Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Hà Nội tr hết n Việt Nam Cộng Hòa vay Hoa Kỳ t thi chiến tranh mang ý nghĩa gì ?

Theo tin VOA tiếng Vit, Bộ Tài chính Hoa Kỳ vừa cho biết rằng nhà đương quyền Việt Nam đã thanh toán hết số nợ 145 triệu đôla phát sinh từ khoản vay của Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975. Đây là khoản n mà Hà Nội bị buộc phải kế thừa, một vấn đề lớn từng gây cản trở cho tiến trình bình thường hóa trong quan hệ Mỹ – Việt.

no1

Vào ngày 7/4/1997, B trưởng B Tài chính Việt Nam Nguyn Sinh Hùng và B trưởng Tài chính M Robert Rubin ký tha thun ti Hà Ni v vic Việt Nam tr li khon n 145 triu đôla ca chính quyn Việt Nam Cộng hòa.

Bài viết ln lượt trình bày :

-     Ngun gc món n Vit Nam Cng Hòa vay ca Hoa K

-     Ý nghĩa vic tr n này.

I. Ngun gc món n Việt Nam Cộng Hòa vay ca Hoa K

Theo hãng tin AP trích dẫn thông tin của Bộ Tài chính Mỹ cho biết, trong số nợ 145 triệu đôla mà nhà đương quyn Vit Nam mi tr hết cho Hoa K, bao gm :

(1) Khong 76 triu đôla là n gc t các khon vay phục vụ cho nông nghip, giao thông, nhà máy điện mà chính quyền Sài Gòn vay của Washington từ trước khi kết thúc Chiến tranh Việt Nam năm 1975.

(2) Và khoảng 70 triu đôla còn li là tiền li trong 24 năm.

no01

Khu ở chuột cạnh một con kênh ô nhiễm ở Sài Gòn năm 1956, sau khi Việt Nam Cộng Hòa vừa được thành lập.

Các quan chc Hoa K cho biết trong món n va thanh toán, không có khon vay nào được s dng đ tài tr cho các hot đng quân s trong chiến tranh Việt Nam.

Theo báo Nhân dân cơ quan ngôn lun ca nhà nước Vit Nam, số nợ gốc của chính quyền Sài Gòn là 85 triệu đôla, phần còn li là tiền lãi, và chi phí phát sinh trượt giá.

II. Ý nghĩa vic kế tha tr n

Theo nhn đnh ca chúng tôi, vic nhà cm quyn chế đ đương thi Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tr n thay cho chế đ Việt Nam Cộng Hòa thi chiến tranh Quc-Cng (1954-1975) mang hai ý nghĩa sau đây :

1. Ý nghĩa quan h ngoi giao mang tính kế tha quyn li và nghĩa v song phương hay đa phương

Theo tp quán hay thông l bang giao quc tế, khi mt quc gia có thay đi chính quyn hay th chế chính tr bình thường (theo Hiến pháp và lut pháp quc gia)hay bt thường (đo chính hay dùng bo lc cướp chính quyn), nếu mun tiếp tc gi quan h ngoi song phương (gia hai quc gia) hay đa phương (vi liên minh chính tr quân s ca nhiu quc gia hay t chc kinh tế tài chính quc tế),thì chính quyn hay chế đ mi s kế tha mi tích snược th đc nhng quyn li đang có vi các nước bang giao) cũng như tiêu sn(trách nhim thanh toán nhng món n mà chính quyn, chế đ trước đã vay).

Nhưng nếu không mun tiếp tc quan h ngoi giao vn có trước đó vi chính quyn hay chế đ cũ, chính quyn hay chế đ mi có th t chi thi hành trách nhim kế tha chế đ mi. Các quc gia ch n có th phn ng bng các bin pháp (1) cm vn, ct đt quan h ngoi giao (2) khi kin trước tòa án quc tế có thm quyn đ đòi n, (3) trng pht bng bin pháp quân s.

Trường hp Vit Nam có phc tp hơn. Cuc chiến tranh Quc - Cng gia nhng người Vit Nam theo ý thc h quc gia và nhng người Vit Nam theo ý thc h cng sn, lng trong bi cnh cuc chiến tranh ý thc h toàn cu gia hai phe cng sn ch nghĩa đng đu là Liên Xô (vi s cnh tranh bá ch ca Trung Quc) và phe tư bn ch nghĩa đng đu là Hoa K.

Sau hip đnh Genève 1954 chia đôi Vit Nam, bc vĩ tuyến 17 theo chế đ xã hội chủ nghĩa, dưới bng hiu Vit Nam Dân ch Cng hòa(ngy dân ch, ngy cng hòa, ngy dân tc t thi kháng chiến chng Pháp đ che đy b mt cộng sản). Min Bc cng sn tr thành tin đn phe xã hội chủ nghĩa, nhn vin tr vũ khí lương thc, hu cn ca Liên Xô, Trung Quc và các nước xã hội chủ nghĩa (vin tr không hoàn li hay hoàn li), phát đng chiến tranh xâm chiếm Min Nam, cng sn hóa c nước, thc hin tham vng ca cng sn quc tế cng sn hóa toàn cu.

Trong khi Nam vĩ tuyến 17 theo chế đô t do dân ch, quc hiu Vit Nam Cng Hòa. Min Nam quc gia tr thành tin đn phe tư bn ch nghĩa, đng đu là Hoa K, nhn vin tr vũ khí lương thc, hu cn ca Hoa K và các nước đng minh (vin tr không hoàn li hay hoàn li), thc hin cuc chiến tranh t v nhm ngăn chn, đy lùi cuc chiến tranh ngy dân tc, dưới ngn c‘chng M cu nước, gii phóng Min Nam, thng nht đt nước ca cng sn Bc Vit.

Cuc chiến tranh gia hai phe (xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa) bn bên (Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa, cộng sản Bắc Việt, Hoa Kỳ và các nước đng minh,quc gia Vit Nam) đã kết thúc vào ngày 30/4/1975, vi bên thng cuc là cng sn Bc Vit đã b bng hiu mt n ngy dân tc ‘Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, ly quc hiu đúng thc cht cng sn‘Cng hòa xã hi ch nghĩa Vit Nam. Bên thua cuc là quc gia Nam Vit, quc hiu Vit Nam Cng Hòa b tan rã.

Ngay sau khi chiến tranh Vit Nam kết thúc, Hoa K và các quc gia đng minh đã cm vn trit đ Vit Nam dưới chế đ cng sn. Vì chế đ này đã dùng bo lc quân s thôn tính Min Nam, thng nht đt nước, vi phm trng trn Hip đnh Paris ngày 27/1/1973 v chm dt chiến tranh lp li hòa bình cho Vit Nam ngày (quy đnh thng nht đt nước hòa bình thông qua thương lượng gia hai Min Bc và Min Nam).

Cuc chiến Vit Nam chm dt sau 20 năm (1975-1995), do yêu cu thay đi chiến lược toàn cu mi ca các cường quc nói chung. Hoa K khi s thc hin đi sách hu chiến tranh lnh vi Vit Nam và các quc gia trong vùng đ thành đt ý đ chiến lược trong khu vc ca mình. Do đó, sau nhiu n lc âm thm thương tho đôi bên đ gii quyết nhng tr ngi cơ bn (tìm kiếm hài ct người M mt tích trong chiến tranh gi tt là POW/MIA, Vit Nam rút quân khi Campuchia, ci thin nhân quyn),Hoa Kỳ đã bãi b cm vn, thiết lp quan h ngoi giao vi Vit Nam vào ngày 12/7/1995. Sau đó tiếp tc gii quyết nhng tr ngi th yếu khác, trong đó có vn đ kế tha tr món n Vit Nam Cng Hòa vay ca Hoa K như trong hin v. Đây là món n được đôi bên công nhn là chính đáng, không có khon vay nào được s dng đ tài tr cho các hot đng quân s trong chiến tranh Việt Nam (thuc vin tr không hoàn li, khác các khon vay mượn trong chiến tranh phi hoàn li).

Vì vy, hai năm sau khi bình thường hóa quan h ngoi giao, vào ngày 7/4/1997, B trưởng B Tài chính Việt Nam Nguyn Sinh Hùng và B trưởng Tài chính M Robert Rubin lúc đó, đã ký tha thun ti Hà Ni v vic Việt Nam tr li khon n 145 triu đôla ca chính quyn Việt Nam Cộng hòa như một điều kiện để xúc tiến ngoại giao.

Theo thông báo ngày 7/4/1997 ca B Tài chính M, thì Vit Nam đu tiên đã tr ngay mt khon "downpayment(tr trước)hơn 8,5 triu USD tin li trong vòng 30 ngày k t ngày hai bên ký tha thun. Sau đó, Vit Nam tr đu đn s n còn li t tháng 7/1997 đến năm 2019 thì hết.

2. Ý nghĩa thc tế mang tính li ích song phương hay đa phương, đã làm thay đi cach nhìn và cách hành x ca gii cm quyn mt cách thích hp, đ hi nhp vào nn trt t kinh tế quc tế mi.

2.1. Li ích chiến lược song phương M-Vit và đa phương quc tế

Vic nhà cm quyn chế đ cng sn Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chp nhn tr món n quá kh mà chính quyn quc gia Việt Nam Cộng Hòa vay ca Hoa K trong chiến tranh, còn mang ý nghĩa li ích song phương, đôi bên cùng có li nhiu mt v lâu v dài. Đng thi đem li li ích cho chiến lược toàn cu mi qua chp nhn tr n kế tha là Vit Nam chp nhn tuân th lut pháp quc tế trong nn trt t kinh tế quc tế mi.

Đúng như Tuyên bố khi Việt Nam đồng ý thanh toán khoản nợ này vào năm 1997, Bộ Trưởng Tài chánh Mỹ Robert Rubin nói : "Đây là mt bước quan trng trong vic bình thường hóa quan h gia hai nước chúng tavà s hòa nhp ca Vit Nam vào h thng tài chính quc tế". Đây vn là mt trong nhng yêu cu ca chiến lược toàn cu mi nhm thiết lp mt nn trt t kinh tế quc tế mi, hay là mt h thng kinh tế thế gii mi mà các nước giu và nghèo đã có n lc chung cùng hướng ti trong nhng thp niên qua, k t sau khi chm dt Chiến tranh Lnh (1991-2020) trong nn trt t kinh tế quc tế cũ.

Nhng li ích song phương trong hin v liên quan đến tài chính, thì vic Vit Nam thanh toán mt món n nh không đáng k, thc tế đã đem li li ích tài chính ln lao hơn nhiu cho Vit Nam.

Thc tế là, từ khi thiết lập bang giao với Việt Nam vào năm 1995 cho đến nay, sau 25 năm, Hoa Kỳ liên tục tài trợ cho Việt Nam hàng trăm triệu đôla cho các chương trình y tế, giáo dục, xử lý chất độc da cam dioxin, người khuyết tật, biến đổi khí hậunhưng Washington vẫn kiên quyết buộc Hà Nội thanh toán khoản nợ nh của chính quyền Sài Gòn và từ chối xóa món nợ này đ gi vng nguyên tc quan h ngoi giao quc tế. Chính ph M cho biết trong vòng hơn 20 năm qua, Hoa K đã h tr Vit Nam tng cng hơn 1,8 t đôla, riêng trong lĩnh vực y tế có hơn 706 triu đôla. Nếu so vi tr món n kế tha 145 dollar nào có đáng chi ?

2.2. Li ích chiến lược song phương cũng như đa phương theo thông l, tp quán ngoi giao quc tế.

Chính vì nhng khó khăn thc tế nhà cm quyn chế đ cộng sản Việt Nam đã nhìn ra được li ích chiến lược song phương cũng như đa phương đ thay đi cách hành x phù hp vi trách nhim kế tha theo thông l, tp quán ngoi giao quc tế.

Tht vy, báo Quốc tế dẫn lời Đại sứ Việt Nam Hoàng Vĩnh Thành cho biết Ngay sau 1975, Chính ph cách mng lâm thi Cng hòa min Nam Vit Nam đã ra tuyên b tch thu vô điu kin các tài sn ca M Nam Vit Nam và không tha nhn mi khon n ca chế độ cũ...’ (Chính ph cách mng lâm thi Cng hòa min Nam Vit Nam và Mt trn dân tc gii phóng Min Nam đu là công c chính tr, quân s ca cộng sản Bắc Việt trong chiến tranh thôn tính, cng sn hóa Min Nam)

Hãng tin AP viết : ‘Lúc đầu, Vit Nam t chi thanh toán các khon vay này, nhưng sau đó đã đi ý vì mun được Washington tạo thuận lợi đ khuyến khích đu tư nước ngoài’.

Luật sư Đặng Đình Mạnh nhận định trên Facebook cá nhân :"Ngay từ sau ngày 30/04/1975, nhà nước Vit Nam Dân Ch Cng Hòa đã ph nhn nghĩa v thanh toán n vay ca nhà nước Vit Nam Cng Hòa, bng cách vin dn hc thuyết "món n ô nhc".

Luật sư Đặng Đình Mạnh viết thêm :"Sau nhng cuc vn đng bình thường hóa quan h ngoi giao vi các quc gia phương tây, nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Vit Nam đã phi t b quan đim nêu trên và chp nhn s tha kế quc gia đi vi các khon n được vay bi nhà nước Vit Nam Cng Hòa".

Sự nhượng bộ này được phía Việt Nam gọi là sự "linh hoạt trên nguyên tắc" hay "vn dng linh hot có nguyên tc lut pháp quc tế theo đúng phương châm "dĩ bt biến ng vn biến" và lúc bấy giờ phía Mỹ khuyến nghị Hà Nội "không nên gi quan đim cng rn na mà nên nhìn vào tương lai quan h hai nước đ đi ti gii pháp".

III. Thay li kết

Phi chăng nhà cm quyn cng sn Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã làm theo khuyến ngh này ca Hoa K ? T đó đã nhìn vào tương lai, sau 20 năm xây dng th nghim mô hình xã hội chủ nghĩa không tưởng b tht bi hoàn toàn và vĩnh vin ; đ nh đó rút kinh nghim, tìm cách vượt qua mi tr ngi, thiết lp được quan h ngoi giao vi Hoa K ?

T đó và nh đó, sau 25 năm thiết lp quan h ngoi giao vi Hòa K, thc hin chính sách M ca Vit Nam đã có được trình đ phát trin nhiu mt, nht là mt kinh tế, đ có b mt phn vinh như hôm nay. Thế nhưng tương lai Vit Nam s tt đp và hoàn chnh hơn nếu trong‘môi trường mt ngt kinh tế th trường’ tiến trình dân ch hóa Vit Nam sm kết thúc. Đ nhân dân Vit Nam thuc mi giai tng xã hi(ch không riêng ch có giai cp có ưu quyn đc li) được sng trong c lp - T do - m no - hnh phúc thc s, không còn là khu hiu tuyên truyn m dân ca các nhà cm quyn như by lâu nay.

Houston, ngày 30/7/2020

Thin Ý

Nguồn : VOA, 04/08/2020

Published in Diễn đàn

Khi nhận được hc bng Fullbright và đến sng ti Vit Nam, mt n giáo sư lch s người M đã nhn ra ngay s vng bóng ca "mt phía quan trng" trong cuc chiến tng din ra trên chính mnh đt ca họ. Bà quyết đnh bt tay nghiên cu và cho ra đi thêm mt tác phm v cuc chiến Vit Nam dưới lăng kính mi – lăng kính ca "người min Nam" – nhng người mà bà cho là đã b "b sót" trong nghiên cu lch s ca c "bên thng cuc" ln phía đng minh M.

vietnamwar1

Hình ảnh mt cuc giao tranh ti Sài Gòn vào tháng 2 năm 1968.

"Tôi đến sng Vit Nam mt năm và ging dy ti Đi hc Khoa hc Xã hi và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, thuc Đi hc Quc gia. Tôi đã đi khp đt nước, xem nhiu đài tưởng nim và tượng đài chiến tranh khác nhau, mà có l tôi nên gi là theo ‘lăng kính ca min Bc’ hay ‘lăng kính ca Hà Ni’ trong thi gian kháng chiến chng M, nhưng hoàn toàn không thy đ cp gì đến mt thc tế là có mt phe Vit Nam khác mà h cũng đã chiến đu chng li", Giáo sư – Tiến sĩ Heather Marie Stur ca trường đi hc Southern Mississippi, Hoa Kỳ, nói với VOA v lý do khi đu khiến bà dành ra 6 năm đ nghiên cu và viết cun "Saigon at War : South Vietnam and the Global Sixties" (tm dch "Sài Gòn thi chiến : min Nam Vit Nam và thp niên sáu mươi toàn cu"), va được nhà xut bn Đi hc Cambridge phát hành.

"Có câu nói rằng ‘Lch s được viết bi nhng k chiến thng’. Tôi hoàn toàn hiu quan đim đang thng tr ca min Bc hay ca Hà Ni, bi vì h là bên thng cuc. Do đó, tôi mun đưa phía bên kia vào câu chuyn cho minh bch hơn", Giáo sư Tiến sĩ Stur nói thêm.

Để b sung cho "s vng mt" ca mt phía quan trng này, n giáo sư M bt đu tìm hiu câu chuyn ca nhng nhân chng sng ti Vit Nam, t nhng gia đình có người thân tng là cu chiến binh ca Vit Nam Cng Hoà, đến nhng gia đình bị chia r vì có người thân chiến đu cho c hai bên chiến tuyến.

vietnamwar2

Giáo sư - Tiến sĩ Heather Marie Stur. Ảnh minh họa

"Tôi cố gng đ có được nhiu tiếng nói và quan điểm hơn trong cun sách. Vì vy, tôi không tp trung vào ch mt vài người lãnh đo, nhưng tôi tìm hiu mt nhóm rng hơn như tng lp sinh viên, nhng người Công giáo, các nhà hot đng chính tr, các trí thc thành th sng ch yếu Sài Gòn… để có được cái nhìn bao quát hơn, thay vì ch nhìn t quan đim ca mt lãnh đo hay chính ph", Giáo sư Tiến sĩ Stur cho biết thêm.

Ngoài việc tiếp xúc vi người dân, Giáo sư Tiến sĩ Stur bt đu nghiên cu tài liu ti Trung tâm Lưu tr Quc gia II và Thư vin Khoa hc Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là Thư vin Quc gia ca Vit Nam Cng Hoà). Ti đây, bà phân tích các tài liu ca quân đi và chính quyn Vit Nam Cng Hòa trước đây, t các báo cáo tình báo, cáp ngoi giao, báo cáo ca cnh sát và tòa án đến các bn tin chính trị, nht báo, tp chí hay thư t ca người dân gi đến các văn phòng chính ph vào thp niên 1960 và 1970.

Trở v M, n giáo sư chuyên viết v chiến tranh tiếp tc công vic nghiên cu ti các Trung tâm Lưu tr Quc gia th đô Hoa Kỳ và ti các trường đi hc ca M, vi mong mun tìm hiu cuc chiến trong bi cnh toàn cu thp niên 1960 – vn được xem là thp niên khi đu ca khái nim "toàn cu hoá", thi đim đan xen gia ý tưởng được xem là không tưởng v mt "tân thế gii sp đến" và thc tế khắc nghiệt ca các cuc chiến tranh, đàn áp chính tr và kh năng xung đt ht nhân.

"Người M chúng tôi có xu hướng nghĩ v Chiến tranh Vit Nam như là mt tri nghim ca người M và nó nh hưởng đến chúng tôi, nh hưởng đến người dân M. Nhưng nhng gì đã xảy ra Vit Nam trong nhng năm 1960 và đu nhng năm 1970 là mt phn ca câu chuyn toàn cu ln hơn nhiu v hot đng chính tr và s đc lp", Giáo sư Stur nói, đng thi cho biết bà thc s "thích thú" khi nhìn thy nhng kết ni quc tế trong các hoạt đng này.

"Các quốc gia và mi người đu chú ý đến nhng gì đang din ra Vit Nam và bàn v nó, xem mình đang đng phe nào. Trong khp khu vc Đông Nam Á, có nhng phong trào chng Cng khác nhau và các chính tr gia rt chú ý đến nhng gì đang diễn ra min Nam Vit Nam đ rút ra bài hc cho đt nước mình trong bi cnh đng đ gia các phe nhóm Cng sn và chng Cng. Chính vì nhng xung đt din ra Vit Nam đã rt thu hút s chú ý trên toàn thế gii, nên tôi c gng đưa bi cnh quc tế này vào trong cuốn sách".

Với vic phác ho li cuc chiến trong bi cnh toàn cu nhng năm 1960, nhà s hc người M còn mun cho đc gi nhìn thy có đến ba cuc chiến lng ghép vào nhau trong chiến tranh Vit Nam, đó là cuc chiến chính tr Sài Gòn, cuc chiến quân s và cuc chiến v mt công lun thế gii.

Theo Giáo sư Tiến sĩ Stur, nền dân ch ca min Nam Vit Nam trước đây s dĩ gp tht bi là vì các áp lc chính tr lên chính quyn Vit Nam Cng Hòa, ch không phi là kết qu ca vic người dân ng theo Cng sn.

"Hoa Kỳ, trong chừng mc nào đó, đã c gng phát trin mi quan h tt đp hơn vi Trung Quc và Liên Xô. Và ý tưởng đ cho ch nghĩa cng sn nm gi Vit Nam và thng nht đt nước dưới mt chính quyn Cng sn vào thi đim gia thp niên 1950 đến cui thp niên 1960 có vẻ như không đến ni là mt mi nguy an ninh quc gia", Giáo sư Tiến sĩ Stur nhn đnh.

"Đó là lối tư duy đa chính tr ca Hoa Kỳ đi vi các đi th, đc bit là Trung Quc", Giáo sư Stur nói thêm, cng vi nhng nghi ng t phía công chúng M v thành công của Hoa Kỳ tại Vit Nam vào thi đim đó đã góp phn gây st gim rt ln đến s ng h tiếp tc tham chiến.

Tiếp xúc vi nhiu người min Nam thi hu chiến, TS. Stur nói bà "hoàn toàn thu hiu" tâm trng ca nhiu người cho rng Hoa Kỳ đã đến Vit Nam và "làm lớn thêm đng h ln ti đây, leo thang chiến tranh và ri b đi mà không hoàn thành cam kết".

"Tôi nghĩ rất khó đ hàn gn vết thương đó. Đi vi nhng người đã phi ri b Vit Nam, tr thành người t nn M và không bao gi có th tr v, nghĩa là họ đã mt nước", Giáo sư Stur nói. "Nước M s phi mt mt thi gian rt dài đ cha lành vết thương cho nhng người đã chiến đu cùng vi người M và tin rng Hoa Kỳ s làm gì đó đ giúp h nhưng ri li b đi".

Trước tác phm "Saigon at War : South Vietnam and the Global Sixties", nữ hc gi M tng được biết tiếng qua tác phm viết v thân phn ph n thi chiến trong cun "Beyond Combat : Women and Gender in the Vietnam War Era" và nhiu bài viết khác v chiến tranh Vit Nam.

"Đó là một đt nước xinh đp và hp dn, và tôi mun hiu biết thêm v lch s ca đt nước này trong mi quan h vi cuc chiến ca người M ti đây", TS. Stur gii thích v lý do bà tp trung nghiên cu và cho ra đi nhiu tác phm v chiến tranh Vit Nam.

Khánh An

Nguồn : VOA, 06/06/2020

Published in Diễn đàn

‘Hòa’ thế nào khi không muốn giải !

Trân Văn, VOA, 01/05/2020

Cho dù cả ging điu ln âm lượng ca h thng chính tr, h thng công quyn và h thng truyn thông chính thc v s kin "Gii phóng min Nam" đã gim đáng k nhưng mng xã hi và các din đàn đin t v ngày 30 tháng 4 vn rt nóng, thm chí còn nóng n nhiu năm trước...

chien1

Một cuc duyt binh nhân ngày 30 tháng Tư ti thành ph H Chí Minh năm 2015.

Số người nhn thc li v cuc chiến "Gii phóng min Nam", đc bit là nhng người có liên quan cht ch vi "bên thng cuc", càng lúc càng đông. Thi đim s kin "Gii phóng min Nam" tròn 45 năm, nhiu ngàn người chia s và bày tỏ s tán thành ý kiến ca Abraham Lincoln được dch ra tiếng Vit kèm chân dung ca ông (1) :

Khi viên đạn găm vào môt người lính thuc v bt kỳ bên nào thì nó cũng xuyên vào trái tim mt người m

Tại sao li ăn mng chiến thng ? Nhng k bi trn chng phải là đng bào ca chúng ta hay sao ?

***

Tháng trước, Tho Nguyen, sau tháng 4 năm 1975 được bit phái vào Nam tiếp qun Đài Truyn hình Huế, tng bày t : Đại dch Covid-19 đang to cơ hi đ ngày 30 tháng 4 năm nay, 45 năm kết thúc chuyn huynh đ tương tàn, sẽ không phi là ngày trng giong c m, pháo hoa sáng tri ca bên này đng thi là ngày nut nước mt ca bên kia

Tuần này, Tho Nguyen, va mi viết tiếp v nhng suy nghĩ ca ông đi vi cuc chiến y : Trong khi cả thế gii chìm trong chiến tranh lạnh thì Vit Nam tr thành chiến trường thi th sc mnh ca ch nghĩa tư bn và ch nghĩa xã hi. Nếu chúng ta coi nhau như anh em mt nhà, quyết không bn giết nhau thì không đế quc nào có th nhy vào Vit Nam. Cuc chiến khc lit đã n ra chính vì s người Vit thích bo lc, coi trng đu tranh ý thc h nhiu hơn s người nghĩ đến quyn li dân tc. Cuc chiến đó đã khiến chúng ta mt Hoàng Sa, mt phn Trường Sa và nếu tiếp tc chia r, thù ghét nhau, s mt thêm nhiu th khác (2)…

Trong status mới nht, Tho Nguyen k chuyn tướng Wojciech Jaruzelski (Ba Lan) và trung tá Harald Järger (sĩ quan an ninh Đông Đc) như nhng dn chng.

Khi Công đoàn Đoàn kết tr thành lc lượng đe da s nghip ca Đng Công nhân Thng nht Ba Lan và chính quyền cộng sn Ba Lan, tướng Jaruzelski – lúc y là Tng Bí thư kiêm Ch tch Nhà nước đã chn con đường đàm phán vi Lech Walesa – Th lĩnh Công đoàn Đoàn kết, ch không cy đến Liên Xô – luôn mun km gi Ba Lan trong nanh vut ca mình. Nh vy, Jaruzelski và Walesa vn từng không đi chung Tri nhưng không vì thế mà "đt cháy Ba Lan" đã tr thành bn ca nhau.

Tương t, Järger đã cm thuc cp n súng vào dân Đông Đc ùn ùn đ ti Bc tường Berlin. Đã vy còn t tay nâng thanh chn cho dân Đông Đc chy sang Tây Đc vào đêm 9/11/1989, dù điều đó, đng nghĩa vi s nghip ca Jäger cũng như hàng ngàn sĩ quan an ninh Đông Đc khác s tiêu tan.

Tho Nguyen tin rằng, những kết thúc có hu như thế chính là nh dân Ba Lan không sùng bái bo lc, không đ khuynh hướng bo lc thắng thế, cũng như nh dân trí lành mnh mà nhng sĩ quan an ninh Đông Đc gi được tính người, lý trí. Đó cũng là lý do khi nước Đc còn b phân chia, tuy khác bit v th chế chính tr nhưng dân Đông Đc vn dán mt vào nhng trn đu ca đi tuyn bóng đá Tây Đức và vn thường hét vang : Nước Đc, nước Đc… Tho Nguyen kể thêm, ngày thống nht nước Đc, Th tướng Đc Willy Brand tuyên b : Gi đây nhng gì thuc v nhau, li gn kết vi nhau. Liu càng ngày càng nhiu người Vit s nghĩ như v(3) ?

***

Tham gia cuộc tho lun sôi ni v s kin "Gii phóng min Nam" trên mng xã hi và các din đàn đin t t cui tháng ba đến nay, ông Nguyn Khc Mai, cu V trưởng V Nghiên cu ca Ban Dân vn thuc Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, nhn đnh : 30/4/1975 là thi đim khi đu ca tiến trình "phi cng" mà nhng người cộng sản Việt Nam không cưỡng li được.

Ông Mai cho rằng : Sự tn ti ca Vit Nam Cng Hòa trong mt phn tư thế k đã đ li nhiu du n, nhiu giá tr ca mt nn kinh tế th trường tht ch không na dơi na chut, mt xã hội dân tr tuy chưa đt đến đnh cao nhưng là hin thc, mt nn văn hóa, giáo dc khá trưởng thành vi nhiu giá tr và kinh nghim lành mnh

Theo ông : Đó chính là những nhân t thúc đy tiến trình "phi cng". Khi tiến nhanh, tiến thng lên ch nghĩa xã hi tht bi, phi tng bước xóa b kinh tế kế hoch hóa, tp th hóa nn kinh tế… Tuy nhiên không vt b cái vòng kim cô giáo điu Mác – Lênin, cái p che mắt nga thì không th có tư duy t tế, lành mnh đ suy nghĩ.

Khi kinh tế th trường theo đnh hướng xã hi ch nghĩa ti Vit Nam là kinh tế tư bn hoang dã có màu đ nhưng không đ như son mà là đ máu dân, ông Mai dẫn li thc mc mà Triết gia Nguyn Mạnh Tường tng nêu : Chủ nghĩa anh hùng ca các ông có giúp các ông dám hy sinh đng trên bàn th ca T quc và Nhân dân ? - kèm cảnh báo : Nếu tiếp tc bo th, tiếp tc đ các nhóm li ích thao túng, nhân dân s "tnh dy, thy mình là nô l, là con ri, con mồi ca nhng tham vng mi" và h s hành đng (4)

***

30 tháng 4 là dịp mà Lưu Trng Văn, mt nhà báo ngh hưu, viết vài mu chuyn nh v nhng cuc trò chuyn vi người ca phía bên kia. Nhng mu chuyn tiếp tc khc ha thêm din mo ca phía bi trn, v mt h thng được xây trên nn tng giáo dc theo tiêu chí "nhân bn – dân tc – khai phóng", khác hn tuyên truyn ca "bên thng cuc". Trong nhng mu chuyn y, có cuc đi thoi vi mt đi tá ca Vit Nam Cng hòa, tng b "ci to" mười năm, còn vợ con thì mt tích khi vượt biên b chết, rng : Làm thế nào đ thng nht lòng người ? Vị đi tá y đáp rt gn : Chính quyền c tht s t tế vì dân thì lòng dân t khc thng nh(5).

"Hòa hợp, hòa gii dân tc" đã tr thành khu hiu sut hàng chục năm nhưng ch trong vài tháng gn đây, tiếp tc có thêm hàng chc người b bt, b kết án ch vì nói khác kiu, kháng ging vi nhng người ln tiếng gi "hòa". "Hòa" như thế là hòa… tht hay hòa… gi. "Hòa" như thế thì làm sao "gii" hết c oán hn ln bt đng ?

Trân Văn

Nguồn : VOA, 01/05/2020

Chú thích

(1) https://www.facebook.com/thanhbinh.bui.520/posts/1373475022839696

(2) https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/4024534787564564

(3) https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/4032800063404703

(4) https://baotiengdan.com/2020/04/30/30-thang-4-cot-moc-dien-bien-cua-cong-san-viet-nam/

(5) https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=2638170569841497&id=100009457401127

*******************

Đừng khoét thêm vào nỗi đau Tháng Tư nữa !

Nguyễn Tường Thụy, RFA, 01/05/2020

Kỷ niệm 30/4 năm nay, tôi không định viết gì vì năm nào cũng viết rồi. Thế nhưng đã qua ngày 30/4, đây đó trên mạng xã hội vẫn còn những giọng miệt thị, giễu cợt đồng bào trốn chạy cộng sản đợt 30/4/1975.

chien2

Nước măt và nỗi đau của mẹ Việt Nam vẫn chưa ngừng

Có mấy lý do cần chấm dứt chỉ trích nhằm vào đồng bào phải bỏ nước ra đi :

Việt Nam Cộng hòa là bên thua cuộc nhưng họ không có lỗi và càng không có tội. Dịp 30/4 năm nay, có ý kiến gọi là bên bỏ cuộc. Cách gọi này phản ảnh khá sát bản chất của vấn đề mong mọi người suy nghĩ thêm, nhưng trong bài viết xin cứ gọi theo chữ quen dùng là bên thua cuộc đã.

Việt Nam Cộng hòa thua cuộc nhưng không thể trách được họ trước một đối phương mạnh và đông hơn hẳn. Đội quân ấy lại được sự tiếp sức tiền của và phương tiện chiến tranh khổng lồ từ khối xã hội chủ nghĩa trong đó có 2 cường quốc cộng sản là Liên Xô và Trung Quốc, trong khi Việt Nam Cộng Hòa bị Mỹ bỏ rơi từ sau Hiệp định Pa ri.

Sau 45 năm, có nhiều học giả nhìn nhận lại bản chất cuộc chiến tranh. Về cơ bản, đó là cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn do miền Bắc phát động. Hiệp định Pari bị xé bỏ thay vì thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc.

Trong một cuộc chiến tranh, thua thắng có khi chỉ là nhất thời và tương đối. Bây giờ ý nghĩa của chiến thắng 30/4 như thế nào ? Nhìn vào thực trạng đất nước 45 năm sau đã rất nhiều người ngộ ra.

Việt Nam Cộng Hòa đã xây dựng được một nền dân chủ cộng hòa đã đạt được nhiều thành tựu về kinh tế, giáo dục, an sinh xã hội về nhân quyền, dân chủ mà Việt Nam ngày nay còn lâu mới đạt được. Tuy chưa phải là khuôn mẫu tiên tiến nhất nhưng đó là chế độ mà đa phần nhân loại đang theo đuổi.

Và điều quan trọng nhất là Việt Nam Cộng Hòa không gây nên cuộc chiến này.

Vì vậy, bên thắng cuộc chẳng có gì phải tự hào, kiêu hãnh cả, càng không có lý do để sỉ nhục phía bên kia.

*

Điều cần nói là việc hạ nhục bên thua cuộc không chỉ là dư luận viên. Nó được phát ra cả từ những kẻ có những lời chỉ trích chế độ. Việc này, giới xã hội dân sự gọi là "vừa hợp tác, vừa đấu tranh". Giọng lưỡi từ những người này mới nguy hiểm. Thà rằng một bề bảo vệ đảng như những dư luận viên, trận tuyến truyền thông hai phía rõ ràng. Từ ngữ họ dùng để miệt thị phe thua trận thật là ghê tởm, rằng thua chạy te tua, chạy vãi cức, chạy tụt quần, không còn gì trong tay mà đòi này đòi nọ...

Thế nhưng đám dư luận viên hai mặt chưa hẳn là những người có công với chế độ. Ngày 30/4/1975 có thể họ còn bé tí hoặc chưa sinh ra nhưng cũng tự nhận mình thuộc bên thắng cuộc để lên giọng kẻ cả, phát ra những lời tanh tưởi. Nó thể hiện một tâm địa hẹp hòi, bần tiện, vô nhân bản.

Số này còn ghê gớm hơn cả nhiều lãnh đạo cộng sản có công đầu trong công cuộc gọi là "giải phóng miền Nam". Tại dinh Độc Lập ngày 2/5/1975 ông Trần Văn Trà nói với tướng Dương Văn Minh : "Đối với chúng ta, không có kẻ thua, người thắng mà chỉ có dân tộc Việt Nam chúng ta thắng Mỹ". Còn ông Võ Văn Kiệt nói trong dịp kỷ niệm 60 năm quốc khánh : "Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là vết thương chung của dân tộc, cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu.

Có thể ông Trà và ông Kiệt nói mang tính mị dân hoặc những ai nói ra được như hai ông này còn ít nhưng cũng nhằm xoa dịu bớt nỗi đau của bên thua cuộc. Vậy mà những dư luận viên hai mặt là gì mà xúc phạm bên thua cuộc như vậy ?

Đó là đám dư luận viên hai mặt. Còn về phía nhà nước thì sao ?

Cần xác nhận rằng gần đây, các hoạt động mừng ngày "giải phóng miền Nam" có giảm dần qua mỗi năm. Tuy vậy họ vẫn không bỏ được chuyện ăn mừng chiến thắng. Năm nay cũng vậy. Nhưng thông tin về hoạt động này tìm qua ở công cụ tìm kiếm cũng khoảng 80 tin bài. Điển hình là tin "Thành ủy - HĐND - UBND - Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 45 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước" để "ôn lại truyền thống hào hùng của dân tộc, ý nghĩa lịch sử và tầm vóc thời đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước". Thấy có cả Chủ tịch quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cũng bay từ Hà Nội vào để dự, chắc là thay mặt đảng và nhà nước.

Bao giờ thì nhà nước thôi kỷ niệm 30/4 trong tâm thế ăn mày dĩ vãng. Bao giờ thì những từ "ngụy quân", "ngụy quyền" thôi chấm dứt trên cửa miệng những người dân vẫn đang tiếp nhận và chỉ trung thành với thông tin một chiều ? Bảo làm sao mà đến giờ vẫn chưa hòa giải, hòa hợp dân tộc được. Lòng người vẫn ly tán và chia rẽ sâu sắc.

Nếu vẫn cái kiểu tiểu nhân đắc chí như thế, chắc chắn số người vui giảm xuống, số người buồn tăng lên thậm chí tăng lên cả số người khinh bỉ, căm ghét và căm thù.

*

Nhắc đến hòa giải và hòa hợp dân tộc, người ta thường nhắc lại cách cư xử của bên thắng cuộc miền Bắc đối với bên thua cuộc miền Nam nhưng mà là chuyện của... nước Mỹ trong cuộc nội chiến 1861-1865.

Với Việt Nam, bên thắng cuộc phải cư xử sao cho nhân bản, đúng tư thế của người chiến thắng. Hãy cúi xuống mà nâng bên thua cuộc đứng dậy. Đừng làm cho nỗi đau của đồng bào miền Nam kéo dài thêm, cứa mãi, đau day dứt, dai dẳng như xẻo thịt bằng con dao cùn và lấy sự đau đớn ấy làm niềm vui, niềm tự hào, kiêu hãnh của mình.

Nguyễn Tường Thụy

Nguồn : RFA, 01/05/2020 (nguyentuongthuy's blog)

*********************

‘Mình là ván cờ thí để họ đi ván khác’

Hoàng Đức Nhã, VOA, 01/05/2020

Hoàng Đức Nhã nhìn lại biến cố 30/4

45 năm sau khi Sài Gòn thất th, nhng nhân vt tng đóng mt vai trò trong giai đon dn ti biến c lch s này ngày càng thưa dn… Trong nhng nhân chng lch s hiếm hoi còn li có ông Hoàng Đc Nhã, nguyên Tng trưởng Thông tin, dân vn và chiêu hi Vit Nam Cng Hòa.

Ông Nhã, cu Bí thư và Tham v Báo chí ca Tng thng Nguyn Văn Thiu, nhìn li biến c lch s 30/4/1975 trong cuc phng vn dành cho VOA-Vit ng.

chien3

Ông Hoàng Đức Nhã, cu Tng trưởng Dân vn và Chiêu hi Việt Nam Cộng Hòa ti hi tho trường Đi hc Oregon 14-15/10/2019

Hoàng Đức Nhã : "30 tháng Tư là mt tng hp ca rt nhiu yếu t đã được cu kết và thi hành từ bao năm, trước khi người M mun ra khi cuc chiến Vit Nam, không phi do h thiếu năng lc mà vì lúc đó h đi đường hướng, mun có nhng s dàn xếp cp cao vi Trung Quc, vi Nga, trên cc din đa chính tr- geopolitics.

Ông nói khi quân đội Bắc Vit tràn vào chiếm min Nam, thì Việt Nam Cộng Hòa không còn súng đn mc dù trước đó 2 năm, chính ph min Nam đã ký hip đnh da trên li ha ca Tng thng Nixon, cam kết s giúp Việt Nam Cộng Hòa tn ti, và s cung cp vũ khí cho min Nam theo phương thc "thay mt đi một", nếu phía Bc Vit vi phm hip đnh.

Thế nhưng người M không gi li ha, dn ti tình trng min Nam "không còn đ phương tin đ chiến đu".

Hiệp đnh mà Tổng thống Nguyn Văn Thiu đã vn bt đc dĩ ký dưới áp lc ca M, vào tháng Giêng 1973 là một bước ngot trong chiến tranh Vit Nam. Ông Hoàng Đc Nhã nói hai năm trước đó, người M đã có ý đnh rút ra khi Vit Nam vì M mun mang tù binh v ông Nixon có th chng t vi dân là ông đã gi li ha s đưa con em người M v nước".

Cựu Bí thư ca Tng thng Thiu nói điu ‘vô cùng đáng tiếc’ là 30/4 xy ra trong bi cnh min Nam đang đt được nhiu tiến b.

"Lúc đó quân lực ca mình đã bt đu mnh, trong nước gung máy hành chánh đã bt đu làm vic đúng mc, theo tôi nghĩ cng sn h thy nếu đ min Nam có thì gi thì ngày s càng mnh, lúc đó mình đã bt đu có du la, lúc đó đã sp sa xut cng được go tr li, tt c nhng yếu t đ phát trin, xây dng đt nước đã có..".

Vụ tai tiếng Watergate

Nước M lúc by gi phi đi phó vi nhng vn đ ni b đang làm lung lay chiếc ghế ca Tổng thống Nixon, liu v tai tiếng Watergate có nh hưởng ti quyết đnh ca người M rút ra khi Vit Nam ?

Ông Hoàng Đức Nhã nói v Watergate nh hưởng ti s khn trương trong chính tr ni b ca M, nh hưởng dây chuyn ti min Nam và vic M gi cam kết hay không vì ông Nixon lúc đó hoàn toàn phi đi phó vi v Watergate. Ông gii thích :

"Lúc đó, quốc hi M do Đng Dân ch M kim soát ri. Hai vin thì h thy cơ hi đ dí ông Tng thng Nixon và h la vn đ Watergate mà tiếp tc tn công. Ngày mà Ti cao Pháp vin buc ông Nixon phi giao cun băng đó, là ngày chính tôi thy rõ thế nào min Nam cũng phi chu nh hưởng ca chuyn này".

Viết v ông Hoàng Đc Nhã, báo New York Times mô t ông là người đàn ông quyền lc nht ti min Nam, ch đng sau Tng thng Thiu. T báo nói ông Nhã cùng lúc đóng vai ca 3 nhân vt quan trng chính ph M đương thi : c vn Kissinger, Tham v báo chí Ron Spiegler và Charles G. (Bebe) Rebozo, mt người bn tín cn ca ông Nixon.

Ông Nhã là em họ ca Tng thng Thiu, nhưng ông nói ông được ông Thiu tin tưởng không phi vì có liên h bà con mà là nh ông hiu người M, và biết phân tích tình hình.

"Tôi đi Mỹ hc t nh, tôi biết tánh ca người M khi h áp dng cái gì mà thấy con đường đó không trúng là h b đi, không tình cm gì hết, mc dù h đã b c t đôla đu tư, không ăn thua gì c… Tng thng Thiu là mt ông Trung tướng, tướng là phi nghe hết nhng phân tách đy đ ri mi ly quyết đnh. Tôi làm vic vi ông y được ông y tín nhim ngay c v các vn đ không thuc phm vi ca tôi. Là Bí thư, tôi đâu có ăn thua gì v làm ngoi giao nhưng mà tôi phân tách được, đó là lý do ti sao tôi làm mt lúc 3 công vic mà t New York Times có nhc đến".

Về Tiến sĩ Kissinger

...sau khi ông Kissinger đi Bắc Kinh, rồi Tổng thống Nixon đi Bắc Kinh, dàn xếp với Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông… Mình là một ván cờ họ thí để họ đi một ván cờ khác".

Ông Hoàng Đc Nhã, nguyên Tng trưởng Thông tin, dân vn và chiêu hi Việt Nam Cộng Hòa


Tiế
n sĩ Henry Kissinger, cố vn an ninh ca Tng thng Nixon, là người đóng vai trò ch cht trong các cuc thương lượng dn ti hip đnh Paris. Vi các hot đng ngoi giao ‘con thoi’ mang tính thc dng, ông Kissinger thúc đy M m ca vi Trung Quc, làm thay đi trật t thế gii vi nhng h qu còn kéo dài cho ti ngày nay. Có người tin rng ông Kissinger phi chu trách nhim ln v kết cuc ca chiến tranh Vit Nam. Bí thư ca Tng thng Thiu nhn đnh :

"Đồng ý ! Chính ông y là người thương thuyết mt hip đnh rất là tai hi, ép buc mình, không nghe, không chú ý, không quan tâm đến nhng ước vng ca min Nam. Ông y ch thc thi nhng gì mà ông cho là trúng, mà chưa chc gì ông Nixon đng ý vi ông ta nhưng mà vì ông Nixon b vn đ Watergate chi phi, ông không có thì giờ nghĩ ti. Ông Kissinger nói OK, đ tôi ký cái hip đnh ri là tôi là anh hùng ri, tôi đem được tù binh M v ri, chm dt".

Là người trc tiếp đi đu vi Kissinger đ đòi các điu kin tt hơn cho min Nam, ông Hoàng Đc Nhã b coi là mt cái gai trước mt khi Kissinger sang Vit Nam hi thúc Tng thng Thiu chp nhn gii pháp "chm dt chiến tranh và tái lp hòa bình Vit Nam" mà ông ta đã điu đình vi Hà ni trong các cuc đi đêm vi Lê Đc Th. Trong hi ký "The White House Years", ông Kissinger mô tả Hoàng Đc Nhã là cao ngo, bướng bnh, khó ưa, và dùng nhng t ng nng n khác đ nói v ông Hoàng Đc Nhã. Ông Nhã nói :

"Thực ra ông Kissinger không thích tôi là bi vì tôi đi guc trong bng ông, ông là giáo sư danh tiếng mà ông thấy cái thng nhóc con này mà ti sao nó dám chnh ông ?"

Trong hồi ký, Kissinger phn bác ch trích ca ông Nhã cho rng người M ch mc c đ có mt "decent interval"- mt thi gian đ lâu đ M có th thoái lui ‘trong danh d’.

"Chính cái đó là điều làm cho ông Kissinger và phía Mỹ ghét tôi. Tôi là người biết phân tách tình hình, hi đó tôi dùng danh t ‘mt thi gian tha đáng’ vì nhng tin tc sau khi ông Kissinger đi Bc Kinh, ri Tng thng Nixon đi Bc Kinh, dàn xếp vi Chu Ân Lai và Mao Trch Đông… Mình là một ván c h thí đ h đi mt ván c khác".

Lịch s

chien4

Ông Hoàng Đức Nhã, Tham v báo chí và c vn ca Tổng thống Thiu, bt tay Đi s Hoa Kỳ ti Sài Gòn Elleworth Bunker, ngày17/8/1972, trước cuc hp gia Tổng thống Thiu và C vn An ninh quc gia M Henry A Kissinger

Cộng hòa Min Nam Vit Nam gi đã thuc v lch s, mà lch s thường nm trong tay ca bên thng cuc.

"Ai viết lch s ? Người thng cuc thì viết theo hi là người min Nam không chu bo v lãnh th, chuyn đó là chuyn sai lm, gii thích là người đng minh không gi li cam kết đi vi min Nam, đưa đến ngày 30/4".

Ông Hoàng Đức Nhã ri Sài Gòn ngày 28/4/1975 gia lúc thành ph Sài Gòn đang b di bom. Ông nghĩ gì khi ngoái nhìn quê hương ln cui t trên máy bay đưa ông ra nước người sng lưu vong ?

"Lúc máy bay cất cánh, tôi thy my qu pháo rơi vào phi trường Tân Sơn Nht, lúc đó tôi rt bun, không biết ngày nào tr v… Khi ti Guam nghe ông Dương Văn Minh đầu hàng, bun vô tn. By gi thì mình nói rng thôi, con cái ca mình ln lên không được cái cơ hi sng như mình đã sng, không được đi nhng nơi, ăn nhng món… thành ra lúc đó rt là bun".

Hoài Hương thực hiện

Nguồn : VOA, 01/05/2020

*****************

Nhìn lại Hiệp định Paris 45 năm sau chiến tranh Việt Nam

Hoài Hương, VOA, 30/04/2020

Chiến tranh Vit Nam kết thúc khi Sài Gòn tht th vào tháng Tư năm 1975, nhưng theo mt s s gia thì s phn ca min Nam Vit Nam đã được đnh đot t hơn hai năm trước, khi các bên tham chiến đt được hip đnh hòa bình Paris. Được ký kết ngày 27/1/1973 gia 4 bên : Hoa Kỳ, hai min Nam và Bc Vit Nam, và Mt trn Dân tc Gii phóng Min Nam, Hip đnh Paris v chm dt chiến tranh và tái lp hòa bình Vit Nam, trên thực tế ‘không chm dt chiến tranh mà cũng chng mang li hòa bình’, theo nhn đnh ca s gia Larry Berman, tác gi ca quyn "No Peace, No Honor : Nixon, Kissinger and the Betrayal in Vietnam" – "Không Hòa bình, Không Danh d : Nixon, Kissinger và s Phn bội tại Vit Nam".

chien5

Ký kết hip đnh hòa bình Paris- nh Tư liu

Khi những chiếc máy bay trc thăng di tn nhng nhà ngoi giao và binh sĩ M cui cùng ra khi Sài Gòn ngày 30/4/1975, câu hi được nhiu người đt ra là : Chng l hàng chc ngàn người M và hàng triu người Vit Nam c hai bên đã nm xung trong cuc chiến, đu chết mt cách vô nghĩa ?

Giáo sư Larry Berman nói khi Sài Gòn sp đ, câu tr li đã rõ. Ông nói ngay c ông Kissinger cũng biết rng cái mà ông gi là hip đnh chm dt chiến tranh và tái lp hòa bình Vit Nam, và cho là s mang lại "hòa bình trong danh d" cho người M, thc ra ch mang li mt th "hòa bình gi to- sham peace", dng lên nhm đánh lc hướng dư lun M vi nhng li hoa m v ‘danh d ca M’ (trang 261).

Giáo sư Berman gi tha thun lp li hòa bình Việt Nam là mt tha thun phi lý- "Jabberwocky Agreement" bi vì trên thc tế tha thun này không phi là mt tha thun hòa bình, mà ch là mt cách đ Hoa Kỳ có th rút ra khi Vit Nam mà không phi nhìn nhn rng M đã tht bi.

Trong quyển "No Peace, No Honor", Giáo sư Larry Berman đã dùng các tài liu mt ca M sau này được gii mt, v các cuc đàm phán bí mt gia c vn an ninh quc gia M Henry Kissinger và ông Lê Đc Th, c vn cao cp Đoàn Đi biu Vit Nam Dân ch Cng hòa tại Hi ngh Paris, và ông mang các thông tin đó ra đi chiếu vi các tài liu ca min Bc, ghi chép đy đ các cuc đàm phán bí mt vi ông Kissinger.

Lúc bấy gi, Tổng thống Nixon và c vn Kissinger quyết tâm chm dt s hin din ca M ti Vit Nam. Mỹ ch có hai mc tiêu ch yếu, chính là trit thoái lc lượng M ra khi Vit Nam, và vn đng th tù binh chiến tranh M đ h được tr v đoàn t vi gia đình.

Số phn ca min Nam Vit Nam, nguyên do mà Hoa Kỳ tham gia chiến tranh Vit Nam, không được quan tâm đúng mc, th hin qua nhng c gng ca ông Kissinger và Tổng thống Nixon, tăng sc ép buc Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa ký hip đnh mà s gia Berman cho là mt "hip đnh t sát", khi đng ý cho quân đi Bc Vit li min Nam.

Trong cuộc phng vn dành cho VOA-Việt ng, s gia Larry Berman nói ch có mt t duy nht đ miêu t hành đng ca Tổng thống Nixon và Tiến sĩ Kissinger đi vi đng minh Việt Nam Cộng Hòa và hàng chc ngàn binh sĩ đã chiến đu và nm xung trên chiến trường Vit Nam : đó là "phn bi".

chien6

Ông Lê Đức Th, C vn cao cp Đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Tiến sĩ Henry Kissinger, C vn An ninh Quc gia M ti Hi ngh Paris

Ông nói hành động phn bi khi s ngay t khi ông Kissinger quyết đnh đi đêm vi ông Lê Đc Th và hoàn toàn gt Tổng thống Thiu sang mt bên.

Giáo sư Berman nói :

"Giải pháp ông ta bí mt điu đình mà không h tham kho ý kiến ca đng minh Nam Vit Nam, v cơ bản, là mt ‘tha thun t sát’ đi vi đt nước tng được gi là Nam Vit Nam".

Sau cùng, ông Kissinger nhượng b hu hết mi đòi hi ca min Bc, đơn phương trit thoái lc lượng M ra khi Vit Nam, nhưng đng ý đ min Bc duy trì ước lượng 160 ngàn quân ở min Nam. Theo Giáo sư Berman, khi phát hin ra nhng nhượng b ca ông Kissinger vi min Bc, Tng thng Thiu đã hết sc gin d, ông Nixon rt cuc phi viết thư mt, bo đm M s lp tc điu máy bay ném bom B52 ngay đ bo v Việt Nam Cộng Hòa nếu Hip đnh Paris bị vi phm.

Ông Bùi Diễm, cu Đi s Vit Nam Cng Hòa ti Hoa Kỳ, nói vi VOA :

"Người M ha hn vi min Nam Vit Nam s phn ng mt cách hết sc mnh m nếu Bc Vit vi phm Hip đnh Ba-Lê, đng thi s giúp Vit Nam chng đ trước các cuc tấn công của min Bc, thì Hoa Kỳ đã không gi và vì vy cho nên min Nam mi b đt vào trường hp năm 1975 : thiếu súng đn, thiếu tt c mi th, trong khi người min Bc được tiếp tế bi Liên Xô và Trung Cng, thành th v phương din quân s nó rõ ràng b chênh lch, thì tình trng ca Hip đnh Paris đưa đến tình trng năm 1975, thì nó rõ ràng là như vy".

Giáo sư Larry Berman nói ông không tin là Tổng thống Nixon có ý đnh nut li ha vi Tng thng Thiu :

"Không có cách chi Tổng thống Nixon chp nhn để cho lch s viết rng min Nam Vit Nam đã sp đ trong khi ông đang nm quyn Washington. Theo tôi, ông Nixon đã thc hin li ha nếu không xy ra v Watergate. Nhưng ông Kissinger thì khác, ông c vn ông Nixon rng người M đã làm đ ri. Như tôi đã viết trong cun ‘No Peace, No Honor,’ đây là ln đu tiên trong lch s Hoa Kỳ mà chúng ta đ cho mt đng minh rơi vào tình trng thiếu đn dược, gia lúc đng minh đang chiến đu đ bo v đt nước h".

Giáo sư Berman nói tht là oái ăm là các cuc điu đình bí mt dn ti hip đnh Paris, và sau này kéo theo s sp đ ca Việt Nam Cộng Hòa, đã khiến ông Kissinger và ông Lê Đc Th được Hi đng Nobel chn đ trao Gii Nobel Hòa Bình.

Tiến sĩ Berman nói vic hai nhà ngoi giao đã ‘đi đêm’ vi nhau được trao gii Nobel Hòa Bình là một điu khôi hài. Ông nói :

"Đáng chú ý là Henry Kissinger nhận Gii Nobel Hòa Binh, trong khi đi tác ca ông trong các cuc thương lượng, Lê Đc Th, t chi, không nhn Gii. Bi vì không có mt giây phút hòa bình nào đã đến vi Vit Nam".

Theo tài liệu ca Người K S ca Vit Nam, ông Lê Đc Th t chi Gii Nobel Hòa bình "vi lý do hòa bình chưa thc s lp li trên đt nước Vit Nam".

Quả vy, trước khi ch ký trên văn kin lch s này ráo mc, Hip đnh Paris đã b vi phm bi c hai bên trong cuộc chiến, vi nhng v ln đt giành dân, và chiến tranh li tiếp din ngày càng d di, đ rt cuc dn ti biến c 30/4/1975, khi min Bc xua quân thôn tính min Nam trong hành đng "vi phm trng trn cui cùng", theo s gia Berman.

Hoài Hương

Nguồn : VOA, 30/04/2020

**********************

45 năm nhìn lại : Hiệp định Paris có giúp Mỹ ‘rút lui trong danh dự’ ?

VOA, 30/04/2020

Được ký kết ngày 27/1/1973 gia 4 bên : Hoa Kỳ, hai min Nam và Bc Vit Nam, và Mt trn Dân tc Gii phóng Min Nam, Hip đnh Paris v chm dt chiến tranh và tái lập hòa bình Vit Nam, trên thc tế đã ‘không chm dt chiến tranh mà cũng chng mang li hòa bình’, theo nhn đnh ca s gia Larry Berman, tác gi ca quyn "No Peace, No Honor : Nixon, Kissinger and the Betrayal in Vietnam" – "Không Hòa bình, Không Danh dự : Nixon, Kissinger và s Phn bi ti Vit Nam".

chien7

Cố vn An ninh Quc gia M Henry Kissinger, trái, và ông Lê Đc Th, phi, C vn cao cp Đoàn đi biu min Bc ti Hi ngh Paris, ti Gif-sur-Yvette, ngoi ô Paris, ngày 23/11/1972, ngay trước các cuc điu đình bí mt.

Ngày 30/4/1975, khi máy bay trực thăng M đưa nhng binh sĩ cui cùng ra khi Sài Gòn, câu hi được đt ra là : Chng l hàng chc ngàn người M và hàng triu người Vit Nam c hai bên đã hy sinh trong cuộc chiến, đu chết mt cách vô nghĩa ?

Giáo sư Larry Berman nói sau khi Sài Gòn sp đ, câu tr li đã rõ. Ông nói ngay c ông Kissinger cũng biết rng cái gi là hip đnh chm dt chiến tranh và tái lp hòa bình Vit Nam mà ông y đã ký và ca ngi là mang lại "hòa bình trong danh d" ch mang li mt th "hòa bình gi to- sham peace" được dng nên nhm đánh lc hướng dư lun M vi nhng li hoa m v ‘danh d ca M’ (trang 261).

Giáo sư Berman đt tên tha thun lp li hòa bình Việt Nam là "Jabberwocky Agreement", vì tính cách phi lý của nó, vì tha thun này không phi là mt tha thun hòa bình, mà ch là mt cách đ Hoa Kỳ rút ra khi Vit Nam mà không phi tha nhn đã tht bi.

Trung tâm Washington của Đi hc California cho rng trong quyn "No Peace, No Honor", Giáo sư Larry Berman tiết l nhng s tht chôn kín trong các tài liu mt v các cuc thương thuyết kín da trên nhng tài liu ca M được gii mt đi chiếu vi các tài liu ca min Bc, ghi chép đy đ các cuc đàm phán bí mt vi ông Kissinger.

Trong cuộc phng vn dành cho VOA-Vit ng, GS Berman nói oái ăm thay, các cuc đàm phán bí mt đưa đến tha thun phi lý đó đã dn ti quyết đnh ca Hi đng Nobel chn trao Gii Nobel Hòa Bình cho ông Kissinger và ông Lê Đc Th.

Giáo sư Berman kết lun rng ch có mt t duy nht đ miêu t nhng hành đng ca Tổng thống Nixon và Tiến sĩ Kissinger đi vi đng minh Vit Nam Cng Hòa và hàng chc ngàn binh sĩ đã chiến đu và nm xung trên chiến trường Vit Nam : đó là "phn bi".

Ông Berman nói hành động phn bi khi s ngay t khi ông Kissinger ch điu đình riêng vi ông Lê Đc Th và hoàn toàn gt ông Thiu sang mt bên.

Giáo sư Berman nói vi VOA :

"Giải pháp ông ta bí mt điu đình mà không h tham kho ý kiến ca đng minh Nam Việt Nam, v cơ bn, là mt ‘tha thun t sát’ đi vi đt nước tng được gi là Nam Vit Nam".

Sau cùng, ông Kissinger nhượng b hu hết mi đòi hi ca min Bc, đơn phương trit thoái lc lượng M ra khi Vit Nam, nhưng đng ý đ min Bc duy trì ước lượng 160 ngàn quân min Nam. Theo Giáo sư Berman, khi phát hin ra nhng nhượng b ca ông Kissinger vi min Bc, Tng thng Thiu đã hết sc gin d, ông Nixon rt cuc phi viết thư mt, bo đm M s lp tc điu máy bay ném bom B52 ngay khi Hip định Paris b vi phm.

Ông Bùi Diễm, cu Đi s Vit Nam Cng Hòa ti Hoa Kỳ, cho VOA biết thêm chi tiết :

"Người M ha hn vi min Nam Vit Nam s phn ng mt cách hết sc mnh m nếu Bc Vit vi phm Hip đnh Ba-Lê, đng thi s giúp Vit Nam chng đỡ trước các cuc tn công ca min Bc, thì Hoa Kỳ đã không gi và vì vy cho nên min Nam mi b đt vào trường hp năm 1975 : thiếu súng đn, thiếu tt c mi th, trong khi người min Bc được tiếp tế bi Liên Xô và Trung Cng, thành th v phương din quân sự nó rõ ràng b chênh lch, thì tình trng ca Hip đnh Paris đưa đến tình trng năm 1975, thì nó rõ ràng là như vy".

Giáo sư Larry Berman nói ông không tin là Tổng thống Nixon có ý đnh nut li ha vi Tng thng Thiu :

"Không có cách chi Tổng thống Nixon chấp nhn đ cho lch s viết rng min Nam Vit Nam đã sp đ trong khi ông đang nm quyn Washington. Theo tôi, ông Nixon đã thc hin li ha nếu không xy ra v Watergate. Nhưng ông Kissinger thì khác, ông c vn ông Nixon rng người M đã làm đủ ri. Như tôi đã viết trong cun ‘No Peace, No Honor,’ đây là ln đu tiên trong lch s Hoa Kỳ mà chúng ta đ cho mt đng minh rơi vào tình trng thiếu đn dược, gia lúc đng minh đang chiến đu đ bo v đt nước h".

Tiến sĩ Berman nói vic ông Kissinger và ông Lê Đức Th, hai nhà ngoi giao đã ‘đi đêm’ vi nhau đ đt tha thun dn ti Hip đnh Paris, được trao gii Nobel Hòa Bình là mt điu khôi hài.

"Đáng chú ý là Henry Kissinger nhận Gii Nobel Hòa Binh, trong khi đi tác ca ông trong các cuộc thương lượng, Lê Đc Th, t chi, không nhn Gii. Bi vì không có mt giây phút hòa bình nào đã đến vi Vit Nam".

Quả vy, trước khi ch ký trên văn kin lch s này ráo mc, Hip đnh Paris đã b vi phm bi c hai bên trong cuc chiến, vi nhng v ln đt giành dân, và chiến tranh li tiếp din ngày càng d di, đ rt cuc dn ti biến c 30/4/1975, khi min Bc xua quân thôn tính min Nam trong hành đng "vi phm trng trn cui cùng", theo s gia Berman.

Nguồn : VOA, 30/04/2020

Published in Diễn đàn

Trong chiến tranh cổ điển (không sử dụng vũ khí hạt nhân…) những yếu tố thắng lợi là vũ khí tinh thần, vật chất và hoàn cảnh.

bacnam0

Từ trái, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, và Đại tá Trần Văn Nhựt tại chiến trường An Lộc ngày 7/7/1972 (Hình : Flickr manhhai) - Ảnh minh họa

Trong chiến tranh thì phía lạc hậu thắng văn minh là chuyện không hiếm, ví như thế kỷ 12, 13 đế quốc Mông Cổ đã chiến thắng, tàn phá cả loạt các xã hội văn minh hơn ở Châu Á, Trung Cận Đông, Châu Âu hay Mãn Thanh chiến thắng nhà Minh…

Trong cuộc chiến tranh Việt Nam (1965-1974) nếu nhìn vào sức mạnh vật chất, khoa học kỹ thật, trình độ văn minh thì phía miền Bắc không thể so sánh với phía miền Nam, thế nhưng Bắc Việt đã thắng, theo tôi là những nguyên nhân sau đây :

Nói miền Bắc nhưng thực chất là cả hàng chục nước cộng sản, gọi chung là phe xã hội chủ nghĩa, chiến đấu với miền Nam và Mỹ cùng sự góp sức mang tính chất biểu tượng của Nam Hàn, Australia… Trong chiến tranh cổ điển (không sử dụng vũ khí hạt nhân…) những yếu tố thắng lợi là vũ khí tinh thần, vật chất và hoàn cảnh.

1. Trong cuộc chiến này sức mạnh tinh thần của phe miền Bắc cao hơn phía miền Nam

Phe miền Bắc gồm các chế độ độc tài, nhà cầm quyền miền Bắc Việt Nam nắm tuyệt đối vũ khí tuyên truyền nên tất cả người dân Việt Nam đều hiểu nhà cầm quyền miền Bắc là chính nghĩa, đại diện cho dân tộc Việt Nam chiến tranh vì lợi ích của nhân dân, thống nhất đất nước. Đặc biệt, từ khi Mỹ đưa quân đội vào Việt Nam (1965) thì nhà cầm quyền miền Bắc giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, tất cả người miền Bắc cùng một bộ phận dân chúng miền Nam thiên cộng hiểu mình chiến đấu vì độc lập cho tổ quốc, vì tự do cho nhân dân, càng tự hào "đứng mũi, chịu sào" cho phe xã hội chủ nghĩa ưu việt nên nhiệt tình tham gia tất cả những gì nhà cầm quyền miền Bắc "giao phó".

Trong khi đó phía miền Nam là chế độ dân chủ, báo chí tư nhân phản ánh thông tin theo nhiều chiều, thông tin cả những sự thật không có lợi cho Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là phong trào thân cộng tố cáo chế độ Việt Nam Cộng Hòa là "ngụy quyền, ngụy quân" được một phần dân chúng miền Nam thiên tả ủng hộ theo, nhất là phong trào phản chiến qua văn hóa và âm nhạc đã khiến tinh thần chiến đấu như người lính miền Nam suy giảm. Từ sau năm 1965 rất nhiều thanh niên miền Nam đứng vào hàng ngũ phe cộng sản miền Bắc.

2. Toàn bộ tổ chức của nhà nước miền Bắc tập trung vào chiến tranh

Những năm diễn ra cuộc chiến tranh, toàn bộ miền Bắc Việt Nam là một trại lính, tất cả tư liệu sản suất, tài sản như ruộng, vườn, trâu bò, gia súc, gia cầm, sông, suối, rừng, nhà máy, xí nghiệp… đều của hợp tác xã, của nhà nước. Bất kể ai không theo chỉ đạo, phân công của nhà cầm quyền địa phương đều không có đất sống. Số ít những thanh niên trốn lính, bộ đội đào ngũ về địa phương bị giam cầm, chế diễu, không có bất cứ cơ sở vật chất gì để sinh sống do tất cả người dân thành phố tồn tại nhờ được phát sổ gạo, chút thực phẩm còn ở thôn quê thì nhờ phân phối của hợp tác xã.

Cuộc sống người dân quá kham khổ cũng là một động lực để huy động lính. Không ít thanh niên muốn vào bộ đội đơn giản để được ăn no nên có câu chế giễu hiện tượng đào ngũ : "Nam (Nam Định) chuồn, Hà (Hà Nam Ninh) lủi, Thái Bình bay ; Thủ đô anh dũng trốn ban ngày/Thanh Hóa mất mùa xin ở lại…"... Vì vậy, nhà cầm quyền miền Bắc hướng được toàn bộ sức người, sức của và viện trợ của phe xã hội chủ nghĩa cho chiến tranh. Trong khi đó ở miền Nam là chế độ dân chủ, ruộng vườn, của cải… là chế độ tư hữu, nguồn lực vật chất bị phân tán, người dân trốn quân dịch, đào ngũ vẫn có thể tồn tại.

3. Hai chiến lược khác nhau

Mỹ, miền Nam dùng chiến tranh "vỗ mặt" trong khi miền Bắc dùng chiến tranh du kích nên sức mạnh vật chất của Mỹ, miền Nam sử dụng trong cuộc chiến là không "tương thích" với hoàn cảnh của đối phương.

Vũ khí hiện đại của Mỹ sử dụng ở Việt Nam là không hiệu quả do hạ tầng miền Bắc hầu như không có gì ngoài số ít cây cầu, nhà máy, công xưởng nhỏ, lạc hậu, số của cải vật chất sản xuất ra chỉ chiếm phần nhỏ so với viện trợ của phe xã hội chủ nghĩa trong nguồn lực cho cuộc chiến… Trong khi đó một một phi vụ, trái bom, một tên lửa của đối phương giá hàng ngàn, vạn, triệu USD chỉ để phá một cái cầu lát gỗ, cái nhà tranh vách đất, một miểng rừng, một mảnh ruộng lúa chỉ đáng vài chục trăm USD… phỏng có ăn thua gì ?

Riêng về con người, phía miền Nam và Mỹ không thể "đọ" được với phía miền Bắc : Một bộ đội miền Bắc đi lính, dân công… chính quyền không cần phải có chính sách gì tốn kém, tất cả cuộc sống tối thiểu có hợp tác xã lo, một người lính, dân quân, thanh niên đi chiến trường bị chết không làm nhà cầm quyền bận tâm. Tôi đi bộ đội chiến đấu ở chiến trường miền Bắc (1967-1969) và chiến trường 559 (1969-1975). Ở chiến trường có những tuần không hề biết đến hạt cơm chỉ kiếm những thứ trong rừng để sống, làm việc, khi giải ngũ chỉ được phát vài chục đồng lộ phí về quê, khi chuyển ngành cũng không có đồng nào, bạn tôi trung sĩ chiến đấu 5 năm ở chiến trường bị thương, khi giải ngũ được lĩnh 500 đồng. Hiện nay anh trai của người viết bài này cũng như bao nhiêu nghìn, vạn người nữa chết trong chiến tranh vẫn chỉ có thông tin duy nhất : "Hy sinh ở mặt trận phía nam". Chấm hết !

Mạng người như thế cộng với lương thực, quân nhu, đạn dược do phe xã hội chủ nghĩa cung cấp đủ dùng, cán bộ lãnh đạo ở hậu phương có nguồn cung cấp thực phẩm, nhu yếu phẩm riêng, ở chiến trường phần lớn họ ở boongke và tiện nghi gần như ở phố… nên nhà cầm quyền miền Bắc không quá ngại chiến tranh.

Ngược lại, phía miền Nam, một người đi lính nhà nước phải nuôi cả nhà, nếu bị chết thì nhà chức trách phải tìm bằng được thi thể, hài cốt và chi trả gánh nặng cho gia đình, người thân của tử sĩ được lãnh tiền tử tuất khá lớn và lâu dài.

Đặc biệt, ưu thế về phía miền Bắc so với miền Nam là chế độ chính trị. Với miền Bắc ngoài nhà cầm quyền miền Bắc độc quyền tuyên truyền theo định hướng "ta thắng, địch thua", người dân hầu như không biết gì về thực chất cuộc chiến, do đó họ chỉ một mực tin vào lãnh đạo, tuyên truyền nên bộ tham mưu của chế độ cộng sản muốn tổ chức, kéo dài chiến tranh bao lâu tùy ý. Ngược lại, phía miền Nam, Mỹ là chế độ dân chủ tự do thông tin, người dân theo dõi được cả quang cảnh một trận đánh trên chiến trường do các hãng truyền thông tư nhân phát đii nên khi chiến tranh kéo dài, ác liệt, tổn thất… nhân dân, các đảng đối lập phản đối, biểu tình, các cơ quan quyền lực ngăn cản, cắt ngân sách… nên bộ máy chiến tranh phía dân chủ không thể chủ động trong cuộc chiến. Có thể nói, đây là "tử huyệt" của các chế độ dân chủ trong chiến tranh.

Thời gian mà Ukraine bị Nga cướp trắng Crimea là dưới chế độ độc tài nên Putin mới tự do đưa quân vào chiếm bán đảo Crimea, vì nếu là phương Tây thì ban tham mưu phải còn họp hành, bàn thảo và bỏ phiếu ở các viện quốc hội…

bacnam2

Các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đóng góp cho việc bảo vệ An Lộc. (Hình : Flickr manhhai)

Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, ngoài những khác biệt về ưu thế trên, phía miền Nam thất bại cũng từ hoàn cảnh, thế chiến lược toàn cầu của Mỹ đã thay đổi : Năm 1972 do cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài, tổn thất lớn nên nhân dân, quốc hội Mỹ phản đối mạnh, Liên Xô và Trung Quốc lại mâu thuẫn, người Mỹ muốn từ bỏ chiến tranh Việt Nam và liên kết với Trung Quốc để cô lập Liên Xô nên quyết định rút quân khỏi Việt Nam, nhường bán đảo Đông Dương cho Trung Quốc sử dụng ảnh hưởng.

Từ sau Hiệp định Paris năm 1973, Mỹ rút toàn bộ quân đội, vũ khí nặng khỏi Việt Nam, cắt viện trợ cho miền Nam từ 2,5 tỷ USD xuống còn 700 triệu USD/năm trong khi miền Bắc vẫn được Liên Xô, Trung Quốc cạnh tranh ảnh hưởng cùng cung cấp vũ khí quân nhu, lương thực. Miền Bắc vẫn duy trì lực lượng lớn (theo thống kê không chính thức là 160.000) quân ở miền Nam… nên sức mạnh của miền Bắc vượt trội miền Nam. Đặc biệt, trên chiến trường không còn những cuộc oanh tạc của máy bay B52 thì quân đội miền Bắc tha hồ tung hoành. Có thể khẳng định : Nếu Mỹ chỉ rút quân đội nhưng không cắt viện trợ và máy bay B52 vẫn được sử dụng thì chưa biết cục diên cuộc chiến sẽ như thế nào.

Những năm trước đó quân miền Bắc thường dùng chiến thuật "biển người" đánh chiếm một những điểm nào muốn (như Tết Mậu thân Huế 1968, Quảng Tri 1972 chẳng hạn) chủ yếu để lung lạc tinh thần chiến đấu của lực lượng đối phương, gây thanh thế chính trị chứ không thể giữ được trận địa nào dưới sức mạnh hủy diệt của bom B52. Tôi ở chiến trường 559 phải đối diện với rất nhiều loại vũ khí như bom bi, mìn vướng, mìn lá, mìn cóc, bom từ các loại máy bay AD6, F4, B57, đạn 20, 40mm của AC130 (khi đi trên đường tuyến-đường mòn Hồ Chí Minh) nhưng chỉ sợ B52. Trong những năm 1973-1974, Việt Nam Cộng Hòa bị Mỹ bỏ rơi, không đủ ngân sách chi tiêu thiết yếu cho chiến tranh đã hoang mang tự sụp đổ chứ không phải vì không còn được B52 yểm trợ.

Cuối cùng, tư duy quân sự của lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa (tổng thống Nguyễn Văn Thiệu) lúc đó yếu kém, chỉ đạo quốc phòng ngớ ngẩn… đã làm cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa tự tan vỡ nhanh đến mức quân cộng sản miền Bắc không kịp chiếm lĩnh nhiều vùng lãnh thổ đã bị bỏ trống.

Lịch sử thật trớ trêu : Năm 1972, 1973 Mỹ "đi đêm" nhường cho Trung Quốc ảnh hưởng ở Đông Dương, chiếm quần đảo Hoàng Sa, rồi phần lớn Trường Sa của Việt Nam, đổ vốn, công nghệ vào Trung Quốc tưởng nước này dân chủ hóa thành đối tác khổng lồ, làm đối trọng với Liên Xô thì nay chính Trung Quốc đang làm cho Mỹ cũng như thế giới văn minh hứng họa độc tài toàn trị, lưu manh, côn đồ, độc ác…

Nguyễn Đình Ấm

Nguồn : VNTB, 30/03/2020

Published in Diễn đàn

Thêm nỗ lực nói lên sự thật

Bộ phim The Vietnam War được trình chiếu hồi tháng 9 năm 2017 đã gây nhiều ý kiến trái chiều, nhiều người cho rằng bộ phim không phản ảnh đầy đủ những tiếng nói đã tham gia trong cuộc chiến Việt Nam. Do vậy, ông Nam Phạm và một số thân hữu đã thực hiện một cuốn phim khác mang tên The Vietnam War Through Our Eyes (Chiến tranh Việt Nam dưới cái nhìn của chúng tôi). Vừa qua, đoàn làm phim đã đến Paris để phỏng vấn thêm một số nhân vật cho phim. Ông Nam Phạm, người khởi xướng dự án này, cho biết lý do tại sao ông và các thân hữu quyết định phải thực hiện cuốn phim này :

phim1

Một cảnh trong phim "Chiến tranh Việt Nam dưới cái nhìn của chúng tôi" - Photo : RFA

"Thế giới Tây Phương vẫn còn có cái nhìn rất là sai lạc về cuộc chiến Việt Nam và nhất là vai trò của người Việt Nam ở miền Nam của chúng ta. Từ sự hy sinh anh dũng của quân lực Việt Nam Cộng hòa đến những thành quả của chính phủ Việt Nam Cộng hòa cho đến ngay cả nguyên nhân của cuộc chiến là do sư xâm lăng của đảng cộng sản"

phim2

Bộ phim The Vietnam War được trình chiếu hồi tháng 9 năm 2017

Qua sự giới thiệu của các cựu quân nhân Hoa Kỳ, ông Nam Phạm đã mời được đạo diễn Fred Koster tham gia. Chiến tranh Việt Nam là một câu chuyện với rất nhiều mảng tối chưa bao giờ được ghi lại với tất cả những sự trung thực nhất. Nó thường được nhìn bằng mặc cảm của bên thua cuộc hay sự tự hào của kẻ chiến thắng.
Đạo diễn Koster muốn trả lại sự thật cho lịch sử qua lời kể của các nhân chứng trong cuốn phim này, ông nói :

"Câu chuyện của người dân miền Nam là một trong những câu chuyện vĩ đại nhất của Thế Kỷ 20 mà chưa được kể lại. Lịch sử của người miền Nam Việt Nam đã bị trình bày sai lạc và không chân thật. Là một người làm phim, tôi rất hào hứng muốn kể câu chuyện bởi vì nó chưa bao giờ được kể lại. Nó giống như một điều bí ẩn"

Fred Koster là đạo diễn của cuốn phim nổi tiếng về chiến tranh Việt Nam Ride The Thunder (Cỡi Ngọn Sóng). Cuốn phim nói về tình huynh đệ chi binh của trung tá Việt Nam Cộng Hòa Lê Bá Bình và Đại uý Hoa Kỳ John Ripley. Theo ông, phim Ride The Thunder chỉ nói 1 phần sự thật, cuốn phim The Vietnam War Through Our Eyes (Chiến tranh Việt Nam Dưới Cái Nhìn Của Chúng Tôi) sẽ nói lên nhiều sự thật hơn nữa :

"Bộ phim kế tiếp này, tôi nghĩ sẽ làm nhiều người ngạc nhiên vì chính những người miền Nam sẽ biết thêm về lịch sử mà họ không biết. Có rất nhiều cơ quan truyền thông đã kể cho chúng ta rất nhiều điều dối trá đến nỗi chúng ta bắt đầu tin vào đó. Với bộ phim này chúng tôi sẽ trình bày sự thật và thế hệ người Việt Nam trẻ sau này sẽ hãnh diện về những gì bố mẹ và ông bà của mình đã phải làm. Tôi nghĩ rằng điều rất quan trọng là những người thế hệ trẻ cần phải biết sự thật và hãnh diện về nó".

Nhiều người cho rằng, bộ phim The Vietnam War của đạo diễn Ken Burn và Lynn Novic đã không phản ảnh được những tiếng nói từ nhiều phía, nó thiếu hẳn tiếng nói của phe tham chiến miền Nam là phía quân đội Việt Nam Cộng hòa. Phân tích của tác giả Lâm Vĩnh Thế trên trang namkyluctinh.org cho thấy cuốn phim The Vietnam War phỏng vấn 51 người Mỹ (64%), 20 người Việt thuộc phe tham chiến từ miền Bắc (25,3%) và chỉ có 8 người Việt thuộc phe tham chiến miền Nam (10,1%)

Nhà báo Huy Đức (blogger Osin) người cố vấn cho phim này và cũng là người đã được phỏng vấn trong phim The Vietnam War, nhận xét về phim the Vietnam War như sau : "…quy gần như mọi tội lỗi cho Washington, đánh giá cao chiến binh của miền Bắc và có lúc, tỏ thái độ xem thường lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa…"

phim3

Phim "Chiến tranh Việt Nam Dưới Cái Nhìn Của Chúng Tôi" Photo : RFA

Trong khi đó, ông Nam Phạm cho biết, cuốn phim The Vietnam War Through Our Eyes (Chiến tranh Việt Nam Dưới Cái Nhìn Của Chúng Tôi) sẽ có tiếng nói của những cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, của những người đi từ miền Bắc Cộng sản, của những phụ nữ đã là nạn nhân của chế độ, v.v… Cuốn phim, theo ông Nam, gồm có 4 mục tiêu chính mà ông gọi là "Bốn trả".

"Mục đích căn bản chúng tôi tạm dùng là 4 trả : Thứ nhất là trả lại sự thật cho lịch sử, thứ nhì là trả lại danh dự cho người lính Việt Nam Cộng Hòa, thứ ba là trả lại sự công bằng cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và thứ tư là trả lại niềm tự hào về Cha Ông cho con em của chúng ta. Thành thử ra, tất cả những người mà chúng tôi tiếp xúc, những nhân chứng sống, cộng thêm những tài liệu lịch sử để mình nói lên được 4 điều đó"

Cuốn phim The Vietnam War Through Our Eyes (Chiến tranh Việt Nam dưới cái nhìn của chúng tôi) dài 2 tiếng, được thực hiện trong vòng 2 năm với một ngân khoản khá khiêm tốn (khoảng 250.000 mỹ kim) trong khi đó, bộ phim The Vietnam War của Ken Burn và Lynn Novic được thực hiện trong vòng 10 năm với một ngân khoảng dồi dào là 30 triệu mỹ kim, bộ phim dài 18 tiếng được chiếu làm 10 tập, nhưng nhà văn Nguyễn Quang Lập (blogger Bọ Lập) đã phê bình cuộn phim dài 10 tập mà không nói lên được điều gì mới thì chưa đạt yêu cầu. Và đó cũng là lý do để đạo diễn Koster quyết tâm bổ túc vào phần khiếm khuyết ấy, ông nói :

"Ken Burns có 18 tiếng để kể câu chuyện về người Việt Nam và chiến tranh Việt Nam. Ông ta có 18 tiếng mà ông ta không tìm được một giây để nói về nỗi thống khổ của thuyền nhân và 400,000 người bỏ mạng ở trên biển cả. Ông ta không nói về người tị nạn hoặc ông ta không nói về trại cải tạo. Nên nhớ là ông ta có 18 tiếng để làm việc này mà ông ta đã không làm. Đồng thời ông ta cũng không nói gì về quân đội của miền Nam, những chiến thắng mà họ đạt được và những thử thách mà họ phải đối phó. Tôi muốn nhiều người thế hệ trẻ miền Nam Việt Nam biết rằng trong thời gian đầu của cuộc chiến, Mỹ đã không cung cấp cho quân đội miền Nam những vũ khí hiện đại. Họ đã đưa những vũ khí cũ kỹ. Như vậy trong thời gian đầu quân đội miền Nam đã chiến đấu với những vũ khí cũ kỹ trong khi Việt Cộng và bộ đội miền Bắc xử dụng vũ khí hiện đại. Và đó là một trong những điều mà tôi muốn thế hệ trẻ biết về những việc làm anh hùng của bố mẹ họ".

phim4

Nghĩ về chiến tranh Việt Nam, điều người Tây Phương nghĩ đến đầu tiên là những thây người ngã xuống trong tiếng máy bay trực thăng, là cô bé bị phỏng cháy Kim Phúc, là những cuộc biểu tình phản chiến.v.v. và người Mỹ thì mang nặng một mặc cảm với 58.000 lính Mỹ đã hy sinh. Trung tá Thủy quân Lục Hiến Hoa Kỳ, Richard Botkin, tác giả và cũng là nhà sản xuất Ride The Thunder làm cuộn phim đó với mong muốn "trả sự thật lại cho lịch sử" và "thay đổi nhận thức và ký ức sai lạc của người Mỹ về chiến tranh Việt Nam". Liệu cuốn phim The Vietnam War Through Our Eyes (Chiến tranh Việt Nam dưới cái nhìn của chúng tôi) có thay đổi được cái nhìn của Tây phương về chiến tranh Việt Nam ? Đạo diễn Fred Koster chia sẻ :

"Tôi nghĩ rằng chúng ta không thể thay đổi được bi kịch của chiến tranh Việt Nam, nhưng chúng ta có thể thay đổi được một bi kịch đó là việc lịch sử đã ghi nhận lại chiến tranh Việt Nam như thế nào. Đối với tôi, tôi có nhiều đau xót cho những người dân miền Nam và tôi muốn làm tất cả những gì có thể để kể câu chuyện. Tôi nghĩ rằng khi thế giới, người Mỹ biết được sự thật, họ sẽ đón nhận câu chuyện của người miền Nam và hiểu được những gì mà bạn đã phải trải qua. Một trong những chuyện mà không có trong các sách lịch sử và trong phim ảnh là câu chuyện của thuyền nhân, họ phải chịu khổ như thế nào, người tị nạn và các trai tù cải tạo. Trong những phim ảnh chính thống ở Mỹ không có những câu chuyện này. Không may, trong những sách lịch sử không được nhắc đến hoặc nếu có thì chỉ rất vắn tắt. Với bộ phim này, chúng tôi sẽ vinh danh những người này bằng cách kể lại câu chuyện của họ. Tôi nghĩ rằng đây là một trong những điều to lớn mà chúng ta có thể làm được cho những người đã phải chịu khổ hoặc chết là tưởng nhớ đến họ và nói lên sự thật"

Cuốn phim được dự định trình chiếu vào mùa thu năm nay, phim cũng sẽ được làm thành DVD để đưa vào các trường trung và đại học như một tài liệu giáo khoa để giới trẻ có thể tìm hiểu về chiến tranh Việt Nam một cách đúng đắn.

Nếu Ken Burn và Lynn Novick cho biết trong cuộc phim The Vietnam War những người trả lời phỏng vấn sẽ kể lại câu chuyện của họ, thì ông Nam Phạm và đạo diễn Fred Koster cũng mong muốn mọi người đến xem cuốn phim The Vietnam War Through Our Eyes (Chiến tranh Việt Nam dưới cái nhìn của chúng tôi) để nghe câu chuyện của những người đã không có cơ hội có mặt trong cuốn phim của Ken và Lynn. Ông Nam Phạm hy vọng :

"Chúng tôi hy vọng qua cuốn phim này, chúng ta sẽ giúp cho những người cựu quân nhân Việt Nam được nói lên tiếng nói của họ, để cho họ biết rằng sự hy sinh của họ không bị quên lãng và con cháu của họ và ngay cả chúng ta rất là mang ơn sự hy sinh của họ. Nếu mà không có sự hy sinh của những người lính đó thì đã không có ngày hôm nay của chúng ta"

Tường An

Nguồn : RFA, 08/08/2019

Published in Diễn đàn

Xuất hin trong chương trình truyn hình ‘Chào nước Anh’ hôm 5/6 khi đang có chuyến thăm cp nhà nước đến nước này, người đng đu nước M đã nói v chiến tranh Vit Nam như sau : "Tôi đã nghĩ đó là một cuc chiến t hi" ; và rằng "Cuộc chiến đó không phi là điu mà chúng ta nên tham gia"…

vietnamwar1

Ông Trump tại cuc hp báo vi th tướng Anh, Theresa May, 4 tháng Sáu, 2019.

Phát ngôn này của Tng thng M Donald Trump v chiến tranh Vit Nam gây ra nhng phn ng khác nhau trong công lun, có người thông cảm, nhưng cũng có người phn đi. S bt đng này mang tính ch quan theo v trí, cách nhìn và đánh giá ca mi cá nhân khi bày t.

Bài viết này, mun tr li khách quan hơn cho hai nhn đnh ch quan ca Tng thng Hoa Kỳ Donald Trump, rng :

Chiến tranh Việt Nam có là "mt cuc chiến t hi như nhn đnh ca Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump không ?

Qua nhận đnh ca Tng thng Trump, rng "Tôi đã nghĩ đó là một cuc chiến t hi" dường như ông mun nói đến s t hi vì "nhiều người đã chết" trong cuộc chiến này. Nhưng có l ông Trump ch nghĩ đến s t hi đi vi nước M, vi cái chết ca 58 ngàn chiến binh Hoa Kỳ tham chiến và hàng chc ngàn người M b thương cách này cách khác ; mà không quan tâm, có th đã không biết đến s t hi hơn nhiu v phía các bên Việt Nam, vi cái chết ca hàng triu quân và dân người Vit Nam hy sinh c hai chiến tuyến đi nghch Min Bc (cộng sn Bc Vit) Miền Nam (quốc gia Nam Vit).

Có lẽ, s t hi còn là vì Hoa Kỳ đã b ra hàng t dollar tài tr cho mt cuc chiến "một đt nước rt xa xôi và vào lúc đó không có ai tng nghe đến đt nước đó c…" như ông Trump nói, đ cui cùng phi rút chân ra khi cuc chiến mà nhiu người M như ông vn không hiu "điều gì đang xy ra đó vy ?". Dường như ông không quan tâm đ biết rng, mt điu t hi hơn na "đã xẩy ra đó" là Hoa Kỳ đã thực hin "chính sách Việt Nam hóa chiến tranh" sau bốn năm "Mỹ hóa chiến tranh" (1965-1969) bằng cách đưa quân tham chiến trc tiếp, nói là đ giúp chính ph và nhân dân Vit Nam nhanh chóng đánh bại cuc xâm lăng ca phe cộng sản Bắc Việt, bo v chế đ dân ch và Min Nam Vit Nam t do không b cng sn hóa. Thế nhưng mc tiêu này đã không thành đt, dù Hoa Kỳ đã huy đng cao đ mi khí tài, phương tin chiến tranh hin đi, rt cuc không đem li chiến thng, ngoài li nhun khng l cho các tp đoàn tư bn quân s quc phòng Hoa Kỳ và đng minh. Nay li tìm cách rút chân ra khi cuc chiến bng chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh", trao lại gánh nng chiến đu cho quân lc Việt Nam Cộng Hòa (mà Việt cng gi là "thay màu da trên xác chết"), với nhng cam kết không có bo chng. Hu qu t hi là ch ít năm sau phe cộng sản Bắc Việt đã dùng bo lc cưỡng chiếm được Min Nam, vi phm trng trn Hip đnh Paris v chm dt chiến tranh lp li hòa bình cho Vit Nam ngày 27/01/1973, trước sự phủi tay ca Hoa Kỳ và làm ngơ ca nhng cam kết quc tế.

Thực tế là như thế. Vy mà Tng thng đương nhim Hòa Kỳ đã không biết "điều gì đang xy ra đó vy ?". Sự th này cho thy tình trng Tng thng Trump cũng như nhiu người M lúc đó và cho đến bây giờ vn không hiu biết gì v s tham d ca Hoa Kỳ vào chiến tranh Vit Nam (1954-1975) dù đã kết thúc hơn 44 năm ri (1975-2019), nhiu tài liu v chiến tranh Vit Nam đã được gii mt.

Phải chăng vì vy mà Tổng thống Trump đã cho rng "Cuộc chiến đó không phải là điu mà chúng ta (người M) nên tham gia" ? Ông nói thế và cho biết mc dù lúc đó ông không xung đường phn chiến như nhiu người, nhưng ông không h ng h cuc chiến Vit Nam. Nhưng cũng có người cho rng Tng thng Trump nói ra điu này còn là mt phn ng mc cm tâm lý, vì mun bin minh cho việc trn tránh nhp ngũ qua chiến đu ti Vit Nam thi tui tr, k c bng cách gian ln đ được cp giy chng nhn ‘b gai xương gót chân’. Các đi th ca ông đã ch trích vic ông trn lính là ‘gian trá’ và giy t ông đưa ra là ‘gi to’. Hi tháng Hai năm nay, ông Michael Cohen, cựu lut sư ca ông Trump, đã khai trước Quc hi rng ông Trump ‘đã dựng lên chuyn thương tt đó’ để trn quân dch.

Vậy thì Tng thng Hoa Kỳ nói "Cuộc chiến đó không phi là điu mà chúng ta nên tham gia…" có đúng không ?

Theo nhận đnh ca chúng tôi, vn đ không phi là nên hay không nên mà do tình thế buc Hoa Kỳ phi tham gia vào cuc chiến Vit Nam. Vn đ ch là Hoa Kỳ tham gia đến mc đ nào đ đ t hi nht mà vn thành đt được mc đích tham chiến ti hu ca mình.

Bởi vì, sau khi Thế Chiến II kết thúc (1939-1945) đã hình thành một cuc chiến tranh ý thc h toàn cu gia chủ nghĩa cng sn và chủ nghĩa tư bn. Liên Xô đng đu phe xã hi ch nghĩa, pht cao ngn c"Cách mạng vô sn" để gii phóng giai cp, chng các đế quc xâm lược, gii phóng dân tc b áp bc, đ xây dng m"xã hội không còn cnh người áp bc bóc lt người…". Hoa Kỳ lãnh đạo phe tư bn ch nghĩa (còn gọi là Thế gii t