Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Dù đứng ở phía nào trong cuộc nội chiến Bắc-Nam, ngày 30/4/1975 vẫn là một ngày lịch sử.

Ngày này năm 1975, phe cộng sản Bắc Việt đã toàn thắng trong tiến trình ‘giải phóng miền Nam’ bằng bạo lực. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã toàn bại trong cố gắng tự vệ chống bị-giải-phóng. Chiếc xe tăng quân cộng sản Bắc Việt treo lá cờ Mặt trận Giải Phóng Miền Nam ủi sập cổng chính vào dinh Độc Lập của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa vốn đã được mở sẵn để chờ đón đoàn quân chiến thắng. Hình ảnh này đã được truyền thông thế giới phát ra khắp nơi và lấy đó làm biểu tượng cho chiến thắng toàn diện của phe cộng sản Bắc Việt trong ngày 30/4.

quy1

Chiếc xe tăng quân cộng sản Bắc Việt treo lá cờ Mặt trận Giải Phóng Miền Nam ủi sập cổng chính vào dinh Độc Lập của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa vốn đã được mở sẵn để chờ đón đoàn quân chiến thắng. Ảnh minh họa 

Hình ảnh tạo ra những xúc động tức khắc. Những người đã quá chán ngán chiến tranh Việt Nam thở phào nhẹ nhõm. Hòa bình rồi, thôi hết chiến tranh. Những người đạo diễn ra chiến thắng này được đi nhận lãnh giải Nobel hòa bình. Lê Duẩn và Bộ chính trị cộng sản Bắc Việt cả cười mê sảng. Hàng trăm ngàn quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa vào tù cải tạo. Người miền Nam hiền lành gom góp những mảnh vụn vỡ của giấc mơ được sống theo ý nguyện đi về Vùng kinh tế mới.

Phải một thời gian sống với cộng sản sau đó, người ta mới hiểu tại sao quân đội cộng sản Bắc Việt lại ủi sập một cánh cửa đã mở ra ? Tại sao không đủng đỉnh đi vào ? Hình ảnh này, dù phe cộng sản Việt Nam không mong muốn, đã trở thành biểu tượng cho một chế độ hung bạo sắp tới trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Không ai có thể thay đổi lịch sử. Người ta phải sống, chết, dỡ sống dỡ chết với những kết quả/hệ quả của những người đã tạo ra lịch sử. Những người chạy trốn được ngày 30/4 đã đi rồi, hàng triệu người. Có nhiều người đã chạy trốn phe cộng sản Bắc Việt từ những năm 1954, cũng hàng triệu người, năm 1975 lại chạy trốn nữa. Những người bị ở lại, phải sống với lũ, hàng triệu triệu con người, như người ta nói, kể cả những cột đèn không chạy được, phải khóc cười theo chế độ.

Đất nước Việt Nam thật quá lạ kỳ. Chế độ cộng sản có thể dửng dưng tổ chức ngày chiến thắng 30/4 tiệc tùng liên hoan trên sự đau thương của đồng loại đã nói lên tất cả vì sao đất nước đến nông nổi này như ngày hôm nay :

Đất nước mình ngộ quá phải không anh ?

Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn…

(Trần Thị Lam)

Vấn đề nhức nhối hiện tại là câu hỏi, chế độ cộng sản Việt Nam đã làm gì trên đất nước Việt Nam sau 44 năm thống nhất ? Xuất phát từ di sản ngày 30/4, chế độ cộng sản toàn trị hôm nay đã có thỏa đáp được ước mơ từ hàng ngàn thế hệ Việt Nam trước đó và hôm nay, là được tự do mưu cầu hạnh phúc trong xã hội văn minh, tiến bộ, không hận thù, được hòa mình vào dòng sống của nhân loại ? Câu trả lời là không.

Ngày ‘giải phóng’, nhìn lại, là phần mở đầu của cơn ác mộng.

Ông cựu thủ tướng cộng sản Việt Nam Võ Văn Kiệt không phải nhân bản gì đâu khi nói "(Ngày 30/4) có triệu người vui thì cũng có triệu người buồn". Nhân bản và cộng sản là hai khái niệm luôn luôn tương phản. Một xã hội nhân bản không thể có cộng sản và ngược lại. Ông Kiệt chỉ nói lên quan sát rất thông thường của một người cộng sản đã lấy được điềm tĩnh nhanh hơn đồng đảng sau chiến thắng. Ông là ngoại lệ trong đám ‘nhất tướng công thành’ vì ông có vẻ còn xót đến ‘vạn cốt khô’. Nhưng giải pháp ông đưa ra để hóa giải sự mâu thuẫn của hai trạng thái đối nghịch trong ngày 30/4 làm cho người ta nghi ngờ.

Ông Võ Văn Kiệt đã kêu gọi Việt kiều hãy quên đi quá khứ để hòa hợp với chế độ. Không ít nhân sĩ và học giả đã tán thưởng viễn kiến ‘nhân bản’ của ông Kiệt. Cũng như trước đây, một tầng lớp trí thức Việt Nam đã lầm tưởng đảng cộng sản có chính nghĩa và lòng yêu nước, đã quỳ xuống phục vụ đảng cộng sản Việt Nam xây dựng thiên đường xã hội chủ nghĩa. Ngày hôm nay họ lại lầm tưởng ông Kiệt là người cộng sản có nhân bản. Có lẽ không nên gọi họ là tầng lớp trí thức nữa vì trên nguyên tắc vận hành của chế độ, xét qua chính sách ‘trí phú địa hào đào tận rễ’, trong nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hôm nay không còn tầng lớp trí thức. Tầng lớp này đã bị nhổ tận rễ rồi, chỉ còn lại tầng lớp ngụy trí thức phục vụ chế độ.

Như một người cộng sản tận tụy với đảng, ông Kiệt khước từ sự hòa giải vốn là lẽ thường tình giữa hai phe đối kháng sau một cuộc xung dột đẫm máu, nhưng bị lịch sử và huyết thống dân tộc trói buộc phải sống chung với nhau và phải chia sẻ một tương lai vinh nhục với nhau. Không nói đến hòa giải, ông Kiệt chỉ nói đến hòa hợp, và chỉ nói trong những dịp tập trung ‘Việt kiều yêu nước’ đã được các tòa đại sứ cộng sản Việt Nam ở hải ngoại tuyển chọn trước, cho thấy sự khuất tất. Muốn có sự hòa hợp mà không trải qua nỗ lực hòa giải thì cũng giống như một người muốn ăn trứng nhưng không chịu đập vỏ trứng. Hoàn toàn ở đây không có ý sỉ nhục hay vô lễ với ai, nhưng quan sát thông thường cho thấy ăn trứng không cần đập vỏ chỉ có ở loài ăn tạp.

Mục đích của sự hòa giải là chấm dứt những xung đột bằng phương cách điều đình, thương lượng, phân biệt phải quấy, thiện ý cộng tác và mong đợi thái độ hợp tác của đôi bên. Nó đòi hỏi sự tương kính và chân thành hướng đến Lẽ Phải và Công bằng. Sự hòa giải đòi hỏi mỗi bên nhìn nhận khiếm khuyết của mình, nhìn nhận sự thiệt hại đã gây cho nhau và lấy làm tiếc nó đã xảy ra, nếu có thể, bồi thường cho nạn nhân dù chỉ là tượng trưng. Nói cách khác, phải sòng phẳng với quá khứ. Phủ nhận quá khứ chỉ vô ích vì những vết thương trên thân thể còn đó và đang chảy máu. Mỗi năm tổ chức ăn mừng chiến thắng 30/4 sinh ra phản ứng phụ là cào cấu vết thương trên thân thể Việt Nam thêm nhiễm độc. Chỉ khi vượt qua được sự tự hủy hoại thân thể, nước Việt Nam mới mong được phục hồi.

Người ta nói, dân tộc như thế nào xứng đáng với chế độ như thế ấy. Câu nói tủi cực cho mọi người đang phải gánh chịu ách cộng sản. Nhưng câu nói ấy cũng là lời buộc tội đích đáng cho tầng lớp trí thức của một dân tộc. Mọi chế độ bất nhân tồn tại được chứng tỏ sự thiếu trí tuệ và năng lực của giới trí thức của dân tộc đó.

Đất nước đến nông nỗi hôm nay có một nguyên nhân chính : giới trí thức Việt Nam đã quỳ xuống vì sợ hãi bạo lực đã khiến Đảng cộng sản Việt Nam lầm tưởng họ vĩ đại. Sự khống chế hoàn toàn xã hội Việt Nam bằng bạo lực đã thành công khiến Đảng cộng sản Việt Nam càng thêm táo tợn trong những chính sách cai trị. Chế độ cộng sản Việt Nam có thể đưa ra những bản án vô nhân đạo lên người dân bởi vì họ có thể. Chính quyền cộng sản Việt Nam đã đưa ra những chính sách kinh tế đạo tặc, tham nhũng, bán buôn sang nhượng tài sản của quốc gia, tước đoạt quyền tự quyết của dân, ăn của dân không chừa thứ gì chỉ vì họ có thể. Họ có thể vì họ đã đè bẹp được sự phản kháng của người dân bằng sự im lặng đớn hèn của giới trí thức

Sự ngạo nghễ của đảng cộng sản có lý cớ để kéo dài vì giới trí thức Việt Nam đã quỳ xuống. Trí thức Việt Nam đã quỳ xuống trong chính sách Cải cách ruộng đất năm 1956. Trí thức Việt Nam đã quỳ xuống sau vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm những năm 1956-1958. Quỳ xuống trong trận tổng công kích Tết Mậu Thân. Quỳ xuống bên thi thể người thân trong cố đô Huế năm 1968. Các anh cũng đã quỳ xuống khi cộng sản pháo kích bừa bãi vào đoàn người dân chạy trốn cộng sản trên Đại lộ kinh hoàng năm 1972 tại Quảng trị… Thường khi sự sợ hãi tăng lực cho sự hung bạo. Bởi vì chúng ta quỳ nên cộng sản đã đứng lên bạo ngược ngang tàng.

Nhưng giới trí thức Việt Nam không thể quỳ xuống mãi và đi bằng đầu gối mãi cho hết kiếp nhân sinh. Thời gian 44 năm đã quá nửa một đời người mà chế độ bạo lực, bất nhân, liên minh thẻ đảng, tiền, quyền và ngu xuẩn vẫn ngạo nghễ khống chế mọi mặt của đời sống quốc gia. Trí thức Việt Nam chân chính phải đứng lên thôi. Các anh phải đứng thẳng lưng lên để lãnh đạo dân tộc Việt Nam, đứng thẳng lưng lên trước lực lượng cộng sản chiếm đóng đất nước.

‘Người ta lớn bởi vì các anh quỳ

Hỡi công dân, hãy đứng thẳng lưng lên’

Tiếng thét của Cách mạng Pháp 1789 phải thức tĩnh giới trí thức Việt Nam ngày hôm nay trước sự hoành hành càng ngày càng táo tợn của Đảng cộng sản Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam.

Tầng lớp trí thức Việt Nam phải có trách nhiệm và đứng lên lãnh đạo người dân chấm dứt chế độ bất nhân ăn mừng chiến lợi phẩm là miền Nam Việt Nam trong ngày 30/4 hàng năm. Bằng cách thành lập hoặc tham gia tổ chức chính trị, vận động cho sự thành hình một lực lượng dân chủ trên toàn quốc làm đối lập với Đảng cộng sản Việt Nam. Phải thành lập được một lực lượng dân tộc lấy Lẽ Phải và Công bằng làm sức mạnh bắt buộc Đảng cộng sản Việt Nam thực hiện tiến trình Hòa giải và Hòa hợp Dân tộc, bằng các phương pháp Bất bạo động, người Việt Nam mới hy vọng nhìn thấy ánh sáng của một xã hội văn minh, tiến bộ và hòa bình, tình tự dân tộc sau bóng tối của đêm dài dường như bị Đảng cộng sản Việt Nam kéo dài đến vô tận.                       

Sơn Dương

Chú thích :

Tựa đề bài viết lấy cảm hứng từ một lời hiệu triệu trong cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 :

"On est grand, parce-que vous vous mettez à genoux

Citoyens ! Levez-vous droitement !"

(Révolution française 1789)

Một số tác giả ghi nhận hai câu trên là của nhà cách mạng Jean-Paul Marat thời Cách Mạng Pháp 1789. Nhưng qua bài khảo sát thận trọng của ông Trần Giao Thủy đăng trên Đàn Chim Việt Online tháng 10 năm 2012 thì có lẽ không phải Marat. Nhưng dù là ai thì hai câu này xuất hiện trong thời Cách mạng Pháp 1789 nên xin ghi nhận là (Cách mạng Pháp 1789) cho đỡ rắc rối. (SD)

Published in QUAN ĐIỂM

Trong vô số đặc ngữ, thuật ngữ, khái niệm chính trị đã bị đánh tráo, xuyên tạc nội hàm và ngữ nghĩa trên chính trường Việt Nam hiện nay, người ta cần sự điềm tĩnh, lương thiện tư duy và sự phân tích khách quan của khoa học mới hy vọng không trở thành những người điên nói nhảm. Lấy thí dụ khái nhiệm "Hòa giải và hòa hợp dân tộc" hằng có ngữ nghĩa và nội hàm chính xác nhưng đã bị chế độ cộng sản Việt Nam, ngụy trí thức cộng sản và cả người không cộng sản khinh miệt tẩy chai đến độ nghe đến chủ trương Hòa giải và hòa hợp dân tộc của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên là nổi giận. Thường giận mất khôn.

hghhdt01

Chủ trương Hòa giải và hòa hợp dân tộc là một trong ba lập trường cơ bản của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Hòa giải và hòa hợp dân tộc là một cụm từ dài nhưng có ý nghĩa rõ ràng và thứ tự diễn tiến không thể đảo ngược, hay cắt phần này bỏ phần kia. Dùng bất cứ tự điển Tây Ta nào, hòa giải được định nghĩa tương tự như là tiến trình thương lượng, thuyết phục giữa các thành phần có tranh chấp, xung đột, mâu thuẫn, oan ức… nhằm tiến đến sự đồng thuận được thực thi trong hòa bình, tránh biện pháp bạo lực hay chiến tranh. Như vậy, ý nghĩa then chốt của cụm từ này là hòa giải trước tiên chứ không phải hòa hợp. Hòa hợp là hệ quả có thể mong đợi sau khi hòa giải thành công. Đảo ngược tiến trình này hoặc chỉ nói hòa hợp mà không lời hòa giải là bịp bợm.

Hòa giải và hòa hợp dân tộc là triết lý điều hành quốc gia, là tinh thần cộng sinh bao dung hòa bình trên những đất nước đã trải qua nội chiến tương tàn cần phải hàn gắn lại những đổ vỡ về mọi mặt của đất nước và xã hội sau chiến tranh. Khi một dân tộc đã không thể phủ nhận nhau hoặc tiêu diệt lẫn nhau, chỉ còn một giải pháp duy nhất phải hòa giải để có thể tiếp tục cộng sinh. Không còn chọn lựa nào khác. Trừ chiến tranh để giết cho hết những người chưa chết. Hòa giải và hòa hợp dân tộc, vì thế, là một bắt buộc của lịch sử. Gian trá, trốn tránh, lần lữa, thực hiện tiến trình Hòa giải và hòa hợp dân tộc là thái độ trốn trách nhiệm trước 95 triệu người Việt Nam hôm nay và muôn vàn thế hệ Việt Nam mai sau.

Khó khăn lớn nhất của giải pháp Hòa giải và hòa hợp dân tộc không phải phía cộng sản Việt Nam mà là văn hóa và tâm lý của người Việt Nam. Đảng cộng sản Việt Nam đã thủ lợi tuyệt đối dựa trên nền văn hóa này. Văn hóa và tâm lý bạo lực, mạnh được yếu thua, đã ăn sâu vào não trạng của người Việt trong hàng ngàn năm lịch sử. Sự hòa giải dân tộc như một giá trị cộng sinh mới mẻ của thời đại đã bị cả hai anh em trong gia đình Việt Nam phủ nhận, miệt thị và nguyền rủa trong vô thức hoặc cả trong ý thức. Hòa giải và hòa hợp dân tộc với Đảng cộng sản Việt Nam thì đã rạch ròi dứt khoát không. Không có hòa giải gì tất. Họ đã chiến thắng. Họ tự quyền áp đặt sự cai trị. Mọi chống đối, chỉ trính, phê bình bị trừng trị bằng công an và nhà tù. Cho ‘hòa hợp dân tộc’ đã là khoan hồng. Nhưng ngược lại, bạo lực của Đảng cộng sản Việt Nam cũng giúp cho những người dân chủ không lãng mạn trong cuộc đối đầu với chế độ cộng sản Việt Nam. Hơn bao giờ hết, người ta đã ý thức được chìa khóa giải thể chế độ cộng sản Việt Nam là ép buộc được chúng vào thế chẳng đặng đừng.

Giống như thằng bé chơi dại tự buộc dây vào cổ, thập niên 80 Đảng cộng sản Việt Nam đã tự mình phải tháo dây treo cổ. Sự tự mãn phát sinh từ chiến thắng ‘Mỹ Ngụy’ và giải phóng miền Nam đã làm Đảng cộng sản Việt Nam mê sảng. Họ ngạo mạn với khả năng trời biển có thể dùng bạo lực cải tạo nền kinh tế miền Nam tiến lên xã hội chủ nghĩa nhanh chóng cho bằng miền Bắc. Các chính sách phản kinh tế như ngăn sông cấm chợ đã đưa đất nước vào cảnh suýt chết đói. Đảng cộng sản Việt Nam bị bắt buộc phải tháo dây ngăn sông cấm chợ vì nguy cơ mất kiểm soát chính trị vì dân đã bị đói.

Trước năm 1979, sự đoàn kết răng hở môi lạnh với Trung Quốc, tình hữu nghị đời đời bất diệt giữa Việt Nam và Trung Quốc là bài bản được tuyên giáo cộng sản Việt Nam ca ngợi rền rĩ trên các loa phường và báo đài quốc doanh. Đến khi Trung Quốc bất thần xua quân tấn công qua biên giới Việt Nam thì tình hữu nghị tan vỡ. Chiến tranh biên giới đã làm thiệt hại nặng nề nhân mạng và tài sản người Việt Nam Nhưng đụng độ với Trung Quốc, nguy cơ Đảng cộng sản Việt Nam bị mất quyền cai trị Việt Nam còn nghiêm trọng hợn. Bộ Chính trị Đảng cộng sản Việt Nam đã rơi vào thế bị triệt buộc phải qua hòa giải với Trung Quốc để sống còn. Hệ lụy như ta đã thấy là Hội nghị Thành Đô 1990.

Thời sự nóng bỏng hiện nay về vụ kiện thế kỷ của công dân Hà Lan Trịnh Vĩnh Bình có thể quy chiếu để chấm dứt các giải pháp kiến nghị, phản đối, xin xỏ, mong đợi Đảng cộng sản Việt Nam tự nguyện hồi tâm tôn trọng lẽ phải và công lý. Tòa án Quốc tế đã phán xử Chính quyền cộng sản Việt Nam phải bồi thường 40 triệu đô la vì đã vi phạm các điều lệ trong Hiệp định Khuyến khích và Bảo vệ Đầu tư đã được ký kết giữa chính phủ Hà Lan và Chính quyền cộng sản Việt Nam. Tại sao Chính quyền cộng sản Việt Nam phải bồi thường nhục nhã thế ? Họ đã từng ký nhiều văn kiện quốc tế, như Hiệp định Paris 1973, và đã nuốt trọng chữ ký mà ai đã dám làm gì. Nhưng lần này Chính quyền cộng sản Việt Nam phải bồi thường vì không còn chọn lựa nào khác. Tòa án Quốc tế có thể ra lệnh tịch biên tài sản hoặc phong tỏa các trương mục của Chính quyền cộng sản Việt Nam ở các nước tư bản nếu chính quyền cộng sản Việt Nam không thi hành án. Tài sản ở nước ngoài quá lớn bị đe dọa buộc chính quyền cộng sản Việt Nam phải ‘hy sinh’ trả nợ nhỏ. Càng trả sớm càng khỏi phải trả thêm tiền lời và tiền ‘thiệt hại tinh thần’ cho Trịnh Vĩnh Bình.

Bản chất của chế độ cộng sản Việt Nam như thế đã rõ, vấn đề nan giải là hình thành một lực lượng dân chủ Việt Nam. Lực lượng này phải có tiềm năng chính trị buộc được Đảng cộng sản Việt Nam vào thế phải thực hiện tiến trình Hòa giải và hòa hợp dân tộc như đã ghi trong Hiệp định Paris 73. Không có lực lượng này, chế độ cộng sản Việt Nam sẽ tiếp tục làm cơn ác mộng của cả dân tộc Việt Nam.

Nhưng nan giải không có nghĩa không giải được. Sự cai trị của Đảng cộng sản Việt Nam sau hơn 40 năm áp đặt ‘thống nhất’ đã chứng tỏ đây là một đảng chính trị gian trá. Từng ngày trong đời sống của xã hội Việt Nam có vô số chứng minh cho nhận định này. Không phải qua các trang mạng xã hội bị chế độ cộng sản Việt Nam quy chụp là phản động mà chính trên báo giới truyền thông quốc doanh. Sự hoành hành tự tung tự tác của liên minh ma quỷ, tiền, quyền, thẻ đảng và tư bản rừng rú trên xã hội đã lên mức cao điểm.

Những điều kiện căn bản cho một cuộc cách mạng đã xuất hiện. Đảng cộng sản Việt Nam đã mất lý tưởng làm nền tảng cho đảng viên quyết sống chết với chế độ. Lý tưởng cộng sản không còn thuyết phục được ai. Đảng cộng sản Việt Nam đã ung thối, chia rẽ, phân hóa và đang vật vã tìm lý cớ để tồn tại. Người dân đã nhận chân được chế độ cộng sản Việt Nam như một u bướu ung thư ác tính cần phải cắt bỏ. Người dân mong đợi một chế độ mới biết tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do của người dân, không tham nhũng, không ngồi lên pháp luật, không bao che các đảng viên vi phạm pháp luật, không hèn với giặc, ác với dân. Cuối cùng là sự mong đợi một lực lượng chính trị mới như một giải pháp chính trị đáp ứng được nguyện vọng của toàn dân xuất hiện. Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên đang nỗ lực để trở thành một thành phần xứng đáng của lực lượng mới ấy.

Chưa cần đến đồng thuận trong từng chi tiết trong giải pháp Việt Nam hiện tại, để có thể xây dựng một lực lượng chính trị người ta cần phải đồng thuận trên những mục tiêu căn bản. Như đồng thuận về một quốc gia mới dân chủ đa nguyên, lấy tinh thần Hòa giải và hòa hợp dân tộc chỉ đạo các chính sách điều hành xã hội bằng một phương pháp hòa bình như bất bạo động. Tổ chức những cuộc xuống đường bất tuân dân sự, đình công, bãi thị, bãi trường, ngưng mọi sinh hoạt kinh tế là những hình thức đấu tranh bất bạo động. Có được sự đồng thuận căn bản này, một lực lượng chính trị đối lập với Đảng cộng sản Việt Nam sẽ thành hình.

Những chướng ngại cho giải pháp Hòa giải và hòa hợp dân tộc hiện nay cũng cần được nhận diện để hóa giải. Nền văn hóa dùng bạo lực giải quyết xung đột đã ăn sâu vào tâm lý người Việt Nam nhưng có thể thay đổi nhờ vào mạng lưới internet. Chỉ cần một giây, những thông tin trên khắp thế giới có sẵn để người đọc biết đến, kiểm tra, đối chiếu, phân tích độc lập. Tuyên giáo đã mất độc quyền. Những giá trị xưa cũ lỗi thời trên thế giới đang bị đào thải nhường bước cho những giá trị mới.

Hòa giải dân tộc là một giá trị mới đang được tôn trọng trên thế giới văn minh. Tại các quốc gia tiên tiến luôn có một ngày dành riêng cho giá trị này, thậm chí như tại Úc Đại Lợi, còn có cả ngày Xin Lỗi Toàn Quốc (National Sorry Day, ngày 26/5). Ngày này Chính phủ Úc xin lỗi những người dân đã bị thiệt hại vì các chính sách điều hành xã hội. Chắc chắn trong niên lịch của Đảng cộng sản Việt Nam không có những ngày cảm động như thế. Ít ra cho đến khi một lực lượng chính trị đối lập xuất hiện.

Cũng cần nhận diện những suy nghĩ cảm tính của người không cộng sản để hóa giải vì tương lai đất nước. Hòa giải và hòa hợp dân tộc là một giải pháp hòa bình để người Việt Nam có thể cộng sinh hài hòa theo dòng sinh mệnh của dân tộc. Dân tộc nào cũng thế, dù có thể vì nhiều lý do khác nhau đã đưa đến chiến tranh nhưng nếu không tiêu diệt được nhau thì phải hóa giải xung đột để có thể cộng sinh. Hòa giải đòi hỏi người gây thiệt hại phải xin lỗi và bồi thường cho người bị thiệt hại. Người bị thiệt hại cũng không được tầm thù báo oán khi đã chấp nhận sự hòa giải.

hghhdt02

Chim bồ câu tung cánh : biểu tượng của hy vọng và tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Không ít người có ác cảm với Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên vì ngộ nhận rằng giải pháp Hòa giải và hòa hợp dân tộc là sự xin xỏ kẻ chiến thắng ? Không thể sai hơn vì Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên không van xin mà là đòi hỏi và áp lực cộng sản Việt Nam phải thực hiện Hòa giải và hòa hợp dân tộc.

Mặt khác, chính vì Đảng cộng sản Việt Nam không chấp nhận Hòa giải và hòa hợp dân tộc mà Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên buộc họ phải thực hiện. Nếu nói rằng vì Đảng cộng sản Việt Nam không chịu Hòa giải và hòa hợp dân tộc, chúng ta đòi hỏi chỉ vô ích, vậy tại sao chúng ta lại tiếp tục kiên trì, bất chấp sự đánh đập, tù đày, kể cả ‘tự tử trong đồn công an’, tranh đấu cho quyền con người, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền biểu tình, quyền tự do ứng cử và bầu cử, quyền được bình đẳng trên pháp luật… những quyền chính trị mà chế độ cộng sản Việt Nam đã dứt khoát khước từ ?

Tại sao chế độ cộng sản Việt Nam khước từ hòa giải và hòa hợp dân tộc mà những người phản đối giải pháp hòa giải và hòa hợp dân tộc của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên lại thể đồng ý với chúng để cũng khước từ hòa giải và hòa hợp dân tộc như chúng ? Cá nhân tôi coi giải pháp hòa giải và hòa hợp dân tộc là lối thoát cuối cùng cho dân tộc Việt Nam thoát khỏi cơn ác mộng cộng sản.

Có nhân sĩ, học giả ăn bã tuyên huấn cộng sản Việt Nam lên giọng phải quên đi quá khứ vì đất nước đã thống nhất, hết chiến tranh rồi ? Nhưng họ không giải thích tại sao lại không phải là sòng phẳng với quá khứ. Sòng phẳng với quá khứ mới có thể đưa đến hòa hợp. Trấn áp quá khứ mới đưa đến cơn giận không nguôi. Với những thương tật trên cơ thể của đất nước và con người Việt Nam hiện nay làm sao có thể đi đến hòa hợp mỗi khi, và nhất là, mỗi năm chế độ cộng sản Việt Nam liên hoan mừng đại thắng 30/4 chỉ gây thêm cơn đau nhức ?

Có nhân sĩ, học giả còn dạy rằng muốn có Hòa giải và hòa hợp dân tộc thì phải có sự xin lỗi của kẻ ác, phải bồi thường dù là tượng trưng cho kẻ bị thiệt hại. Những người này mới phát minh ra bánh xe. Từ thập niên 1980 khi đưa ra ‘Cơ sở Tư tưởng’, ‘Thành công Thế kỷ 21’, Thử thách và Hy vọng’ (năm 2001), Khai sáng Kỷ nguyên thứ Hai (2015) Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên đã đòi hỏi hành động hòa giải như thế.

"Nhà nước Việt Nam tương lai sẽ phải phục hồi danh dự cho những người đã bị hạ nhục, phải bồi thường thiệt hại dù chỉ là một cách không đầy đủ, cho những nạn nhân mà không tạo ra những nạn nhân mới"

(trích Khai sáng Kỷ nguyên thứ 2, trang 78).

Cuối cùng, một số đông người tỏ ra không thiện cảm với giải pháp Hòa giải và hòa hợp dân tộc vì không tin vào một giải pháp nào có thể thực hiện được với sự ngoan cố của Đảng cộng sản Việt Nam. Hoặc họ đã tuyệt vọng, dù chưa bao giờ hành động, cảm thấy quá khó khăn và có thái độ buông xuôi. Họ không ý thức được thái độ chính trị của họ đang được Đảng cộng sản Việt Nam ngầm tán thưởng để sự kéo dài chế độ. Nhân dân đừng lo, mọi chuyện có Đảng lo ! Như Tú Xương giải thích thái độ kẻ sĩ của ông trong thế kỷ trước ‘thiên hạ đều đang ngủ cả, việc gì thức một mình ta’.

Tuy những lý lẽ và thái độ của một số những học giả, nhân sĩ, trí thức… có thể gây khó khăn cho sự thành hình một lực lượng dân chủ Việt Nam nhưng không ai phủ nhận được giá trị của giải pháp Hòa giải và hòa hợp dân tộc. Trong lúc thiếu vắng một giải pháp khả thi khác hơn Hòa giải và hòa hợp dân tộc từ những trí thức chính trị và các tổ chức chính trị, nổ lực cố gắng xây dựng một lực lượng chính trị chấp nhận chia sẻ những đồng thuận căn bản là bước triệt buộc cho phong trào dân chủ Việt Nam.

Sơn Dương

(14/04/2019)

Published in QUAN ĐIỂM
samedi, 02 mars 2019 17:47

Niềm hy vọng truyền kiếp

Mỗi người Việt Nam hiện nay, không loại trừ một ai, đều là di sản hiện đại nhất, sống động nhất, của tổ tiên người Việt Nam. Dù lịch sử Việt Nam là bốn ngàn năm hay hai ngàn năm, là bộ tộc ở sông Dương tử hay ở Mã Lai (Biên khảo của Bình Nguyên Lộc), con người Việt Nam năm 2019 vẫn là phiên bản chính thống của tiền nhân Việt Nam.

hyvong1

Mỗi người Việt Nam hiện nay, không loại trừ một ai, đều là di sản hiện đại nhất, sống động nhất, của tổ tiên người Việt Nam.

Đã là di sản, không cần phải cắt tay đếm công thức máu, chắc chắn mỗi người Việt Nam đều có những đặc tính di truyền từ tổ tiên trong DNA. Di sản này nhìn thấy được trên mặt thể lý và cả tinh thần.

Về mặt thể lý, nhân dạng người Việt Nam đã không ngừng tiến hóa để trở nên đẹp đẽ như hôm nay. Đã có quan chức cao cấp cộng sản Việt Nam biết ca ngợi nét đẹp của con gái Việt Nam làm cho nhân dân tự hào. Những lễ hội tổ chức thi hoa hậu được khuyến khích tổ chức rình rang trên khắp nước, tại mỗi thành phố trực thuộc trung ương, ở mọi tỉnh thành và trong mọi ngành nghề, dịch vụ và tại các trường đại học. Chỉ còn thiếu hoa hậu khu công nghiệp Bô-xít Tây nguyên, vùng Vũng án Formosa, các đặc khu kinh tế là bức tranh nhan sắc của con gái Việt Nam thành toàn hảo.

Thật là tự hào vì hôm nay dân tộc ta đã vượt qua giai đoạn tiến hóa chuyển tiếp khi hai ngón chân cái không còn giao vào nhau (giao chỉ), cũng hết rồi thời răng hô và mã tấu.

Về mặt tinh thần, những đặc tính di truyền từ tổ tiên cũng sáng tỏ. Những đặc tính tuyệt vời như cần cù, nhẫn nại, an phận thủ thường… có tiềm năng làm cho sức lao động của người Việt Nam trở nên vô địch. Thật vậy, lực lượng lao động xuất khẩu hàng chục ngàn người/hàng năm đã chứng minh người Việt Nam có khả năng làm việc miệt mài nhiều giờ liên tục nhưng vẫn bằng lòng với giá tiền công bèo nhất trên thế giới. Lực lượng lao động Việt Nam nghiễm nhiên trở thành nguồn nhân lực rẻ rúng nhất được những công ty nước ngoài ở Đài Loan, Hàn quốc hay các công ty đa quốc gia trên thế giới ưa chuộng khai thác. Có ai tự hào hay ai tủi hổ vì lợi thế này của dân tộc thì cũng như nhau, hai từ cũng một vần ‘t’, ‘h’ như nhau.

Những đặc tính cốt lõi trong văn hóa và tâm lý của tiền nhân cũng được người Việt Nam thừa hưởng. Người Việt Nam biết ưu tiên sử dùng bạo lực để giải quyết xung đột cá nhân, tập thể, xã hội và trên đất nước. Người Việt Nam được cái não trạng bất dung, được làm vua thua làm giặc, hoặc mày sống hoặc tao chết, không bao giờ chịu hòa giải để hai ta cùng sống, không may, đã đưa đến hậu quả như hôm nay.

Đảng cộng sản Việt Nam, hiện thân tuyệt đối của bạo lực và sự bất dung, đã nắm được quyền cai trị Việt Nam. Người Việt Nam đang oằn oại rên xiết dưới ách cai trị bạo tàn của người bản xứ. Ai cũng mong ước được thoát khỏi ách cộng sản, nhưng không nhiều người ý thức được rằng khi văn hóa và tâm lý của người Việt Nam chưa thay đổi, Đảng cộng sản Việt Nam không thể thay đổi. Ách cộng sản là một trong những cái gen di truyền hư hỏng của tiền nhân Việt Nam.

Một ưu điểm khác nữa được thừa hưởng từ tiền nhân là người Việt Nam có niềm hy vọng vô biên về một tương lai xán lạn. Có người còn diễn cảm ấn tượng hơn nữa là khát vọng. Người Việt Nam luôn luôn lạc quan bất chấp mọi hoàn cảnh phải chịu đựng. Có vẻ càng bị đè đầu cỡi cổ trong hoàn cảnh cực kỳ khốn khổ, niềm hy vọng càng bùng lên mãnh liệt. Chắc chắn đây là một đặc tính độc đáo đã khiến người Việt Nam được xếp hạng tốp ten trong một cuộc thống kê thổ tả về người sống hạnh phúc nhất trên thế gian.

Nhưng khi hy vọng mà không bắt tay hành động thực hiện hy vọng, nó chỉ là trò chơi của cái tâm lý bất lực. Nó giúp người ta tự lừa bịp mình để chấp nhận, chịu đựng khổ nạn lâu dài hơn. Niềm hy vọng chỉ có ý nghĩa đáng nuôi dưỡng khi nó là một tố chất kích thích người ta phải hành động để thực hiện hy vọng. Chỉ hy vọng mà không đầu tư công sức thực hiện hy vọng chắc chắn sẽ đưa đến những cái ‘vọng’ không mong muốn khác như thất vọng, tuyệt vọng và ảo vọng. Không thể nào khác.

Mọi cuộc cách mạng xã hội nào cũng phải bắt nguồn từ hành động của giới trí thức. Khi giai cấp trí thức cũng chỉ biết hy vọng mà không hành động, xã hội ấy cầm chắc chỉ có thể sống thoi thóp bằng những tuyên xưng khát vọng. Đảng cộng sản Việt Nam đã cho người Việt Nam ăn no những khát vọng đổi đời như độc lập, tự do, tiến bộ, phát triển, dân giàu nước mạnh, xã hội văn minh bắt kịp bạn bè năm châu.

Giới có bằng cấp to đùng ở Việt Nam hiện nay đông đảo chưa từng có trong suốt hàng ngàn năm lịch sử. Giai cấp có bằng cử nhân, cao học, tiến sĩ, phó giáo sư… cộng cả bằng thiệt, bằng giả, bằng mua, bằng dởm như bằng tiến sĩ xây dựng đảng, đông gấp bội Lực Lượng 47 hay dư luận viên. Nhưng, không may, có vẻ lực lượng này cũng chỉ biết hy vọng/khát vọng rằng đảng cộng sản Việt Nam sẽ thay đổi, sẽ cải thiện, sẽ cho người Việt Nam được hưởng quyền con người, được hưởng tự do và được quyền làm chủ đời mình.

hyvong2

Giới có bằng cấp to đùng ở Việt Nam hiện nay đông đảo chưa từng có trong suốt hàng ngàn năm lịch sử. Ảnh minh họa 

Trong suốt hơn 40 năm kể từ khi đảng cộng sản đã cưỡng đoạt được miền Nam, giới có bằng cấp Việt Nam đã viết nhiều văn thư, kiến nghị, khuyến cáo, thỉnh nguyện, yêu cầu… rất ư là đanh thép để buộc đảng cộng sản phải cải thiện nhân quyền, phải cởi mở chính trị, phải chấm dứt chế độ độc tài đảng trị. Những văn kiện lịch sử này không biết đã đi về đâu vì chẳng thấy đảng cộng sản đá động tới, nhưng trong số người ký tên vào văn tự đã có người vào tù, người đang ở tù và còn nữa những người sắp vào tù.

Thời sự mới nhất để nói lên não trạng của lực lượng xung phong này là nhân cơ hội Tổng thống Mỹ Donald Trump và lãnh tụ kính yêu Kim Jong-un của Bắc Cao Ly đến Hà Nội dự hội nghị Giải trừ nguyên tử và Cấm vận kinh tế chẳng liên can gì đến Việt Nam, 100 người tự nhận là trí thức và nhân sĩ Việt Nam đã viết thư cho Tổng thống Mỹ đặt mọi hy vọng vào tài năng thương lượng của Trump để giúp Việt Nam được độc lập tự do và dân chủ. Giời cao ngó xuống mà coi, niềm hy vọng di truyền của người Việt Nam đã được xuất cảng sang đến Hoa kỳ.

Người ta thường nói kẻ thù truyền kiếp, mối thù truyền kiếp nhưng không ai nói hy vọng truyền kiếp nghe nghịch thường. Nhưng nếu chỉ quyết tâm hy vọng mà không bắt tay thực hiện, có mọi khả năng niềm hy vọng vô biên sẽ trở thành di sản quý báu của thế hệ người Việt Nam hôm nay truyền lại cho thế hệ mai sau. Nó trở thành niềm hy vọng truyền kiếp.

Không cần phải có bằng cấp to đùng hoặc đọc cả một nhà sách, ai cũng biết đấu tranh với Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay, thực tiễn chỉ có thể hữu hiệu bằng cách xây dựng cho được một lực lượng không cộng sản làm đối trọng với đảng cộng sản.

Nếu hàng ngàn người đã ký tên vào các văn kiện đanh thép, 2000 người và 10 tổ chức đã ký tên vào ‘Yêu sách 8 điểm năm 2019’ và 100 trí thức và nhân sĩ ký tên đặt hy vọng vào tổng thống Hoa Kỳ biết đoàn ngũ hóa, biết tổ chức, dám đứng lên thành lập một tổ chức chính trị nghiêm chỉnh để thực hiện những yêu sách của mình, niềm hy vọng di truyền từ tổ tiên Việt Nam biến thành hành động, chế độ cộng sản Việt Nam ác ôn phải cáo chung. Bất chấp có Donald Trump hay Tập Cận Bình hay không.

Một tổ chức chính trị Việt Nam nghiêm chỉnh và có trách nhiệm cũng dễ nhận thấy. Tổ chức phải tuyên xưng những giá trị nền tảng làm kim chỉ nam cho hoạt động chính trị. Tổ chức phải có phương pháp để thực hiện mục đích chính trị của đảng và phương pháp để giải quyết những khó khăn, bất cập trên quốc gia. Cuối cùng, tổ chức phải có một dự án chính trị khả thi nêu lên được những mục tiêu chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa giáo dục… cần phải thực hiện ưu tiên để chấn chỉnh lại một xã hội đã bị biến dạng méo mó dưới chế độ cộng sản. Mọi tổ chức chính trị không đầu tư vào những bước căn bản để xây dựng tổ chức nghiêm chỉnh không có tiềm năng lãnh đạo.

Hy vọng của người Việt Nam chỉ thành hiện thực khi giới trí thức Việt Nam thoát ra được thảm cảnh ‘sĩ khí rụt rè, gà phải cáo’ hiện nay. Trí thức Việt Nam dám dấn thân vào làm công việc chung là làm chính trị, thành lập tổ chức chính trị hoặc tham gia tăng cường sức mạnh cho một tổ chức chính trị đã thành lập, học tập và hoạt động trong tổ chức và áp dụng kỹ năng tổ chức quần chúng để làm áp lực tối đa buộc chế độ cộng sản vào thế phải điều đình với lực lượng dân chủ Việt Nam để tìm một cách hạ cánh an toàn cho Đảng cộng sản Việt Nam.

Viễn ảnh này không còn xa nữa vì đã có trí thức lên đường và đã có tổ chức chính trị mời bạn tham gia.

Sơn Dương

(02/03/2019)

Published in QUAN ĐIỂM
samedi, 08 décembre 2018 21:39

Những người thích đùa

Ông Tổng bí thư Đảng cộng sản kiêm Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kiêm Chủ tịch Quân ủy trung ương Nguyễn Phú Trọng, ông Trưởng ban Tuyên giáo trung ương đảng, Võ Văn Thưởng, và cả báo Quân đội Nhân dân, cơ quan lý luận của quân đội cộng sản Việt Nam, đã đồng hợp xướng biện pháp kỷ luật giáo sư Chu Hảo trong tháng 8 vừa qua là đúng đắn và thích đáng.

hop1

Sáng (1/8), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có buổi làm việc với Ban Tuyên giáo Trung ương về kết quả công tác kể từ sau Đại hội lần thứ XII của Đảng, phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới.

Theo ông Trọng, đây không chỉ là biện pháp kỷ luật đối với ông Chu Hảo,là một nhà trí thức tiêu biểu của tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà còn cho các đảng viên cộng sản Việt Nam khác lơ là để mất cảnh giác mà phạm vào trọng tội ‘tự chuyển hóa, tự chuyển biến và suy thoái tư tưởng’.

Sự đồng loạt lên án từ ông Trọng, ban bộ tuyên huấn trung ương vàcác cơ quan truyền thông báo đài quân đội và vô số báo đài quốc doanh khác cũng cho thấy viễn kiến của ông Trọng về cơ nguy mất đảng bắt nguồn từ mầm mống tự chuyển hóa, tự diễn biến, suy thoái tư tưởng trong hàng ngũ quan chức đảng viên là nghiêm trọng. Nó còn tệ hại hơn cả nạn tham nhũng tràn lan trong hàng ngũ quan chức cộng sản và có thể còn hiểm nguy hơn cả loại vi rút ‘hiểm độc, thế giới chưa có thuốc chữa trị’ đã giết chết chủ tịch nước Trần Đại Quang.

Nhưng với những người dân, đặc biệt là những thành phần trí thức xã hội chủ nghĩa như giáo sư Chu Hảo, chưa bị tuyên huấn của cộng sản làm bại não thì biện pháp này sẽ là nguyên nhân gây tai nạn ‘chuyển hóa’ thêm nữa trong guồng máy đảng.

Chuyển hóa không phải là tội

Ông Nguyễn Phú Trọng kỷ luật giáo sư Chu Hảo vì đã chuyển hóa, suy thoái tư tưởng nhưng không đá động đến nguyên nhân Đảng cộng sản Việt Nam là môi trường bắt buộc phải có chuyển hóa suy thoái tư tưởng. Ông Trọng kết tội hiện tượng nhưng miễn trừ nguyên nhân là bản chất sinh ra hiện tượng.

Mọi sinh vật trong cuộc sống đều chuyển hóa khi bị môi trường tác động. Trừ khi đó là cục gạch hay cục sắt. Một hạt mầm sẽ phát triển thành cây cà, cây đậu… khi có không khí ẩm, ấm và đất dinh dưỡng. Hoặc ngược lại, nó sẽ bị thui chột hay chết ngay từ trong lòng đất. Đó là quy luật phát triển của mọi sinh vật, kể cả con người. Sự chuyển hóa vì thế không phải là tội. Điều kiện môi trường mới là chính phạm. Kết tội sự chuyển hóa vì thế là kết tội một quy luật tự nhiên.

Sau hơn 70 năm toàn trị miền Bắc và 40 năm khống chế người miền Nam, Đảng cộng sản của ông Trọng đã thể hiện lạnh lùng một giáo điều trung tâm của chủ nghĩa cộng sản. Họ quan niệm chính quyền là ‘một dụng cụ đàn áp và bóc lột của giai cấp thống trị’ ; họ bất chấp lý luận, điều Thiện/Ác và cả luật pháp để thu tóm ‘mọi lợi quyền ắt phải về ta’. Lenin đã từng khẳng định : "chính quyền cách mạng là chính quyền do giai cấp vô sản giành được và giữ lấy, chính quyền này không hề bị ràng buộc bởi bất cứ một luật pháp nào" (1). Ông đã tùy tiện trong lý luận và áp dụng lý luận tùy tiện vào thực tiễn xã hội. Hệ quả đưa đến là một nước Việt Nam ‘không chịu phát triển’ như hôm nay. Môi trường đảng như thế bắt buộc tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa như giáo sư Chu Hảo phải chuyển hóa. Không chuyển hóa mới là lạ.

Sự ra đi của giáo sư Chu Hảo không làm ai ngạc nhiên. Những trí thức xã hội chủ nghĩa còn ở lại trong đảng mới đáng sự kinh ngạc.

Lý luận tùy tiện, tiền hậu bất nhất

Báo Quân đội Nhân dân, trên mục chống diễn biến hòa bình phát hành ngày 11/11/2018, có lời kết tội nghiêm túc nhất khi lý luận dựa theo theo quy định hay nội quy của Đảng cộng sản Việt Nam. Tác giả Hà Thành (2) đã viện các ‘Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam đã quy định về tiêu chuẩn đảng viên phải Tuyệt đối trung thành với mục đích lý tưởng cách mạng của Ðảng, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị của Ðảng, pháp luật của Nhà nước ; hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao ; phục tùng tuyệt đối sự phân công và điều động của Ðảng’…

Đã là đảng viên của một tổ chức đương nhiên có bổn phận phải tuân hành các nội quy của tổ chức, trừ khi đã rời bỏ tổ chức, điều này không ai chống chế được. Kể cả các tổ chức tội phạm, tống tiền, rửa tiền, khai thác cờ bạc, rượu chè, mại dâm như đảng Mafia của Ý chẳng hạn, họ cũng có những đảng quy mà đảng viên phải tuân theo. Không cứ gì Đảng cộng sản Việt Nam. Nhưng đảng quy cộng sản Việt Nam thì như thế, còn chuyện áp dụng thì đảng ta nói một đường làm một nẽo.

Nhà nước cộng sản Việt Nam là thành viên của tổ chức Liên Hiệp Quốc từ những năm 1976. Tổ chức Liên Hiệp Quốc có trên 200 thành viên với mục đích chính là cổ động hợp tác quốc tế giữa các thành viên và bảo vệ trật tự thế giới. Xương sống kết tụ mọi thành viên là Tuyên ngôn Nhân quyền Phổ cập năm 1948 trong đó yêu cầu mọi thành viên phải tôn trọng, bảo vệ và phát huy quyền con người. Những quyền đã được các thành viên long trọng ký kết tôn trọng, là quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do kết hợp thành tổ chức, tự do ứng cử và bầu cử và các quyền tự do thân thể, không bị tra tấn v.v. Báo Quân đội Nhân dân sẽ lý luận như thế nào khi chính nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam vi phạm tàn tệ những quy định này tổ chức Liên Hiệp Quốc ? Tiền hậu bất nhất, lý luận tùy tiện, há miệng mắc quai, phải đưa đến sự chuyển hóa không tránh được từ các thành viên.