nghiên cứu Châu Âu (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) thì : "Là quốc gia giàu tài nguyên, có dân số trẻ lớn thứ 3 ở Đông Nam Á, có quân đội thực chiến bậc nhất ở Châu Á, có vị trí địa chiến lược cực kỳ quan trọng, Việt Nam được xem như "lực lượng trấn giữ con đường Nam tiến cả trên bộ, trên biển của Trung Quốc", vì vậy, Trung Quốc bao giờ cũng luôn coi Việt Nam là đối thủ tranh đoạt, kiềm chế, kiểm soát của mình" (theo Thế giới & Việt Nam, 16/06/2020).

Ông Tuấn nói rõ rằng :

"Chính sách chủ đạo của Trung Quốc với Việt Nam sẽ vừa là cân bằng vừa can dự, vừa kiềm chế, vừa lôi kéo. Mục tiêu trong quan hệ với Việt Nam nhằm không để Việt Nam có thể mạnh lên, thoát khỏi sự chi phối của Trung Quốc, nhưng cũng không để Việt Nam quá bất mãn, tìm đến các liên kết chống lại Trung Quốc".

Chi tiết hơn, chuyên gia này cho rằng : "Chính sách cơ bản của Trung Quốc với Việt Nam có thể đi theo các hướng sau :

Thứ nhất, hòa dịu với Việt Nam, để tránh quan hệ căng thẳng xấu thêm, gia tăng các hoạt động trao đổi ngoại giao cả thượng đỉnh và các cấp.

Thứ hai, tăng cường hợp tác trên mọi phương diện đặc biệt là kinh tế, giao thương buôn bán nhằm dùng lợi ích kinh tế đưa Việt Nam vào quỹ đạo của Trung Quốc, ít nhất đảm bảo Việt Nam giữ thế trung lập giữa Trung Quốc và Mỹ.

Thứ ba, gây sức ép cho ASEAN, chia rẽ khối thông qua các thành viên nhỏ dễ chịu tác động từ Trung Quốc để cản trở lập trường đối lập với lợi ích Trung Quốc và ngăn chặn sự hình thành của một "khối chống Trung Quốc".

Ông Tuấn kết luận : "Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam cần điều chỉnh, xác định rõ cách thức ứng phó với chiến lược toàn cầu, khu vực của Trung Quốc. Đó là thích nghi với sự trỗi dậy, lớn mạnh của Trung Quốc, xác định rõ ràng mục tiêu của Việt Nam phải đảm bảo an ninh quốc gia, không ngừng phát triển, tạo thế và lực đa dạng hóa, đang phương hóa quan hệ với các nước trên thế giới, giữ vững môi trường hòa bình để phát triển, khôn khéo đặt lợi ích quốc gia lên trên hết trong ứng xử với Trung Quốc".

Đó là lời khuyên của một chuyên gia, nhưng liệu giới lãnh đạo Việt Nam có khả năng hóa giải tham vọng bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc bằng đướng lối ngoại giao hay không ?

Và nếu Việt Nam tiếp tục chính sách ngoại giao đu giây với quan điểm : "Bài Trung, thân Mỹ" hoàn toàn không có trong đường lối đối ngoại hay trong quan điểm giải quyết vấn đề Biển Đông của Đảng, Nhà nước ta", như đã thanh minh trên báo Công an Nhân dân ngày 3/8/2020, thì liệu Hà Nội có thoát khỏi gọng kìm của Trung Quốc hay không ?

Phạm Trần

(30/09/2020)

(1) "The PRC has no legal grounds to unilaterally impose its will on the region. Beijing has offered no coherent legal basis for its "Nine-Dashed Line" claim in the South China Sea since formally announcing it in 2009. In a unanimous decision on July 12, 2016, an Arbitral Tribunal constituted under the 1982 Law of the Sea Convention – to which the PRC is a state party – rejected the PRC’s maritime claims as having no basis in international law. The Tribunal sided squarely with the Philippines, which brought the arbitration case, on almost all claims".

(2) "The world will not allow Beijing to treat the South China Sea as its maritime empire. America stands with our Southeast Asian allies and partners in protecting their sovereign rights to offshore resources, consistent with their rights and obligations under international law. We stand with the international community in defense of freedom of the seas and respect for sovereignty and reject any push to impose "might makes right" in the South China Sea or the wider region", State Department, 07/13/2020

Published in Diễn đàn

Biên gii Vit-Trung : Trung Quc phát đng chiến dch thu phc nhân tâm mi ?

VOA, 26/08/2020

Có du hiu cho thy Trung Quc đang phát đng mt chiến dch "thu phc nhân tâm" mi, hi thúc Hà Ni tiếp tc đi thoi đ đt gii pháp cùng có li Bin Đông, xây dng và cng c hơn na các quan h song phương trên nn tng ca hip ước biên gii mà hai nước đánh du k nim 20 năm hôm Ch nht va ri.

vntq1

B trưởng Ngoi giao Phm Bình Minh và B trưởng Ngoi giao Trung Quc Vương Ngh đng ch trì hot đng k nim 20 năm ký Hip ước Biên gii. (Screenshot Thế gii & Vit Nam).

y viên Quc V vin/Ngoi trưởng Trung Quc Vương Ngh đã gp Ngoi trưởng kiêm Phó Th Tướng Vit Nam Phm Bình Minh hôm Ch nht 23/8 ti ca khu Móng Cái (Vit Nam)-Đông Hưng (Trung Quc), nơi hai nhà lãnh đo ch trì các hot đng "k nim 20 năm ký kết Hip ước biên gii và 10 năm trin khai 3 văn kin pháp lý v biên gii trên đt lin Vit Nam-Trung Quc".

Phát biu ti s kin này, nhà ngoi giao hàng đu Trung Quc nói :

"Hai nước cn tiếp tc tăng cường hp tác trong công tác qun lý biên gii, phát huy hơn na vai trò ca y ban liên hp biên gii trên đt lin Vit Nam-Trung Quc, gii quyết các s vic phát sinh trên biên gii và nâng cao hiu qu qun lý".

Ngoi trưởng Phm Bình Minh không quên nhc li rng "nhà nước và nhân dân Vit Nam hết sc coi trng vic duy trì quan h láng ging hu ngh, và sn sàng cùng Trung Quc đưa quan h đi tác hp tác chiến lược toàn din Vit Nam - Trung Quc đi vào chiu sâu".

Hai nước anh em xã hi ch nghĩa vn hết lòng ca ngi quan h láng ging hu ngh, nhưng đàng sau nhng ngôn t ngoi giao, phía Vit Nam cũng nhc nh đng chí Trung Quc nên "gii quyết công bng hp lý các vn đ biên gii, và quan tâm đến các li ích ca nhau".

Phó Th Tướng Vit Nam nói :

"Ch quyn, biên gii, lãnh th quc gia luôn là vn đ thiêng liêng, quan trng đi vi mi quc gia, dân tc. Do vy, kết qu gii quyết công bng hp lý vn đ biên gii trên đt lin cho thy, hai bên đã kiên trì nguyên tc mang tính cht nn tng, phương châm công bng hp lý, tôn trng ln nhau, quan tâm hp lý đến li ích ca nhau trên căn c pháp lý đã tho thun, lut pháp quc tế".

Và cách đây ch vài ngày, B Ngoi giao Vit Nam t cáo s hin din ca máy bay ném bom Trung Quc ti qun đo Trường Sa.

Người phát ngôn B Ngoi giao Vit Nam Lê Th Thu Hng hôm 21/8 nói :

"S kin các bên liên h trin khai vũ khí và máy bay ném bom đến qun đo Trường Sa không nhng xâm phm ch quyn ca Vit Nam mà còn đe da hòa bình khu vc".

Hi đu tháng 8, khi Ngoi trưởng M Mike Pompeo công khai tuyên b các đòi hi ch quyn ca Trung Quc Bin Đông là bt hp pháp, và bn đ đường 9 đon ca Trung Quc là vô giá tr, Ngoi trưởng Vương Ngh ca Trung Quc mi đi s các nước ASEAN hp và khuyến cáo h v nguy cơ chiến tranh trên Bin Đông, do "nhng nước ngoài khu vc" gây ra, đng thi t ý mun hp tác vi ASEAN đ đàm phán và sm hoàn tt mt b Quy tc ng x trong Bin Đông (COC), điu mà Bc Kinh vn tránh né đ ch nhn mnh vào các quan h kinh tế.

Báo South China Morning Post (SCMP) hôm 24/8 trích dn các nhà ngoi giao ASEAN nói rng Trung Quc mun lôi kéo các nước láng ging ng v phía Bc Kinh, đt nng hp tác kinh tế vi Trung Quc, và đy Hoa K ra khi khu vc.

Báo SCMP dn li Tiến sĩ Lê Hng Hip thuc Vin nghiên cu chính sách đi ngoi Yusof Ishak Singapore ISEAS, nói Trung Quc đang phát đng mt "chiến dch ly lòng" đ thuyết phc các đi tác khu vc tr v vi Bc Kinh, hoc ít ra ng nghe hay v phe M chng li Trung Quc".

Tiến sĩ Hip nói rng Vit Nam là mt đi tượng quan trng trong n lc "ly lòng" ca Trung Quc, xét v trí chiến lược ca Vit Nam. Nhà nghiên cu nói nhc nh Vit Nam v các quan h hp tác kinh tế đôi bên cùng có li là mt "lp lun có tính thuyết phc" đi vi Vit Nam, xét Trung Quc là nước đi tác thương mi ln nht ca Vit Nam. Nhưng vn theo nhà nghiên cu ca ISEAS, "Rt cuc đi vi Vit Nam, các vn đ an ninh vn quan trng hơn".

***********************

Sông Mêkông tiếp tục bị cạn nước : Đập Trung Quốc là một nguyên nhân

Mai Vân, RFI, 26/08/2020

Hạn hán, biến đổi khí hậu và nhất là số lượng đập thủy điện được xây dựng với mức khó tin, đang đe dọa dòng sông Mêkông chảy qua 5 quốc gia Đông Nam Á, nuôi sống 70 triệu cư dân vốn đang phải tay làm hàm nhai. Trong năm thứ hai liên tiếp, mực nước sông đã xuống mức thấp kỷ lục, biến thành một dải nước lượn lờ thay vì phải chảy cuồn cuộn như thường thấy.

vntq2

Ngư dân đánh cá trên sông Mêkông, tỉnh Kandal, Cam Bốt. Ảnh chụp ngày 05/01/2018.  © AFP - TANG CHHIN SOTHY

Trong một bài viết ngày 24/08/2020 (Struggling With Drought on the Mekong), chuyên san Nhật Bản The Diplomat đã ghi nhận tình trạng đáng lo ngại của sông Mêkông và nêu bật những lời tố cáo của giới chuyên gia bảo vệ môi trường nhắm vào Trung Quốc, bị cho là một trong những nguyên nhân quan trọng phá hoại dòng sông.

Mực nước sông Mêkông giảm 2/3

Theo Luke Hunt, tác giả bài viết, có hai số liệu nêu bật tình trạng sông Mêkông hiện nay : Trong lúc mực nước đã bị rút xuống đến 2/3, lượng mưa trong 3 tháng mùa mưa đang diễn ra đã giảm khoảng 70%. Lễ hội té nước thường niên tại Cam Bốt dự trù vào cuối tháng 10 đã bị hủy bỏ.

Còn tại vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, nơi con sôngđổ ra BiểnĐông, đã có ít nhất 2 trên 12 cửa ra bị đóng lại, và nước mặn tràn vào sâu vào bên trong đất liền, đe dọa 850 loài cá vốn đang trên đà tiệt chủng. Ngư dân than phiền về số lượng đánh bắt hàng ngày bị giảm chỉ còn một, hai kí lô chỉ đủ "để nuôi mèo trong làng".

Ủy Hội Sông Mêkông (MRC) đã lên tiếng báo động về nguy cơ "hạn hán cực kỳ nghiêm trọng" đang lan ra ở miền bắc Cam Bốt, miền nam Lào và miền Trung Việt Nam.

Cơ chế này mô tả tình hình "rất nguy cấp" tại vùng Biển Hồ ở Cam Bốt, với mực nước ở vùng hạ lưu xuống dưới mức tối thiểu ghi nhận vào những năm 1960 và 2019.

Theo An Pich Hatda, người điều hành ban thư ký của Ủy Hội Sông Mêkông đặt tại Vientiane (Lào), thì "mực nước thấp hiện nay có thể tác hại nghiêm trọng đến Cam Bốt, làm mất đi nguồn cá và khả năng thủy lợi". Đối với quan chức này : "Đã đến lúc phải biên lời nói thành hành động vì quyền lợi chung của cả vùng sông Mêkông và những cộng đồng bị thiệt hại".

Trung Quốc là một thủ phạm chính làm sông Mêkông cạn dòng

Theo The Diplomat, tình trang sông Mêkông cạn nước là một vấn đề chưa từng thấy do chính con người gây ra, mà những chính phủ do quân đội hậu thuẫn và những Nhà nước độc đảng ở Đông Nam Á đã cố tình nhắm mắt làm ngơ trong lúc Bắc Kinh và các định chế tài chính đổ hàng tỷ đô la vào khai thác thủy điện, điều chỉ có lợi cho thiểu số có quyền hành mà thôi.

Theo Trung Tâm Stimson Center, một tổ chức nghiên cứu và tư vẫn ở Mỹ, một chuỗi hơn 400 con đập ở Trung Quốc và Lào đã được xây dựng hay đang xây hoặc được lên kế hoạch.

Cho đến giờ, không có chứng cứ nào cho thấy tính chất hữu hiệu của giải pháp "làm bậc thang cho cá" đi ngược về nơi sinh sản ở thượng nguồn, từng được phô trương là đáp án bảo đảm nguồn cá.

Một báo cáo của hiệp hội Eyes on Earth Inc. gần đây đã tố cáo Trung Quốc cố tình giữ nước phía sau các con đập của họ trên thượng nguồn, gây họa cho các nước ở hạ nguồn, điều mà Bắc Kinh luôn phủ nhận.

Theo The Diplomat, việc thiếu phù sa cần thiết để bồi đắp cho bờ sông đã dẫn đến hệ quả nhiều đoạn sông lớn đã chuyển từ màu nâu sang màu xanh, trong thì rất đẹp mắt, nhưng nguy cơ đất sói mòn đã ló dạng, đe dọa từ các ngôi nhà tranh đến nhà cao tầng, nhà máy hay xa lộ dọc bên sông.

Ảnh hướng của biến đổi khí hậu

Song song với tai họa do con người gây ra, tình trạng biến đổi khí hậu càng làm hiện tượng thời tiết Lưỡng Cực Ấn Độ Dương Indian Ocean Dipole thêm nghiêm trọng. Đây là hiện tượng tương tự như El Nino ở Thái Bình Dương và đôi khi còn được gọi là Indian Nino. Nhiệt độ lạnh bất thường trên biển phần nửa phía đông Ấn Độ Dương và ấm hơn ở phía tây gây ra lụt lội ở ở Đông Phi và hạn hán ở Đông Nam Á.

Hiện tượng này đã lên đỉnh cực cao. Hiện tương Lưỡng Cực Ấn Độ Dương thường chỉ xẩy ra một lần mỗi 17,3 năm, nhưng các nhà khoa học cho là nhịp độ sẽ tăng lên và diễn ra mỗi 6,3 năm trong thế kỷ này vì tình trạng khí thải carbon và năng lượng đọng quá nhiều trong khí quyển.

Mai Vân

********************

Mỹ còn lệ thuộc Trung Quốc, huống hồ Việt Nam…

Chiến dịch vận động tranh cử nhiệm kỳ 2 của Tổng thống Mỹ Donald Trump vừa được công bố với những lời hứa về việc làm, vắc xin Covid-19 và chính sách chấm dứt sự lệ thuộc vào Trung Quốc.

vntq3

Cụ thể sẽ mang 1 triệu công việc của ngành sản xuất từ Trung Quốc trở về Mỹ, trong đó sẽ hỗ trợ thuế cho các công ty mang sản xuất từ Trung Quốc về lại Mỹ. Chiều ngược lại, các công ty giao các công đoạn xử lý (outsource) cho Trung Quốc sẽ không được ký hợp đồng liên bang ở Mỹ.

Trong một diễn biến khác, từ tuyên bố trong chiến dịch vận động tranh cử nhiệm kỳ 2 của Tổng thống Mỹ Donald Trump, cho thấy Trung Quốc càng bị Mỹ làm găng thì Hàn Quốc càng thêm khó xử.

Quá trình đàm phán hòa bình giữa Mỹ và Triều Tiên càng bế tắc thì Hàn Quốc càng phải dựa nhiều hơn vào Trung Quốc. Cả Trung Quốc lẫn Hàn Quốc đều phải lo chuẩn bị ứng phó với mọi kịch bản có thể xảy ra với cuộc bầu cử tổng thống Mỹ sắp tới, quan hệ của họ với Mỹ cũng như giữa Mỹ và Triều Tiên sau cuộc bầu cử mà chỉ với thống nhất quan điểm và phối hợp hành động thì họ mới có thể cùng ứng phó hiệu quả nhất.

Vậy thì Việt Nam sẽ như thế nào trong bàn cờ này của thế giới ?

Có ý kiến bình luận thế này : "40 năm trước Mỹ dẫn đầu khối tư bản bắt tay với Trung Quốc, thế là đại bàng thi nhau đến đậu ở nước này. Giờ Mỹ – Trung trở mặt thì đại bàng bỏ đi. Nhưng cái đáng tiếc và tất yếu là đại bàng sẽ đa phần chọn Ấn Độ và các nước khác hơn là Việt Nam. Lý do thì đơn giản thôi, Mỹ và các đồng minh tư bản cần nâng đỡ Ấn Độ và các xứ nằm trong "vành đai thứ nhất ở Indo-Pacific" ngay lúc này và ít nhất 30 năm sau này.

Chúng ta đã nói nhiều về việc Mỹ và Ấn cần nhau trong hợp tác chiến lược quân sự để bao vây Trung Quốc lâu dài, thế thì Ấn Độ cần tiền để nuôi binh lính của họ. Vợ con gia đình binh sĩ Ấn Độ cũng cần công ăn việc làm ổn định để đàn ông yên tâm cầm súng ra biên giới Ấn – Trung. Thế nên tất yếu là các đại bàng tư bản nên hạ cánh ở đây. Chuyện tiếp theo là các đại bàng đậu ở Ấn sẽ yên tâm là trong ít nhất 50 năm, vì cần Ấn nên Mỹ sẽ góp phần giữ ổn định chính trị tại xứ này. Máy bay Trung Quốc sẽ bị Mỹ và các đồng minh ngăn cản khi muốn ném bom lên đầu các đại bàng ở Ấn Độ".

Trong bối cảnh ấy, nếu như một lãnh đạo nào đó của Việt Nam sử dụng chiêu bài "thoát Trung" cho tìm kiếm lá phiếu tín nhiệm trong nội bộ Đảng, liệu có khả năng thực thi ?

Rõ ràng là giờ đây không thể dừng ở tuyên bố chung chung về "thoát Trung", mà cần sự cụ thể và những cam kết về tiến trình thực thi. Đây là điều mà Tổng thống Mỹ Donald Trump đang áp dụng.

Giả dụ, với những thỏa thuận của các FTA như CPTPP, EVFTA, các lãnh đạo trong nhiệm kỳ mới của Đảng, của Quốc hội và Chính phủ Việt Nam sẽ rốt ráo đáp ứng về hoàn thiện hệ thống pháp luật mà những FTA này đặt ra, để qua đó sẽ có thể mạnh miệng cho tuyên bố trước quốc dân, là bước đầu, một số ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam không còn phải lệ thuộc vào Trung Quốc.

Tiếp theo, Việt Nam sẽ chấm dứt việc xuất khẩu nông sản qua đường tiểu ngạch, và những hợp đồng ngoại thương ưu tiên cho giao dịch bằng đồng đô la Mỹ (USD), thay cho việc chấp nhận cả đồng Nhân Dân tệ (CNY) của Trung Quốc như lâu nay. Vấn đề này hiện tại Việt Nam đang thấm đòn khá rõ từ chuyện giao dịch bằng CNY, qua việc Trung Quốc liên tục hạ giá CNY nhằm đối phó với Mỹ trong cuộc chiến thương mại, đã ảnh hưởng khá nhiều đến xuất khẩu của Việt Nam, nhất là nông sản.

Theo nhận định của Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), khi Trung Quốc điều chỉnh tỷ giá đồng CNY sẽ tạo ra chênh lệch rất lớn giữa đồng tiền của nước này so với VND, vì thế, giá trị của VND so với CNY đã tăng lên. Điều này, dẫn đến giá hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam nói chung, các mặt hàng thủy sản xuất khẩu nói riêng sang Trung Quốc sẽ cao hơn, gây khó khăn cho việc xuất khẩu của Việt Nam.

Đơn cử, trong cơ cấu hàng thủy sản, mặt hàng tôm của Việt Nam sẽ khó cạnh tranh với các đối thủ tại thị trường Trung Quốc. Hiện nay, tại thị trường Trung Quốc, Ấn Độ cũng có nguồn cung tôm giá rẻ trong khi đồng Rupee cũng bị phá giá sâu so với USD, nên chênh lệch mất giá với CNY ít hơn so với VND. Khi Ấn Độ đẩy mạnh xuất khẩu sang Trung Quốc, hàng hóa của Việt Nam sẽ bị áp lực cạnh tranh mạnh hơn…

Dĩ nhiên sẽ có ý kiến rằng IMF (Quỹ tiền tệ quốc tế) đưa vào rổ tiền thanh toán quốc tế, đồng CNY đã và đang được quốc tế hóa ngày càng rộng rãi hơn, để tiến tới phá vỡ dần vị thế độc tôn của đồng bạc xanh.

Song, vị thế độc tôn của đồng bạc xanh trước mắt vẫn sẽ rất khó thay đổi. Nhiều tổ chức đã số hóa USD. FED (Cục Dự trữ Liên bang Mỹ) đã tuyên bố có khả năng phát hành USD kỹ thuật số.

Ngoài ra, với tỷ trọng thanh toán thương mại quốc tế bằng USD chiếm 90%, dự trữ ngoại hối trung bình toàn cầu hơn 50%, sẽ còn rất lâu ngôi vương của USD mới có thể suy suyển, chứ chưa nói tới một năm tới, kể cả khi nước Mỹ đang tạm thời gánh những áp lực như hiện tại. Lưu ý, Mỹ hiện chiếm tới gần 1/3 nợ công toàn cầu, nên việc thay thế ngôi vương của đồng USD là bất khả. Ít nhất trong 10 năm tới, USD vẫn còn yên ổn, có thể có thêm phiên bản kỹ thuật số, thậm chí còn tăng giá.

Vượt lên trên tất cả, từ đại dịch Covid cho thấy cuộc sống cũng đã và đang là một lời nhắc nhở : Không có gì là không thể xảy ra…

Hiền Lương

Nguồn : VNTB, 25/08/2020

*********************

Ngay sau k nim hip ước biên gii vi Vit Nam, Trung Quc tp trn Hoàng Sa

VOA, 24/08/2020

Trung Quc thông báo tp trn t ngày 24 đến 30/8 gn qun đo Hoàng Sa có tranh chp vi Vit Nam, ch mt ngày sau khi hai nước k nim rm r 20 năm thc thi Hip ước Biên gii trên đt lin.

viettrung1

Mt đi tàu Trung Quc tp trn Bin Đông hi tháng 12/2016

Theo thông báo ca Cc Hi s tnh Hi Nam, Trung Quc, được Nhân Dân Nht Báo ca nước này đăng li, các đim tp trn có ta đ vùng đông nam đo Hi Nam và đông bc qun đo Hoàng Sa.

Cc hi s Hi Nam cũng cnh báo tàu thuyn không có phn s phi đi li cách các đim tp trn 5 hi lý (gn 9,3 kilomet).

thi đim bn tin này được đăng, Vit Nam chưa th hin thái đ chính thc. Trước đó, khi Trung Quc tp trn phía bc Hoàng Sa t ngày 1 đến 5/7, Hà Ni đã nhanh chóng phn ng. Theo đó, B Ngoi giao Vit Nam cho hay hôm 2/7 rng h đã "giao thip, trao công hàm phn đi và yêu cu Trung Quc không lp li nhng hành vi tương t trong tương lai".

Qun đo Hoàng Sa b Trung Quc chiếm t tay Vit Nam Cng Hòa, còn gi là Nam Vit Nam, vào đu năm 1974. Nước Vit Nam thng nht sau đó, nay mang tên chính thc là Cng hòa Xã hi Ch nghĩa Vit Nam, chưa bao gi t b tuyên b ch quyn v qun đo.

Ch mt ngày trước khi cuc tp trn bt đu, hôm 23/8, các quan chc cao cp ca Trung Quc và Vit Nam làm l k nim trng th 20 năm ngày ký Hip ước Biên gii đt lin gia hai nước. Bui l được t chc ti cp ca khu quc tế Móng Cái, Vit Nam – Đông Hưng, Trung Quc.

Các báo Vit Nam cho hay hai quan chc hàng đu ch trì l k nim là y viên B Chính tr, Phó Th tướng, B trưởng Ngoi giao Vit Nam Phm Bình Minh, và y viên Quc v, B trưởng Ngoi giao Trung Quc Vương Ngh.

V phía Vit Nam, ông Phm Bình Minh nói vic hai nước ký kết Hip ước Biên gii năm 1999 và hoàn thành công tác phân gii cm mc năm 2008 đánh du vic ln đu tiên trong lch s, hai nước "đã hoch đnh được đường biên gii trên đt lin mt cách khoa hc, chính xác", khép li quá trình 36 năm đàm phán.

Phó Th tướng kiêm B trưởng Ngoi giao Phm Bình Minh đánh giá rng "đây là kinh nghim quý báu ca hai nước trong vic gii quyết các vn đ biên gii lãnh th".

 

B trưởng Ngoi giao Trung Quc Vương Ngh được báo chí Vit Nam dn li phát biu rng "vic hai bên gii quyết n tha các vn đ biên gii trên đt lin và vnh Bc B s là kinh nghim quý báu đ gii quyết vn đ trên bin".

Còn theo mt tuyên b ca B Ngoi giao Trung Quc gi ra sau bui l, ông Vương đã thúc gic Vit Nam ngi vào bàn đàm phán v tranh chp Bin Đông.

"Chúng ta phi phát huy cách gii quyết thành công các vn đ biên gii trên b đ tìm cách sm dàn xếp các tranh chp trên bin Hai nước có kh năng và s thông thái đ tiếp tc đàm phán v các vn đ trên bin", theo B Ngoi giao Trung Quc.

Tuy nhiên, theo nhà nghiên cu v chính sách đi ngoi Lê Hng Hip thuc Vin ISEAS-Yusof Ishak Singapore, tranh chp trên bin gia Vit Nam và Trung Quc có đ phc tp gp nhiu ln các vn đ trên b, và cuc tp trn đang din ra ca Trung Quc càng nêu bt lên s phc tp này.

Dù hai nước đã phân đnh được Vnh Bc B t năm 2000, nhưng h vn bế tc v vùng bin ca vnh sau hàng chc năm đàm phán, do khác bit quan đim và mu cht nht là tranh chp v qun đo Trường Sa, tiến sĩ Lê Hng Hip nói vi VOA.

"Phi gii quyết được vn đ hai qun đo Hoàng Sa, Trường Sa mi gii quyết được các tranh chp liên quan. Đây là vn đ rt khó. Vic đàm phán có th kéo dài hàng chc năm, nếu không nói là hàng trăm năm", tiến sĩ Hip nhn đnh.

Nhìn vào li thúc gic đàm phán do B trưởng Ngoi giao Vương Ngh đưa ra, nhà nghiên cu ca Vin ISEAS-Yusof Ishak đánh giá rng Trung Quc mun Vit Nam đàm phán song phương, không quc tế hóa và không đ các quc gia bên ngoài tham gia, trong bi cnh cnh tranh chiến lược Trung-M ngày càng tăng lên.

Ông Hip cho rng ý đnh này ca Trung Quc s có ít tác dng vì nước này tiếp tc hành đng không nht quán, vn gây sc ép hoc xâm phm ch quyn ca Vit Nam, mà cuc tp trn gn Hoàng Sa trong tun này là mt ví d na.

"Vit Nam nhn thc được s bt nht ca Trung Quc, và Hà Ni có hành đng riêng đ bo v li ích ca mình. Đó là phát huy ni lc và thúc đy quan h vi các nước có chung nhn thc chiến lược, như M chng hn. Tuy nhiên, nhng din biến này làm cho tranh chp Vit Nam-Trung Quc càng tr nên khó gii quyết hơn", tiến sĩ Hip nói vi VOA.

******************

Trung Quốc thúc giục Việt Nam trở lại đàm phán về tranh chấp ở Biển Đông

RFA, 24/08/2020

Trung Quốc tại lễ kỷ niệm 20 năm ký kết hiệp định biên giới Việt - Trung trên bộ diễn ra vào ngày 23 tháng 8 kêu gọi Việt Nam trở lại bàn đàm phán về những tranh chấp tại Biển Đông.

viettrung3

Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị và Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Lê Hoài Trung (trái) tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh hôm 27/11/2019 - AFP

Mạng báo South China Morning Post loan tin ngày 24 tháng 8, dẫn kêu gọi của ông Vương Nghị, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc như vừa nêu. Theo lời ông Vương Nghị thì hai phía cần rút tỉa kinh nghiệm trong giải quyết thành công những vấn đề về biên giới nhằm có thể sớm giải quyết những tranh chấp trên biển.

Ông Vương Nghị nhắc lại thỏa thuận mà lãnh đạo đảng cộng sản và nhà nước hai phía đạt được khi ký kết biên giới trên bộ vào năm 1999 và phân định Vịnh Bắc Bộ vào năm 2000.

South China Morning Post trong số ra ngày 24 tháng 8 dẫn lời của Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp, chuyên gia nghiên cứu chính sách ngoại giao tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore, cho rằng tuyên bố chủ quyền chồng lấn tại Biển Đông phức tạp hơn nhiều so với những thỏa thuận trước đây được ông Vương Nghị nhắc đến.

Cũng theo chuyên gia Lê Hồng Hiệp, Trung Quốc dường như đang tiến hành chiến thuật lôi kéo các đối tác trong khu vực ; chí ít không để những nước này đứng về phía Hoa Kỳ để chống lại Trung Quốc. Trong số này Hà Nội là mục tiêu của Bắc Kinh vì vị trí chiến lược quan trọng của Việt Nam.

South China Morning Post vào ngày 24 tháng 8 cũng nhắc lại rằng chỉ 3 tuần sau khi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ công bố quan điểm mới của Washington về Biển Đông, vào đầu tháng 8 vừa qua, Bắc Kinh có cuộc gặp với đại diện 10 nước ASEAN tại thủ đô Trung Quốc.

Tại cuộc họp, người phụ trách vấn đề biên giới trên bộ và trên biển của Trung Quốc lên tiếng bày tỏ quan ngại của Bắc Kinh về mối nguy cơ lớn từ hoạt động quân sự của những quốc gia mà Trung Quốc gọi là ‘không nằm trong khu vực’. Đây là cụm từ mà Bắc Kinh dùng khi thảo luận về vai trò của Hoa Kỳ tại Châu Á.

***********************

Trung Quốc bắt đầu chính thức tập trận tại Biển Đông

RFI, 24/08/2020

Hôm 24/08/2020 Trung Quốc bắt đầu chính thức tập trận tại Biển Đông trong vòng sáu ngày, tiếp tục các động thái khiêu khích sau khi đưa oanh tạc cơ H-6J ra đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa cưỡng chiếm của Việt Nam năm 1974.

viettrung4

Phi cơ Trung Quốc J-15 xuất kích từ tàu sân bay Liêu Ninh trong một cuộc tập trận ở Biển Đông. Ảnh chụp ngày 02/01/2017.  AFP - STR

Bắc Kinh cấm tàu bè qua lại ở phía đông nam đảo Hải Nam trong thời gian này. Đồng thời Trung Quốc cũng tập trận kéo dài trên Biển Bột Hải (từ 24/08 đến 30/09) và Hoàng Hải (22/08-26/08). Các hoạt động biểu dương sức mạnh diễn ra trong bối cảnh căng thẳng với Hoa Kỳ, và đang có nhiều đồn đãi là Trung Quốc sắp tấn công Đài Loan.

Trong khi đó South China Morning Post hôm nay tiết lộ, ba tuần sau khi ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo công bố quan điểm mới của Hoa Kỳ về Biển Đông, khẳng định yêu sách chủ quyền của Trung Quốc là "bất hợp pháp", Bắc Kinh đã mời các nhà ngoại giao 10 nước ASEAN đến để bày tỏ mối lo ngại sẽ xảy ra xung đột tại vùng biển này.

Trong cuộc họp, các quan chức Trung Quốc nhấn mạnh đến "nguy cơ cao" về các hoạt động quân sự của các nước "bên ngoài khu vực", ám chỉ Hoa Kỳ. Đồng thời thúc đẩy ASEAN đàm phán về bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông càng nhanh càng tốt.

Đài NHK của Nhật hôm nay đưa tin, ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị khi gặp người đồng cấp Việt Nam Phạm Bình Minh trong dịp kỷ niệm 20 năm hiệp ước biên giới Việt-Trung đã cổ vũ Hà Nội ngồi vào bàn đối thoại để giải quyết bất đồng về Biển Đông.

Về phía Philipppines hôm nay đã phản ứng gay gắt trước tuyên bố của Trung Quốc, cho rằng Manila đã "khiêu khích bất hợp pháp" trên Biển Đông. Bộ trưởng Quốc Phòng nước này khẳng định chính Bắc Kinh mới khiêu khích và chiếm đóng bất hợp pháp các khu vực trong vùng đặc quyền kinh tế Philippines.

Thụy My

*********************

Trung Quốc đề xuất tăng cường hợp tác sông Mekong

RFA, 24/08/2020

Trung Quốc công bố một số đề xuất nhằm thúc đấy hợp tác giữa các quốc gia trong vùng Mekong-Lan Thương bắt đầu từ năm 2020.

viettrung5

Hình chụp vệ tinh hôm 28/10/2019 : sông Mekong ở Nong Khai (Thái Lan), cách đập Xayaburi (Lào) khoảng 300 km. AFP

Đề xuất của Trung Quốc được đưa ra tại Hội nghị trực tuyến các nhà lãnh đạo Hợp tác Mekong-Lan Thương (LMC) lần thứ 3, khai mạc vào ngày 24/8 và được truyền thông Nhà nước Việt Nam loan trong cùng ngày.

Đại diện của Trung Quốc, Thủ tướng Lý Khắc Cường thông báo bắt đầu từ năm 2020, Trung Quốc sẽ chia sẻ dữ liệu thủy văn trong cả năm của đoạn sông Lan Thương chảy trên lãnh thổ Trung Quốc với các nước ở khu vực sông Mekong. Song song đó, Trung Quốc cũng sẽ làm việc với các nước LMC để thiết lập nền tảng chia sẻ thông tin về hợp tác nguồn nước sông Mekong-Lan Thương nhằm đối phó tốt hơn với biến đổi khí hậu và thiên tai như lũ lụt và hạn hán.

Thủ tướng Lý Khắc Cường được báo giới Nhà nước Việt Nam dẫn lời tuyên bố rằng việc hợp tác liên quan đến nguồn nước góp phần thúc đẩy tinh thần hữu nghị, lợi ích chung và hợp tác các bên cùng có lợi của LMC.

Trong cùng ngày 24/8, ông Hoàng Quốc Dũng, Ủy viên Ban chấp hành Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, cho Tân Hoa Xã biết vấn đề hợp tác tài nguyên nước được quan tâm đặc biệt trong khuôn khổ LMC. Ông Dũng nói với Tân Hoa Xã rằng Việt Nam và Trung Quốc có thể chia sẻ thông tin và thống kê thủy văn trong cả mùa mưa và mùa khô, nhằm thiết lập một hệ thống cảnh báo và cơ chế phối hợp trong quản lý lũ lụt, hạn hán cũng như các loại hình thiên tai khác.

Đại diện của Việt Nam, nhấn mạnh với Tân Hoa Xã rằng các thành tựu và hợp tác quốc tế về chia sẻ dữ liệu và thông tin, quản lý lũ lụt, phát triển thủy điện và quản lý môi trường ở khu vực sông Mekong là rất quan trọng. Việc hợp tác tốt hơn sẽ giúp giảm thiểu mức độ dễ bị tổn thương của người dân sống ở lưu vực sông Mekong trước những tác động của lũ lụt.

Hội nghị hợp tác Lan Thương-Mekong gồm sáu quốc gia Trung Quốc, Campuchia, Myanmar, Lào, Thái Lan và Việt Nam. Vấn đề quan trong nhất trong khu vực này là Trung Quốc và Lào xây dựng những đập thủy điện ở thượng nguồn và các quốc gia hạ nguồn, như Việt Nam ở cuối dòng Mekong đã và đang gánh chịu tác động nghiêm trọng từ những đập thủy điện đó.

Published in Diễn đàn

Các vấn đề xung quanh Trung Quốc đang thu hút sự quan tâm chú ý của toàn thế giới. Ở Việt Nam sự thể càng đặc biệt hơn khi mô hình phát triển của Việt Nam từ lâu nay cũng rập khuôn theo kiểu Trung Quốc.

tranh2

Tỷ lệ thất nghiệp ở Trung Quốc đã gần chạm ngưỡng lịch sử - và con số thực tế còn lớn hơn nhiều

Vậy nếu đường lối phát triển của Trung Quốc hiện đang gặp rất nhiều khó khăn thì mô hình của họ có là tương lai cho Việt Nam ?

Đường lối nào ?

Đầu tiên là cần nhìn ra được đâu là đường lối phát triển của Trung Quốc.

Vài ba năm trước, một dịp tôi mua được một cuốn sách viết về quá trình phát triển hóa rồng của Đài Loan, một dạng sách ưa thích viết về quá trình phát triển của các nước. Cuốn sách có tiêu đề Đài Loan - tiến trình hóa Rồng, vừa hăm hở đọc được vài trang thì tôi đã bỏ cuốn sách và không đọc lại nó cho tới tận bây giờ.

Lý do là mới đọc được vài dòng thì thấy tác giả trước khi đi vào bình luận một vấn đề đã đưa ra những lời xúc xiểm miệt thị, một kiểu như xác định lập trường, sau rồi mới đi vào phân tích chuyên môn. Kiểu hành văn hoàn toàn trái ngược không giống gì với những cách hành văn của các tác giả Âu Mỹ mà tôi vẫn đọc.

Những cuốn sách của các tác giả Âu Mỹ, xa xưa thì như cuốn Của cải của các quốc gia của Adam Smith, gần thì như các cuốn Thế Giới Phẳng, Chiếc Lexus và cây Ô lưu, Vì sao các quốc gia thất bại, Sự bí ẩn của tư bản.

Đó đều là những cuốn sách chỉ ra chính sách phát triển đúng đắn đưa đến sự thịnh vượng của các nền kinh tế, chúng đều được hành văn một cách khoa học, sáng sủa, nhân văn, logic và đôi khi hài hước.

Nhờ đọc những sách đó, người đọc có thể nói là sẽ thấm đượm tinh thần khoan dung khoa học của một thứ chủ nghĩa nhân văn sâu sắc, cho nên cách viết của cuốn sách nói trên kia quả là trái ngược.

Tìm hiểu thì được biết tác giả cuốn sách viết về Đài Loan là một học giả người Trung Quốc công tác tại Đại học nhân dân Bắc Kinh. Điều đó giúp hình dung phần nào về bầu không khí tri thức và cách thức nhìn nhận sự việc của học giả Trung Quốc.

Để ý kiểm nghiệm lại thì thấy, là người Việt Nam chăm chỉ tìm đọc dòng sách tinh hoa từ khoảng chục năm trở lại đây, tôi không thấy có một tác phẩm đáng đọc nào của tác giả người Trung Quốc.

Không có một tác phẩm mô tả triết lý phát triển nào của các học giả, trong khi 50 năm qua Trung Quốc phát triển thần kỳ từ một nước thế giới thứ ba đến nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới.

Các lãnh đạo Trung Quốc cũng không có các cuốn sách dạng hồi ký cho thấy về những chính sách vĩ mô và vi mô đã đưa đến thành tựu phát triển cho Trung Quốc.

Kiểu sách dạng như Hồi ký của nhà lãnh đạo Singapore ông Lý Quang Diệu hoặc hồi ký của nhà lãnh đạo Malaysia ông Mahathir Mohamad mà qua đó người đọc thấy được phần nào quá trình phát triển một quốc gia.

Vậy thì nền tảng phát triển của Trung Quốc là gì ? Những giá trị con người nào đã đưa đến sự phát triển của Trung Quốc ?

Nếu Trung Quốc muốn lãnh đạo thế giới thì phải thuyết phục được tầng lớp tinh hoa tri thức của các nước.

Đằng này, cứ tạm coi tôi là một người thuộc giới trí thức tinh hoa của Việt Nam đi, mà tôi không thấy được thuyết phục bởi triết lý phát triển nhân văn của Trung Quốc, thì thử hỏi Trung Quốc làm sao chứng tỏ được khả năng lãnh đạo thế giới.

Thấy gì ?

Khi quan sát về Trung Quốc, người Việt Nam sẽ chỉ thấy được là khi họ giàu có thì họ sẽ như thế nào chứ họ không nói cho thấy điều gì đằng sau đã giúp trở lên giàu có.

Ngoài một vài nét lớn mà ai cũng biết như việc chuyển đổi mở cửa nền kinh tế thu hút vốn đầu tư nước ngoài, một sự quay lưng với triết lý của chủ nghĩa xã hội về tư bản bóc lột trước đó, và việc tham gia vào Tổ chức thương mại quốc tế WTO.

Cho tới vài năm trở lại đây, qua việc Mỹ trừng phạt thương mại, thế giới mới nhận ra đằng sau sự phát triển của Trung Quốc là những chính sách thương mại chèn ép bất công, những hành vi gian lận và đánh cắp bí mật công nghệ.

Với động lực phát triển thiếu chân chính như vậy, đó là lý do đã không có cuốn sách nào về triết lý phát triển của Trung Quốc. Sự thiếu tính chính đáng là lý do khiến họ không có nhiều điều để tự hào nói với thế giới về chính sách phát triển.

Trung Quốc không còn là mô hình phát triển để Việt Nam có thể học tập làm theo. Nền chính trị cường quyền và nhận thức sô vanh nước lớn là cái đã khiến họ đang dần trên con đường đi xuống.

Con đường cụt

Hiện nay Trung Quốc đang gặp rất nhiều khó khăn và bị thế giới tẩy chay bởi chính những lối hành xử của nước này với thế giới.

Từ vấn đề Biển Đông, Đài Loan, Hong Kong, dịch cúm Covid, thực chất quan hệ thương mại với Mỹ suốt 50 năm qua, kế hoạch vành đai con đường cho các nước vay tiền và thế chấp bằng tài nguyên quốc gia, làm ăn bất chấp tiêu chuẩn giá trị về môi trường và nhân quyền.

tranh3

Môi trường kinh tế hiện nay là thách thức lớn nhất mà Trung Quốc phải đối mặt trong các năm gần đây

Lý do là ở Trung Quốc, chính trị là thống soái. Với một hệ thống toàn trị thì quan điểm nhận thức của tầng lớp chóp bu là cái chi phối tới toàn bộ máy bên dưới và ảnh hưởng ra toàn xã hội.

Do vậy mà khi đường lối chính trị nặng về cảm tính, thiếu về lý trí, thì cái hệ quả gây ra là những sự vụ bất hợp lý trong mọi mặt quan hệ xã hội, bên ngoài thì thấy rõ nhưng bên trong lại mù quáng không nhìn ra được.

Ông Lý Quang Diệu từng có lời khuyên cho các nhà lãnh đạo Trung Quốc rằng "hãy cứ chăm lo phát triển kinh tế và cúi đầu mỉm cười thêm 50 năm nữa".

Lời khuyên này của ông Lý ở thời điểm những năm 2000s, như thế hiện nay ông Tập Cận Bình đã đưa Trung Quốc trỗi dậy quá sớm, không đúng như lời khuyên của ông Lý, và cũng không đúng như chính sách thao quang dưỡng hối của nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình trước kia.

Đúng ra theo ông Lý Quang Diệu, và cũng là theo nhận thức hợp lý của phần lớn thế giới, là khi Trung Quốc giàu lên, kinh tế phát triển, thì anh phải chăm lo cân bằng đời sống xã hội, quan tâm đến những thành phần yếu thế, các nhóm xã hội bị thiệt thòi, để phát triển hài hòa, tránh sự phát triển bất cân bằng tạo ra bất mãn xung đột xã hội.

Cùng với sự phát triển kinh tế anh phải dần tôn trọng các chuẩn mực giá trị, tôn trọng nhân quyền, dân chủ hóa, có như thế Trung Quốc sẽ phát triển bền vững hơn bao giờ hết.

Nhận thức hợp lý là như vậy.

Nhưng thực tế ngược lại, khi Trung Quốc giàu lên, họ lại sử dụng tiền để đầu tư nhằm quản lý và cai trị xã hội chặt chẽ hơn, kiểm soát tinh vi hơn. Cùng với đó lãnh đạo Trung Quốc lại thực hiện giấc mộng Trung Hoa và biến đó thành mục tiêu cho phép họ thực hiện mọi thủ đoạn đối xử với dân chúng và quốc tế miễn sao đạt được mục đích.

Bằng cách đó chính phủ Trung Quốc hoạt động thiếu lý trí, xa rời tính duy lý, họ trở nên cảm tính, mơ hồ về đường lối, nhận thức siêu hình, dẫn đến tình trạng của Trung Quốc ngày hôm nay.

Ở Việt Nam hiện nay, từ lâu cũng có quan điểm phải nhất quán, cứng rắn, thành kiến và trấn áp mọi biểu hiện đòi hỏi tự do, đặt mục tiêu phát triển kinh tế và giữ ổn định chính trị lên trên hết thảy.

Điều đó thực chất đã chối bỏ không nhìn nhận một diễn tiến phát triển tất yếu về mối quan hệ song sinh giữa phát triển kinh tế với phát triển nhận thức và nhu cầu được tôn trọng thực hiện nhân quyền. Từ đó gây hao tổn nguồn lực và tạo ra thêm những xung động xã hội thay vì dành nguồn lực cho phát triển con người.

Việt Nam có cố gắng cách mấy cũng chẳng thể làm tốt việc cai trị xã hội như Trung Quốc đã làm và đó chính xác là những gì đang đưa đến tình trạng khó khăn của họ như hiện nay. Do vậy Việt Nam cần tránh đi con đường cụt của Trung Quốc.

Ngô Ngọc Trai

Nguồn : BBC, 04/08/2020

Luật sư Ngô Ngọc Trai gởi bài từ văn phòng luật Công Chính tại Hà Nội.

Published in Diễn đàn

Tướng Vịnh nói "quan ngại" về Biển Đông tại hội nghị Quốc phòng ASEAN

Hoàng Lan, Thoibao.de, 09/07/2020

Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh đã phản pháo phát biểu của một đại điện Trung Quốc tại hội nghị trực tuyến của các quan chức cấp cao quốc phòng trong khu vực khi cho rằng vấn đề Biển Đông đang gây "quan ngại" chứ không "làm chúng ta yên tâm".

bayto1

Hội nghị trực tuyến Quan chức Quốc phòng cấp cao các nước ASEAN mở rộng (ADSOM+) đã được Bộ Quốc phòng tổ chức sáng 7/7.

Sau khi đại diện Trung Quốc Song Yanchao, phó giám đốc Văn phòng Hợp tác Quân sự Quốc tế của Trung Quốc phát biểu tại cuộc họp trực tuyến Các quan chức quốc phòng cấp cao ASEAN mở rộng tại Hà Nội hôm 7/7, Thượng tướng Vịnh nói Việt Nam hoan nghênh việc Trung Quốc "đề cao vai trò trung tâm của ASEAN cũng như bày tỏ mong muốn có được một mối quan hệ tốt đẹp với ASEAN và xử lý tốt vấn đề Biển Đông".

"Tuy nhiên, không thể nói rằng vấn đề Biển Đông đang làm cho chúng ta yên tâm mà rõ ràng cái đó hiện nay đang gây ra những quan ngại, đã được thể hiện trong hội nghị ADSOM (Asean Defense Senior Officials Meeting Plus) mà chúng ta tổ chức cách đây 1 tháng", ông Vịnh nói.

Tình hình Biển Đông thời gian gần đây có những diễn biến phức tạp hơn

Tại hội nghị ADSOM tổ chức giữa tháng 5 vừa qua, các quan chức quốc phòng cho rằng tình hình Biển Đông thời gian gần đây có những diễn biến mới, phức tạp hơn. Hội nghị nêu rõ : "Nếu các bên không bình tĩnh, kiềm chế và tăng cường hợp tác để tháo gỡ những bất đồng thì căng thăng có thể leo thang và làm thay đổi hiện trạng tranh chấp, không có lợi cho hòa bình, ổn định ở khu vực".

Hôm 8/7, cũng tại một cuộc họp của các giới chức quốc phòng khu vực trong khuôn khổ Hội nghị cấp cao ASEAN được tổ chức trực tuyến, ông Vịnh đưa ra nhận định tương tự, không lâu sau khi Việt Nam thay mặt cho 10 quốc gia thành viên khối các nước Đông Nam Á đưa ra tuyên bố chung nhấn mạnh việc giải quyết tranh chấp bằng luật pháp quốc tế.

"Trong khi các quốc gia tập trung phòng, chống dịch Covid-19, những điểm nóng vẫn tiếp tục tồn tại và gây ra quan ngại trong khu vực và trên thế giới", Thứ trưởng Vịnh nói tại Hội nghị trực tuyến Chính sách An ninh diễn đàn khu vực ASEAN tổ chức tại Hà Nội hôm 8/7. "Trong đó có thể kể đến một số thách thức như : môi trường, an ninh mạng, vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, khủng bố, vấn đề an ninh biển - trong đó có Biển Đông".

Trước đó hôm 26/6, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc khi phát biểu khai mạc Hội nghị Cấp cao ASEAN nói rằng "trong khi cả thế giới đang gồng mình chống dịch, vẫn xuất hiện những hành động thiếu trách nhiệm, vi phạm luật pháp quốc tế, ảnh hưởng đến môi trường an ninh và ổn định ở một số khu vực, trong đó có khu vực của chúng ta". Ông Phúc không cụ thể nhắc tới ai nhưng theo đánh giá của Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp thuộc viện nghiên cứu Đông Nam Á ISEAS-Yusof Ishak thì "rõ ràng chúng ta hiểu là nhắc tới hành vi của Trung Quốc".

Người đứng đầu chính phủ Việt Nam kêu gọi các nước khối ASEAN hợp tác kiềm chế hành động làm phức tạp Biển Đông.

Thượng tướng Vịnh hôm 8/7 cũng kêu gọi "sự hợp tác rộng lớn" và sự cần thiết của việc "xây dựng lòng tin để giải quyết các vấn đề an ninh trong khu vực trên cơ sở luật pháp quốc tế bằng biện pháp hòa bình".

Trung Quốc trong những tháng gần đây tăng cường các động thái gây căng thẳng trong khu vực Biển Đông như đâm chìm tàu cá của ngư dân Việt Nam, tiến hành các cuộc tập trận quân sự cũng như tuyên bố thành lập các quận hành chính ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những động thái này bị Việt Nam, Mỹ và cộng đồng quốc tế phản đối.

Nhiều đại biểu tham dự Hội nghị trực tuyến Chính sách An ninh diễn đàn khu vực ASEAN tại Hà Nội cũng bày tỏ quan ngại trong bối cảnh đại dịch Covid-19 vẫn xuất hiện những hành động đơn phương ảnh hưởng đến môi trường an ninh và ổn định ở khu vực, đồng thời hoan nghênh Tuyên bố của Chủ tịch Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 36 vừa qua, theo Cổng thông tin Điện tử Bộ Quốc phòng.

Trong tuyên bố chung của khối ASEAN hiện do Việt Nam làm chủ tịch luân phiên đưa ra hôm 26/6, Công ước Luật biển Liên Hợp Quốc được nhắc tới như là một khẳng định cho việc thượng tôn pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia tranh chấp lãnh hải trên Biển Đông.

Mỹ cũng đã lên tiếng hoan nghênh tuyên bố này và Ngoại trưởng Mike Pompeo hôm 27/6 cảnh báo "Trung Quốc không được phép coi Biển Đông là đế chế hàng hải của mình".

Trung Quốc chưa chính thức lên tiếng trước tuyên bố của ASEAN hay của ngoại trưởng Mỹ nhưng truyền thông nước này cho rằng sự ủng hộ của Mỹ khiến Việt Nam và các quốc gia ASEAN tự tin hơn trong việc tăng cường tuyên bố trên Biển Đông và rằng Mỹ sẽ làm phức tạp thêm tình hình trong khu vực.

"Mối quan hệ giữa các nước lớn đó là việc của các nước lớn, chúng tôi tôn trọng mối quan hệ đó nếu nó tuân thủ luật pháp quốc tế, nó đem lại lợi ích hòa bình cho khu vực và tôn sự tôn trọng các nước nhỏ trong khối ASEAN", tướng Vịnh nói hôm 7/7.

bayto2

Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh tại cuộc họp Các quan chức Quốc phòng cấp cao ASEAN mở rộng được tổ chức trực tuyến từ Hà Nội hôm 7/7.

Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh hôm 8/7 chủ trì một hội nghị trực tuyến của ASEAN về chính sách an ninh.

Có tổng số 26 đoàn tham dự cuộc họp được tổ chức tại Hà Nội, gồm cả đại diện từ các nước không thuộc khối ASEAN như Nhật Bản, New Zealand, EU.

Từ lâu nay, ASEAN đã tập trung vào vấn đề hòa bình và ổn định trong khu vực và đã từng tìm cách đề cập tới cuộc xung đột ở Biển Đông.

Kể từ 2002, khối ASEAN đã nỗ lực xây dựng Bộ Quy tắc Ứng xử (COC) ở Biển Đông với Trung Quốc và bản dự thảo sơ khởi đã được đồng ý hồi năm 2018.

Sóng gió ở Biển Đông

Năm nay, Hội nghị Chính sách an ninh Diễn đàn khu vực ASEAN (ASPC) diễn ra vào lúc quân đội Trung Quốc tiến hành diễn tập tại khu vực Quần đảo Hoàng Sa có tranh chấp.

Việt Nam và Philippines đã mạnh mẽ chỉ trích cuộc tập trận và lo sợ về những tuyên bố đòi chủ quyền ngày càng tiến xa hơn của Trung Quốc.

Hoa Kỳ cũng đã phản ứng với việc phô trương sức mạnh bằng hoạt động diễn tập của hai hàng không mẫu hạm ở Biển Đông.

Phát biểu tại Hội nghị, Tướng Vịnh nêu ra "các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống" bên cạnh đại dịch Covid-19.

"Trong khu vực cũng có nhiều thách thức làm chúng ta quan ngại. Như vấn đề an ninh mạng, vấn đề hạt nhân bán đảo Triều Tiên, vấn đề khủng bố, vấn đề an ninh biển, trong đó Biển Đông là một trong những điểm nóng", trang VOV trích tướng Vịnh.

Tham gia họp từ Nhật Bản, Thứ trưởng Quốc phòng Nishida Yasunori nói việc đơn phương thay đổi hiện trạng là không thể chấp nhận được.

"Chúng tôi tin vào một trật tự hàng hải mở, tự do dựa trên luật lệ ở Biển Đông", ông Yasunori được Vietnamnet trích lời, nói.

EU cũng có quan điểm tương tự.

"EU cũng ủng hộ quan điểm của ASEAN về thiết lập một trật tự dựa trên luật lệ và cũng như quản trị biển dựa trên luật lệ. Đây là cách duy nhất để duy trì lòng tin và sự đồng thuận", Guillaume Décot, Cơ quan Hành động đối ngoại, Liên minh Châu Âu (EU), được truyền thông Việt Nam dẫn lời.

Việt Nam sẽ muốn thúc đẩy tiến trình đàm phán về Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông trong hội nghị ngày hôm nay tại Hà Nội, dẫu cho khó có khả năng đạt được tiến triển gì.

Nhiều khả năng Trung Quốc sẽ tiếp tục bỏ lửng việc đàm phán, bởi nước này không đạt được mấy ích lợi từ việc cho ra Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông.

Người ta cho rằng căng thẳng sẽ còn tiếp tục dâng cao giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc tại Biển Đông, trong lúc ASEAN vẫn bế tắc về việc làm sao để điều tiết tình hình khu vực.

Hoàng Lan

Nguồn : Thoibao.de, 10/07/2020

********************

Mục đích che giấu sau các cuộc tập trận của hải quân Trung Quốc

Nguyễn Ngọc Chu, Thoibao.de, 08/07/2020

Việc Trung Quốc cùng lúc tập trận trên các biển Hoàng Hải, Đông Hải, Nam Hải (theo cách gọi của Trung Quốc) trong căng thẳng xung đột biên giới với Ấn Độ đặt ra nhiều điều phải suy nghĩ nghiêm túc về chiến lược và chiến thuật của Trung Quốc.

bayto3

Sức mạnh của Hải quân Trung Quốc năm 2020. Trung Quốc đang sản xuất tàu chiến với tốc độ đáng kinh ngạc

Một là, Trung Quốc đang tạo ra rất nhiều kẻ thù. Ở trên bộ, hiện Trung Quốc đang chủ động tranh chấp lãnh thổ với 12 trên tổng số 14 quốc gia có biên giới chung với Trung Quốc. Mỗi khi biên giới với các nước láng giềng căng thẳng đều do bắt đầu từ phía Trung Quốc. Căng thẳng biên giới Trung-Ấn hiện nay là do Trung Quốc muốn thay đổi hiện trạng đường biên giới. Chiến tranh Trung-Ấn (1962), Trung-Xô (1969), Trung-Việt (1979-1989) đều bắt đầu từ Trung Quốc tấn công trước.

Ở trên biển, Trung Quốc tranh giành với tất cả các quốc gia có giáp giới biển. Đó là với 2 miền Triều Tiên ở Hoàng Hải. Với Nhật Bản ở Đông Hải. Với Việt Nam, Phillipines, Malaysia và Indonesia ở Nam Hải. Và với Mỹ ở Thái Bình Dương.

Hai là, Trung Quốc đang dồn trọng tâm tranh chấp sang biên giới biển. Trung Quốc không bao giờ ngừng tranh chấp lãnh thổ trên bộ. Nhưng đó là cuộc tranh chấp mà Trung Quốc giữ vai trò "nhạc trưởng". Trung Quốc chỉ cánh tay về biên giới nước nào là phía đó vang lên tiếng súng xung đột. Là kẻ đi chiếm đất, Trung Quốc thích gây chiến lúc nào là bắt đầu lúc đó. Sự xâm lược đất nằm trong thế chủ động của Trung Quốc.

Khác với đất liền, Trung Quốc không thể dàn quân thường trực theo biên giới biển. Cho nên trên biển, thế chủ động không phải lúc nào cũng thuộc về Trung Quốc. Trên biển, các quốc gia khác có thể chủ động tuần tra và khai thác vùng biển thuộc chủ quyền của họ, dẫu rằng Trung Quốc có tuyên bố là của Trung Quốc thì Trung Quốc cũng không có khả năng ngăn cản triệt để.

Bởi thế, khi Trung Quốc chuyển trọng tâm sang xâm chiếm biển, thì Trung Quốc phải đủ khả năng đối phó trên tất cả 3 biển Hoàng Hải, Đông Hải, Nam Hải. Hơn thế nữa,Trung Quốc phải đủ tiềm lực đối phó cùng lúc trên đất liền với các đối thủ quan trọng. Cho nên Trung Quốc đã tập trận trên cả 3 biển Hoàng Hải, Đông Hải, Nam Hải trong căng thẳng biên giới Trung-Ấn mà Trung Quốc không chủ động tăng nhiệt.

Nhưng Trung Quốc có gắng phô diễn sức mạnh trên biển bao nhiêu thì cũng không che được sự thực về lực lượng và sức mạnh mạnh thực tế của Hải quân Trung Quốc.

Hải quân Trung Quốc tuy nhiều về số lượng nhưng không phải dẫn đầu về công nghệ. Dẫu là tàng hình, dẫu là săn ngầm, dẫu là phát hiện và khóa mục tiêu ở khoảng cách 200 - 300 km… nhưng công nghệ Trung Quốc đều là hạng 2. Khi chiến sự xẩy ra, sự chậm trễ dù chỉ 0,0001% giây, tàu chiến, tàu ngầm, máy bay của Trung Quốc sẽ đều bị bắn hạ trước. Trên biển không phải là trên bộ để 1 người lính chống trả được cả trung đội hay sống sót dưới làn mưa bom. Trên biển bị bắn hạ là thua trận.

Ở mặt khác, hợp đồng tác chiến của Hải quân Trung Quốc còn ở mức "vỡ lòng". Hàng không mẫu hạm Liêu Ninh mua lại của Liên Xô cũ chở lèo tèo mấy chiếc J-10, J-16 (phiên bản copy của Su-27) chỉ mang tính phô diễn mà không đủ tính thực chiến. Trung Quốc biết điều đó nên phải gấp rút xây dựng căn cứ quân sự trên đảo nhân tạo. Không phải cứ có tàu chiến là kịp thời xung trận và xung trận hiệu quả. Trong tình thế ở giữa đại dương mênh mông, bất kỳ hướng nào cũng có địch mà không có gì để che chở, thì làm mồi cho đối thủ với hệ thống điều khiển tự động tìm diệt và điều khiển vệ tinh trúng đến từng mét vuông là điều khó tránh khỏi. Hải quân Trung Quốc, vì thế khi gặp đối thủ trên cơ về công nghệ (như Nhật Bản) là tan xác, bất chấp đối thủ có ít hơn về số lượng tàu chiến. Điều mà Trung Quốc cuối cùng phải dựa vào để đe dọa chính là vũ khí hạt nhân.

Trung Quốc tuy to miệng trước các nước mạnh mà không dám gây chiến. Nhưng Trung Quốc đánh thật các nước nhỏ.

bayto4

Tàu cá của ngư dân Quảng Ngãi bị tàu hải cảnh Trung Quốc đâm chìm tại Hoàng Sa ngày 02/4

Dựa vào số đông các tàu chiến và tàu hải cảnh có sức chứa lớn, giống như bọn cướp đường, Trung Quốc ồ ạt kéo cả hàng trăm tàu chiến khi có sự cố trên biển để áp đảo về số lượng. Bằng hàng chục vạn tàu dân quân bọc thép trang bị vũ khí ngầm, Trung Quốc ồ ạt đâm đuổi thuyền cá các nước và chiếm lĩnh ngư trường các nước. Bằng cách này, Trung Quốc chiếm trọn bãi cạn Scarborough của Philippines đâm chìm thuyền cá Việt Nam ở khắp mọi nơi, tiến sâu cả vào lãnh hải Indonesia, lấy trọn ngư trường ở Biển Đông Nam Á.

Bằng cách này, không chỉ chiếm lĩnh ngư trường, Trung Quốc đưa tàu chiến đến để bảo vệ tàu Hải Dương 981, tàu Hải dương Địa chất 8 của Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, của Malaysia và của Philippines.

Ngang ngược hơn, Trung Quốc cấm bắt đánh cá ở Biển Đông Nam Á bất cứ lúc nào Trung Quốc muốn ; Trung Quốc cấm tàu thuyền các nước đến bất cứ khu vực nào Trung Quốc thích. Trung Quốc đang tập trận không chỉ phô diễn lực lượng, mà khẳng định các biển nơi Trung Quốc đang tập trận là biển của Trung Quốc.

Sau cấm đánh bắt cá và cấm tàu thuyền đi lại trên biển, Trung Quốc toan tính cấm máy bay các nước đi lại trên bầu trời. Các cuộc tập trận hiện nay của Trung Quốc là màn pháo dạo đầu để khai trương vùng nhận dạng phòng không ADIZ của Trung Quốc trên Biển Đông Nam Á. Đấy mới là mục đích quan trọng nữa của các tập trận của Hải Quân Trung Quốc hiện nay.

Điều đó lý giải tại sao Hoa Kỳ ngày 4/7/2020 đã tập hợp hai nhóm tàu sân bay USS Nimitz và USS Ronald Reagan tiến vào biển Đông Nam Á, trong khi Trung Quốc đang ngang nhiên tập trận ở quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

bayto5

Hai nhóm tàu sân bay USS Nimitz và USS Ronald Reagan tiến vào biển Đông Nam Á

Để làm được điều này, Hoa Kỳ đã có các cuộc chuyển quân trường chinh thần tốc. Chuyến bay liên tục 28 tiếng đồng hồ của pháo đài bay B-52H từ Louisiana tới biển Đông Nam Á tập trận cùng hai nhóm tàu sân bay USS Nimitz và USS Ronald Reagan trước khi hạ cánh xuống đảo Guam đã nói lên khả năng tác chiến của Mỹ tại biển Đông Nam Á khi cần thiết. Và đừng lầm tưởng về ý chí cũng như khả năng của Hoa Kỳ. Càng đừng quá cậy nhờ vào con virus Vũ Hán đã đánh gục Hải quân Hoa Kỳ và làm giảm sức mạnh của chính cả Hoa Kỳ.

Đến biển Đông Nam Á, các chiến đấu cơ của USS Nimitz và USS Ronald Reagan đã cất cánh hàng trăm lượt mỗi ngày. Ngày 4/7, B-52H đã có màn phô diễn dẫn đầu đội hình 12 máy bay gồm 10 chiến đấu cơ F/A-18 và 2 máy bay cảnh báo sớm E-2C.

Sự diễn tập của Hải quân Mỹ trong đối trọng với cuộc tập trận của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa là khẳng định Biển Đông Nam Á không phải là "ao nhà" của Trung Quốc. Rằng Trung Quốc không thể áp đặt vùng cấm trên biển, nên Trung Quốc đừng mưu toan áp đặt phòng nhận diện trên bầu trời.

Không ai muốn chiến tranh. Trung Quốc, mặc dù mạnh miệng nhưng không dám đối đầu với Mỹ. Mỹ cũng không muốn đối đầu với Trung Quốc. Nhưng sai lầm của Mỹ đang bắt Mỹ phải trả giá.

Đó là sai lầm bản lề không sửa chữa của Nixon và Kissinger năm 1971 khi để cho Trung Quốc thế chân chính quyền Trung hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch tại Liên hợp quốc. Đó là sai lầm chiến lược thiên niên kỷ khi để Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974. Đó là nước cờ sa bẫy Trung Quốc khi Mỹ để Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001. Đó là sự lùi bước tệ hại của Hoa Kỳ khi để Trung Quốc xây đảo nhân tạo năm 2014 tại Trường Sa.

Đến bây giờ thì nước Mỹ đã bắt đầu cảnh tỉnh. Không thể nhân nhượng được hơn nữa trước Trung Quốc. Không nhân nhượng Trung quốc đã lấn tới. Càng nhân nhượng Trung Quốc càng lấn tới.

Mọi đàm phán hòa hoãn đều dựa trên quyền lợi quốc gia là nhân tố quyết định số 1. Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, rút khỏi hiệp ước tên lửa tầm trung INF với Nga, rút khỏi WHO đều là vì quyền lợi của Hoa Kỳ mà kẻ đe dọa chính là Trung quốc. Nhưng tất cả đó chỉ là những nước cờ cục bộ. Những nước cờ cục bộ đó đưa lại cho Hoa Kỳ những lợi ích ngắn hạn chỉ đủ làm cho Trung Quốc tạm dừng bước. Nhưng rồi Trung Quốc sẽ tiếp tục lấn tới - mà luật an ninh Hongkong vừa được ban bố bởi chính quyền Bắc Kinh cho thấy sự bướng bỉnh không lùi bước của Trung Quốc.

Rồi đến lúc Hoa Kỳ phải cắt khối ung thư Trung Quốc bằng những cuộc đại phẫu luật lớn hơn nhiều. Trong đó rất đáng phải làm là thành lập tổ chức mới thay thế Liên hợp quốc.

Còn Việt Nam thì sao ?

Thời gian qua các nước khối ASEAN mà cụ thể là Indonesia, Việt Nam, Philippines và Malaysia đã có sự đồng thuận khích lệ khi mở chiến dịch "công hàm" phản kháng sự xâm lược ngang ngược của Trung Quốc ở biển Đông Nam Á. Gần đây nhất, Công hàm ngày 12/6/2020 của Indonesia gửi Liên hợp quốc đã khẳng định rõ ràng rằng :

"Không có thực thể nào ở quần đảo Trường Sa có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng, do vậy không có thực thể nào sinh ra vùng biển chồng lấn với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Indonesia".

"Không có quyền lịch sử nào của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tồn tại trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Indonesia. Nếu có quyền lịch sử nào đó tồn tại trước khi UNCLOS 1982 có hiệu lực, thì các quyền này đã bị các điều khoản của UNCLOS 1982 hủy bỏ".

"Do vậy, Chính phủ Indonesia thấy không có lý do pháp lý nào theo luật pháp quốc tế để tiến hành đàm phán về xác định biên giới biển với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, hoặc bất kỳ vấn đề nào khác liên quan đến quyền hàng hải, hoặc những đòi hỏi quyền lợi được đưa ra trái với luật pháp quốc tế".

Lập trường "Không có lý do pháp lý nào theo luật pháp quốc tế để tiến hành đàm phán về xác định biên giới biển với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, hoặc bất kỳ vấn đề nào khác liên quan đến quyền hàng hải, hoặc những đòi hỏi quyền lợi được đưa ra trái với luật pháp quốc tế" - phải là lập trường đá tảng của Việt Nam, Indonesia, Philippines và Malaysia trong quan hệ với Trung quốc ở biển Đông Nam Á.

Hơn thế nữa, Việt Nam phải có đối sách quyết liệt và rõ ràng hơn trong tập trung nguồn lực chống lại sự xâm lược của Trung Quốc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam.

Việt Nam không thể rời bỏ bãi Tư Chính. Việt Nam không thể từ bỏ khu vực Cá Rồng Đỏ dù Repsol ra đi. Tạm ngừng khai thác chỉ là khoảng dừng.

Hơn thế nữa, Việt Nam cần có bảo bối mới trong bảo vệ chủ quyền biển đảo. Việt Nam cần có những vũ khí "khắc tinh" với Hải quân Trung Quốc, nhất là chống lại lực lượng tàu ngầm Trung Quốc. Việt Nam cần có những vũ khí tìm diệt mới mà Trung quốc không có. Chỉ trong trường hợp đó, sự hung hăng của Hải quân Trung Quốc ở biển Đông Nam Á mới thực sự bị kiềm chế. Nếu Việt Nam chỉ sở hữu các loại vũ khí mà Trung Quốc có thì Trung Quốc luôn lấn tới cậy nhờ vào số đông áp đảo. Nên nhớ rằng trên biển khác với trên bộ. Trên biển không thể cậy nhờ chỉ mỗi tinh thần quyết thắng và mưu mẹo.

Hơn thế nữa, Việt Nam phải có đồng minh trên biển. Việt Nam phải tập trận trên biển. Chuẩn bị cho chiến trận là cách tốt nhất để ngăn chặn chiến trận.

Bàn cờ thế giới đang nóng bỏng cho một bước ngoặt thay đổi radical (căn bản). Nhưng Việt Nam dường như đang bận tâm quá nhiều về bàn cờ nhân sự.

Nguyên thủ quốc gia chỉ có bàn cờ thế giới. Nguyên thủ quốc gia không có bàn cờ nhân sự. Bàn cờ nhân sự là của nhân dân.

Nguyễn Ngọc Chu

Nguồn : Thoibao.de, 08/07/2020

Published in Diễn đàn

Biển Đông : Trung Quốc mượn gió bẻ măng nhưng thời thế hiện không dễ cho họ

Mỹ Hằng, Trần Công Trục, BBC, 21/06/2020

Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên trưởng ban Biên giới chính phủ Việt Nam phản hồi 'bốn kịch bản Trung Quốc có thể làm nếu bị Việt Nam kiện ra tòa quốc tế' do ông Ngô Sỹ Tồn (Wu Shicun) Giám đốc Viện Nghiên cứu Quốc gia Trung Quốc về Biển Đông (NISCSS) công bố mới đây.

bd1

Ảnh chụp ngày 4/7 2016 cho thấy các tàu Trung Quốc tham gia tập trận ở Biển Đông

Trao đổi với BBC News Tiếng Việt, Tiến sĩ Trần Công Trục cho hay ông từng gặp ông Ngô Sỹ Tồn trong một cuộc đám phán giữa Việt Nam và Trung Quốc về giải quyết vấn đề tranh chấp trên vịnh Bắc Bộ cách đây nhiều năm và từng đọc một số bài nghiên cứu của ông Tồn, trong đó có bài viết về 'bốn kịch bản'.

"Theo nhận định của tôi, với tư cách là một người nghiên cứu về luật pháp, tôi cho rằng ông này không phải là một chuyên gia luật. Vì những điều ông ấy viết không phản ánh tư duy khách quan của một chuyên gia luật pháp. Bốn kịch bản này thực sự chỉ là những lời mang tính chất hăm dọa, kích động, và không có gì mới. Trong thực tế Trung Quốc đã làm những điều này từ lâu", ông Trục nói.

BBC : Theo ông nếu đúng là Trung Quốc sẽ tiến hành bốn kịch bản này, chính phủ Việt Nam có 'dám' kiện nữa không ?

Trần Công Trục : Như tôi nói ở trên, bốn kịch này này Trung Quốc đã làm từ lâu. Trung Quốc chỉ lặp lại các các đe dọa trên phương diện ngoại giao kèm theo các hành động thô bạo trên thực tế.

Kịch bản một : Trung Quốc dọa sẽ công bố hệ thống đường cơ sở ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam mà họ gọi là Nam Sa.

Trên thực tế, Trung Quốc đã làm điều này từ 1996, khi họ nối tất cả các điểm ngoài cùng của các thực thể thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, để tạo thành đường cơ sở, như là một quốc gia quần đảo. Đây là việc Trung Quốc giải thích và áp dụng hoàn toàn sai Công ước Quốc tế về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982).

Nhiều học giả đã phân tích về hành động sai trái này. Đặc biệt trong công hàm của phái đoàn thường trực Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gửi cho Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc vừa qua cũng khẳng định quan điểm của UNCLOS 1982, quy định rằng không thể nối tất cả các điểm của các thực thể ở ngoài cùng quần đảo Trường Sa để biến nó thành một đường cơ sở, như là một quốc gia quần đảo.

bd2

Đường cơ sở thẳng do Trung Quốc tự công bố quanh quần đảo Hoàng Sa

Tôi cho rằng Trung Quốc đang làm tương tự với quần đảo Trường Sa. Sở dĩ họ chưa công bố đường cơ sở ở đây là do bị lên án rất nhiều, cho nên họ đang tính toán. Họ cũng đang tính toán để mở rộng, chiếm đóng thêm một số bãi cạn nằm ngoài quần đảo Trường Sa, gần thềm lục địa đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Malaysia, Brunei, Indonesia và Philippines.

Đây là việc cố tình giải thích, áp dụng sai công ước để hiện thực hiện yêu sách đường chín đoạn phi pháp. Bây giờ họ chỉ nhắc lại chuyện cũ này, nó không có giá trị gì về mặt luật pháp quốc tế.

Điều 7 UNCLOS quy định một nước chỉ có thể vạch đường cơ sở thẳng nếu bờ biển nước này thuộc một trong ba trường hợp sau :

1) bờ biển khúc khủy, lồi lõm sâu,

2) có chuỗi đảo chạy dọc theo bờ biển và ngay liền kề, hoặc

3) bờ biển không ổn định do có đồng bằng Châu thổ hoặc do các điều kiện tự nhiên khác.

Phán quyết năm 2016 của Tòa trọng tài (vụ Philippines kiện Trung Quốc) : Tòa biết rằng có một số quốc gia sử dụng đường cơ sở thẳng cho các quần đảo xa bờ như là đường cơ sở quần đảo. Theo quan điểm của Tòa, bất kỳ việc áp dụng đường cơ sở thẳng nào đối với quần đảo Trường Sa theo cách thức đó đều trái với UNCLOS 1982 (điều 7).

Kịch bản hai : Trung Quốc đe dọa đẩy mạnh việc ngăn cấm, đánh đập, giam cầm các ngư dân Việt Nam hoạt động trên vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa. Điều này họ cũng làm lâu rồi. Năm nào Trung Quốc cũng công bố quyết định cấm đánh bắt cá, năm nào cũng đốt tàu, bắt giam, đánh đập ngư dân Việt Nam.

Quốc tế cũng đã đánh giá đây là hành động "cướp biển" mang tính chất nhà nước. Nhưng tôi cho rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục làm điều này chừng nào họ đạt được tham vọng khống chế, độc chiếm Biển Đông, chứ không cần chờ đến lúc Việt Nam kiện.

Kịch bản ba : Trung Quốc dọa tăng cường ngăn cản Việt Nam quân sự hóa ở Trường Sa. Việc họ nói Việt Nam quân sự hóa là hoàn toàn bịa đặt. Trung Quốc mới chính là nước đang quân sự hóa trên Biển Đông.

Việt Nam có mặt ở đó, trên 21 vị trí trên quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, và có các lực lượng quân đội, khoa học kỹ thuật, nhân sự để quản lý và bảo vệ chủ quyền của mình trên các thực thể đó là điều rất bình thường mà Việt Nam vẫn làm từ trước đến nay để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.

Từ lâu Trung Quốc đã uy hiếp Việt Nam, thậm chí dùng vũ lực để đánh chiếm, gây ra thảm họa cho người Việt Nam trong lúc đang làm nhiệm vụ bảo vệ quần đảo Hoàng Sa, như vụ Gạc Ma.

Trung Quốc sẽ tiếp tục các hành động này, nhưng trong bối cảnh hiện nay khi nhiều nước trên thế giới đã lên tiếng phản đối, họ có làm được hay không chúng ta cần phải chờ xem.

Kịch bản thứ tư : Trung Quốc dọa triển khai khai thác dầu khí ở Bãi Tư Chính. Trên thực tế Trung Quốc đã thực hiện rồi, nhưng mà làm không được. Năm ngoái Trung Quốc đưa tàu địa chất Hải Dương vào hoạt động ở Bãi Tư Chính hơn một tháng để thăm dò điều kiện nhằm tiến hành khai thác ở đây.

Mục tiêu của họ là hợp pháp hóa đường lưỡi bò và biến các bãi cạn hoặc chìm dưới mặt nước trở thành một cấu trúc địa lý thuộc quần đảo Trường Sa. Đây là điều hết sức vô lý mà trong công hàm tôi nói ở trên, Việt Nam đã phản đối điều này. Các bãi cạn nửa nổi nửa chìm, hoặc hoàn toàn chìm dưới nước, không phải là đối tượng để biến thành bộ phận của một lãnh thổ nước nào.

UNCLOS 1982 đã nói rõ điều này : Nghiêm cấm biến các bãi cạn nằm trên thềm lục địa trở thành một bộ phận lãnh thổ của một quốc gia. Nhưng Trung Quốc vẫn cứ làm liều. Họ muốn áp đặt tư duy phi pháp của mình để thực hiện tham vọng vô lý.

BBC : Trong bốn kịch bản mà học giả Trung Quốc đưa ra, theo ông thì kịch bản nào Trung Quốc có nhiều khả năng thực hiện nhất và kịch bản nào ít khả năng nhất ? Kịch bản nào 'đáng sợ' nhất đối với Việt Nam ?

Trần Công Trục : Tôi cho rằng bốn kịch bản đó Trung Quốc đều có thể triển khai và đang tính toán thực hiện cả bốn. Tất nhiên là họ phải chọn thời điểm thích hợp, nhất là sau vụ dịch Covid-19.

Nhưng kịch bản tôi cho rằng họ có khả năng làm được nhất là kịch bản thứ nhất : Công bố đường cơ sở của quần đảo Nam Sa, để thực thi sách lược mà Trung Quốc gọi là Tứ Sa, biện minh cho yêu sách đường lưỡi bò phi pháp.

Khi họ công bố đường cơ sở này thì các nước có thể phản đối, nhưng thực ra công bố đó chỉ trên giấy tờ thôi, giống như Trung Quốc từng tuyên bố đường cơ sở ở quần đảo Tây Sa. Còn các kịch bản khác, họ có thể chỉ làm ở những phạm vi và điều kiện cho phép.

Ví dụ như việc Trung Quốc đánh đập, bắt bớ, đốt tàu cá thì đang gặp phải phản đối. Vì càng ngày quốc tế càng nhận ra bản chất phi pháp, phi đạo lý của Trung Quốc. Họ làm được các kịch bản còn lại như thế nào thì còn phụ thuộc vào thái độ của Việt Nam và quốc tế. Tôi nghĩ rằng Việt Nam sẵn sàng lên án và tìm mọi cách để đối phó lại các hoạt động phi pháp và trắng trợn của Trung Quốc.

Còn việc Trung Quốc đe dọa sẽ ngăn chặn hoạt động bảo vệ, quản lý của các lực lượng của Việt Nam trên các thực thể thuộc chủ quyền của Việt Nam thì liệu có làm được không trong tình hình hiện nay ? Không phải dễ, bởi Việt Nam đang nỗ lực hợp tác cùng các quốc gia khác để tăng cường sức phòng thủ và sức chiến đấu của mình.

Khi chạm đến lãnh thổ thiêng liêng thì theo truyền thống của người Việt Nam "giặc đến nhà đàn bà cũng đánh". Dù kiềm chế xung đột, nhưng nếu lãnh thổ bị xâm phạm, thì chắc chắn người Việt Nam sẽ cầm súng đứng lên bảo vệ và chiến đấu đến phút cuối cùng. Do đó Trung Quốc không dễ dàng làm được điều này.

Việc thăm dò khai thác dầu ở Bãi Tư Chính liệu Trung Quốc cũng có làm được như đe dọa không ? Các công ty trên thế giới có hợp tác với họ không ? Với điều kiện địa lý kinh tế xa xôi như vậy thì lợi ích kinh tế Trung Quốc đạt được là gì hay họ chỉ nhằm vào mục đích khác : cố tính khuấy động khu vực này để Việt Nam không thể tiến hành thăm dò dầu khí được ? Nên nhớ là Trung Quốc đã làm việc này nhiều lần và cho tới nay Việt Nam vẫn đứng vững ở đó, vẫn tiến hành thăm dò khai thác dầu khí và vẫn bảo vệ được các quyền hợp pháp của mình trong khu vực này.

Trong bối dịch bệnh Covid-19 hiện nay, dù Trung Quốc đang tính toán để "đục nước béo cò", "mượn gió bẻ măng", nhưng nên nhớ những nước khác trong khu vực, cả kể những nước trước đây mềm mỏng với Trung Quốc như Malaysia, Philippines, Indonesia nay cũng có những tiếng nói phản đối mạnh mẽ Trung Quốc và ủng hộ lập trường của Việt Nam.

Các nước mạnh trên thế giới như Mỹ, EU, Ấn Độ, Nhật Bản đều lên tiếng phản đối Trung Quốc và kêu gọi cộng đồng quốc tế thượng tôn pháp luật. Nếu Trung Quốc tiếp tục các hành động trắng trợn này thì nhân loại sẽ không để yên. Với tình thế đó thì tôi cho rằng dù Trung Quốc đe dọa, hung hăng, nhưng có làm được không còn là câu chuyện khác.

BBC : Theo ông chính phủ Việt Nam có lường trước hết được các rủi ro của việc kiện Trung Quốc hay không và đã chuẩn bị cho việc này thế nào ?

Trần Công Trục : Để chuẩn bị một hồ sơ để gửi lên các cơ quan tài phán quốc tế, Việt Nam đã nghiên cứu rất kỹ tất cả các điều kiện trong nhiều năm qua. Vấn đề là Việt Nam không thể kiện Trung Quốc bất cứ nội dung nào.

Nhiều người lầm tưởng nếu kiện là kiện về vấn đề chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa. Không phải vậy. Nếu sau các đàm phán song phương, đa phương không có kết quả, Việt Nam chỉ có thể đơn phương kiện việc Trung Quốc áp dụng sai công ước UNCLOS 1982. Giống như Philippines đã làm.

Việt Nam không thể đơn phương kiện Trung Quốc vấn đề chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa hay chủ quyền ở các vùng nước chồng lấn. Vì việc này không thuộc phạm vi điều chỉnh của UNCLOS 1982. Để kiện những vấn đề này thì phải có sự thỏa thuận của các nước liên quan. Đơn phương kiện các nội dung đó thì các cơ quan tài pháp không xem xét đâu.

Nhiều người nói Việt Nam sợ Trung Quốc nên không kiện là không đúng. Khi có chân lý, pháp luật thì Việt Nam sẵn sàng làm, vì chính điều đó mới là cách đối xử văn minh, giữ vững hòa hiếu, bảo vệ uy tín của các bên liên quan. Khi đưa ra kiện có nghĩa động cơ của Việt Nam là thượng tôn pháp luật, đưa mọi việc ra dưới ánh sáng pháp lý.

Nếu thua, Việt Nam sẵn sàng không tiếp tục những điều mà từ trước đến nay Việt Nam đã làm một cách sai trái nếu đó là phán quyết của tòa. Nhưng để kiện thì cần phải tính đến nội dung, thủ tục, thời cơ, hiệu quả của việc kiện.

BBC : Theo nhận định của ông, nếu đặt lên bàn cân các thiệt hại mà Trung Quốc có thể gây ra cho Việt Nam, và cái mà Việt Nam đạt được nếu kiện, thì ông ủng hộ kiện hay không ?

Trần Công Trục : Tôi nghĩ rằng kiện là cách giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình. Việt Nam chưa bao giờ nói rằng sẽ không sử dụng biện pháp đó. Nhưng rõ ràng trong bối cảnh hiện nay, thì vấn đề kiện đòi chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa sẽ gác lại đó.

Cái có thể kiện hiện nay là như Philippines đã làm, kiện Trung Quốc về việc áp dụng sai công ước UNCLOS 1982. Nhưng nên nhớ rằng dù có phán quyết của tòa án, việc thực thi phán quyết lại không triển khai được do cơ chế thi hành án của các cơ quan tài phán quốc tế hiện nay phải thông qua Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc mà Trung Quốc là thành viên thường trực, có quyền phủ quyết.

Nghĩa là, thắng kiện thì được lợi về chính trị, ngoại giao, pháp lý, dư luận, và kết quả thắng đó sẽ trở thành một thực tiễn trong luật pháp quốc tế để người ta căn cứ vào đó đấu tranh để bảo vệ công lý. Nhưng như đã nói, việc thi hành phán quyết trên thực tế là không có. Do đó Việt Nam phải tính. Việc tập hợp ý kiến của các chuyên gia, luật sư, dư luận để cùng nhau có tiếng nói thống nhất là rất cần thiết.

BBC : Trong bối cảnh chính trị, xã hội toàn cầu hiện nay, khi các nước đang đương đầu với dịch bệnh Covid-19 và nền kinh tế nhiều nước trên thế giới đang phụ thuộc vào Trung Quốc, chính phủ Việt Nam cần chuẩn bị thêm những gì so để có thể đương đầu với Trung Quốc ?

Trần Công Trục : Nhưng như phân tích của tôi ở trên, có lẽ chúng ta chưa cần thiết đưa vấn đề ra cơ quan tài phán lúc này, nhất là vấn đề liên quan đến giải thích, áp dụng công ước UNCLOS 1982. Do hiệu quả của nó trong thực tế là hạn chế, như đã nói ở trên. Cần tập hợp thêm dư luận để đấu tranh ngoại giao, tăng cường đoàn kết để duy trì công ước UNCLOS 1982. Đây là điều quan trọng hiện nay.

Tôi không nói Việt Nam không nên kiện, nhưng cần tính kỹ nội dung, thủ tục, thời điểm và hiệu quả. Đến lúc mà tình hình xấu hơn, Trung Quốc trắng trợn hơn thì Việt Nam cũng sẽ phải mạnh mẽ hơn trong các phương diện đấu tranh, cả về quân sự và pháp lý.

bất chấp tất cả để thực hiện các hành vi phi pháp thì trước mắt tự bản thân Việt Nam phải đoàn kết, đánh giá bản chất các sự kiện một cách bình tĩnh, khoa học chứ không phải trên cơ sở duy ý chí. Muốn như vậy phải thể hiện rõ ràng lập trường pháp lý của mình để bạn bè quốc tế đồng tình ủng hộ. Tôi nghĩ vừa rồi Việt Nam đã làm được một số điều trong các việc này, do đó nhận được sự ủng hộ của nhiều nước trên thế giới.

Tiềm lực quốc phòng của Việt Nam ngày càng được cải thiện hơn. Việt Nam đủ sức tự vệ trước hành động phi pháp của các nước khác, đặc biệt là Trung Quốc.

Mỹ Hằng thực hiện

Nguồn : BBC, 21/06/2020

*********************

Bốn kịch bản Trung Quốc có thể thực hiện 'nếu bị Việt Nam kiện ra tòa quốc tế'

BBC, 17/06/2020

Tin chính phủ Việt Nam đang xem xét khả năng kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế dường như đang khiến Trung Quốc bận lòng, ít nhất trong giới học thuật nước này.

Có học giả Trung Quốc gần đây đặt câu hỏi liệu Việt Nam đã' nghĩ kỹ' chưa nếu biết đến các khả năng mà Trung Quốc có thể làm nếu điều này xảy ra.

kichban0

Người Việt phản đối Trung Quốc biển đảo Việt Nam nhân danh Thượng đế và nhân sinh - Ảnh minh họa

Trong bài "Liệu Việt Nam có nghĩ lại trước khi kiện Trung Quốc về vấn đề Biển Đông" trên SCSPI mới đây, ông Wu Shicun, Giám đốc Viện Nghiên cứu Quốc gia Trung Quốc về Biển Đông (NISCSS) cho rằng Việt Nam đang muốn học theo vụ kiện của Philippines năm 2013. Và rằng, Việt Nam đã chuẩn bị 'công phu và toàn diện' để kiện Trung Quốc nhiều năm nay, sẽ kiện ngay khi mọi thứ đã sẵn sàng.

"Nhưng Việt Nam có đánh giá đầy đủ các hậu quả của động thái liều lĩnh này không ? Bởi nó có thể khiến Trung Quốc tức giận, đe dọa hòa bình và ổn định ở Biển Đông, và khiến cộng đồng quốc tế hiểu lầm", ông Wu Shicun viết.

Ông Wu Shicun nhấn mạnh rằng Trung Quốc "không sợ bị Việt Nam kiện về vấn đề Biển Đông".

Để củng cố lập trường này, ông Wu Shicun chỉ ra rằng gần đây, Việt Nam "liên tục có những hành động liều lĩnh, đơn phương trong vùng biển tranh chấp", như "triển khai xây dựng quy mô lớn trên các đảo và các rạn san hô" mà Việt Nam "chiếm đóng bất hợp pháp", "dung túng và thậm chí khuyến khích ngư dân đánh bắt cá" trong vùng biển "của Trung Quốc", "bôi nhọ Trung Quốc trên các diễn đàn quốc tế". Và rằng những hành động này làm "cản trở các cuộc đàm phán COC" và "xói mòn sâu sắc niềm tin chính trị giữa hai nước".

Ông cho rằng Trung Quốc đã "kiềm chế", nhưng "sự kiên nhẫn này có thể chấm dứt sớm".

"Nếu Việt Nam không thừa nhận điều này, họ có thể sẽ phải trả giá cho quyết định thiếu khôn ngoan của mình. Nếu Việt Nam liều lĩnh đến mức kiện để đòi phân xử, tôi tin rằng Trung Quốc sẽ không án binh bất động", ông này viết.

Từ đó, ông Wu Shicun nêu ra bốn kịch bản chính mà Trung Quốc có thể thực hiện một khi bị Việt Nam kiện ra tòa quốc tế.

Trung Quốc 'có thể công bố các đường cơ sở của quần đảo Nam Sa'

Theo bài báo, năm 1996, Trung Quốc đã công khai 28 điểm cơ sở và các đường cơ sở được kết nối bởi các điểm này của Quần đảo Xisha (Hoàng Sa theo cách gọi của Việt Nam) theo Luật năm 1992 về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp của Trung Quốc.

Trong những năm gần đây, Trung Quốc "luôn tự kiềm chế trong việc công bố các đường cơ sở của lãnh hải thuộc quần đảo Nam Sa (cách Trung Quốc gọi quần đảo Trường Sa của Việt Nam) để bảo đảm mối quan hệ tốt với các nước ASEAN, duy trì sự ổn định ở Biển Đông và khuyến khích một môi trường thuận lợi cho các cuộc đàm phán COC".

Do đó, nếu Việt Nam "tiếp tục khiêu khích, bao gồm kiện lên tòa quốc tế và đe dọa nghiêm trọng đến chủ quyền lãnh thổ và an ninh của quần đảo Nam Sa, Trung Quốc sẽ buộc phải công khai các đường cơ sở của lãnh hải thuộc quần đảo Nam Sa".

'Trung Quốc sẽ không nương tay trước việc đánh bắt cá bất hợp pháp của Việt Nam'

Trung Quốc có thể sẽ mạnh tay hơn đối với các tàu cá Việt Nam mà nước này cho là 'đánh bắt trái phép' tại vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa, vẫn theo ông giám đốc NISCSS.

"Trong những năm gần đây, tàu đánh cá của Việt Nam đã xâm nhập vào vùng biển nội địa và lãnh hải của quần đảo Hoàng Sa của Trung Quốc. Họ nhắm mắt làm ngơ trước luật pháp và việc thực thi luật pháp của Trung Quốc, và thậm chí có những động thái nguy hiểm chống lại chính quyền Trung Quốc".

"Thay vì giáo dục và kiểm soát các tàu đánh cá và ngư dân của mình, chính phủ Việt Nam đã đổ lỗi, bêu xấu Trung Quốc và thậm chí đưa ra những yêu cầu bồi thường vô lý".

"Đối mặt với những hành động khiêu khích nghiêm trọng như vậy trên biển, Trung Quốc nên có những hành động quyết đoán và hiệu quả để răn đe".

"Trung Quốc không thể chịu trách nhiệm cho tất cả các hoạt động phi pháp và trấn áp hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp của Việt Nam", học giả Trung Quốc viết.

'Trung Quốc có thể ngăn chặn quá trình quân sự hóa của Việt Nam'

Kịch bản thứ ba mà chuyên gia về Biển Đông của Trung Quốc đưa ra là Bắc Kinh có thể kiềm chế và ngăn chặn quá trình quân sự hóa Việt Nam trên các đảo và các rạn san hô mà Bắc Kinh cho rằng Việt Nam "đã chiếm đóng bất hợp pháp".

"Quần đảo và các rạn san hô bị Việt Nam chiếm đóng bất hợp pháp như Song Tử Tây và đảo Trường Sa mang giá trị chiến lược, gây ra mối đe dọa cho đảo Ba Bình, Xích Qua Tiêu (Gạc Ma theo cách gọi của Việt Nam), Đông Môn Tiêu (Đá Tư Nghĩa theo cách gọi của Việt Nam) và Nam Huân Tiêu (Đá Ga Ven) và các đảo và rạn san hô khác do Trung Quốc kiểm soát".

"Một khi tình hình xấu đi sau khi Việt Nam tiến hành kiện lên tòa trọng tài quốc tế, ngoài việc tiếp tục nhắc lại các quyền và yêu sách của mình trên Biển Đông, Trung Quốc sẽ có những biện pháp đối phó như thường xuyên đưa tàu đến vùng biển lân cận các đảo và rạn san hô liên quan, đánh chặn và xua đuổi tàu Việt Nam vào vùng biển mà không được chấp thuận".

"Việc này sẽ cắt đứt nguồn cung cấp hậu cần cho quân đội Việt Nam đồn trú trên các đảo và rạn san hô, cũng như kiềm chế và ngăn chặn quá trình quân sự hóa trên các đảo và các rạn san hô mà nước này chiếm đóng bất hợp pháp. Các biện pháp quản lý và kiểm soát sẽ được thực hiện nếu cần thiết".

'Trung Quốc có thể khởi xướng việc thăm dò dầu khí trong lô Wan'an Bei'

"Crestone Energy Corp, một công ty của Hoa Kỳ và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNOOC) đã ký hợp đồng vào ngày 8/5/1992 để khai thác dầu ở lô Wan'an Bei-21 (lô dầu 136-03 theo cách gọi của Việt Nam) tại Bãi Tư Chính ở vùng nước liền kề quần đảo Nam Sa (cách Trung Quốc gọi quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam), trong sự phản đối mạnh mẽ và sự quấy rối của nhà cầm quyền Việt Nam", ông Wu Shicun cho hay về kịch bản thứ tư.

"Để ngăn chặn tình hình xấu đi và xung đột leo thang, cuối cùng phía Trung Quốc đã tạm hoãn hợp đồng này".

"Tuy nhiên, để bảo đảm quyền kiểm soát vĩnh viễn đối với Bãi Tư Chính và độc quyền về tài nguyên dầu khí ở đó, Việt Nam đã tiếp tục hợp tác với các công ty dầu khí nước ngoài và tiến hành thăm dò đơn phương tại Bãi Tư Chính. Vào tháng 5/2019, Việt Nam đã tiến hành thăm dò dầu đơn phương tại vùng biển thuộc Bãi Tư Chính, dẫn đến đối đầu với Trung Quốc".

"Trong những năm qua, việc khai thác dầu trái phép ở Biển Đông đã trở thành trụ cột kinh tế chiínhcủa Việt Nam, chiếm 30% GDP. Nếu Việt Nam nộp đơn kiện lên tòa trọng tài, Trung Quốc có thể nắm bắt cơ hội này và trực tiếp vào Bãi Tư Chính mà không có bất kỳ "trách nhiệm pháp lý" nào trong việc khởi động thăm dò dầu khí trong lô Wan'an Bei".

"Đây sẽ là một bước đột phá cho Trung Quốc, thăm dò dầu khí đầu tiên tại khu vực Nam Sa", bài báo kết luận.

Việt Nam 'chuẩn bị' kiện Trung Quốc thế nào ?

Vấn đề kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế liên quan đến cách tranh chấp trên Biển Đông được các đại biểu quốc hội Việt Nam đưa ra nghị trường hồi cuối năm 2019.

Trong phiên họp Quốc hội sáng 31/10/2019, đại biểu Nguyễn Lân Hiếu cho rằng cần đưa Trung Quốc ra tòa quốc tế liên quan tới việc nước này xâm phạm bãi Tư Chính của Việt Nam và nhiều hoạt động xâm phạm chủ quyền khác.

Phát biểu của ông Dương Trung Quốc trước Quốc hội sáng cùng ngày được cho là 'thẳng thắn' khi ông đặt câu hỏi "sao báo cáo trước Quốc hội lại né tránh gọi tên Trung Quốc ?"

Sau đó, vào ngày 06/11/2019, tại một hội nghị ở Hà Nội, Thứ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung nói Việt Nam sẽ ưu tiên chọn đàm phán, nhưng nếu đàm phán không mang lại kết quả, thì Việt Nam bắt buộc phải cân nhắc "những sự lựa chọn khác".

Ông Trung nói : "Chúng tôi hiểu rằng các biện pháp đó gồm tìm hiểu các tài liệu chứng minh, nhờ hòa giải, hàn gắn, thương thuyết, trọng tài và cả kiện tụng", theo tường thuật của Reuters.

Vào tháng 1/2020, Bộ Quốc phòng Việt Nam trong văn bản trả lời kiến nghị của cử tri Đà Nẵng về vấn đề Trung Quốc trên Biển Đông, đã nêu rõ "cần tích cực chuẩn bị, thu thập tài liệu, chuẩn bị sẵn hồ sơ đấu tranh pháp lý đưa ra quốc tế vào thời điểm phù hợp".

Quan điểm kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế cũng được nhiều chuyên gia về Biển Đông của Việt Nam ủng hộ. Trao đổi BBC tiếng Việt hồi cuối năm 2019, ông Hoàng Việt, giảng viên ĐH Luật TP Hồ Chí Minh, nhà nghiên cứu luật Quốc tế, nói Việt Nam đã khá chậm trong việc phản ứng lại hành động của Trung Quốc trong vụ Bãi Tư Chính.

Ông Hoàng Việt cho rằng nếu không ngay lập tức có các giải pháp tức thì để tranh thủ ủng hộ của thế giới, trong đó có việc kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế, thì hậu quả có thể khó lường.

Nguồn : BBC, 17/06/2020

Published in Diễn đàn
Trang 1 đến 4