Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Đảng cộng sản Việt Nam dù rất bối rối và đang gặp khủng hoảng một cách trầm trọng, thời cơ dân chủ hóa đất nước rất gần, dù vậy phong trào dân chủ Việt Nam vẫn không đạt được tầm vóc và tiếng nói đáng ra phải có. Vì sao lại như vậy ?

Có nhiều lý do. Lý do quan trọng nhất đó là trí thức Việt Nam vẫn chưa ủng hộ cho dân chủ, cụ thể là chưa tham gia hoặc lên tiếng ủng hộ cho các tổ chức đối lập.

danchu1

Anh em chúng tôi còn một mong muốn nữa đó là cố gắng khơi nguồn cảm hứng cho một "Giấc mơ Việt Nam".

Tất cả vấn đề nghiêm trọng nhất tại Việt Nam hiện nay (ví dụ việc cưỡng chế đất đai của người dân tại Thủ Thiêm, Lộc Hưng, các BOT bẩn…) đều xuất phát từ thể chế chính trị. Muốn thay đổi thì phải có các "giải pháp chính trị" và các giải pháp đó chỉ có thể đến từ các tổ chức chính trị khác ngoài đảng cộng sản. Đảng cộng sản Việt Nam còn độc quyền thì họ sẽ không thay đổi mà muốn họ thay đổi thì phải có sức ép và cạnh tranh từ các tổ chức đối lập.

Phải có cạnh tranh chính trị thì mới có công bằng, minh bạch và lẽ phải. Trí thức Việt Nam chắn chắn hiểu điều đó nhưng tại sao họ không ủng hộ cho các tổ chức chính trị đối lập ?

Lý do đầu tiên mà ai cũng rõ đó là Sợ. Sợ là đương nhiên và đôi lúc cũng phải biết sợ. Vấn đề ở đây là sợ cái gì và sợ khi nào ? Nên sợ cái đúng và lẽ phải, không nên sợ cái sai trái và bất công. Bản thân tôi không bao giờ uống rượi khi lái xe vì tôi sợ vi phạm luật pháp và sợ gây ra tai nạn. Nhưng lên tiếng chống lại sự bảo thủ, lạc hậu và độc tài của cộng sản tôi lại không sợ vì tôi biết việc mình làm là đúng. Trong khi đó với đa số đàn ông Việt Nam thì lái xe nhưng vẫn uống rượu (nhiều ít tùy từng người, từng lúc) nhưng khi đụng đến việc phê phán chính quyền là họ tránh ngay lập tức.

Đáng nói hơn nữa là có những người không sợ. Họ vẫn lên tiếng, thậm chí gay gắt chỉ trích chính quyền và bị chính quyền bỏ tù nhưng sau đó họ vẫn quay lại vuốt ve, tâng bốc chính quyền những điều không hề có và nói những điều không nên nói hoặc năn nỉ những điều mà họ thừa biết là không bao giờ nhận được...

Lý do mà chúng ta thường nghe nhiều trí thức Việt Nam thanh minh cho việc chọn lối hoạt động nhân sĩ là vì họ muốn "độc lập" vì như thế mới là "khách quan". Điều này hoàn toàn ngụy biện. Tôi tin là phần đông trong số họ nếu được vời ra làm quan thì họ sẽ nhận lời ngay lập tức. Từ thời chính phủ Trần Trọng Kim, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Hồ Chí Minh… đều đã thế thì giờ cũng sẽ vậy thôi. Thực tế là đa số họ ngồi chờ, đánh bóng tên tuổi, hy vọng một lúc nào đó, hay một chế độ mới sẽ mời họ ra làm quan chứ không hẳn hoàn toàn "khách quan" như họ nói.

Tâm lý chờ thời, giấc mộng "phò chính thống" của đa số trí thức Việt Nam rất nhỏ mọn và tầm thường vì chỉ nghĩ đến bản thân mình mà sẵn sàng hy sinh danh dự, lương tâm lẫn trí tuệ. Đây là thái độ hèn nhát, trốn tránh trách nhiệm, bất lương cần phải nhận diện và lên án. Nên nhớ rằng trí thức luôn là đại diện cho tiếng nói, tâm hồn và trí tuệ của mỗi dân tộc. Người dân Việt Nam không ngẩng mặt lên được vì trí thức Việt Nam luôn cúi đầu.

Tư duy của trí thức Việt Nam ảnh hưởng rất lớn bởi văn hóa nô lệ của Khổng giáo. Mộng ước của trí thức Việt Nam ngày nay (cũng như tầng lớp sĩ phu ngày xưa) vẫn là có được bằng cấp cao, được chính quyền trọng dụng… Ước mơ này đồng nghĩa với việc được làm công cụ cho chính quyền, cho kẻ cai trị để được "ăn trên ngồi trước" thậm chí là ngồi lên đầu nhân dân. Nhiều người về hưu rồi vẫn giương ra những chức vụ mình từng có, từng giữ như là niềm tự hào vì từng được làm… nô tài cho đảng. Đây là một "di sản" độc hại từ lịch sử, từ văn hóa Nho giáo mà trí thức Việt Nam được thừa hưởng từ Trung Quốc.

Xuất phát từ tâm thế nô lệ đó, trí thức Việt Nam không hề có bất cứ một ước mơ gì cao đẹp ngoài những thứ tầm thường như nói ở trên. Chính vì lẽ đó mà dân tộc Việt Nam cũng không có ước mơ gì lớn lao. Một dân tộc không có ước mơ là một dân tộc không có tương lai và không thể nào vươn lên được. Nếu không mơ về một chân trời tươi sáng và tự do, không tin vào những điều tốt đẹp của tương lai thì làm sao mỗi người, mỗi dân tộc có được động cơ để cống hiến và làm việc ?

Chúng ta đều nghe nói đến "Giấc mơ Mỹ" (American dream). "Giấc mơ Mỹ" đã mang lại một niềm tin mãnh liệt về một tương lai tự do và tươi sáng ở phía trước cho tất cả người Mỹ và những ai muốn tìm đến đây lập nghiệp và sinh sống. Chính nhờ "giấc mơ" này mà nước Mỹ, đất nước của những người di dân, của những người đi tìm "giấc mơ" đã phát triển rực rỡ và bỏ qua tất cả các phần còn lại trên thế giới. Không phải người dân Mỹ nào cũng đạt được giấc mơ của mình nhưng nếu không có giấc mơ đó thì họ không thể nào giàu có và thành công như bây giờ. Tập Cận Bình cũng đang kêu gọi và hứa hẹn về một "giấc mơ Trung Hoa" để động viên và gắn kết người dân Trung Quốc.

"Giấc mơ" của người Việt Nam thật buồn. Gần 100 năm trước, Chế Lan Viên viết :

Chúng con ngủ trong giường chiếu hẹp

Giấc mơ con đè nát cuộc đời con…

100 năm sau, "giấc mơ con" đó vẫn không thay đổi bao nhiêu. Trên trường quốc tế, Việt Nam đứng cuối cùng trong danh sách các quốc gia có đóng góp cho nhân loại. Trong nước, giấc mơ của đa số người Việt chỉ là "mơ về ngôi nhà và những đứa trẻ", tiếp đến là làm giàu, ăn nhậu và du lịch. Tất nhiên đây chỉ là nói về số đông, cần ghi nhận sự chia sẻ và dấn thân của các nhóm và tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam thời gian qua, những việc làm của họ là vết son và điểm sáng thắp lên hy vọng cho xã hội Việt Nam.

danchu2

Chim bồ câu tung cánh : Biểu tượng của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Sự ra đời và có mặt của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên (Tập Hợp) cho đến giờ, ngoài nhiệm vụ tranh đấu dân chủ hóa đất nước thì anh em chúng tôi còn một mong muốn nữa đó là cố gắng khơi nguồn cảm hứng cho một "giấc mơ Việt Nam". Đó là giấc mơ chung cho tất cả 90 triệu người dân Việt Nam mà chúng tôi gửi gắm trong Dự án chính trị Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai, chương 8 : "Chung một giấc mơ Việt Nam" (2). Bản thân Dự án chính trị này cũng là một "giấc mơ" và "giấc mơ giữa ban ngày" đó hoàn toàn có thể trở thành sự thật nếu được đa số người Việt Nam chia sẻ và ủng hộ.

Anh em trong Tập Hợp khác với nhiều trí thức Việt Nam vì chúng tôi đã "chọn phe" đứng về phía người dân Việt Nam, xác định cho mình một vị thế rất rõ ràng đó là đối lập với Đảng cộng sản Việt Nam.

Chúng tôi không chơi trò "đu dây" hay "đi hàng hai" như một số trí thức "bất đồng chính kiến". Nhiều người trong số họ vẫn đang chơi trò "đu dây" như Đảng cộng sản, Đảng đu dây giữa Trung Quốc và Mỹ (Phương Tây) còn trí thức Việt Nam đu dây giữa chính quyền và người dân. Một mặt tỏ ra đứng về phía người dân, mặt kia vẫn muốn van xin, năn nỉ và vuốt ve chính quyền. Trong khi ngay cả bản thân Đảng cộng sản Việt Nam đang ngày càng kiên quyết "thanh lọc đội ngũ" bằng cách khai trừ những đảng viên khác biệt chính kiến mà vụ khai trừ đảng ông Chu Hảo hay nhà nghiên cứu về Biển Đông Trần Đức Anh Sơn là ví dụ.

Đảng cộng sản Việt Nam buộc các đảng viên phải chọn phe, hoặc là phe đảng hoặc là phe dân. Trong giai đoạn 2011-2017 đã có 50.938 đảng viên bị xóa tên và khai trừ khỏi đảng (1). Mới đây ông Nguyễn Phú Trọng cũng tuyên bố rất rõ rằng "Không cho phép ai làm trái cương lĩnh, quan điểm, chủ trương và đường lối của đảng". Đã đến lúc vạch ra một ranh giới rõ ràng : Họ là họ mà ta là ta. Họ làm việc của họ, ta làm việc của ta. Không nên mất thời giờ và quan tâm đến những việc vô ích như viết kiến nghị, xin xỏ, năn nỉ hay vuốt ve chính quyền.

Trí thức Việt Nam phải ủng hộ hoặc tham gia vào việc xây dựng một lực lượng chính trị cho chính mình. Đúng là việc này không dễ nhưng vẫn có thể làm được nếu có quyết tâm và thiện chí. Một cách dễ nhất là nên tìm hiểu kỹ các tổ chức đối lập đã có sẵn và ủng hộ cho tổ chức đó. Tuy nhiên trí thức Việt Nam với tâm thế "nô lệ" nên một mặt, không dám tự mình đứng ra thành lập các chính đảng mới hoặc cũng có thể vì họ nhận ra rằng xây dựng một tổ chức chính trị dân chủ là không hề dễ dàng. Mặt khác, vì văn hóa nhỏ mọn và ích kỷ thừa hưởng từ Khổng giáo khiến họ không muốn ủng hộ cho các tổ chức chính trị sẵn có vì họ cho rằng nếu tham gia vào một tổ chức như vậy thì họ sẽ mất đi vai trò và tiếng nói của mình. Họ thà làm một "bại tướng" nhưng được nhiều người biết đến còn hơn là làm một "sĩ tốt" trong một tổ chức nào đó. Họ làm ngược lại câu nói "thà làm một người lính trong đoàn quân thắng trận còn hơn làm một viên tướng trong đoàn quân bại trận".

Một lý do nữa khiến trí thức Việt Nam không ủng hộ cho các tổ chức đối lập hiện nay có lẽ là vì các tổ chức đối lập không thể ban phát cho họ quyền lợi và danh vọng chăng ? Có người hỏi chúng tôi tại sao không thấy Tập Hợp đặt ra các ban bệ và chức vụ như các tổ chức chống cộng khác ở hải ngoại ? Đúng là có những tổ chức không chỉ hải ngoại mà cả trong nước, chưa có người, chưa có bất cứ một sự chuẩn bị hay phương tiện gì nhưng việc đầu tiên họ làm là đặt ra các chức danh. Ở Mỹ có những tổ chức "hữu danh vô thực" không làm gì nhưng lãnh tụ tự phong cho mình làm "tổng thống Đệ tam Việt Nam Cộng hòa" như ông Đào Minh Quân…

Sở dĩ Tập Hợp không đặt ra các chức danh là vì chúng tôi quan niệm rằng "tham gia vào một tổ chức chính trị là để cống hiến và hy sinh cho một lý tưởng cao đẹp" chứ không phải để mưu cầu danh lợi như nhiều trí thức Việt Nam nghĩ. Sau này nếu tình hình bắt buộc phải đảm nhận một công việc cụ thể nào đó, khi đó chúng tôi sẽ phân công nhau để làm việc và chúng tôi cũng chỉ xem đó là một bổn phận, một nghĩa vụ thay vì là đặc ân. Hơn nữa, một tổ chức đối lập chỉ là con số không cho đến khi được người dân bầu chọn làm đảng cầm quyền. Là con số không thì có gì để bày ra các chức vụ ảo rồi tranh dành nhau và dẫn đến đỗ vỡ.

Cách đây ba năm một nhóm nhỏ thành viên của Tập Hợp tiến hành một cuộc "đảo chính" nội bộ, họ cũng chất vấn như vậy, đại loại là sao không đặt ra các ban bệ, chức danh hay "hành động" này nọ ?… Có người lầm tưởng họ là quan trọng nhưng thực sự là không phải như vậy. Cũng có người có tham vọng cá nhân quá lớn, họ không ý thức được rằng làm chính trị là để cống hiến cho một lý tưởng quảng đại. Muốn thành công cá nhân thì nên kinh doanh. Sau một thời gian những người còn lương tri chấp nhận bỏ cuộc và rút lui lặng lẽ, một số người thì không chịu chấp nhận sự thật, họ cay cú và đổ lỗi thất bại của họ cho người này người kia và rồi chính họ làm khổ họ. Khi tâm trí bất an thì còn làm gì được nữa.

Điều lo lắng thầm kín của những người cho rằng mình sẽ không được trọng dụng trong một tổ chức đối lập chứng tỏ sự thiếu tự tin của họ vào chính bản thân. Lo lắng lớn nhất của Tập Hợp trong tương lai, khi lịch sử sang trang là không có người để làm việc. Một tổ chức chính trị đúng nghĩa chỉ có thể hình thành và phát triển trong lúc khó khăn, khi chưa trở thành đảng cầm quyền. Giả sử Tập Hợp trở thành đảng cầm quyền thì sẽ có hàng trăm hàng, ngàn người mong muốn được tham gia nhưng khi đó khó khăn cho chúng tôi là không biết ai thật lòng, ai cơ hội. Ngày xưa ông Ngô Đình Diệm phải dùng những người quen biết để làm việc vì ông được đưa lên cầm quyền, ông không có tổ chức và đội ngũ nên không biết tin ai, dùng ai. Chính phủ của ông Trần Trọng Kim cũng vậy, dù tất cả các thành viên chính phủ đều là những trí thức hàng đầu Việt Nam lúc đó nhưng họ không phải người cùng một tổ chức, họ chưa từng sinh hoạt với nhau nên họ không hiểu nhau, không biết phải làm gì và làm như thế nào, cuối cùng họ bị một tổ chức khủng bố… có tổ chức cướp mất chính quyền.

Thiếu kiến thức về chính trị, vô lễ với chính trị khiến trí thức Việt Nam không nhận thấy rằng lịch sử đang sang trang. Vai trò lịch sử của Đảng cộng sản Việt Nam đang sắp chấm dứt. Đất nước cần được tổ chức và sắp xếp lại một cách hợp lý và đúng đắn để những người có khả năng được đặt vào đúng vị trí của mình. Đất nước rồi sẽ hồi sinh và vươn lên. Trí thức Việt Nam nên tham gia vào tiến trình dân chủ hóa đất nước một cách chủ động và thật lòng thay vì ngồi đợi và mơ về những thứ phù du và nhảm nhí như công danh, quyền lực...

Việt Hoàng

(14/03/2019)

-------------------

1. https://motthegioi.vn/thoi-su-c-66/chinh-tri-c-93/giai-doan-2011-2017-50938-dang-vien-bi-xoa-ten-12499-dang-vien-bi-khai-tru-103475.html

2. Chung một giấc mơ Việt Nam

Nước ta có khả năng trở thành một nước lớn và giàu mạnh nếu động viên được mọi trái tim, mọi khối óc, mọi bàn tay trong sự nghiệp xây dựng tương lai chung. Tuy vậy thực tế đáng buồn là ngày hôm nay chúng ta vẫn còn đang phải đấu tranh cam go để có được điều mà hầu hết các dân tộc đã có : dân chủ.

Cuộc đấu tranh đã dài hơn chúng ta mong muốn vì ngoài những khó khăn đã được nhận diện còn thêm một lý do khác : đây là cuộc đấu tranh hoàn toàn mới trong lịch sử nước ta. Từ trước đến nay chúng ta đã chỉ có những cuộc nội chiến tranh giành quyền lực giữa các thế lực thống trị, hay những cuộc chiến chống ngoại xâm mà mục đích, xét cho cùng, cũng chỉ là để đổi một ách nô lệ ngoại bang lấy một ách nô lệ bản xứ. Chúng ta chưa bao giờ là một dân tộc tự do. Lần này chúng ta chiến đấu để mở ra cả một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên thứ hai của lịch sử nước ta, kỷ nguyên của những con người Việt Nam tự do và của một nước Việt Nam dân chủ.

Đó là cuộc chiến đấu để đưa người Việt Nam và đất nước Việt Nam từ bóng đêm của nô lệ và nghèo khổ sang ánh sáng của tự do và phồn vinh. Lần đầu tiên chúng ta có một cuộc chiến đấu thực sự xứng đáng để chiến đấu. Như vậy những con người Việt Nam hôm nay cần ý thức rằng họ đang đứng trước cơ hội để tạo ra biến cố lịch sử lớn nhất và vinh quang nhất, cơ hội mà các thế hệ mai sau sẽ không thể có.

Thử thách trước mặt chúng ta tuy rất lớn, nhưng hy vọng thôi thúc chúng ta còn lớn hơn bởi vì cuộc chiến đấu này không chỉ xứng đáng và vinh quang mà còn tất thắng. Chúng ta được chuyên chở và thúc đẩy bởi cả một làn sóng dân chủ toàn cầu và bởi nguyện ước chung của một dân tộc đã dần dần hồi phục sau những thương tích. Chúng ta đang được tiếp viện của cả một thế hệ mới đã tự khai phóng và quyết tâm làm những con người tự do. Đằng sau những trở ngại là cả một tương lai rực sáng.

Chúng ta nhất định thành công. Dân tộc Việt Nam đã thức tỉnh sau khi đã phải trả giá rất đắt cho hận thù và chia rẽ, cho óc độc quyền lẽ phải, cho sự cuồng tín và tôn thờ bạo lực. Chúng ta đã hiểu bằng máu và nước mắt và đã chấp nhận trong da thịt những giá trị giản dị nhưng mầu nhiệm như tự do, dân chủ, hòa bình, công lý, bao dung, cố gắng. Chúng ta đã nhuần thấm tình dân tộc nghĩa đồng bào trong sự tủi nhục chung vì thua kém. Chúng ta đã nhận ra rằng tất cả mọi người Việt Nam đều ràng buộc với nhau trong một số phận chung. Chúng ta đang có một đồng thuận dân tộc lớn nhất kể từ ngày ông cha mở nước. Đồng thuận ấy sẽ là vũ khí vô địch giúp chúng ta vượt mọi trở ngại.

Bài học lớn nhất của lịch sử thế giới là một dân tộc muốn vươn lên chỉ cần ba yếu tố: một xã hội tự do, những con người cần mẫn và đồng thuận dân tộc. Chúng ta là một dân tộc cần mẫn đã có đồng thuận dân tộc và sắp có tự do. Chúng ta sẽ vươn lên. Chúng ta có quyền lạc quan trong cuộc hành trình về tương lai.

Lạc quan và hãnh diện vì cuộc đấu tranh của ta trong sáng. Nó không nhắm tiêu diệt hay hạ nhục một ai, nó là cuộc đấu tranh để tôn vinh mọi người, tôn vinh quyền làm người và quyền được hưởng hạnh phúc như một dân tộc lớn mà dân tộc ta rất xứng đáng để có.

Chế độ độc tài này sẽ là chế độ độc tài cuối cùng tại Việt Nam. Rũ bỏ được nó chúng ta sẽ vĩnh viễn đi vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của tự do, dân chủ, bao dung, đùm bọc, kỷ nguyên vinh quang của những cố gắng chung và của thành công chung.

Chúng ta hãy nắm tay nhau cùng cất cao một lời nguyền :

Nước Việt Nam sẽ là một nước lớn.

Làm người Việt Nam cho tới nay đã là một điều bất hạnh thì làm người Việt Nam trong một tương lai gần sẽ phải là một niềm vui, một may mắn và một nguồn hãnh diện.

Thế giới đã biết đến Việt Nam như là nạn nhân của hận thù và chia rẽ, của óc độc quyền lẽ phải thì thế giới sẽ phải biết đến Việt Nam sau này như là vùng đất của sự bao dung, như là một mẫu mực thành công của tình anh em tìm lại, của sự hồi sinh từ điêu tàn và đổ nát.

Đó là lý tưởng của thời đại chúng ta. Đó là di sản mà chúng ta sẽ để lại cho các thế hệ mai sau. Đó là giấc mơ Việt Nam mà các chí hữu của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên cùng theo đuổi và muốn chia sẻ với mọi người Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, hôm nay và ngày mai !

Trích Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai

(Dự án chính trị của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên)

Published in QUAN ĐIỂM

Sự kiện kỷ luật ông Sơn hay cách ứng xử của thời đại Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đối với giới trí thức thực sự đã cho thấy một phản ứng ngược mà bản thân ông Trọng không nhận ra. 

tranduc1

Ông Trần Đức Anh Sơn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Ảnh Thanh Niên

Kỷ luật trong Đảng cộng sản Việt Nam có nhiều mức độ, và càng ngày nó càng khiến người dân biểu lộ những cảm xúc đầy tính liên quan.

Có những kỷ luật khiến người dân phẫn nộ, vì mức độ kỷ luật nhẹ trong khi vi phạm nặng, có những kỷ luật khiến người dân càng tôn trọng người bị kỷ luật hơn. Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng, ông Trần Đức Anh Sơn, người vào ngày 8/03/2019 đã bị Ủy ban thường vụ thành ủy ra quyết định kỷ luật vì "đã viết, đăng tin, bài sai sự thật, không đúng với quan điểm của Đảng… trên mạng xã hội".

Trong bình luận của mình, ông Nguyễn Lương Thịnh, người là bạn với ông Trần Đức Anh Sơn chia sẻ trên Facebook cá nhân rằng, ông Sơn "chọn vị trí là Nhà Khoa học để bảo vệ và phát triển các thành quả nghiên cứu, thay vì nhận các chức danh do Đảng phân công, trong đó phải chấp hành nghị quyết của tổ chức về đề tài và biên độ nghiên cứu". Và ông Sơn "đã chủ động" thông báo quyết định của ông trước khi cơ quan báo chí của Đảng loan tin. Và thực tế cho thấy, ngày ông "về với Nhân dân" được đăng tải trên Facebook là ngày 18/02/2019.

Bị kỷ luật nhưng được hoan nghênh : vì sao ?

Càng ngày, những bản án kỷ luật nhắm vào những người trí thức thực sự (những người đang làm đảng viên những phát ngôn hoặc hành vi trái với quan điểm và chủ trương của đảng) lại được người dân hoan nghênh. Bởi câu chuyện của ông Sơn khá giống ông Chu Hảo, khi cả hai dám lên tiếng chỉ ra cái "sai của Đảng", và đánh giá về các sự kiện - hiện tượng trong xã hội theo quan điểm thẳng thắn của một sĩ phu đau lòng trước thời cuộc. 

Trên Facebook ông Sơn, có những bài đăng tải lại có liên quan đến Biển Đông, và chủ quyền bị giành giật bởi Trung Quốc, về vấn đề Trung Quốc "thọc gậy" thượng đỉnh Mỹ - Triều… Ông cũng từng chia sẻ thẳng thắn trên Facebook về vấn đề chiến tranh Biên giới 1979 bằng luận điểm : Lịch sử muốn phản ánh đúng sự thật, chính trị chỉ muốn sự thật được phản ánh đúng lúc. Đáng buồn là chính trị luôn thắng lịch sử.

Nhà báo, Facebooker Chu Vĩnh Hảo cũng đón nhận tin ông Sơn bị khai trừ bằng cảm giác "rất vui", bởi ông tin rằng, "là một học giả, Tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn nhất thiết phải coi trọng tính độc lập của các tiểu luận và các công trình nghiên cứu, và để đạt được tính độc lập ấy, anh cũng như các học giả khác cần phải độc lập với sự bảo hộ của bất cứ đảng phải nào".

Sự kiện kỷ luật - khai trừ đảng đối với ông Trần Đức Anh Sơn đã cho thấy, Đảng cộng sản Việt Nam đang tự rút đi những nhân tố tích cực và bền vững cho sự trường tồn của mình ra khỏi tổ chức. Tại sao ? Bởi phản biện và dám lên tiếng sẽ tạo nên nội lực trong một đảng phải, làm sạch đảng phái chứ không phải là sự tuân lệnh 100% đối với những chủ trương, điều lệ, nghị quyết sai của đảng. Đảng cộng sản Việt Nam đang suy thoái, muốn cứu vãn bằng phương pháp "hồng hơn chuyên", nhưng vô tình, những yếu tố này khiến cho đảng trở thành một tập hợp của những con sâu đục phá và dàn lợi ích nhóm chằng chịt, sẵn sàng không trái quan điểm của đảng để hoàn toàn tư lợi cá nhân. 

Bởi, hình thức kỷ luật đảng bằng cách khai trừ là điều nên làm, nhưng sự lớn mạnh trong đảng chỉ có thể diễn ra khi hình thức kỷ luật này áp dụng cho chính những đối tượng tham nhũng và tham vọng quyền lực tập trung, thay vì tập trung đánh giới trí thức trong đảng (vốn là những nhân tố luôn nhấn mạnh sự độc lập, tự chủ phản biện).

Bởi, kỷ luật lần này không khác gì đảng đang trương cao quan điểm của Lenin trong thời điểm hiện nay : Các lực lượng trí tuệ của công nông đang trưởng thành vững mạnh trong cuộc đấu tranh lật đổ tư sản và bọn đồng lõa, lũ trí thức - đầy tớ của tư bản, những kẻ tưởng mình là bộ não của quốc gia. Trên thực tế, bọn chúng không phải là bộ não mà là cứt. Mà một quan điểm khinh thị trí thức như thế càng đẩy nhanh tiến trình khủng hoảng trong đảng. Và có vẻ, "Trí thức là cứt" nên "không phải muốn nói gì là nói", ngay cả khi là con cháu "công thần" được quán triệt trong đảng một cách tuyệt đối dưới thời ông Nguyễn Phú Trọng.

Mặt khác, sự ra đi của giới trí thức thực sự ra khỏi Đảng cộng sản Việt Nam cho thấy, trong đảng luôn tồn tại "vòng kim cô" siết chặt sự tự do học thuật và tự do phản biện (điều làm nên tính chất chân chính của nền khoa học nhân bản, khai phóng). Và kỷ luật khai trừ lần này cùng một lúc hai vấn đề : giới trí thức ngày càng không chất nhận sự cưỡng chiếm tư tưởng, và Đảng cộng sản Việt Nam ngày càng không chấp nhận giới trí thức là đảng viên được mở rộng quyền tự do tư tưởng của mình. Có lẽ chính vì vậy, mà Facebooker Huy Truong đã chúc mừng ông Sơn trên Facebook cá nhân bằng luận điểm : Thầy Sơn là nhà khoa học chứ không phải là nhà chính trị, nên khi ra khỏi Đảng sẽ có nhiều thời gian và "không gian" để làm khoa học hơn. Chúc mừng thầy.

Sự kiện kỷ luật ông Sơn hay cách ứng xử của thời đại Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đối với giới trí thức thực sự đã cho thấy một phản ứng ngược mà bản thân ông Trọng không nhận ra. Bởi sự ra đi của ông Chu Hảo hay Trần Đức Anh Sơn không làm mất đi tính danh giá của cá nhân họ, mà ngược lại nó càng gia cố thêm sự danh giá cá nhân của họ, và được hoan nghênh, ca tụng là "sự trở về với nhân dân". Và bằng quyết định kỷ luật lần này của Đảng cộng sản Việt Nam áp dụng đối với ông Sơn, câu hỏi đặt ra là : Những người có tài có tâm huyết đều ra đi, vậy trong đảng còn lại những ai ?

Hoa Nghi

Nguồn : VNTB, 09/03/2019

Published in Diễn đàn
samedi, 02 mars 2019 17:47

Niềm hy vọng truyền kiếp

Mỗi người Việt Nam hiện nay, không loại trừ một ai, đều là di sản hiện đại nhất, sống động nhất, của tổ tiên người Việt Nam. Dù lịch sử Việt Nam là bốn ngàn năm hay hai ngàn năm, là bộ tộc ở sông Dương tử hay ở Mã Lai (Biên khảo của Bình Nguyên Lộc), con người Việt Nam năm 2019 vẫn là phiên bản chính thống của tiền nhân Việt Nam.

hyvong1

Mỗi người Việt Nam hiện nay, không loại trừ một ai, đều là di sản hiện đại nhất, sống động nhất, của tổ tiên người Việt Nam.

Đã là di sản, không cần phải cắt tay đếm công thức máu, chắc chắn mỗi người Việt Nam đều có những đặc tính di truyền từ tổ tiên trong DNA. Di sản này nhìn thấy được trên mặt thể lý và cả tinh thần.

Về mặt thể lý, nhân dạng người Việt Nam đã không ngừng tiến hóa để trở nên đẹp đẽ như hôm nay. Đã có quan chức cao cấp cộng sản Việt Nam biết ca ngợi nét đẹp của con gái Việt Nam làm cho nhân dân tự hào. Những lễ hội tổ chức thi hoa hậu được khuyến khích tổ chức rình rang trên khắp nước, tại mỗi thành phố trực thuộc trung ương, ở mọi tỉnh thành và trong mọi ngành nghề, dịch vụ và tại các trường đại học. Chỉ còn thiếu hoa hậu khu công nghiệp Bô-xít Tây nguyên, vùng Vũng án Formosa, các đặc khu kinh tế là bức tranh nhan sắc của con gái Việt Nam thành toàn hảo.

Thật là tự hào vì hôm nay dân tộc ta đã vượt qua giai đoạn tiến hóa chuyển tiếp khi hai ngón chân cái không còn giao vào nhau (giao chỉ), cũng hết rồi thời răng hô và mã tấu.

Về mặt tinh thần, những đặc tính di truyền từ tổ tiên cũng sáng tỏ. Những đặc tính tuyệt vời như cần cù, nhẫn nại, an phận thủ thường… có tiềm năng làm cho sức lao động của người Việt Nam trở nên vô địch. Thật vậy, lực lượng lao động xuất khẩu hàng chục ngàn người/hàng năm đã chứng minh người Việt Nam có khả năng làm việc miệt mài nhiều giờ liên tục nhưng vẫn bằng lòng với giá tiền công bèo nhất trên thế giới. Lực lượng lao động Việt Nam nghiễm nhiên trở thành nguồn nhân lực rẻ rúng nhất được những công ty nước ngoài ở Đài Loan, Hàn quốc hay các công ty đa quốc gia trên thế giới ưa chuộng khai thác. Có ai tự hào hay ai tủi hổ vì lợi thế này của dân tộc thì cũng như nhau, hai từ cũng một vần ‘t’, ‘h’ như nhau.

Những đặc tính cốt lõi trong văn hóa và tâm lý của tiền nhân cũng được người Việt Nam thừa hưởng. Người Việt Nam biết ưu tiên sử dùng bạo lực để giải quyết xung đột cá nhân, tập thể, xã hội và trên đất nước. Người Việt Nam được cái não trạng bất dung, được làm vua thua làm giặc, hoặc mày sống hoặc tao chết, không bao giờ chịu hòa giải để hai ta cùng sống, không may, đã đưa đến hậu quả như hôm nay.

Đảng cộng sản Việt Nam, hiện thân tuyệt đối của bạo lực và sự bất dung, đã nắm được quyền cai trị Việt Nam. Người Việt Nam đang oằn oại rên xiết dưới ách cai trị bạo tàn của người bản xứ. Ai cũng mong ước được thoát khỏi ách cộng sản, nhưng không nhiều người ý thức được rằng khi văn hóa và tâm lý của người Việt Nam chưa thay đổi, Đảng cộng sản Việt Nam không thể thay đổi. Ách cộng sản là một trong những cái gen di truyền hư hỏng của tiền nhân Việt Nam.

Một ưu điểm khác nữa được thừa hưởng từ tiền nhân là người Việt Nam có niềm hy vọng vô biên về một tương lai xán lạn. Có người còn diễn cảm ấn tượng hơn nữa là khát vọng. Người Việt Nam luôn luôn lạc quan bất chấp mọi hoàn cảnh phải chịu đựng. Có vẻ càng bị đè đầu cỡi cổ trong hoàn cảnh cực kỳ khốn khổ, niềm hy vọng càng bùng lên mãnh liệt. Chắc chắn đây là một đặc tính độc đáo đã khiến người Việt Nam được xếp hạng tốp ten trong một cuộc thống kê thổ tả về người sống hạnh phúc nhất trên thế gian.

Nhưng khi hy vọng mà không bắt tay hành động thực hiện hy vọng, nó chỉ là trò chơi của cái tâm lý bất lực. Nó giúp người ta tự lừa bịp mình để chấp nhận, chịu đựng khổ nạn lâu dài hơn. Niềm hy vọng chỉ có ý nghĩa đáng nuôi dưỡng khi nó là một tố chất kích thích người ta phải hành động để thực hiện hy vọng. Chỉ hy vọng mà không đầu tư công sức thực hiện hy vọng chắc chắn sẽ đưa đến những cái ‘vọng’ không mong muốn khác như thất vọng, tuyệt vọng và ảo vọng. Không thể nào khác.

Mọi cuộc cách mạng xã hội nào cũng phải bắt nguồn từ hành động của giới trí thức. Khi giai cấp trí thức cũng chỉ biết hy vọng mà không hành động, xã hội ấy cầm chắc chỉ có thể sống thoi thóp bằng những tuyên xưng khát vọng. Đảng cộng sản Việt Nam đã cho người Việt Nam ăn no những khát vọng đổi đời như độc lập, tự do, tiến bộ, phát triển, dân giàu nước mạnh, xã hội văn minh bắt kịp bạn bè năm châu.

Giới có bằng cấp to đùng ở Việt Nam hiện nay đông đảo chưa từng có trong suốt hàng ngàn năm lịch sử. Giai cấp có bằng cử nhân, cao học, tiến sĩ, phó giáo sư… cộng cả bằng thiệt, bằng giả, bằng mua, bằng dởm như bằng tiến sĩ xây dựng đảng, đông gấp bội Lực Lượng 47 hay dư luận viên. Nhưng, không may, có vẻ lực lượng này cũng chỉ biết hy vọng/khát vọng rằng đảng cộng sản Việt Nam sẽ thay đổi, sẽ cải thiện, sẽ cho người Việt Nam được hưởng quyền con người, được hưởng tự do và được quyền làm chủ đời mình.

hyvong2

Giới có bằng cấp to đùng ở Việt Nam hiện nay đông đảo chưa từng có trong suốt hàng ngàn năm lịch sử. Ảnh minh họa 

Trong suốt hơn 40 năm kể từ khi đảng cộng sản đã cưỡng đoạt được miền Nam, giới có bằng cấp Việt Nam đã viết nhiều văn thư, kiến nghị, khuyến cáo, thỉnh nguyện, yêu cầu… rất ư là đanh thép để buộc đảng cộng sản phải cải thiện nhân quyền, phải cởi mở chính trị, phải chấm dứt chế độ độc tài đảng trị. Những văn kiện lịch sử này không biết đã đi về đâu vì chẳng thấy đảng cộng sản đá động tới, nhưng trong số người ký tên vào văn tự đã có người vào tù, người đang ở tù và còn nữa những người sắp vào tù.

Thời sự mới nhất để nói lên não trạng của lực lượng xung phong này là nhân cơ hội Tổng thống Mỹ Donald Trump và lãnh tụ kính yêu Kim Jong-un của Bắc Cao Ly đến Hà Nội dự hội nghị Giải trừ nguyên tử và Cấm vận kinh tế chẳng liên can gì đến Việt Nam, 100 người tự nhận là trí thức và nhân sĩ Việt Nam đã viết thư cho Tổng thống Mỹ đặt mọi hy vọng vào tài năng thương lượng của Trump để giúp Việt Nam được độc lập tự do và dân chủ. Giời cao ngó xuống mà coi, niềm hy vọng di truyền của người Việt Nam đã được xuất cảng sang đến Hoa kỳ.

Người ta thường nói kẻ thù truyền kiếp, mối thù truyền kiếp nhưng không ai nói hy vọng truyền kiếp nghe nghịch thường. Nhưng nếu chỉ quyết tâm hy vọng mà không bắt tay thực hiện, có mọi khả năng niềm hy vọng vô biên sẽ trở thành di sản quý báu của thế hệ người Việt Nam hôm nay truyền lại cho thế hệ mai sau. Nó trở thành niềm hy vọng truyền kiếp.

Không cần phải có bằng cấp to đùng hoặc đọc cả một nhà sách, ai cũng biết đấu tranh với Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay, thực tiễn chỉ có thể hữu hiệu bằng cách xây dựng cho được một lực lượng không cộng sản làm đối trọng với đảng cộng sản.

Nếu hàng ngàn người đã ký tên vào các văn kiện đanh thép, 2000 người và 10 tổ chức đã ký tên vào ‘Yêu sách 8 điểm năm 2019’ và 100 trí thức và nhân sĩ ký tên đặt hy vọng vào tổng thống Hoa Kỳ biết đoàn ngũ hóa, biết tổ chức, dám đứng lên thành lập một tổ chức chính trị nghiêm chỉnh để thực hiện những yêu sách của mình, niềm hy vọng di truyền từ tổ tiên Việt Nam biến thành hành động, chế độ cộng sản Việt Nam ác ôn phải cáo chung. Bất chấp có Donald Trump hay Tập Cận Bình hay không.

Một tổ chức chính trị Việt Nam nghiêm chỉnh và có trách nhiệm cũng dễ nhận thấy. Tổ chức phải tuyên xưng những giá trị nền tảng làm kim chỉ nam cho hoạt động chính trị. Tổ chức phải có phương pháp để thực hiện mục đích chính trị của đảng và phương pháp để giải quyết những khó khăn, bất cập trên quốc gia. Cuối cùng, tổ chức phải có một dự án chính trị khả thi nêu lên được những mục tiêu chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa giáo dục… cần phải thực hiện ưu tiên để chấn chỉnh lại một xã hội đã bị biến dạng méo mó dưới chế độ cộng sản. Mọi tổ chức chính trị không đầu tư vào những bước căn bản để xây dựng tổ chức nghiêm chỉnh không có tiềm năng lãnh đạo.

Hy vọng của người Việt Nam chỉ thành hiện thực khi giới trí thức Việt Nam thoát ra được thảm cảnh ‘sĩ khí rụt rè, gà phải cáo’ hiện nay. Trí thức Việt Nam dám dấn thân vào làm công việc chung là làm chính trị, thành lập tổ chức chính trị hoặc tham gia tăng cường sức mạnh cho một tổ chức chính trị đã thành lập, học tập và hoạt động trong tổ chức và áp dụng kỹ năng tổ chức quần chúng để làm áp lực tối đa buộc chế độ cộng sản vào thế phải điều đình với lực lượng dân chủ Việt Nam để tìm một cách hạ cánh an toàn cho Đảng cộng sản Việt Nam.

Viễn ảnh này không còn xa nữa vì đã có trí thức lên đường và đã có tổ chức chính trị mời bạn tham gia.

Sơn Dương

(02/03/2019)

Published in QUAN ĐIỂM

Khi Tập Cận Bình trở thành nhà lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc thì một trong những việc đầu tiên ông ấy làm là mở rộng thêm hàng trăm Viện Khổng Tử trên khắp thế giới. Ước lượng có khoảng 500 Viện Khổng Tử ở 142 quốc gia.