Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Hòa giải cần bắt đầu từ đâu ?

JB Nguyễn Hữu Vinh, RFA, 30/04/2021

Ngày hôm nay, kỷ niệm lần thứ 46 ngày Việt Nam Cộng Hòa thất thủ, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hoàn thành công cuộc cưỡng chiếm một quốc gia được quốc tế công nhận, có một chính quyền do người dân bầu lên, có một nền văn hóa và trình độ xã hội cao hơn hẳn chế độ đi cưỡng chiếm.

hoagiai1

Những người cộng sản gọi đó là "Chiến thắng". Những người Việt Nam Cộng Hòa gọi là ngày mất nước. Những ẩn ức tâm lý đó đã qua thời gian đến gần nửa thế kỷ.

Nửa thế kỷ sau khi kết thúc một cuộc chiến mà tên gọi của nó cho đến nay chưa hoàn toàn được đồng ý từ mọi phía. Và do vậy, ngày kết thúc chiến tranh chưa có một cái tên khả dĩ được hầu hết mọi người chấp nhận.

Nửa thế kỷ sau khi cuộc chiến kết thúc, người cộng sản mới công nhận một tên gọi của một quốc gia là Việt Nam Cộng Hòa, việc công nhận này trong sự khiên cưỡng không thể khác bởi một vài quan chức cộng sản.

Trong khi đó, rõ ràng Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia theo đúng luật lệ quốc tế, các văn bản chính thức mà chính Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ký kết.

Chỉ riêng điều đó, đủ cho thấy sự "ngạo nghễ" hay "ngạo mạn" bất chấp sự thật của "kẻ chiến thắng".

Thật ra, cái gọi là "Chiến thắng" trong cuộc chiến bạo lực, chưa hẳn đã nói lên tính chính nghĩa và đúng đắn của phe chiến thắng. Bởi điều đơn giản nhất, dù bên chiến thắng có cho rằng đó là cuộc "Giải phóng" cho Miền Nam, thì thực tế, đó là việc đưa quân đội vượt giới tuyến để chiếm đóng một quốc gia có chủ quyền, có nhà nước dân chủ và được quốc tế công nhận.

Cái ngôn từ "Giải phóng" đã dần dần được chỉ rõ ra rằng, chẳng có một trường hợp nào, một ai và một khi nào được gọi là giải phóng khi đem sự man rợ áp đặt vào một khu vực, một lãnh thổ hay một đất nước văn minh bằng súng đạn.

Và phải gọi đúng tên của nó là một Cuộc xâm lược.

Chiến tranh là một nỗi bất hạnh cho mọi đất nước, mọi dân tộc. Một đất nước, chẳng bao giờ mong muốn một cuộc chiến tranh, dù đó là cuộc chiến tranh chính nghĩa. Chỉ có khi dã tâm xâm lược lên đến đỉnh cao, thì một đất nước mới phát động chiến tranh xâm lược một đất nước khác. Hoặc chỉ có khi không thể nào khác, thì một đất nước phải đứng lên cầm súng lao vào cuộc chiến không thể trì hoãn để bảo vệ đất nước mình.

Sau một cuộc chiến, hầu như, mọi dân tộc, mọi người đều mong mỏi sự bình an, phát triển để xóa đi những ký ức đau thương của cuộc chiến bạo tàn.

Những người chiến thắng trong cuộc chiến chính nghĩa, phải hiểu rằng dù là ai của bên chiến bại, họ cũng là những người đồng bào, đồng chủng mà có bạo tàn đến đâu cũng không thể tán sát đi tất cả. Và chính những người dân này sẽ góp phần quyết định vào việc có xây dựng được giang sơn tươi đẹp hơn hay không. Nhiều điều có thể giải quyết được trong chiến tranh bằng súng đạn tàn bạo, sẽ không thể giải quyết được trong khi xây dựng trong hòa bình.

Những người chiến bại trong cuộc chiến tranh bị xâm lược sẽ muốn nhanh chóng quên đi những ký ức đau buồn mà cuộc chiến đem lại cho gia đình, đất nước của họ bên cạnh những ấm ức, những mất mát như những vết thương khó chữa lành.

Những người chiến thắng trong cuộc chiến chính nghĩa, cần biết xây dựng sự bình an của xã hội, để cùng nhau phát triển đất nước, xây dựng lại cơ đồ.

Ở đó, không thể thiếu sự hòa giải những mâu thuẫn mà cuộc chiến đã đem lại. Những mâu thuẫn đó, sẽ là cội nguồn cho sự chia rẽ, sự phân hóa, sự hận thù… và chỉ có khi hóa giải được những điều đó, thì chiến thắng mới thật sự có ý nghĩa đúng đắn.

Và cũng chỉ khi đó, mới tập hợp được sức mạnh toàn dân tộc để đương đầu với mọi thử thách, mọi mưu đồ xâm lấn và khuất phục của kẻ thù chung của dân tộc, của đất nước.

Người ta thấy điều gì ở nửa thế kỷ sau cuộc chiến ở Việt Nam ?

Sau cuộc chiến, những dòng người bên chiến bại và cả của những người dân bên chiến thắng đã ào ạt bỏ nước ra đi đến bất cứ nơi đâu, bất cứ chỗ nào miễn là thoát khỏi chế độ "Thiên đường" của bên "Chiến thắng".

Những cuộc vượt biên ào ạt, bất chấp sóng to, biển lớn và hải tặc mà cái chế cận kề, thậm chí chui vào thùng xe lạnh chấp nhận nguy hiểm để mong được thoát khỏi cái "thiên đường XHCN" mà bên chiến thắng hứa hẹn.

Và số người Việt Nam buộc phải rời bỏ Tổ Quốc, quê hương nơi chôn rau cắt rốn của mình để lưu vong khắp mọi phương trời trên thế giới với sự ngậm ngùi : "Biết bao giờ trở về Việt Nam".

Hẳn nhiên, sự phản kháng của họ cũng sẽ dần tăng lên tỷ lệ với những uất ức, những oan khuất, những cay đắng và mất mát mà họ phải chịu.

Những cuộc biểu tình phản đối, những hành động chống đối, những cuộc thăm viếng của những nhà lãnh đạo đất nước đến nơi có đồng bào, người dân của mình bị tẩy chay dữ dội và chui cửa hậu, đi lối sau đã trở thành những biểu tượng cho sự hận thù và căm phẫn.

Và khi đó, những người cộng sản kêu gọi : Hòa giải, hòa hợp dân tộc.

Nhưng, hòa giải như thế nào ?

Nửa thế kỷ sau chiến tranh, ngày kết thúc chiến tranh hàng năm, vẫn là những dịp kẻ cầm quyền tung hô, hò hét và gợi lại những "chiến công", những trận đánh, những thái độ của bên chiến bại bằng hệ thống truyền thông khổng lồ.

hoagiai2

Họ nhảy nhót, reo vui và tung hứng lẫn nhau, đào lại, xới lên những vết thương khó chữa lành, khó hàn miệng của bên chiến bại.

Họ xới tung, bịa đặt, bêu xấu, làm cho sự nhục nhã của bên chiến bại dâng cao trong lòng mỗi người, chỉ nhằm để thỏa mãn sự kiêu ngạo, sự "tự hào" và che lấp đi sự bất chính, sự tàn bạo đằng sau và thực chất của những "chiến thắng" đó.

Tất cả chỉ nhằm dựng lại cái "Vinh quang" tưởng tượng mà họ đã đạt được bằng súng đạn, bằng sự tàn bạo và bất nhân, phi nghĩa.

Và đó cũng là cách họ ăn mày dĩ vãng, sống với ảo ảnh của cái hào quang mà họ đã tạo nên bằng mọi mưu đồ, mọi giá, bằng hàng triệu sinh mạng người dân.

Nửa thế kỷ sau chiến tranh, những dòng lý lịch, những ngôn từ dùng để chỉ bên chiến bại vẫn cứ ra rả được sử dụng, được dùng để ngăn chặn những sự tiến thân của các thế hệ sau từ bên chiến bại.

Những cựu chiến binh, những thương phế binh của bên chiến bại vẫn tủi nhục mưu tìm cuộc sống nơi đáy xã hội mà không dám mở miệng kêu la hoặc chỉ là những lời rên rỉ.

Và từ những đất nước xa xôi, vẫn vọng về quê hương sự cảm thông với thân phận người dân, sự căm phẫn và những lời ai oán về một chính quyền, một nhà nước ngày càng lộ rõ bộ mặt hèn với giặc, ác với dân.

Người cộng sản phải hòa giải bắt đầu từ đâu ?

hoagiai3

Có lẽ, khi nghe nói đến từ hòa giải, nhiều người sẽ chỉ nghĩ rằng người cộng sản Việt Nam hiện nay đang nói về những người phía bên kia của cuộc chiến đã qua, những người thuộc về bên chiến bại, những người đang sống trong hoặc ngoài đất nước nhưng không đồng tình và phản đối quyết liệt chế độ cộng sản ở Việt Nam.

Và những người cộng sản cũng chỉ nghĩ rằng những lời hoa mỹ rằng hòa giải, hòa hợp dân tộc của họ chỉ nhằm đến những đối tượng ấy, dù họ đã buông ra đủ những từ hoa mỹ như họ là "khúc ruột ngàn dặm" là những kiều bào, con dân giòng giống Việt…

Thế nhưng, có lẽ người cộng sản không hiểu hết ý nghĩa của từ hòa giải, hòa hợp cần phải sử dụng ở những nơi nào.

Ngoài những đồng bào của bên chiến bại, bên thua cuộc trong cuộc xâm lược trắng trợn phải ngậm ngùi chấp nhận và thậm chí tâm lý bại trận trở thành phản xạ có điều kiện trong họ. Trong chế độ cộng sản, được hình thành bởi cuộc "Cướp chính quyền" và tồn tại bằng súng đạn,sự tàn bạo và dối trá gần một thế kỷ qua trên đất nước Việt Nam, không chỉ những người đồng bào của Việt Nam Cộng Hòa, mà ngay cả những người dân sinh ra, lớn lên trong chế độ cộng sản miền Bắc, đã dần dần hiểu ra bản chất của chế độ cộng sản.

Đó không chỉ là cướp chính quyền, mà cướp bằng nhiều cuộc cải cách, bằng nhiều cuộc "cách mạng" mà mọi thứ, từ nhân phẩm, quyền sống, quyền tự do tối thiểu của con người bị tước đoạt.

Và họ đã lên tiếng, họ đã phản đối.

Họ phản đối những chính sách bất nhân lấy cướp làm đầu bất chấp nhân nghĩa, công lý, công bằng và sự thật. Họ phản đối một chế độ lấy tham nhũng làm cốt lõi cho sự tồn tại, coi người dân như cỏ rác, mọi hành động và nguồn lực, đều chỉ nhằm củng cố chiếc ghế cai trị trên đầu, trên cổ người dân.

Họ phản đối một nhà cầm quyền mạo danh "Của dân, do dân và vì dân" nhưng được hình thành và củng cố bởi súng đạn và lừa đảo.

Họ phản đối những chính sách cho phép họ cướp tài sản, đất đai của họ bao đời xây dựng, chỉ bằng ý thích của một quan chức cộng sản, lập tức bị lực lượng vũ trang tấn công, đàn áp, thảm sát.

Họ phản đối tài nguyên đất nước bị bóc sạch, đào sạch bán đổ bán tháo nhằm cho đầy túi quan tham trong đảng lãnh đạo.

Họ phản đối thái độ ươn hèn trước giặc ngoại xâm, thái độ "cõng rắn cắn gà nhà", "rước voi về dày mả tổ", tiếp tay cho ngoại xâm và đàn áp tàn bạo những người yêu nước.

Và họ được đảng, nhà nước ưu ái dành cho chỗ ở trong nhà tù.

Nhà cầm quyền cộng sản, muốn có sự hòa hợp, hòa giải, trước hết cần phải hòa giải đối với họ, đối với những tấm lòng yêu nước, vì cộng đồng, vì xã hội mà lên tiếng chứ không cần những lời mỹ miều được nhắc đi nhắc lại rằng : Tôn trọng những ý kiến phản biện nhưng hành động ngược lại. Bởi trong xã hội không có tiếng nói phản biện thì hẳn nhiên mọi sự suy đồi sẽ có cơ hội phát triển.

Cũng không chỉ là những người dân, những người có thân phận cọng rơm, cái kiến trong xã hội, mà ngay cả những công chức, công an, thậm chí quan chức cấp cao cũng đã bằng cách này hay cách khác thể hiện sự bất mãn rất có lý của họ về hệ thống tham nhũng, hà hiếp người dân, phe cánh và cả những chính sách sai lầm hại nước của nhà cầm quyền hiện nay.

Và họ được đảng đưa vào lò, thành củi trong những cuộc thanh trừng nội bộ, trong những hành động trù dập, trấn áp.

Nếu nhận thấy sự hòa giải là cần thiết, nhà cầm quyền cộng sản cần hòa giải với chính họ, chính những công chức trong hệ thống cầm quyền, để họ có thể yên tâm lo lắng cho công việc của họ, hoàn thành trách nhiệm được giao và góp phần xây dựng xã hội, đất nước.

Thậm chí, không chỉ các quan chức lên tiếng, mà cả những cá nhân đảng viên, quan chức đang im lặng, điều ai cũng biết rằng trong mỗi cá nhân, dù là người cộng sản, cũng chứa một trái tim, và ở trong trái tim đó, có chứa những tình cảm con người, gia đình, bạn bè, xã hội và cộng đồng.

Những trái tim của họ sẽ không thể nào im lặng trước những chính sách, hành động bất nhân của nhà cầm quyền đối với nhiều vấn đề xã hội và đất nước.

Vậy nhà cầm quyền cộng sản cần hòa giải thì trước hết, họ cần sự hòa giải với chính tâm hồn của họ, với những tiếng nói lương tâm của họ, với những sự thôi thúc của sự thật, của tính người trong họ.

Do vậy, chuyện hòa giải của người cộng sản hôm nay, không chỉ là những người Việt ở năm Châu, những "khúc ruột ngàn dặm" hay thế lực chống đối, phản biện ở nước ngoài. Mà trước hết, họ cần hòa giải với mọi thành phần xã hội, với những người dân trong nước.

Và trước hết, là hòa giải với chính tính người, chính lương tri của từng cá nhân trong họ.

JB Nguyễn Hữu Vinh

Nguồn : RFA, 30/04/2021 (nguyenhuuvinh's blog)

**********************

"Hòa giải thành công" : Trí tưởng tượng phong phú nhưng bệnh hoạn

JB Nguyễn Hữu Vinh, RFA, 29/04/2021

Trí tưởng tượng "phong phú"

Cách đây một năm, ngày 30/4/2020, Nguyễn Chí Vịnh, có bài trả lời mạng VTC về ngày "Chiến thắng 30/4/1975".

hoagiai4

Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh

Theo dõi cuộc phỏng vấn, dù đã một năm, ngẫm lại những điều ông Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã nói, cho thấy rằng vẫn tư duy và luận điệu cũ rích của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đối với cuộc chiến, đối với hậu quả cuộc chiến, với những người dân Việt Nam chịu đau khổ dù đã gần nửa thế kỷ trôi qua.

Theo bài trả lời phỏng vấn, người ta mới thấy trí tưởng tượng của người cộng sản thật phong phú, nhưng đó là sự phong phú nhưng rất bệnh hoạn.

Phong phú !

Sở dĩ nói được như vậy, chỉ vì qua những lời nói của họ, chúng ta hiểu được điều này : Bất chấp thực tế đang diễn ra trước mắt, trong thực tế cuộc sống, trên mỗi cá nhân, tổ chức, mỗi địa phương cũng như những toàn cảnh đất nước, và rộng hơn, là vị thế Việt Nam trên trường quốc tế, những lời của người cộng sản Việt Nam vẫn là "không biết, không nghe, không thấy".

Và họ cứ nói theo cái suy nghĩ của họ, theo bài vở mà họ được đọc, được phép nói, được phép suy nghĩ… tất cả theo lệnh đảng.

Ở đó, họ vẽ ra những điều tốt đẹp, về những cái mà nhiều khi trí tưởng tượng bình thường cũng ít khi nghĩ ra trong đời sống xã hội Việt Nam hiện tại.

Nhưng họ nói một cách tự nhiên, không hề ngượng ngập hay có chút phân vân, cũng chẳng quan tâm đến đằng sau những lời nói đó, sẽ là sự đồng ý, cái gật đầu hay là một cái nhếch mép, cái mỉa mai hoặc là sự phẫn nộ. Chính vì vậy mà họ cứ tự nhiên tưởng tượng, tự sướng và bay bổng với những suy nghĩ của họ.

Chẳng hạn chúng ta nghe Nguyễn Chí Vịnh nói như sau : "Thời đại Hồ Chí Minh là đỉnh cao của lịch sử dân tộc và chiến thắng 30/4 là dấu ấn đậm nét nhất của đỉnh cao đó. Tất cả có được là nhờ sự lãnh đạo của Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn dắt và sự hy sinh anh dũng của toàn dân, toàn quân ta…

Trước hết, tôi muốn nói đến ý nghĩa của ngày 30/4. Đối với chúng ta hôm nay, đầu tiên là niềm tự hào. Đó là nhận thức về sự vĩ đại của chiến thắng giành độc lập, tự chủ, thống nhất toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ".

Thời đại rực rỡ đó như thế nào ?

Trước hết là về kinh tế, cuộc sống người dân vẫn lầm than và khốn nạn trong thân phận kẻ làm thuê, kẻ tôi đòi cho chính ngay những đất nước, những dân tộc mà chính Đảng cộng sản Việt Nam đã từng không biết bao lần lớn tiếng nhục mạ rằng đó chỉ là những "chó săn đế quốc", những "con đĩ chính trị", những tay sai ngoại bang…  

Mỗi đầu người dân Việt Nam trong thời đại rực rỡ nhất, đều phải chịu hàng chục triệu tiền nợ công và cứ tăng, tăng mãi không ngừng. Di sản để lại cho con cháu là gì ngoài tài nguyên khoáng sản, rừng vàng biển bạc đã bị khai thác triệt để dù để bán lỗ, bán tháo cho nước ngoài để rồi sau đó mua lại với giá cao hơn nhiều lần.

Về chính trị, mỗi người dân sẵn sàng là một người tù dự khuyết, nếu họ có tinh thần yêu nước, vì lãnh thổ của Tổ Quốc hoặc ít nhất vì những quyền được sống, được tự do cơ bản nhất như ngôn luận, tư tưởng và báo chí, tôn giáo… Hàng trăm tù nhân đã là minh chứng rõ ràng nhất cho điều này.

Những người tù nhân lương tâm ở Việt Nam hiện nay là ai ? Là những người xuống đường thể hiện tình yêu nước, chống xâm lược nhưng thế lực xâm lược đã và đang là bạn vàng của đảng. Là những người đã bày tỏ chính kiến của mình, thể hiện sự không đồng tình với chính sách phản dân, hại nước, với bộ máy tham nhũng khổng lồ mà tài nguyên đất nước, tài sản xã hội, tiền của nhân dân cứ đội nón ra đi, bị đốt như đốt lá rừng trong hàng loạt những vụ tham nhũng đã bị lộ và chưa bị lộ. Là những người đã cất tiếng nói cho quyền được lên tiếng dù chỉ là những tiếng rên xiết của dân nghèo bị cướp bóc đất đai, nhà cửa một cách trắng trợn.

Thời đại rực rỡ là thời đại mà mỗi công dân sẵn sàng bị biến thành tù nhân bằng chính những nhà tù, những đội quân vũ trang, những thiết bị đàn áp hiện đại mà tiền của để xây dựng ra là máu xương của họ.

Thời đại rực rỡ là thời đại mà mối quan hệ giữa người và người trong xã hội đã bị biến đổi từ một xã hội lấy tình yêu thương lẫn nhau làm trọng được thay thế bằng xã hội lấy bạo lực, lừa đảo làm đầu ? Đạo đức xã hội suy đồi, giáo dục lạc hướng, tụt hậu và nguy hiểm vì chỉ đển đào tạo ra những cỗ máy cho sự tồn vong của đảng độc tài ?

Và thời đại Hồ Chí Minh là đỉnh cao của lịch sử dân tộc ư ? Có nghĩa là lịch sử dân tộc này chỉ có thể phát triển được đến mức độ như thời đại ngày nay là tận cùng và không thể khác ?

Khi một đất nước, một dân tộc tự đặt cho mình một giới hạn, bị kìm hãm bởi chỉ một chiếc vòng kim cô, thì có nghĩa là khi đó, dân tộc đó, đất nước đó sẽ không còn cơ hội để phát triển hơn. Mà quy luật của vạn vật, của xã hội và tự nhiên là sự phát triển không ngừng.

Do vậy, khi một xã hội bị dừng lại ở một giới hạn nhất định, thì có nghĩa là xã hội đó sẽ đi vào suy tàn do tụt hậu và thoái hóa.

Còn việc giành độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ ư ?

Cả Miền Nam Việt Nam được đặt dưới một chế độ cộng hòa, có một nhà nước do người dân bầu lên, lực lượng quân sự nước ngoài có mặt tham gia cuộc chiến bằng những hiệp ước, hiệp nghị bằng giấy trắng mực đen và tuân thủ theo những quy định đó. Vậy thì độc lập và tự chủ không vì những yếu tố nước ngoài do chính quyền đó chủ động. Bởi như chúng ta đã thấy và thực tế đã chứng minh : Cái gọi là "Đế quốc Mỹ xâm lược" chưa hề lấn chiếm hoặc đóng giữ trái phép một tấc đất nào của Việt Nam cho đến nay.

Còn ngày nay, đang có những phần lãnh thổ của Tổ Quốc, của đất nước đang nằm dưới gót giày quân xâm lược thực sự. Đó là Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, là hơn 15.000 km vuông lãnh thổ trên bộ và quần đảo Hoàng Sa, một phần quần đảo Trường Sa đang nằm dưới sự cai trị của bạn vàng của đảng, đang bị chiếm đóng bằng vũ lực, bằng sự tấn công diệt chủng những người lính yêu nước của Việt Nam mà chiếm lấy.

Về mặt nhà nước, những hoạt động của những kẻ đứng đầu đất nước là sự khúm núm, sợ hãi trước kẻ thù của dân tộc, là trấn áp những người phản đối xâm lược lộ rõ sự nô lệ và thái độ cõng rắn cắn gà nhà một cách không thể biện minh.

Đó là độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ ư ?

Hòa giải và hòa hợp ?

Cũng trong bài trả lời phỏng vấn đó, Nguyễn Chí Vịnh nói rằng : "Dân tộc Việt Nam đã khắc phục hội chứng chiến tranh rất nhanh. Việt Nam không còn hội chứng chiến tranh ngay khi chiến tranh chấm dứt. Đó là điều "rất Việt Nam".

Một số nước, như Mỹ chẳng hạn, hội chứng chiến tranh rất nặng nề. Mặc dù họ không bị tàn phá, không mất mát nhiều như chúng ta. Tâm lý này khó đong đếm, nhưng là cản trở lớn nhất cho sự phát triển của một đất nước sau khi trải qua chiến tranh".

Có lẽ cần phải nói lại điều này. Trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ cách đây hơn 150 năm trước, chỉ sau lệnh đầu hàng của quân Miền Nam thì những người Miền Bắc chiến thắng đã lệnh cho quân sĩ không được nổ súng, không được reo hò mừng chiến thắng và nhất là không được có thái độ kỳ thị khinh rẻ các chiến binh Miền Nam bại trận.

Tài sản, công cụ chiến tranh của những người lính Miền Nam là những con ngựa chiến đã không bị tịch thu mà được trả cho mang về quê để làm ăn sinh sống.

Tất cả những người lính đã chết trên chiến trường đều được an táng cạnh nhau dưới những nấm mộ bằng phẳng dưới mặt đất như nhau. Lời của Tổng thống Lincoln khi cung hiến nghĩa trang này, rằng đây là "nơi yên nghỉ cuối cùng của những người đã hiến dâng mạng sống mình để Tổ quốc được sống".

Ở đó, không có những cuộc reo hò chiến thắng dai dẳng và nhầy nhụa như chiến thắng 30/4.

Ở đó không có những nghĩa trang dài khắp mọi miền đất nước dành cho binh sĩ phe thắng cuộc và sự tủi nhục của những thân phận người lính bên thua cuộc đã chết cũng như đang sống lay lắt, âm thầm và đau đớn khắp mọi xó, mọi nẻo.

Ở đó không có những cuộc "tập trung học tập cải tạo" rồi kéo dài triền miên và thậm chí hàng loạt người mất xác sau khi được lệnh đi học tập.

Ở đó, cũng không hề có sự phân biệt vùng, miền để đặt sự cai trị của Miền Bắc lên Miền Nam sau bại trận.

Ở đó không hề có sự phân biệt lý lịch là con cái, cháu chắt của ngụy quân, ngụy quyền để phân biệt đối xử…

Ở đó, cũng không có những cuộc nhảy nhót reo mừng chiến thắng một cách lỳ lợm đến tận nửa thế kỷ vẫn cứ lấy "chiến thắng" chính đồng bào mình ra để tự sướng và làm nhục hàng chục triệu người khác.

Vậy nhưng, theo Nguyễn Chí Vịnh, thì "hội chứng chiến tranh của Mỹ rất nặng nề và cản trở sự phát triển của đất nước"… có lẽ vì vậy mà nước Mỹ luôn dẫn đầu thế giới về mọi mặt, còn ở Việt nam thì không có hội chứng chiến tranh, nên luôn đứng đầu thế giới ở phía ngược lại ?

Và điều nực cười hơn nữa khi Nguyễn Chí Vịnh nói : "Các chính sách của Đảng và Nhà nước giúp những người trong chế độ cũ cảm thấy không bị kì thị, miễn là họ yêu nước. Chúng ta cũng không quay lại bới móc chuyện họ đã làm cho những kẻ xâm lượcTheo quan điểm của tôi, hòa giải, hòa hợp dân tộc đã thành công, nhờ chính sách khoan dung của Đảng, Nhà nước, nhưng quan trọng nhất là nhờ sự phát triển đất nước".

Nghĩa là những những kiều bào ở nước ngoài, những người đã làm cho chế độ cũ, đã làm cho những kẻ xâm lược ? Đó là những kẻ xâm lược nào ? Những kẻ xâm lược đó hiện nay ở đâu ? Phải chăng, những kẻ xâm lược đó là những kẻ đang chiếm đóng bằng vũ lực cách trái phép Hoàng Sa, Trường Sa, Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc là điển hình cùng hàng chục ngàm cây số vuông biên cương Tổ Quốc ?

Và phải chăng, những kẻ đã "làm cho kẻ xâm lược", chính là những kẻ đã đàn áp những người chống xâm lược bành trướng bằng những cuộc biểu tình yêu nước hoặc những người đã cầm súng chống giặc bành trướng phương Bắc đang bị tống vào tù ?

Và "nhờ chính sách khoan dung của đảng" ? Đảng khoan dung đến vậy ư ? Hàng vạn người tù đày, hàng ngàn người bỏ mạng trong các nhà tù hoặc thân tàn ma dại khi ra khỏi tù là chính sách khoan dung ? Họ có tội với đảng ư, sao đảng được quyền "khoan dung" với họ ?

Cuộc hòa giải, hòa hợp dân tộc đã xong ư ?

Có lẽ điều này không cần nói nhiều. Bởi có lẽ trên thế giới, ít có một quốc gia nào, mà khi người lãnh đạo đất nước đến với nơi có nhiều công dân của mình nhất, có nhiều "khúc ruột ngàn dặm" nhất của đảng, thì những cuộc đón tiếp là đông đảo bằng khẩu hiệu, bằng la ó và bằng con đường đi của họ là cửa sau. Thậm chí rất hiếm khi họ dám có mặt công khai tại những nơi mà công dân mình, đồng bào mình có mặt.

Đã nửa thế kỷ trôi qua, những người có tấm lòng yêu đất nước, yêu dân tộc vẫn chỉ là những người tỵ nạn cộng sản mà không thể về quê hương bản quán.

Họa chăng, chỉ có vài kẻ đã cam tâm bán mình cho quỷ dữ có thể vì miếng ăn hoặc do nhận thức mà có tiếng nói lạc lõng yếu ớt ngay chính nơi mình sinh sống. Những kẻ đó đang chứng minh khả năng kỳ tài học được từ cộng sản là bất chấp mọi thứ, từ liêm sỉ bản thân cho đến phản bội lại đồng đội, chửi bới chính cha ông mình để bưng bô một chế độ độc tài man rợ.

Và trừ khi mang hia, đội mũ về theo đảng, phần còn lại cuộc đời họ phải co rúm trong hang ổ của mình trước sự kinh tởm, khinh rẻ của cộng đồng xung quanh luôn ghê tởm như những con chó ghẻ lở và bệnh hoạn.  

Vậy là hòa giải thành công ?

Như ở trên chúng tôi đã nói. Khi một người cứ nói thao thao bất tuyệt mà bất chấp thực tế đã và đang diễn ra ngược lại. Bất chấp những sự thật diễn ra trước mắt, những trải nghiệm và sự kiện dày đặc chứng minh những lời nói của họ là sự "ngáo đá", bất chấp những phản đối hoặc thái độ không thèm nói lại của người nghe… thì khi đó, những lời nói và hành động của họ có sự không bình thường.

Đó là sự không bình thường của những người có tâm thần không bình thường.

Còn ở đây, khi nghe nội dung những lời nói như Nguyễn Chí Vịnh, thì chúng ta buộc phải nói rằng, đó là sự bệnh hoạn.

Bệnh hoạn, bởi những lời lẽ đó, chẳng có tác dụng gì ngoài sự lừa đảo và gây nên việc phủ nhận những giá trị của sự thật khách quan.

Và chính vì thế, những lời nói kia, chính là những suy nghĩ phong phú, nhưng đó là sự phong phú bệnh hoạn.

Ngày 29/04/2021

J.B Nguyễn Hữu Vinh

Nguồn : RFA, 29/04/2021

Published in Diễn đàn

Gần đây có hai sự kiện đáng để chúng ta suy ngẫm :

  1. Thủ tướng Lý Hiển Long tuyên bố Hà Nội "xâm lược" và "chiếm đóng" Campuchia ; và

doimoi1

 Đại tá Hải quân Hoa Kỳ Nguyễn Từ Huấn được vinh thăng Phó Đề đố

Phép thử lòng tin chiến lược…

Ngày 15/11/2018, bế mạc Thượng đỉnh ASEAN thường niên tại Singapore, Thủ tướng Lý Hiển Long chia sẻ đã đến lúc ASEAN phải chọn giữa Mỹ-Trung.

ASEAN hình thành với 5 nước nhỏ vào năm 1967 nhằm chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản, Hà Nội chính là nỗi đe dọa của các nước này.

Chuyện tưởng chừng mọi người đều biết nhưng lời phát biểu của Thủ tướng Lý Hiển Long : Việt Nam "xâm lược" và "chiếm đóng" Campuchia, đụng phản ứng dữ dội của phía Hà Nội.

Điều này cho thấy Hà Nội đã hòa hợp trở thành một thành viên ASEAN, nhưng chưa muốn nhìn nhận và hòa giải với quá khứ lịch sử.

Như thế sự đoàn kết ASEAN khó có thể được duy trì khi phải chọn giữa Mỹ-Trung, chuyện đối đầu hay phong tỏa lẫn nhau sẽ dễ dàng xảy ra.

Như một phép thử lòng tin, Thủ tướng Lý Hiển Long một chính trị gia lão luyện, nhìn xa trông rộng, mới 3 lần nhắc thẳng chuyện cũ, đáng buồn Hà Nội chưa nhận ra vấn đề.

Năm 2013, cũng tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore, báo chí ca ngợi cựu Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng về bài phát biểu xây dựng "lòng tin chiến lược" trong Khối ASEAN.

Nhưng thực tế cho thấy Hà Nội chưa hòa giải, chưa chấp nhận sự thật để tạo niềm tin với các quốc gia khác, chiến lược như vậy chỉ là lời nói đầu môi.

Hà Nội sa bẫy và sa lầy…

Phản ứng của phía Hà Nội còn cho thấy họ chưa học được bài học đã sa vào bẫy của Trung Quốc và sa lầy tại Campuchia.

Thời nội chiến Bắc Nam, Hà Nội cũng đã từng đu dây giữa hai nước đàn anh Liên Xô và Trung Quốc, nhưng cuối cùng phải phụ thuộc vào Nga.

Có bằng chứng cho thấy Trung Quốc đã gởi hằng chục ngàn cố vấn sang Campuchia trong thời gian 1975-79 để đối đầu với Việt Nam. Họ tham mưu Khmer đỏ quấy rối biên giới Việt Nam và cố vấn cho Khmer đỏ rút quân về biên giới Thái Lan để Việt Nam sa vào bẫy và sa lầy tại Campuchia.

Nhiều quốc gia cấm giao thương với Việt Nam và cô lập Việt Nam. Liên Hiệp Quốc liên tục làm áp lực để Hà Nội rút quân.

10 năm dân Việt phải gánh chịu khó khăn phục vụ chiến tranh. Thanh niên thiếu nữ Việt phải ra chiến trường làm nghĩa vụ quốc tế và nhiều người đã chết hay bị thương trên đất Campuchia, Lào và cả ở Thái Lan.

Khi Khối Cộng sản Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, Hà Nội lại quay về với Bắc Kinh ký kết Hiệp ước Thành Đô 1990, rút quân khỏi Campuchia và chịu ảnh hưởng của Trung Quốc từ đó đến nay.

Quan điểm Việt Nam "xâm lược" và "chiếm đóng" Campuchia được hình thành từ thực tế và đã trở thành một quá khứ lịch sử.

Hà Nội dễ dàng mang quân chiếm lãnh thổ Campuchia nhưng không lấy được lòng dân.

Đa số dân Campuchia xem Việt Nam là đội quân "xâm lược" với tham vọng bá chủ Đông Dương, hằng triệu người Campuchia phải bỏ nước ra đi.

Hà Nội cũng đã thống nhất Bắc-Nam, nhưng sau 44 năm cai trị vẫn chưa thống nhất được lòng dân, hòa hợp nhưng không hòa giải.

Hà Nội theo Mỹ ?

Việc Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tay giương cao cờ Mỹ ngay giữa thủ đô Hà Nội, việc các phái đoàn Mỹ-Việt liên tục viếng thăm nhau, việc Mỹ viện trợ cho Hà Nội, bán vũ khí và mở rộng giao thương cũng chỉ là những dấu hiệu hòa hợp hay hợp tác.

Còn hòa giải lịch sử và hòa giải ý thức hệ tự do và cộng sản vẫn chưa được tiến hành.

Mỹ vẫn công khai xem Việt Nam là một quốc gia cộng sản, đàn áp tự do nhân quyền, một quốc gia phi thị trường phụ thuộc vào Trung Quốc.

Chiến tranh nếu xảy ra và giả sử Hà Nội có đứng về phía Hoa Kỳ, Việt Nam lại một lần nữa bị động, sụp bẫy, sa lầy để trở thành bãi chiến trường như đã xảy ra trong chiến tranh lạnh Mỹ-Tàu-Nga trước đây.

Quá khứ đau thương…

Vào Tết Mậu Thân 1968, Chuẩn tướng Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia Nguyễn Ngọc Loan dùng súng ngắn bắn vào đầu một tù binh cộng sản mặc thường phục hai tay đang bị trói.

Cuộc xử tử tù binh Bảy Lốp nhanh chóng được nhiếp ảnh gia Eddie Adams chụp lại và hình ảnh được phổ biến cho thấy sự tàn khốc chiến tranh Việt Nam.

Hình xử tử tù binh Bảy Lốp được phe cộng sản và phản chiến sử dụng gây phẫn nộ dư luận và dẫn đến chiến thắng của cộng sản Bắc Việt 30/4/1975.

Nhưng ít ai biết chính tù binh Bảy Lốp,Nguyễn Văn Lém, trước đó vài giờ đã xử tử cả gia đình Trung tá thiết giáp Nguyễn Tuấn vì ông từ chối không cộng tác với cộng sản.

Ông Tuấn bị chặt đầu, vợ ông bà Từ Thị Như Tùng và sáu người con bị bắn bằng tiểu liên, nhỏ nhất mới 2 tuổi, chỉ một bé trai lên 6 tuổi may mắn được cứu sống.

Trong lễ kỷ niệm 55 năm ngày Đồng minh tham chiến tại Việt Nam, Đại tá Hải quân Nguyễn Từ Huấn xác nhận ông chính là cậu bé 6 tuổi được cứu sống trong khi toàn thể gia đình bị cộng sản xử tử.

Ông Huấn cho biết gia nhập Quân đội Hoa Kỳ để theo con đường cha cố Đại tá Nguyễn Tuấn, tiếp tục góp phần cho một Việt Nam tự do.

Ông cho biết chính nhờ công của các chiến binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà cộng sản đã bị ngăn chặn ở Việt Nam và bị giải thể tại Đông Âu và Liên Xô.

Ngày nay cộng sản chỉ còn tồn tại vài nơi và ông tin ngày chiến thắng đã cận kề.

Như vậy hậu duệ Việt Nam Cộng Hòa có được 4 vị tướng hiện dịch trong Quân Lực Hoa Kỳ.

Cùng lúc là tin chuẩn tướng Lục Quân Lập Thể Flora được đề cử thăng cấp thiếu tướng.

Với người Việt Nam Cộng Hòa thì 30/4/1975 là ngày miền Bắc xâm chiếm miền Nam. Hà Nội đã thống nhất Bắc-Nam, nhưng chưa hòa giải, chưa thống nhất được lòng dân.

Trên 2 triệu người bỏ nước ra đi, ½ triệu người chết trên đường tìm tự do là phản kháng tiêu biểu nhất của người dân.

Người Việt hải ngoại nay đã hội nhập vào và đã có khả năng ảnh hưởng đến chính trị các quốc gia tự do. Ở Mỹ đã có dân biểu trong Quốc Hội cả liên bang lẫn tiểu bang.

Tổng thu nhập GDP của người Việt hải ngoại ước tính hơn cả GDP của toàn Khối ASEAN, chưa kể đến khối tài sản mà họ tư hữu.

Nhiều người có trình độ khoa học kỹ thuật, chuyên môn cao, có kinh nghiệm làm việc ở các quốc gia tân tiến và có tấm lòng mong ước ngày Việt Nam tự do để góp phần phục hưng đất nước.

Miền Nam mến yêu…

Miền Nam trước đây là miền đất tự do dân chủ, chính sách cải cách ruộng đất đã hoàn tất, quyền tư hữu ruộng vườn đã thuộc về nông dân.

Sau 30/4/1975, người miền Nam trở thành người bị trị, quyền tự do ứng cử và bầu cử bị tước đoạt, tài sản, nhà cửa, đất đai, ruộng vườn bị chiếm đoạt.

Miền Tây vựa lúa miền Nam, giàu có biết bao, ngày nay dân không đủ sống phải tha hương cầu thực…

Đổi mới chính trị để hòa giải dân tộc…

Sức mạnh của một quốc gia dựa trên lòng dân đồng thuận.

Sự đồng thuận chỉ có thể có khi tiếng nói mọi công dân được tôn trọng và chỗ đứng mọi người đều ngang nhau, một xã hội tự do, dân chủ, thượng tôn luật pháp.

44 năm đã quá đủ để chứng minh chế độ cộng sản chọn sai đường không mang lại đồng thuận dân tộc.

Tham nhũng cường hào ác bá tràn ngập khắp nơi.

Dân nghèo khó, quan chức giàu có, đất nước kiệt quệ.

Đã đến lúc Hà Nội phải trao trả các quyền tự do cho dân, trả lại tư hữu ruộng đất cho dân, chuyển đổi từ một thể chế cộng sản sang một thể chế tự do, dân chủ.

Thay đổi thể chế chính trị, Hà Nội cũng chứng tỏ đã hòa giải với khuynh hướng cải cách ngay trong nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam.

Chính Ủy viên Bộ Chính Trị đảng Cộng sản ông Trần Xuân Bách vào năm 1989 đã cố vấn cho Bộ Chính Trị như sau :

"Có nước tự cho mình không cần đổi mới, đã bị bục vỡ.

"Có nước coi đổi mới kinh tế phải làm nhanh, còn đổi mới chính trị thì chầm chậm cũng bục chuyện.

"Có nước chỉ đổi mới kinh tế, không đổi mới chính trị, đã bục to.

"Có nước làm cả hai, nhưng không nhịp nhàng, gặp khó khăn.

"Hai lãnh vực này phải nhịp nhàng, không chân trước chân sau, không tấp tểnh đi một chân."

Đổi mới kinh tế như hòa hợp, còn đổi mới chính trị chính là hòa giải

Lẽ ra đổi mới chính trị phải làm trước, người dân phải được quyền quyết định con đường phát triển và quyền giám sát việc nhà nước quản trị quốc gia.

Đến nay hòa giải vẫn chưa được tiến hành, đổi mới chính trị vẫn bị đình trệ.

Ông Trần Xuân Bách từng là Phó Chính ủy Bộ chỉ huy tối cao cuộc tấn công vào Campuchia và sau đó làm trưởng Ban B68 chỉ huy bộ máy hành chính của Campuchia nên chắc đã hiểu rõ những thảm bại của dân tộc trong cuộc chiến tại Campuchia.

Trước đe dọa bành trướng và chiến tranh của Bắc Kinh, việc cải cách chính trị, hòa giải và tìm đồng thuận dân tộc là việc làm hết sức cần thiết và quan trọng.

Chưa quá trễ để đảng Cộng sản thay đổi thể chế, giảm thiểu đau thương và thiệt hại cho dân tộc.

Melbourne, Úc Đại Lợi, 13/06/2019

Nguyễn Quang Duy

Mời xem lời phát biểu của Đại tá Hải quân Hoa Kỳ Nguyễn Từ Huấn :

https://www.facebook.com/chieutim001/videos/10156520065941242/UzpfSTEyODEwMjczMjE6MTAyMTk4ODQwNjM3MTM1OTI/

Published in Diễn đàn

Chính phủ Việt Nam nói về hòa giải nhân ngày 30/4 (RFA, 30/04/2018)

Nhà nước và Đảng cộng sản Việt Nam đã có nhiều chính sách về hòa hợp và hòa giải dân tộc trong suốt 43 năm qua.

hoagiai1

Người Việt tại Dallas, Texas, Hoa Kỳ, tưởng niệm Ngày Quốc Hận hôm 30/4/2018. Photo courtesy of facebook Luan Dang

Đó là lời ông Lương Thanh Nghị, Phó Chủ nhiệm Ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, được báo Tuổi Trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh dẫn lời, trong số ra ngày 30/4/2018, tròn 43 năm ngày chiến tranh Việt Nam kết thúc.

Ông Lương Thanh Nghị liệt kê những hoạt động mà Nhà nước Việt Nam tổ chức hướng tới cộng đồng người Việt tại hải ngoại, như là tổ chức hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài toàn thế giới, tổ chức trại hè tại Việt Nam cho thế hệ trẻ người Việt ở hải ngoại, tổ chức đưa người Việt sống tại nước ngoài thăm quân đảo Trường Sa nơi đang có tranh chấp căng thẳng với Trung Quốc.

Theo ông Lương Thanh Nghị, nhiều kiều bào có định kiến với nhà nước Việt Nam đã thay đổi nhận thức và chính kiến sau khi tham gia những chương trình như vậy.

Tuy nhiên ông Lương Thanh Nghị cũng nói rằng dù có những cố gắng hòa hợp hòa giải nhưng chưa đạt được kết quả như mong muốn. Ông không nói rõ thêm là những điều chưa đạt được là gì.

Sau khi quân đội cộng sản tiến vào Sài Gòn, thống nhất nước Việt Nam, hơn hai triệu người tại Miền Nam Việt Nam đã bỏ nước ra đi, đa số đi bằng đường biển. Họ đã đến định cư tại nhiều quốc gia phương Tây, quan trọng nhất là các cộng đồng tại Hoa Kỳ, Pháp, Úc, Canada.

Hàng năm cứ đến ngày 30/4 thì những cộng đồng này lại tổ chức lễ tưởng niệm ngày được gọi là tháng tư đen, và tổ chức những cuộc biểu tình phản đối trước các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại những quốc gia mà họ đang sống.

RFA tiếng Việt, 30/04/2018 

*****************

Một số trí thức Việt có cái nhìn ‘xét lại’ ngày 30/4 (VOA, 30/04/2018)

Một s trí thc Vit Nam có nhiu nh hưởng trên mng xã hi mi đây đưa ra nhng quan đim có tính cht "xét li" s kin 30/4, ngày Vit Nam gi là "gii phóng miền Nam" nhưng nhiu người li coi là "ngày quc hn", thu hút hàng nghìn lượt phn ng và chia s trên mng.

hoagiai2

Họa sĩ Thành Chương t hi có nên vt b các huân chương, huy chương thi "chiến tranh chng M"

Họa sĩ Thành Chương hôm 28/4 đăng mt bài ngn trên Facebook cá nhân, cho biết, năm 1967 ông đã t chi đi hc Đc đ nhp ngũ, "sn sàng hy sinh, chiến đu cho lý tưởng Cng Sn cao đp và s nghip Chng M Cu Nước vĩ đi !"

Đăng cùng bài là tấm nh cho thấy mt s huân chương, huy chương mà ông được trao, ghi nhn ông "có công" trong quân ngũ. Song ha sĩ ni tiếng hin sng Hà Ni viết : "Xưa nhng tm huân chương, huy chương này là nim vinh d t hào ! Nay thy chúng tht v vn, vô nghĩa !". Ông cũng tự hi "nên gi hay vt chúng đi đây ???".

Trong một đon khác, ông Chương nói 43 năm qua, c đến ngày 30/4, "luôn có mt đám" mà ông mô t rng không ch "ăn mày dĩ vãng, gi chúng Ăn Cướp c qúa kh và dĩ vãng đ mưu cu danh li !".

Họa sĩ không nói c th nhng người ông gi là "mt đám" đó là ai. Ông kêu gi "Xin gác cái quá kh hào hùng y li ! Sng cho hin ti và hướng ti mt tương lai tt đp hơn !".

Bài viết 171 t ca ông đã nhn được ít nht 5000 phn ng ng h ln chia s trên mng.

Tiến sĩ Nguyn Xuân Diện, mt blogger có nhiu nh hưởng qua các bài viết phn bin v chính quyn, nói vi VOA rng ông thy "bàng hoàng" v nhng ý kiến "gay gt" ca ha sĩ 69 tui, vn tng có thi gian dài làm báo và sut đi không "va chm gì vi chính tr".

Ông Diện cho rằng quan đim mi th hin ca ông Chương cho thy trong lòng cá nhân ha sĩ, và rng hơn là nhiu trí thc Vit Nam, h "nui tiếc" nhng hy sinh tui thanh xuân đ ri nhn li là mt đt nước sau nhiu thp k còn kém phát trin, cùng vi tham nhũng tràn lan.

Ông Diện nói vi VOA :

"Họ hy sinh xương máu như vy là đ phn đu cho mt đt nước giang sơn lin mt di, dân ch, giàu mnh, văn minh, tiến kp các nước. Nhưng cung cách qun lý, điu hành đt nước ca nhà cm quyn hin nay khiến h bun quá. Phản ng đó là không phi là vi quá kh ca cuc chiến, mà đy là s phn ng ca người trí thc tng tham gia cuc chiến đi vi cách điu hành và lãnh đo đt nước ca nhà cm quyn hin ti".

hoagiai3

Thành phố H Chí Minh đã phát trin hơn nhiu sau 43 năm song vn thp hơn kỳ vọng ca nhiu người

Các con số thng kê chính thc ca Vit Nam và các t chc quc tế cho hay GDP đu người ca Vit Nam năm 2017 mc 2.385 đôla. Trong khi ASEAN, con s này thua Lào, ch hơn Campuchia và Myanmar.

Nếu so sánh vi GDP đu người ca Hàn Quốc, con s ca Vit Nam ch bng 8% ca mc 29.780 đôla mà người Hàn đt được năm 2017.

Bác sĩ Võ Xuân Sơn, người hay bình lun v đi sng chính tr, xã hi Vit Nam trên mng xã hi, đã bàn v "cái giá ca s thng nht" trong bài viết đăng hôm 27/4 trên trang Facebook cá nhân có hơn 50.000 người theo dõi.

Ông viết rng thi nh khi ông hi người ln rng ti sao Đc và Triu Tiên không có "chiến tranh gii phóng dân tc", ông thường nhn được câu tr li là "chúng ta yêu nước hơn h".

Cuộc chiến mà những người cng sn Vit Nam gi là "chng M cu nước" kết thúc năm 1975, vi chiến thng li cho người cng sn toàn quyn cai tr nước Vit Nam thng nht.

Giờ đây, đ tui trung niên, bác sĩ Sơn thành ph H Chí Minh tóm tt li thc trng đt nước : "Đạo đc xã hi băng hoi, đt nước b chia r sâu sc, xã hi ngày càng mt n đnh, nhng k trong b máy cm quyn càng ngày càng tham lam, đc ác, người dân càng ngày càng cm thy bế tc, hoang mang".

Ông cũng nhắc đến mt thc tế là hàng triu người đã b đt nước ra đi "vì kinh tế, vì bc bách, vì chán chường, vì mong mun mt tương lai cho con, cháu..".

Theo báo chí trong nước, ch riêng năm 2017, có gn 135.000 người "lao đng xut khu" Vit Nam được đưa ra nước ngoài, nâng tng s người đi làm việc theo hình thc này lên đến khong 500.000.

Con số chính thc đó không bao gm hàng vn người khác đi làm vic "chui" nhiu nước.

Trong khi đó, ở trong nước, gii chuyên gia kinh tế dn các s liu khng đnh khu vc doanh nghip đu tư nước ngoài (FDI) đang thể hin vai trò quan trng trong nn kinh tế Vit Nam. H đóng góp đến 1/5 GDP, 3/4 cho xut khu và 1/4 vn đu tư toàn xã hi. Trong s các doanh nghip FDI có nhiu hãng ca Hàn Quc và Đc thuê hàng trăm ngàn người lao đng Vit Nam.

Đề cp đến hơn 3,3 triu người Vit Nam thit mng trong chiến tranh, bác sĩ Võ Xuân Sơn nêu ra kết lun : "Cái giá mà chúng ta phi tr cho thng nht đt nước tht s là quá đt. Đy là chưa k, chúng ta đang tr thành nhng k làm thuê r mt, đang b chính những k ‘không yêu nước bng chúng ta’ sai khiến, bóc lt".

hoagiai4

Chủ tch Vit Nam Trn Đi Quang không nhắc đến hòa hp, hòa gii trong bài viết hôm 27/4/2-18 v s kin 30/4/1975

Bên cạnh nhng cái nhìn bày t tht vng, đã xut hin ý kiến kêu gi nhà nước và xã hi k nim ngày 30/4 theo hình thc khác.

Luật sư Nguyn Danh Huế đ xut qua Facebook cá nhân rằng nên ly tên gi chính thc là "ngày thng nht" và cũng là "ngày đi đoàn kết toàn dân".

Theo ông, thay vào "tổ chc k nim tưng bng chiến thng" s là các l tưởng nim nhng nn nhân ca chiến tranh trên khp đt nước, thp hương tưởng nh nhng

Ông cũng gợi ý nên thăm hi, chăm sóc các thương binh và nhng người chu mt mát do chiến tranh "bt k h phía nào ca cuc chiến". Vic tìm kiếm và quy tp hài ct nhng người lính mt tích cũng cn được tiến hành "không phân bit h thuc phía nào".

Luật sư cho rng nhng vic nêu trên "nếu không làm ngay thì s mun".

Nhưng dưới con mt tiến sĩ Nguyn Xuân Din, đ xut ca ông Huế - dù được chia s nhiu trên mng xã hi - dường như vn ch là nhng lý tưởng đp khó tr thành hin thc, dù nó nói lên khát vọng ca đông đo nhng người c hai phía.

Ông Diện đưa ra lý do :

"Khó lắm. Bi vì là người cng sn khi h đã nghĩ điu gì thì h không bao gi thay đi. Và nó như mt cái đinh đã đóng chết vào mt bc tường. Không bao gi h thay đi. Cái đó rt khó. Và chúng tôi cũng không thấy du hiu nào v vic hòa hp hòa gii".

Hôm 27/4, báo chí Việt Nam đăng mt bài viết dài ca ch tch nước Trn Đi Quang v "k nim 43 năm Ngày Gii phóng min Nam, thng nht đt nước".

Bài viết dài hàng nghìn t, như thường l, dành phn ln đ ca ngi thng li do Đảng cộng sản lãnh đo. Toàn bài ch có mt câu ngn nói v "xây dng con người Vit Nam yêu nước, đoàn kết, có năng lc sáng to, trung thc, trách nhim và nhân ái", trong khi không có bt c t "hòa hp" hay "hòa giải" nào.

VOA tiếng Việt, 30/04/2018 

Published in Diễn đàn

Trước những nỗ lực không ngừng nghỉ của những người Việt Nam yêu quốc gia dân tộc, trong cũng như ngoài nước, vài năm trở lại đây việc "tưởng niệm" cuộc hải chiến Hoàng Sa đồng thời vinh danh 74 chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa anh hùng vị quốc vong thân, dường như đã trở thành một "thủ tục". Mặc đầu chỉ mới là "thủ tục không chính thức", nhưng phải nhìn nhận đó là một sự nhượng bộ rất lớn của lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Đông đảo tầng lớp trí thức, cán bộ, đảng viên, tướng lãnh… xuất thân từ "bên thắng cuộc" hưởng ứng buổi lễ tưởng niệm đã khiến cho nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, dầu thân thiện (hay lệ thuộc) với Trung Quốc như thế nào, cũng không thể nghiêm cấm, bắt bớ, phá rối… không cho mọi người tụ tập như vài năm về trước.

VIETNAM-CHINA-LAW-SEA-DISPUTE-ANNIVERSARY

Buổi lễ vinh danh 74 chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa anh hùng vị quốc vong thân

Ý chí của số đông thể hiện sức mạnh. Nhứt là "ý chí" này thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, nêu cao truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc. Nhưng công việc này không thể ngừng ở đó. Không phải mỗi năm mọi người tham gia làm lễ tưởng niệm thì vấn đề Hoàng Sa xem như "hoàn tất".

Các cuộc tưởng niệm, các bài báo viết ra… dầu đề cao tinh thần chiến đấu, anh dũng hy sinh của các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đến cách nào, cũng không thể xem đó như là việc "khẳng định chủ quyền Hoàng Sa" của quốc gia Việt Nam. Bởi vì những vấn đề liên quan đến "chủ quyền lãnh thổ" tuy thuộc về toàn dân. Nhưng việc tưởng niệm chỉ có giá trị pháp lý, nếu và chỉ nếu, các cuộc tổ chức này do các cơ quan có thẩm quyền quốc gia đứng ra tổ chức.

hoagiai2

Vấn đề "chủ quyền" quần đảo Hoàng Sa cực kỳ quan trọng. Giá trị các hòn đảo, không phải là "đảo chim ỉa" như ông Hồ đã từng nói. Từ Thế chiến Thứ II, giá trị "chiến lược" các đảo (Hoàng Sa và Trường Sa) đã được chứng minh. Quan điểm này đến nay không thay đổi. Ai nắm được Hoàng Sa và Trường Sa kiểm soát cả biển Đông đồng thời chế ngự các nước chung quanh. Ngoài ra hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa còn có tiềm năng về kinh tế cực kỳ lớn lao.

Quốc gia có chủ quyền các đảo Hoàng Sa (và Trường Sa) còn có "quyền độc quyền - droit exclusive" khai thác kinh tế trong "vùng biển" phụ thuộc các đảo Hoàng Sa (và Trường Sa). Thuật ngữ pháp lý gọi đó là vùng biển "kinh tế độc quyền" (Zone Economique Exclusive-ZEE), có thể mở rộng ra đến 200 hải lý, tính từ "bờ", hay đường cơ bản của quần đảo.

Quốc gia có chủ quyền các đảo này vì vậy được hưởng quyền độc quyền khai thác tài nguyên thuộc về thềm lục địa, cũng như trong cột nước (tôm cá), xây dựng các kiến trúc nhân tạo… trên mặt nước… giới hạn trong vùng biển này.

Diện tích vùng biển ZEE các đảo Hoàng Sa có thể từ vài chục ngàn cây số vuông, lên đến vài trăm ngàn, thậm chí hàng triệu cây số vuông.

Điều này phụ thuộc, thứ nhứt, vào "tư cách pháp lý" của các thực thể địa lý cấu thành "quần đảo Hoàng Sa". Nếu các thực thể địa lý này được nhìn nhận là "đảo", vùng ZEE của mỗi đảo có thể mở rộng đến 200 hải lý, tính từ đường cơ bản của đảo (hay của quần đảo).

Thứ hai, phụ thuộc vào "tương quan sức mạnh" của các bên yêu sách.

Nếu các đảo Hoàng Sa vẫn còn thuộc chủ quyền của Việt Nam, vùng ZEE của quần đảo này sẽ tạo ra một vùng biển "chồng lấn" rất lớn với vùng ZEE sinh ra từ lục địa (hay đảo Hải Nam) của Trung Quốc. Dĩ nhiên, Trung Quốc sẽ không chấp nhận cho các "thực thể địa lý" Hoàng Sa có hiệu lực như là "đảo". Bằng "áp lực" của họ, về kinh tế và quân sự, Trung Quốc sẽ buộc Việt Nam nhìn nhận các "thực thể địa lý" ở Hoàng Sa chỉ là "đá". Vùng biển tương ứng chung quanh gọi, là "lãnh hải", là 12 hải lý theo qui định theo quốc tế công pháp.

Nhưng nếu chủ quyền Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc, như thực tế từ 43 năm nay, với "tương quan lực lượng" áp đảo, không tính quân sự, Trung Quốc chỉ cần gây áp lực trên những vấn đề kinh tế, văn hóa, chính trị… như hiện thời, Việt Nam sẽ phải chấp nhận các "thực thể địa lý Hoàng Sa" là các đảo, kể cả đảo Tri Tôn, có hiệu lực vùng ZEE 200 hải lý. Đường "chữ U chín đoạn" (còn gọi là đường lưỡi bò) của Trung Quốc mặc nhiên được Việt Nam nhìn nhận.

Điều này xảy ra Việt Nam có thể mất hàng trăm ngàn cây số vuông biển. Một mặt, vùng biển của các đảo Hoàng Sa, lý ra là của Việt Nam. Mặt khác, vùng chồng lấn ZEE giữa ZEE của Hoàng Sa với ZEE thềm lục địa của Việt Nam, tính từ bờ.

hoagiai3

Nói ra những chi tiết "kỹ thuật" này để nhấn mạnh cho mọi người thấy là vấn đề Hoàng sa (và Trường sa) là hết sức quan trọng, vừa về kinh tế, vừa về an ninh chiến lược. Mà việc "tưởng niệm" hàng năm chỉ nghiêng về mặt "biểu tượng", về "lịch sử", không có giá trị pháp lý.

Việc này thể hiện tình ở bề ngoài tình "đoàn kết" của dân tộc, nhưng chỉ có hiệu lực "tâm lý", tuyên truyền.

Thực chất là Hoàng Sa đang ở trong tay Trung Quốc. Trong khi TS, một số thực thể địa lý ở đây đã bị Trung Quốc chiếm (trên tay Việt Nam) từ năm 1988. Vụ Trung Quốc đe dọa khiến Việt Nam rút giàn khoan ở lô 136-03 ở phía tây-nam TS cho ta thấy đe dọa chiếm lĩnh TS cùng toàn thể Biển Đông của Trung Quốc rất là lớn.

Thể hiện tình "đoàn kết dân tộc", như cái cách đã thấy, không hề có giá trị "kế thừa" di sản pháp lý của Việt Nam Cộng Hòa. Ở Hoàng Sa là "danh nghĩa chủ quyền".

Biết bao lần tôi đặt câu hỏi : Làm thế nào nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam "kết thừa" Hoàng Sa từ Việt Nam Cộng Hòa ?

VN hôm nay không thể "kế thừa" cái mà Việt Nam Cộng Hòa đã "mất", không còn nữa. Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa trên tay Việt Nam Cộng Hòa trước khi miền Bắc "giải phóng" miền Nam.

Vả lại, trong thủ tục kế thừa, những câu hỏi nhức nhối từ phía các học giả, chuyên gia về quốc tế công pháp… đặt ra cho Việt Nam.

Trường hợp học giả Joële Nguyên Duy-Tân, người hết lòng với Việt Nam về vấn đề chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa. Bà đặt câu hỏi (nội dung đại khái) : Làm thế nào mấy anh có thể kế thừa ở thực thể mà anh không nhìn nhận ?

Tức là, ngay ở những học giả nước ngoài có lập trường thân với Việt Nam, họ cũng hoài nghi về việc "kế thừa di sản" Việt Nam Cộng Hòa. Huống chi các học giả Trung Quốc, họ nói, họ viết "trong ruột" nhà cầm quyền Hà nội.

Từ nhiều năm nay tôi hô hào việc "hòa giải dân tộc", xem đó như là một "điều kiện" không thể thiếu để "kế thừa" danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa tại Hoàng Sa. Sau này tôi đổi thành "hòa giải quốc gia", vì việc "hòa giải dân tộc" để "kế thừa" dễ ngộ nhận với việc "hòa hợp hòa giải dân tộc", một "vấn đề chính trị".

Nhưng vấn đề khó khăn hiện nay của Việt Nam ở Hoàng Sa (và Trường Sa) không chỉ đơn thuần ở vấn đề "kế thừa" Việt Nam Cộng Hòa.

Quốc gia tên gọi Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hôm nay là quốc gia "tiếp nối" của thực thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trên quân điểm pháp lý quốc tế, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nghĩa vụ phải tôn trọng và thực thi những kết ước mà Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã ký kết với các quốc gia khác trong quá khứ.

Như vậy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hôm nay phải có nghĩa vụ tôn trọng "công hàm 1958" của Phạm Văn Đồng, theo đó Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nhìn nhận yêu sách vùng lãnh hải 12 hải lý cũng như yêu sách chủ quyền của Trung Quốc ở Hoàng Sa và Trường Sa.

Để hóa giải các hứa hẹn này, khiến Việt Nam bị vướng "Estoppel" hay "Acquiescement" nếu vụ việc được đưa ra tòa quốc tế phân xử, tôi đã đề nghị lý thuyết "quốc gia chưa hoàn tất". Theo đó Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa chỉ là "các bên" thuộc về một quốc gia "duy nhứt" là Việt Nam. Tương tự Nam, Bắc Hàn ; Đông, Tây Đức… Điều này tôi có đề cập trong lá thư gởi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, nhân vụ giàn khoan HD 981 đặt trên thềm lục địa của Việt Nam, tháng Năm năm 2014.

Ý kiến của tôi được các "học giả" Việt Nam mượn lại. Tuy có "chế biến" để khác đi, dầu sao cũng là điều mừng, nếu mục đích nhằm phục vụ cho quyền lợi của đất nước và dân tộc Việt Nam.

Nhưng điều lo ngại, như "thông lệ", những gì tuy có lợi cho đất nước, cho dân tộc, nhưng "có hại" cho quyền lợi của đảng, thì vấn đề sẽ khác đi.

Khi tôi làm nghiên cứu, viết về "biên giới, lãnh thổ" thì lập tức có những "học giả" Việt Nam cũng nghiên cứu chủ đề này. Nhưng mục đích của họ không phải để đi tìm "sự thật", mà để lấp liếm, che đậy những hành vi nhượng đất của lãnh đạo cộng sản Việt Nam. (Điều này có dịp thuận tiện sẽ quay trở lại).

Khi tôi viết về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa, về hải phận... thì cũng có học giả Việt Nam viết về chủ đề này. Dĩ nhiên cũng để lái vấn đề qua chỗ khác, không để ai nhìn thấy những sai lầm, những việc nhượng bộ mờ ám của lãnh đạo cộng sản Việt Nam ở Biển Đông.

Điều này thể hiện trên thực tế, thí dụ tôi đề nghị lý thuyết "quốc gia duy nhứt" thì họ cũng lặp lại y như vậy. Nhưng với quan điểm "giải phóng và thống nhứt dân tộc".

Tôi đề cập nhiều lần, có người dân miền Nam nào muốn cộng sản Việt Nam "giải phóng" mình hay không ? Ngay cả quan chức cộng sản Việt Nam, ông Đinh La Thăng cũng nhìn nhận Sài gòn đã từng là "Hòn ngọc Viễn Đông". Đây là sự thật, và sự thật là dân miền Nam giàu có, văn minh hơn miền Bắc. Thì chính nghĩa của "giải phóng" ở đây là cái gì ?

Khi tôi viết "hòa giải quốc gia" thì họ nhập nhằng ‘hòa hợp hòa giải dân tộc" hay "đoàn kết dân tộc". Làm thế nào hai bên còn "hận thù", còn đầy dẫy gút mắc, nếu chưa thông qua thủ tục "hòa giải" thì làm sao có thể "đoàn kết" hay "hòa hợp" được ?

Kể ra thì rất dài, khi tôi viết luật pháp quốc gia, về "nhà nước pháp trị" thì các "học giả" cũng viết về luật, nhưng mục đích để binh vực "nhà nước pháp quyền" của đảng cộng sản Việt Nam v.v…

Mình làm cái gì thì các "chiến sĩ văn hóa" cũng làm cái nấy.

Cá nhân tôi, lâu nay làm gì cũng chỉ có "một mình". Mặc dầu làm việc hữu ích cho "lịch sử", cho dân tộc Việt Nam, nhưng chưa hề có cá nhân, đảng phải, tổ chức, cơ quan báo chí... nào ủng hộ hết cả. Từ khi có internet, có facebook, các ý kiến của tôi mới được một số bạn bè chia sẻ. Thật tình rất cám ơn.

Đến nay vấn đề đã "cấp bách" lắm rồi, nếu không nói là đã quá trễ rồi. Những gì cần phải viết về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa tôi đã viết nhiều lần, hôm nay chỉ là lặp lại.

Dầu sao thì lương tâm của mình cũng nhẹ nhàng, mặc dầu không thiếu những người xem tôi là "thế lực thù địch", hay chỉ trích "làm lợi cho Trung Quốc". Ngay cả khi Biển Đông và Trường Sa không còn thuộc Việt Nam, tôi nghĩ mình đã xong bổn phận.

Bởi vì sức lực và trí tuệ của mình có hạn. Mà cả vú còn lấp được miệng em. Huống chi...

Trương Nhân Tuấn

Nguồn : fb.nhantuan.truong, 21/01/2018

Published in Diễn đàn

Những ngày qua có thông tin Viện Sử học Việt Nam vừa cho phát hành bộ sử Việt gồm 15 tập, do Giáo sư Phan Huy Lê làm chủ biên, trong đó khi nói đến miền Nam từ năm 1956 đến 1975, những nhà viết sử đã dùng danh xưng đúng của mảnh đất này là "Việt Nam Cộng Hòa" chứ không còn gọi là "ngụy quyền Sài-Gòn".

vnch1

Bộ sử Việt gồm 15 tập - Ảnh minh họa

Nhiều thảo luận đã đưa ra lí giải vì sao có thay đổi cách gọi tên như thế.

Có ý kiến cho đây là vì Hà Nội muốn đòi lại chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa đang bị Trung Quốc chiếm đóng - những vùng quần đảo này trước đây thuộc về Việt Nam Cộng Hòa (miền Nam), còn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (miền Bắc) qua Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng lại thừa nhận Hoàng Sa nằm trong lãnh hải Trung Quốc.

Theo công pháp quốc tế thì chỉ khi thừa nhận có quốc gia Việt Nam Cộng Hòa thì Hoàng Sa mới thuộc chủ quyền của nước Việt Nam.

Cũng có người nói thay đổi cách gọi tên của miền Nam là tạo không khí cho chính sách hòa giải dân tộc để chung sức chống lại Trung Quốc đang bành trướng.

Những nhà sử học cho đó là cách viết sử nghiêm minh và chuẩn mực, điều mà trước nay bởi nguyên do chính trị và tuyên truyền nên sách sử xuất bản tại Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua đã dùng những từ miệt thị khi nói về Việt Nam Cộng Hòa, như khi nói về chính quyền thì gọi là "ngụy quyền" và những người phục vụ chính quyền đó là "ngụy quân".

Tuy nhiên, một tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam đã lên tiếng phản đối cách gọi tên đó và cũng có ý kiến cho rằng Việt Nam Cộng Hòa là "một thây ma" đã chết từ lâu không việc gì phải dựng nó sống lại.

Trên Facebook của tôi, có bạn tỏ ra rất lạc quan với những biến chuyển chính trị trong vòng một năm qua, với việc Việt Nam đang xích gần lại với Hoa Kỳ hơn bao giờ hết trong quan hệ mang tính chiến lược, trước sự bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông, và đang tạo ảnh hưởng đến lãnh đạo Hà Nội cũng như tác động đến nền kinh tế đang có nhiều khó khăn ở Việt Nam.

Hiệp định Paris 1973

vnch2

Toàn cảnh lễ ký kết Hiệp định Paris ngày 27/1/1973 tại Paris

Cũng có nhận định cho rằng sắp đến thời điểm đem Hiệp định Paris 1973 ra để thi hành.

Sự kiện này không phải là điều mới. Từ thập niên 1990, giáo sư Vũ Quốc Thúc, một nhà kinh tế và giáo sư đại học thời Việt Nam Cộng Hòa đã đưa ra chủ trương khôi phục và thi hành Hiệp định Paris, tức là đòi cho người dân miền Nam được quyền tự quyết về tương lai chính trị và những quyền tự do căn bản.

Căn bản của Hiệp định Paris là để quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam trong danh dự và hai miền chấm dứt chiến tranh, tái lập hòa bình trên đất nước Việt Nam.

Sau đó giải quyết khác biệt chính trị bằng việc thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, tiến đến bầu cử để chọn lựa thể chế chính trị.

Hai chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam thực thi chính sách hòa hợp hòa giải dân tộc, người dân miền Nam có các quyền căn bản, theo điều 11 của hiệp định :

- Thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia ;

- Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân : tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín nguỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh.

Về việc thống nhất hai miền Nam và Bắc, quyết định đó tùy thuộc vào chính phủ hai bên.

Hoa Kỳ cũng đồng ý viện trợ hơn ba tỉ đô la để tái thiết miền Bắc Việt Nam.

vnch3

Hiệp định được Ngoại trưởng bốn bên ký tại Paris ngày 27/1/1973, gồm Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam Cộng Hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.

Ngày 30/4/1975 xe tăng và bộ đội cộng sản miền Bắc vào chiếm miền Nam, chính quyền Sài Gòn đầu hàng.

Một năm sau hai miền chính thức được thống nhất, đưa đến một thực tế là chỉ còn một nước Việt Nam từ đó đến nay.

Chủ trương hòa hợp hòa giải

Đất nước đã thống nhất, nhưng lòng người thì chưa. Đó là nhận xét của nhạc sĩ Phạm Duy khi ông trở về Việt Nam năm 2005 để sống những ngày cuối đời và chết ở đó.

Từ nhiều năm qua, lãnh đạo Hà Nội đã ban hành những nghị quyết, chính sách với mục đích hòa giải dân tộc, như Nghị quyết 36 cách đây hơn một thập niên ; những chính sách mời gọi người Việt ở nước ngoài, không phân biệt quá khứ, về đầu tư, tham gia vào việc xây dựng đất nước. Hay chính sách cấp thị thực 5 năm cho người Việt có hộ chiếu nước ngoài.

Những chủ trương hòa giải dân tộc đó đã nhắm sai đối tượng, vì chỉ quan tâm tới người Việt sinh sống ở nước ngoài, trong khi đối tượng chính mà nhà nước cần có tinh thần hoà giải là với những công dân Việt đang sinh sống trên đất nước Việt Nam.

Ngày nay ở Việt Nam chưa có hòa giải vì những người bất đồng quan điểm với nhà nước vẫn còn bị sách nhiễu, giam tù hay quản chế.

Những tù nhân lương tâm đã được thế giới nhắc đến như Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, Trần Thị Nga, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Bắc Truyển, Trần Huỳnh Duy Thức là ví dụ.

vnch4

Sách báo của Miền Bắc trước đây thường dùng cụm từ 'ngụy quân, ngụy quyền' để gọi chính phủ và quân đội Việt Nam Cộng Hòa

Gọi tên "Việt Nam Cộng Hòa" lúc này có liên quan gì đến việc đòi lại chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa là điều tôi cho là xa vời, vì ảnh hưởng của Trung Quốc hiện nay quá lớn trong chính trường Việt Nam khiến lãnh đạo Hà Nội, dù có xích lại gần hơn với Hoa Kỳ, cũng sẽ không làm gì mạnh về chủ quyền trên Biển Đông.

Sự kiện Việt Nam, do áp lực từ Trung Quốc, tháng trước đã phải yêu cầu công ty Repso của Tây Ban Nha ngưng khoan dầu trong vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam cho thấy điều đó.

Qua việc nhắc đúng tên của miền Nam là "Việt Nam Cộng Hòa", tôi chỉ hy vọng lãnh đạo Hà Nội thực tâm nhìn nhận trên đất nước đó đã có một nền văn hoá, một không khí sinh hoạt chính trị sôi nổi trong hai mươi năm và những di sản đó vẫn còn trong lòng nhiều người Việt, trong nước cũng như tại nước ngoài.

Hãy để cho nền văn hoá đó được sống. Đừng cấm đọc, cấm in lại hay ngăn cản không cho phổ biến những ca khúc đã đi vào lòng hàng triệu người dân Việt. Điều đó sẽ thể hiện tinh thần hòa giải của chính quyền.

Còn nếu thực sự đem Hiệp định Paris ra làm căn bản hòa hợp hòa giải cho cả nước, đó sẽ là điều mừng cho đất nước và dân tộc, sau hơn 40 năm chiến tranh chấm dứt, đất nước thống nhất.

Bùi Văn Phú

Nguồn : BBC, 25/08/2017

Tác giả là một nhà báo tự do hiện sống tại vùng Vịnh San Francisco, California.

Published in Diễn đàn