Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Trí thức chính trị là những người có hiểu biết và kiến thức tổng hợp trên nhiều lĩnh vực, có lý tưởng quảng đại là phụng sự xã hội và tha nhân. Dám dấn thân tranh đấu để thay đổi và làm cho xã hội tốt đẹp hơn, có dành thời gian cho các hoạt động chính trị và nhất là có tham gia hoặc ủng hộ cho các tổ chức chính trị. Có những trí thức chính trị hoạt động độc lập, không tham gia đảng phái nào nhưng trong điều kiện đất nước chưa có dân chủ như Việt Nam thì các hoạt động cá nhân thường có tác dụng tiêu cực vì chúng cổ vũ cho các giải pháp cá nhân trong khi đất nước đang cần một giải pháp chung. Trí thức chính trị khác với trí thức khoa bảng, là những người có bằng cấp cao nhưng không quan tâm đến chính trị.

trithuc1

"Không thầy đố mày làm nên" và đó là sự thật. Trong các nghề nghiệp thì "làm chính trị" là khó nhất vì đó là chuyên môn tổng hợp của mọi chuyên môn, là kiến thức tổng hợp của mọi kiến thức.

Ông bà ta có câu "không thầy đố mày làm nên" và đó là sự thật. Làm gì cũng phải học, dù là vá xe hay hớt tóc. Trong các nghề nghiệp thì "làm chính trị" là khó nhất vì đó là chuyên môn tổng hợp của mọi chuyên môn, là kiến thức tổng hợp của mọi kiến thức. Làm chính trị rất khó khăn và có tầm quan trọng đặc biệt vì chính trị quyết định tất cả mọi vấn đề lớn nhỏ trong cuộc sống và liên quan đến mọi người. Một đất nước có những người làm chính trị tốt thì đất nước đó phát triển và ngược lại.

Người làm chính trị phải có kiến thức và tư tưởng chính trị để dẫn dắt cho các hành động, trước là của mình và sau đó là của quần chúng. Điều đáng nói và đáng ngạc nhiên nhất là trí thức Việt Nam rất xem nhẹ tầm quan trọng của tư tưởng chính trị và dự án chính trị. Đó là lý do khiến Việt Nam vẫn là một nước độc tài, nghèo khổ và chưa có dân chủ. Việt Nam tụt hậu rất xa với thế giới trong đó lĩnh vực chính trị là rõ nét nhất. Phải nói một cách đáng buồn là trí thức Việt Nam biết rất ít về chính trị, đấu tranh chính trị lại càng không.

Trí thức phải đi trước và dẫn đường cho quần chúng chứ không phải chạy theo quần chúng. Phan Châu Trinh được kính trọng vì ông đi trước thời đại mà ông đã sống. Những người đi trước thời đại luôn cô đơn vì những ý kiến mới mẻ và táo bạo. Cái gì mới cũng thế, nhưng rồi, chính những cái mới đó sẽ làm thay đổi lịch sử và cuộc sống trên trái đất này. Dù vậy, chỉ có một số ít người là thích thú và chia sẻ với cái mới còn đa số là lo sợ và e ngại. Tâm lý con người là muốn an phận và hài lòng với những gì đã biết và đang có. Những người mạo hiểm đi trước mở đường phải có một niềm tin, quyết tâm và kiến thức vượt lên trên thời đại. Đó là nhiệm vụ của trí thức chính trị. Thời nào và ở đâu cũng vậy.

trithuc2

Cách đây vài năm không ai có thể tưởng tượng rằng hãng xe ô tô điện Tesla của Elon Musk có thể vượt mặt hãng Toyota…

Những ý tưởng mới và đúng của một thiểu số nhỏ dù bị chống đối lúc ban đầu nhưng sẽ tạo ra thay đổi và buộc đa số còn lại phải thích nghi theo. Điện thoại di động hay internet là một ví dụ, chỉ 20 năm trước, chúng hoàn toàn xa lạ với chúng ta nhưng giờ đây nếu không có chúng thì cuộc sống sẽ rất buồn tẻ. Cách đây vài năm không ai có thể tưởng tượng rằng hãng xe ô tô điện Tesla của Elon Musk có thể vượt mặt hang Toyota để trở thành hãng xe có giá trị nhất thế giới, nhưng chuyện đó đã xảy ra. Lịch sử luôn tiến về phía trước bởi một thiểu số nhỏ tiên phong và dù muốn hay không thì loài người cũng sẽ bị cuốn theo dòng chảy đó. Người nào chủ động hội nhập thì sẽ có tương lai tươi sáng ngược lại người nào cố tình trì hoãn, cố thủ trong vỏ bọc an toàn của quá khứ thì sẽ bị tụt hậu và bị bỏ rơi lại đằng sau.

Trí thức luôn là tâm hồn và tiếng nói của mỗi dân tộc. Bổn phận của trí thức là đi trước dẫn đường, là "hướng dẫn và lãnh đạo quần chúng" vì vậy phải luôn chủ động đón nhận những thay đổi mới, những tư tưởng mới của nhân loại để rồi truyền đạt cho dân chúng. Trí thức phải có tinh thần dân tộc và lòng yêu nước. Trí thức không nên quá khiêm tốn mà phải lên tiếng trước hiện tình đất nước. Phải xem sự chiếm đóng của Đảng cộng sản là một xúc phạm lớn đối với cả dân tộc chứ không phải với cá nhân mỗi người.

Nếu trí thức Việt Nam có kiến thức và quan điểm rõ ràng với tư tưởng chính trị thì lịch sử Việt Nam có thể đã khác. Nếu trước năm 1945 trí thức Việt Nam bàn luận sôi nổi và có thái độ dứt khoát với chủ nghĩa cộng sản thì chúng ta đã không mắc nạn cộng sản. Trí thức Việt Nam hồi đó, ngay cả những người xuất sắc nhất cũng không dám lên án chủ nghĩa cộng sản vì nó đang là một trào lưu mạnh mẽ nổi lên khắp thế giới. Hai trí thức nổi tiếng là Trần Đức Thảo và Nguyễn Mạnh Tường không những không lên án chủ nghĩa cộng sản mà còn đi theo cộng sản để rồi bị hắt hủi và sống những ngày cuối đời trong đau khổ và dằn vặt.

trithuc3

Hai trí thức nổi tiếng là Trần Đức Thảo và Nguyễn Mạnh Tường không những không lên án chủ nghĩa cộng sản mà còn đi theo cộng sản.

Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên (Tập Hợp) là tổ chức chính trị lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ chủ nghĩa dân túy thông qua hiện tượng Donald Trump là để cảnh báo sự tác hại của nó nhằm tránh cho Việt Nam rơi vào tình trạng của nước Nga (thời Putin) hay Philippines (thời Duterte). Chúng tôi tin rằng sau chế độ cộng sản chắc chắn Việt Nam sẽ có dân chủ vì các chính trị gia dân túy không còn đất sống sau những cố gắng kiên trì và bền bỉ của Tập Hợp. Một chế độ maphia như Nga hay dân túy như Philippines hiện nay sẽ không thể xuất hiện và tồn tại được ở Việt Nam. Đó cũng là lý do khiến Tập Hợp phải có thái độ với Donald Trump trong lúc nhiều tổ chức và những người "khôn ngoan" chọn cách im lặng. Việc có lập trường rõ ràng với một nhân vật quan trọng và có ảnh hưởng như Trump là rất cần thiết và quan trọng với một tổ chức chính trị. Một tổ chức đứng đắn phải có thái độ rõ ràng trên những vấn đề liên quan đến đạo đức chính trị như một vụ giết người, kì thị tôn giáo hay chủng tộc, kêu gọi bạo lực, mị dân, dối trá...Chúng tôi thường không đưa ra ý kiến chủ quan trên các vấn đề thuần túy kỹ thuật hoặc chuyên môn như "trồng cây gì, nuôi con gì?"...Sau tháng 11 này những tổ chức chính trị không có thái độ rõ ràng với Trump sẽ mất rất nhiều uy tín.

Một lý do quan trọng khiến người Việt Nam rất khó thảo luận về chính trị là vì không có các khái niệm căn bản về chính trị (1). Ai cũng nghĩ và cho rằng mình có hiểu biết về chính trị và vì thế luôn khó chịu với những người có quan điểm chính trị khác mình. Các bài viết của tôi, có thể sẽ làm cho một số người không hài lòng, thậm chí là bực bội. Tôi biết điều đó vì các bài viết của tôi thường hay đề cập và động chạm đến những vấn đề chính trị đau nhức và khác lạ với những gì mà nhiều người đã biết, đã quen thuộc. Tuy nhiên tôi tin rằng các ý kiến đó là có chất lượng vì chúng đã được thảo luận trong nội bộ Tập Hợp.

trithuc4

Tranh đấu chính trị phải có tư tưởng chính trị và một dự án chính trị.

Thời đại của những "anh hùng áo vải" hay minh quân đã qua đi. Làm chính trị theo kiểu thủ đoạn, âm mưu, "thật thật, giả giả", "binh bất yếm trá" (chiến đấu bất chấp thủ đoạn)… cũng đã qua đi. Chính trị hiện đại đồng nghĩa với đạo đức và sự minh bạch. Nhiều người Việt Nam chưa hiểu và chưa đồng tình với điều đó vì thế đất nước vẫn chưa có được một tầng lớp trí thức chính trị đúng nghĩa. Không thể hy sinh lẽ phải, lương thiện và đạo đức để đạt được mục đích. Một lý tưởng đẹp phải nâng cao giá trị con người và phải được thực hiện bởi những phương tiện lành mạnh và trong sáng.

Muốn làm chính trị thì phải học hỏi như bao nghề nghiệp khác. Ai cũng có thể tham gia vào các hoạt động chính trị vì "chính trị là việc chung". Một người muốn hoạt động chính trị, muốn trở thành một chính trị gia thì phải có đam mê. Không có đam mê thì sẽ không đi được đến cùng vì chính trị là khô khan, trăn trở và nhiều suy tư. Tiếp theo, người làm chính trị phải có tinh thần học hỏi và cầu tiến. Môi trường duy nhất để học hỏi về đấu tranh chính trị chỉ có thể là các tổ chức chính trị có tư tưởng và viễn kiến. Các trường đại học lớn có dạy môn chính trị nhưng cũng chỉ là các kiến thức chung chứ không có trường nào dạy về "đấu tranh chính trị".

Trí thức chính trị phải có tinh thần dân tộc. Thật ra tinh thần dân tộc và lòng yêu nước của người Việt Nam là có sẵn trong lòng mỗi người vì Việt Nam là vùng đất cô lập, bao bọc bởi núi rừng và biển cả, người Việt Nam sống chung với nhau lâu nên tạo ra tình cảm quyến luyến với đất nước. Tinh thần dân tộc đó chỉ ở dạng thụ động chứ chưa phải chủ động vì khi ra nước ngoài người Việt Nam đánh mất căn cước rất nhanh. Ý thức quốc gia và tinh thần dân tộc của người Việt Nam rất thấp. Tình đồng bào, tình bạn không được coi trọng khi nhiều người sẵn sàng nổi giận và từ mặt nhau vì một người xa lạ như Donald Trump.

Lý do chính khiến tinh thần dân tộc của người Việt thấp là vì đất nước Việt Nam chưa bao giờ thực sự là của người Việt Nam. Trước đây là của các triều đại phong kiến và sau năm 1945 đến giờ là của riêng Đảng cộng sản. Nhiều người, kể cả các quan chức cộng sản đều dễ dàng chọn giải pháp bỏ nước ra đi thay vì ở lại và tranh đấu cho tương lai của đất nước. Tinh thần quốc gia chỉ mới xuất hiện tại Châu Âu vào thế kỷ 18 trong đó xem đất nước là di sản và tài sản chung của tất cả mọi người. Chúng ta đang mất nước bởi những kẻ chiếm đóng người bản xứ có tên là Đảng cộng sản.

Cuộc tranh đấu cho dân chủ là để giải phóng đất nước khỏi ách chiếm đóng của Đảng cộng sản. Bất cứ người Việt Nam nào cũng có trách nhiệm và bổn phận tham gia trong đó trí thức chính trị phải tiên phong để dẫn đường và lãnh đạo quần chúng chứ không phải chạy theo quần chúng.

Kết thúc bài viết, tôi xin trích lại lời nhắn gửi của ông Nguyễn Gia Kiểng : "Một số trí thức ưu tú đã đề cao Phan Châu Trinh, tôi chỉ có thể tán thành họ, nhưng cũng xin phép nhắc nhở rằng Phan Châu Trinh đã qua đời từ gần một thế kỷ rồi và cách tôn vinh đúng các nhà cách mạng tư tưởng không phải là làm theo họ mà là đi xa hơn họ, như họ đã đi xa hơn di sản lịch sử của chính họ" (2).

Việt Hoàng

(30/7/2020)

1. Hồng Việt, "Các khái niệm chính trị", thongluan.blog, 2016

2. Nguyễn Gia Kiểng, "Về văn hóa chính trị nhân sĩ", Phạm Thị Hoài thực hiện, 19/02/2019

Published in Quan điểm

Tồn tại chứ không phát triển không chỉ là đặc điểm của xã hội Việt Nam hiện đại mà cũng là đặc điểm của xã hội Việt Nam thời trung cổ.

trithuc1

Bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long, hay bia tiến sĩ Văn Miếu-Quốc Tử Giám

Khi tìm những nguyên nhân của hiện tượng đó chúng ta thấy trước hết do tình trạng lạc hậu lại cũng do chiến tranh đóng vai trò quá lớn chi phối đời sống cộng đồng hàng thế kỷ mà bộ phận trí thức ưu tú cần thiết, đáp ứng được nhu cầu vận động của xã hội không hình thành.

Cả những rắc rối chồng chất do lịch sử ba phần tư thế kỷ vừa qua nay để lại lẫn những khó khăn kỳ cục do hoàn cảnh thế giới phức tạp hôm nay mang tới đều chỉ có hướng giải quyết thông qua con đường tự nhiên tức là con đường đưa trí thức vào vai trò những người đạo diễn xã hội. Chuyện quá dài…

Nhưng dù thế nào việc tìm hiểu bộ mặt của trí thức Việt Nam trong lịch sử vẫn rất bổ ích.

Kẻ sĩ thời trung đại và nền giáo dục đơn sơ

Nhiều năm qua chúng ta hay nói một cách hồn nhiên rằng dân ta ham học và trong quá khứ ta có một nền giáo dục chẳng kém gì những nước khác. Bản thân tôi ban đầu cũng tin như thế, sau thực tế ngày càng thấy phải nói ngược lại.

Trong một cuốn sách lịch sử giáo dục (Roger Gal, Lịch sử giáo dục, bản dịch Lê Thanh Hoàng Dân-- Trần Hữu Đức, NXB Trẻ-- Sài Gòn, 1971), tôi thấy người ta chỉ ra rằng thật ra giáo dục là chuyện xài sang. Chỉ những đất nước giàu có mới có tiền của để chi cho giáo dục theo đúng nghĩa của nó. Khi nền kinh tế ở trình độ tiểu nông manh mún, thậm chí trình độ hái lượm, con người có mỗi việc kiếm ăn đã không làm nổi, ta chỉ có thứ giáo dục ở dạng đơn sơ, kém cỏi. Ta hay khoe, người dân quê nào ở nông thôn Việt Nam cũng sẵn sàng bớt ăn bớt mặc cho con đến học ở các thầy đồ lấy "năm ba chữ thánh hiền".

trithuc2

Các triều đại Lý Trần Lê có 47 người được phong trạng, nhưng phần lớn họ không có tên trong danh sách các tác gia nổi tiếng ở Việt Nam

Nhưng hãy nhìn kỹ vào những lớp học đó. Trường sở sơ sài. Sách vở tài liệu không có, đến bữa cơm chắc bụng cho người dạy cũng không có nốt (nhiều truyện tiếu lâm toàn ghi lại chuyện thầy đồ ăn vụng) - thử hỏi sau mấy năm theo học các ông thầy ấy, phần lớn các cậu học trò nhà quê học được gì ? Biết dăm ba chữ để đủ đọc tên mình trong khế ước văn tự thế thôi chứ làm sao hơn được ?

Sự ham học có tính cá nhân nông nổi đó chưa bao giờ kết hợp với nỗ lực của cộng đồng để xây dựng nổi cơ chế giáo dục hợp lý và một nội dung giáo dục lâu dài, có triển vọng. Đọc lịch sử, đời Lê, sau khi đánh xong giặc Minh, nhà vua lo cầu hiền tài để chọn quan lại ở cấp cơ sở. Chọn như thế nào ? Chẳng qua chỉ một số người tinh nhanh đủ chữ ghi chép và… biết làm tính (Đại Việt sử ký toàn thư).

Theo như cách nói của một tác giả trên tạp chí Văn hóa Nghệ thuật (1998) thì một nét đặc thù của trí thức Việt Nam trong lịch sử là tính cách lưỡng phân. Ông Nguyễn An Ninh, tác giả bài này giải thích :

Họ vừa là kẻ sĩ vừa là nông dân.

Khi không thể sống bằng chữ tức bằng nghề của mình, nhu cầu trí tuệ của họ bị giảm thiểu.

Những xung lực cho hoạt động trí tuệ ở họ thường xuyên bị kìm hãm. Gặp hoàn cảnh khó khăn, họ dễ bị hư hỏng. Tính cách lưỡng phân ấy là cả một ám ảnh, như ám ảnh về quê hương nghèo đói. Ta hiểu tại sao một số trí thức tỉnh táo khi đã thành đạt, vẫn không thể quên nguồn gốc của mình, cái nơi mà từ đó mình đi tới. Đây là lời dặn của Nguyễn Khuyến cho con cái :

Các con nối nghiệp cha nên biết

Nghiên bút đừng quên đậu lúa cà

Thế sao những người nông dân một nửa này vẫn miệt mài đèn sách để có ngày lều chõng khoa cử thì sao ? Việc nhồi vào óc một ít kiến thức cổ lỗ sở dĩ thu hút được toàn bộ tinh hoa nghị lực của nhiều người vì đó là con đường ngắn nhất để được gia nhập vào hàng ngũ quan chức.

Tự hào về nền giáo dục xưa, ta hay đưa dẫn chứng là trong lịch sử, các triều đại đã mở nhiều khoa thi và đã lấy được nhiều tiến sĩ, các bia tiến sĩ đó còn được đặt trong Văn Miếu. Nhưng thử hỏi trước tác của các vị tiến sĩ đó là gì hay chỉ là những bài văn mòn sáo sau khi dâng vua thì chính người viết ra nó cũng quên nó luôn.

Có thể chứng minh sự kém cỏi của nền giáo dục cổ ở một khía cạnh khác.

Nhân xem xét danh sách các tác gia văn học Việt Nam bằng con mắt thống kê, người ta đã phát hiện ra một nghịch lý vui vui (theo Tâm lý Người Việt nam nhìn từ nhiều góc độ, 2000) : Đó là nhiều nhà văn nhà thơ Việt Nam thời trước nổi tiếng mà không có tác phẩm, đây là nói những tác phẩm dày dặn, có chất lượng đáng kể, được truyền tụng về sau và trở thành một đối tượng mô tả bắt buộc của các bộ từ điển.

Từ điển Văn học Việt Nam do Lại Nguyên Ân biên soạn với sư cộng tác của Bùi Văn Trọng Cường có 276 mục dành cho tác giả trong khi chỉ có 132 mục dành cho tác phẩm. Từ thế kỷ thứ X đến hết thế kỷ XIX, tính đổ đồng, mỗi thế kỷ chỉ có 7 tác phẩm ; riêng thế kỷ XIX khá hơn, có tới 68 tác phẩm được ghi vào từ điển, nhưng số tác giả cũng lớn hơn, tới 78 người.

Cái hiện tượng cây không trái này (đúng hơn, có thể là toàn những trái chua trái héo, không cần cho ai, đời sau không ai buồn nhớ) càng thấy rõ khi nhìn vào hàng ngũ các ông trạng - chúng tôi muốn nói tới trạng chính thống chứ không phải trạng theo nghĩa dân gian.

Theo Vũ Ngọc Khánh trong cuốn Kho tàng về các ông trạng Việt Nam, thì không kể triều Nguyễn không lấy trạng nguyên, các triều đại Lý Trần Lê có tới 47 người được phong trạng. Nhưng phần lớn họ không có tên trong danh sách các tác gia nổi tiếng ở nước ta.

Ngược lại, xét chung các nhà sáng tác thơ văn, từ Nguyễn Du tới Nguyễn Đình Chiểu, từ Nguyễn Gia Thiều Phạm Thái cho tới Tú Xương, nhiều người không thuộc loại đỗ đạt cao. Riêng về biên khảo, một học giả thực thụ như Phan Huy Chú, tác giả của bộ sách đồ sộ, mang tính cách tổng kết lớn, một thứ bách khoa toàn thư là Lịch triều hiến chương loại chí, chỉ đỗ đến tú tài.

Câu chuyện người đỗ không giỏi và người giỏi không đỗ không chỉ tố cáo sự kém cỏi của hệ thống giáo dục mà còn cho thấy một phần thực chất con người của nhiều ông trạng. Họ chính là điển hình của loại học trò thuộc bài, chỉ biết tầm chương trích cú rồi làm theo những khuôn mẫu sẵn có, nói chung là những cá tính tầm thường, không có quan hệ gì tới tư duy độc lập và sự sáng tạo. Còn như muốn hiểu tại sao họ thi đỗ thì chúng ta có thể tìm đọc ngay những giai thoại về họ. Ví như trường hợp Nguyễn Giản Thanh mà trong dân gian thường gọi là Trạng Me.

Vũ Ngọc Khánh, trong sách đã dẫn, chép rằng lẽ ra ông này chỉ đỗ loại nhì (bảng nhãn), chẳng qua hôm vào yết kiến vua có cả mẹ nuôi vua ở đấy, bà này thấy Nguyễn Giản Thanh mặt mũi khôi ngô liền ngẫu nhiên hỏi : "Người này chắc là trạng nguyên ?" do đó nhà vua, vì muốn chiều lòng mẹ nuôi, lấy Nguyễn Giản Thanh làm Trạng.

Đằng sau câu chuyện vui vui, có một sự thật, ấy là xưa kia, việc phong trạng dù được đề cao trên trời dưới biển ghê gớm như vậy, vẫn mang nhiều tính cách ngẫu nhiên tuỳ tiện ; các vua chúa rất hay can thiệp vào công việc định giá, phong tặng ; các danh hiệu đôi khi chỉ là sản phẩm của những cơn nóng lạnh bất thường của họ.

Là những cường hào phất lên nắm được quyền lực, họ chỉ dùng đám kẻ sĩ nửa mùa chung quanh như một thứ thư lại để sai vặt, và ban phát các chức danh để làm sang cho vương quốc mà họ là chủ. Họ chỉ cần người trung thành chứ không cần người giỏi. Kẻ bề tôi càng tầm thường hèn hạ thì càng dễ sai bảo. Chính cái loại trạng xin trạng nhặt được như thế này lại sẽ là người thích khoe khoang trước bàn dân thiên hạ về danh vị của mình. Thói háo danh chỉ là một biểu hiện nhỏ của sự tha hoá con người -- một sự tha hoá không mạnh mẽ nhưng lại đều đều gặm nhấm cả bản lĩnh lẫn nhân cách.

trithuc3

Văn Miếu là nơi nhiều người tới cầu xin may mắn khi thi cử

Bàn thêm về giới thông thái chân đất

Bước vào giai đoạn hội nhập, gần đây, những cuộc bàn cãi xuất hiện đều đều trên mặt báo ở ta cho thấy vấn đề về giới trí thức đang là mối quan tâm chung của xã hội. Điều này có lý do chính đáng của nó.Sự trì trệ kéo dài hàng ngàn năm mà đến nay ta vẫn lĩnh đủ có một nguyên nhân sâu xa : cộng đồng không hình thành nổi bộ phận tinh hoa (elite) của mình. Một chủ nghĩa bình quân tối đa đã níu kéo tất cả lại. Có điều, không hẳn khi "ngửi" thấy tầm quan trọng của vấn đề là người ta đã nhận thức được nó đầy đủ.

Bằng chứng là nói tới trí thức, người ta thường nêu ra những yêu cầu lý tưởng đâu đâu với tầng lớp này, như đòi hỏi tính độc lập cao, khả năng phản biện để đóng góp mạnh mẽ cho xã hội, rồi từ đó đưa ra nhiều lời chê bai trong đó lời chê nặng nhất là "tư cách phò chính thống" của trí thức Việt Nam nói chung.

Tôi muốn thử đặt vấn đề theo một cách khác : liệu trong thực tế lịch sử chúng ta đã có một tầng lớp trí thức đúng nghĩa chưa ? Nếu tạm thời chấp nhận là có một tầng lớp như vậy, thì quá trình hình thành của họ có đặc điểm gì ? Tại sao họ dễ bị làm hỏng đến vậy ?

Trước 1945, những Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Kế Bính, Phạm Quỳnh, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên, các tác giả có bài thường xuyên trên Đông Dương Tạp chí, Nam phong Tri Tân Thanh Nghị…đã có ý kiến về vấn đề này mà chưa ai có dịp tổng kết.

Thời của chúng ta thì thế nào ? Trên đây tôi vừa thử nhắc lại bài "Tính chất lưỡng phân, một nét đặc thù của trí thức Việt Nam trong lịch sử" trong đó tác giả hé ra cho thấy vai trò của hoàn cảnh hình thành đã ảnh hưởng ngay tới trình độ và chất lượng thấp của trí thức Việt Nam ra sao. Dưới đây xin tiếp tục nêu thêm lớp người có cách sống lặng lẽ ngoài luồng này.

Tuy không nói ra, nhưng có vẻ như với nhiều người, kẻ sĩ Việt Nam chỉ là một loại trí thức chân đất. Một số nhà nghiên cứu gần đây đôi khi còn đi tới những khái quát cực đoan hơn.

Trong một bài viết mang tên "Tâm lý dân tộc với cuộc Cải cách hành chính hiện nay" nhà xã hội học lão thành Đỗ Thái Đồng cho rằng xã hội cổ truyền Việt Nam thiếu ba chỗ dựa cơ bản :

- Không có giai cấp quý tộc trong khi có đông đảo đám quan lại nhất thời.

- Không có tầng lớp trí thức để có được các trào lưu học thuật tư tưởng riêng. Rất hiếm thấy cái cốt cách như Lý Bạch "Thiên tử hô lai bất thượng thuyền". Học để làm quan, tuyệt đại đa số kẻ sĩ đều mộng làm quan hơn là giữ vai trò thầy đồ…áo rách.

- Không có lớp doanh nhân tung hoành về thương mại hay công nghệ trong nước cũng như ngoài nước.

Trong ba đặc điểm tôi cho là được nêu ra chính xác này, cái thứ hai liên quan đến chủ đề trí thức chúng ta đang nói.

Đáng nhắc nhở đầu tiên là trường hợp Nguyễn Trãi. Theo cách nói thông thường ông là trí thức hàng đầu của dân tộc. Nhưng bảo rằng ông là trí thức cũng đúng mà bảo rằng đây là người đứng trên đỉnh cao của bộ máy quyền lực cũng đúng. Gia nhập chính trường, vốn liếng và bản lĩnh trí thức sẵn có trong ông hoạt động theo quy luật của nhà chính trị.

Cái chết của Nguyễn Trãi là bi kịch của một quan chức chứ không phải của một trí thức. Trên nguyên tắc, ở ông đã có một sự chuyển đổi, dù không trọn vẹn. Thuần tuý hơn về trí thức phải kể loại như Chu Văn An, Nguyễn Du... và rõ hơn là Nguyễn Thiếp. La Sơn phu tử có lúc ra cộng tác với chính quyền có lúc quay về ở ẩn. Và ông ở lại trong lịch sử không phải là những đóng góp phò vua giúp nước cụ thể, mà còn là những đề nghị phải cho dịch Tứ thư Ngũ kinh thế này, phải dạy cho trẻ học thế kia...

Trong suốt trường kỳ lịch sử, bao nhiêu kẻ sĩ ở Việt Nam đều được đào tạo theo hướng như Nguyễn Trãi, kể sao hết. Còn loại như Nguyễn Thiếp quá ít, không tạo nên hiệu quả ngay lập tức nên bị chìm trong vô danh và không thể đóng vai trò dắt dẫn xã hội như giới trí thức các xứ khác. Không đạt đến chuẩn mực cần thiết. Còi cọc ốm yếu. Cấu trúc đã đơn giản lại dễ bị phá vỡ.

Những bệnh trạng loại này phải được coi là đặc điểm lớn nhất của giới có học, những kẻ sĩ trong xã hội cũ và ngày nay kêu bằng trí thức. Ngay so với tình hình bên Trung Hoa, "kiểu dáng mẫu mã" trí thức của ta cũng nghèo nàn hơn rất nhiều.

Nói Việt Nam thuở ấy không có trí thức cũng tương tự như nói Việt Nam trong thời trung đại không có thành thị, mà chỉ có những phố chợ còm nhom hiu hắt, lắt lay tồn tại giữa một bãi lầy nông thôn tăm tối.

Vương Trí Nhàn

Nguồn : BBC, 06/07/2020)

Bài đã đăng trên trang Facebook của tác giả Vương Trí Nhàn, Nhà phê bình văn học tại Hà Nội.

Published in Diễn đàn

Tôi từng nghe ở đâu đó một câu nói : ‘Trong trường hợp bạn im lặng trước kẻ gây tội ác, thì ít nhiều bạn cũng có lỗi như kẻ gây tội ác đó’. Câu nói đó luôn ám ảnh cá nhân tôi, và đó là một trong những lý do mà tôi đã lựa chọn việc dấn thân cho việc đấu tranh cho dân chủ.

Tôi không biết liệu các ‘nhà khoa bảng’, các ‘trí thức’ ở Việt nam có từng nghe qua hay một lần biết đến câu nói đó (hay những câu truyền tải nội dung tương tự) hay không ?

Cả dân tộc Việt Nam đang quằn quại. Cả đất nước này đang dần gục ngã. Chín mươi sáu triệu con người bị một nhóm nhỏ xấc xược tước đoạt mọi quyền tự do căn bản, ngang nhiên cho mình cái quyền có thể quyết định vận mệnh, cuộc sống, niềm vui và hạnh phúc… Những hậu quả nghiêm trọng mà nhóm người đó gây ra cho dân tộc Việt Nam có sự ‘góp công’ không hề nhỏ bởi sự im lặng của những người tốt và những người được gọi một cách trân trọng là ‘trí thức’ của cái xã hội này. 

Có vị nhân sĩ nói rằng, tôi đâu có làm gì sai đâu ? Chả nhẽ quyền được mưu cầu sống một cuộc sống yên ổn cũng không được hay sao mà bắt tôi phải dấn thân ? Xin thưa với những vị có suy nghĩ như vậy rằng, cái cuộc sống đó của các vị có thật sự ‘yên ổn’ không khi mà đến ngay cả không khí các vị và gia đình hít thở hàng ngày, cũng bị người ta quyết định xem là có sạch hay không chỉ bởi vài dòng trạng thái kêu gọi tấn công trên mạng ? Có yên ổn hay không khi con cái các vị ra đường đi học phải đeo khẩu trang hàng ngày, ở trường thì lo sợ bị giáo viên đánh đập, trù dập ? Có yên ổn không khi chính những thứ đảm bảo cuộc sống hàng của gia đình các vị như giá xăng, giá điện, chất lượng thực phẩm… cũng bị người ta tùy hứng quyết định ?

trachnhiem1

Các vị không những phải chịu trách nhiệm về những gì mình làm, mình nói mà còn phải chịu trách nhiệm về cả những gì mình không làm, mình không nói.

Có vị nói, tôi còn phải sống cho con cái tôi, cho gia đình tôi. Nhưng tôi xin hỏi ngược lại các vị rằng, con cái các vị ra đường là đối mặt với đủ thứ hiểm họa, từ môi trường, giao thông, xã hội đến bạo lực học đường… Cuộc đời của các vị đã phải sống trong một nền văn hóa độc tài tai ác, một chế độ hung bạo, một xã hội, nơi mà người ta tìm mọi cách đua nhau đưa gia đình chạy ra nước ngoài qua những chiếc thẻ xanh hay bất cứ phương tiện gì... Vậy các vị không mong muốn cuộc đời con cái các vị sẽ đáng sống hơn, sẽ tử tế hơn ở chính cái mảnh đất này hay sao ? Các vị đã bị chính chế độ này hà hiếp dù ít hay nhiều, cha mẹ các vị cũng thế, tất cả chúng ta đều thế, chẳng nhẽ các vị muốn chính đời con cái chúng ta cũng thế hay sao ? 

Có vị nói, có tiền sống ở Việt Nam là sướng nhất rồi, đi đâu làm gì ? Có thật thế không ? Có tiền để làm gì khi mà không khí hàng ngày để hít thở cũng không còn sạch, thực phẩm bẩn, giáo dục suy đồi điểm chác có thể mua bán, khi mà chính sự an toàn của mình cũng không được đảm bảo ? Có vị vừa nói câu đó xong thì đã phải mất tiền hối lộ cho công an, rồi lại tặc lưỡi ‘ừ thôi kệ’. Kệ một lần cũng được, kệ cả đời cũng được, tự do, dân chủ đâu có ăn được đâu ? 

Phải, dân chủ không phải một phép màu, nhưng ít nhất nó sẽ giúp các vị có thể đường hoàng sòng phẳng tìm một bữa ăn ngon lành đảm bảo, một cơ hội sống đúng với phẩm giá và năng lực của mình, hay gần gũi hơn, các vị có phát biểu ‘không khí bị ô nhiễm’ mà không sợ tên cảnh sát, hay tên dư luận viên nào gắn cái mác ‘phản động’. 

Đó là về phần các vị trí thức, các nhân sĩ, còn phía chế độ cộng sản thì sao ? 

Nếu chịu khó theo dõi và để ý tình hình chính trị, thì ai cũng thấy rằng đảng cộng sản đang dần xoay trục về phía Mỹ. Nhưng đây là một mối quan hệ nguy hiểm cho chính họ. Bản chất nô dịch của họ luôn bị giới chính trị gia Hoa Kỳ nhìn rõ. Từ việc ăn bám Liên Xô, ngả theo Trung Quốc trước kia, cho đến giờ sẽ là Mỹ. Có vẻ như giới chóp bu cộng sản đang nghĩ rằng với quan điểm chủ nghĩa thực tiễn của giới chính trị Mỹ, khi mà kinh tế, nước Mỹ là trên hết, còn nhân quyền, tự do tính sau, thì họ sẽ an toàn. 

Nhưng tôi sẽ nhắc lại một điều cho họ biết rằng, dù gì thì họ vẫn đang còn rao giảng các khẩu hiệu của một ý thức hệ đã bị cả thế giới xa lánh. Ý thức hệ là chọn lựa lâu dài. Hiển nhiên là lý tưởng cộng sản đã trở nên nhảm nhí, đó là chưa kể một điều là nó càng nhảm nhí hơn với nước Mỹ. Mỹ cũng đang gặp chính những vấn đề nội tại của họ bởi chế độ tổng thống và chính ông tổng thống đang tại nhiệm Donald Trump. Vậy thì liệu rằng nước Mỹ có là một cửa mới an toàn cho đảng cộng sản hay không ? Tôi e là không ! 

Đứng giữa một ngã ba của thời cuộc như vậy, không biết rằng các vị trí thức, nhân sĩ Việt Nam có cảm thấy có gì đó nhói trong lòng hay không ? Nếu các vị im lặng trước thời cuộc này, thì tội của các vị cũng ngang với Đảng cộng sản Việt Nam. Vì im lặng chính là đồng lõa cho đảng cộng sản ngày càng tung hoành phá nát chính đất nước của chúng ta. 

Liệu rằng các vị sẽ lựa chọn một giải pháp chung cho tất cả chúng ta, các vị sẽ dấn thân ủng hộ giới đấu tranh dân chủ ; hay là các vị sẽ vẫn im lặng và sống cuộc đời riêng của chính mình rồi để mặc cho họ hành hạ quê hương ? Câu hỏi này có lẽ tôi sẽ để cho chính các vị tự vấn lương tâm của mình mà trả lời.

Cùng nhau thực hiện và ủng hộ cho một truyện thuyết về một giấc mơ Việt Nam mới, tươi đẹp hơn, đáng sống hơn, tìm một chỗ đứng, một phẩm giá xứng đáng cho tất cả mọi người con đất Việt, cho đất nước hay là chấp nhận sống luồn lách để mặc kệ tương lai đen tối với nguy cơ giải thế quốc gia này ? Đây là lựa chọn của mỗi người nhưng cũng đồng thời là trách nhiệm của mỗi người. 

Hoa hậu thế giới Canada – Anastasia Lin có một câu nói rất hay : ‘Nếu như không có ai lên tiếng, tất cả mọi người đều sẽ chịu khổ đau. Im lặng không giúp được bất kỳ ai. Im lặng nuôi dưỡng lũ người ác’. 

Còn cá nhân tôi, tôi chỉ xin nói vài lời với các vị ‘trí thức’. Các vị không những phải chịu trách nhiệm về những gì mình làm, mình nói mà còn phải chịu trách nhiệm về cả những gì mình không làm, mình không nói. 

Việt Thủy

(10/10/2019)

Published in Quan điểm

Nhà văn Nam Cao bằng truyện ngắn "Đôi mắt" nổi tiếng đã phê phán tầng lớp trí thức "trùm chăn" thờ ơ với thời cuộc, không đi theo kháng chiến.

trithuc1

Xã hội Việt Nam đang có vấn đề thừa học hàm học vị nhưng thiếu trí thức

Giáo sư toán học Hoàng Tuỵ, khi trở thành một Trí thức nhận xét : "Chạy theo danh hão, chạy theo quyền lực, chạy theo chức tước, là căn bệnh thời đại của trí thức Việt Nam".

Có lẽ không chỉ đối với Nam Cao, Giáo sư Hoàng Tuỵ, mà còn với đa số người Việt nam, trí thức chỉ giản dị là những người có một trình độ học vấn nhất định và vì thế có trí thức tích cực, thì cũng có trí thức "trùm chăn", có trí thức chạy theo danh hão, theo quyền lực.

Đây là một sự ngộ nhận đã góp phần quan trọng gây không ít trở ngại cho sự hình thành tầng lớp Trí thức tại Việt Nam. Trí thức không chỉ là một danh từ, mà còn là

Chỉ những ai, bên cạnh các điều khác, không hề biết đến "trùm chăn", không chạy theo danh hão, theo quyền lực... mới có thể trở thành Trí thức. Không phải cứ tốt nghiệp đại học, được công nhận là nhà văn, nghệ sĩ thì đã là trí thức. Người ta chỉ có thể trở thành một Trí thức bằng những hoạt động dấn thân.

Đòi công lý cho người bị oan

Năm 1895 Tòa án nước Pháp tuyên án sĩ quan pháp binh Alfred Dreyfus tội phản quốc và phạt ông tù chung thân, dù không có chứng cứ, không chỉ ra được động cơ làm gián điệp của ông. Mặc dù vậy, đa số công chúng Pháp vẫn coi Dreyfus có tội. Sau đó người ta tìm ra tên gián điệp thực sự là Thiếu tá Esterhazy, nhưng lại được Tòa án tuyên vô tội.

Khi đó, Emile Zola - nhà văn, nhà báo và họa sĩ - đã viết thư ngỏ với tiêu đề "Tôi buộc tội" (J'accuse), lên án mạnh mẽ quân đội và chính phủ về mặt đạo đức, phê phán sắc bén những sai phạm về thủ tục tố tụng và đòi hỏi công lý cho Dreyfus.

trithuc2

Vụ Dreyfus với sĩ quan gốc do thái Alfred Dreyfus (1859-1935) ra trước tòa ở Rennes, đã làm bùng lên phong trào phản đối của trí thức Pháp bảo vệ ông.

Thư ngỏ của Emile Zola có tiếng vang lớn và thu hút hơn 2000 nhà khoa học, nhà văn, nghệ sĩ, người làm nghề tự do, ký tên vào danh sách những người yêu cầu trả tự do cho Dreyfus. Clemenceau cho công bố danh sách này trên tờ "Le Journal" ngày 23/01/1898 và lần đầu tiên ông đặt tên cho danh sách ấy là " Sự Phản đối của các Trí thức".

Sự phản đối của các Trí thức đã thúc đẩy một cuộc thảo luận toàn dân về những giá trị trừu tượng như Sự thật và Công lý, mà sau cùng đã dẫn đến ân xá và trả tự do cho Dreyfus.

Từ đó đến nay, ở rất nhiều quốc gia, khi đề cập đến vai trò của cá nhân trong sự tồn vong của dân tộc, đối với sự phát triển quốc gia, Trí thức đã trở thành một danh hiệu để chỉ những người có khả năng và sự dấn thân như những người trong danh sách "Sự phản đối của các Trí thức".

Họ là những người có khả năng phân biệt đúng sai, tốt xấu, biết dấn thân cho điều mình tin là đúng vì lợi ích cộng đồng và sự phát triển đất nước. Trí thức chính là nguồn hình thành tầng lớp ưu tú của xã hội, gồm những người được xã hội kính trọng, có ảnh hưởng rộng lớn và quan trọng mang tính định hướng cho sự hình thành các giá trị cốt lõi của xã hội, đến sự phát triển đất nước.

Nhưng cũng có nơi Trí thức được xem như tiếng chửi rủa, miệt thị. Trong chế độ quốc xã của Adolf Hitler, Trí thức được dùng để chỉ những ai chống lại Chủ nghĩa và Đảng Quốc gia Xã hội Chủ nghĩa, phải bị cô lập và loại bỏ ra khỏi xã hội.

Thông thường, để có khả năng phân biệt đúng sai, tốt xấu, người ta phải được đào tạo để có một trình độ học vấn nhất định. Nhưng không hiếm người có được khả năng đó qua kinh nghiệm sống, qua tự học, Ngược lại, nhiều người được đào tạo có bằng cấp, mà không có khả năng phân biệt ấy.

Nền giáo dục Việt Nam hiện đại, do nhiều nguyên nhân khác nhau, mà đặc biệt là do mục tiêu và triết lý giáo dục không đúng, khó có thể trang bị cho học sinh, sinh viên khả năng suy nghĩ độc lập, biết tự chủ phân biệt đúng sai, tốt xấu, mà không phụ thuộc vào ý thức hệ tư tưởng, vào các giá trị đạo đức, cũng như quan điểm chính trị chính thống.

Trí thức ra đời cùng thay đổi công nghệ và thời cuộc

Vì vậy, hầu như không có tiền đề cho sự hình thành Trí thức. Tuy nhiên, cùng với sự bùng nổ thông tin qua mạng Internet, cơ hội tự học, tự hoàn thiện bản thân ngày càng nhiều, cũng góp phần hình thành những cá nhân có khả năng phân biệt của một Trí thức.

Trí thức phân tích, đặt câu hỏi, bình luận và phê phán các sự kiện, hoạt động của xã hội trong các buổi bàn luận, tranh luận công khai để người dân biết và có thể đánh giá. Không có các buổi này, cũng không thể hình thành Trí thức.

Một đặc trưng quan trọng của Trí thức, là họ tranh luận, nói về các sự kiện, các hoạt động về cơ bản là không đụng chạm đến quyền lợi cá nhân mình. Quan điểm, cách nhìn và thái độ của Trí thức độc lập với chính quyền. Chúng có thể phù hợp, hoặc ngược lại với chính quyền.

trithuc3

Giới trẻ Việt Nam ngày nay đã có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với kiến thức của nhân loại

Nếu phù hợp, đó sẽ là một động lực quan trọng cho sự phát triển đất nước một cách sáng tạo. Nếu không, và khi bị chính quyền theo dõi, trấp áp, Trí thức sẽ trở thành những nhà đối lập.

Nói một cách khác, Trí thức vừa là người tạo ra các giá trị tư tưởng, vừa là người phê phán chúng ; vừa là người ủng hộ chính quyền, vừa là người đối lập.

Nhưng, tự bản chất của mình, Trí thức thực thụ không bao giờ là mối nguy hiểm cho xã hội, không bao giờ là người phản bội tổ quốc.

Những Trí thức có thể hình thành một mối quan hệ đặc biệt và không chính thức với nhau để hình thành một nhóm, một cộng đồng Trí thức.

Nhưng đó là phải là một cộng đồng hình thành trên cơ sở tuyệt đối tự do, tự nguyện và không ràng buộc.

Các tổ chức, Hiệp hội đặt dưới sự lãnh đạo của một đảng cầm quyền, của chính quyền, hoặc có lãnh đạo là các cán bộ đảng, chính quyền về hưu, không thể là cộng đồng có thể hình thành Trí thức, hay bảo đảm được sự hoạt động của Trí thức.

Sự dấn thân của Trí thức thể hiện trước hết ở lòng dũng cảm và bằng mọi cách nói lên những vấn đề xã hội quan tâm hoặc cần phải quan tâm, dù có thể nghịch tai nhà cầm quyền.

Khi truyền thông chính thức không có chỗ cho những buổi tranh luận công khai, khi phải trình bày ý kiến của mình trong khuôn khổ một tổ chức chính thống, theo một gợi ý bắt buộc về nội dung, người Trí thức chắc chắn sẽ tìm đến những khả năng khác.

Ngày nay, sự kết nối dễ dàng - và không thể ngăn chặn - với các trang mạng xã hội, các tổ chức truyền thông quốc tế, đã tạo ra những diễn đàn thuận lợi cho hoạt động của Trí thức ở bất kỳ quốc gia nào.

Chúng ta gọi các sinh viên mới tốt nghiệp, nhà văn, nghệ sĩ trẻ,...là trí thức, trong khi họ chưa thể là Trí thức ; gọi các nhà khoa học trưởng thành, văn nghệ sĩ "cây đa, cây đề" là trí thức, trong khi thiếu hẳn các điều kiện xã hội, các buổi tranh luận tự do, công khai, để họ có thể trở thành Trí thức.

Nhưng lại trông đợi, hy vọng và đòi hỏi họ phải có đầy đủ những giá trị và tác động tích cực của một Trí thức đúng nghĩa. Đó là một nghịch lý không thể chấp nhận, không thể tiếp tục dung dưỡng.

Muốn xây dựng được một xã hội văn minh dân sự, một đất nước phát triển mạnh mẽ bằng sức sáng tạo, chúng ta sẽ phải cần Trí thức. Nhưng, người ta không thể đào tạo Trí thức, mà chỉ có thể tạo điều kiện để hình thành Trí thức.

Ở Việt Nam, ngoài việc phải cải tổ một cách căn bản hệ thống giáo dục và quan niệm đúng đắn về Trí thức, có lẽ chỉ cần loại bỏ những rào cản, trở ngại, hiện đang không khuyến khích sự xuất hiện Trí thức, đồng thời cần minh định rõ : Trí thức không phải là nguyên nhân gây bất ổn xã hội, là mối nguy hiểm cho chế độ.

Nguyễn Vân Nam

Nguồn : BBC, 02/09/2019

Luật sư Nguyễn Vân Nam, giáo sư đại học Humboldt, Cộng hòa Liên bang Đức. Hiện ông đang sống và làm việc ở Thành phố Hồ Chí Mịnh.

Published in Diễn đàn

Sự việc Đại học Đông Đô tại Hà Nội buôn bán văn bằng giả hiện đang gây xôn xao dư luận những ngày gần đây.

loan1

Trường Đại học Đông Đô. Nguồn : vietnamnet.vn

Cần bằng cấp hơn năng lực

Cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an đã quyết đinh khởi tố bị can, bắt tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú và khám xét chỗ ở của 4 thành viên trường Đại học Đông Đô về tội ‘Giả mạo trong công tác’. Những người này bao gồm Hiệu trưởng Dương Văn Hòa ; Phó trưởng phòng đào tạo và quản lý sinh viên - ông Trần Ngọc Quang ; cùng 2 cán bộ là bà Lê Thị Lương và Phạm Vân Thùy.

Theo truyền thông trong nước, bốn người nêu trên đã cung cấp bằng đại học chính quy nhưng không cần tham gia học cho những người cần văn bằng, chứng chỉ ngoại ngữ để hoàn thiện hồ sơ cán bộ như nâng lương, nâng ngạch, thăng hạng, thi vào biên chế…

Đáng tiếc là hàng ngàn người đang sử dụng những tấm bằng giả của Đại học Đông Đô lại đang có mặt đâu đó trong hệ thống công quyền Việt Nam. Và không chừng, ngay trong bộ máy quan chức hiện nay cũng có thể có những tiến sĩ, giáo sư được thăng hàm nhờ những bằng cấp giả đó. Trong khi đó, tại Hội nghị tổng kết năm học 2018/2019, triển khai nhiệm vụ năm học 2019/2020 của ngành giáo dục vừa được diễn ra hôm 6 tháng 8, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã phát biểu : "Muốn chuyển biến đất nước, phát triển ngành, địa phương một cách bền vững thì giáo dục và đào tạo phải đi trước".

Trao đổi với Đài Á Châu Tự Do, thầy giáo Đỗ Việt Khoa nói rằng, không riêng gì trường Đông Đô mà nhiều trường khác cũng có hình thức liên kết đào tạo đại học tại chức, cấp phát bằng hết sức dễ dãi, đại bộ phận là văn bằng 2, văn bằng tại chức, thậm chí đi học qua loa vài buổi rồi cấp bằng. Tình trạng này rất nghiêm trọng ở Việt Nam, ảnh hưởng nhiều đến nền giáo dục, xã hội.

Còn theo Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc, người đứng đầu trường đại học đã có những việc làm phi pháp như vậy thì giáo dục còn gì để bàn. Ông giải thích, sự việc trường Đại học Đông Đô bị phanh phui không phải là mới, nhưng đã phản ảnh phần nào đến tình trạng lạm dụng bằng cấp, được xem là rất cần thiết trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội.

"Ở Việt Nam quá chuộng bằng cấp nên người ta bằng mọi giá phải có được bằng cấp mà không có thước đo chuẩn mực năng lực thật sự liên quan đến bằng cấp ấy. Gần như cơ quan nào cũng muốn đánh giá cán bộ của mình chủ yếu thông qua hệ thống bằng cấp, mà không quan trọng năng lực phục vụ xã hội thế nào. Vấn đề này nằm trong bộ máy công chức".

Theo thông tin đăng tải trên trang điện tử của báo Công an nhân dân, hiện những người đang sử dụng văn bằng 2 của trường Đại học Đông Đô có 5 trường hợp nộp vào các đơn vị đào tạo như Học viện Báo chí – Tuyên truyền, Học Viện Khoa học Xã hội, có những người là cán bộ chủ chốt trong các cơ quan ở Hà Nội… Hầu hết những người này đều có học vị thạc sĩ và nghiên cứu sinh.

Đáng chú ý, nhiều người còn làm trong bộ máy nhân sự của trung ương, nơi cung cấp các nhân viên cho hệ thống lãnh đạo cấp phường, xã...

Từ góc nhìn của một người dân, anh Minh hiện đang sống ở Sài Gòn nói với truyền thống rằng, cứ theo kiểu ‘cha truyền con nối’, ‘con ông cháu cha’ và sử dụng các mối quan hệ để thăng tiến trong bộ máy nhà nước như hiện nay thì cán bộ chẳng dại gì tốn công ngồi trong lớp học như những người chính quy đàng hoàng. Họ chỉ cần lo lót bằng giả là xong, và nghiễm nhiên vị trí lãnh đạo sẽ thuộc về họ. Dù biết thực trạng như vậy, nhưng anh vẫn bày tỏ sự thất vọng :

"Chính những người không có bằng cấp lãnh đạo như vậy nên Việt Nam biết bao nhiêu vụ giờ phanh phui ra nhiều. Nói chung kể về vấn đề này rất dài dòng, bức xúc. Nói tóm lại anh thấy những ông chủ chốt ở Việt Nam toàn nhờ gì đâu đi lên, chứ thực tài ít người, hiếm, cũng có nhưng chỉ đếm trên đầu ngón tay, nên phát biểu gì đa số bị (dân) chửi".

Xác nhận thực tế này, thầy Đỗ Việt Khoa nói rõ :

loan2

Một tấm văn bằng 2 ngôn ngữ bị cơ quan công an thu giữ - Nguồn : Công an cung cấp

"Nhiều lãnh đạo tại các địa phương đa số là đại học tại chức hoặc sau đó đi học thêm bằng lý luận chính trị cao cấp xong rồi làm lãnh đạo. Còn những người giỏi thật sự đã không vào được cấp đó. Không thấy Chủ tịch tỉnh, Bí thư tỉnh nào ở nước này có bằng chính quy, có trình độ đại học. Đây là một thực trạng ở Việt Nam, mua bán bằng, hợp pháp hóa bằng.

Nghiêm trọng nhất là gần đây chính phủ có những chính sách công nhận bằng tại chức và bằng chính quy có giá trị như nhau, bổ túc và trung học phổ thông cũng có giá trị bằng nhau. Đấy là một cách có lẽ những đối tượng quan chức được hưởng lợi sẽ có lợi vô cùng để họ hợp pháp hóa. Tình hình cho thấy trình độ lãnh đạo của Việt Nam thấp, không thể chối cãi được".

Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc lý giải việc để cho những người không có thực tài đứng đầu cơ quan công quyền sẽ gây ra phản ứng dây chuyền :

"Những người lãnh đạo không những trình độ thấp mà phẩm chất đạo đức xấu thì tất nhiên người ta sẽ sử dụng những loại người như thế. Dẫn đến phản ứng dây chuyền tạo ra một chuỗi các tác động tiêu cực trong xã hội".

Dân trí cao là vấn đề hãnh diện của một đất nước nhưng tại Việt Nam theo thống kê mới được công bố hôm 6 tháng 8 thì tỉ lệ người học đại học ở Việt Nam là 28,3%, thấp hơn nhiều so với Thái Lan (49,3%) ; Nhật Bản (63,3%), Hàn Quốc (93,8%) hay Mỹ (88,8%).

Thực dụng hay thực tài ?

Đối với những sai phạm trong việc cung cấp văn bằng giả của trường Đại học Đông Đô, Luật sư Nguyễn Văn Hậu, Phó Chú tịch Hội Luật gia thành phố Hồ Chí Minh nhận định cần phải xử lý nghiêm các cán bộ quan chức có hành vi vi phạm pháp luật mua bằng giả của trường đại học này.

Với kinh nghiệm luật sư lâu năm, ông Hậu cho rằng 4 nhân viên trường Đại học Đông Đô sẽ bị xử phạt từ 10 năm trở xuống, tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội :

"Làm giả tài liệu và con dấu của cơ quan tổ chức bị phạt 100 triệu và phạt từ từ 6 tháng – 2 năm. Đó là khung thứ nhất. Nếu hoạt động có tổ chức thì khung hình phạt có thể từ 2-5 năm tù. Riêng với các đồng phạm cũng có thể bị xử lý về mặt hình sự với vai trò như một người giúp sức để thực hiện hành vi đó thì pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Bộ Luật hình sự cũng xử phạt tương ứng với mức hình phạt như vậy".

Bên cạnh đó, những người mua bằng giả nếu bị bắt thì cũng bị xử lý theo pháp luật Việt Nam hiện nay :

"Nếu lừa dối các cơ quan, tổ chức khác, làm giả tài liệu, con dấu, với vai trò của họ thì thấp nhất là 6 tháng – 3 năm tù, mức thứ hai là từ 2-5 năm tù. Người phạm tội này sẽ bị cấm đảm nhiệm chức vụ trong lĩnh vực họ làm, tịch thu toàn bộ tang vật, phương tiện nếu vi phạm hành chính, bị cấm làm nhiệm vụ từ 1-5 năm".

Theo Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc, việc tuyển chọn nhân sự tại Việt Nam rất dễ gặp vấn đề với văn bằng giả. Ví dụ trường hợp những nghề không cần đến ngoại ngữ nhưng người ta đưa ra yếu tố phải có ngoại ngữ, hay những bằng cấp liên quan đến ngành nghề mang tính thực tiễn rất thấp như lý luận… tạo ra một nhu cầu giả, dẫn đến chất lượng giả.

"Bên cạnh việc rà soát hệ thống giáo dục, cần xây dựng hệ thống giá trị tuyển chọn, thường xuyên giám sát kiểm tra, thẩm tra chất lượng xem những đầu tư vào việc học ấy có cần thiết phục vụ trực tiếp mà người đó đảm nhận hay không, nhất là hệ thống công chức".

Do đó, ông Dương Trung Quốc cho rằng các cơ quan tuyển dụng cần lấy thực tiễn làm thước đo, không nên quá chú tâm vào bằng cấp. Vì để kéo đủ tiêu chuẩn theo quy định, người ta sẵn sàng đi mua bằng hoặc bằng giả, chất lượng không có. Cuối cùng, Việt Nam có một đội ngũ có rất nhiều học hàm, học vị, bằng cấp nhưng chất lượng phục vụ, chất lượng thực hành rất kém.

Nguồn : RFA, 07/08/2019

Published in Diễn đàn

Đảng cộng sản Việt Nam dù rất bối rối và đang gặp khủng hoảng một cách trầm trọng, thời cơ dân chủ hóa đất nước rất gần, dù vậy phong trào dân chủ Việt Nam vẫn không đạt được tầm vóc và tiếng nói đáng ra phải có. Vì sao lại như vậy ?

Có nhiều lý do. Lý do quan trọng nhất đó là trí thức Việt Nam vẫn chưa ủng hộ cho dân chủ, cụ thể là chưa tham gia hoặc lên tiếng ủng hộ cho các tổ chức đối lập.

danchu1

Anh em chúng tôi còn một mong muốn nữa đó là cố gắng khơi nguồn cảm hứng cho một "Giấc mơ Việt Nam".

Tất cả vấn đề nghiêm trọng nhất tại Việt Nam hiện nay (ví dụ việc cưỡng chế đất đai của người dân tại Thủ Thiêm, Lộc Hưng, các BOT bẩn…) đều xuất phát từ thể chế chính trị. Muốn thay đổi thì phải có các "giải pháp chính trị" và các giải pháp đó chỉ có thể đến từ các tổ chức chính trị khác ngoài đảng cộng sản. Đảng cộng sản Việt Nam còn độc quyền thì họ sẽ không thay đổi mà muốn họ thay đổi thì phải có sức ép và cạnh tranh từ các tổ chức đối lập.

Phải có cạnh tranh chính trị thì mới có công bằng, minh bạch và lẽ phải. Trí thức Việt Nam chắn chắn hiểu điều đó nhưng tại sao họ không ủng hộ cho các tổ chức chính trị đối lập ?

Lý do đầu tiên mà ai cũng rõ đó là Sợ. Sợ là đương nhiên và đôi lúc cũng phải biết sợ. Vấn đề ở đây là sợ cái gì và sợ khi nào ? Nên sợ cái đúng và lẽ phải, không nên sợ cái sai trái và bất công. Bản thân tôi không bao giờ uống rượi khi lái xe vì tôi sợ vi phạm luật pháp và sợ gây ra tai nạn. Nhưng lên tiếng chống lại sự bảo thủ, lạc hậu và độc tài của cộng sản tôi lại không sợ vì tôi biết việc mình làm là đúng. Trong khi đó với đa số đàn ông Việt Nam thì lái xe nhưng vẫn uống rượu (nhiều ít tùy từng người, từng lúc) nhưng khi đụng đến việc phê phán chính quyền là họ tránh ngay lập tức.

Đáng nói hơn nữa là có những người không sợ. Họ vẫn lên tiếng, thậm chí gay gắt chỉ trích chính quyền và bị chính quyền bỏ tù nhưng sau đó họ vẫn quay lại vuốt ve, tâng bốc chính quyền những điều không hề có và nói những điều không nên nói hoặc năn nỉ những điều mà họ thừa biết là không bao giờ nhận được...

Lý do mà chúng ta thường nghe nhiều trí thức Việt Nam thanh minh cho việc chọn lối hoạt động nhân sĩ là vì họ muốn "độc lập" vì như thế mới là "khách quan". Điều này hoàn toàn ngụy biện. Tôi tin là phần đông trong số họ nếu được vời ra làm quan thì họ sẽ nhận lời ngay lập tức. Từ thời chính phủ Trần Trọng Kim, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Hồ Chí Minh… đều đã thế thì giờ cũng sẽ vậy thôi. Thực tế là đa số họ ngồi chờ, đánh bóng tên tuổi, hy vọng một lúc nào đó, hay một chế độ mới sẽ mời họ ra làm quan chứ không hẳn hoàn toàn "khách quan" như họ nói.

Tâm lý chờ thời, giấc mộng "phò chính thống" của đa số trí thức Việt Nam rất nhỏ mọn và tầm thường vì chỉ nghĩ đến bản thân mình mà sẵn sàng hy sinh danh dự, lương tâm lẫn trí tuệ. Đây là thái độ hèn nhát, trốn tránh trách nhiệm, bất lương cần phải nhận diện và lên án. Nên nhớ rằng trí thức luôn là đại diện cho tiếng nói, tâm hồn và trí tuệ của mỗi dân tộc. Người dân Việt Nam không ngẩng mặt lên được vì trí thức Việt Nam luôn cúi đầu.

Tư duy của trí thức Việt Nam ảnh hưởng rất lớn bởi văn hóa nô lệ của Khổng giáo. Mộng ước của trí thức Việt Nam ngày nay (cũng như tầng lớp sĩ phu ngày xưa) vẫn là có được bằng cấp cao, được chính quyền trọng dụng… Ước mơ này đồng nghĩa với việc được làm công cụ cho chính quyền, cho kẻ cai trị để được "ăn trên ngồi trước" thậm chí là ngồi lên đầu nhân dân. Nhiều người về hưu rồi vẫn giương ra những chức vụ mình từng có, từng giữ như là niềm tự hào vì từng được làm… nô tài cho đảng. Đây là một "di sản" độc hại từ lịch sử, từ văn hóa Nho giáo mà trí thức Việt Nam được thừa hưởng từ Trung Quốc.

Xuất phát từ tâm thế nô lệ đó, trí thức Việt Nam không hề có bất cứ một ước mơ gì cao đẹp ngoài những thứ tầm thường như nói ở trên. Chính vì lẽ đó mà dân tộc Việt Nam cũng không có ước mơ gì lớn lao. Một dân tộc không có ước mơ là một dân tộc không có tương lai và không thể nào vươn lên được. Nếu không mơ về một chân trời tươi sáng và tự do, không tin vào những điều tốt đẹp của tương lai thì làm sao mỗi người, mỗi dân tộc có được động cơ để cống hiến và làm việc ?

Chúng ta đều nghe nói đến "Giấc mơ Mỹ" (American dream). "Giấc mơ Mỹ" đã mang lại một niềm tin mãnh liệt về một tương lai tự do và tươi sáng ở phía trước cho tất cả người Mỹ và những ai muốn tìm đến đây lập nghiệp và sinh sống. Chính nhờ "giấc mơ" này mà nước Mỹ, đất nước của những người di dân, của những người đi tìm "giấc mơ" đã phát triển rực rỡ và bỏ qua tất cả các phần còn lại trên thế giới. Không phải người dân Mỹ nào cũng đạt được giấc mơ của mình nhưng nếu không có giấc mơ đó thì họ không thể nào giàu có và thành công như bây giờ. Tập Cận Bình cũng đang kêu gọi và hứa hẹn về một "giấc mơ Trung Hoa" để động viên và gắn kết người dân Trung Quốc.

"Giấc mơ" của người Việt Nam thật buồn. Gần 100 năm trước, Chế Lan Viên viết :

Chúng con ngủ trong giường chiếu hẹp

Giấc mơ con đè nát cuộc đời con…

100 năm sau, "giấc mơ con" đó vẫn không thay đổi bao nhiêu. Trên trường quốc tế, Việt Nam đứng cuối cùng trong danh sách các quốc gia có đóng góp cho nhân loại. Trong nước, giấc mơ của đa số người Việt chỉ là "mơ về ngôi nhà và những đứa trẻ", tiếp đến là làm giàu, ăn nhậu và du lịch. Tất nhiên đây chỉ là nói về số đông, cần ghi nhận sự chia sẻ và dấn thân của các nhóm và tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam thời gian qua, những việc làm của họ là vết son và điểm sáng thắp lên hy vọng cho xã hội Việt Nam.

danchu2

Chim bồ câu tung cánh : Biểu tượng của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Sự ra đời và có mặt của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên (Tập Hợp) cho đến giờ, ngoài nhiệm vụ tranh đấu dân chủ hóa đất nước thì anh em chúng tôi còn một mong muốn nữa đó là cố gắng khơi nguồn cảm hứng cho một "giấc mơ Việt Nam". Đó là giấc mơ chung cho tất cả 90 triệu người dân Việt Nam mà chúng tôi gửi gắm trong Dự án chính trị Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai, chương 8 : "Chung một giấc mơ Việt Nam" (2). Bản thân Dự án chính trị này cũng là một "giấc mơ" và "giấc mơ giữa ban ngày" đó hoàn toàn có thể trở thành sự thật nếu được đa số người Việt Nam chia sẻ và ủng hộ.

Anh em trong Tập Hợp khác với nhiều trí thức Việt Nam vì chúng tôi đã "chọn phe" đứng về phía người dân Việt Nam, xác định cho mình một vị thế rất rõ ràng đó là đối lập với Đảng cộng sản Việt Nam.

Chúng tôi không chơi trò "đu dây" hay "đi hàng hai" như một số trí thức "bất đồng chính kiến". Nhiều người trong số họ vẫn đang chơi trò "đu dây" như Đảng cộng sản, Đảng đu dây giữa Trung Quốc và Mỹ (Phương Tây) còn trí thức Việt Nam đu dây giữa chính quyền và người dân. Một mặt tỏ ra đứng về phía người dân, mặt kia vẫn muốn van xin, năn nỉ và vuốt ve chính quyền. Trong khi ngay cả bản thân Đảng cộng sản Việt Nam đang ngày càng kiên quyết "thanh lọc đội ngũ" bằng cách khai trừ những đảng viên khác biệt chính kiến mà vụ khai trừ đảng ông Chu Hảo hay nhà nghiên cứu về Biển Đông Trần Đức Anh Sơn là ví dụ.

Đảng cộng sản Việt Nam buộc các đảng viên phải chọn phe, hoặc là phe đảng hoặc là phe dân. Trong giai đoạn 2011-2017 đã có 50.938 đảng viên bị xóa tên và khai trừ khỏi đảng (1). Mới đây ông Nguyễn Phú Trọng cũng tuyên bố rất rõ rằng "Không cho phép ai làm trái cương lĩnh, quan điểm, chủ trương và đường lối của đảng". Đã đến lúc vạch ra một ranh giới rõ ràng : Họ là họ mà ta là ta. Họ làm việc của họ, ta làm việc của ta. Không nên mất thời giờ và quan tâm đến những việc vô ích như viết kiến nghị, xin xỏ, năn nỉ hay vuốt ve chính quyền.

Trí thức Việt Nam phải ủng hộ hoặc tham gia vào việc xây dựng một lực lượng chính trị cho chính mình. Đúng là việc này không dễ nhưng vẫn có thể làm được nếu có quyết tâm và thiện chí. Một cách dễ nhất là nên tìm hiểu kỹ các tổ chức đối lập đã có sẵn và ủng hộ cho tổ chức đó. Tuy nhiên trí thức Việt Nam với tâm thế "nô lệ" nên một mặt, không dám tự mình đứng ra thành lập các chính đảng mới hoặc cũng có thể vì họ nhận ra rằng xây dựng một tổ chức chính trị dân chủ là không hề dễ dàng. Mặt khác, vì văn hóa nhỏ mọn và ích kỷ thừa hưởng từ Khổng giáo khiến họ không muốn ủng hộ cho các tổ chức chính trị sẵn có vì họ cho rằng nếu tham gia vào một tổ chức như vậy thì họ sẽ mất đi vai trò và tiếng nói của mình. Họ thà làm một "bại tướng" nhưng được nhiều người biết đến còn hơn là làm một "sĩ tốt" trong một tổ chức nào đó. Họ làm ngược lại câu nói "thà làm một người lính trong đoàn quân thắng trận còn hơn làm một viên tướng trong đoàn quân bại trận".

Một lý do nữa khiến trí thức Việt Nam không ủng hộ cho các tổ chức đối lập hiện nay có lẽ là vì các tổ chức đối lập không thể ban phát cho họ quyền lợi và danh vọng chăng ? Có người hỏi chúng tôi tại sao không thấy Tập Hợp đặt ra các ban bệ và chức vụ như các tổ chức chống cộng khác ở hải ngoại ? Đúng là có những tổ chức không chỉ hải ngoại mà cả trong nước, chưa có người, chưa có bất cứ một sự chuẩn bị hay phương tiện gì nhưng việc đầu tiên họ làm là đặt ra các chức danh. Ở Mỹ có những tổ chức "hữu danh vô thực" không làm gì nhưng lãnh tụ tự phong cho mình làm "tổng thống Đệ tam Việt Nam Cộng hòa" như ông Đào Minh Quân…

Sở dĩ Tập Hợp không đặt ra các chức danh là vì chúng tôi quan niệm rằng "tham gia vào một tổ chức chính trị là để cống hiến và hy sinh cho một lý tưởng cao đẹp" chứ không phải để mưu cầu danh lợi như nhiều trí thức Việt Nam nghĩ. Sau này nếu tình hình bắt buộc phải đảm nhận một công việc cụ thể nào đó, khi đó chúng tôi sẽ phân công nhau để làm việc và chúng tôi cũng chỉ xem đó là một bổn phận, một nghĩa vụ thay vì là đặc ân. Hơn nữa, một tổ chức đối lập chỉ là con số không cho đến khi được người dân bầu chọn làm đảng cầm quyền. Là con số không thì có gì để bày ra các chức vụ ảo rồi tranh dành nhau và dẫn đến đỗ vỡ.

Cách đây ba năm một nhóm nhỏ thành viên của Tập Hợp tiến hành một cuộc "đảo chính" nội bộ, họ cũng chất vấn như vậy, đại loại là sao không đặt ra các ban bệ, chức danh hay "hành động" này nọ ?… Có người lầm tưởng họ là quan trọng nhưng thực sự là không phải như vậy. Cũng có người có tham vọng cá nhân quá lớn, họ không ý thức được rằng làm chính trị là để cống hiến cho một lý tưởng quảng đại. Muốn thành công cá nhân thì nên kinh doanh. Sau một thời gian những người còn lương tri chấp nhận bỏ cuộc và rút lui lặng lẽ, một số người thì không chịu chấp nhận sự thật, họ cay cú và đổ lỗi thất bại của họ cho người này người kia và rồi chính họ làm khổ họ. Khi tâm trí bất an thì còn làm gì được nữa.

Điều lo lắng thầm kín của những người cho rằng mình sẽ không được trọng dụng trong một tổ chức đối lập chứng tỏ sự thiếu tự tin của họ vào chính bản thân. Lo lắng lớn nhất của Tập Hợp trong tương lai, khi lịch sử sang trang là không có người để làm việc. Một tổ chức chính trị đúng nghĩa chỉ có thể hình thành và phát triển trong lúc khó khăn, khi chưa trở thành đảng cầm quyền. Giả sử Tập Hợp trở thành đảng cầm quyền thì sẽ có hàng trăm hàng, ngàn người mong muốn được tham gia nhưng khi đó khó khăn cho chúng tôi là không biết ai thật lòng, ai cơ hội. Ngày xưa ông Ngô Đình Diệm phải dùng những người quen biết để làm việc vì ông được đưa lên cầm quyền, ông không có tổ chức và đội ngũ nên không biết tin ai, dùng ai. Chính phủ của ông Trần Trọng Kim cũng vậy, dù tất cả các thành viên chính phủ đều là những trí thức hàng đầu Việt Nam lúc đó nhưng họ không phải người cùng một tổ chức, họ chưa từng sinh hoạt với nhau nên họ không hiểu nhau, không biết phải làm gì và làm như thế nào, cuối cùng họ bị một tổ chức khủng bố… có tổ chức cướp mất chính quyền.

Thiếu kiến thức về chính trị, vô lễ với chính trị khiến trí thức Việt Nam không nhận thấy rằng lịch sử đang sang trang. Vai trò lịch sử của Đảng cộng sản Việt Nam đang sắp chấm dứt. Đất nước cần được tổ chức và sắp xếp lại một cách hợp lý và đúng đắn để những người có khả năng được đặt vào đúng vị trí của mình. Đất nước rồi sẽ hồi sinh và vươn lên. Trí thức Việt Nam nên tham gia vào tiến trình dân chủ hóa đất nước một cách chủ động và thật lòng thay vì ngồi đợi và mơ về những thứ phù du và nhảm nhí như công danh, quyền lực...

Việt Hoàng

(14/03/2019)

-------------------

1. https://motthegioi.vn/thoi-su-c-66/chinh-tri-c-93/giai-doan-2011-2017-50938-dang-vien-bi-xoa-ten-12499-dang-vien-bi-khai-tru-103475.html

2. Chung một giấc mơ Việt Nam

Nước ta có khả năng trở thành một nước lớn và giàu mạnh nếu động viên được mọi trái tim, mọi khối óc, mọi bàn tay trong sự nghiệp xây dựng tương lai chung. Tuy vậy thực tế đáng buồn là ngày hôm nay chúng ta vẫn còn đang phải đấu tranh cam go để có được điều mà hầu hết các dân tộc đã có : dân chủ.

Cuộc đấu tranh đã dài hơn chúng ta mong muốn vì ngoài những khó khăn đã được nhận diện còn thêm một lý do khác : đây là cuộc đấu tranh hoàn toàn mới trong lịch sử nước ta. Từ trước đến nay chúng ta đã chỉ có những cuộc nội chiến tranh giành quyền lực giữa các thế lực thống trị, hay những cuộc chiến chống ngoại xâm mà mục đích, xét cho cùng, cũng chỉ là để đổi một ách nô lệ ngoại bang lấy một ách nô lệ bản xứ. Chúng ta chưa bao giờ là một dân tộc tự do. Lần này chúng ta chiến đấu để mở ra cả một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên thứ hai của lịch sử nước ta, kỷ nguyên của những con người Việt Nam tự do và của một nước Việt Nam dân chủ.

Đó là cuộc chiến đấu để đưa người Việt Nam và đất nước Việt Nam từ bóng đêm của nô lệ và nghèo khổ sang ánh sáng của tự do và phồn vinh. Lần đầu tiên chúng ta có một cuộc chiến đấu thực sự xứng đáng để chiến đấu. Như vậy những con người Việt Nam hôm nay cần ý thức rằng họ đang đứng trước cơ hội để tạo ra biến cố lịch sử lớn nhất và vinh quang nhất, cơ hội mà các thế hệ mai sau sẽ không thể có.

Thử thách trước mặt chúng ta tuy rất lớn, nhưng hy vọng thôi thúc chúng ta còn lớn hơn bởi vì cuộc chiến đấu này không chỉ xứng đáng và vinh quang mà còn tất thắng. Chúng ta được chuyên chở và thúc đẩy bởi cả một làn sóng dân chủ toàn cầu và bởi nguyện ước chung của một dân tộc đã dần dần hồi phục sau những thương tích. Chúng ta đang được tiếp viện của cả một thế hệ mới đã tự khai phóng và quyết tâm làm những con người tự do. Đằng sau những trở ngại là cả một tương lai rực sáng.

Chúng ta nhất định thành công. Dân tộc Việt Nam đã thức tỉnh sau khi đã phải trả giá rất đắt cho hận thù và chia rẽ, cho óc độc quyền lẽ phải, cho sự cuồng tín và tôn thờ bạo lực. Chúng ta đã hiểu bằng máu và nước mắt và đã chấp nhận trong da thịt những giá trị giản dị nhưng mầu nhiệm như tự do, dân chủ, hòa bình, công lý, bao dung, cố gắng. Chúng ta đã nhuần thấm tình dân tộc nghĩa đồng bào trong sự tủi nhục chung vì thua kém. Chúng ta đã nhận ra rằng tất cả mọi người Việt Nam đều ràng buộc với nhau trong một số phận chung. Chúng ta đang có một đồng thuận dân tộc lớn nhất kể từ ngày ông cha mở nước. Đồng thuận ấy sẽ là vũ khí vô địch giúp chúng ta vượt mọi trở ngại.

Bài học lớn nhất của lịch sử thế giới là một dân tộc muốn vươn lên chỉ cần ba yếu tố: một xã hội tự do, những con người cần mẫn và đồng thuận dân tộc. Chúng ta là một dân tộc cần mẫn đã có đồng thuận dân tộc và sắp có tự do. Chúng ta sẽ vươn lên. Chúng ta có quyền lạc quan trong cuộc hành trình về tương lai.

Lạc quan và hãnh diện vì cuộc đấu tranh của ta trong sáng. Nó không nhắm tiêu diệt hay hạ nhục một ai, nó là cuộc đấu tranh để tôn vinh mọi người, tôn vinh quyền làm người và quyền được hưởng hạnh phúc như một dân tộc lớn mà dân tộc ta rất xứng đáng để có.

Chế độ độc tài này sẽ là chế độ độc tài cuối cùng tại Việt Nam. Rũ bỏ được nó chúng ta sẽ vĩnh viễn đi vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của tự do, dân chủ, bao dung, đùm bọc, kỷ nguyên vinh quang của những cố gắng chung và của thành công chung.

Chúng ta hãy nắm tay nhau cùng cất cao một lời nguyền :

Nước Việt Nam sẽ là một nước lớn.

Làm người Việt Nam cho tới nay đã là một điều bất hạnh thì làm người Việt Nam trong một tương lai gần sẽ phải là một niềm vui, một may mắn và một nguồn hãnh diện.

Thế giới đã biết đến Việt Nam như là nạn nhân của hận thù và chia rẽ, của óc độc quyền lẽ phải thì thế giới sẽ phải biết đến Việt Nam sau này như là vùng đất của sự bao dung, như là một mẫu mực thành công của tình anh em tìm lại, của sự hồi sinh từ điêu tàn và đổ nát.

Đó là lý tưởng của thời đại chúng ta. Đó là di sản mà chúng ta sẽ để lại cho các thế hệ mai sau. Đó là giấc mơ Việt Nam mà các chí hữu của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên cùng theo đuổi và muốn chia sẻ với mọi người Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, hôm nay và ngày mai !

Trích Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai

(Dự án chính trị của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên)

Published in Quan điểm

Sự kiện kỷ luật ông Sơn hay cách ứng xử của thời đại Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đối với giới trí thức thực sự đã cho thấy một phản ứng ngược mà bản thân ông Trọng không nhận ra. 

tranduc1

Ông Trần Đức Anh Sơn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Ảnh Thanh Niên

Kỷ luật trong Đảng cộng sản Việt Nam có nhiều mức độ, và càng ngày nó càng khiến người dân biểu lộ những cảm xúc đầy tính liên quan.

Có những kỷ luật khiến người dân phẫn nộ, vì mức độ kỷ luật nhẹ trong khi vi phạm nặng, có những kỷ luật khiến người dân càng tôn trọng người bị kỷ luật hơn. Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng, ông Trần Đức Anh Sơn, người vào ngày 8/03/2019 đã bị Ủy ban thường vụ thành ủy ra quyết định kỷ luật vì "đã viết, đăng tin, bài sai sự thật, không đúng với quan điểm của Đảng… trên mạng xã hội".

Trong bình luận của mình, ông Nguyễn Lương Thịnh, người là bạn với ông Trần Đức Anh Sơn chia sẻ trên Facebook cá nhân rằng, ông Sơn "chọn vị trí là Nhà Khoa học để bảo vệ và phát triển các thành quả nghiên cứu, thay vì nhận các chức danh do Đảng phân công, trong đó phải chấp hành nghị quyết của tổ chức về đề tài và biên độ nghiên cứu". Và ông Sơn "đã chủ động" thông báo quyết định của ông trước khi cơ quan báo chí của Đảng loan tin. Và thực tế cho thấy, ngày ông "về với Nhân dân" được đăng tải trên Facebook là ngày 18/02/2019.

Bị kỷ luật nhưng được hoan nghênh : vì sao ?

Càng ngày, những bản án kỷ luật nhắm vào những người trí thức thực sự (những người đang làm đảng viên những phát ngôn hoặc hành vi trái với quan điểm và chủ trương của đảng) lại được người dân hoan nghênh. Bởi câu chuyện của ông Sơn khá giống ông Chu Hảo, khi cả hai dám lên tiếng chỉ ra cái "sai của Đảng", và đánh giá về các sự kiện - hiện tượng trong xã hội theo quan điểm thẳng thắn của một sĩ phu đau lòng trước thời cuộc. 

Trên Facebook ông Sơn, có những bài đăng tải lại có liên quan đến Biển Đông, và chủ quyền bị giành giật bởi Trung Quốc, về vấn đề Trung Quốc "thọc gậy" thượng đỉnh Mỹ - Triều… Ông cũng từng chia sẻ thẳng thắn trên Facebook về vấn đề chiến tranh Biên giới 1979 bằng luận điểm : Lịch sử muốn phản ánh đúng sự thật, chính trị chỉ muốn sự thật được phản ánh đúng lúc. Đáng buồn là chính trị luôn thắng lịch sử.

Nhà báo, Facebooker Chu Vĩnh Hảo cũng đón nhận tin ông Sơn bị khai trừ bằng cảm giác "rất vui", bởi ông tin rằng, "là một học giả, Tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn nhất thiết phải coi trọng tính độc lập của các tiểu luận và các công trình nghiên cứu, và để đạt được tính độc lập ấy, anh cũng như các học giả khác cần phải độc lập với sự bảo hộ của bất cứ đảng phải nào".

Sự kiện kỷ luật - khai trừ đảng đối với ông Trần Đức Anh Sơn đã cho thấy, Đảng cộng sản Việt Nam đang tự rút đi những nhân tố tích cực và bền vững cho sự trường tồn của mình ra khỏi tổ chức. Tại sao ? Bởi phản biện và dám lên tiếng sẽ tạo nên nội lực trong một đảng phải, làm sạch đảng phái chứ không phải là sự tuân lệnh 100% đối với những chủ trương, điều lệ, nghị quyết sai của đảng. Đảng cộng sản Việt Nam đang suy thoái, muốn cứu vãn bằng phương pháp "hồng hơn chuyên", nhưng vô tình, những yếu tố này khiến cho đảng trở thành một tập hợp của những con sâu đục phá và dàn lợi ích nhóm chằng chịt, sẵn sàng không trái quan điểm của đảng để hoàn toàn tư lợi cá nhân. 

Bởi, hình thức kỷ luật đảng bằng cách khai trừ là điều nên làm, nhưng sự lớn mạnh trong đảng chỉ có thể diễn ra khi hình thức kỷ luật này áp dụng cho chính những đối tượng tham nhũng và tham vọng quyền lực tập trung, thay vì tập trung đánh giới trí thức trong đảng (vốn là những nhân tố luôn nhấn mạnh sự độc lập, tự chủ phản biện).

Bởi, kỷ luật lần này không khác gì đảng đang trương cao quan điểm của Lenin trong thời điểm hiện nay : Các lực lượng trí tuệ của công nông đang trưởng thành vững mạnh trong cuộc đấu tranh lật đổ tư sản và bọn đồng lõa, lũ trí thức - đầy tớ của tư bản, những kẻ tưởng mình là bộ não của quốc gia. Trên thực tế, bọn chúng không phải là bộ não mà là cứt. Mà một quan điểm khinh thị trí thức như thế càng đẩy nhanh tiến trình khủng hoảng trong đảng. Và có vẻ, "Trí thức là cứt" nên "không phải muốn nói gì là nói", ngay cả khi là con cháu "công thần" được quán triệt trong đảng một cách tuyệt đối dưới thời ông Nguyễn Phú Trọng.

Mặt khác, sự ra đi của giới trí thức thực sự ra khỏi Đảng cộng sản Việt Nam cho thấy, trong đảng luôn tồn tại "vòng kim cô" siết chặt sự tự do học thuật và tự do phản biện (điều làm nên tính chất chân chính của nền khoa học nhân bản, khai phóng). Và kỷ luật khai trừ lần này cùng một lúc hai vấn đề : giới trí thức ngày càng không chất nhận sự cưỡng chiếm tư tưởng, và Đảng cộng sản Việt Nam ngày càng không chấp nhận giới trí thức là đảng viên được mở rộng quyền tự do tư tưởng của mình. Có lẽ chính vì vậy, mà Facebooker Huy Truong đã chúc mừng ông Sơn trên Facebook cá nhân bằng luận điểm : Thầy Sơn là nhà khoa học chứ không phải là nhà chính trị, nên khi ra khỏi Đảng sẽ có nhiều thời gian và "không gian" để làm khoa học hơn. Chúc mừng thầy.

Sự kiện kỷ luật ông Sơn hay cách ứng xử của thời đại Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đối với giới trí thức thực sự đã cho thấy một phản ứng ngược mà bản thân ông Trọng không nhận ra. Bởi sự ra đi của ông Chu Hảo hay Trần Đức Anh Sơn không làm mất đi tính danh giá của cá nhân họ, mà ngược lại nó càng gia cố thêm sự danh giá cá nhân của họ, và được hoan nghênh, ca tụng là "sự trở về với nhân dân". Và bằng quyết định kỷ luật lần này của Đảng cộng sản Việt Nam áp dụng đối với ông Sơn, câu hỏi đặt ra là : Những người có tài có tâm huyết đều ra đi, vậy trong đảng còn lại những ai ?

Hoa Nghi

Nguồn : VNTB, 09/03/2019

Published in Diễn đàn
samedi, 02 mars 2019 17:47

Niềm hy vọng truyền kiếp

Mỗi người Việt Nam hiện nay, không loại trừ một ai, đều là di sản hiện đại nhất, sống động nhất, của tổ tiên người Việt Nam. Dù lịch sử Việt Nam là bốn ngàn năm hay hai ngàn năm, là bộ tộc ở sông Dương tử hay ở Mã Lai (Biên khảo của Bình Nguyên Lộc), con người Việt Nam năm 2019 vẫn là phiên bản chính thống của tiền nhân Việt Nam.

hyvong1

Mỗi người Việt Nam hiện nay, không loại trừ một ai, đều là di sản hiện đại nhất, sống động nhất, của tổ tiên người Việt Nam.

Đã là di sản, không cần phải cắt tay đếm công thức máu, chắc chắn mỗi người Việt Nam đều có những đặc tính di truyền từ tổ tiên trong DNA. Di sản này nhìn thấy được trên mặt thể lý và cả tinh thần.

Về mặt thể lý, nhân dạng người Việt Nam đã không ngừng tiến hóa để trở nên đẹp đẽ như hôm nay. Đã có quan chức cao cấp cộng sản Việt Nam biết ca ngợi nét đẹp của con gái Việt Nam làm cho nhân dân tự hào. Những lễ hội tổ chức thi hoa hậu được khuyến khích tổ chức rình rang trên khắp nước, tại mỗi thành phố trực thuộc trung ương, ở mọi tỉnh thành và trong mọi ngành nghề, dịch vụ và tại các trường đại học. Chỉ còn thiếu hoa hậu khu công nghiệp Bô-xít Tây nguyên, vùng Vũng án Formosa, các đặc khu kinh tế là bức tranh nhan sắc của con gái Việt Nam thành toàn hảo.

Thật là tự hào vì hôm nay dân tộc ta đã vượt qua giai đoạn tiến hóa chuyển tiếp khi hai ngón chân cái không còn giao vào nhau (giao chỉ), cũng hết rồi thời răng hô và mã tấu.

Về mặt tinh thần, những đặc tính di truyền từ tổ tiên cũng sáng tỏ. Những đặc tính tuyệt vời như cần cù, nhẫn nại, an phận thủ thường… có tiềm năng làm cho sức lao động của người Việt Nam trở nên vô địch. Thật vậy, lực lượng lao động xuất khẩu hàng chục ngàn người/hàng năm đã chứng minh người Việt Nam có khả năng làm việc miệt mài nhiều giờ liên tục nhưng vẫn bằng lòng với giá tiền công bèo nhất trên thế giới. Lực lượng lao động Việt Nam nghiễm nhiên trở thành nguồn nhân lực rẻ rúng nhất được những công ty nước ngoài ở Đài Loan, Hàn quốc hay các công ty đa quốc gia trên thế giới ưa chuộng khai thác. Có ai tự hào hay ai tủi hổ vì lợi thế này của dân tộc thì cũng như nhau, hai từ cũng một vần ‘t’, ‘h’ như nhau.

Những đặc tính cốt lõi trong văn hóa và tâm lý của tiền nhân cũng được người Việt Nam thừa hưởng. Người Việt Nam biết ưu tiên sử dùng bạo lực để giải quyết xung đột cá nhân, tập thể, xã hội và trên đất nước. Người Việt Nam được cái não trạng bất dung, được làm vua thua làm giặc, hoặc mày sống hoặc tao chết, không bao giờ chịu hòa giải để hai ta cùng sống, không may, đã đưa đến hậu quả như hôm nay.

Đảng cộng sản Việt Nam, hiện thân tuyệt đối của bạo lực và sự bất dung, đã nắm được quyền cai trị Việt Nam. Người Việt Nam đang oằn oại rên xiết dưới ách cai trị bạo tàn của người bản xứ. Ai cũng mong ước được thoát khỏi ách cộng sản, nhưng không nhiều người ý thức được rằng khi văn hóa và tâm lý của người Việt Nam chưa thay đổi, Đảng cộng sản Việt Nam không thể thay đổi. Ách cộng sản là một trong những cái gen di truyền hư hỏng của tiền nhân Việt Nam.

Một ưu điểm khác nữa được thừa hưởng từ tiền nhân là người Việt Nam có niềm hy vọng vô biên về một tương lai xán lạn. Có người còn diễn cảm ấn tượng hơn nữa là khát vọng. Người Việt Nam luôn luôn lạc quan bất chấp mọi hoàn cảnh phải chịu đựng. Có vẻ càng bị đè đầu cỡi cổ trong hoàn cảnh cực kỳ khốn khổ, niềm hy vọng càng bùng lên mãnh liệt. Chắc chắn đây là một đặc tính độc đáo đã khiến người Việt Nam được xếp hạng tốp ten trong một cuộc thống kê thổ tả về người sống hạnh phúc nhất trên thế gian.

Nhưng khi hy vọng mà không bắt tay hành động thực hiện hy vọng, nó chỉ là trò chơi của cái tâm lý bất lực. Nó giúp người ta tự lừa bịp mình để chấp nhận, chịu đựng khổ nạn lâu dài hơn. Niềm hy vọng chỉ có ý nghĩa đáng nuôi dưỡng khi nó là một tố chất kích thích người ta phải hành động để thực hiện hy vọng. Chỉ hy vọng mà không đầu tư công sức thực hiện hy vọng chắc chắn sẽ đưa đến những cái ‘vọng’ không mong muốn khác như thất vọng, tuyệt vọng và ảo vọng. Không thể nào khác.

Mọi cuộc cách mạng xã hội nào cũng phải bắt nguồn từ hành động của giới trí thức. Khi giai cấp trí thức cũng chỉ biết hy vọng mà không hành động, xã hội ấy cầm chắc chỉ có thể sống thoi thóp bằng những tuyên xưng khát vọng. Đảng cộng sản Việt Nam đã cho người Việt Nam ăn no những khát vọng đổi đời như độc lập, tự do, tiến bộ, phát triển, dân giàu nước mạnh, xã hội văn minh bắt kịp bạn bè năm châu.

Giới có bằng cấp to đùng ở Việt Nam hiện nay đông đảo chưa từng có trong suốt hàng ngàn năm lịch sử. Giai cấp có bằng cử nhân, cao học, tiến sĩ, phó giáo sư… cộng cả bằng thiệt, bằng giả, bằng mua, bằng dởm như bằng tiến sĩ xây dựng đảng, đông gấp bội Lực Lượng 47 hay dư luận viên. Nhưng, không may, có vẻ lực lượng này cũng chỉ biết hy vọng/khát vọng rằng đảng cộng sản Việt Nam sẽ thay đổi, sẽ cải thiện, sẽ cho người Việt Nam được hưởng quyền con người, được hưởng tự do và được quyền làm chủ đời mình.

hyvong2

Giới có bằng cấp to đùng ở Việt Nam hiện nay đông đảo chưa từng có trong suốt hàng ngàn năm lịch sử. Ảnh minh họa 

Trong suốt hơn 40 năm kể từ khi đảng cộng sản đã cưỡng đoạt được miền Nam, giới có bằng cấp Việt Nam đã viết nhiều văn thư, kiến nghị, khuyến cáo, thỉnh nguyện, yêu cầu… rất ư là đanh thép để buộc đảng cộng sản phải cải thiện nhân quyền, phải cởi mở chính trị, phải chấm dứt chế độ độc tài đảng trị. Những văn kiện lịch sử này không biết đã đi về đâu vì chẳng thấy đảng cộng sản đá động tới, nhưng trong số người ký tên vào văn tự đã có người vào tù, người đang ở tù và còn nữa những người sắp vào tù.

Thời sự mới nhất để nói lên não trạng của lực lượng xung phong này là nhân cơ hội Tổng thống Mỹ Donald Trump và lãnh tụ kính yêu Kim Jong-un của Bắc Cao Ly đến Hà Nội dự hội nghị Giải trừ nguyên tử và Cấm vận kinh tế chẳng liên can gì đến Việt Nam, 100 người tự nhận là trí thức và nhân sĩ Việt Nam đã viết thư cho Tổng thống Mỹ đặt mọi hy vọng vào tài năng thương lượng của Trump để giúp Việt Nam được độc lập tự do và dân chủ. Giời cao ngó xuống mà coi, niềm hy vọng di truyền của người Việt Nam đã được xuất cảng sang đến Hoa kỳ.

Người ta thường nói kẻ thù truyền kiếp, mối thù truyền kiếp nhưng không ai nói hy vọng truyền kiếp nghe nghịch thường. Nhưng nếu chỉ quyết tâm hy vọng mà không bắt tay thực hiện, có mọi khả năng niềm hy vọng vô biên sẽ trở thành di sản quý báu của thế hệ người Việt Nam hôm nay truyền lại cho thế hệ mai sau. Nó trở thành niềm hy vọng truyền kiếp.

Không cần phải có bằng cấp to đùng hoặc đọc cả một nhà sách, ai cũng biết đấu tranh với Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay, thực tiễn chỉ có thể hữu hiệu bằng cách xây dựng cho được một lực lượng không cộng sản làm đối trọng với đảng cộng sản.

Nếu hàng ngàn người đã ký tên vào các văn kiện đanh thép, 2000 người và 10 tổ chức đã ký tên vào ‘Yêu sách 8 điểm năm 2019’ và 100 trí thức và nhân sĩ ký tên đặt hy vọng vào tổng thống Hoa Kỳ biết đoàn ngũ hóa, biết tổ chức, dám đứng lên thành lập một tổ chức chính trị nghiêm chỉnh để thực hiện những yêu sách của mình, niềm hy vọng di truyền từ tổ tiên Việt Nam biến thành hành động, chế độ cộng sản Việt Nam ác ôn phải cáo chung. Bất chấp có Donald Trump hay Tập Cận Bình hay không.

Một tổ chức chính trị Việt Nam nghiêm chỉnh và có trách nhiệm cũng dễ nhận thấy. Tổ chức phải tuyên xưng những giá trị nền tảng làm kim chỉ nam cho hoạt động chính trị. Tổ chức phải có phương pháp để thực hiện mục đích chính trị của đảng và phương pháp để giải quyết những khó khăn, bất cập trên quốc gia. Cuối cùng, tổ chức phải có một dự án chính trị khả thi nêu lên được những mục tiêu chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa giáo dục… cần phải thực hiện ưu tiên để chấn chỉnh lại một xã hội đã bị biến dạng méo mó dưới chế độ cộng sản. Mọi tổ chức chính trị không đầu tư vào những bước căn bản để xây dựng tổ chức nghiêm chỉnh không có tiềm năng lãnh đạo.

Hy vọng của người Việt Nam chỉ thành hiện thực khi giới trí thức Việt Nam thoát ra được thảm cảnh ‘sĩ khí rụt rè, gà phải cáo’ hiện nay. Trí thức Việt Nam dám dấn thân vào làm công việc chung là làm chính trị, thành lập tổ chức chính trị hoặc tham gia tăng cường sức mạnh cho một tổ chức chính trị đã thành lập, học tập và hoạt động trong tổ chức và áp dụng kỹ năng tổ chức quần chúng để làm áp lực tối đa buộc chế độ cộng sản vào thế phải điều đình với lực lượng dân chủ Việt Nam để tìm một cách hạ cánh an toàn cho Đảng cộng sản Việt Nam.

Viễn ảnh này không còn xa nữa vì đã có trí thức lên đường và đã có tổ chức chính trị mời bạn tham gia.

Sơn Dương

(02/03/2019)

Published in Quan điểm

Khi Tập Cận Bình trở thành nhà lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc thì một trong những việc đầu tiên ông ấy làm là mở rộng thêm hàng trăm Viện Khổng Tử trên khắp thế giới. Ước lượng có khoảng 500 Viện Khổng Tử ở 142 quốc gia.

tamthe1

Ước lượng có khoảng 500 Viện Khổng Tử ở 142 quốc gia.

Khổng Tử tức là Khổng Khâu hay Khổng Khưu, sinh năm 551 trước Công nguyên. Ông được xem là người khai sáng Nho giáo. Ông được tôn vinh như là một triết gia vĩ đại nhất của Trung Quốc và ông chính là người đặt nền móng văn hóa và trật tự cho các chế độ phong kiến Trung Quốc trong hơn 2500 năm qua.

Vì sao Tập Cận Bình tôn vinh và đề cao các giá trị của Khổng Tử ? Lý do rất giản dị vì văn hóa của Khổng Tử chính là văn hóa nô lệ và cam chịu. Hậu thế không thể trách Khổng Tử vì ông sống cách đây đã 2500 năm, ở thời kỳ tăm tối đó mà suy nghĩ và nói, viết ra được những điều như ông thì đã là rất vĩ đại và ông xứng đáng được tôn vinh. Tuy nhiên trong thời đại ngày nay mà vẫn còn đề cao những văn hóa của Khổng Tử thì quả thật là có vấn đề. Đừng quên rằng trong 100 năm qua, nhân loại đã đạt được những thành tựu vĩ đại trong mọi lĩnh vực còn hơn cả 4000 năm lịch sử trước đó cộng lại.

Văn hóa Khổng giáo đã được các chế độ phong Trung Quốc trước đây và giờ là Tập Cận Bình lợi dụng và dùng để trói chặt người dân Trung Quốc vào một trật tự "ổn định" có lợi cho những kẻ cai trị. Văn hóa Khổng giáo hoàn toàn mâu thuẫn và chống đối văn hóa dân chủ. Văn hóa Khổng giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất lâu và có ảnh hưởng lớn đến văn hóa, chính trị và xã hội của nước ta. Cũng vì thế mà Việt Nam cùng với Trung Quốc hiện vẫn đang là những quốc gia cuối cùng trên trái đất chưa có dân chủ.

Để tìm hiểu về tác hại và ảnh hưởng của văn hóa Khổng giáo trong tiến trình dân chủ hóa đất nước thì độc giả nên tìm đọc cuốn "Tổ Quốc Ăn Năn" của ông Nguyễn Gia Kiểng. Ông Nguyễn Gia Kiểng là một nhà tư tưởng chính trị nên cách phân tích và mổ xẻ vấn đề của ông rất khoa học và thuyết phục.

Hiện nay, đa số trí thức Việt Nam, nhất là các trí thức trẻ đã nhận ra được sự lạc hậu của văn hóa Khổng giáo và muốn đoạn tuyệt với chúng nhưng không phải dễ và ai cũng có thể làm được. Văn hóa là thứ đã ăn sâu vào tiềm thức trong mỗi con người chúng ta. Có thể chúng ta thấy nó là sai, muốn đoạn tuyệt với nó nhưng khi hành động thì chúng ta vẫn bị thứ văn hóa đó chi phối và dẫn dắt một cách vô thức.

Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên là tổ chức chính trị nói nhiều nhất về tác hại của văn hóa Khổng giáo, để làm gì ? Câu trả lời cũng đơn giản, nếu chúng ta không khai thông được tư tưởng và đoạn tuyệt với thứ văn hóa nô lệ đó thì đất nước sẽ không bao giờ có dân chủ. Sĩ phu ngày trước (tức là trí thức bây giờ) trong văn hóa Khổng giáo được mặc định là làm "nô lệ" cho một ông vua nào đó chứ không phải làm chủ đời mình càng không phải là tầng lớp tiên phong đảm nhận trách nhiệm hướng dẫn và lãnh đạo quần chúng.

Hiện tại rất nhiều trí thức Việt Nam đã lên tiếng phản bác các sai trái của chính quyền, mặc dù lời lẽ hay văn phong có lúc rất gay gắt nhưng thâm tâm vẫn là sẵn sàng "qui phục" chính quyền khi chính quyền thỏa mãn một phần nghìn những mong muốn của họ. Đảng cộng sản Việt Nam đã cầm quyền tuyệt đối trong hơn 70 năm qua và thực tế chứng minh rõ ràng là họ thất bại hoàn toàn trong mọi lĩnh vực. Dù thế trí thức Việt Nam vẫn đặt hy vọng và mong chờ vào sự thay đổi của Đảng cộng sản. Họ biết là vô ích nhưng họ vẫn làm vì họ bế tắc do bị ảnh hưởng bởi văn hóa nô lệ của Khổng giáo.

Phần lớn trí thức Việt Nam vẫn không tin vào chính mình, không tin vào thành quả trí tuệ của nhân loại về dân chủ, không tin vào tương lai nên họ vẫn loay hoay không biết làm gì để góp phần dân chủ hóa đất nước. Họ không tin là phong trào dân chủ có thể đánh bại được Đảng cộng sản nên thay vì tìm hiểu để ủng hộ cho một tổ chức chính trị dân chủ (hoặc tự thành lập một tổ chức chính trị nếu thấy không có tổ chức nào ưng ý) thì họ chỉ tìm cách năn nỉ và thuyết phục chính quyền.

tamthe2

Văn hóa nô lệ vẫn còn chi phối và dẫn dắt trí thức Việt Nam một cách vô thức nhưng rất mạnh mẽ.

Phần lớn trí thức Việt Nam chọn cách hoạt động nhân sĩ, tức là độc lập, một mình, không tham gia một tổ chức hay hội đoàn nào và thậm chí không ít người còn tự hào về điều đó. Kết quả là họ vẫn bị chính quyền bỏ tù và sau khi ra tù, thì họ, hoặc là bỏ cuộc hoặc là tiếp tục "góp ý" với chính quyền, mong chính quyền lắng nghe và thay đổi. Họ không biết rằng hoạt động và đấu tranh chính trị là giữa các tổ chức chính trị với nhau chứ không phải là giữa các cá nhân. Cũng có thể họ biết như vậy nhưng họ không tin là có thể kết hợp được với nhau trong một tổ chức và không chắc là thành công.

Tóm lại văn hóa nô lệ vẫn còn chi phối và dẫn dắt họ một cách vô thức nhưng rất mạnh mẽ. Thực tế, đấu tranh chính trị mà không có tư tưởng và tổ chức thì sớm muộn gì cũng bỏ cuộc. Những người không bỏ cuộc thì sau một thời gian dài thấy không thay đổi được gì bèn quay lại... năn nỉ chính quyền. Một vòng tròn khép kín, một cuộc hành trình dài và kết thúc bằng việc quay về... vị trí xuất phát ban đầu. Rất nhiều nhân sĩ, trí thức Việt Nam, kể cả những người đã từng ở tù hoặc là những cây bút bất đồng chính kiến nổi tiếng đã rơi vào vòng tròn luẩn quẩn này.

Cuốn sách "Tổ Quốc Ăn Năn" mà tôi đề cập ở trên hiện nay có lẽ đạt được 5 triệu lượt người đọc và tải về, tài liệu chính trị Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai không bằng nhưng cũng được nhiều người tìm đọc. Tôi tin là đa số những người đã đọc hai cuốn sách này đều thấy hay, thấy đúng và nhất là thấy có tương lai và hy vọng về đất nước, nhưng rồi sau đó thì sao ? Thực tế là đa số đọc rồi để đấy thay vì lên tiếng ủng hộ hay tham gia cùng chúng tôi. Có thể họ cũng tin rằng chúng tôi nói đúng và có tương lai nhưng họ thay vì nhập cuộc cùng chúng tôi thì họ…ngồi chờ. Có những ý kiến rằng : khi nào các bạn (tức Tập Hợp) mạnh lên và qui tụ được vài ngàn người thì tôi sẽ tham gia…Tại sao phải chờ, chờ ai và chờ cái gì ?

tamthe3

Cuốn sách "Tổ Quốc Ăn Năn" mà tôi đề cập ở trên hiện nay có lẽ đạt được 5 triệu lượt người đọc và tải về

Nhiều ý kiến cho rằng Tập Hợp kém, không làm được gì suốt hơn 30 năm qua… Kém thì có lẽ không sai nhưng bảo "Tập Hợp không làm được gì…" là không chính xác. Thực tế là đã có tổ chức nào làm được gì đâu ? Cũng nên nhớ rằng các tổ chức đối lập (như Tập Hợp) không phải chịu bất cứ trách nhiệm nào cho đến khi cầm quyền. Các tổ chức đối lập cũng không có phương tiện và công cụ gì để giúp dân oan hay cải thiện đời sống người dân về giáo dục, y tế… Các tổ chức đối lập chỉ đưa ra các chính sách và đề nghị cho tương lai, nếu thấy đúng thì người dân ủng hộ để tổ chức đối lập đó trở thành đảng cầm quyền và khi đó chúng tôi mới có cơ hội và phương tiện để thực thi các đề nghị của mình trước đó.

Sở dĩ trí thức Việt Nam vẫn chưa ủng hộ cho các tổ chức đối lập là vì họ không (hoặc chưa) hiểu, thế nào là một tổ chức chính trị, cứu cánh của hoạt động và đấu tranh chính trị là gì ? Họ không biết vì họ không muốn biết chứ không phải vì chúng quá khó hay vì chúng chưa được khám phá. Họ không muốn biết vì tâm thế của họ vẫn còn bị ảnh hưởng bởi tâm thế nô lệ từ văn hóa Khổng giáo. Cuộc vận động dân chủ mà Tập Hợp khởi xướng và đề nghị không tiến nhanh như nhiều người mong muốn là vì đụng phải bức tường văn hóa đó. Chúng tôi biết rõ điều này nên trong Dự án Chính trị có viết rằng để xây dựng được một tổ chức chính trị đúng nghĩa phải mất vài thập niên… Cuộc đấu tranh dân chủ hóa đất nước của Tập Hợp cũng là cuộc "cách mạng văn hóa" nên không thể nào nhanh được.

tamthe3

Cuộc đấu tranh dân chủ hóa đất nước của Tập Hợp cũng là cuộc "cách mạng văn hóa" nên không thể nào nhanh được.

Trong cuộc hành trình đó chúng tôi khá cô đơn, các nhân sĩ trí thức Việt Nam thay vì ủng hộ chúng tôi thì họ còn làm nhiều hành động "phản chính trị" như việc xin xỏ chính quyền, viết các loại thư ngỏ, kiến nghị hay chạy theo các sự kiện do Ban tuyên giáo nặn ra. Ví dụ Bản Yêu sách 8 điểm mới đây của các nhân sĩ. Có ba điểm đáng thảo luận.

Thứ nhất, tại sao phải "ăn theo" bản yêu sách 8 điểm của Nguyễn Ái Quấc cách đây 100 năm ? Đảng cộng sản suốt ngày ra rả "học tập và làm theo tấm gương Hồ Chí Minh" chưa đủ hay sao mà giờ cả các nhân sĩ đối lập cũng "học theo tấm gương" này ? Tại sao không phải là chính mình ? Sao không tự nghĩ ra, viết rồi ký tên một cách đàng hoàng ?

Thứ hai, sao lại có thể viết "Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng rằng, việc Nhà nước Việt Nam thực hiện Yêu Sách Tám Điểm về các quyền căn bản nói trên của người dân là con đường duy nhất đưa nước Việt Nam thoát khỏi thực trạng lạc hậu về kinh tế, thối nát về chính trị xã hội, và nguy cơ đánh mất chủ quyền quốc gia vào tay ngoại bang…" ? Sau 73 năm Đảng cộng sản đập phá đất nước mà vẫn còn "hoàn toàn tin tưởng" vào họ là thế nào ? Tại sao lại là "con đường duy nhất" ? Nếu họ không thực hiện (mà 100% là họ không thực hiện) thì phải chấp nhận sự cai trị vĩnh viễn của họ sao ?

Thứ ba, yêu sách viết "Chúng tôi kêu gọi mọi người dân Việt Nam hãy thực hiện các quyền hiến định của mình mà không đợi ai cho phép". Vậy là các nhân sĩ thừa nhận bản Hiến pháp 2013 ? Đây là một hiến pháp áp đặt và phản dân chủ mà rất nhiều nhân sĩ trên cũng đã từng ký tên phản đối, sao giờ lại kêu gọi người dân nhìn nhận nó ? Tại sao không viết là "…thực hiện các quyền căn bản được viết trong bản Tuyên ngôn Phổ cập về Quyền Con người của Liên Hợp Quốc ?"…

Các nhân sĩ sẽ lập luận rằng "cần phải thực tế, phải chấp nhận chế độ hiện hành vì chính quyền có nhà tù và dùi cui, phải đòi (xin) từ từ chứ không thể ngay một lúc, hoàn cảnh chỉ cho phép làm đến thế…" Những điều này không sai. Điều đáng nói ở đây là tinh thần, thái độ và cách nói. Đúng là kẻ yếu thì không làm gì được kẻ mạnh nhưng không vì thế mà phải khen ngợi và ve vuốt chính quyền, ca tụng những điều không có, sai và nhảm nhí. Không nên nói những điều không đáng nói vì chúng sẽ làm hạ thấp nhân cách của người nói, người viết. Chúng tôi cũng thường xuyên đưa ra những khuyến cáo cho Đảng cộng sản, phân tích cho họ những điều nên làm và không nên làm vì tương lai của chính họ và đất nước nhưng không bao giờ chúng tôi hạ thấp mình bằng những câu như "chỉ có đảng mới có thể làm được điều đó", "chúng tôi hoàn toàn tin tưởng vào chính quyền"…

Một ví dụ nữa xung quanh vụ lùm xùm liên quan đến việc dùng xe công đón vợ bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh. Đối với quan chức Đảng cộng sản thì đây là chuyện "rất bình thường", ông Trần Tuấn Anh bị "tấn công" là do tranh chấp nội bộ và phe nhóm, các thông tin được báo chí chính thống tung ra kèm theo các văn bản mà chỉ nội bộ mới có. Chúng ta chỉ cần nhân cơ hội này để phơi bày rõ hơn sự lạm quyền của giới quan chức cộng sản là đủ. Không nên viết những câu như "phải mạnh tay để lấy lại uy tín của đảng", "nhân cơ hội này, chính quyền cần dẹp bỏ việc dùng xe công tùy tiện"… Nghe rất vô duyên và nịnh bợ.

Vụ dân oan Thủ Thiêm chưa giải quyết xong thì lại đến vụ Vườn rau Lộc Hưng. Bản chất của Đảng cộng sản có gì thay đổi đâu ? Người dân có lương tâm ai cũng đau lòng và phẫn nộ nhưng chúng ta có thể làm được gì ? Vấn đề "sở hữu đất đai" thuộc về chính sách nhà nước, là một vấn đề hoàn toàn thuộc về chính trị. Phải có những giải pháp chính trị từ thượng tầng, từ thể chế chính trị. Cái gốc của mọi bất công và oan trái mà người dân đang phải gánh chịu đều xuất phát từ thể chế chính trị độc quyền và độc tài của Đảng cộng sản. Không thay đổi được cái gốc đó thì không thể thay đổi được điều gì. Chỉ có các tổ chức chính trị có tầm vóc mới gây áp lực buộc Đảng cộng sản Việt Nam thay đổi. Vì thế việc làm cấp thiết nhất bây giờ là tìm hiểu và ủng hộ cho các tổ chức chính trị chứ không phải việc lên án, chỉ trích hay "khuyên nhủ và van xin" chính quyền.

Khi chúng tôi thảo luận các vấn đề này với anh em thân hữu thì có người khuyên là không nên "gây mất đoàn kết", các nhân sĩ cũng là người tốt và có tấm lòng…Tuy nhiên chúng tôi nghĩ rằng nếu chúng ta tránh né thảo luận các vấn đề nền tảng thì làm sao đoàn kết và hiểu nhau ? Đất nước đang lâm nguy mà chúng ta cứ "lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau" liệu có tốt và có nên không ? Chúng tôi sẽ và luôn thảo luận trên tinh thần xây dựng và tương kính chứ không có mục đích gì khác. Chúng ta là "đồng minh" trên con đường dân chủ hóa đất nước nên cần thẳng thắn thảo luận với nhau về mọi vấn đề khúc mắc. Giải tỏa được chúng thì phong trào dân chủ mới tiến nhanh được.

Trí thức Việt Nam phải nỗ lực rất lớn mới có thể rũ bỏ tâm thế nô lệ của văn hóa Khổng giáo. Cần tìm hiểu và học hỏi nghiêm túc về chính trị để tham gia, ủng hộ và xây dựng nên các tổ chức chính trị hùng mạnh và có tầm vóc. Đây mới là con đường đúng đắn và duy nhất để mang lại dân chủ cho Việt Nam.

Việt Hoàng

(10/1/2019)

Published in Quan điểm

Lần đầu tiên trong lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, ông thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nói rất rõ ràng trong một cuộc họp báo (hôm 15/10/2018 tại Áo) rằng "Việt Nam là một nước dân chủ và chúng tôi lên án chế độ độc tài". Ai cũng hiểu là ông Phúc chỉ "nổ" vậy thôi chứ thực tế thì Việt Nam vẫn là một nước độc tài, tuy nhiên ông Phúc và Đảng cộng sản Việt Nam trong sâu thẳm, họ vẫn hiểu là họ không thể đi theo con đường cũ được nữa, họ đang bơi ngược dòng lịch sử. Ông Tổng-Chủ Nguyễn Phú Trọng cũng từng nói là : "Đến hết thế kỷ này không biết đã có xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hay chưa ?".

dcs0

Mọi thay đổi tại Việt Nam phải đảm bảo quyền lợi cho các đảng viên cộng sản, nhất là các đảng viên từ Ủy viên trung ương trở lên.

Đảng cộng sản Việt Nam có muốn thay đổi cho hợp với thời đại không ? Tôi nghĩ là có. Nhưng thay đổi thế nào lại là một chuyện đáng bàn. Dư luận Việt Nam cho rằng đảng "thà mất nước còn hơn mất đảng", nghe thì có vẻ quá lời nhưng không có gì là lạ vì đảng gắn liền với quyền lợi. Mọi thay đổi tại Việt Nam phải đảm bảo quyền lợi cho các đảng viên cộng sản, nhất là các đảng viên từ Ủy viên trung ương trở lên.

Trong bài viết trước tôi có đặt vấn đề "Đảng cộng sản Việt Nam phải làm gì để thoát hiểm ?" (1). Theo tôi thì chỉ có một cách duy nhất là Đảng cộng sản Việt Nam chủ động dân chủ hóa đất nước, là tác nhân của sự thay đổi, thay vì không làm gì để trở thành nạn nhân của sự thay đổi. Muốn thế Đảng cộng sản Việt Nam phải nghĩ đến chuyện "đối thoại" với một vài tổ chức dân chủ đối lập của Việt Nam để cùng bàn bạc và tìm ra hướng đi và cách thức chuyển đổi Việt Nam về hướng dân chủ trong điều kiện tốt đẹp nhất cho đất nước và cho cả Đảng cộng sản Việt Nam.

Việc "đối thoại" với tổ chức nào, khi nào và trong hoàn cảnh nào là việc của Đảng cộng sản Việt Nam, họ sẽ làm việc đó khi thấy cần thiết và "không thể không làm". Tuy nhiên trước mắt thì chuyện đó chưa thể xảy ra. Không phải vì Đảng cộng sản Việt Nam không muốn mà là do các tổ chức dân chủ đối lập chưa đủ tầm vóc và trọng lượng.

Một kẻ mạnh (hoặc tưởng mình mạnh) không bao giờ hạ mình để "nói chuyện" với một kẻ quá yếu, đó là qui luật của cuộc sống. Tất nhiên là các tổ chức dân chủ đối lập của Việt Nam sẽ không bao giờ có được sức mạnh và tầm vóc "ngang hàng" với Đảng cộng sản Việt Nam vì họ đã lãnh đạo độc quyền Việt Nam trong suốt hơn 70 năm qua và có trong tay mọi nguồn lực của đất nước. Tuy nhiên các tổ chức đối lập dân chủ lại có trong tay một sức mạnh phi thường đó là lẽ phải, sự thật và đại diện cho một tương lai bắt buộc phải đến.

Làm thế nào để giải quyết được bài toán hóc búa là vừa đảm bảo mọi quyền lợi cho các đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam vừa dân chủ hóa được đất nước ? Với một dân tộc bị chia rẽ gay gắt và bị chấn thương tâm lý nặng nề như Việt Nam thì mọi giải pháp dù đúng đắn đến đâu cũng sẽ bị phản đối gay gắt lúc ban đầu. Nếu không có bản lĩnh và một tư tưởng chính trị đứng đắn dẫn đường thì bất cứ ai cũng rất dễ bị dư luận và những kẻ quá khích lung lạc và thao túng.

Việc đảm bảo quyền lợi cho Đảng cộng sản Việt Nam không khó. Với đại đa số đảng viên cấp trung và cấp thấp thì rất dễ giải quyết khi mọi công việc, chính sách và lương bổng của họ vẫn được giữ nguyên như cũ. Điều này thì dù bất cứ trong hoàn cảnh nào và với bất cứ chế độ nào thì cũng phải làm như vậy, không thể khác được. Khó hơn cả là những đảng viên cao cấp có tài sản rất lớn từ tham nhũng. Họ là những người bảo vệ chế độ với quyết tâm hơn ai hết vì họ sợ mất đảng là mất tất cả.

Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên đã đưa ra đề nghị và phương án giải quyết vấn đề này rất đầy đủ trong Dự án Chính trị Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ 2, đặc biệt là chương 8 nói về quá trình chuyển tiếp từ chế độ cộng sản sang chế độ dân chủ (2). Có thể vắn tắt là "sẽ không có ai bị truy tố vì bất cứ điều gì đã làm trong quá khứ. Sẽ không có các vụ án chính trị. Nhà nước tương lai sẽ không đứng ra truy tố bất kỳ ai". Tuy nhiên công lý sẽ phải thực thi khi có người tố cao đích danh ai đó vì những sai phạm họ đã làm trong quá khứ. Ví dụ một người dân có quyền tố cáo một người cảnh sát đã vô cớ đánh đập họ. Khi đó các tòa án dân sự độc lập sẽ thụ lý vụ án và xét xử một cách minh bạch theo đúng pháp luật. Nhà nước sẽ không can thiệp vào những vụ án đó.

Một vấn đề tranh cãi trong tương lai là việc thu hồi các tài sản bị cho là tham nhũng của các quan chức cộng sản. Cho dù cố gắng đến đâu thì cũng rất khó khăn để thu hồi toàn bộ tài sản này và thật ra chúng cũng không quá nhiều. Đây không phải là ưu tư hàng đầu của chính quyền tương lai. Nếu biết sắp xếp lại và quản trị quốc gia tốt thì chúng ta sẽ tạo ra một nguồn của cải vô cùng lớn khi giải phóng được sức người và trí tuệ của gần 100 triệu người Việt Nam. Đó mới là điều đáng làm và đáng nói.

Vấn đề mà mỗi trí thức Việt Nam và những ai quan tâm đến vận mệnh đất nước cần quan tâm và thao thức là làm sao để Đảng cộng sản Việt Nam chịu ngồi vào bàn đàm phán với các lực lượng dân chủ ? Giải pháp chỉ có một và chúng tôi đã trình bày nhiều lần, chúng ta chỉ có thể làm được điều đó khi cùng nhau tham gia hoặc ủng hộ cho một vài tổ chức đối lập dân chủ đứng đắn để tổ chức đó trở nên hùng mạnh và có tầm vóc. Khi đó dù không muốn Đảng cộng sản Việt Nam cũng phải tìm cách thỏa hiệp để cùng tồn tại và hạ cánh an toàn.

Sỡ dĩ cho đến giờ Việt Nam vẫn chưa có được một tổ chức chính trị đối lập có tầm vóc như mong muốn là do văn hóa của chúng ta cản trở chứ không phải vì Đảng cộng sản Việt Nam giỏi đàn áp. Ngay cả hải ngoại, nơi mà chúng ta hoàn toàn tự do, người Việt cũng chưa làm được việc đó.

Văn hóa Khổng giáo rất tai hại khi cổ xúy và tạo nên tính cam chịu trong mỗi người. Ai cũng sợ nói khác, làm khác với mọi người xung quanh. Tất cả những hành động hay suy nghĩ khác với "thông thường" đều bị dè bỉu, xa lánh và chỉ trích. Đây là một nét tương đồng giữa văn hóa Khổng giáo và chủ nghĩa cộng sản khi luôn đề cao văn hóa "đồng phục tư tưởng" như thời Trung cổ Châu Âu. Thời đó những ai nói khác với nhà thờ đều là "dị giáo" và cần phải xử tử. Nhà bác học Galilê bị giam cầm đến lúc chết vì khẳng định trái đất không phải là trung tâm của vũ trụ và trái đất quay quanh mặt trời.

Trong khi đó, ở các nước dân chủ Phương Tây thì ngược lại, mọi suy nghĩ mới lạ đều được tôn trọng và thảo luận một cách nghiêm túc. Sự khác biệt tạo lên tính cách, sự văn minh, giàu có và nổi tiếng cho người tạo ra nó. Sáng kiến và ý kiến luôn được nuôi dưỡng, khuyến khích và trân trọng vì thế xã hội của họ ngày càng phát triển và văn minh. Chỉ có duy nhất trong lĩnh vực thời trang thì có lẽ người Việt đã bắt kịp với thế giới khi luôn cố gắng tìm tòi, sáng tạo và tôn vinh sự khác biệt. Các ngôi sao luôn cố gắng tạo ra một phong cách, một gu thời trang riêng cho mình và rất tối kỵ khi bị "đụng hàng" với người khác. Thế nhưng trong lĩnh vực tư tưởng thì người Việt không được như thế. Chỉ cần một ý kiến mới lạ hay một "góc nhìn khác" là bị tấn công ngay lập tức bằng những niềm tin sẵn có, bằng những xác quyết mơ hồ không căn cứ dựa trên sự mơ mộng hão huyền thay vì lý luận một cách khoa học và có lý trí.

Ngoài lý do đến từ văn hóa Khổng giáo thì việc bị chấn thương tâm lý tập thể sau hàng trăm năm nội chiến, nhất cả cuộc nội chiến 1954-1975 đã làm cho tâm lý người Việt bị tổn thương nặng nề. Nhiều người không còn biết đến lý lẽ là gì, họ chỉ hành động theo cảm tính bất chấp việc đó có lợi hay có hại. Trong đó có không ít người thuộc thành phần trí thức. Cứ nhìn vào cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tại Mỹ hôm 6/11/2018 là rõ. Dù các cuộc thăm dò trước đó đã dự đoán là đảng Dân chủ sẽ thắng ở Hạ viện và đảng Cộng hòa của Trump chỉ còn nắm Thượng viện, và dù kết quả đúng như vậy nhưng 2/3 người Việt tại Mỹ vẫn ủng hộ Trump cuồng nhiệt. Họ mạ lỵ và tấn công những người nói khác về Trump mà không cần đến lý lẽ và bất chấp sự thật. Họ tin và xem Trump như là vị Thánh có thể đánh bại Trung Quốc và sau đó là Đảng cộng sản Việt Nam. Niềm tin của họ như là niềm tin vào tôn giáo nên không cần lý lẽ và lô-gic.

Nếu bây giờ Việt Nam diễn ra một cuộc bầu cử tự do thì một ứng cử viên bạt mạng và vô đạo đức như kiểu Trump hoàn toàn có thể chiến thắng trước những người có viễn kiến và đạo đức. Đây cũng là một lý do để người Việt Nam đoạn tuyệt với mô hình chính trị "tổng thống chế".

Những người Việt ủng hộ Trump cho rằng đạo đức không quan trọng miễn là làm được việc ? Như vậy chẳng lẽ chúng ta lại dạy con cháu rằng cứ việc dối trá, lừa lọc, phản bội, thô lỗ, không coi ai ra gì…miễn là làm ra nhiều tiền ? Đây là một tâm lý và suy nghĩ hồ đồ, nông cạn và nguy hiểm. Những kẻ không tôn trọng các giá trị đạo đức là những kẻ dám làm tất cả. Hit-le, Mao Trạch Đông, Lênin, Ponpot…đều thế cả. Làm sao có thể ủng hộ những người như vậy được ?

Đảng cộng sản Việt Nam muốn hạ cánh an toàn trong tương lai thì nên tạo điều kiện để các tổ chức chính trị và các tiếng nói ôn hòa có đất sống và phát triển để đến một lúc nào đó còn có thể ngồi lại với nhau và đàm phán về tương lai của đất nước và của chính họ. Nếu những tiếng nói ôn hòa bị tiêu diệt thì đến một lúc nào đó Đảng cộng sản Việt Nam sẽ phải đối đầu với những kẻ cực đoan, là những kẻ không cần biết và quan tâm đến lý lẽ mà chỉ hành động theo bản năng. Đổ vỡ sẽ rất kinh hoàng.

Trí thức Việt Nam còn ưu tư với đất nước nên tìm đến với nhau và chung tay xây dựng một vài tổ chức chính trị dân chủ đối lập có tầm vóc, trước tiên là để tạo ra một tiếng nói mạnh mẽ và thống nhất nhằm áp đảo các khuynh hướng bạo động và cực đoan trong tâm thức người Việt, đề cao các giá trị đạo đức và tinh thần bao dung, hòa giải dân tộc và sau cùng là làm đối trọng để đàm phán với Đảng cộng sản Việt Nam.

Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên đã can đảm, bao dung và mạnh mẽ trong suốt nhiều thập niên, nhiều lúc chấp nhận mọi búa rìu của dư luận để xiển dương phương pháp đấu tranh bất bạo động trên tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc để thiết lập một nền dân chủ đa nguyên thật sự cho Việt Nam. Chúng tôi cần được ủng hộ và sự tiếp tay của trí thức Việt Nam. Việc những người như ông Chu Hảo chia tay với Đảng cộng sản là hoàn toàn đúng đắn và cần thiết trong lúc này. Tuy nhiên vẫn chưa đủ. Họ cần tiến thêm một bước nữa, hoặc là lên tiếng ủng hộ cho một tổ chức chính trị dân chủ sẵn có hoặc là cùng nhau thành lập ra một chính đảng mới bởi vì đấu tranh chính trị luôn là đấu tranh có tổ chức chứ không bao giờ là đấu tranh cá nhân. Trong tình hình đất nước hiện nay thì chúng ta cần nhìn nhận và tôn vinh những người có đóng góp thiết thực cho quá trình xây dựng các chính đảng dân chủ đối lập của Việt Nam thay vì tung hô những người trí thức độc lập, tranh đấu cá nhân theo kiểu nhân sĩ.

Muốn đất nước có dân chủ thì phải có đa đảng mà muốn đa đảng thì phải thành lập các chính đảng. Việc thành lập và duy trì một tổ chức chính trị dân chủ rất là khó khăn và gian nan. Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập và hậu thuẫn mọi thứ, từ tiền bạc vũ khí đến lý luận và thậm chí là cả con người bởi Đảng cộng sản Liên Xô và Trung Quốc. Chúng ta không có ai ủng hộ như Đảng cộng sản trước đây và nếu có cũng không nên nhận vì ai chi tiền kẻ đó có quyền ra lệnh, khi đó chúng ta sẽ là con tin trong tay những thế lực mờ ám. Chúng ta có lẽ phải và sự ủng hộ tinh thần to lớn của thế giới văn minh và hậu thuẫn mạnh mẽ của chính người dân Việt Nam. Bấy nhiêu đó là đủ nếu chúng ta có một tổ chức đủ mạnh để người dân đặt niềm tin.

Xây dựng một tổ chức không hề đơn giản, hàng trăm tổ chức vội vã ra đời và vội vã ra đi chỉ trong một thời gian ngắn, từ trong nước đến ngoài nước. Sự hời hợt và vụng về của những người "vội vã" đó làm mất đi một thứ rất lớn là "niềm tin" của dân chúng. Không còn ai dám tin vào tương lai của đất nước, không còn ai tin vào nội lực của người Việt. Chính vì thế mà không ít người phải đặt niềm tin vào những thứ viển vông như tin rằng Trump sẽ đánh gục Trung Quốc và mang lại dân chủ cho Việt Nam.

Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên là một tổ chức chính trị dân chủ đã ra đời và tồn tại 35 năm qua, dù trải qua nhiều sóng gió và thậm chí là chia ly nhưng rồi chúng tôi vẫn vượt qua được tất cả và luôn tiến về phía trước. Chúng tôi sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm cho bất cứ ai quan tâm và trong thực tế chúng tôi vẫn luôn nhắc đến những vấn đề nan giải đó để cảnh báo mọi người. Hai vấn đề quan trọng nhất mà một tổ chức không thể thiếu đó là một tư tưởng chính trị trong sáng, rõ ràng và khả thi để làm kim chỉ nam dẫn đường cho các thành viên của tổ chức. Tư tưởng chính trị đó đồng thời cũng phải được trình bày cho người dân được rõ thông qua một Dự án Chính trị nghiêm túc để người dân biết được tổ chức đó đề nghị những gì, muốn gì và sẽ làm gì trong hiện tại lẫn tương lai. Vấn đề thứ hai mà một tổ chức không thể thiếu được đó là một đội ngũ cán bộ nòng cốt, là những người nắm rõ tư tưởng đường lối của tổ chức, thống nhất trong lập trường và trong mọi hành động của tổ chức. Vấn đề hình thức không nên đặt nặng trong thời gian đầu như các chức danh và ban bệ trong khi thực lực chưa có…

Không có các tổ chức chính trị hùng mạnh thì sẽ không có thế lực nào có thể buộc Đảng cộng sản ngồi vào bàn đàm phán và như thế Việt Nam sẽ không bao giờ có dân chủ. Đã đến lúc phong trào dân chủ Việt Nam nên ý thức được tầm quan trọng của các tổ chức chính trị dân chủ và cần bắt tay ngay vào việc ủng hộ, tham gia hoặc thành lập các tổ chức chính trị như vậy.

Giai đoạn chuyển tiếp đất nước thời kỳ hậu cộng sản sẽ vô cùng phức tạp và có nhiều việc cần làm tuy nhiên tất cả những vấn đề này đã được Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên nghiên cứu, dự liệu và trình bày đầy đủ, rõ ràng trong Dự án Chính trị Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ 2. Xin giới thiệu cùng độc giả chương 8 : Chuyển tiếp thành công về dân chủ.

Việt Hoàng

(10/11/2018)

(1) https://thongluan-rdp.org/quan-di-m/item/9978-ong-nguy-n-phu-tr-ng-va-d-ng-c-ng-s-n-ph-i-lam-gi-d-thoat-hi-m

(2) Chương VIII. Chuyển tiếp thành công về dân chủ

1. Bài toán chuyển tiếp

Sau khi chế độ độc tài đảng trị chấm dứt chúng ta sẽ trải qua một giai đoạn chuyển tiếp cực kỳ khó khăn. Trong một khoảng thời gian chừng năm năm, nước ta sẽ phải làm những cố gắng rất phi thường để vượt qua những thử thách vô cùng cam go trước khi có thể trở thành một quốc gia bình thường và hội nhập thực sự vào cộng đồng quốc tế.

Chúng ta sẽ phải chuyển đổi từ một hệ thống nhất nguyên, tập trung, chuyên quyền sang một chế độ đa nguyên, tản quyền và phân quyền.

Chúng ta sẽ phải thay thế một kinh tế hoạch định đặt nền tảng trên các xí nghiệp quốc doanh bằng một kinh tế thị trường lấy các xí nghiệp tư làm sức mạnh.

Chúng ta sẽ phải biến một guồng máy chính quyền tham nhũng, quan liêu, bàn giấy, công cụ của một đảng thành một nhà nước hữu hiệu, trách nhiệm, lành mạnh, phục vụ cho công ích.

Chúng ta sẽ phải chấm dứt lối quản lý tùy tiện bằng nghị quyết và chỉ thị để thiết lập một nhà nước dân chủ pháp trị đúng nghĩa.

Chúng ta sẽ phải thay thế bộ máy công an được quan niệm và tổ chức như một dụng cụ đàn áp của Đảng Cộng Sản bằng một bộ máy công an bảo vệ trật tự an ninh và dân quyền ; thay thế các tòa án được coi như cánh tay nối dài của công an bằng những tòa án độc lập chỉ có sứ mạng thể hiện luật pháp.

Chúng ta sẽ phải thay thế một nền giáo dục tuyên truyền, nhồi sọ và thiếu phẩm chất bằng một nền giáo dục khách quan, khai phóng và phẩm chất cao. Chúng ta coi giáo dục và đào tạo là cuộc đấu sống còn của đất nước.

Chúng ta kế thừa một đất nước suy kiệt toàn diện, trộm cướp lộng hành, tham nhũng đã thành định chế, dối trá và gian lận đã thành một phản xạ quốc gia, các bệnh truyền nhiễm lan tràn một cách không kiểm soát, tuổi trẻ thất học và bỏ học, con người suy nhược, bi quan và chán nản, chênh lệch giầu nghèo lộ liễu và thách đố, hàng chục triệu người sống trong cảnh nghèo khổ cùng cực, hàng triệu dân oan sống trong tức tưởi từ nhiều năm nay sau khi bị truất hữu đất và chỉ được bồi thường với giá cưỡng đoạt, môi trường sinh thái bị hủy hoại và ô nhiễm, chủ quyền và ngay cả đất đai đã mất nhiều về tay người ngoại quốc. Chúng ta sẽ phải biến đất nước đó thành một đất nước lương thiện và lành sạch, có kỷ cương, có đầy đủ chủ quyền, có lòng tin, có liên đới, có sức bật kinh tế và có sức thu hút đầu tư nước ngoài.

Chúng ta kế thừa một đất nước chồng chất hận thù do chiến tranh và các chính sách phân biệt đối xử để lại. Chúng ta sẽ phải hàn gắn những đổ vỡ mà không gây ra những đổ vỡ mới. Chúng ta sẽ phải phục hồi danh dự cho những người đã bị xúc phạm mà không xúc phạm những người khác, phải bồi thường thiệt hại cho những nạn nhân mà không tạo ra những nạn nhân mới.

Xã hội Việt Nam đang khủng hoảng niềm tin trầm trọng. Người dân, với lý do chính đáng, đồng hóa chính trị với thống trị, kinh doanh với móc ngoặc trục lợi. Giai đoạn chuyển tiếp phải là bước đầu quả quyết và thuyết phục của một cố gắng liên tục hòa giải quần chúng với chính trị và kinh doanh. Nó phải mở đầu một triết lý hoạt động chính trị mới và một cách kinh doanh mới, với những chính trị gia là những người đã chọn phục vụ xã hội thay vì làm giầu, những doanh nhân là những người hiểu biết, sáng tạo, dám và biết chấp nhận rủi ro.

Chúng ta cần minh định : vấn đề đặt ra không phải là đi tìm một công thức mầu nhiệm nào có thể biến đất nước thành giàu mạnh, không làm gì có một công thức như vậy. Vấn đề là từ những thực tại của đất nước và bối cảnh thế giới nhận diện những vấn đề cần được giải quyết ưu tiên và đề ra những giải đáp.

Mục tiêu của giai đoạn chuyển tiếp này là đặt nền tảng cho một chính quyền dân chủ lương thiện và trách nhiệm, tăng sản lượng quốc gia lên gấp đôi trong khoảng thời gian năm năm, đồng thời cải thiện được môi trường và giềng mối xã hội, hóa giải mọi hận thù và hiềm khích, giải tỏa những bế tắc tâm lý, thực sự đưa một Việt Nam hòa hợp vào quỹ đạo tiến bộ. Mục tiêu này có thể đạt được, và sẽ phải đạt được, bằng những chính sách và biện pháp không mâu thuẫn với những định hướng lớn đã vạch ra.

Chúng ta có quá nhiều vấn đề văn hóa xã hội trầm trọng và cấp bách cần giải quyết nhưng lại chỉ có những tài nguyên rất eo hẹp. Nếu chúng ta dành quá nhiều tài nguyên cho các vấn đề ấy thì chúng ta sẽ không còn tài nguyên để phát triển kinh tế và sẽ dẫm chân tại chỗ trong cảnh đói khổ. Ngược lại có những vấn đề văn hóa xã hội gay gắt đến độ nếu không được giải quyết sẽ triệt tiêu mọi cố gắng kinh tế. Phải nhìn nhận một thực tế phũ phàng là chúng ta sẽ còn phải chung sống với sự nghèo khổ cơ cực nhiều năm nữa. Trong hoàn cảnh ngân sách eo hẹp chúng ta sẽ phải thiết lập một thứ tự ưu tiên cho các vấn đề. Tinh thần chỉ đạo là giải quyết cấp bách những vấn đề tối cần thiết cho hòa giải dân tộc, an ninh xã hội và phát triển kinh tế, các vấn đề khác sẽ được giải quyết theo một thứ tự ưu tiên khác ngay khi khả năng kinh tế cho phép.

2. Những biện pháp chính trị

2.1. Trả chính quyền về cho nhân dân

Mọi người Việt Nam yêu nước và sáng suốt đều phải mong muốn cuộc chuyển hóa về dân chủ diễn ra trong hòa bình và trật tự, trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc. Chúng ta sẽ làm mọi cố gắng để Đảng Cộng Sản tham gia vào tiến trình dân chủ hóa. Nhưng trong mọi trường hợp giai đoạn chuyển tiếp sẽ bắt đầu với một Hiến Ước Lâm Thời của Cộng Hòa Việt Nam trả lại chính quyền về cho nhân dân đồng thời long trọng xác nhận những quyền tự do căn bản kể cả quyền tự do ngôn luận và báo chí, quyền tự do thành lập và tham gia các tổ chức, quyền tự do bầu cử và ứng cử, quyền sở hữu đất. Hiến Ước Lâm Thời này sẽ tóm lược những nguyên tắc chứa đựng trong các định hướng lớn để xây dựng một nước Việt Nam dân chủ đa nguyên và sẽ hướng dẫn mọi hành động của chính phủ chuyển tiếp cho đến khi hiến pháp mới của Cộng Hòa Việt Nam đã được biểu quyết và đi vào áp dụng.

Việc cụ thể đầu tiên phải làm là phi chính trị hóa guồng máy chính quyền, quân đội và công an. Công chức và quân nhân có quyền gia nhập các tổ chức chính trị nhưng không được có hoạt động chính trị. Mọi sinh hoạt đảng phái trong mọi cơ quan hành chính, an ninh và quân sự của nhà nước sẽ bị nghiêm cấm. Bộ máy hành chính, quân đội và công an phải là những công cụ phi chính trị, hoàn toàn độc lập với mọi chính đảng, tuyệt đối tôn trọng hiến pháp, tuyệt đối phục tùng mọi chính quyền dân cử. Quân đội và công an sẽ trở lại với sứ mạng cao cả là bảo vệ đất nước, giữ gìn trật tự an ninh, và do đó cần được tách rời hẳn khỏi mọi hoạt động kinh doanh. Các công ty hiện do quân đội và công an làm chủ sẽ được giải tư. Những người đang làm việc tại các công ty đó nếu muốn có thể được giải ngũ để tiếp tục công việc.

Quân đội sẽ được hiện đại hóa về trang bị và huấn luyện, đồng thời cũng sẽ được tinh giản quân số. Ngân sách quốc phòng sẽ chủ yếu ưu tiên tăng cường hải quân và không quân.

Các tổ chức ngoại vi do Đảng Cộng Sản lập ra để mạo danh và khống chế xã hội dân sự -dù dưới danh xưng mặt trận, công đoàn hay hiệp hội- sẽ mất tất cả mọi vai trò cũng như quyền lợi chính thức và nếu tiếp tục tồn tại sẽ chỉ là những hiệp hội bình thường ngang hàng trước pháp luật với mọi tổ chức xã hội dân sự khác.

2.2. Thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc

Một cố gắng phải bắt đầu ngay và tiếp tục trong nhiều năm là thực hiện đường lối hòa giải và hòa hợp dân tộc. Hòa giải và hòa hợp dân tộc là một quốc sách của giai đoạn chuyển tiếp và sẽ là triết lý chính trị của Việt Nam sau đó. Hòa giải và hòa hợp dân tộc đòi hỏi phải sòng phẳng với quá khứ và trân trọng đối với tương lai.

Mọi chính trị phạm sẽ được trả tự do và phục hồi quyền công dân ngay tức khắc.

Mọi người vì lý do chính trị, vì các chính sách đánh tư sản, cải cách ruộng đất, hay vì đã từng là công chức quân nhân của miền Nam mà đã bị giam cầm, hạ nhục sẽ được phục hồi danh dự và sẽ được bồi thường thiệt hại ít nhất là một cách tượng trưng.

Nhà nước sẽ nhân danh sự liên tục quốc gia nhận lỗi về những sai lầm trong quá khứ, nhất là đối với những người đã chết oan dù ở trong hàng ngũ nào và trong giai đoạn nào.

Những người đã bị tịch thu tài sản vì lý do chính trị sẽ được nhà nước nhận bồi hoàn, sự bồi hoàn thực sự sẽ được thi hành dần dần với thời gian theo khả năng kinh tế của nhà nước.

Mọi công dân có quyền đòi hỏi nhà nước xét lại những bản án mà họ hoặc thân nhân đã là nạn nhân nếu có bằng chứng rằng họ đã bị xử oan. Các thẩm phán bị chứng minh đã phản bội luật pháp và lương tâm chức nghiệp để cố ý xử án oan theo mệnh lệnh sẽ không được hành nghề thẩm phán nữa, trong trường hợp nghiêm trọng có thể bị truy tố.

Mọi công dân bị truất hữu đất có quyền yêu cầu chính quyền xét lại trường hợp của mình để hoặc được trả lại đất hoặc được bồi thường xứng đáng hơn ; họ cũng có quyền tố giác những vụ cưỡng ép bán đất với giá thấp để trục lợi lạm dụng danh nghĩa lợi ích công cộng.

Người Việt hải ngoại, nếu muốn, được nhìn nhận quốc tịch Việt Nam, cho họ cũng như cho con cái sinh ra tại nước ngoài.

Một cơ quan đặc biệt, cấp bộ, sẽ được thành lập để thực hiện chính sách hòa giải dân tộc, đặc biệt là để nhận và giải quyết những hồ sơ khiếu nại và đòi bồi thường của dân chúng. Một ủy ban của quốc hội sẽ có trách nhiệm đảm bảo rằng mọi luật lệ và quy định không đi ngược với quốc sách hòa giải và hòa hợp dân tộc. Một hội đồng hòa giải và hòa hợp dân tộc, độc lập với chính quyền và gồm đại diện của các chính đảng, đại diện các tôn giáo, đại diện các sắc tộc và các nhân vật có uy tín thuộc xã hội dân sự sẽ được thành lập để giám sát việc thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc.

Nhà nước sẽ nghiêm cấm mọi hành động trả thù báo oán và phân biệt đối xử. Mọi người Việt Nam dù có quá khứ nào đều được đối xử bình đẳng trong nghĩa vụ cũng như trong quyền lợi. Mọi công chức, quân nhân trên nguyên tắc sẽ được duy trì ở lại chức vụ đang giữ. Mọi thay đổi nhân sự đều sẽ phải có lý do khách quan và chính đáng.

Việc thực thi hòa giải và hòa hợp dân tộc sẽ cần một thời gian rất dài. Mọi biện pháp của nhà nước phải luôn luôn chứng tỏ thiện chí muốn thực sự hàn gắn những đổ vỡ do quá khứ để lại, để mọi người Việt Nam hài lòng bắt tay nhau xây dựng đất nước.

Để chính sách hòa giải và hòa hợp dân tộc có nền tảng chính đáng và thêm sức mạnh, một đạo luật về hòa giải và hòa hợp dân tộc sẽ được soạn thảo để toàn dân biểu quyết qua trưng cầu dân ý.

2.3. Ban hành một hiến pháp mới cho Cộng Hòa Việt Nam và tu chỉnh luật pháp

Hiến pháp này sẽ do một quốc hội lập hiến, cơ chế đầu tiên được bầu ra, biểu quyết. Hiến pháp này phù hợp với chế độ chính trị đa nguyên, đại nghị và tản quyền đã được chọn lựa và trình bày, và sẽ không được mang bất cứ một quy chiếu nào về một chủ nghĩa, một tôn giáo hay một chính đảng nào. Nó cũng sẽ khẳng định sự hội nhập dứt khoát và trọn vẹn của Việt Nam vào cộng đồng thế giới ; Tuyên Ngôn Nhân Quyền Phổ Cập của Liên Hiệp Quốc và các công ước đính kèm sẽ được coi là thành phần khăng khít của hiến pháp Việt Nam. Án tử hình sẽ được bãi bỏ vì nó phản văn minh và thực ra nó cũng không có cái hiệu lực mà sự dã man của nó có thể làm ta lầm tưởng. Tội "phản quốc" sẽ được xóa bỏ trong ngôn ngữ luật pháp Việt Nam. Sau khi hiến pháp mới đã biểu quyết xong, quốc hội lập pháp -có thể là ngay chính quốc hội lập hiến biểu quyết tự biến thành quốc hội lập pháp nếu hoàn cảnh cho phép- sẽ biểu quyết các bộ luật căn bản. Tinh thần chỉ đạo cho việc soạn thảo các bộ luật căn bản này là giản dị, sáng sủa, dễ hiểu và dễ tôn trọng trong bối cảnh đất nước. Các đạo luật đầu tiên không nhất thiết phải hoàn chỉnh. Điều quan trọng là đặt những nền tảng lành mạnh cho sinh hoạt quốc gia, các đạo luật sau đó sẽ được bổ túc thêm để càng ngày càng đầy đủ và hoàn chỉnh. Các đạo luật hiện hành sẽ được rà soát lại ; một số đạo luật mới có thể xuất phát từ các đạo luật hiện hành, sau khi đã loại bỏ các quy chiếu về chủ nghĩa xã hội và Đảng Cộng Sản, và các điều khoản phản dân chủ hay trái ngược với các quyền tự do hiến định.

2.4. Bắt đầu đem tản quyền vào thực tế

Ngay sau đó cần đem tản quyền vào sinh hoạt chính trị. Điều này có nghĩa là cần một đạo luật tổ chức lãnh thổ quy định quyền hạn của các vùng, số vùng, ranh giới của từng vùng và một lịch trình bầu cử và thành lập các chính quyền địa phương. Nguyên tắc chỉ đạo là các vùng sẽ gồm tỉnh sẵn có giáp ranh với nhau và phải khá thuần nhất về mặt địa lý, giao thông, cấu tạo sắc tộc, chức năng kinh tế, và phải có diện tích và dân số đầy đủ để có thể là những thực thể tồn tại và phát triển được. Một mục tiêu quan trọng mà chính quyền dân chủ tìm kiếm và dồn cố gắng để đạt tới qua chính sách tản quyền là giảm một cách đáng kể sự tập trung dân số quá đáng hiện nay tại hai thành phố Hà Nội và Sài Gòn.

2.5. Giữ đất nước Việt Nam cho người Việt Nam

Từ nhiều năm nay, chính quyền cộng sản đã làm ngơ, thậm chí cố tình, để nhiều vùng đất có giá trị chiến lược lọt vào tay người ngoại quốc. Việc mua bán đất này, nhiều khi được thực hiện qua trung gian của những người Việt cho mượn tên đứng làm chủ, là một mất mát lớn cho đất nước. Nhiều khu rừng đầu nguồn có tầm quan trọng chiến lược cao đã bị chính quyền cho nước ngoài thuê dài hạn và đã gần như trở thành những khu của nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam. Nhiều khu sinh sống gần như của riêng người nước ngoài cũng đã hình thành trên thực tế. Tình trạng này không thể dung túng. Cần duyệt xét lại những sang nhượng đất để chặn đứng vụ bán đất mờ ám cho người ngoại quốc. Những khu đất chuyển nhượng bất chính sẽ bị thu hồi, trong trường hợp nghiêm trọng có thể bị tịch thu không bồi hoàn.

Một biện pháp vừa dung hòa được nhu cầu thu hút tư bản vừa giữ được đất Việt cho người Việt là không những cho phép mà còn khuyến khích người Việt định cư ở nước ngoài có quốc tịch Việt Nam mua nhà và đất. Đó cũng là biện pháp để gắn bó người Việt hải ngoại với quê hương.

Quan trọng hơn nữa là rà soát lại các hiệp ước mà đảng và nhà nước cộng sản đã ký với nước ngoài, nhất là những hiệp ước mà nội dung chưa được công bố. Những hiệp ước chỉ do Đảng Cộng Sản Việt Nam ký kết với nước ngoài sẽ bị tuyên bố tức khắc là vô giá trị ; những hiệp ước do đại diện nhà nước cộng sản ký nhưng không được quốc hội thông qua hay không được công bố trước nhân dân cũng sẽ bị phủ nhận. Chỉ những hiệp ước phù hợp với quyền lợi dân tộc mới được duy trì, sau khi đã thương thuyết lại nếu cần.

3. Những biện pháp văn hóa xã hội

Những vấn đề gay gắt nhất và cấp bách nhất đang đặt ra cho đất nước không phải là những vấn đề kinh tế mà là những vấn đề văn hóa xã hội.

3.1. Tăng cường trật tự an ninh

Mặc dù không có nội chiến và nội loạn, Việt Nam ngày hôm nay trên thực tế đang dần dần trở thành một trong những nước thiếu an ninh nhất thế giới. Mối đe dọa an ninh đầu tiên chính là đảng và nhà nước cộng sản. Bắt người trái phép, giam cầm và đánh đập dã man đã trở thành thông lệ. Tình trạng thiếu an ninh cũng do những thành phần bất hảo ngày càng đông đảo và ngày càng lộng hành, trong nhiều trường hợp với sự bao che của công an. Dĩ nhiên những tệ đoan xã hội là sản phẩm tự nhiên của xã hội bế tắc hiện nay và chắc chắn sẽ giảm sút với sự trở lại của hy vọng và niềm tin, nhưng dầu sao đi nữa thì đất nước ta cũng sẽ còn bất ổn trong một thời gian khá lâu và an ninh trật tự sẽ là một vấn đề nhức nhối cho một chính quyền dân chủ vừa được thành lập. Bảo đảm trật tự an ninh không có nghĩa là giới hạn tự do mà còn là một điều kiện bắt buộc để có tự do thực sự.

Luật pháp cần nghiêm minh chứ không cần phải khe khắt, và nhất là không cần phải hung bạo.

Mọi người Việt Nam đến tuổi trưởng thành đều được cấp thẻ căn cước và giấy thông hành, có quyền ở bất cứ nơi nào mình muốn và di chuyển tự do trên lãnh thổ hay ra nước ngoài.

Luật pháp không rõ ràng cũng là một nguyên nhân đưa đến phạm pháp. Trong tương lai đất nước ta cần một luật pháp thật giản dị, thật dễ hiểu và dễ tôn trọng nhưng cũng rất nghiêm khắc với những sai phạm.

Chính quyền hiện nay có rất nhiều công an, nhưng công an được sử dụng trước hết vào việc bảo vệ độc quyền chính trị của Đảng Cộng Sản thay vì bảo vệ trật tự an ninh, để đàn áp những khát vọng tự do dân chủ hơn là để ngăn chặn những tệ đoan xã hội. Bởi vậy ngay trong giai đoạn chuyển tiếp một phần lớn các cơ quan công an tình báo, bảo vệ chính trị sẽ được chuyển qua lực lượng bảo vệ trật tự an ninh và môi trường. Việc tăng cường trật tự an ninh như vậy chủ yếu là một sự cải tổ guồng máy an ninh. Sự cải tổ này không những không tốn kém mà còn có thể tiết kiệm rất nhiều cho ngân sách. Một chính quyền Việt Nam thực sự dân chủ, không có nhu cầu đàn áp đối lập có thể giảm ngân sách an ninh và đồng thời tăng cường đáng kể trật tự xã hội.

3.2. Khắc phục tham nhũng và các tệ nạn xã hội

Chúng ta hiện đang chứng kiến một quan hệ nhập nhằng giữa chính quyền cộng sản và các băng nhóm làm ăn bất chính được sự bao che của quan chức nhà nước. Buôn lậu, trốn thuế, kinh doanh bất hợp pháp trở thành bình thường. Tệ trạng này phải chấm dứt vì nó là một thách thức đối với quốc gia, một mất mát lớn cho ngân sách và một cản trở nguy hiểm cho kinh doanh đúng đắn.

Chống tham nhũng sẽ được dành ưu tiên cao nhất của giai đoạn chuyển tiếp bởi vì nếu không đẩy lùi được tham nhũng thì bất cứ chính sách quốc gia nào, dù hoàn chỉnh đến đâu cũng sẽ thất bại. Tệ tham nhũng ngày nay đã đạt tới một mức độ ngạt thở. Nguyên nhân chính của tham nhũng trước hết là chính bản chất của chế độ độc tài toàn trị trong đó việc bổ nhiệm và thay thế các quan chức hoàn toàn không tùy thuộc vào quần chúng và dư luận. Thêm vào đó là guồng máy nhà nước áp đảo và kềnh càng, là luật lệ rườm rà, mâu thuẫn cho phép những giải thích chủ quan, thiên vị và tùy tiện đồng thời khuyến khích sự câu kết thành băng đảng để bao che lẫn nhau giữa các quan chức.

Chính quyền cộng sản là nguyên nhân của tham nhũng, do đó một giai đoạn thuận lợi để chống tham nhũng sẽ mở ra ngay khi một chính quyền dân chủ đã thay thế chính quyền cộng sản. Vấn đề của chính quyền chuyển tiếp là giáng cho tham nhũng một đòn chí tử và không cho nó gượng dậy sau đó. Tham nhũng là lợi dụng công quyền, do đó muốn chống tham nhũng trước hết phải giảm trọng lượng của quyền lực nhà nước, nghĩa là phải thay thế guồng máy nhà nước nặng nề và toàn quyền bằng một nhà nước nhẹ và quyền lực giới hạn. Sau đó cần một luật pháp giản dị, minh bạch khiến người dân biết chắc chắn những gì mình có thể làm và những gì mình không được làm và không còn là những con tin của các quan chức nhà nước. Để đánh dấu một giai đoạn mới chính quyền dân chủ sẽ phải có những biện pháp gây ấn tượng mạnh như cấm tuyệt đối công chức không được nhận quà cáp trong bất cứ trường hợp nào, buộc mọi công chức phải kê khai tài sản hàng năm, buộc mọi cơ quan kiểm điểm định kỳ kết quả của cố gắng chống và ngăn ngừa tham nhũng, v.v.

Chính quyền dân chủ sẽ thẳng tay tiêu diệt các băng đảng xã hội đen. Chúng sẽ không được hưởng bất cứ một sự khoan dung nào trong bất cứ trường hợp nào vì bất cứ lý do nào.

Chống tham nhũng cũng như chống buôn lậu và các tệ nạn xã hội khác cần phải có quyết tâm nhưng cũng cần có lòng tin và hậu thuẫn của toàn dân. Một trong những đồng minh của ta trong trận chiến cam go này là tự do ngôn luận. Trong một chế độ thực sự tự do, nạn tham nhũng và hà hiếp dân chúng nếu không bị dẹp hẳn thì cũng phải rút xuống ở một mức độ thấp. Sự tố cáo của những người công dân tự do biết rõ mọi quyền của mình là vũ khí chống tham nhũng hiệu lực nhất.

Mọi sáng kiến sẽ được hoan nghênh để tranh thủ sự hưởng ứng tích cực của toàn dân vào cố gắng lành mạnh hóa quốc gia này.

3.3. Bãi bỏ hoàn toàn mọi chính sách và biện pháp kiểm duyệt

Hiến Ước Lâm Thời cũng như hiến pháp mới sau đó sẽ long trọng nhìn nhận quyền tự do sáng tác và phát hành sách báo và văn hóa phẩm, đồng thời cấm chỉ mọi đạo luật theo chiều hướng kiểm duyệt. Trong nước Việt Nam tương lai sẽ không thể có một sự giới hạn nào về tự do phát biểu. Luật pháp sẽ chỉ chế tài những phát biểu trắng trợn kêu gọi bạo lực, xúc phạm đến danh dự và quyền lợi của các công dân hay các đoàn thể công dân và bị chính các cá nhân hay đoàn thể này khởi kiện. Các hiệp hội công dân như vậy sẽ nắm một vai trò then chốt trong việc bảo vệ sự lành mạnh của văn hóa. Chúng ta đừng quên rằng xã hội dân sự là nền tảng của thể chế dân chủ đa nguyên.

3.4. Bảo đảm sự khách quan của giáo dục và một trình độ văn hóa tối thiểu cho mọi công dân

Sẽ không có vấn đề nhà nước áp đặt sách giáo khoa chính thức. Quyền sáng tác sách giáo khoa sẽ không bị giới hạn và quyền chọn sách giáo khoa hoàn toàn thuộc các nhà giáo. Một định chế độc lập với chính quyền, xuất phát từ các nhà giáo, sẽ soạn thảo ra những sách giáo khoa đầu tiên, và sau đó có thẩm quyền giới thiệu, nhưng không áp đặt, với các nhà giáo những sách nào có phẩm chất đầy đủ để có thể được dùng làm sách giảng dạy. Giáo dục là một đầu tư chiến lược rất tốn kém của đất nước vì vậy nó phải thuần túy hướng về mục tiêu truyền bá kiến thức và mở mang trí tuệ chứ không thể bị lợi dụng cho những tuyên truyền một chiều.

Một chú trọng đặc biệt dành cho việc giảng dạy Việt văn. Đó là điều mà ta không thể tiết kiệm được bởi vì một trình độ văn hóa tối thiểu và một khả năng truyền thông tối thiểu vừa là điều kiện không có không được cho phát triển kinh tế, vừa là một điều kiện cần thiết cho sự ổn vững của xã hội, cho hòa bình giữa những con người.

Từ nhiều năm nay chính quyền cộng sản hầu như đã bỏ rơi hoàn toàn mọi cố gắng về giáo dục. Chúng ta đã mất đi rất nhiều học sinh, sinh viên và phẩm chất của giáo dục ở mọi cấp đã sút giảm trầm trọng, nhất là từ khi chế độ cộng sản thực hiện chính sách kinh tế thị trường hoang dại. Phải thi hành cưỡng bách giáo dục và giáo dục miễn phí ít nhất tới hết lớp 9. Rất có thể là ngân sách sẽ không cho phép tuyển dụng đủ số giáo chức cần có, trong trường hợp này chúng ta cần phát động một phong trào liên đới quốc gia về văn hóa, sinh viên tiếp tay dạy học sinh, lớp trên tiếp tay dạy lớp dưới trong tinh thần tình nguyện hay với thù lao tượng trưng. Cũng cần lưu ý rằng tình trạng bi đát của ngành giáo dục hiện nay không khó khắc phục. Sự xuống cấp của giáo dục hiện nay phần chính do chính sách của nhà nước cộng sản. Giáo dục bị xem là dịch vụ kiếm tiền cho nhà nước thay vì một đầu tư vào tương lai. Nhà nước cộng sản cũng không phân biệt giáo dục với tuyên truyền. Học sinh bị nhồi sọ những kiến thức mà cả người dạy lẫn người học đều biết là sai và vô ích. Thêm vào đó sự bế tắc của kinh tế cũng như sự băng hoại của xã hội khiến cho thanh thiếu niên và phụ huynh không biết học để làm gì. Tất cả những nguyên nhân đó sẽ tan biến dưới một chế độ tôn trọng tự do, tôn trọng con người và coi giáo dục và đào tạo là cuộc chiến đấu sống còn của dân tộc.

3.5. Cải thiện môi trường và tổ chức đất nước như một thành phố lớn

Chúng ta là một quốc gia đã bị quá nhiều tàn phá, do đó chúng ta phải gìn giữ và bảo trì cẩn trọng các di tích lịch sử và các danh lam thắng cảnh. Đó là những tài sản quý báu, những nguồn tự hào và là những gạch nối gắn bó người Việt Nam với nhau. Việc trùng tu các di tích này sẽ không tốn kém lắm vì số lượng ít ỏi, và cũng có thể không tốn kém gì hết cho nhà nước. Chúng ta sẽ cho đấu thầu quyền khai thác và nghĩa vụ bảo trì một số di tích và thắng cảnh có giá trị du lịch cho các công ty tư nhân Việt Nam, sẽ giao phó một số di tích có tính tôn giáo cho các giáo hội.

Nước ta đất hẹp người đông nên phải được quan niệm và tổ chức như một thành phố lớn, nghĩa là sạch, đẹp và an ninh, với cơ sở hạ tầng, các cơ quan hành chính, pháp luật, văn hóa, giáo dục, y tế trải đều trên khắp lãnh thổ thay vì tập trung vào những thành phố lớn -nhất là Hà Nội và Sài Gòn - như hiện nay, với các khu rừng được săn sóc như những công viên, những nơi gặp gỡ và tiêu khiển của các công dân bình đẳng.

Cần quy định và thực hiện nghiêm minh những tiêu chuẩn về xây dựng để ngăn chặn việc xây cất thiếu an toàn hoặc xô bồ làm hại cảnh quan. Du lịch sẽ là một sinh hoạt kinh tế quan trọng và chúng ta khó hình dung kỹ nghệ du lịch có thể thành công nếu đất nước ta không đẹp.

Chính sách đánh bắt vô tổ chức hiện nay đã làm suy giảm trầm trọng nguồn hải sản của ta. Chúng ta cần có ngay những quy định giản dị, minh bạch và được áp dụng triệt để nhằm cứu vùng biển và cứu nguồn hải sản. Phong trào phá rừng bán gỗ bừa bãi -vẫn còn tiếp tục- đang có cơ nguy biến nước ta thành cằn cỗi ; phong trào này phải được chặn đứng ngay tức khắc. Việc phục hồi lại cây rừng vừa cần nhiều vốn lại vừa cần sự bảo vệ và chăm sóc đều đặn cho nên có thể ngân sách nhà nước không cáng đáng nổi. Cần nghiên cứu giải pháp giao khoán từng vùng rừng, từng khu rừng cho các công ty tư nhân Việt Nam phục hồi và khai thác, với những quyền lợi và những cam kết rõ rệt.

Song song với cố gắng phát triển công nghiệp cũng phải có những quy định rõ ràng về cách xử lý các loại phế liệu.

Đình chỉ tức khắc và vĩnh viễn dự án khai thác bô-xít tại Tây Nguyên.

Đình chỉ các dự án xây dựng các nhà máy điện nguyên tử chừng nào các kỹ thuật xử lý an toàn chất thải vẫn chưa được tìm ra và Việt Nam chưa đủ khả năng bảo đảm an ninh tuyệt đối trong việc điều hành các nhà máy.

4. Những biện pháp kinh tế

Về mặt kinh tế việc đầu tiên mà một chính quyền dân chủ phải làm là chấm dứt lối cai trị bằng nghị quyết, thông cáo, quyết định, chỉ thị và thay vào đó bằng những luật lệ rõ ràng, minh bạch và ổn vững. Một bộ luật kinh doanh mới là điều không thể thiếu và cũng không thể đợi. Đồng thời chúng ta cần tập trung cố gắng quốc gia vào những vấn đề cấp bách.

4.1. Giải tư đại bộ phận các xí nghiệp quốc doanh và tư hữu hóa ruộng đất

Nhà nước không có chức năng sản xuất xe, bán quần áo, mở công ty du lịch và cửa hàng ăn uống, quản lý khách sạn và vũ trường. Những công ty quốc doanh, nông trường quốc doanh làm mất tinh thần chấp nhận rủi ro, làm trì trệ các sáng kiến và làm mất tinh thần trách nhiệm. Chúng ta coi tư doanh là nền tảng của kinh tế quốc gia, do đó giải tư các xí nghiệp quốc doanh và tư hữu hóa ruộng đất là một chính sách cốt lõi của giai đoạn chuyển tiếp. Kinh nghiệm của các nước chuyển hóa về kinh tế thị trường cho thấy việc giải tư phải được thực hiện với tất cả cảnh giác để tránh tệ nạn đầu cơ, tẩu tán tài sản quốc gia, làm xuống cấp các xí nghiệp cần giải tư.

Chúng ta sẽ giải tư tức khắc tất cả mọi công ty, xí nghiệp quốc doanh có thể giải tư được, nghĩa là đang hoạt động một cách bình thường trong một ngành không có bí mật quốc phòng, để đem lại cho kinh tế một sinh lực mới.

Chúng ta sẽ xúc tiến ngay việc tư hữu hóa ruộng đất theo nguyên tắc trả quyền sở hữu lại cho những người đang canh tác trên đất của mình, tùy trường hợp cấp không hoặc bán lại cho nông dân những đất đai đang được nhà nước giao phó. Dứt khoát bãi bỏ chủ trương nhà nước thống nhất quản lý đất.

Nguyên tắc chỉ đạo của chính sách giải tư và tư hữu hóa ruộng đất là những gì tư nhân có thể làm được nhà nước sẽ không làm. Chính sách này sẽ phải hoàn tất về cơ bản sau năm năm.

4.2. Khuyến khích tối đa đầu tư kể cả đầu tư từ nước ngoài

Bãi bỏ từng bước các luật đầu tư và doanh nghiệp hiện nay vì chúng còn quá gò bó và vì chúng dành cho người ngoại quốc những quyền mà người Việt Nam không có, chúng còn chia rẽ người trong nước với người sống ở nước ngoài. Trong tương lai người đầu tư nước ngoài sẽ có tất cả mọi quyền mà họ đang có và sẽ có nhiều tự do hơn hẳn hiện nay nhưng sẽ không thể có những quyền mà người Việt Nam không có. Thời gian để hoàn tất mọi thủ tục thành lập công ty sẽ không thể quá một tuần lễ. Cần nhận thức giá trị rất tương đối của các bộ luật nâng đỡ đầu tư. Nếu những đặc quyền chỉ có hiệu lực ngắn hạn thì luật đầu tư chỉ lôi kéo được những đầu tư hời hợt, còn nếu những đặc quyền về đầu tư có hiệu lực dài hạn thì luật đầu tư sẽ có khuynh hướng trở thành luật lệ bình thường. Vả lại, quyết định đầu tư chỉ tùy thuộc rất ít vào những biện pháp khuyến khích và tùy thuộc rất nhiều vào bối cảnh chính trị và kinh tế.

4.3. Dồn cố gắng cho hai công trình giao thông chiến lược

Trong cố gắng tăng cường và cải thiện cơ sở hạ tầng, hai công trình lớn mà chúng ta phải bắt đầu ngay và phải tiếp tục trong nhiều năm, qua nhiều giai đoạn, là công trình hiện đại hóa và mở rộng theo đúng tiêu chuẩn quốc tế đường xe lửa Thống Nhất và công trình xa lộ hóa quốc lộ Xuyên Việt nối liền Hà Nội và Sài Gòn. Đây là những công trình vừa tối cần thiết cho các hoạt động kinh tế, vừa cụ thể hóa sự thống nhất của đất nước, lại vừa tạo nhiều công ăn việc làm trên khắp lãnh thổ. Những dự kiến hiện nay cho hai công trình này còn ở mức rất thấp so với nhu cầu của nước ta mà phần lớn sinh hoạt tập trung dọc theo trục giao thông này. Mở rộng và hiện đại hóa hai công trình này cũng là điều cần thiết cho dự án xây dựng và khai thác cảng Cam Ranh, một dự án trọng điểm mà ta sẽ tiến hành mạnh mẽ trong nhiều năm để đem lại sức mạnh kinh tế cho cả nước và cho miền Trung, miền nhiều triển vọng nhất của đất nước do vị trí bờ biển nhưng hiện nay là vùng kém mở mang nhất.

Với hình thể rất đặc biệt của nước ta cũng như với giai đoạn lịch sử khó khăn gần đây xa lộ Xuyên Việt phải vừa là trục giao thông chính vừa là một thắng cảnh vĩ đại làm biểu tượng cho sự thống nhất tốt đẹp và bền vững của đất nước.

5. Những nguồn tài chính của cố gắng phục hưng

Một chương trình phục hưng dù khiêm nhường đến đâu cũng đòi hỏi rất nhiều chi phí. Những mục tiêu cho giai đoạn chuyển tiếp cũng rất tham vọng. Chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn, nhưng chúng ta cũng sẽ có những nguồn tài trợ.

Trước hết là chấm dứt những phí phạm do chính quyền cộng sản tạo ra mà phí phạm lớn nhất là do chính Đảng Cộng Sản Việt Nam. Hiện nay hàng trăm ngàn người được trả lương chỉ để làm việc cho bộ máy của Đảng Cộng Sản. Hàng ngàn nhà và phòng ốc bị chiếm dụng trái phép làm trụ sở, văn phòng cho các chi bộ đảng. Cán bộ, đảng viên tham nhũng lợi dụng quyền thế biển thủ một phần quan trọng tổng sản lượng quốc gia. Trong tương lai khi Đảng Cộng Sản phải chấp nhận một chỗ đứng bình thường ngang hàng với các chính đảng khác, nhà nước sẽ tiết kiệm được một khoản ngân sách lớn, giải tỏa một nguồn nhân lực lớn và thu hồi một số tài sản lớn.

Nguồn tài trợ thứ hai là do sự tiết giảm ngân sách an ninh quốc phòng. Chúng ta không có ý đồ chinh phục nước nào và ngược lại cũng không còn lo ngại bị chinh phục bằng quân sự. Sự phòng vệ các vùng biên giới, biển và hải đảo cũng không cần đến một lực lượng bộ binh đông đảo như hiện nay mà cần một quân đội cơ giới tinh nhuệ, chủ yếu là không quân và hải quân. Guồng máy công an -chính thức và phụ trợ- hiện nay của nhà nước cộng sản có thể gồm trên hai triệu người nhưng trước hết nhằm bảo vệ Đảng Cộng Sản và đàn áp những nguyện vọng dân chủ. Một nhà nước dân chủ thực sự có thể giảm không những một phần quan trọng chi phí mà còn tăng cường hẳn khả năng bảo vệ lãnh thổ và duy trì trật tự an ninh.

Nguồn tài trợ thứ ba là do sự giải tư các xí nghiệp quốc doanh. Như đã trình bày ở phần trên, mục đích chính của chính sách giải tư là hợp lý hóa và lành mạnh hóa sinh hoạt kinh tế. Tuy vậy chương trình giải tư cũng sẽ đem lại một tài nguyên quan trọng.

Nguồn tài trợ thứ tư do sự đóng góp tích cực hơn của cộng đồng Việt Nam hải ngoại sau khi một chế độ dân chủ thực sự, phù hợp với nguyện vọng sâu xa của đồng bào hải ngoại đã được thiết lập. Khối người Việt hải ngoại, với trên ba triệu người, phần lớn định cư tại các nước phát triển và một thu nhập thường niên trên 50 tỷ USD có khả năng tiết kiệm 10 tỷ USD mỗi năm. Nhưng cộng đồng người Việt hải ngoại không chỉ là một nguồn đầu tư mà còn có thể có những đóng góp quan trọng khác về văn hóa, khoa học và kỹ thuật. Một khi quan hệ với trong nước đã được bình thường hóa, cộng đồng người Việt hải ngoại sẽ là một đòn bẩy lớn cho cố gắng phát triển đất nước.

Nhưng nguồn tài trợ quan trọng nhất và càng ngày càng dồi dào hơn là do chính sự phát triển của kinh tế. Hiện nay rất nhiều ngành nghề bị tê liệt, rất nhiều tài năng bị triệt tiêu do bị cấm cản hay sách nhiễu. Trả lại tự do kinh doanh thực sự cho dân chúng với những bảo đảm của một chế độ dân chủ pháp trị chân chính là ta đã khai thông được nhiều sinh lực mới và có thể chờ đợi những đóng góp mới. Chính sách kinh tế đúng đắn và lương thiện này cũng sẽ có khả năng động viên nguồn tài chính còn lại trong nhân dân. Không có sức mạnh nào lớn hơn sức mạnh mà chúng ta sẽ có nhờ giải tỏa và động viên sinh lực của một dân tộc gần 100 triệu người cần mẫn. Chúng ta có quyền chờ đợi những thành quả nhanh chóng và to lớn. Mục tiêu tăng gấp đôi tổng sản lượng quốc gia trong vòng năm năm của giai đoạn chuyển tiếp đòi hỏi một tỷ lệ tăng trưởng 15% mỗi năm nhưng đó là một mục tiêu trong tầm tay vì chúng ta là một nước bờ biển với một vị trí thuận lợi và một dân tộc cần mẫn, khả năng lôi kéo đầu tư nước ngoài rất lớn. Đó là tỷ lệ mà ngay cả các tỉnh duyên hải của Trung Quốc cũng đã đạt được dù dưới chế độ cộng sản. Hơn nữa nước ta còn rất nhiều tiềm năng chưa khai thác. Chúng ta tụt hậu không phải vì khó khăn khách quan mà vì sự tồi dở và tham nhũng của chính quyền cộng sản.

6. Chuyển tiếp về dân chủ sẽ thành công, đất nước sẽ vươn lên

Chúng ta có quyền hy vọng và lạc quan. Đất nước ta tuy có vấp ngã nhưng vẫn còn khả năng đứng dậy và đi tới.

Chúng ta không cần trông đợi ở một phép mầu hay một ân huệ nào cả. Phép mầu ấy chúng ta có thể tự tạo ra cho mình, ân huệ ấy chúng ta có thể tự ban cho mình một cách giản dị.

Bình thường hóa quan hệ giữa người Việt Nam với nhau. Long trọng xác nhận đất nước là của mọi người chứ không phải là của riêng một đảng hay một chủ nghĩa nào. Nhìn nhận chỗ đứng ngang nhau cho mọi người và cho mỗi người. Cởi bỏ những xiềng xích của hận thù và bất dung để nhìn nhau như anh em. Đem lại lạc quan và niềm tin ở một nhà nước thành tín và lương thiện. Đem lại những đảm bảo rõ rệt, chắc chắn cho quyền tư hữu và quyền kinh doanh. Thi hành triệt để những đạo luật được thảo luận và quy định một cách lương thiện. Quyết tâm bài trừ tham nhũng và những tệ đoan xã hội đang phá hoại cơ thể quốc gia. Tất cả những điều này chúng ta đều có thể làm được và có thể làm ngay được. Rồi chúng ta sẽ thấy đất nước này thay da đổi thịt, rồi chúng ta sẽ thấy dân tộc này vùng dậy chồm tới chinh phục tương lai. Chúng ta sẽ khám phá ra sự mầu nhiệm của những giá trị rất đơn giản như tự do dân chủ, hòa hợp dân tộc. Chúng ta sẽ thấy là một chế độ dân chủ pháp trị thành công ngay cả trong những điều kiện kỹ thuật, văn hóa, xã hội và nhân sự khó khăn vì có khả năng tự điều chỉnh và cải tiến. Đất nước nhất định sẽ đứng dậy, đi tới và tiến lên rất mạnh mẽ.

Trích Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai

(Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên)

Published in Quan điểm
Trang 1 đến 2