Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Hòa giải hòa hợp dân tộc : cộng sản Việt Nam không thể chỉ kêu gọi suông !

Đừng làm cho nỗi đau của đồng bào miền Nam kéo dài thêm, cứa mãi, đau day dứt, dai dẳng như xẻo thịt bằng con dao cùn và lấy sự đau đớn ấy làm niềm vui, niềm tự hào, kiêu hãnh của mình.

hoagiai1

Tác giả (phải), một cựu quân nhân miền Bắc và một cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa. Ảnh Ngô Chí Thiềng

Vẫn cứ là "giải phóng miền Nam"

Hoạt động cuối cùng của đợt "kỷ niệm 44 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước" là màn bắn pháo hoa tại 3 điểm ở Sài Gòn vào lúc 9 giờ tối ngày 30/4/2019 với mô tả "mãn nhãn", "thắp sáng bầu trời Thành phố Hồ Chí Minh".

Cụm từ "kỷ niệm 44 năm ngày giải phóng miền Nam" tràn ngập trên các trang báo mạng. Nếu gõ câu "kỷ niệm 44 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước" vào google có thể tìm thấy ít nhất khoảng 160 tin bài. Chỉ có trang "Nhân dân" của đảng cộng sản Việt Nam thêm chữ "hoàn toàn" - giải phóng hoàn toàn miền Nam". Dùng chữ "hoàn toàn", hẳn họ quên mất rằng, ở thời điểm 30/4/1975, quần đảo Hoàng Sa thuộc miền Nam quản lý đã mất vào tay Trung quốc từ hơn 1 năm trước đó, mà những người lãnh đạo của Việt Nam dân chủ cộng hòa khi đó vẫn cứ tin là Trung Quốc "giải phóng và giữ hộ"

Còn nếu bỏ mấy chữ "giải phóng miền Nam" đi, gõ cụm từ "kỷ niệm 44 năm thống nhất đất nước" vào công cụ tìm kiếm thì chỉ thấy vài tin, nhưng là nói về màn bắn pháo hoa.

Như vậy, không có chuyện chính quyền Việt Nam tránh nói từ "giải phóng" trong dịp kỷ niệm 30/4 năm nay như một bài viết của RFA đã đặt dấu hỏi.

Đừng khoét thêm vào nỗi đau tháng Tư

Việc tuyên truyền, khuếch trương chiến thắng của bên thắng cuộc chỉ khoét sâu thêm vào nỗi đau của bên thua cuộc.

Phân tích kỹ thì bên thua cuộc không chỉ là miền Nam mà bao gồm tất cả những người phải chịu tổn thất trong chiến tranh. Với khái niệm này, bên thua cuộc còn bao gồm hàng triệu người lính miền Bắc và dân thường đã ngã xuống trong nỗi đau đớn của gia đình họ. Bên thua cuộc còn bao gồm những người kỳ vọng vào một đất nước thống nhất cường thịnh nhưng lòng tin ấy đã đổ vỡ

Tóm lại, bên thua cuộc là nhân dân Việt Nam, còn bên thắng cuộc là những người phát động chiến tranh, giành thắng lợi và hưởng lợi từ chiến thắng ấy.

Nghĩ cho cùng

Mọi cuộc chiến tranh

Phe nào thắng thì nhân dân đều bại…

(Đá ơi – Thơ Nguyễn Duy)

44 năm đã quá đủ thời gian để nhìn nhận lại cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn. Người ta ngày càng rõ hơn các vấn đề như bản chất của cuộc chiến tranh, tại sao phe cộng sản thắng ? Đất nước thống nhất đem lại cho nhân dân những gì ? Có ý kiến đặt ngược vấn đề "ai giải phóng ai ?". Đây là một góc nhìn mới và nghiêm túc. 

Có lẽ trong hiện thực xã hội mục ruỗng và bế tắc hiện nay, trước tương lai mù mịt của đất nước, phe thắng cuộc không còn gì hơn là bấu víu vào quá khứ mà người ta gọi là ăn mày dĩ vãng. Oái oăm thay, quá khứ ấy càng vén lên, càng đánh thức nó dậy thì càng bất lợi cho họ. Họ phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến tranh. Chỉ cần đặt ra mấy câu hỏi mà ai cũng trả lời được là sẽ rõ vấn đề :

- Bên nào đem quân vượt vĩ tuyến 17 vào miền Nam ?

- Gọi là chống Mỹ xâm lược, tại sao khi quân đội Mỹ chưa tham chiến hoặc sau khi họ rút quân, chiến tranh vẫn tiếp diễn ?

- Tại sao miền Nam cần phải giải phóng và giải phóng khỏi cái gì ?

- Tỉ lệ tử sĩ trong chiến tranh (tạm lấy số liệu của wikipedia) giữa phe cộng sản Việt Nam & đồng minh / Việt Nam Cộng Hòa / Mỹ & đồng minh là 13,2/4,7/1 nói lên điều gì ? Có phải đấy là cách để làm nên chiến thắng của phe cộng sản ?

v.v...

Việc khuếch trương chiến thắng, sỉ nhục bên bại trận là môt sai lầm mà bên thắng cuộc cố tình không nhận ra do bản chất kiêu ngạo của họ. Nó không có tác dụng gì trong việc nâng cao tầm vóc cho họ mà chỉ làm tổn thương cho phía bên kia, duy trì và khoét sâu sự hận thù. Trong khi luôn miệng kêu gọi hòa giải, hòa hợp dân tộc thì 44 năm qua, cứ vào dịp 30/4, họ lại tưng bừng kỷ niệm chiến thắng, xoáy vào nỗi đau tháng Tư của đồng bào phải chịu tổn thất trong chiến tranh.

Là bên thắng cuộc, họ không những không có lòng khoan dung, cao thượng mà vẫn còn đó sự căm thù chế độ Việt Nam Cộng Hòa mặc dù nó đã đi vào quá khứ. Xóa sổ một chính thể, hàng triệu đồng bào bỏ chạy khỏi đất nước, hàng trăm nghìn người bỏ xác nơi biển cả, sa vào tay hải tặc, đày đọa hàng trăm nghìn cán binh Việt Nam Cộng Hòa trong các trại cải tạo chưa đủ làm họ thỏa mãn sao ? Không thể tưởng tượng được, chỉ từ cử chỉ cầm lá cờ Việt Nam bé xíu vẫy của tổng thống Mỹ khi sang thăm Hà Nội mà ông thủ tướng lập tức nghĩ ngay đến "bọn phản động lưu vong người Việt", và tưởng tượng ra "bọn" này "rã rời chân tay". 

Năm 2005, kỷ niệm 60 năm quốc khánh, ông Võ Văn Kiệt phát biểu :

"Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là vết thương chung của dân tộc, cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu"...

Phát biểu của ông Kiệt được nhắc lại với tần suất rất cao mỗi khi nói về hòa giải và hòa hợp dân tộc. Cho đến nay, không có một lãnh đạo cấp cao nào nói ra được một ý tương tự. Tiếc rằng, vì quan điểm tiến bộ, cởi mở của ông mà sau đó ông bị đồng chí của mình nghi kỵ, cảnh giác. Đã có những ý kiến nghi ngờ rằng cái chết của ông có uẩn khúc. 

Lối cư xử với bên bại trận ở Việt Nam, làm người ta nghĩ đến cách giải quyết trong quan hệ Mỹ - Nhật sau khi Nhật Bản đầu hàng, để có được một nước Nhật ngày nay. Xa hơn nữa là cách giải quyết trong nội bộ nước Mỹ khi Liên bang miền Bắc chiến thắng trong cuộc nội chiến cách đây 1,5 thế kỷ để có một siêu cường Hoa Kỳ ngày nay. Nó khác hẳn với tư duy hẹp hòi, thiển cận và những hành động trả thù hèn hạ sau cuộc nội chiến kéo dài 20 năm ở Việt Nam của bên thắng cuộc và dai dẳng đến tận bây giờ.

Không thể chỉ kêu gọi suông

Về vấn đề hòa giải và hòa hợp dân tộc, trái bóng luôn ở chân nhà nước cộng sản Việt Nam, đơn giản vì họ là bên thắng cuộc, ngoài ra họ là bên phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến tranh. Họ có đủ quyền hành, lực lượng để chủ động trong việc ấy. 

hoagiai

Cho đến nay, 44 năm đã qua, vết thương chiến tranh vẫn còn đó : hòa giải và hòa hợp dân tộc là một bắt buộc trái bóng đang ở chân nhà nước cộng sản Việt Nam - Ảnh minh họa (Life)

Để hòa giải và hòa hợp dân tộc, cần phải thể hiện bằng những việc làm cụ thể chứ không chỉ kêu gọi suông. Người ta nhìn vào hành động để biết nhà cầm quyền có thực tâm hòa giải không. 

Những hành động cụ thể cần phải làm, trước hết cần dùng một tên gọi chính xác cho cuộc chiến tranh 1955 – 1975. Nếu ngại những từ "nhạy cảm" như "thôn tính", "cưỡng chiếm", có thể gọi là cuộc nội chiến hay chiến tranh Nam Bắc, chứ không gọi là "cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước" hay chiến tranh "giải phóng miền Nam". Cần loại bỏ vĩnh viễn những cụm từ "giải phóng miền Nam", "đế quốc Mỹ và tay sai", "ngụy quân ngụy quyền" ra khỏi đời sống xã hội. Phải bỏ ngày 30/4 ra khỏi ngày nghỉ lễ.

Ngày 30/4 là một biến cố lịch sử. Chỉ nên tổ chức những buổi hội thảo tự do không định hướng, không kén chọn thành phần để làm rõ hơn mọi khía cạnh cuộc chiến tranh 1955 - 1975, giai đoạn đau thương và đen tối nhất của lịch sử dân tộc.

Cần chấm dứt việc gây khó dễ khi xét lý lịch đi học, đi làm đối với con cháu quân cán binh Việt Nam Cộng Hòa. Phải loại bỏ sự phân biệt đối xử đối với những người có liên quan đến chế độ cũ. Không được gây cản trở mọi hoạt động hỗ trợ, giúp đỡ những người có liên quan đến chế độ cũ, ví dụ hoạt động tri ân thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa được nhà thờ Kỳ Đồng tổ chức hàng năm. Các nghĩa trang quân đội Việt Nam Cộng Hòa cần được chăm sóc chu đáo như những nghĩa trang liệt sĩ khác.

Đừng làm cho nỗi đau của đồng bào miền Nam kéo dài thêm, cứa mãi, đau day dứt, dai dẳng như xẻo thịt bằng con dao cùn và lấy sự đau đớn ấy làm niềm vui, niềm tự hào, kiêu hãnh của mình.

Những người được coi là thắng cuộc liệu có biết họ đang thua cuộc. Có trong tay cả một đất nước để rồi không biết làm thế nào để "đất nước đứng lên". Họ đang đứng trước một cuộc khủng hoảng toàn diện với những thách thức về lý luận, về phương pháp, về lòng tin, về sự thối nát của hệ thống chính trị và phải tìm cách thoát khỏi bế tắc. Việc thực tâm hòa giải bằng những việc làm cụ thể cũng là một cách khai thông bế tắc ấy.

Nguyễn Tường Thụy

Nguồn : VNTB, 03/05/2019

Published in Diễn đàn

Dù đứng ở phía nào trong cuộc nội chiến Bắc-Nam, ngày 30/4/1975 vẫn là một ngày lịch sử.

Ngày này năm 1975, phe cộng sản Bắc Việt đã toàn thắng trong tiến trình ‘giải phóng miền Nam’ bằng bạo lực. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã toàn bại trong cố gắng tự vệ chống bị-giải-phóng. Chiếc xe tăng quân cộng sản Bắc Việt treo lá cờ Mặt trận Giải Phóng Miền Nam ủi sập cổng chính vào dinh Độc Lập của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa vốn đã được mở sẵn để chờ đón đoàn quân chiến thắng. Hình ảnh này đã được truyền thông thế giới phát ra khắp nơi và lấy đó làm biểu tượng cho chiến thắng toàn diện của phe cộng sản Bắc Việt trong ngày 30/4.

quy1

Chiếc xe tăng quân cộng sản Bắc Việt treo lá cờ Mặt trận Giải Phóng Miền Nam ủi sập cổng chính vào dinh Độc Lập của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa vốn đã được mở sẵn để chờ đón đoàn quân chiến thắng. Ảnh minh họa 

Hình ảnh tạo ra những xúc động tức khắc. Những người đã quá chán ngán chiến tranh Việt Nam thở phào nhẹ nhõm. Hòa bình rồi, thôi hết chiến tranh. Những người đạo diễn ra chiến thắng này được đi nhận lãnh giải Nobel hòa bình. Lê Duẩn và Bộ chính trị cộng sản Bắc Việt cả cười mê sảng. Hàng trăm ngàn quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa vào tù cải tạo. Người miền Nam hiền lành gom góp những mảnh vụn vỡ của giấc mơ được sống theo ý nguyện đi về Vùng kinh tế mới.

Phải một thời gian sống với cộng sản sau đó, người ta mới hiểu tại sao quân đội cộng sản Bắc Việt lại ủi sập một cánh cửa đã mở ra ? Tại sao không đủng đỉnh đi vào ? Hình ảnh này, dù phe cộng sản Việt Nam không mong muốn, đã trở thành biểu tượng cho một chế độ hung bạo sắp tới trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Không ai có thể thay đổi lịch sử. Người ta phải sống, chết, dỡ sống dỡ chết với những kết quả/hệ quả của những người đã tạo ra lịch sử. Những người chạy trốn được ngày 30/4 đã đi rồi, hàng triệu người. Có nhiều người đã chạy trốn phe cộng sản Bắc Việt từ những năm 1954, cũng hàng triệu người, năm 1975 lại chạy trốn nữa. Những người bị ở lại, phải sống với lũ, hàng triệu triệu con người, như người ta nói, kể cả những cột đèn không chạy được, phải khóc cười theo chế độ.

Đất nước Việt Nam thật quá lạ kỳ. Chế độ cộng sản có thể dửng dưng tổ chức ngày chiến thắng 30/4 tiệc tùng liên hoan trên sự đau thương của đồng loại đã nói lên tất cả vì sao đất nước đến nông nổi này như ngày hôm nay :

Đất nước mình ngộ quá phải không anh ?

Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn…

(Trần Thị Lam)

Vấn đề nhức nhối hiện tại là câu hỏi, chế độ cộng sản Việt Nam đã làm gì trên đất nước Việt Nam sau 44 năm thống nhất ? Xuất phát từ di sản ngày 30/4, chế độ cộng sản toàn trị hôm nay đã có thỏa đáp được ước mơ từ hàng ngàn thế hệ Việt Nam trước đó và hôm nay, là được tự do mưu cầu hạnh phúc trong xã hội văn minh, tiến bộ, không hận thù, được hòa mình vào dòng sống của nhân loại ? Câu trả lời là không.

Ngày ‘giải phóng’, nhìn lại, là phần mở đầu của cơn ác mộng.

Ông cựu thủ tướng cộng sản Việt Nam Võ Văn Kiệt không phải nhân bản gì đâu khi nói "(Ngày 30/4) có triệu người vui thì cũng có triệu người buồn". Nhân bản và cộng sản là hai khái niệm luôn luôn tương phản. Một xã hội nhân bản không thể có cộng sản và ngược lại. Ông Kiệt chỉ nói lên quan sát rất thông thường của một người cộng sản đã lấy được điềm tĩnh nhanh hơn đồng đảng sau chiến thắng. Ông là ngoại lệ trong đám ‘nhất tướng công thành’ vì ông có vẻ còn xót đến ‘vạn cốt khô’. Nhưng giải pháp ông đưa ra để hóa giải sự mâu thuẫn của hai trạng thái đối nghịch trong ngày 30/4 làm cho người ta nghi ngờ.

Ông Võ Văn Kiệt đã kêu gọi Việt kiều hãy quên đi quá khứ để hòa hợp với chế độ. Không ít nhân sĩ và học giả đã tán thưởng viễn kiến ‘nhân bản’ của ông Kiệt. Cũng như trước đây, một tầng lớp trí thức Việt Nam đã lầm tưởng đảng cộng sản có chính nghĩa và lòng yêu nước, đã quỳ xuống phục vụ đảng cộng sản Việt Nam xây dựng thiên đường xã hội chủ nghĩa. Ngày hôm nay họ lại lầm tưởng ông Kiệt là người cộng sản có nhân bản. Có lẽ không nên gọi họ là tầng lớp trí thức nữa vì trên nguyên tắc vận hành của chế độ, xét qua chính sách ‘trí phú địa hào đào tận rễ’, trong nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hôm nay không còn tầng lớp trí thức. Tầng lớp này đã bị nhổ tận rễ rồi, chỉ còn lại tầng lớp ngụy trí thức phục vụ chế độ.

Như một người cộng sản tận tụy với đảng, ông Kiệt khước từ sự hòa giải vốn là lẽ thường tình giữa hai phe đối kháng sau một cuộc xung dột đẫm máu, nhưng bị lịch sử và huyết thống dân tộc trói buộc phải sống chung với nhau và phải chia sẻ một tương lai vinh nhục với nhau. Không nói đến hòa giải, ông Kiệt chỉ nói đến hòa hợp, và chỉ nói trong những dịp tập trung ‘Việt kiều yêu nước’ đã được các tòa đại sứ cộng sản Việt Nam ở hải ngoại tuyển chọn trước, cho thấy sự khuất tất. Muốn có sự hòa hợp mà không trải qua nỗ lực hòa giải thì cũng giống như một người muốn ăn trứng nhưng không chịu đập vỏ trứng. Hoàn toàn ở đây không có ý sỉ nhục hay vô lễ với ai, nhưng quan sát thông thường cho thấy ăn trứng không cần đập vỏ chỉ có ở loài ăn tạp.

Mục đích của sự hòa giải là chấm dứt những xung đột bằng phương cách điều đình, thương lượng, phân biệt phải quấy, thiện ý cộng tác và mong đợi thái độ hợp tác của đôi bên. Nó đòi hỏi sự tương kính và chân thành hướng đến Lẽ Phải và Công bằng. Sự hòa giải đòi hỏi mỗi bên nhìn nhận khiếm khuyết của mình, nhìn nhận sự thiệt hại đã gây cho nhau và lấy làm tiếc nó đã xảy ra, nếu có thể, bồi thường cho nạn nhân dù chỉ là tượng trưng. Nói cách khác, phải sòng phẳng với quá khứ. Phủ nhận quá khứ chỉ vô ích vì những vết thương trên thân thể còn đó và đang chảy máu. Mỗi năm tổ chức ăn mừng chiến thắng 30/4 sinh ra phản ứng phụ là cào cấu vết thương trên thân thể Việt Nam thêm nhiễm độc. Chỉ khi vượt qua được sự tự hủy hoại thân thể, nước Việt Nam mới mong được phục hồi.

Người ta nói, dân tộc như thế nào xứng đáng với chế độ như thế ấy. Câu nói tủi cực cho mọi người đang phải gánh chịu ách cộng sản. Nhưng câu nói ấy cũng là lời buộc tội đích đáng cho tầng lớp trí thức của một dân tộc. Mọi chế độ bất nhân tồn tại được chứng tỏ sự thiếu trí tuệ và năng lực của giới trí thức của dân tộc đó.

Đất nước đến nông nỗi hôm nay có một nguyên nhân chính : giới trí thức Việt Nam đã quỳ xuống vì sợ hãi bạo lực đã khiến Đảng cộng sản Việt Nam lầm tưởng họ vĩ đại. Sự khống chế hoàn toàn xã hội Việt Nam bằng bạo lực đã thành công khiến Đảng cộng sản Việt Nam càng thêm táo tợn trong những chính sách cai trị. Chế độ cộng sản Việt Nam có thể đưa ra những bản án vô nhân đạo lên người dân bởi vì họ có thể. Chính quyền cộng sản Việt Nam đã đưa ra những chính sách kinh tế đạo tặc, tham nhũng, bán buôn sang nhượng tài sản của quốc gia, tước đoạt quyền tự quyết của dân, ăn của dân không chừa thứ gì chỉ vì họ có thể. Họ có thể vì họ đã đè bẹp được sự phản kháng của người dân bằng sự im lặng đớn hèn của giới trí thức

Sự ngạo nghễ của đảng cộng sản có lý cớ để kéo dài vì giới trí thức Việt Nam đã quỳ xuống. Trí thức Việt Nam đã quỳ xuống trong chính sách Cải cách ruộng đất năm 1956. Trí thức Việt Nam đã quỳ xuống sau vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm những năm 1956-1958. Quỳ xuống trong trận tổng công kích Tết Mậu Thân. Quỳ xuống bên thi thể người thân trong cố đô Huế năm 1968. Các anh cũng đã quỳ xuống khi cộng sản pháo kích bừa bãi vào đoàn người dân chạy trốn cộng sản trên Đại lộ kinh hoàng năm 1972 tại Quảng trị… Thường khi sự sợ hãi tăng lực cho sự hung bạo. Bởi vì chúng ta quỳ nên cộng sản đã đứng lên bạo ngược ngang tàng.

Nhưng giới trí thức Việt Nam không thể quỳ xuống mãi và đi bằng đầu gối mãi cho hết kiếp nhân sinh. Thời gian 44 năm đã quá nửa một đời người mà chế độ bạo lực, bất nhân, liên minh thẻ đảng, tiền, quyền và ngu xuẩn vẫn ngạo nghễ khống chế mọi mặt của đời sống quốc gia. Trí thức Việt Nam chân chính phải đứng lên thôi. Các anh phải đứng thẳng lưng lên để lãnh đạo dân tộc Việt Nam, đứng thẳng lưng lên trước lực lượng cộng sản chiếm đóng đất nước.

‘Người ta lớn bởi vì các anh quỳ

Hỡi công dân, hãy đứng thẳng lưng lên’

Tiếng thét của Cách mạng Pháp 1789 phải thức tĩnh giới trí thức Việt Nam ngày hôm nay trước sự hoành hành càng ngày càng táo tợn của Đảng cộng sản Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam.

Tầng lớp trí thức Việt Nam phải có trách nhiệm và đứng lên lãnh đạo người dân chấm dứt chế độ bất nhân ăn mừng chiến lợi phẩm là miền Nam Việt Nam trong ngày 30/4 hàng năm. Bằng cách thành lập hoặc tham gia tổ chức chính trị, vận động cho sự thành hình một lực lượng dân chủ trên toàn quốc làm đối lập với Đảng cộng sản Việt Nam. Phải thành lập được một lực lượng dân tộc lấy Lẽ Phải và Công bằng làm sức mạnh bắt buộc Đảng cộng sản Việt Nam thực hiện tiến trình Hòa giải và Hòa hợp Dân tộc, bằng các phương pháp Bất bạo động, người Việt Nam mới hy vọng nhìn thấy ánh sáng của một xã hội văn minh, tiến bộ và hòa bình, tình tự dân tộc sau bóng tối của đêm dài dường như bị Đảng cộng sản Việt Nam kéo dài đến vô tận.                       

Sơn Dương

Chú thích :

Tựa đề bài viết lấy cảm hứng từ một lời hiệu triệu trong cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 :

"On est grand, parce-que vous vous mettez à genoux

Citoyens ! Levez-vous droitement !"

(Révolution française 1789)

Một số tác giả ghi nhận hai câu trên là của nhà cách mạng Jean-Paul Marat thời Cách Mạng Pháp 1789. Nhưng qua bài khảo sát thận trọng của ông Trần Giao Thủy đăng trên Đàn Chim Việt Online tháng 10 năm 2012 thì có lẽ không phải Marat. Nhưng dù là ai thì hai câu này xuất hiện trong thời Cách mạng Pháp 1789 nên xin ghi nhận là (Cách mạng Pháp 1789) cho đỡ rắc rối. (SD)

Published in QUAN ĐIỂM

Trong vô số đặc ngữ, thuật ngữ, khái niệm chính trị đã bị đánh tráo, xuyên tạc nội hàm và ngữ nghĩa trên chính trường Việt Nam hiện nay, người ta cần sự điềm tĩnh, lương thiện tư duy và sự phân tích khách quan của khoa học mới hy vọng không trở thành những người điên nói nhảm. Lấy thí dụ khái nhiệm "Hòa giải và hòa hợp dân tộc" hằng có ngữ nghĩa và nội hàm chính xác nhưng đã bị chế độ cộng sản Việt Nam, ngụy trí thức cộng sản và cả người không cộng sản khinh miệt tẩy chai đến độ nghe đến chủ trương Hòa giải và hòa hợp dân tộc của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên là nổi giận. Thường giận mất khôn.

hghhdt01

Chủ trương Hòa giải và hòa hợp dân tộc là một trong ba lập trường cơ bản của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Hòa giải và hòa hợp dân tộc là một cụm từ dài nhưng có ý nghĩa rõ ràng và thứ tự diễn tiến không thể đảo ngược, hay cắt phần này bỏ phần kia. Dùng bất cứ tự điển Tây Ta nào, hòa giải được định nghĩa tương tự như là tiến trình thương lượng, thuyết phục giữa các thành phần có tranh chấp, xung đột, mâu thuẫn, oan ức… nhằm tiến đến sự đồng thuận được thực thi trong hòa bình, tránh biện pháp bạo lực hay chiến tranh. Như vậy, ý nghĩa then chốt của cụm từ này là hòa giải trước tiên chứ không phải hòa hợp. Hòa hợp là hệ quả có thể mong đợi sau khi hòa giải thành công. Đảo ngược tiến trình này hoặc chỉ nói hòa hợp mà không lời hòa giải là bịp bợm.

Hòa giải và hòa hợp dân tộc là triết lý điều hành quốc gia, là tinh thần cộng sinh bao dung hòa bình trên những đất nước đã trải qua nội chiến tương tàn cần phải hàn gắn lại những đổ vỡ về mọi mặt của đất nước và xã hội sau chiến tranh. Khi một dân tộc đã không thể phủ nhận nhau hoặc tiêu diệt lẫn nhau, chỉ còn một giải pháp duy nhất phải hòa giải để có thể tiếp tục cộng sinh. Không còn chọn lựa nào khác. Trừ chiến tranh để giết cho hết những người chưa chết. Hòa giải và hòa hợp dân tộc, vì thế, là một bắt buộc của lịch sử. Gian trá, trốn tránh, lần lữa, thực hiện tiến trình Hòa giải và hòa hợp dân tộc là thái độ trốn trách nhiệm trước 95 triệu người Việt Nam hôm nay và muôn vàn thế hệ Việt Nam mai sau.

Khó khăn lớn nhất của giải pháp Hòa giải và hòa hợp dân tộc không phải phía cộng sản Việt Nam mà là văn hóa và tâm lý của người Việt Nam. Đảng cộng sản Việt Nam đã thủ lợi tuyệt đối dựa trên nền văn hóa này. Văn hóa và tâm lý bạo lực, mạnh được yếu thua, đã ăn sâu vào não trạng của người Việt trong hàng ngàn năm lịch sử. Sự hòa giải dân tộc như một giá trị cộng sinh mới mẻ của thời đại đã bị cả hai anh em trong gia đình Việt Nam phủ nhận, miệt thị và nguyền rủa trong vô thức hoặc cả trong ý thức. Hòa giải và hòa hợp dân tộc với Đảng cộng sản Việt Nam thì đã rạch ròi dứt khoát không. Không có hòa giải gì tất. Họ đã chiến thắng. Họ tự quyền áp đặt sự cai trị. Mọi chống đối, chỉ trính, phê bình bị trừng trị bằng công an và nhà tù. Cho ‘hòa hợp dân tộc’ đã là khoan hồng. Nhưng ngược lại, bạo lực của Đảng cộng sản Việt Nam cũng giúp cho những người dân chủ không lãng mạn trong cuộc đối đầu với chế độ cộng sản Việt Nam. Hơn bao giờ hết, người ta đã ý thức được chìa khóa giải thể chế độ cộng sản Việt Nam là ép buộc được chúng vào thế chẳng đặng đừng.

Giống như thằng bé chơi dại tự buộc dây vào cổ, thập niên 80 Đảng cộng sản Việt Nam đã tự mình phải tháo dây treo cổ. Sự tự mãn phát sinh từ chiến thắng ‘Mỹ Ngụy’ và giải phóng miền Nam đã làm Đảng cộng sản Việt Nam mê sảng. Họ ngạo mạn với khả năng trời biển có thể dùng bạo lực cải tạo nền kinh tế miền Nam tiến lên xã hội chủ nghĩa nhanh chóng cho bằng miền Bắc. Các chính sách phản kinh tế như ngăn sông cấm chợ đã đưa đất nước vào cảnh suýt chết đói. Đảng cộng sản Việt Nam bị bắt buộc phải tháo dây ngăn sông cấm chợ vì nguy cơ mất kiểm soát chính trị vì dân đã bị đói.

Trước năm 1979, sự đoàn kết răng hở môi lạnh với Trung Quốc, tình hữu nghị đời đời bất diệt giữa Việt Nam và Trung Quốc là bài bản được tuyên giáo cộng sản Việt Nam ca ngợi rền rĩ trên các loa phường và báo đài quốc doanh. Đến khi Trung Quốc bất thần xua quân tấn công qua biên giới Việt Nam thì tình hữu nghị tan vỡ. Chiến tranh biên giới đã làm thiệt hại nặng nề nhân mạng và tài sản người Việt Nam Nhưng đụng độ với Trung Quốc, nguy cơ Đảng cộng sản Việt Nam bị mất quyền cai trị Việt Nam còn nghiêm trọng hợn. Bộ Chính trị Đảng cộng sản Việt Nam đã rơi vào thế bị triệt buộc phải qua hòa giải với Trung Quốc để sống còn. Hệ lụy như ta đã thấy là Hội nghị Thành Đô 1990.

Thời sự nóng bỏng hiện nay về vụ kiện thế kỷ của công dân Hà Lan Trịnh Vĩnh Bình có thể quy chiếu để chấm dứt các giải pháp kiến nghị, phản đối, xin xỏ, mong đợi Đảng cộng sản Việt Nam tự nguyện hồi tâm tôn trọng lẽ phải và công lý. Tòa án Quốc tế đã phán xử Chính quyền cộng sản Việt Nam phải bồi thường 40 triệu đô la vì đã vi phạm các điều lệ trong Hiệp định Khuyến khích và Bảo vệ Đầu tư đã được ký kết giữa chính phủ Hà Lan và Chính quyền cộng sản Việt Nam. Tại sao Chính quyền cộng sản Việt Nam phải bồi thường nhục nhã thế ? Họ đã từng ký nhiều văn kiện quốc tế, như Hiệp định Paris 1973, và đã nuốt trọng chữ ký mà ai đã dám làm gì. Nhưng lần này Chính quyền cộng sản Việt Nam phải bồi thường vì không còn chọn lựa nào khác. Tòa án Quốc tế có thể ra lệnh tịch biên tài sản hoặc phong tỏa các trương mục của Chính quyền cộng sản Việt Nam ở các nước tư bản nếu chính quyền cộng sản Việt Nam không thi hành án. Tài sản ở nước ngoài quá lớn bị đe dọa buộc chính quyền cộng sản Việt Nam phải ‘hy sinh’ trả nợ nhỏ. Càng trả sớm càng khỏi phải trả thêm tiền lời và tiền ‘thiệt hại tinh thần’ cho Trịnh Vĩnh Bình.

Bản chất của chế độ cộng sản Việt Nam như thế đã rõ, vấn đề nan giải là hình thành một lực lượng dân chủ Việt Nam. Lực lượng này phải có tiềm năng chính trị buộc được Đảng cộng sản Việt Nam vào thế phải thực hiện tiến trình Hòa giải và hòa hợp dân tộc như đã ghi trong Hiệp định Paris 73. Không có lực lượng này, chế độ cộng sản Việt Nam sẽ tiếp tục làm cơn ác mộng của cả dân tộc Việt Nam.

Nhưng nan giải không có nghĩa không giải được. Sự cai trị của Đảng cộng sản Việt Nam sau hơn 40 năm áp đặt ‘thống nhất’ đã chứng tỏ đây là một đảng chính trị gian trá. Từng ngày trong đời sống của xã hội Việt Nam có vô số chứng minh cho nhận định này. Không phải qua các trang mạng xã hội bị chế độ cộng sản Việt Nam quy chụp là phản động mà chính trên báo giới truyền thông quốc doanh. Sự hoành hành tự tung tự tác của liên minh ma quỷ, tiền, quyền, thẻ đảng và tư bản rừng rú trên xã hội đã lên mức cao điểm.

Những điều kiện căn bản cho một cuộc cách mạng đã xuất hiện. Đảng cộng sản Việt Nam đã mất lý tưởng làm nền tảng cho đảng viên quyết sống chết với chế độ. Lý tưởng cộng sản không còn thuyết phục được ai. Đảng cộng sản Việt Nam đã ung thối, chia rẽ, phân hóa và đang vật vã tìm lý cớ để tồn tại. Người dân đã nhận chân được chế độ cộng sản Việt Nam như một u bướu ung thư ác tính cần phải cắt bỏ. Người dân mong đợi một chế độ mới biết tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do của người dân, không tham nhũng, không ngồi lên pháp luật, không bao che các đảng viên vi phạm pháp luật, không hèn với giặc, ác với dân. Cuối cùng là sự mong đợi một lực lượng chính trị mới như một giải pháp chính trị đáp ứng được nguyện vọng của toàn dân xuất hiện. Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên đang nỗ lực để trở thành một thành phần xứng đáng của lực lượng mới ấy.

Chưa cần đến đồng thuận trong từng chi tiết trong giải pháp Việt Nam hiện tại, để có thể xây dựng một lực lượng chính trị người ta cần phải đồng thuận trên những mục tiêu căn bản. Như đồng thuận về một quốc gia mới dân chủ đa nguyên, lấy tinh thần Hòa giải và hòa hợp dân tộc chỉ đạo các chính sách điều hành xã hội bằng một phương pháp hòa bình như bất bạo động. Tổ chức những cuộc xuống đường bất tuân dân sự, đình công, bãi thị, bãi trường, ngưng mọi sinh hoạt kinh tế là những hình thức đấu tranh bất bạo động. Có được sự đồng thuận căn bản này, một lực lượng chính trị đối lập với Đảng cộng sản Việt Nam sẽ thành hình.

Những chướng ngại cho giải pháp Hòa giải và hòa hợp dân tộc hiện nay cũng cần được nhận diện để hóa giải. Nền văn hóa dùng bạo lực giải quyết xung đột đã ăn sâu vào tâm lý người Việt Nam nhưng có thể thay đổi nhờ vào mạng lưới internet. Chỉ cần một giây, những thông tin trên khắp thế giới có sẵn để người đọc biết đến, kiểm tra, đối chiếu, phân tích độc lập. Tuyên giáo đã mất độc quyền. Những giá trị xưa cũ lỗi thời trên thế giới đang bị đào thải nhường bước cho những giá trị mới.

Hòa giải dân tộc là một giá trị mới đang được tôn trọng trên thế giới văn minh. Tại các quốc gia tiên tiến luôn có một ngày dành riêng cho giá trị này, thậm chí như tại Úc Đại Lợi, còn có cả ngày Xin Lỗi Toàn Quốc (National Sorry Day, ngày 26/5). Ngày này Chính phủ Úc xin lỗi những người dân đã bị thiệt hại vì các chính sách điều hành xã hội. Chắc chắn trong niên lịch của Đảng cộng sản Việt Nam không có những ngày cảm động như thế. Ít ra cho đến khi một lực lượng chính trị đối lập xuất hiện.

Cũng cần nhận diện những suy nghĩ cảm tính của người không cộng sản để hóa giải vì tương lai đất nước. Hòa giải và hòa hợp dân tộc là một giải pháp hòa bình để người Việt Nam có thể cộng sinh hài hòa theo dòng sinh mệnh của dân tộc. Dân tộc nào cũng thế, dù có thể vì nhiều lý do khác nhau đã đưa đến chiến tranh nhưng nếu không tiêu diệt được nhau thì phải hóa giải xung đột để có thể cộng sinh. Hòa giải đòi hỏi người gây thiệt hại phải xin lỗi và bồi thường cho người bị thiệt hại. Người bị thiệt hại cũng không được tầm thù báo oán khi đã chấp nhận sự hòa giải.

hghhdt02

Chim bồ câu tung cánh : biểu tượng của hy vọng và tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Không ít người có ác cảm với Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên vì ngộ nhận rằng giải pháp Hòa giải và hòa hợp dân tộc là sự xin x