Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

 

Từ tri thức cần lao tới lao động sáng tạo

Với chủ đề tri thức về lao động, tôi xin bắt đầu với xã hội học thực nghiệm song hành cùng triết học đạo đức, và chính trị học lý trí. Cụ thể là khi tôi điền dã về điều kiện lao động của dân lành Việt mà họ tự gọi họ là : dân đen ; rồi tiếp theo tôi điều tra về quan hệ xã hội giữa chủ là tư bản thân hữu với chính quyền và thợ là làm công bị bóc lột bởi loại chủ này người làm công gọi tên là : trọc phú. Và khi khảo sát sâu vào sinh hoạt kinh tế, tài chính của loại tỷ phú -nhưng trọc phú- này thì tôi phải phân tích để phân loại chủ nhân kiểu Việt Nam hiện nay (tư bản gia đình, tư bản thân hữu, tư bản tham nhũng) với tư bản của phương Tây hiểu thịnh vượng-tiến bộ-văn minh cho xã hội vì thấu luôn luật xã hội dựa vào liên kết công bằng-công lý-công pháp của luật lao động. Hai loại tư bản này khác nhau hoàn toàn !

laodong00

Sáng tạo ngược với quan hệ

Sự khác biệt có ngay trong vai trò chủ thể của tư bản phương Tây biết chủ đoán để chủ động trong đầu tư. Sự thành công của tư bản phương Tây dựa trên kinh tế tri thức để có công nghiệp sáng tạo, rồi biến công nghệ truyền thông thành công cụ và phương tiện cho toàn cầu hóa từ trao đổi dịch vụ tới trao đổi thông tin. Họ thăng hoa để vinh danh cùng lúc với kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ, thông tin… biến câu chuyện thứ nhất có tự do rồi thành câu chuyện thứ nhì rất thông minh vì rất sáng tạo là ngày ngày phải có tự do hơn. Nên họ thấy tư bản gia đình, tư bản thân hữu, tư bản tham nhũng dựa vào độc đảng nắm độc quyền kiểu Việt Nam hiện nay chỉ thành công trên bất động sản, bằng chính quyền cướp ngày là quan sinh đẻ ra ma quyền bất động sản trộm, cắp, cướp, giật đất đai của nhân dân.

Một sớm một chiều giầu có, nhưng cũng một sớm một chiều biến dân lành của dân tộc mình thành dân oan, nên đồng nghề tư bản, nhưng không hề đồng thuyền trong đồng đầu tư, không hề đồng hội trong thành quả lao động. Vì vậy tư bản phương Tây xem tư bản đỏ của Việt Nam hiện nay chỉ là loại man chợ buôn gian bán lận. Thành công vì đồng lõa với bạo quyền độc đảng, thành tựu nhờ đồng mưu với tà quyền tham quan, thành tiền nhờ đồng môn qua ma quyền tham nhũng. Bọn tư bản đỏ này không hề thành tài nhờ chính tri thức sáng tạo của chúng như các lực lượng tư bản của kinh tế tri thức của công nghiệp sáng tạo.

Khi phải giải thích để giải luận về sự khác biệt một trời một vực này giữa Tây có sáng tạo và Ta có âm binh nắm kinh tài, thì tôi phải đưa xã hội học thực nghiệm vào xã hội học so sánh, đưa triết học đạo đức vào triết học phân tích, đưa chính trị học lý trí vào chính trị học tri thức. Nên tôi đã thấy rõ được sự khác biệt này trong câu trả lời của một lý thuyết gia mà cũng là một nhà tư bản lớn của phương Tây, khi ông nói rằng : "Nên cẩn trọng với sự thành công bằng tiền bạc, vì tiền bạc có thể là rác rưởi hôi thối nếu để nó bám vào nhân phẩm chúng ta, làm chúng ta sẽ mất nhân cách. Nhưng tiền bạc cũng có thể hương hoa của sáng tạo, nếu chúng ta biết đầu tư để thăng hoa cho nhân sinh, bằng thăng tiến của văn minh để vinh danh nhân vị cho chính chúng ta !".

laodong2

Triết luận của luật pháp

 

Hãy bắt đầu tìm hiểu luật pháp về lao động bằng thượng nguồn của nó qua triết luận của luật pháp, qua tác phẩm Triết của luật (Philosophie du droit) của Hegel đặt nền tảng cho luật pháp bắt đầu bằng tôn trọng tự do của cá nhân, mà cá nhân ở đây không phải là cá nhân chỉ của cái tôi, chỉ cho tôi. Mà cá nhân đây là luận triết của tác giả được phân tích là khung của luật pháp, trong đó mọi cá nhân được bảo vệ như nhau, chính khung luật này vừa bảo vệ quyền hạn của cá nhân, vừa tạo luật lệ để mọi cá nhân có quyền hạn như nhau trong cùng một luật pháp. Triết luận này đã lập nên chủ luận cho luật pháp, để khi phân tích trường hợp của Việt Nam hiện nay ta thấy cái quái thai của một chế độ nơi mà mọi đặc quyền, đặc lợi, đặc ân của Đảng cộng sản Việt Nam tự đặt ra để bảo vệ quyền lực và quyền lợi của mình, tất cả đều bất chính vì bất hợp pháp, đã phạm luật vì bất tuân cái khung công bằng của luật luận.

Từ quan hệ giữa triết họcluật học trong quá trình tiến hóa của nhân loại, thì kinh tế họcxã hội học đã nghiên cứu về một xã hội văn minh luôn phải đi thêm một bước nữa bằng cách đặt thêm một câu hỏi để có những câu trả lời thỏa đáng về : Đâu là chế độ lao động để nhân vị được bảo vệ, nhân phẩm được bảo đảm ? Cụ thể là một xã hội văn minh phải loại bỏ không những chế độ người bóc lột người, người cưỡng chế người bằng lao động, mà còn phải tạo điều kiện thuận lợi nhất để công bằng xuất hiện giữa kẻ có củangười có công, không để kẻ có của hiếp đáp, hà hiếp, trấn áp người có công. Mà thực tế kẻ có của hiếp đáp, hà hiếp, trấn áp người có công chính là thực cảnh của xã hội Việt Nam hiện nay dưới độc quyền của độc đảng ; nơi mà dân lành đã thành dân đen vì bị bóc lột từ điều kiện lao động tới lương bổng thấp, từ sự vắng mặt của bảo hiểm lao động khi bị thất nghiệp tới bảo hiểm tính mạng khi gặp tai nạn lao động… Đây lại là một bất công không chấp được mà nó đang trở nên đại trà khi độc quyền của độc đảng qua liên minh âm binh của nó đã cấu kết với tư bản đỏ, tư bản gia đình, tư bản thân hữu… Liên minh âm binh này vừa mở cửa cho các tập đoàn ngoại quốc vào bóc lột sức lao động ngay tại quốc nội ; cùng lúc tổ chức các đường dây nô lệ hóa lao động Việt bằng các chính sách xuất khẩu lao động, biến hằng triệu đồng bào thành lao nô, thành nô tỳ cho các nước láng giềng, để vơ vét thêm với lòng tham không đáy của chúng.

laodong3

Toàn trị để độc trị

Trong lịch sử nhân loại từ khi con người vào kỷ nguyên công nghiệp với sự bóc lột trắng trợn sức lao động của công nhân, nông dân… một kỷ nguyên xem con người là công cụ, là vật liệu, là hàng hóa để tạo sản xuất, để tăng năng suất. Sự xuất hiện của hai thế chiến trong thế kỷ XX vừa qua, càng làm sự bóc lột trắng trợn sức lao động của con người trở nên nhờm tởm với quá trình biến xã hội thành một nhà máy khổng lồ để phục vụ chiến tranh, để phục vụ chuyện con người tiêu diệt con người, để nhân sinh tự tiêu diệt, đưa nhân loại vào tử lộ.

Các khẩu hiệu "Tổng động viên" làm nên khẩu lệnh "Tất cả vì tiền tuyến" để tiêu diệt đối phương, giờ không những đã là kẻ thù mà đã trở thành tử thù, "không đội trời chung", loại luận điệu này thì người Việt nghe rất quen tai. Đây cũng chính là thảm họa của Việt tộc, chỉ cần một nhúm người cộng sản mang một ý thức hệ ngoại lai đấu tranh gia cấp bằng chuyên chính vô sản dưới lá cờ chống thực dân rồi chống đế quốc vì độc lập dân tộc, để đưa Việt tộc từ tà lộ mệnh danh "cách mạng", với biệt danh "giải phóng", tới tử lộ của huynh đệ tương tàn, với nhiều triệu sinh mạng của đồng bào bị thí mạng như những công cụ vô tri. Ngoài sự mất mát quá lớn về tính mạng của đồng bào mà Phật đạo của dân tộc gọi chính danh là : sinh linh, mọi sinh vật đều thiêng liêng vì linh thiêng bằng chính sự sống của nó. Không chỉ sự mất mát về tính mạng, mà còn sự mất trọn tất cả các giáo lý tổ tiên Việt về tương thân tương trợ, song hành cùng sự mất trắng tất cả các tiềm năng phát triển đất nước, để đưa dân tộc vào quỹ đạo của tiến bộ, để đi về hướng một xã hội có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền. Sau chuỗi mất mát-mất trọn-mất trắng hiển hiện trước mắt mọi công dân Việt là địa ngục hiện tiền, với hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn) của Đảng cộng sản Việt Nam sinh đôi với hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền) cũng của chính nó.

Giữa hai thế chiến, một chính trị gia mà cũng là một tư tưởng gia của Đức quốc : Ernst Junger đã nhận ra là tất cả các khẩu hiệu "Tổng động viên" làm nên khẩu lệnh "Tất cả vì tiền tuyến" chính là bộ mặt thật của kinh tế chiến tranh, và chuyện quái gở nhất là nó không tự biến mất sau khi hòa bình được lập lại, mà nó tiếp tục và trở thành khuôn khổ của kỷ luật lao động tập thể bắt một dân tộc, một giống nòi phải vào quỷ lộ của nó với các khẩu hiệu "Tổng động viên để xây dựng lại đất nước" làm nên khẩu lệnh "Tất cả vì phát triển của đất nước", bằng kỷ luật quân đội để quản chế một dân tộc, để quản thúc một đất nước. Việt tộc không những nghe quen tai các luận điệu này, mà còn phải chịu bao tai ương của trại cải tạo, đánh tư sản, đổi tiền… sau 1975. Thông minh của một dân tộc là dùng khả năng lao động sắc nhọn của mình để chấm dứt vĩnh viễn loại tuyên truyền ngu dân rất sắc máu này !

laodong4

Nhận thức về cần lao

Loại ngữ pháp : tổng động viên trong quá trình chính trị hóa rồi quân sự hóa toàn bộ lực lượng lao động của một quốc gia dẫn tới chế độ toàn trị, trong đó từ cá nhân tới tập thể, từ cộng động tới quốc gia, không ai thoát được ý thức hệ toàn trị làm nên định chế toàn trị. Khi chế độ toàn trị, ý thức hệ toàn trị, định chế toàn trị đã có mặt trong xã hội, vì đã có chính quyền toàn trị bảo lãnh cho chúng bằng bạo lực, đây chính là thảm cảnh của số phận Việt tộc hiện nay, vì toàn trị luôn là độc trị trong độc hại vì nó chỉ biết độc lộ bằng độc quyền độc lợi của nó.

Trên phân tích này, ta phải thấy sự thông minh của các minh quân, minh vương, minh chủ trong một hệ thống độc tài, họ biết được tổng động viên toàn lực trong một thời điểm lịch sử nhất định, trong khi chờ đợi dân chủ đa nguyên biết tôn trọng nhân quyền, thì họ đã thực hiện được tổng động viên vì thấy và thấu thực tế của thị trường toàn trị. Đó là trường hợp của các minh quân, minh vương, minh chủ này mà ta đã thấy trong thế kỷ XX vừa với kinh nghiệm của Nhật Bản, Nam Hàn, Đại Loan, Singapour ; và ta không quên vai trò của Đặng Tiểu Bình đã nhận ra con đường này cho Trung Quốc từ những năm của thập kỷ 1980. Phạm trù của thị trường toàn trị luôn dựa lên kinh tế thị trường, nơi mà thức khuya dậy sớm trong cần lao phục vụ cho sản xuất, nơi mà một nắng hai sương trong lao động phục vụ cho xuất khẩu, nơi mà ăn bữa sáng lo bữa tối phục vụ cho tiết kiệm.

Tất cả sung lực của cần cù trong lao động, chăm chỉ trong công việc, được đưa vào đúng đại lộ của tiềm năng sáng tạo, lấy sáng kiến lao động để thăng hoa sáng chế ra chất lượng của sản phẩm ngay trong cần lao. Cần lao vừa là đạo lý vừa là tri thức lấy đa trí phục vụ cho đa tài ; lao động giáo lý vừa là ý thức lấy đa năng phục vụ cho đa hiệu. Trong lịch sử của Đảng cộng sản Việt Nam, thì các lãnh đạo qua hơn nửa thế kỷ từ ngày thành lập đảng 1930 tới nay, họ không hề có ý thức về cần lao, nhận thức về lao động, vì ngay thượng nguồn họ không hề có kiến thức chính-quyền-hiểu-thị-trường. Sự thành công của Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan, Singapour và cả của Trung Quốc dưới sự chủ đạo Đặng Tiểu Bình là đã tổng động viên toàn lực lao động vào kinh tế thị trường, nơi mà thị trường kinh tế chính là chiến trường mới, nhưng không có máu đổ đầu rơi ; nơi mà chiến đấu bằng lao động sáng tạo của mình làm nên chiến thắng kinh tế để đất nước của mình được tiến bộ, dân tộc của mình được hưởng văn minh. Tổng hệ luận (chiến trường là thị trường-chiến đấu bằng lao động-chiến thắng bằng cần lao) đã bị tiêu diệt ngay trong trứng nước trong hệ thống độc đảng của chế độ Việt Nam hiện nay, độc tài nhưng bất tài, độc trị nhưng không hề có tri thức quản trị, cộng vào đó là sự tung hoành cho tới tan hoang của hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền) làm tan vỡ ngay trên thượng nguồn mọi phương hướng và phương pháp để đưa Việt tộc tới tiến bộ và văn minh.

Liên minh ý tưởng-ý muốn-ý lực trong lao động

Giữa hai thế chiến, tại Âu châu con người đã ý thức được cái nguy hại của tổng động viên lao động chỉ phục vụ cho chiến tranh, nên qua hiệp ước Versailles, nhân loại đã cho ra đời Tổ chức quốc tế lao động (Organisation internationale du travail), nhân đạo hóa lao động bằng nhân phẩm biết phục vụ hòa bình và tìm mọi cách ngăn chặn chiến tranh, và tiếp tục cho ra đời Liên hội các quốc gia (Société des nations), là tiền thân của Liên Hiệp Quốc (Nations-unies) sau Đệ nhị thế chiến. Sự ra đời của các cơ quan quốc tế : Tổ chức quốc tế lao động, Liên hội các quốc gia, Liên Hiệp Quốc làm nền tảng cho sự xuất hiện các công pháp quốc tế vừa để bảo vệ nhân loại chống chiến tranh, vừa để ngăn chặn các bất công tới từ sự bóc lột lao động của cá lớn nuốt cá bé. Và chính công pháp quốc tế đã trợ lực cho luật lao động, để luật xã hội có mặt trong an sinh xã hội, với bảo hiểm xã hội, dịch vụ công cộng, luôn được củng cố và hoàn thiện qua các đấu tranh của xã hội dân sự.

Trong tuyên ngôn của Tổ chức quốc tế lao động, người ta nhận được các điều kiện lao động bảo vệ được nhân phẩm, bằng các định đề nơi mà nội dung của nhân tính được bảo đảm bằng nhân lý trong lao động :

h Con người lao động với sự chủ động đóng góp được sức lao động của riêng mình, đó chính là thành quả lao động tới từ tự nguyện lao động.

h Con người lao động với nhân phẩm, nhân tính, nhân lý nên con người không phải là thú vật hoặc máy móc phải khuất phục chỉ để tuân lệnh chủ nhân.

h Con người lao động với tự chủ, bằng tự do của tư duy "muốn làm được việc" bằng lao động của mình, từ thủ công tới trí thức, với sự tính toán của phương án, với ý muốn biến lao động thành quả do mình định đoạt.

h Con người có ý tưởng lao động dựa trên ý muốn có thành quả lao động, làm nên ý lực của hiệu năng và hiệu quả lao động. Chính hệ luận ý tưởng đầu tiên làm nên ý muốn để thành ý lực ngay trong lao động, đã làm nên sự khác biệt tòan diện giữa điều kiện làm người trong lao động và điều kiện của súc vật hoặc máy móc.

h Con người vận dụng liên minh ý tưởng-ý muốn-ý lực trong chính điều kiện làm người trong lao động của mình để bảo vệ nhân phẩm, nhân tính, nhân lý trong tổ chức lao động, để trực diện chống lại sự tha hóa nhân vịnhân bản trong lao động.

Khi chúng ta nêu được các yếu tố trên đã làm nên mệnh đề : thế nào là lao động đúng với điều kiện làm người đúng, hoàn toàn khác biệt với súc vật và máy móc ; thì cùng lúc chúng ta cũng phải công nhận là mỗi con người đều mang hai bản chất cũng rất khác nhau. Bản chất thứ nhất của bản năng : đói ăn khát uống lao động để nuôi thân ; và bản chất thứ nhì của bản thể : lấy ước mơ làm lý tưởng, với các giá trị biểu tượng trong đó con người lao động để thỏa mãn hoài vọng, để thực hiện hoài bão của mình với các giá trị của luân lý, của nghệ thuật, của khoa học… Chính bản thể với các giá trị biểu tượng của hoài vọng, của hoài bão sẽ làm nên sáng tạo trong lao động, nâng cao hiệu xuất lao động, làm rộng hiệu năng lao động, không những để tăng trưởng sản xuất mà còn để thăng hoa nhân kiếp ngay trong lao động.

Sáng tạo trong lao động làm nên chủ thể lao động bằng sáng tạo, không lặp đi lặp lại một cách máy móc hành tác lao động, mà ý thức trong lao động có công cuộc thay đời đổi kiếp, vì trong sáng tạo lao động có thể làm được chuyện dời non lấp bể ; mà không trao thân gởi phận cho chuyện vật đổi sao dời mà mình không có một quyết định, một quyết đoán gì hết ! Khi ta học làm người tức là ta học dung hòa giữa hai bản chất để rồi sau đó chọn ưu tiên một trên hai bản chất : bản năng hay bản thể. Tại đây, lao động chính là môi trường học tập để thỏa mãn bản năng, cùng lúc để thăng hoa bản thể, vì vậy lao động từ môi trường lao tác đã biến thành ngôi trường học tập để mỗi chúng ta xây dựng hiện tại, gầy dựng tương lai bằng nhân đạo làm nên nhân phẩm bằng rành nghề, thạo nghề, giỏi nghề để thấy và thấu chuyện nhất nghệ tinh, nhất thân vinh. Từ môi trường đến ngôi trường của không gian lao động, chúng ta sẽ khám phá ra ít nhất hai hệ vấn đề mới : khám phá thế giới mà ta đang sống (đang ăn ở và đang sáng tạo), cùng lúc khám phá ra chính chúng ta, có hay không "thiên năng" để xây dựng năng khiếu cá nhân, để gầy dựng tài năng, mà thành công trong huấn nghiệp, thành đạt trong chuyên nghiệp, thành tài trong sự nghiệp.

laodong5

Lao động có lương tri

Khi lý luận của Tylor được lấy làm tiền đề cho tổ chức lao động với mục đích độc nhất chỉ đi tìm hiệu quả lao động cao nhất trong thế kỷ XX vừa qua, nó đã trở thành một chủ thuyết để phát triển công nghiêp bằng mô hình của các nhà máy nơi mà nhân tính bị bứng đi khỏi người lao động, khi con người chỉ là một công cụ của một nguồn máy. Chính Tylor đã biện minh về chủ thuyết của mình là : "công nhân không cần có tư tưởng", "Trong lúc làm việc thì người công nhân không cần suy nghĩ", và có một số nhà máy thời đó còn trưng lên khẩu hiệu : "Tới làm việc thì phải để tư duy ngoài nhà máy". Thời kỳ này chính thức đã qua, nó bị khai tử bởi tiến bộ của xã hội song hành cùng văn minh của nhân quyền, trong đó công đoàn, xã hội dân sự, cùng các chính quyền dân chủ biết chủ trương an sinh xã hội đã đưa nó khỏi không gian của nhân phẩm nơi mà giá trị làm người luôn ở trên cao, cao hơn giá trị phải lao động để được sinh tồn.

Vậy mà trong thế kỷ mới này, người lao động Việt hiện nay vẫn chưa có : công đoàn độc lập, xã hội dân sự thực sự, để cả hai cùng nhau xây dựng : bảo hiểm xã hội lương thiện, dịch vụ công cộng có lương tâm, luật xã hội có lương tri, từ đó bảo đảm một an sinh xã hội chân chính. Chỉ vì chính quyền độc đảng hiện nay không những độc tài nhưng bất tài, mà chính quyền độc đảng này lại dùng độc trị để nuôi nấng độc tham, dụng tham nhũng để cướp bóc lao động vừa qua tổ chức lao động bất nhân, vừa qua chế độ thuế má thất đức. Nên chính quyền độc đảng này không hề có một tri thức tối thiểu nào về lao động có lương tri.

Ngày ngày, người lao động Việt hiện nay đang bị các xí nghiệp, doanh nghiệp ngoại quốc bóc lột với lương bổng thấp, điều kiện lao động tồi, và nếu đòi hỏi thì bị đuổi việc, nếu biểu tình, xuống đường để đấu tranh thì bị công an đàn áp thẳng tay bằng quyền lệnh độc đảng của công an trị. Từ đối xử thậm tệ với đồng bào lao động cho tới chuyện thí mạng chính đồng bào mình, chính là hiện thân của một độc đảng "hèn với giặc, ác với dân". Con dân Việt thấy rõ trong hành tác "quỳ trước Tàu họa" trong thảm nạn ô nhiễm của khu công nghiệp luyện thép Formosa năm 2016 đã giết trọn một vùng biển miền Trung, làm nhiều triệu ngư dân "dở chết dở sống" bao năm qua. Giờ đây với động thái "cúi đầu trước Tàu nạn" không dám đóng cửa biên giới đầu năm nay 2020 với đại họa tàu dịch coronavirus, đang để mặc công nhân Việt bị lây tàu dịch này từ công nhân Trung Quốc trở lại Việt Nam làm việc sau khi về lại Trung Quốc. Không như các nước láng giềng có chính sách y tế minh bạch để cách ly công nhân và du khách Trung Quốc đã thực hiện. "Ác với dân" đã hiển hiện trước mắt mọi công dân Việt giờ chính là : "độc với lao động việt".

Lao động có lương tri bắt đầu bằng quyết tâm chấm dứt lối lập luận công nhân trong nhà máy là loại người máy là việc như công cụ, như phụ tùng trong sự vận hành của nhà máy vừa đóng vai chính, vừa đóng vai chủ. Từ đó, nó bứng tư tưởng có trong nhân lý, nó tháo tư duy có trong nhân tính, để tha hóa nhân phẩm bằng cách bắt buộc nhân bản phải cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối trước toan tính của lợi nhuận, trước tính toán của hiệu năng. Nội dung của lao động có lương tri mang những nội chất sau :

h Lao động có lương tri là lao động vận dụng nhân lý, nhân tính bằng nhân tri, nhân trí để bảo vệ nhân phẩm, nơi mà lao động phục vụ nhân bản chứ không phải ngược lại.

h Lao động có lương tri là lao động tận dụng từ nhân tri tới nhân trí bằng khoa học, bằng kỹ thuật đã tạo nên những tiến bộ, văn minh cho nhân loại ; chính khoa học, kỹ thuật là lực lượng lao động song hành cùng nhân sinh để phục vụ nhân sinh chớ không phải ngược lại.

h Lao động có lương tri là lao động chống các hoang tưởng tới từ một loại ý thức hệ nơi mà hứa hẹn là hứa hão để lừa bịp bằng man trá : "Làm theo nhu cầu, hưởng theo tiêu thụ" ; mà quên đi tiền đề của thành tựu lao động luôn là cần lao, cần cù trong lao động và chăm chỉ trong công việc, mà tổ tiên Việt làm rõ bằng các định đề : "thức khuya dậy sớm", "một nắng hai mưa", "ăn bữa sáng lo bữa tối"…

h Lao động có lương tri là lao động chống các chỉ tiêu tới tự ý chí chủ nghĩa, chủ quan hàm hồ lấy số lượng toán để quyết định số phận người, lấy định lượng bị mù lòa về tăng trưởng để vùi dập định chất nơi mà tài năng được nhận ra bằng thành quả lao động, nơi mà sáng tạo biết thăng hoa lao động.

h Lao động có lương tri là lao động chống lại các lý thuyết tuyệt đối vị khoa học, chống lại các chủ thuyết toàn thần quá khích, mượn tôn giáo để bóc lột lao động, nên nó chống luôn các lãnh đạo dùng ma đạo của độc tôn khoa học, lạm dụng tà đạo của độc quyền tôn giáo.

Lao động có lương tri là làm việc với tri thức của lương tâm, nơi mà hiệu quả lao động phục vụ cho nhân vị, hiệu năng lao động phục vụ cho nhân bản, thành quả lao động phục vụ cho nhân phẩm, thành tựu lao động phục vụ cho nhân văn, trong đó nhân sinh, nhân loại được bảo vệ bởi nhân tính, nhân lý biết dựa vào nhân tri luôn tỉnh táo để có sáng suốt bằng nhân đạo của nhân trí.

laodong6

Lao động bằng lương tri

Từ lao động có lương tri tới lao động bằng lương tri là sự trưởng thành toàn diện của hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri), nơi mà lương thiện là gốc, rễ, cội, nguồn của lương tâm chế tác ra lương tri chính là sự hiểu biết của con người bằng tổng lực của nhân tính, nhân lý, nhân tri, nhân trí, biết làm nên nhân vị, nhân văn, nhân bản để bảo đảm và bảo trì nhân phẩm, nhân đạo, nhân tâm. Hãy lý luận trên nội dung để tìm ra lập luận về nội chất của lao động bằng lương tri :

h Lao động bằng lương tri vận dụng nhân tính, nhân lý, nhân tri, nhân trí để hiểu nhân loại, nhân thế, nhân sinh không lao động trong đơn lẻ mà lao động trên một môi trường, lao tác trên một môi sinh, tại đây một nhân sinh quan đứng đắn phải là một thế giới quan tử tế với môi trường và môi sinh. Cụ thể là không để quê hương gấm vóc của tổ tiên Việt tộc thành bãi rác ô nhiễm của Tàu họan, bằng hóa chất độc, thực phẩm bẩn của Tàu nạn, nhiệt điện than của Tàu họa, để sau này lại có thể là bãi tha ma của Tàu dịch.

h Lao động bằng lương tri vận dụng sáng tạo lao động để thành quả lao động không chỉ là sản phẩm phục vụ nhân loại, nhân thế, nhân sinh, mà còn là tác phẩm của môt nhân sinh quan đứng đắn hợp lực một thế giới quan tử tế để có một vũ trụ quan liêm chính biết tôn trọng muôn loài nơi mà mọi sinh vật có chỗ đứng ghế ngồi của sinh linh, tức là linh thiêng bằng linh hồn của sự sống.

Liên minh giữa nhân sinh quan đứng đắn, thế giới quan tử tếvũ trụ quan liêm chính chính là bản lĩnh của một nhân loại văn minh, chính là tầm vóc của một nhân sinh "ăn ở có hậu" với tiền đồ tổ tiên, với các thế hệ mai hậu, ngay trong mọi hành tác lao động mang hệ thức (ý thức, kiến thức, tri thức, trí thức, nhận thức, tỉnh thức) để làm nên lao động bằng lương tri. Từ lao động có lương tri tới lao động bằng lương tri là sự thông minh toàn lý về nhận thức biết làm ra sản phẩm, lại biết làm nên tác phẩm bằng sáng tạo ngay trong lao động, và liên hợp giữa sản phẩm tác phẩm, có trong sự thông thạo làm ra sản phẩm, song lứa để song hành cùng sự thông thái làm ra tác phẩm. Nên lao động có lương tri luôn có chỗ dựa làm nền của hệ thông (thông minh, thông thạo, thông thái), nơi mà lao động thủ công và lao động trí thức luôn bổ sung để hỗ trợ cho nhau.

Quy chế lao động nhân đạo

Dựa trên những quy định có nhân tính và nhân lý để bảo đảm một chế độ lao động trọng nhân đạo làm nên nhân vị, lấy nhân bản làm định chế, lấy nhân quyền làm cơ chế. Nơi mà tất cả các định nghĩa : quy chế, quy định, định chế, cơ chế phải có gốc, rễ, cội, nguồn từ ý muốn bảo vệ nhân phẩm. Hãy cụ thể hóa quy chế lao động nhân đạo :

h Tổ chức trong lao động tôn trọng nhân phẩm, nhân tâm.

h Hành tác trong lao động tôn trọng nhân bản, nhân văn.

h Phân công trong lao động tôn trọng nhân tính, nhân lý

h Thành quả trong lao động tôn trọng nhân tri, nhân trí.

Lịch sử lao động của nhân sinh có trong lịch sự tiến hóa của nhân loại, nơi mà bất bình đẳng cực độ đã làm nên bất công cùng cực trong lao động của chế độ nô lệ, con người làm cùng, làm thay con vật để canh tác trên những mảnh đất mà địa chủ được "chống lưng" bởi vua chúa. Khi vào cách mạng công nghiệp, thì con người lại là công cụ của một bộ máy, nơi mà các chủ đầu tư là "sân sau" để cho ra đời một hệ thống lao động bị cơ giới hóa, với con người chỉ là dụng cụ thứ phụ ngay trong tổ chức lao động. Con người lại phải càng cẩn thận trong hơn với công nghệ truyền thông hiện nay, nơi mà thông minh nhân tạo không những làm được nhiều lao tác thay thế con người, mà còn quản lý được những con tính vô cùng phức tạp. Để từ đó đẩy con người ngày càng phụ thuộc sự tính toán của "tìm năng suất để kiếm lợi nhuận", mà gạt đi cùng lúc nhân vị trong lao động làm ra sản phẩm và nhân tri trong lao động sáng tạo ra tác phẩm. Khi chủ nhân có chủ đích đi" tìm năng xuất để kiếm lợi nhuận", thì đó là kẻ không hề đặt câu hỏi về giá trị lao động mà chỉ nhìn giá cả sản phẩm để biết có bao nhiêu tiền lời tới từ sản phẩm.

Khi con người phân biệt được giá trị lao động không phải là giá cả sản phẩm, thì con người phải cẩn thận hơn trước các thuật ngữ : vốn thiên nhiên, vốn môi trường, vốn môi sinh… đây là loại "tính vốn để kiếm lời". Hãy vượt thoát ý niệm vốn để vượt thắng định nghĩa vô minh làm nên vô giác của nó, để nhận ra là giá trị của thiên nhiên, giá trị của môi trường, giá trị của môi sinh không định lượng được, không cân, đo, đong, điếm được bằng số học và toán học. Nếu con người phải sống chung, sống cùng với thiên nhiên, môi trường, môi sinh từ đời này qua đời khác thì tài nguyên, thiên nhiên, môi trường, môi sinh là vô giá, không có giá cả nhất định để người ta mang ra mặc cả, trả giá được. Vậy thì đừng mang thiên nhiên, môi trường, môi sinh mà trao, đổi, mua, bán.

Lương tri lao động không hề rời lương tri của nhân loại về thiên nhiên, môi trường, môi sinh. Đây là quan niệm sinh tử của thiên nhiên, môi trường, môi sinh của Việt tộc hiện nay nơi mà bạo quyền độc đảng vạch quy hoạch để tà quyền tham quan kiếm chác mà mở cửa cho ma quyền buôn rừng bán biển tha hồ vơ vét tài nguyên, hủy hoại thiên nhiên, truy hiếp môi trường, truy diệt môi sinh. Chính tạp-hợp bạo quyền, tà quyền, ma quyền khi thành âm binh để lũng đoạn rồi thì chúng còn nhẫn tâm hơn nữa khi chúng mở cửa cho quỷ quyền của một tạp-chất với Tàu họa của thực phẩm bẩn cùng hóa chất độc, của Tàu hoạn của ô nhiễm từ khai phá tài nguyên trên Tây Nguyên tới tiêu diệt bờ biển miền Trung kiểu Formosa, với Tàu nạn của nhiễm ô không khí tới từ các nhà máy nhiệt điện than, trong họa cảnh chung của Tàu tặc cướp đất, biển, đảo của Việt tộc.

Lương tri lao động không hề rời lương tri của dân tộc về nhân lực, đã không được tập-hợp bạo quyền, tà quyền, ma quyền đánh giá là nguyên khí quốc gia, với sự tin tưởng vào thông minh Việt, sáng tạo Việt, mà đã bị tồi tục hóa trong chính sách xuất khẩu lao động để chúng vơ vét tiếp bằng các đường dây buôn người lao động với thực chất là biến con dân Việt thành lao nô, thành nô tỳ cho các quốc gia láng giềng. Lương tri lao động làm nên sáng tạo lao động không hề hiện diện trong não trạng của bọn âm binh này !

laodong07

Công lý lao động

Phạm trù công lý lao động để giải quyết không những công bằng phải có mặt trong xã hội, mà phải hiện diện ngay trong lao động. Tập-hợp bạo quyền, tà quyền, ma quyền với địa thế ngồi mát ăn bát vàng, với tư thế ăn cỗ đi trước lội nước đi sau ; từ mượn gió độc đảng mà bẻ măng trong thiên nhiên, cướp tài nguyên, với tục thế cốc mò cò ăn, chính là bất công của bất công, nên công lý bảo vệ nhân vị vì nhân phẩm trong lao động phải xuất hiện bằng công pháp biết làm ra công luật để xét và xử bọn cướp ngày là quan này. Từ thảm cảnh của Việt Nam hiện nay, hãy phải nhìn rộng ra những tai họa trong suốt quá trình công nghiệp hóa của ba thế kỷ qua :

h Biến tổ chức lao động thành tổ chức xã hội, nơi mà con người luôn là công cụ của tổ chức chính trị với hệ ý (ý định, ý muốn, ý đồ) làm nên ý lực biến nhân lực thành công cụ mà không tôn trọng nhân phẩm của kẻ lao động.

h Đưa chủ thuyết Tylor nơi mà con người là công cụ của nhà máy vào ý đồ của Lenin là biến nhân lực của nguồn máy độc đảng thành công trường để áp đặt lên toàn xã hội với một kỷ luật quân sự toàn trị bất nhân thất đức.

Từ đây, chúng ta cũng không được quên những lầm đường lạc lối của chính các lý thuyết gia, các tư tưởng gia chính là các tác giả lớn trong hệ thống học thuật của khoa học xã hội và nhân văn khi họ nghiên cứu về quan hệ giữa con người, xã hội, và lao động :

h Tổ sư của xã hội học cận đại là Durkheim đề nghị khi nghiên cứu về quan hệ con người-xã hội-lao động, thì hãy xem con người là một vật thể (chose)

h Tổ sư của xã hội học đương đại là Bourdieu đề nghị khi nghiên cứu về quan hệ con người-xã hội-lao động, thì hãy xem con người là một phân tử (particule) trong một không gian nam châm.

h Tổ sư của nhân học cận đại và đương đại là Levi-Strauss đề nghị khi nghiên cứu về quan hệ con người-xã hội-lao động, thì hãy xem con người là côn trùng (insecte) trong một cấu trúc chung nơi mà cơ cấu quyết định cho số phận của cá nhân.

Khuyết điểm của các luận thuyết này làm nên khuyết tật của các chủ thuyết mà họ đề ra, nơi mà các lý thuyết gia, các tư tưởng gia này không những mượn hình tượng của vật thể vô tri kiểu Durkheim, của vật thể vô giác kiểu Bourdieu, của tiểu sinh vật vô cảm kiểu Levi-Strausse để làm biểu tượng mà dựng lên hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận) không nhân lý cũng không nhân tính, không nhân bản cũng không nhân văn… Khuyết điểm thành khuyết tật ngay trong hệ thức (ý thức, kiến thức, tri thức, trí thức, nhận thức, tỉnh thức) của các trí thức này tác động thẳng lên nhân trí, luôn yêu cầu chúng ta phải cẩn thận trong tri thức để cẩn trọng trong nhân tri. Trong một thế chế thực sự dân chủ để bảo vệ nhân quyền, thì công lý lao động phải có mặt ngay trong công bằng lao động qua :

h Tổ chức trong lao động bằng hệ thức (ý thức, kiến thức, tri thức, trí thức, nhận thức, tỉnh thức).

h Hành tác trong lao động bằng hệ tự (tự do, tự trọng, tự chủ, tự tin).

h Phân công trong lao động bằng hệ chuyên (chuyên khoa, chuyên ngành, chuyên môn, chuyên nghiệp).

h Thành quả trong lao động bằng hệ sáng (sáng kiến, sáng chế, sáng lập, sáng tạo).

Nhưng tri thức lao động làm nên thành quả lao động có hiệu quả kinh tế, được hỗ trợ bởi khoa học kỹ thuật, trong đó sáng tạo lao động có mặt trong thị trường qua cungcầu, ở ngoài phạm vi quyền lực của chính quyền và chính quyền chỉ có vai trò làm trọng tài khi bất công trong lao động xuất hiện. Khi chính quyền trở thành trọng tài thì chính quyền này phải được bảo chứng bởi luật lao động, được trợ lực bởi luật xã hội với các tiền đề :

h thành quả lao động không phải là hàng hóa với giá cả nhất định

h vai trò con người trong lao động không phải hàng hóa để trả giá, để mặc cả

h thị trường lao động không thuần túy là thị trường hàng hóa.

Công lý lao động trong điều kiện công nghiệp cơ giới hóa không còn là công lý lao động trong điều kiện công nghệ truyền thông hiện nay với khả năng vi tính biết có phản ứng phản hồi để thích ứng môi trường, bối cảnh, hiện trạng của xã hội. Kỷ nguyên công nghệ truyền thông có khả năng vi tính có phản ứng, biết phản hồi để thích ứng với nhiều hoàn cảnh, từ chứng khoán tới đầu tư, từ sản suất tới tiêu dùng bắt buộc chúng ta phải linh động trong chuyển luận về công lý lao động… Tại đây công lý lao động trong bối cảnh công nghệ truyền thông, cũng vẫn bị điều khiển bởi quyền lực của lượng, nơi mà số lượng đẩy lui chất lượng, để chất phải lùi để nhường chỗ cho lượng, từ đó ra đời xã hội tiêu thụ bằng sản suất bằng lượng. Nơi mà chỉ tiêu sản xuất quyết định cường độ lao động, tất cả phải phục tùng định lượng trong hiệu quả và kết quả lao động.

Chính sức ép của sản lượng, áp đặp lên hiệu quả, hiệu năng của lao động đã cho xuất hiện những hiện tượng trầm cảm, tự tử, với tầng số tai nạn lao động cao, theo cùng với những hậu quả về tâm lý, những hậu nạn về nhân phẩm. Chính tại đây, công lý lao động phải tiếp tục những phương án, phương pháp mới để bảo đảm lao động có nhân tính, để bảo hộ người lao động không là nạn nhân của tổ chức lao động, phân công lao động luôn dựa trên sản lượng lao động. Bảo đảm lao động vừa bằng luật lao động vừa bằng luật xã hội, vừa bằng bảo hiểm lao động vừa bằng bảo hiểm xã hội. Công lý lao động phải biết tương đối hóa sản lượng, để vào thực chất của phẩm, để biết nhận ra tác phẩm của sáng tạo lao động, tự đó biết được hoài bão của nhân phẩm, hoài vọng của nhân tri, nơi mà nhân trí đã vượt thoát số lượng, để vượt.

laodong8

Nghề-nghệ-nghiệp

Từ khi xã hội học ra đời thì chuyên nghành xã hội học lao động đã là một trong những cột trụ trung tâm để tìm hiểu sự vận hành của xã hội. Xã hội học lao động đã trợ lực cho xã hội học tổng quát, từ điền dã tới điều tra, từ khảo sát tới phân tích, từ giải thích kết quả nghiên cứu tới giải luận các khuynh hướng chủ đạo của xã hội. Xã hội học lao động luôn trợ sức cho xã hội học giáo dục, xã hội học văn hóa, xã hội học di dân, xã hội học nhập cư, xã hội học kinh tế, xã hội học chính trị hiểu thêm để hiểu sâu về đời sống xã hội, sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội. Khi diễn luận về lao động sáng tạo, nơi mà kết quả của lao động vừa có khả năng làm ra sản phẩm, vừa có tài năng làm ra tác phẩm, thì xã hội học lao động đã nhận diện được nhân diện bằng hệ chuyên (chuyên khoa, chuyên ngành, chuyên môn, chuyên nghiệp), để nhận ra được nhân dạng bằng hệ sáng (sáng kiến, sáng chế, sáng lập, sáng tạo), để nhận rõ được nhân cách làm nên nhân phẩm bằng hệ thông (thông minh, thông thạo, thông thái) của con người lao động.

Khi ta đưa luận đề tri thức lao động vào phân tích và giải thích các quá trình lao động là để kiểm chứng bản chất của lao động là sự thao tác qua tổng hợp của hệ thức (ý thức, kiến thức, tri thức, trí thức, nhận thức).Từ đó nhận ra được tri thức cần lao vừa là giáo lý lao động của tổ tiên để lại, vừa là đạo lý lao động của chủ thể trách nhiệm về lao động của chính mình. Tại đây ta giải luận được chính tri thức cần lao là thượng nguồn của thành công của nghề, thành tựu của nghệ, thành đạt của nghiệp. Phạm trù nghề-nghệ-nghiệp là không gian và thời gian của nhân kiếp, của một đời người, có đạo đức lao động nhất nghệ tinh, nhất thân vinh, có thực trạng sinh nghề tử nghiệp, vì nghề-nghệ-nghiệp luôn song hành với thử thách với thăng trầm của đời người, nghề-nghệ-nghiệp như hình với bóng cùng cuộc đời giúp chủ thể lao động nhân ra nhân loại, nhân sinh, nhân kiếp là ba phạm trù hoàn toàn khác nhau.

Sống trong cùng một nhân loại nhưng người có tri thức cần lao thức khuya dậy sớm, mà trong ngạn ngữ phương Tây đặt tên là những kẻ biết dậy sớm, dậy sớm trước người khác, biết luôn cả dậy sớm trước ngày, trước cả bình minh. Tri thức cần lao thức khuya dậy sớm làm nên đạo lý cần cù của một nắng hai sương, đây là hai chỉ báo dụng nhân tri để nhận ra nhân cách làm nên nhân phẩm ngay trong cần lao, khác hẳn với loài ngồi mát ăn bát vàng, khôn lanh kiểu chờ sung rụng là khôn ngoa của nhớt thây dày cốt, chúng lúc nhúc trong ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau. Khôn lanhkhôn ngoa không hề là khôn ngoan của công bằng trong lao động làm nên công lý trong thành quả lao động ; khôn lanhkhôn ngoa chọn bạo quyền lãnh đạo để gian trá trong tà quyền của tham quan, lấy tham nhũng và tham ô để cùng tham tiền với bọn ma quyền của "sân sau", của "chống lưng", của "ô dù"…

Ngược lại, khôn ngoan luôn đứng về phía ánh sáng của có làm mới có ăn, song hành với sự thật của muốn ăn thì lăn vô bếp, để không phải rơi vào nhục kiếp miệng đói đầu gối phải bò. Định lý của khôn ngoan trợ duyên cho công lý trong lao động quang minh chính đại trong hành tác lao động danh chính ngôn thuận ngay trong lao tác nghề nghiệp ; nó ngược lại với bọn ăn vụng, ăn lén, ăn chui, ăn quỵt, ăn giựt… của khôn lanhkhôn ngoa đứng về phía bóng tối của âm binh, tà kiếp trong ma lộ của ăn không ngồi rồi, chúng là ký sinh trùng mượn bóng tối để bòn rút máu, xương, tủy của đồng bào, đồng loại.

Khi ta nhận ra được sự đối kháng toàn diện giữa sáng tạo trong lao động ngược với liên minh âm binh của quan hệ-tiền tệ-hậu duệ, là chúng ta đã nhận ra được liên minh của bạo quyền-tà quyền-ma quyền đã, đang, sẽ tiếp tục diệt trí tuệ. Giết trí tuệ trong lao động là giết được tuệ giác của đạo lý cần lao. Đây là thảm họa của lao động Việt hiện nay nơi mà trí tuệ lao động có hệ chuyên (chuyên khoa, chuyên nghành, chuyên môn, chuyên nghiệp), luôn song hành cùng hệ tự (tự do, tự trọng, tự chủ, tự tin) đã bị thiêu hủy ngay thượng nguồn bởi lao động giả (học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả) để tuệ giác cần lao bị thiêu rụi ngay hạ nguồn bởi mua bằng bán cấp trong mua chức bán quyền.

Nên chủ đề nhận thức về cần lao luôn ngược lý, ngược luận, ngược chiều với mọi độc tài toàn trị để độc trị, trong thảm trạng lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam : độc tài nhưng bất tài, độc trị nhưng không biết quản trị lao động. Tại đây, chúng ta dùng những chỉ báo của luật lao động biết bảo vệ người lao động từ huấn nghiệp tới hưu trí… của luật xã hội với bảo hiểm xã hội như là trình độ của văn minh dân chủ, của văn hiến nhân quyền, với quy chế lao động nhân đạo, với công lý lao động. Từ đây ta sẽ nhận ra bản chất của chế độ độc đảng hiện nay tại Việt Nam, độc tài nhưng bất tài, độc trị nhưng không biết quản trị để hiểu sâu bằng biểu tượng : một trời một vực, nơi mà mức độ làm nên trình độ, nơi mà láng giềng gần xa của Việt Nam đang ở giữa trời, thì Việt tộc hiện nay đang nằm dưới vực !

Lê Hữu Khóa

(11/05/2020)

---------------------


lhk0 Lê Hữu Khóa

Giáo sư Đại học Lille

Giám đốc Anthropol-Asie

Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á

Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCOLiên Hiệp Quốc

Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa Paris

Thành viên hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Đông Nam Á

Hội viên danh dự ban Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới.

Các công trình nghiên cứu việt nam học của giáo sư Lê Hữu Khóa, bạn đọc có thể đọc và tải qua Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-trang thầy Khóa.

Published in Tư liệu

Từ ý thức an sinh xã hội tới nhận thức chính quyền xã hội

Khi nghiên cứu về các vấn đề xã hội của Việt Nam hiện nay, thì ta thấy chính quyền độc đảng đang ít nhất thiếu hai kiến thức : thứ nhất là về đời sống xã hội, thứ nhì là về luật xã hội để bảo đảm sự ốn định về đời sống xã hội. Sự thiếu vắng kiến thức đôi này tới từ sự thiếu kiến thức đôi về :

h Các sinh hoạt xã hội làm nên quan hệ xã hội, cả hai là nội dung để hiểu đời sống xã hội.

h Các luật xã hội làm nên từ chính sách xã hội, chính là nội dung để làm ra các luật lệ về bảo hiểm xã hội.

xahoi1

Thiếu kiến thức về đời sống xã hội, về luật xã hội… là một trong những thảm bại sâu đậm của Đảng cộng sản Việt Nam từ khi cướp được chính quyền. Địa điểm ATM tư nhân phát gạo miễn phí cho người nghèo giữa đại dịch Covid-19, tháng 4/2020 

Nơi đây hội tụ hai chuyên ngành : xã hội học lao độngluật học xã hội, hoàn toàn thiếu vắng trong kiến thức của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam, nơi mà não trạng của họ chính là thượng nguồn của các chính sách xã hội của một độc đảng nắm quyền, độc tài nhưng bất tài, có thể trở thành bất nhân nếu chính quyền này không bảo đảm được : công bằng xã hội. Thiếu kiến thức về đời sống xã hội, về luật xã hội lại thiếu kiến thức chuyên môn về xã hội học lao độngluật học xã hội, lại mang ý đồ toàn trị trùm phủ lên cả xã hội nhưng không có ý thức đầy đủ về tổ chức một xã hội văn minh, chính đây là một trong những thảm bại sâu đậm của Đảng cộng sản Việt Nam từ khi cướp được chính quyền.

Bộ ba : bảo hiểm xã hội-dịch vụ công cộng-luật xã hội

Từ thiếu vắng kiến thức về xã hội tới trống vắng kiến thức về chuyên môn, các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam tiếp thu rất chậm chạp các quy luật về tự do cạnh tranh trong kinh tế thị trường của các quốc gia có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền vì họ có truyền thống văn hóa về luật pháp xã hội. Các quốc gia này có đầy đủ luật để khử ba loại tư bản man rợ đang làm tan nát mọi khả năng đi về phía tiến bộ của xã hội Việt hiện nay, đó là : tư bản gia đình, tư bản thân hữu, tư bản tham nhũng. Từ trống vắng kiến thức về chuyên môn tới hoang vắng ý thức về tiến bộ xã hội nên Đảng cộng sản Việt Nam đủ kiến thức để bất chấp về ba quy luật xã hội đảm bảo sự vận hành bình thường của một xã hội văn minh từ hai thế kỷ qua :

h Bảo hiểm xã hội (sécurité sociale), đã được sáng tạo và lưu hành tại Anh quốc.

h Dịch vụ công cộng (service public), đã được sáng lập và thịnh hành tại Pháp quốc.

h Luật xã hội (droit social), đã được hình thành và luật hóa tại Đức quốc.

Cả ba (bảo hiểm xã hội, dịch vụ công cộng, luật xã hội) mang đặc điểm của mỗi quốc gia, nhưng cả ba biết bổ sung cho nhau từ hợp tác quốc tế tới tự do cạnh tranh, luật pháp luôn có mặt để bảo vệ công bằng qua công lý bằng công pháp. Cả ba hiện nay đã được vận dụng và trở nên phổ quát trong các quốc gia văn minh biết lấy ưu tiên xã hội làm kim chỉ nam cho mọi hành tác lao động và kinh tế. Chính liên minh giữa công bằng-công lý-công pháp là khuyết điểm đã làm nên khuyết tật không sao chữa được của các thể chế toàn trị độc đảng. Thất bại đã làm nên thảm bại của nó, vì không nó đủ kiến thức để nhận ra là quản lý công bằng-công lý-công pháp chính là tiền đề mà cũng là động cơ để làm nên liên minh thịnh vượng-tiến bộ-văn minh.

Xã hội học lao độngluật học xã hội yêu cầu các chuyên gia khi đánh giá về giá trị các chính sách xã hội thì phải đưa ra những nhận định kèm theo những phân tích về tình hình xã hội, mà tình hình xã hội thì không bao giờ tuyệt đối khách quan, vì nó luôn bị chính quyền, nhất là chính quyền của hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn) chi phối, thao túng, giật dây. Vậy thực chất của tình hình xã hội Việt Nam hiện nay, bị tác động, bị phân hóa rồi bị hủ hóa bằng ba độc tố gây nên mọi độc hại trong đời sống xã hội, sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội :

h Độc đảng có độc quyền bằng công an trị.

h Độc tài có độc trị bằng tham nhũng trị.

h Độc tôn chỉ có độc lộ của tham tiền trị.

xahoi2

Tỷ lệ trẻ em thuộc các dân tộc thiểu số suy dinh dưỡng vẫn còn ở mức cao

Hệ đôi : độctham

Ba ngữ pháp : công an trị, tham nhũng trị, tham tiền trị làm lộ ra một liên minh đã sinh sản ra hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền) được vận hành, được hành tác dựa trên hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn) ; cả hai làm ra ung thư hệ đôi độctham, bắt buộc :

h Cá thể phải có phản xạ mãi lộ để hối lộ công quyền.

h Cá nhân phải có phản ứng tham nhũng để được tham quan mở cửa.

h Công dân không thể phản biện trước tham ô vừa nắm quyền, vừa lách luật.

Nếu cả ba : bảo hiểm xã hội, dịch vụ công cộng, luật xã hội là tiến bộ trong văn minh, thì hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn) trong độc đoán và hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền) trong độc hại sẽ truy diệt mọi tiến bộ trong văn minh làm nên an sinh xã hội.

Trong phân tích về quyền lực, thì xã hội học chính trịchính trị học quyền lực đều công nhận là một chính quyền luôn mang ba nội chất : tham quyền, lạm quyềnlộng quyền trong các chế độ độc tài quân chủ hay độc tài quân phiệt. Chúng ta càng thấy rõ hơn chân tướng của tham quyền-lạm quyền-lộng quyền trong chế độ độc đảng toàn trị tại Việt Nam hiện nay. Chính ba thực thể : bảo hiểm xã hội, dịch vụ công cộng, luật xã hội gây dựng lên uy tín của một chính quyền, tạo nên tính chính danh của chính quyền, thì uy tín lẫn chính danh đều không hề có trong chế độ độc đảng toàn trị tại Việt Nam hiện nay. Nơi đây hệ bất (bất tín, bất lương bất tài, bất nhân) của Đảng cộng sản Việt Nam, đã ra đời và sinh đôi với hệ gian (gian dối, gian trá, gian xảo, gian manh) mà người dân Việt đã thấy từ cái bất nhân của nó, từ Cải cách ruộng đất tới cái gian xảo che giấu mật nghị Thành Đô, nhận Tàu tặc làm cha đỡ đầu để cứu vãn Đảng cộng sản Việt Nam sau khi chủ nghĩa cộng sản đã thực sự bị khai tử tại Đông Âu từ 1990.

Trong bối cảnh của toàn cầu hóa hiện nay, chính bộ ba : bảo hiểm xã hội, dịch vụ công cộng, luật xã hội sẽ là gốc, rễ, cội, nguồn của mọi chính sách xã hội của mọi chính quyền trước tự do cạnh tranh, trước tự do thương mại, trước tự do đầu tư, sản suất, tiêu thụ… Chính bộ ba này cũng là nền, là móng, để xây tường, xây mái cho ngôi nhà vững chắc của một đất nước. Chính cũng bộ ba này sẽ là nền vững, móng chắc để xây rộng thêm, để xây cao hơn để ngôi nhà xã hội mới vừa được cao rộng, vừa được bền vững. Lý luận này hiện nay đang ở ngoài tầm hệ thức (ý thức, kiến thức, tri thức, trí thức, nhận thức, tỉnh thức) của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay.

Khi ý thức hệ cộng sản thành độc sản để phục vụ độc đảng, thì bộ ba bảo hiểm xã hội, dịch vụ công cộng, luật xã hội không hề là ưu tiên hàng đầu của các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Tệ hại hơn nữa là ngày nay Đảng cộng sản Việt Nam đã trở thành một lực lượng tội phạm độc-tài-để-độc-tà. Nếu chúng ta không ngừng lại ngay nguyên nhân và hậu quả của h độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn) đã diệt hệ thức (ý thức, kiến thức, tri thức, trí thức, nhận thức, tỉnh thức) như thế nào, thì chúng ta sẽ không giải thích được tại sao xã hội Việt Nam không có luật lao động, song hành cùng sự vắng mặt của các công đoàn độc lập. Tại sao không có luật xã hội song lứa cùng sự trống vắng các phong trào xã hội dân sự. Nơi mà luật lao động, luật xã hội luôn đồng hội đồng thuyền với công đoàn độc lập, với xã hội dân sự ; mà đây lại là cốt lõi của hiệp ước giữa Liên Hiệp Châu Âu và chính quyền độc đảng toàn trị của Việt Nam ngày 12/2/2020. Tương lai sống còn của hiệp ước này cùng phải dựa vào bộ ba : bảo hiểm xã hội, dịch vụ công cộng, luật xã hội để hình thành ra bộ tứ : luật lao động, luật xã hội, công đoàn độc lập, xã hội dân sự. Ngay trong thời điểm này, 2020, các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam chỉ thấy lợi nhuận xuất khẩu các mặt hàng nông phẩm, hải sản, thủ công… là số lợi phận lời để họ trả nợ công chồng chất tới chóng mặt, để duy trì thêm tà quyền trong độc đảng của họ, mà họ quên khuấy đi (hoặc là họ không biết) các bộ phận pháp lý khác của Liên Hiệp Châu Âu. Trong đó có một cơ quan tối cao chính là Tòa án tối cao Châu Âu, và chính quyền độc đảng của Việt Nam hiện nay, nên và phải nghiên cứu uy quyền của Tòa án tối cao Châu Âu này. Nơi đây là biểu hiện lương tâm của nhân quyền chống cưỡng bức lao động, chống bóc lột lao động thiếu nhi… vì công đoàn độc lập để từ đó bảo đảm bảo hiểm xã hội, dịch vụ công cộng, luật xã hội với chính nghĩa vì an sinh xã hội.

xahoi3

Tòa án Công lý Châu Âu cũng là Tòa án Tối cao của Liên Liên Hiệp Châu Âu về các vấn đề luật pháp của Liên Hiệp

An sinh xã hội

Không có kiến thức xã hội sẽ không thể hiện được ý thức xã hội. Chính bộ ba bảo hiểm xã hội, dịch vụ công cộng, luật xã hội là tiền đề và là gốc rễ của mọi quan niệm và tri thức về an sinh xã hội. Không có an sinh xã hội thì sẽ không có nền móng để xây dựng một xã hội văn minh, một thể chế vì nhân quyền, nhân dân Việt thấy rất rõ là chính quyền độc tài nhưng hoàn toàn bất tài trong quản lý nạn đại dịch coronavirus đầu năm 2020.

Khi chính quyền Trung Quốc đã phong tỏa rồi cách ly Vũ Hán ngay trước Tết âm lịch tức 25 tháng 1 dương lịch, thì chính quyền của Đảng cộng sản Việt Nam hoàn toàn bị động, không dám đóng cửa như các nước láng giềng với Trung Quốc, mà cũng không có chính sách minh bạch phòng chống đại dịch này. Không những làm tăng số người bị lây của đại dịch này, mà hậu quả là ngày 12 tháng 2 năm 2020 một số quốc gia văn minh đã bắt đầu ngăn dân của họ tới Việt Nam, trong đó có Châu Âu mà cả Hàn Quốc.

Không có nhận thức an sinh xã hội chỉ vì không được giáo dục bằng giáo lý tập thể, bằng đạo lý cộng đồng của tổ tiên Việt có nền là tương thân tương trợ trong nhân lý nhìn xa trông rộng của ăn ở có hậu trong đối nhân xử thế. Đây chính là luân lý xã hội làm nền cho tổ chức xã hội, trợ lực cho bảo hiểm xã hội, dịch vụ công cộng, luật xã hội có chỗ đứng trung tâm trong các cơ chế xã hội văn minh. Nhưng chính h độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn) khi mở cửa cho hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền) thì :

h sinh hoạt xã hội bị "bôi trơn hóa" ;

h quan hệ xã hội bị "sân sau hóa" ;

h đời sống xã hội bị "chống lưng hóa".

Đây là thực tế xã hội hằng ngày bị thống trị bởi liên minh bạo quyền độc đảng công an trị-tà quyền tham quan trị-ma quyền tham tiền trị. Chính liên minh này đã tha hóa mọi chính sách, mọi tiến bộ tới từ an sinh xã hội, mọi văn minh tới từ bảo hiểm xã hội, dịch vụ công cộng, luật xã hội. Độc trị mà không biết quản trị chỉ là hiện thân của độc tài nhưng bất tài, đã lạc vào quỷ lộ của bất nhân thất đức, ngày ngày trôi dạt xa bờ văn minh của dân chủ, xa bến văn hiến của nhân quyền.

Xã hội dân sự

Xã hội dân sự, có hùng lực của dân chủ để bảo hành bộ ba bảo hiểm xã hội-dịch vụ công cộng-luật xã hội, có sung lực của nhân quyền để trợ lực cho an sinh xã hội, đó là định nghĩa của xã hội dân sự, bằng định chế của công bằng làm nên các cơ chế của công lý. Còn có cả định đề làm nên định luận của xã hội dân sự là công dân thực sự là chủ thể trong chính tư tưởng của họ để có chủ quyết khi bỏ phiếu cho các chính sách xã hội được đại diện bởi các đảng phái, các công đoàn, các hội đoàn, để chủ động qua đa nguyên chính là nơi hẹn của đa trí, đa tài, đa dũng, đa năng, đa hiệu… Hệ chủ (chủ thể, chủ quyết, chủ động) dựa trên tự do biết song hành cùng công bằng để chế tác bác ái chính là nội công làm nên bản lĩnh của xã hội dân sự.

Xã hội dân sự được vận hành và được củng cố bằng chính các thử thách trong khủng hoảng kinh tế, bằng chính các thăng trầm trong lạm phát tài chính, trong đó thiên tai và nhân tai đều được phân tích và giải quyết bằng công pháp dựa trên công lý. Cụ thể là :

h Bảo hiểm xã hội sẽ được bảo hiểm bởi chính quyền và chính phủ khi gặp các biến cố bất thường xảy ra ngay trong đời sống xã hội.

h Dịch vụ công cộng được bảo đảm ở mức nhất định trước các sự cố dị thường đang xảy ra ngay trong sinh hoạt xã hội.

h Luật xã hội được bảo hành trong quan hệ xã hội và được tuân thủ như là hằng số của luật pháp.

Vì vậy, khi Đảng cộng sản Việt Nam độc đảng trong độc quyền, độc trị trong độc tôn, luôn tìm cách hủy hại để huy diệt xã hội dân sự, mà cụ thể là tha hóa bộ ba : bảo hiểm xã hội-dịch vụ công cộng-luật xã hội để duy trì chế độ độc đảng toàn trị mà tha hồ vận dụng trong lạm phát rồi phạm pháp bằng tham quyền-lạm quyền-lộng quyền. Chính đây là thất bại xã hội không chối cãi được của Đảng cộng sản Việt Nam đã không có kiến thức lẫn nhận thức về :

h giá trị của bảo hiểm xã hội,

h đạo lý của dịch vụ công cộng,

h công pháp của luật xã hội.

Chính trên những giá trị, đạo lý, công pháp này đã làm nên văn minh của dân chủ và văn hiến của nhân quyền, tại đây mọi chính sách xã hội tới từ một độc đảng trong độc quyền cai trị mà không có lá phiếu của dân chủ, không có sự đồng thuận với dân tộc trên nền của nhân quyền đều mang lỗi bất tín, và một sớm một chiều trở thành bất nhân nếu nó không tận tâm phục vụ cho bảo hiểm xã hội, dịch vụ công cộng, luật xã hội tức là cho sự thăng hoa của an sinh xã hội.

x-default

Bảo hiểm xã hội, dịch vụ công cộng, luật xã hội tức là cho sự thăng hoa của an sinh xã hội.

Hằng số nhân phẩm

Khi giá trị của bảo hiểm xã hội, đạo lý của dịch vụ công cộng, công pháp của luật xã hội, có chỗ dựa là văn minh của dân chủ và văn hiến của nhân quyền, thì :

h Định chế xã hội không do chính quyền độc đảng quyết định mà do dân tộc quyết định trên định đề nhân phẩm của dân tộc đó.

h Cơ chế xã hội không do chính phủ độc tôn áp đặt mà do dân tộc đề ra qua tự do đầu phiếu trên định luận nhân lý của dân tộc đó.

h Hành chính quản lý xã hội không do bộ máy độc trị của Đảng cộng sản Việt Nam đề ra mà do dân tộc quyết đoán dựa trên bằng quyết luận nhân nghĩa của dân tộc đó.

Đừng xem giá trị của bảo hiểm xã hội, đạo lý của dịch vụ công cộng, công pháp của luật xã hội, bằng xảo luận bất tài kiểu nắng sớm chiều mưa, bằng gian lận bất tín kiểu vật đổi sao dời, mà phải phân tích bộ ba này (bảo hiểm xã hội, dịch vụ công cộng, luật xã hội) như là hằng số của định chế, hằng sản của cơ chế, hàng tâm của hành chính. Đây chính là định nghĩa văn minh của an sinh xã hội, đây chính là định nghĩa thông minh của xã hội dân sự. Chỉ có văn minh của dân chủ và văn hiến của nhân quyền biết dựa trên hệ đa, nơi mà đa nguyên đã tạo nên lực hội tụ của đa trí, đa tài, đa dũng, đa năng, đa hiệu… để :

h bảo hiểm xã hội luôn cao hơn định chế xã hội,

h dịch vụ công cộng luôn rộng hơn cơ chế xã hội,

h luật xã hội luôn sâu hơn hành chính quản lý xã hội.

bảo hiểm xã hội không chỉ là một khung luật lệ mà còn là một không gian công cộng để đối luận được đối thoại trong dân chủ. Vì dịch vụ công cộng có liên minh của nhân tính điều hành nhân lý luôn được trợ lực bởi chỉnh lý của khoa học, bởi toàn lý của lợi ích tập thể bảo đảm. Vì luật xã hội mang nhân đạonhân vị làm nên nhân phẩm có sức mạnh tổng hợp tới từ luật lao độngluật công đoàn. Khi độc đảng dùng độc quyền để vùi dập luật xã hội bằng chính sách ngu dân, để vùi diệt luật lao động bằng tà sách tuyên truyền, và để truy diệt luật công đoàn bằng ma luật mưu hèn kế bẩn, thì chính độc đảng đang tự bất chính không những trước tiến bộ mà cả trước định nghĩa về nhân phẩm, một ngữ pháp luôn vắng mặt trong các văn bản của Đảng cộng sản Việt Nam.

Nhân phẩm vắng mặt thì nhân vănnhân bản cũng trống vắng theo, vì độc đảng để độc trị luôn luồn lách ít nhất các loại chính quyền liêm chính :

h chính quyền bằng hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri)

h chính quyền bằng hệ công (công bằng, công lý, công pháp)

h chính quyền bằng hệ thức (ý thức, kiến thức, tri thức, trí thức, nhận thức)

h chính quyền bằng hệ tự (tự do, tự trọng, tự chủ, tự tin)

h chính quyền bằng hệ luận (lý luận, lập luận giải luận, diễn luận)

h chính quyền bằng hệ sáng (sáng kiến, sáng chế, sáng lập, sáng tạo)

h chính quyền bằng hệ chuyên (chuyên cần, chuyên môn, chuyên nghiệp)

Tất cả các hệ này đều phải dựa trên hệ đa, nơi mà đa nguyên chính là tụ điểm của đa trí, đa tài, đa dũng, đa năng, đa hiệu…

xahoi5

Văn minh của dân chủ và văn hiến của nhân quyền trong quá trình toàn lý để bảo vệ nhân phẩm trong nhân sinh đã cho xuất hiện chính quyền xã hội là một hình thái cao hơn và đi xa hơn

Chính quyền xã hội

Văn minh của dân chủ và văn hiến của nhân quyền trong quá trình toàn lý để bảo vệ nhân phẩm trong nhân sinh đã cho xuất hiện chính quyền xã hội là một hình thái cao hơn và đi xa hơn :

h chính quyền dân chủ chính trị dựa trên đầu phiếu có ứng cử và bầu cử,

h chính quyền dân chủ pháp trị dựa trên công lý vì thương tôn pháp luật,

h chính quyền dân chủ đối lập trong nghị trường và ngoài xã hội.

Chính quyền xã hội có :

h thế chân kiềng của bộ ba bảo hiểm xã hội-dịch vụ công cộng-luật xã hội.

h lý của an sinh xã hội làm khung cho mọi chính sách xã hội.

h lực của xã hội dân sự chủ động trong đấu tranh vì công bằng.

Thế, lý, lực của chính quyền xã hội không dính dáng gì với :

h chính quyền xã hội chủ nghĩa rỗng luật xã hội,

h chính quyền độc đảng trống an sinh xã hội,

h chính quyền cộng sản vắng xã hội dân sự.

639839480

Mỗi lần nhân loại có luật xã hội được chế tác từ tương trợ xã hội dựa vào đoàn kết xã hội, là văn minh sẽ xuất hiện với dịch vụ công cộng trong sinh hoạt xã hội

Chính quyền xã hội không chỉ là công cụ phục vụ các nhu cầu xã hội, mà nó chính là câu hỏi cần có câu trả lời thỏa đáng cho tất cả các chính quyền muốn đưa dân tộc và đất nước đi về hướng văn minh của công bằng và văn hiến của bác ái. Về mặt lịch sử chính quyền xã hội đã có mặt ngay từ thế kỷ thứ XIX khi nó giải quyết điều kiện lao động phải nhân đạo để chống lại bóc lộc lao động, và nó phát triển không ngừng nghỉ cả thế kỷ XX tại phương Tây với các luật xã hội về bảo hiểm lao động, bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm thất nghiệp cho tới luật xã hội được nghỉ lễ và nghỉ hè mà lương bổng vẫn được bảo đảm. Tại đây phải lấy ra một định nghĩa thật văn minh của chính quyền xã hội là chính quyền ra đời để phục vụ lợi ích xã hội bằng an sinh xã hội, luôn vận dụng luật xã hội để thăng trưởng rồi thăng hoa tương trợ xã hội bằng chính đoàn kết xã hội.

Mỗi lần nhân loại có luật xã hội được chế tác từ tương trợ xã hội dựa vào đoàn kết xã hội, là văn minh sẽ xuất hiện với dịch vụ công cộng trong sinh hoạt xã hội, nơi mà đời sống xã hội có bảo hiểm xã hội trong mọi dịch vụ về y tế, có giáo dục miễn phí từ tiểu học lên đại học. Chính sự thảm bại của Đảng cộng sản Việt Nam về y tế với bệnh viện quá tải, người bệnh phải điều trị trong điều kiện của một trại súc vật. Thảm bại thứ hai của Đảng cộng sản Việt Nam mang hậu quả đã thành hậu nạn cho nhiều thế hệ, đó là một nền giáo dục không miễn phí và ngày càng đắt đỏ như một gánh nặng ngộp thở cho mọi gia đình có con em luôn phải trả giá cao học phí, bi đát nhất là nó song hành cùng một hệ thống giáo dục gian lận tạo ra học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả để mua chức bán quyền. Kết luận phải có là dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, với chính quyền độc đảng thì chính quyền này là loại chính quyền phản tượng trợ xã hội, phản đoàn kết xã hội, nên nó phản lại mọi định nghĩa liêm chính của một chính quyền xã hội.

Vì tất cả chính quyền loại độc tài này chỉ biến cộng-sản-thành-độc-sản-cho-độc-đảng, không hề có tư tưởng lý luận nên không hề có một sáng tạo gì về năm thực thể : bảo hiểm xã hội, dịch vụ công cộng, luật xã hội, an sinh xã hội, xã hội dân sự. Trên lãnh vực này, thì các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam có những tuyên bố liều nói lên thực chất ngu của họ, cái tục ngôn đến từ cái vô minh trước các tiến bộ của nhân loại vì nhân quyền. Thí dụ thì quá nhiều về chuyện nói liều vì vô tri ; thí dụ như Lê Duẩn : "chúng ta làm cách mạng thì không cần luật học", lợm giọng nhất vẫn là kiểu nói liều của Chủ tịch nước kiêm Tổng bí thư hiện nay Nguyễn Phú Trọng : "chưa bao giờ đất nước ta được như ngày hôm nay" ; "chưa có đảng nào trên thế giới được nhân dân tin tưởng như Đảng cộng sản Việt Nam" ; "chưa bao giờ nhân dân ta được hạnh phúc bên Đảng cộng sản Việt Nam như ngày hôm nay"… Nói liều ung thư hệ đôi tuyên bố loạn, chính là thảm bại ngay trong thượng nguồn não trạng của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam mà cũng là thảm nạn của Việt tộc đã trao thân gởi phận cho một lực lượng kiêu căng trong vô tri, tự kiêu trong vô minh, đang ngày ngày ngăn chặn mọi tiến bộ xã hội mà các dân tộc khác đã được hưởng từ lâu. Trong quá trình hình thành của mình, chính quyền xã hội mang nội chất văn minh ngay trong lý luận và lập luận của nó :

h Con người không phải là thú vật để chịu những sức ép của nguồn máy sản suất xem con người như công cụ để làm ra sản phẩm.

h Con người từ chối vào nguồn máy sản xuất có tính toán như một loại đồng hồ khổng lồ với giờ giấc áp đặt năng xuất, với hiệu xuất hằng giờ, hằng ngày…

h Con người là chủ thể lao động với chuyên môn của mình được sự hỗ trợ của tượng trợ xã hội, của đoàn kết xã hội.

Trong quá trình trưởng thành của mình, chính quyền xã hội đã vận hành để luật hóa bằng cách nhân đạo hóa quá trình lao động của con người :

h Con người không còn cúi đầu tuân lệnh từ trên xuống, từ nguồn máy, từ chủ nhân, mà con người lao động bằng chuyên môn với kinh nghiệm làm người của mình được chính quyền, đảng phái, công đoàn đồng ý vì đồng lòng trên cùng một thỏa thuận, chính là thượng nguồn của mọi luật xã hội.

h Con người không còn cúi đầu tức là con người không phục dịch một cách vô điều kiện các ý muốn hoặc các ý đồ của kẻ nắm tư liệu sản suất, mà con người trong lao động có khả năng của năng khiếu và của tài năng của mình để có cùng một mục đích giữa kẻ làm chủ và người làm công.

h Con người lao động với khả năng, với năng khiếu, với tài năng của mình thì con người lao động này sẽ có kinh nghiệm trong không gian và thời gian lao động để xem lại các mục đích lao động bằng kinh nghiệm lao động của mình, từ đó xét lại các chỉ tiêu của lao động do tập thể đề ra.

Trong quá trình vận hành của mình, chính quyền xã hội không tự thần tượng hóa các thành tựu của nó trong bảo hiểm xã hội, trong dịch vụ công cộng, trong luật xã hội ; vì nó biết rất rõ là suy thoái kinh tế, khủng hỏang chính trị, tai họa chiến tranh hoặc thiên tai có thể xóa đi hoặc đổi đi các thành tựu này. Nhưng chính quyền xã hội có một nền tảng vững bền tự nhân lý tới nhân đạo, giúp cho nó trụ chắc vào nhân sinh, bắm chắc vào nhân quyền, đó là trải nghiệm về công bằng xã hội làm nên tri thức về công lý xã hội. Từ đây, chính quyền xã hội khi có định hướng về công bằng xã hội, sẽ có chính nghĩa qua công lý xã hội. Hãy trở về câu chuyện của xã hội Việt Nam hiện nay dưới độc quyền lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam với nhận định : mọi chuyện trong nhân sinh đều có cái giá của nó, mọi cái giá đều mang theo sự mất mát hoặc hy sinh của nó. Nhưng nếu bỏ một này để được một kia thì vẫn còn công bằng, và mất một độc đảng mà được đa đảng thì công lý còn đó, mà thắng lợi cũng đoán được. Ngược hẳn với sự mất mát một tiến bộ, một văn minh của một Việt tộc bị thí đi vì một độc đảng độc tài nhưng lại bất tài, ngược hẳn với sự hy sinh một dân tộc, một giống nòi vì một độc đảng độc trị mà không biết quản trị một đất nước thì cái mất mát này, cái hy sinh này quá lớn ! Quá bất công ! Vừa vô nhân lý vừa phản công lý, nên nó không thể chấp nhận được.

Lê Hữu Khóa

(10/05/2020)

---------------------


lhk0 Lê Hữu Khóa

Giáo sư Đại học Lille

Giám đốc Anthropol-Asie

Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á

Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCOLiên Hiệp Quốc

Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa Paris

Thành viên hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Đông Nam Á

Hội viên danh dự ban Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới.

Các công trình nghiên cứu việt nam học của giáo sư Lê Hữu Khóa, bạn đọc có thể đọc và tải qua Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-trang thầy Khóa.

Published in Tư liệu

Từ ý thức nhân quyền tới nhận thức đa nguyên

Dân chủ là một thể chế mà kẻ được trao quyền lực để thực hiện tam quyền phân lập thay thế nhân dân bầu ra mình trong nghị trường để bảo đảm các định đề của cộng hòa : tự do, công bằng, bác ái trên nền nhân quyền với ba hợp đồng ứng cử-bầu cử-thắng cử có thời hạn dưới sự kiểm tra của dân làm chủ.

demo1

Dân chủ là một thể chế mà kẻ được trao quyền lực để thực hiện tam quyền phân lập thay thế nhân dân bầu ra mình trong nghị trường để bảo đảm các định đề của cộng hòa - Ảnh minh họa Hạ viện Pháp

Trong chính sinh hoạt quyền lực, dân chủ tiếp thu sinh hoạt xã hội từ sản xuất tới tiêu thụ cùng lúc có năng lực hội nhập vào kinh tế thị trường, nếu kinh tế có đa năngđa hiệu về hàng hóa và trao đổi, thì quyền lực dân chủ cũng có đa tàiđa trí về tổ chức các sinh hoạt kinh tế và xã hội.

Ngay trong lý luận và thực hành, dân chủ dựa trên đa nguyên và không ngừng ở không gian giới hạn được khoanh vùng là đa đảng, mà đa nguyên chính là khả năng thích ứng, có từ đa lực sinh động của dân chủ trong đó vai trò của liên minh của các đảng phái với các công đoàn chỉ là một động lực, còn một động lực khác sâu rộng hơn đó là : xã hội dân sự.

Dân chủ : chia sẻ để tái tạo

Sinh hoạt dân chủ là sinh hoạt hội trường trước khi là sinh hoạt nghị trường, trong hội trường của một tập thể, một cộng đồng, một quốc gia, giờ đã tới phạm vi của các châu lục tiến bộ, của toàn cầu hóa văn minh nơi mà con người có thể hội thoại đựơc qua hội đàm, hội luận, hội nghị, hội thảo… Hội thoại chính là sự thông minh của đối thoại trong sinh hoạt dân chủ, có đối diện và có đối đáp vì có đối luận, nhưng không nhất thiết phải trở thành đối phương, không cần thiết phải là đối thủ, nên sinh hoạt dân chủ là sinh hoạt cẩn trọng để không biến đối phương, đối thủ thành kẻ thù, rồi thành tử thù.

demo2

Sinh hoạt dân chủ là sinh hoạt hội trường trước khi là sinh hoạt nghị trường - Ảnh minh họa Ủy ban Quốc hội Québec thảo luận về chính sách di dân

Trong độc đảng làm nên độc tài như tình hình của Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay thì sự có mặt thường xuyên của thanh trừng để thanh toán nhau, để nắm độc quyền trên độc lộ để độc trị, nên nó chính là bộ máy sản xuất ra kẻ thù và luôn tái sản xuất quy luật tử thù. Hệ lụy của thanh trừng-thanh toán luôn có trong nội chất bất nhân thất đức của nó, vì nó bất chấp đạo lý tổ tiên Việt là phải ăn ở có hậu, tức là phải lấy nhân tâm để điều chế nhân tính, phải lấy nhân từ để điều khiển nhân lý, để nhân nghĩa mở cửa mà chỉ đường cho nhân đạo.

Dân chủ thì ngược lại, đó là khả năng chia sẻ nhân tâm nhân từ để tái tạo nhân nghĩanhân đạo. Chia sẻ nhân tâm nhân từ để tái tạo nhân nghĩanhân đạo, phải tuân theo ít nhất ba định đề của nhân sinh làm nên từ nhân trinhân trí :

h vai trò của luân lý biết tôn trọng nhau để bảo vệ công ích ;

h chức năng của kinh tế biết tổ chức sản suất để bảo đảm công bằng ;

h vị trí của lao động biết bảo vệ thành quả lao động bằng công minh.

Ba định đề này sẽ là tiền đề để phân định : "sân chơi", "trò chơi", "luật chơi" của dân chủ trên nền tảng của ba định luận về : công ích, công bằng, công minh. Chính các định đề, tiền đề, định luận này phải được xây dựng trên các quy luật được khách quan hóa trong sinh hoạt của dân chủ :

h tính vô vụ lợi của luật pháp, trong đó có luật lao động và luật xã hội ;

h tính toán khách quan dựa trên khoa học, giúp xã hội có thước đo chính xác ;

h tính đồng nhất của ngôn ngữ để thống nhất ngữ vựng, ngữ văn, ngữ pháp.

Chính luân lý công ích, kinh tế công bằng, lao động công minh được trợ lực bằng luật pháp, khoa học trong ngôn ngữ thống nhất đã kiểm tra được ba hệ chủ yếu bảo đảm tính bền vững của một quốc gia, tính tiến bộ của một dân tộc :

h hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri) trong đời sống xã hội ;

h hệ liêm (liêm khiết, liêm chính, liêm sỉ) trong quan hệ xã hội ;

h hệ sáng (sáng kiến, sáng lập, sáng tạo) trong sinh hoạt xã hội.

Khi nhận ra bộ ba : đời sống xã hội, quan hệ xã hội, sinh hoạt xã hội thì ta phải nhận ra :

h tổ chức lao động trong đời sống xã hội ;

h phân công lao động trong quan hệ xã hội ;

h hiệu quả lao động trong sinh hoạt xã hội.

Phân tích này không hề trừu tượng, giải thích này không lý thuyết, nó cụ thể trong lịch sử cận đại của văn minh dân chủ, của văn hiến nhân quyền của Tây Âu và Bắc Mỹ. Phân tích này không hề mơ hồ, giải thích này không viễn vông, nó hiện hiện trong lịch sử hiện đại của văn minh dân chủ, của văn hiến nhân quyền của các láng giềng của Việt Nam : Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapour. Chính luân lý công ích, kinh tế công bằng, lao động công minh được trợ lực bằng luật pháp, khoa học, kỹ thuật chính là tiền đề của tiến bộ làm nên từ văn minh dân chủ, văn hiến nhân quyền, mà tiền đề này đang bị thiêu rụi ngay trên thượng nguồn trong hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn) đã sinh sản ra :

  • hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng) ;
  • hệ bất (bất tài, bất lực, bất tín, bất lương) ;
  • hệ gian (gian dối, gian trá, gian xảo, gian manh).

Giữa dân chủ với độc tài, giữa nhân quyền với độc trị không hề là "cá mè một lứa" mà ngược lại là "một trời một vực" !

Văn hóa dân chủ, văn minh đa nguyên, văn hiến nhân quyền

Dân chủ bắt đầu bằng sự công nhận công bằng không những trên những chuyện đã có mà luôn cho những chuyện đang có trong hiện tại của dân tộc, và sẽ có trong tương lai của quốc gia, trong đó công bằng xã hội được bảo đảm bởi công lý làm nên công luật, tất cả được thảo luận bằng hội thoại qua đối thoại bằng luân lý với sự trợ lực của pháp luật.

demo3

Dân chủ bắt đầu bằng sự công nhận công bằng không những trên những chuyện đã có mà luôn cho những chuyện đang có trong hiện tại của dân tộc, và sẽ có trong tương lai của quốc gia - Ảnh minh họa Công lý nghị trường bảo vệ sinh hoạt dân chủ ở Ba Lan

Khi hội thoại qua đối thoại, dân chủ chấp nhận và cho phát biểu để pháp triển sự khác biệt, tính đối kháng, tính nghịch lý để mở cửa rồi mở đường cho sự mâu thuẫn hoàn toàn chính danh vì chỉnh lý trong dân chủ để thực hiện đa nguyên, qua đa quyền lợi, đa giải đáp, đa chọn lựa… bằng quyết định bỏ phiếu, nơi mà thiểu số phục tùng đa số. Tại đây, dân chủ có những định chế rõ ràng để thực hiện sức thông minh của nhân trí bằng sự tôn trọng lẫn nhau của nhân tri :

h Hội trường và nghị trường để hội tụ trong nghị luận các vấn đề không những phải làm trong hiện tại và cần làm trong tương lai.

h Hội trường và nghị trường để hội lý trên nền tảng của công bằng từ đề nghị tới thảo luận, từ quyết định tới hành động.

h Hội trường và nghị trường để hội luận trên sự phân biệt công ích và tư hữu, để phân loại quyền lợi và quyền hạn, để phân định lợi ích xã hội và tự do cá nhân.

Khi nghiên cứu về lịch sử của dân chủ có nguồn cội trên quê hương Hy Lạp là chiếc nôi của triết học về nhân quyền, có triết lý về nhân sinh, có triết luận về chính thể, thì hai chuyên gia về cổ sử, cổ triết của Hy Lạp đã giúp ta nhận ra tiến trình và tiến hóa của dân chủ :

h Vernant đã mô tả và giải thích sinh hoạt dân chủ bằng không gian dân chủ, nơi mà các nghị viên ngồi theo thế vòng tròn, có tâm điểm là nơi các nghị viên phải vào giữa mỗi khi muốn phát biểu, để lời nói của nghị viên được xem như công cộng giữa công chúng. Và khi nghị viên trở lại chỗ ngồi của mình với vị thế ngoài trung tâm thì nghị viên đã trở lại tư thế cá nhân của mình.

h Détienne đã phân tích và phân giải sinh hoạt dân chủ bằng ngôn ngữ dân chủ nơi mà các nghị viên phát biểu không những bằng kinh nghiệm, bằng hiểu biết mà phải bằng truyền thông biết tuân thủ các phạm trù của hội thoại để tạo điều kiện cho đối thoại, để đa trí xuất hiện cùng đa luận, đa lý.

Kinh nghiệm dân chủ Hy Lạp trên cho ta thấy nội chất của dân chủ không phải là quyền mà là :

h lý luận để thuyết minh,

h lập luận để thuyết trình,

h giải luận để thuyết giảng,

h diễn luận để thuyết phục.

Đây là cách xử lý hoàn toàn khác và ngược với hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn) lấy lực làm quyền, gạt để giữ quyền, rồi lấy quyền triệt luận, cầm quyền này để diệt quyền kia, nên :

h cả vú lấp miệng em không có thảo luận,

h cá lớn nuốt cá bé không có hội luận,

h mạnh được yếu thua không có tụ luận.

Nên hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn) không có văn hóa của dân chủ qua thảo luận, văn minh của đa nguyên qua hội luận, văn hiến của nhân quyền qua tụ luận, vì bộ ba này của dân chủ biết chấp nhận nghịch lý vì biết tôn trọng đa lý. Khi ta nhận định dân chủ, đa nguyên, nhân quyền chính là văn hóa, văn minh, văn hiến thì ta sẽ hiểu vai trò của của bộ ba này trong giáo dục xã hội, trong giáo khoa quần chúng, trong giáo trình học đường để giáo dưỡng ngay từ tuổi nhỏ ba liên minh này :

h dân chủ, đa nguyên, nhân quyền chống bạo quyền,

h văn hóa, văn minh, văn hiến chống cuồng quyền,

h giáo dục, giáo khoa, giáo trình chống cực quyền.

Định chế dân chủ trong cơ chế đa nguyên

Định chế dân chủ được xây dựng trong không gian một tập thể, một cộng đồng, một dân tộc không những có lịch sử với thời gian tính của nó mà có luôn sự phân loại để phân định rõ ràng ba có chế khác nhau trong sinh hoat dân chủ :

h tập hợp chính trị là có chức năng giải quyết các vấn đề về công ích,

h tập hợp kinh tế là nơi đàm phán về các tư lợi cá nhân,

h tập hợp tôn giáo là nơi tín ngưỡng được tôn trọng nhưng nằm ngoài tam quyền phân lập.

Trong tiến trình hoàn thiện từ định chế tới các cơ chế của mình, sinh hoạt dân chủ luôn bị tác động, luôn gặp khó khăn, và luôn phải tìm cách vượt thoát hai trở ngại, vượt thắng hai loại lợi ích mâu thuẫn nhau, chống đối nhau :

h Lợi ích tập thể mà các chuyên gia còn gọi tên là : lợi ích khách quan.

h Lợi ích cá thể mà các chuyên gia còn gọi tên là : lợi ích chủ quan.

Để dung hòa hai lợi ích này trong cùng một không gian dân chủ, để điều chế hai thực tế đối nghịch này trong cùng một không gian nhân quyền, thì sinh hoạt dân chủ đề nghị hai ưu tiên :

h ưu tiên cộng hòa trong tự do, công bằng, bác ái,

h ưu tiên dân chủ trong đa nguyênnhân quyền.

Chính sự tương tác giữa nhân quyềnđa nguyên là ưu tiên của mọi ưu tiên trong sinh hoạt dân chủ, để từ đây ra đời : định chế cho công dân, vì công dân, qua ba cơ chế :

h Quyền được giáo dục và huấn nghiệp để thực hiện lợi ích đôi (lợi ích tập thể, lợi ích cá thể).

h Quyền được lao động và hành nghề mà không tạo ra bất công, không gây ra bóc lột.

h Quyền được bảo vệ sự thật vừa bằng chân lý của tri thức, vừa qua thảo luận với tha nhân mà không sợ một bạo quyền nào truy diệt sự thật của mình khi sự thật được xã hội, quần chúng công nhận.

Tại đây, thảm họa sâu xa của Việt tộc từ khi Đảng cộng sản Việt Nam độc quyền trong độc đảng đã ngăn chặn và xóa bỏ ba tiến trình :

h Cá nhân trở thành cá thể để nhận ra ba quyền : quyền được giáo dục và huấn nghiệp ; quyền được lao động và hành nghề ; quyền được bảo vệ sự thật.

h Cá thể trở thành công dân của cộng hòa trong tự do, công bằng, bác ái, của dân chủ trong đa nguyên nhân quyền.

h Công dân trở thành chủ thể trong chủ quyết về hiện tại, chủ đoán về tương lai, và chủ động mọi chọn lựa, mọi hành động để bảo đảm nhân quyền và nhân phẩm của mình.

Hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn) khi tạo các trở lực để cá nhân, cá thể không thực sự trở thành công dân và chủ thể, thì ta phải nhận ra là hệ độc này vừa ngăn chặn tự do, công bằng, bác ái ; vừa ngăn cản dân chủ, đa nguyên, nhân quyền,nhân phẩm không hề là ưu tiên của nó.

demo4

Định chế dân chủ được xây dựng trong không gian một tập thể, một cộng đồng, một dân tộc - Ảnh minh họa Sinh hoạt dân chủ bắt đầu từ cấp tiểu học ở Âu Châu

Giáo dục về dân chủ

Ngay trên thường nguồn của dân chủ từ khi các lý thuyết gia đã phạm trù hóa định chế của nó để sinh hoạt dân chủ được vinh danh và thăng hoa trong xã hội, thì ta đã thấy vai trò của giáo dục trong phân tích của Montesquieu :

h Giáo dục giúp cá nhân cởi bỏ được ích kỷ vụ lợi để nhận ra công ích tập thể.

h Giáo dục giúp cá thể yêu nước thương dân qua yêu quý lợi ích tập thể.

h Giáo dục giúp công nhân cởi bỏ được ích kỷ vụ lợi để nhận ra lợi ích chính trị là bảo đảm, bảo trì công ích tập thể.

h Giáo dục giúp công nhân làm rõ hoài bảo của nhân sinh muốn bảo vệ nhân phẩm của mình trong không gian chung của tập thể mà không quên không gian riêng của cá thể.

h Giáo dục giúp công nhân yêu nước thương dân bằng yêu luật trọng pháp trong đó công bằng là nền của công lý, công lý là mái nóc của công pháp.

Giáo dục về dân chủ phải đa dạng như sinh họat của nhân sinh, tại đây giáo dục về thể chế dân chủ qua định chế và qua cơ chế khác với giáo dục về sinh hoạt dân chủ qua đời sống kinh tế và quan hệ thương mại. Khi tách biệt được hai nội chất rất khác nhau của chúng, các chuyên gia về sinh hoạt dân chủ yêu cầu các chính quyền dân cử phải bảo vệ dân chủ, mà đạo lý đầu tiên là không để quyền lợi nhập vào quyền lực. Cụ thể các chính quyền này không thể để :

h Những chủ nhân giàu đã nắm sức mạnh kinh tế, giờ lại nắm chính quyền.

h Những chủ thầu giàu trong thương mại, giờ lại nắm chính quyền.

h Những chủ đầu tư trong tài chính, giờ lại lại nắm chính quyền.

Vì khi quyền lợi đã nhập nội vào quyền lực, thì nó thí đi đạo lý của công bằng, thải đi đạo đức của giáo dục, có hai tư tưởng gia về sinh hoạt dân chủ đã phân tích sâu vào quá trình giáo dục về dân chủ :

h Rousseau đề nghị phải vô cùng cẩn trọng với cái giàu, và cái nhiều vì khi nó có mặt nó sẽ hủy cái tốt, diệt cái lành, cụ thể là xóa cái đức của dân chủ.

h Montesquieu đề nghị cũng phải cẩn trọng trước các lợi ích của cá thể bất chấp công ích xã hội, vì có sự xung đột giữa những cái ít, và cái nhỏ làm nên cái xấu, tạo ra cái tồi, để rồi diệt đi cái giáo của dân chủ.

Khi công nhận là có lòng tham không đáy của kẻ giàu, cùng lúc cũng thừa nhận là có cái tham không lường được của kẻ nghèo, thì giáo dục về dân chủ đi thêm một bước nữa để làm sáng tỏ một sức mạnh kinh tế có trong sinh hoạt dân chủ, đó là tự do thương mại :

h Nếu tự do thương mại là tự do trao đổi hàng hóa giữa các dân tộc, giữa các quốc gia, giữa các vùng miền, giữa các châu lục… thì động cơ của tự do thương mại rất tốt lành cho quan hệ quốc nội và quốc ngoại, cho quan hệ quốc tế, cho quan hệ liên vùng, liên châu lục.

h Nhưng nếu tự do thương mại là tự do mua gian bán lậu, lại dựa trên sự bóc lột của kẻ giàu là chủ trên lưng, trên đầu kẻ nghèo là thợ với điều kiện lao động tồi, với lương bổng tục, thì phải kết án và đặc biệt cảnh giác về loại thương mại này, vì chính nó sẽ lén lút diệt dân chủ bằng bóng đêm bất công của nó.

Hãy tạm ngừng tại đây để thấy sự khác biệt sâu xa giữa các luận thuyết đã làm nên dân chủ cho Âu Châu từ thế kỷ thứ XVIII được gọi là thời đại của Ánh Sáng với các triết gia, tư tưởng gia, các chuyên gia với phân tích để phân loại của Khổng giáo. Tại Âu Châu, sinh hoạt dân chủ phân biệt rành mạch tự do thương mại qua hợp tác, hoàn toàn khác với tự do thương mại bằng bóc lột ; trong khi đó Khổng giáo áp đặt vị thứ xã hội : nhất sĩ, nhì nông, tam công, tứ thương, đã đẩy thương gia xuống đáy tổ chức xã hội, chỉ vì ngờ vực thương mại là sinh hoạt ăn không ngồi rồi trong mua gian bán lận, vì lấy buôn làm lãi mà không lấy công làm lời.

Bảo hiểm xã hội và độc lập kinh tế

Tại Âu Châu, trong quá trình bảo đảm sinh hoạt dân chủ, thì Montesquieu trong tác phẩm L’esprit des lois (lý trí của luật), năm 1748, tập 5 và chương 6, còn đi xa hơn khi lý luận là kẻ giàu sẽ giàu hơn nhờ thương mại, thì họ phải có đạo đức trả thuế cao hơn để kẻ nghèo được tạo điều kiện lao động tốt, làm việc theo khả năng của mình mà luôn được điều kiện vật chất lành để được đủ sống. Như vậy, điều kiện lao động tốtđiều kiện vật chất lành để đủ sống, để cho ra đời mệnh đề ý nguyện làm nên ý lực : sống đủ để được sống tốt và lành, có trong lý luận làm nên luận thuyết của dân chủ.

Chính Hoa Kỳ là quốc gia với kinh nghiệm hợp chủng quốc của mình đã nhận rõ và sâu vai trò của kinh tế và thương mại trong sinh hoạt dân chủ, một sinh hoạt vừa cần công bằng, vừa cần công luật, vừa cần tự do vừa cần các bảo hiểm để tự do ngày càng có tự chủ trước các bất bình đẳng, ngày càng được độc lập trước các bất công. Nhiều luật gia cùng nhiều lãnh tụ chính trị đã phân biệt được hai loại sinh hoạt kinh tế rất khác nhau đã xuất hiện qua hai thế chiến trong thế kỷ XX. Sinh hoạt kinh tế bằng tự lập lao động đóng góp công ích xã hội nên cần thiết cho sự trường tồn của dân chủ ; nó ngược lại với sinh hoạt thương mại xuất nhập khẩu với số lượng làm nên lợi nhuận cao, có thể thao túng công bằng xã hội, từ đó có thể lũng đoạn dân chủ. Từ lý luận trên, tổng thống Roosevelt lập ra một danh sách các sinh hoạt lao động, kinh tế, thương mại, tài chính có lợi hoặc có hại cho sinh hoạt dân chủ, mà tổng kết các sinh hoạt này đưa ông tới kết luận sau :

h Tự do cá nhân sẽ không toàn vẹn khi cá thể không có bảo hiểm ngay trong lao động.

h Tự do cá nhân phải dựa vào lao động biết làm nên độc lập kinh tế.

h Tự do cá nhân sẽ không có nếu kẻ đói chính là người thất nghiệp.

h Tự do cá nhân sẽ thành mây khói nếu cá nhân là kẻ sống bám vào xã hội.

h Tự do cá nhân sẽ tan khi độc lập kinh tế mất, cá nhân này sẽ là mồi cho độc tài, sẽ làm chất dinh dưỡng cho độc trị.

Như vậy, không có tự do tức là không có dân chủ, và độc tài phản tự do sẽ đến, độc trị phản dân chủ sẽ xuất hiện, phải đi sâu hơn vào lý luận về sinh hoạt dân chủ qua phương pháp phân tích tới từ dân chủ Hoa Kỳ :

h Bảo hiểm kinh tế qua lợi tức luôn thiết yếu trong đời sống dân chủ.

h Độc lập kinh tế qua lao động luôn chủ yếu trong sinh hoạt dân chủ.

Bảo hiểm kinh tế để bảo đảm chi tiêu về vật chất, giáo dục, xã hội, văn hóa… Độc lập kinh tế không những để bảo đảm các chi tiêu này mà còn để bảo trì các phương án cho cuộc sống tương lai, nơi mà sinh hoạt dân chủ tạo được điều kiện cho cá nhân thành tựu trong học đường, thành tài trong nghề nghiệp, thành đạt trong xã hội. Nên hai mệnh đề bảo hiểm kinh tế nơi mà xã hội phải lo cho cá nhân, và độc lập kinh tế nơi mà cá nhân tự lo cho mình và còn có thể lo cho xã hội. Hai mệnh đề này không những khác nhau mà còn đối chọi nhau, kình chống nhau trong sinh hoạt dân chủ, và cả hai luôn là hai mệnh đề rất hiện đại, để hoàn thiện thể chế dân chủ, sinh hoạt dân chủ và giáo dục về dân chủ.

demo5

Chính Hoa Kỳ là quốc gia với kinh nghiệm hợp chủng quốc của mình đã nhận rõ và sâu vai trò của kinh tế và thương mại trong sinh hoạt dân chủ - Ảnh minh họa sách De la Démocratie en Amérique của Alexis de Tocqueville (1835)

Sự thật của dân chủ

Khi dân chủ không chỉ là một thể chế lấy công lý để đảm bảo cho một chế độ vì tự do-công bằng-bác ái, mà còn là sinh hoạt dân chủ làm nên quan hệ dân chủ, với giáo dục dân chủ làm nên đời sống dân chủ. Muốn có tất cả thực tế này, thì sinh hoạt dân chủ luôn dựa vào thượng nguồn chính là tiền đề của dân chủ, đó là sự thật. Với sự thật từ dữ kiện tới chứng từ, từ giải thích tới giải luận để sự thật phải là chân lý, tức là gốc, rễ, cội, nguồn của mọi phân tích về cái thật của sự việc. Hãy định nghĩa sự thật : "sự thật là diễn biến của sự việc được mô tả trung tín từ quá khứ qua hiện tại cho tới tương lai". Sự thật luôn mang ít nhất ba nội chất : sử tính, đức tính luật tính. Chính sự thậtchân lý sẽ mở cửa cho lẽ phải xuất hiện, để sinh hoạt dân chủ luôn có hùng lực để chống mà loại đi :

h Cái nói sai của mỵ dân.

h Cái nói láo của đạo đức giả.

h Cái nói khoét của tuyên truyền.

Mà tất cả ba : nói sai, nói láo, nói khoét đều có trong hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn) mà Việt tộc đã nghe quen tai, rền tai, điếc tai từ khi Đảng cộng sản Việt Nam nắm chính quyền. Thảm trạng của nói sai, nói láo, nói khoét không những là động cơ tuyên huấn của toàn trị mà còn là phản xạ của liên minh tham quyền-lạm quyền-lộng quyền mà sinh hoạt dân chủ quyết trừ khử cho bằng được ; nếu không nó sẽ vào quỹ đạo của cực quyền chính là cha sinh mẹ đẻ của cuồng quyền.cực quyềncuồng quyền thì không đội trời chung với dân chủ, vì dân chủ lấy dân quyền để làm chủ quyềnnhân quyền !

Bi nạn độc đảng từ độc đoán đã bứng đi ba nội chất của sự thật : sử tính, đức tính luật tính, đã và đang đi trên lưng, trên vai, trên đầu của Việt tộc hiện nay là :

h nói sai của mỵ dân không bị xử,

h nói láo của đạo đức giả không bị phạt,

h nói khoét của tuyên truyền không bị án.

Vì văn hóa của độc đảng bằng công an trị làm nên độc quyền không có văn minh của nhân cách biết và phải từ chức khi nói sai, nói láo, nói khoét bị vạch mặt chỉ tên như trong sinh hoạt dân chủ mà chúng ta thấy từ Tây Âu tới Bắc Mỹ, và gần hơn nữa là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapour… Cuộc đấu tranh cho dân chủ xuất hiện trên số phận của Việt tộc là cuộc đấu tranh gặp cũng ít nhất ba trở ngại :

h sử tính, mang sự thật lịch sử đã bị thay trắng đổi đen bởi Đảng cộng sản Việt Nam ;

h đức tính, mang giáo lý của tổ tiên Việt đã bị vùi dập bởi Đảng cộng sản Việt Nam ;

h luật tính, mang công lý của luật pháp đã bị bóp nghẹt bởi Đảng cộng sản Việt Nam.

Khi cả ba : sử tính, đức tính, luật tính bị loại ra khỏi không gian quyền lực của độc tài, thì chính trị học và xã hội học đã có cùng một phân tích là : tính can đảm của nhân lý làm nên nhân phẩm sẽ đứng lên để lập lại :

h sử định, hiểu lịch sử và quyết định làm tốt hơn lịch sử ;

h đức định, hiểu đạo lý và quyết định làm tốt hơn giáo lý ;

h luật định hiểu công lý và quyết định làm tốt hơn công luật.

Liên minh sử định-đức định-luật định, làm nên luân lý của dân chủ, quyết định đúng tới tự quyết đoán đúng, với chủ thể can đảm bảo vệ sự thật để chủ động bằng nhân lý biết bảo vệ nhân phẩm. Mọi chọn lựa của can đảm có cái giá của nó, và cái giá của can đảm là chấp nhận hy sinh, với các hậu quả mà chủ thể của sự thật lường trước được :

h Nói đúng sự thật để tố cáo độc tài là chấp nhận bị tra tấn bằng các ma thuật độc hại nhất.

h Nói đúng sự thật để luận tội độc trị là chấp nhận bị tù đày mà không được luật pháp bảo vệ.

h Nói đúng sự thật để buộc tội độc quyền là chấp nhận bị sát hại dưới nhiều hình thức.

Với biệt danh "mưu hèn kế bẩn", cùng biệt hiệu "hèn với giặc, ác với dân" thì các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã sử dụng cả ba : tra tấn, tù đày, sát hại, đây cũng là ba thảm bại của người cộng sản từ gần một thế kỷ qua khi cướp được chính quyền :

h Đưa lịch sử Việt vào ma sử của tà quyền trong độc trị.

h Dẫn nhân lý Việt vào tà lộ của vô minh trong độc tài.

h Đẩy nhân phẩm Việt vào quỷ thuật của thất đức trong độc đảng.

Quỷ lộ "ác với dân" của bạo quyền độc đảng luôn toan tính để tính toán trên ba hành vi vắng đạo lý, trống luật pháp để chống lại sự can đảm :

h Tính khuất phục của quần chúng để áp đặt tính thuần hóa không nhân lý.

h Tính khiếp phục của quần chúng để áp đặt tính huấn nhục không nhân tính.

h Tính vô cảm của quần chúng để áp đặt tính vô giác không nhân tri.

Mỗi lần tính khuất phục, tính thuần hóa, tính khiếp phục, tính huấn nhục, tính vô cảm, tính vô giác xuất hiện thì nhân lý, nhân tính, nhân tri sẽ tiêu loãng rồi tiêu tán cùng nhân phẩm. Ngược lại, hành tác dân chủ từ định chế tới sinh hoạt luôn luôn bảo vệ, vinh danh, thăng hoa nhân lý, nhân tính, nhân tri để bảo đảm nhân bản, nhân văn, nhân tâm làm nền cho nhân vị để nhân phẩm nhìn thẳng, đứng thẳng, đi thẳng tới sự thật, chân lý để gặp lẽ phải. Chính dân chủ đã tạo tiền đề cho nhân phẩm nhận ra là : nhắm mắt trong khuất phục, cúi đầu trong thuần hóa, khoanh tay trong khiếp phục, quỳ gối trong huấn nhục, để quỵ trong vô cảm, gục trong vô giác không phải là nhân lộ mà là súc đạo của vô tri. Nếu nhận súc đạo là đường đi nẻo về của mục súc không tri thức, thì không khác gì gỡ, tháo, bỏ, vứt đi nhân quyền ngay trong nhân sinh.

Tự do cõng dân chủ

Khi tính khuất phục, tính thuần hóa, tính khiếp phục, tính huấn nhục, tính vô cảm, tính vô giác đã nhắm mắt-cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối trước bạo quyền độc tài thì các nhục tính này phải chấp nhận một loạt những hệ lụy khác :

h Bạo quyền liên minh với tà quyền để tham quyền.

h Bạo quyền liên minh với ma quyền để lạm quyền.

h Bạo quyền liên minh với quỷ quyền để lộng quyền.

Tại đây các thuật ngữ : tà quyền, ma quyền, quỷ quyền không phải là những ngữ văn để chỉ trích, chê bai, thóa mạ, phỉ báng, mà chúng chính là những mô hình giải thích quyền lực của hệ bất (bất tín, bất trung, bất tài, bất nhân) diệt đạo lý, triệt pháp lý ; để từ đó chúng ta lập được mô thức giải luận để phân tích tham quyền, lạm quyền, lộng quyền, đây là các quyền lực chống hệ công (công lý, công luật, công pháp, công tâm). Nếu không giải luận rồi diễn luận tới nơi tới chốn quá trình từ mô hình giải thích tới mô thức giải luận, thì ta sẽ không thấy để thấu là trong quyền lực có hệ lụy mà tâm lý học, phân tâm học, tâm thần học, đã giải thích :

h Bạo quyền sẽ thay hình đổi xác để thành cực quyền, một loại quyền lực tuyệt đối sẵn sàng khử trừ mọi đối trọng, đối kháng khác với nó.

h Bạo quyền sẽ thay thân đổi dạng để thành cuồng quyền, loại quyền lực tuyệt đối sẵn sàng truy diệt mọi đối thoại, đối luận khác với nó.

Cực quyền là chuyện có thật tại Việt Nam hiện nay, chỉ một nhúm nhỏ có cực quyền trong Thành ủy của thành Hồ, đã ký một quy hoạch mà ta có thể gọi là quỷ hoạch biến hơn chục ngàn dân tại Thủ Thiêm là dân lành một sớm một chiều thành dân oan từ hơn hai mươi năm qua. Cuồng quyền là chuyện có thật tại Việt Nam hiện nay, chỉ cũng một nhúm nhỏ chóp bu nắm cuồng quyền đã dùng ba ngàn công an để hành sát xã Đồng Tâm, để hành quyết cụ Lê Đình Kình, một đảng viên kỳ cựu của Đảng cộng sản Việt Nam rồi phanh thây mổ bụng cho quần chúng xem để gây sự khiếp phục rồi thuần hóa quần chúng bằng cực của cực đoan, cuồng của cuồng điên ; bất chấp đạo lý của nhân tính, bất tuân công lý của pháp luật. Từ khi Đảng cộng sản Việt Nam cướp được chính quyền 1945, tới thắng cuộc trong nội chiến huynh đệ tương tàn, thì cực quyềncuồng quyền là chuyện "cơm bữa" ngày ngày gieo lên lưng, lên đầu con dân Việt.

Khi nghiên cứu về sự khác biệt giữa thể chế dân chủ và bạo quyền độc đảng, thì ta phải đặt trước ánh sáng của sự thật để vạch trần bóng tối của âm binh, tại đây bạo quyền độc đảng chính là cha sinh mẹ đẻ của :

h tà quyền, ma quyền, quỷ quyền ;

h tham quyền, lạm quyền, lộng quyền ;

h cực quyền, cuồng quyền.

Tại đây, chính tự do được bảo vệ sự thật đã hình thành sinh hoạt dân chủ, mà dân chủ không chỉ là một thể chế, một chế độ mà trước hết nó là giáo lý của tự do làm nên giáo dục vì công bằng, giáo khoa vì bác ái. Cũng chính tự do được bảo vệ sự thật dựng lên nhân sinh quan sống với sự thật, tạo ra thế giới quan đấu tranh vì sự thật, chế tác ra vũ trụ quan luôn minh bạch trước sự thật, để mở đường cho lẽ phải chính là nhân lộ của nhân bản. Khi con người để đánh mất tự do được bảo vệ sự thật, con người sẽ đánh mất tiếp ít nhất ba loại tự do khác dựng lên nhân vị của con người :

h tự do được giải thích để giải luận sự thật,

h tự do được đối thoại để đối luận về sự thật,

h tự do ngôn ngữ để ngôn thuận trước sự thật.

Khi mất ba tự do này, thì con người đã xa văn minh dân chủ, đã rời văn hiến nhân quyền. Khi để tuột mất ba tự do này, thì con người đã mất nhân vị, đã bị lùi thấp trong nhân tri, mà tổ tiên Việt đã phân tích rõ ràng để phân loại rành mạch đó là số phận của con sâu cái kiến, ngắn cổ bé họng, ít hơi ngắn tiếng… Đây là thảm họa của Việt tộc dưới bạo quyền độc đảng hiện nay. Cuộc đấu tranh vì dân chủ trước hết là cuộc tranh đấu vì nhân tính, nơi mà nhân quyền đã mở các chân trời để công dân thành chủ thể :

h chủ thế của sử tính, hiểu lịch sự để làm tốt hơn lịch sử ;

h chủ thế của đức tính, hiểu đạo đức để làm đẹp giáo lý ;

h chủ thế của luật tính, hiểu công bằng để giữ công lý.

Sự kết hợp các khảo sát đã mở đường cho liên minh trong nghiên cứu của tất cả các ngành khoa học xã hội và nhân văn, để từ đó có đồng thuận trong phân tích và giải thích về hậu quả mất nhân tính trước độc tài của độc đảng sự tha hóa trong quyền lực đã biến :

h bạo quyền khi trở thành tà quyền, ma quyền, quỷ quyền, đã đẩy nhân sinh vào lộ trình vô nhân tính ;

h bạo quyền khi trở thành tham quyền, lạm quyền, lộng quyền đã đẩy nhân loại vào lộ trình vô nhân bản ;

h bạo quyền khi trở thành cực quyền, cuồng quyền đã đẩy nhân thế vào lộ trình vô nhân văn.

demo6

Các câu trả lời chỉnh lý trong toàn lý đã có mặt trong các chân trời của văn minh dân chủ và văn hiến nhân quyền

Được gì ? Mất gì ?

Trong tư duy sâu lắng nhất của mọi công dân Việt, chúng ta phải trả lời các câu hỏi chúng ta đã : được gì ? mất gì ? ngay trong nhân kiếp hiện nay của chúng ta dưới độc quyền của Đảng cộng sản Việt Nam :

h Chúng ta tin và nghe lời các lãnh đạo cộng sản kháng chiến để giành lại độc lập cho dân tộc trong tay thực dân, đế quốc để bây giờ chính các lãnh đạo cộng sản nhận Tàu tặc đã cướp đất, biển, đảo của chúng ta, xem bọn Tàu tà này là bạn, là anh, là cha thì chúng ta được gì ? mất gì ?

h Chúng ta tin và nghe lời các lãnh đạo cộng sản khi thống nhất đất nước là sẽ xây dựng đất nước đẹp hơn 10 lần xưa, bây giờ đất nước là bãi rác của ô nhiễm hóa chất của Tàu họa, nhiễm ô bất nhân với môi trường, thất đức với môi sinh, từ bauxite Tây Nguyên tới thảm họa Formosa, với nhiệt điện than của Tàu nạn trùm phủ lên số phận Việt, thì chúng ta được gì ? mất gì ?

h Chúng ta tin và nghe lời các lãnh đạo cộng sản để đánh đổi cả tự do, để chọn an ninh xã hội kiểu công an trị, bây giờ chính công an tổ chức đánh bạc lận, cướp đất giết người, cướp của giữa ban ngày cùng với côn đồ, du đảng, lưu manh của xã hội đen, thì chúng ta được gì ? mất gì ?

h Chúng ta tin và nghe lời các lãnh đạo cộng sản để đánh đổi công bằng trong văn minh để cúi đầu trước tư bản đỏ, tư bản thân hữu, của loại tư bản man rợ của tiền tệ-quân hệ-hâu duệ với phản xạ cướp ngày là quan, đã biến hằng triệu dân lành thành dân oan, thì chúng ta được gì ? mất gì ?

h Chúng ta tin và nghe lời các lãnh đạo cộng sản để đánh đổi bác ái có trong dân chủ để nhận độc đảng trong độc quyền để độc tôn sau khi vơ vét bằng tham nhũng, sau khi nạo vét tới cùng tận tài nguyên đất nước bằng tham ô ; cùng lúc dùng xuất khẩu lao động để vơ vét tiếp, biến nhân kiếp lao động Việt thành lao nô, nô tỳ cho các quốc gia láng giềng thì chúng ta được gì ? mất gì ?

Hãy trả lời cho rành mạch là :

h Nếu không có các giá trị nhân bản của cộng hòa là tự do, công bằng, bác ái thì nhân kiếp Việt còn giữ được nhân phẩm Việt trước nhân vị Việt không ?

h Nếu không có các giá trị nhân lý của dân chủ là đa nguyên trong nhân quyền nhân sinh Việt còn giữ được nhân trí Việt trước nhân tâm Việt không ?

Hãy chọn các câu trả lời hợp với :

h Nhân tâm Việt trong một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ.

h Nhân từ Việt trong bầu ơi thương lấy bí cùng.

h Nhân nghĩa Việt trong miếng khi đói bằng gói khi no.

Mà các câu trả lời chỉnh lý trong toàn lý đã có mặt trong các chân trời của văn minh dân chủ văn hiến nhân quyền.

Lê Hữu Khóa

(09/05/2020)

---------------------

lhk0 Lê Hữu Khóa

Giáo sư Đại học Lille

Giám đốc Anthropol-Asie

Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á

Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCOLiên Hiệp Quốc

Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa Paris

Thành viên hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Đông Nam Á

Hội viên danh dự ban Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới.

Các công trình nghiên cứu việt nam học của giáo sư Lê Hữu Khóa, bạn đọc có thể đọc và tải qua Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-trang thầy Khóa.

Published in Tư liệu

Từ ý thức công dân tới nhận thức dân chủ

Nhân quyền là phạm trù lý luận của nhân sinh đi tìm nhân phẩm, nên phạm trù này chỉ được chấp nhận nếu nhân loại xem nhân quyền là phổ quát từ nhân lý tới nhân tính, từ đạo đức tới luật pháp. Nhưng khi nhân loại xem nhân quyền là phổ quát từ nhân đạo tới nhân luật, thì nhân loại phải chấp nhận một hệ luận về nhân tri là : một chính quyền tôn trọng nhân quyền có thể chỉ trích, phê bình, buộc tội một chính quyền không tôn trọng nhân quyền bằng công pháp quốc tế, mà không bị buộc tội lại là xen vào nội bộ của một quốc gia. Đây chính là thử thách lớn của cuộc đấu tranh vì nhân quyền, vì tất cả các chính quyền dường như đều đồng ý về tuyên ngôn phổ quát về nhân quyền, nhưng không phải tất cả đều tuân thủ tuyên ngôn này. Chuyện này đã kéo dài từ ba thế kỷ qua, và hiện nay trong thế kỷ XXI này, các chính quyền độc tài, độc đảng luôn lẩn tránh nhân quyền để lén lút hoặc công khai vi phạm nhân quyền, trong đó có Đảng cộng sản Việt Nam đang đứng hàng đầu cùng Trung Quốc, Triều Tiên, Cuba và vài quốc gia châu Phi là những chế độ độc đảng để độc tài, là những tập đoàn tội phạm xâm phạm và đàn áp nhân quyền.

conscience5

Nhân chất 

Hãy vận dụng triết học, chính trị học và sử học để đi lại đoạn đường từ nhận định về nhân quyền bằng lý luận của nhân lý, nhân tính, nhân tri tới công nhận tính phổ quát về nhân quyền như tiền đề để bảo vệ nhân phẩm, nhân bản, nhân vị. Chúng ta có thể bắt đầu bằng công trình lý luận của Locke, môt tư tưởng gia của Anh quốc thế kỷ thứ XVII, đi tìm nhân quyền bằng cách trở lại thượng nguồn của nhân tính để nhận ra nhân lý, nơi mà con người tự hiểu về con người thế nào ? Hiểu ra sao ? Bằng tri thức gì ? Câu trả lời trú trong bản chất mà cùng là nội chất hãy tạm gọi là nhân chất. Ông đã trả lời bằng lý luận là con người không biết rõ, không biết đủ về chính nhân chất của mình ; con người sống và thấy rồi thấu về nhân chất qua kinh nghiệm, qua lịch sử.

Chính trong quá trình này đạo đức của nhân sinh được hình thành và trưởng thành, để luôn bồi đắp cho nhân trinhân trí là hai trụ cột làm nên tư tưởng và lập luận về nhân quyền. Cơ sở lý luận của Locke thật đặc sắc khi ông phân tích là con người chấp nhận sống chung với nhau trong một xã hội, mà không biết đủ, biết đầy về nhân chất của chính mình, họ chỉ có một tri thức là họ biết, họ hiểu về quan hệ giữa người với người mà xã hội học đặt tên là quan hệ xã hội. Không biết rõ nhân chất, lại mong cầu những quan hệ xã hội, thì tại đây một thực tiễn hiện ra là chính con người công nhận và nuôi dưỡng những quan hệ do chính họ chọn, với quyết định giữa các cá nhân giờ đã trở thành quyết định của tập thể, của cộng đồng.

Từ đây, triết học đã hình thành một tiền để cho xã hội học : trong quan hệ xã hội tạo ra sinh hoạt xã hội rồi đời sống xã hội, có ít nhất hai loại quan hệ.

  • Loại thứ nhất có chọn lựa, có quyết định nên có thỏa ước của mỗi bên đồng ý sống chung, lao động chung có tương lai chung, chính thỏa ước này giờ đã thành công ước xã hội đã cho xuất hiện nhận định về nhân quyền là quyền tự do công nhận rồi ký nhận quyền làm người ngay trong quan hệ xã hội.
  • Loại thứ hai, thì ngược lại bị áp đặt qua đàn áp phải sống chung để nhận chịu một số phận không do mình chọn lựa, quyết định, mà do kẻ mạnh, kẻ chủ, kẻ ác quyết định thay mình thì đây là phản diện của nhân quyền.

conscience02

Nhân lệ

Nhân lệ là không gian của nhân sinh, trong đó truyền thống làm nên tục lệ, có chỗ đứng trung tâm như thông lệ, nơi mà phép vua thua lệ làng, nơi mà luật pháp bị vô hiệu hóa với hủ tục mang tên tục lệ, thông lệ, mạo danh của truyền thống, trá danh của văn hóa, để duy trì một hệ thống khống chế dựa trên bất công, còn mạnh hơn cả luật pháp. Trong đó có chủ mưu mà cũng là thủ phạm mượn danh hiệu truyền thống tổ tiên để bắt buộc đồng bào, đồng loại của mình phục vụ quyền lực và quyền lợi của mình, mà bất chấp công bằng lẫn công lý.

Khi Khổng giáo áp đặt trên nữ tính của phụ nữ qua giáo dục tứ đức (công, dung, ngôn, hạnh), để người phụ nữ phải chấp nhận hậu quả của một sự áp đặt kế tiếp là tam tòng (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử). Rồi quan niệm trinh làm nên tiết của "gái chính chuyên chỉ có một chồng", để phải cúi đầu trước bất công của "trai năm thê, bảy thiếp", từ bất công tới phạm pháp vì cùng lúc gạt công bằng lẫn công lý ra khỏi công tâm. Từ đây, nam giới tự cho phép mình có nhiều sinh hoạt, nhiều quan hệ, nhiều đời sống, nhiều hưởng thụ hơn phụ nữ, đây là bất công của bất công vì nó tự cho phép lấy đa thê để vùi dập chính chuyên. Biến nhân kiếp phụ nữ thành số kiếp phải nhận chịu sự khống chế của nam giới. Tại đây, nhân lệ đã lội ngược dòng với nhân đạo của nhân quyền là luôn đặt định đề lý luận của mình qua công bằng xã hội bắt đầu bằng bình đẳng giới tính, nam nữ bằng nhau từ nhân vị tới nhân phẩm.

Khi ta nhận ra sự khác biệt, sự đối kháng giữa nhân lệnhân quyền, thì ta thấy được tiến bộ của nhân loại luôn đi về phía văn minh của nhân quyền. Vì trong lịch sử, sự bất công của thông lệ trọng nam khinh nữ, phổ quát trên mọi châu lục, và chính nhận thức nhân quyền đã bắt đầu bằng ý thức về bình đẳng, bằng tri thức về công bằng, tứ đó biến nhân quyền thành mục đích của đấu tranh vì : tiến bộ của nhân tri, văn minh của nhân bản, tương lai của nhân phẩm… Tại đây, nhân quyền có nội lực, sung lực, hùng lực của :

  • hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri) ;
  • hệ tự (tự do, tự trọng, tự chủ, tự tin) ;
  • hệ thông (thông minh, thông thạo, thông thái) ;
  • hệ sáng (sáng kiến, sáng lập, sáng tạo) ;

nhân lệ không có được, cụ thể là nhân quyền càng đi tới, thì nhân lệ càng đi lùi, càng đi xuống, để dần dà rơi vào ngõ tử, nếu nó không công nhận và không biết đi cùng với nhân quyền vì công bằng và công lý.

conscience03

Nhân biệt 

Sự khác biệt giữa những cá nhân từ tâm lý tới cá tính, từ bản sắc tới giáo dục tạo ra tính cá biệt của mỗi cá nhân luôn mang những đặc tính khác biệt nhau ngay trong sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội, đời sống xã hội… Thuật ngữ tạm thời được dùng tại đây là nhân biệt, nó chính là cơ sở phản biện của định đề nhân quyền ! Vì nhân quyền làm nền để tạo nên sự công bằng giữa các cá nhân. Công bằng này không chấp nhận sự khác biệt để làm ra sự tách biệt, để rồi sinh ra sự phân biệt, và khi sự phân biệt trở thành sự phân loại làm ra sự phân hóa, thì mệnh đề chung là công bằng (không phân biệt) làm nên định luận rồi định nghĩa của nhân quyền sẽ không còn nữa !

Tính phổ quát của nhân quyền sẽ ra sao trước thực tế đa văn hóa, đa văn minh, đa văn hiến giữa các sắc tộc, các dân tộc, các châu lục khác nhau ? Khi mỗi văn hóa, mỗi văn minh, mỗi văn hiến có đặc sắc, đặc thù, đặc điểm riêng của nó và hành tác ngược chiều với tính phổ quát của nhân quyền ? Khi nghiên cứu tính đa văn hóa, đa văn minh, đa văn hiến giữa các sắc tộc, các dân tộc, các châu lục… tôi nhận ra các kinh nghiệm khác nhau, đưa tới các định đề rất khác nhau, rồi từ đó có những định luận khác biệt nhau, nên xin đề nghị các giải luận sau :

  • Tính phổ quát nhân quyền bằng tổng thể, tại đây nhân quyền là một phạm trù có sức mạnh tổng hợp được mọi sức mạnh khác nhau như tự do, công bằng, bác ái công nhận, vượt lên sự khác biệt văn hóa, văn minh, văn hiến giữa các sắc tộc, các dân tộc, các châu lục. Muốn quản trị được một tổng thể thì bản thân nhân quyền phải có tổng lực, với vị thế ở trên cao với sức hút của nó vừa tạo được hội tụ cho mọi khác biệt, vừa nâng cao mức độ nhận thức về nhân phẩm, chính là điểm đến của nhân quyền.
  • Tính phổ quát nhân quyền bằng tiến bộ, trong đó nhân loại không chỉ hưởng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật, mà còn có các tiến bộ về tư tưởng, triết học cùng các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Ta cũng không quên các tiến bộ của văn minh trong đó mỗi lần có sự hoàn thiện hóa về đạo lý, mỗi lần có sự hoàn chỉnh hóa về đạo đức, là mỗi lần giá trị nhân quyền được thăng hoa thêm.
  • Tính phổ quát nhân quyền bằng đấu tranh, nơi mà tiến bộ của nhân quyền là kết quả tích cực qua đấu tranh giữa các quyền lợi đối kháng nhau trong xã hội, và sự xuất hiện của các lập luận về nhân quyền luôn là sự hiện diện để bảo vệ không những của tự do, công bằng, bác ái, mà cả về dân chủ và đa nguyên. Mỗi lần nhân loại tiếp nhận được kết quả tích cực qua đấu tranh trên nền tảng của công lý, thì công luật cùng công pháp sẽ ra đời để pháp luật hóa công lý mới được mọi người công nhận.
  • Tính phổ quát nhân quyền bằng hội nhập, nơi mà hội là cơ sở của hòa, có hòa hợp để hòa giải, mà không qua xung đột, đấu tranh, ngược lại dựa trên các thỏa ước xã hội biết dung hòa để điều chế sự khác biệt về quyền lợi giữa các giai tầng khác nhau trong xã hội, tính riêng biệt về tư lợi của mỗi cá nhân, mà không có kình chống, không có đàn áp, không có sát phạt, khi mọi thành phần xã hội, mọi cá thể đều là công dân cùng nhau công nhận các công lý chung để bảo vệ nhân quyền.

conscience04

Nhân nhiệm

Khi Hume, triết gia Anh quốc gốc Ecosse, thế kỷ thứ XVIII thời Khai Sáng, đã vận dụng tri thức của sử học cùng các kiến thức của kinh tế học, để phân tích phạm trù nhân quyền có vị trí giữa quyền lợi được tập thể công nhận và tư lợi cá nhân cũng được bảo vệ trong một xã hội có văn minh của công bằng. Ở đây, mỗi cá nhân, giờ là công dân phải có trách nhiệm với cộng đồng nơi mà mình là thành viên. Thuật ngữ mà ta tạm dùng ở đây là "nhân nhiệm", mang ba hành tác của công dân trong một cộng đồng :

  • Trách nhiệm dân sự, là những nghĩa vụ của công dân, vừa đóng góp vào công ích xã hội, dịch vụ công cộng, bằng lợi tức qua thuế má, song hành với trách nhiệm bảo vệ cộng đồng, dân tộc, đất nước, xã hội nơi mà mình sinh sống.
  • Quyền tư hữu, từ gia sản tới vốn tài chính, từ vốn đầu tư tới vốn lao động, nơi mà cá nhân được có quyền vận dụng tư hữu để sản suất, để làm giầu, nơi mà tư hữu vừa là vốn, vừa là lời do vốn mang tới bằng sức lao động của cá nhân.
  • Tự do hợp đồng, khi tự do của cá nhân sự được vận dụng qua lao động, kinh tế, tài chính, thương mại… qua hợp tác từ chuyên môn tới cổ phần, thì hợp đồng chính là giao ước chính thức được xã hội, chính quyền, luật pháp công nhận để chứng thực thỏa ước chung đã được của mỗi bên công nhận.

Khi lực liên kết của ba hành tác : trách nhiệm dân sự, quyền tư hữu, tự do hợp đồng có mặt trong sinh hoạt xã hội làm nên quan hệ xã hội có hợp tác qua hợp đồng, có giao ước bằng thỏa ước được công chúng hóa bằng pháp luật, thì đời sống xã hội được hình thành vì biết dựa trên một nền tảng mà Rousseau đặt tên là công ước xã hội. Nội lực của liên kết : trách nhiệm dân sự, quyền tư hữu, tự do hợp đồng, được tiếp tục nghiên cứu và hoàn chỉnh qua công trình của kinh tế gia anh quốc : Hayek (1899-1992), giải Nobel về kinh tế, cũng chính là lý thuyết gia của trường phái chủ thuyết tự do mới trước thị trường. Nơi đây thị trường là sinh hoạt cụ thể, hữu hình và trường tồn trong không gian và thời gian, với sự trợ lực của các chính quyền, và điểm hội tụ để có quyết sách chung mà bảo vệ thị trường, và thị trường được bảo vệ trên cơ sở của liên kết : trách nhiệm dân sự, quyền tư hữu, tự do hợp đồng.

Khi ta công nhận liên kết : trách nhiệm dân sự, quyền tư hữu, tự do hợp đồng, cũng như chính quyền có giá trị trường tồn và phổ quát, thì ta cũng phải tôn trọng sự hiện hữu của thị trường cũng mang giá trị trường tồn và phổ quát. Từ đây, giá trị này cho ra đời tổ chức thương mại thế giới (OMC-rganisation mondiale du commerce) ; trong tổ chức này, có "sân chơi" là thương mại toàn cầu, có "luật chơi" theo các thỏa thuận qua các thảo ước với sự có mặt thường trực của các chính quyền từ kiểm tra tới kiểm soát để bảo vệ "trò chơi". Nơi mà quyền tư hữu được tôn trọng ngang hàng với trách nhiệm dân sự. Khi chúng ta chấp nhận mệnh đề này trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, thì chúng ta phải nhận luôn :

  • Tự do kinh tế song cặp tự do tư lợi, để song hành với tự do lợi nhuận là sinh hoạt chính của thị trường tư bản, trong đó có tự do sản xuất, tự do tiêu thụ dẫn tới tự do cạnh tranh.
  • Tự do kinh tế đóng vai chính để chủ đạo trong phát triển, trong tiến bộ, và khi có khủng hoảng, có suy thoái thì các chính quyền sẽ có mặt để tạo ra sự đoàn kết liên quốc gia tìm cách vượt qua khủng hoảng, suy thoái.
  • Tự do kinh tế làm chủ lực cho tự do thương mại lại đóng vai chính tự sản xuất tới tiêu thụ thì liên minh tạo nên đoàn kết giữa các chính quyền phải nhận vai phụ, và chỉ can thiệp khi tự do thương mại này rơi vào ngõ cụt.

Khi ta công nhận : tự do kinh tế, tự do tư lợi, tự do lợi nhuận ; tự do sản xuất, tự do tiêu thụ, tư do cạnh tranh, tự do thương mại vừa thiết yếu, vừa chủ đạo trong sinh hoạt xã hội của nhân sinh, thì ta phải nhận ra sự vận hành của nhân quyền là : một quy trình đặc sắc của nhân lý đi tìm nhân phẩm và biết đặt nhân quyền lên cao, lên trên tất cả các tự do kinh tế, tự do tư lợi, tự do lợi nhuận ; tự do sản xuất, tự do tiêu thụ, tự do cạnh tranh, tự do thương mại.

conscience05

Nhân luận

Có nhiều đường đi nẻo về khác nhau, nên nhân quyền là quá trình chỉnh lý đang đi tìm toàn lý, đây là khó khăn cụ thể mà cũng là thử thách vinh quang của thực thể nhân quyền. Vì toàn lý phải bắt đầu bằng sự tôn trọng của đa lý, mà trong đa lýđa trí, đa tài, đa dũng, đa năng, đa hiệu làm nên chân dung diện mạo của đa nguyên.Tại đây, Liên Hiệp Quốc định vị để đề nghị :

h Tôn trọng sự khác biệt, nhưng cẩn trọng trước sự phân biệt, tạo ra sự tách biệt.

h Vượt qua sự phân biệt để đi tìm những mẫu số chung, tạo điều kiện cho sự chung sống bằng sự tôn trọng lẫn nhau.

h Vượt qua sự tách biệt để tìm ra nền tảng chung, tạo điều kiện cho sự chung sống bằng khả năng nhận ra những sự tương đương được mọi bên công nhận.

Từ đây, khi phân tích các lập luận về nhân quyền không những qua lập luận của các tư tưởng gia, các triết gia, mà còn phải nhận ra các công trình nghiên cứu của chính trị học, nhân học, xã hội học đương đại, tại đây xuất hiện hai kết luận mới :

  • Nhân quyền sẽ tự diệt khi nó tự biến thành một loại ý thức hệ độc đoán áp đặt lên xã hội, lên nhân loại, mà mọi người đã thấy sự thảm bại của ý thức hệ cộng sản, mà ngược lại nhân quyền phải luôn nắm trong quỹ đạo danh chính ngôn thuận của hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận) vừa để bảo vệ tính chỉnh lý, vừa để bảo đảm tính phổ quát của nó.
  • Nhân quyền sẽ tự hủy khi nó tự tương đối hóa nó, ép buộc nhân sinh phải nhắm mắt trước hủ tục, trá hình bằng tên gọi là văn hóa, kiểu đa thê, đa thiếp để không tôn trọng nam nữ bình quyền. Tồi tệ hơn là loại tự tuyên ngôn : "Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng ưu tú nhất và độc nhất lãnh đạo dân tộc, xã hội…", nơi mà độc đảng tự cho phép toàn trị mà không qua hệ đa (đa lý, đa trí, đa tài, đa dũng, đa năng, đa hiệu), để tránh né luôn hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận).

Không phải là ý thức hệ, cũng không tự tương đối hóa, tiến trình của nhân quyền cũng :

  • Không được tự thiêng liêng hóa mình như đã thấy trong các sinh hoạt của tôn giáo ; trong đó thượng đế sáng tạo ra muôn loài và muôn loại phải có lòng tin tuyệt đối vào thượng đế.
  • Không được tự dung hòa hóa mình trước các quyền lực kình chống nhau, vì có quyền lợi mâu thuẫn nhau, mà hậu quả là có kẻ thắng người bại, mà tất cả đều không nhận ra đạo lý nhân quyền là tôn trọng lẫn nhau để chung sống.

Thuật ngữ : nhân luận trở nên linh động khi ta nhận ra hệ luận của quyền làm người, được làm người mà không là nạn nhân cũng không là thủ phạm của bất cứ bất công nào, của bất cứ bất nhân thất đức nào, xuất hiện tại đây hai lý luận khác :

h Nhân quyền có nội chất của nhân phẩm, khi nhân sinh biết gỡ ra ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu… giá trị của con người là vô giá nên nhân quyền hành tác trên cao, đi xa, nới rộng, đào sâu hơn các phạm trù bình thường nếu không nói là tầm thường của ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu…

h Nhân quyền là sức hút của hoài bão vì nhân lý, nhân tri, nhân trí, của hoài vọng vì nhân bản, nhân văn, nhân vị, tạo ra được sự thuyết phục tự đó tạo được sự đồng cảm, đồng lòng để các giá trị của nhân phẩm.

Vẫn chưa trọn về diễn luận, nhân quyền còn cho xuất hiện hai phương án khác nhau từ nội đụng tới thể hiện :

h Nhân quyền tích cực của hội nhập để có một lý tưởng chung là bảo vệ nhân phẩm, đây là câu chuyện rất rõ nét trong triết học khai sáng của Monstesquieu, Rousseau, Voltaire… Nhân quyền được thực hiện trong đòi hỏi công bằng, trong đấu tranh vì tự do, một nhân quyền có chân trời của công lý, khi con người biết trả lời là : có !

h Nhân quyền tiêu cực là một nhân quyền khi nhân sinh đứng trước bất công, thì con người biết trả lời ngược lại là : không ! Vì bất công không chấp nhận được, vì nó bất nhân thất đức. Nhân quyền tiêu cực nơi mà ngữ pháp tiêu cực của phản ứng trả lời : không chính là một sung lực rất tích cực, vì không chấp nhận bất công, nên sẽ bất tuân trước bạo quyền, cụ thể là sẽ bất chấp tà quyền.

Trong triết đạo đức của Ricoeur cũng như trong triết đa văn hóa của Jullien, năng lực làm nên dũng lực để trực diện trước bạo quyền và tà quyền, rồi trả lời : không ! tức là không chấp nhận bất công, tức là không bỏ qua thất đức, tức là không tha thứ bất nhân. Nên chữ không của nhân quyền tiêu cực, có cùng mức độ, cường độ, trình độ của chữ có của nhân quyền tích cực.

Nhân định

Khi xét nhân chất, khi soi nhân lệ, khi hiểu nhân nhiệm, khi thấu nhân biệt, để thấm nhân luận, rồi nhận ra nhân quyết, chúng ta đã thấy được các không gian của nhân tri trong chân trời của nhân quyền, luôn có hai nhân lực, không :

h Trả lời có mặt để bảo vệ nhân phẩm, như mục đích của nhân quyền.

h Trả lời không chấp nhận bạo quyền độc tài, khi nó phản nhân quyền.

Nhân định được hiểu như nhận định để quyết định đường đi nẻo về của nhân quyền ; từ đây nhân định được hiểu như phân định để giải định các chân trời của nhân phẩm mà nhân quyền phải bảo vệ :

h Nhân quyền là hùng lực có mặt trong tư duy dân chủ như một động cơ tạo ra các hành động xã hội, dân tộc, cộng đồng, tập thể để tổ chức lại xã xã hội, dân tộc, cộng đồng, tập thể đi theo hướng thăng hoa vì nhân vị, nhân bản

h Nhân quyền là hùng lực có mặt trong tư duy đa nguyên như một khả năng tạo ra các hành động của đảng phái, của hội đoàn, của công đoàn, của xã hội dân sự, theo hướng tiến bộ vì nhân tri, nhân trí.

Nhân tố xã hội song hành cùng nhân tố chính trị là hai động cơ chủ lực của nhân quyền, vượt lên mọi con toán ích kỷ của tự lợi, vượt lên mọi con tính quyền lực vì quyền lợi ; tại đây nhân quyền sẽ là :

  • Nền cho các quá trình nhận thức của xã hội, trong đó con người không còn vô điều kiện với các đạo giáo, tự đặt nhân quyền luôn thấp hơn, luôn phải tuân thủ quyền năng của thượng đế.
  • Nền cho các công trình xây dựng xã hội, trong đó các chế độ chính trị được tổ chức theo hướng tôn trọng nhân vị, nhân bản, nhân tri, nhân trí…

Đây cũng là câu chuyện có trong kinh nghiệm của nhân sinh tại châu Á, xem thiên mệnh (ý trời) là siêu quyền năng, quyết định số kiếp của nhân sinh, mà chính cụ Tiên Điền Nguyễn Du đã mượn lời Kiều để đả phá loại thiên mệnh rất bất công này, khi đã đày ải Kiều trong nhục kiếp lầu hồng, cụ khẳng định : " Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều". Khi nhân định đủ tâm và đủ tầm để vận dụng quá trình nhận thức xã hội vào các công trình xây dựng xã hội vì nhân quyền, thì ta phải nhận định rõ là :

  • Nhân quyền có mặt và có tiến bộ về nhận thức khi khoa học, kỹ thuật, học thuật, tư tưởng có mặt trong tiến bộ trong xã hội, trong nhân sinh.
  • Nhân quyền có mặt như lý tưởng về văn minh vừa khả thi, vừa cao rộng, mang tầm vóc của một tổng thể của các lý tưởng chính trị, khoa học, xã hội, văn hóa…

Nhân quyền hiện thân trong tư duy của con người không bằng ý thức hệ trừu tượng, cũng không bằng một ý đồ chính trị viễn vông ; nhân quyền là nhận thức của :

  • Hiểu được thì giải thích được, giải thích được thì xem như đã hiểu rồi, nơi mà hiểu biết và giải thích không phải là hai động tác khác nhau, mà chỉ là một, một không gian và không có biên giới nên không cần trung gian để nối nhịp cầu giữa hiểu biết và giải thích.
  • Hiểu được ngay thì giải thích được ngay, vì nhân quyền cư trú ngay trong quyền làm người, tức là quyền được sống yên mà không là nạn nhân hay thủ phạm phản nhân quyền. Và quyền này song hành cùng quyền mưu cầu hạnh phúc mà không một bạo quyền, tà quyền, ma quyền, cực quyền, cuồng quyền nào có quyền tước đoạt.

Nhân định có khởi lực của tư duy dân chủ song hành cùng tư duy đa nguyên ; có động lực của quá trình nhận thức của xã hội, song đôi cùng công trình xây dựng xã hội ; có trí lực tiến bộ về nhận thức sánh bước cùng lý tưởng về văn minh. Như vậy, nhân quyền là một thực lực thường xuyên có mặt trong xã hội dân sự, nên khi ta đi tìm định đề để nhận ra định luận của nhân quyền thì ta cần đi về hướng giải luận đôi :

  • Nhân quyền là quyền lợi lẫn quyền lực muốn làm người đúng nghĩa nhất với nhân phẩm.
  • Nhân quyền là công bằng lẫn công lý muốn có công luật đúng nghĩa nhất với nhân vị.

Quyền được làm người song lứa với luật bảo vệ người chính là chủ lực của nhân định. Khi nhận ra được hai mệnh đề trong cùng một mệnh để chung tên là nhân quyền, thì nhân quyền :

  • vừa là cơ hội đối thoại giữa các dân tộc khác nhau, giữa các văn hóa và văn minh khác nhau có thể đối luận được với nhau qua quyền được làm người, luật bảo vệ người.
  • vừa là cơ hội tiến bộ của mọi dân tộc khác nhau, của mọi văn hóa và văn minh dù khác nhau nhưng biết lấy nhân vị, nhân bản, nhân văn làm nội lực cho nhân quyền.

Nhân định mang hình ảnh của con người đi về phía cao của ánh sáng, đủ sức bước tới, bước lên, có tay trái cầm đèn soi đường, có tay phải cầm cán cân của công lý.

Nhân quyết

Khi trong nhân phẩm có sẵn hai quyền lực làm nên nội chất của nhân quyền : nhân quyền tích cực của có trong hoài bão đi tìm công bằng để lập nên công lý, và nhân quyền tiêu cực của không trong sự chối từ bất công, chối bỏ bất nhân thất đức ? Từ đây, chúng ta nhận ra được là có của tích cực vì hoài bão, và không của tiêu cực chối từ bất công, tương tác lẫn nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau trên nhân lộ đi tìm nhân phẩm bằng đấu tranh vì nhân quyền. Hãy đi xa hơn nữa để nhận ra chân dung diện mạo của nhân quyền có trong năng lượng đôi làm nên năng lực đôi : biết trả lời trước công lý vì đã biết trả lời không trước bất công trong nhân kiếp ; sẵn sàng trả lời có ! để đấu tranh vì công lý, và luôn sẵn sàng trả lời không ! để tranh đấu chống bất công.

Hãy lên cao hơn nữa để nhận rõ nhân diệnnhân dạng của nhân quyền, luôn vượt lên tư lợi, luôn vượt qua quyền lợi để nhập nội vào phạm trù của bác ái, có tương thân, tương trợ. Nơi mà hạt muối cắn làm đôi có khả thi với một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ, trong khả tín của bầu ơi thương lấy bí cùng, để lộ ra nhân diện của nhân quyền trong thương người như thể thương thân, để ta nhận ra nhân dạng của nhân quyền qua máu chảy tới đâu ruột đau tới đó. Khi ta công nhận là nhân quyền có chỗ đứng cao hơn, có ghế ngồi rộng hơn ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu… vì trong thực tế nhân quyền có khả quyết để quyết đoán, rồi có chủ đoán để chủ động là nhân quyền cao và rộng hơn ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu…

Câu chuyện về nhân quyền là tự truyện về mức độ làm nên trình độ : khi ta có bác ái với lòng trắc ẩn chia ngọt sẻ bùi với tha nhân, chia sẻ niềm đau nỗi khổ với đồng bào, với đồng loại thì chữ nhân của nhân loại hoặc nhân loài sẽ có được tầm vóc cao, kích thước rộng, nội công mạnh, bản lĩnh lớn hơn hẳn ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu… Vì kẻ chỉ biết ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu thì có thể làm người nhưng chưa chắc đã được làm : nhân, nhân đây có gốc rễ, cội, nguồn của nhân tâm, nhân từ, nhân đạo, nhân nghĩa, nhân bản làm nên sung lực trong lý luận rồi hùng lực ngay trong đấu tranh vì nhân quyền. Tại đây, nhân quyết là không gian tri thức trong đó có chủ quyết để chủ động đấu tranh vì công bằng mà chống bất công, nên nhân quyền :

  • Vừa là hành động của hiện tại, vừa là hoài bão của tương lai,
  • Vừa là quy trình đấu tranh hằng ngày, vừa là chân trời trước mắt,

Khi các chủ thể dân chủ đấu tranh vì nhân quyền nhận ra là :

  • Nhân quyền là động lực để đấu tranh, mà nhân quyền cũng là tuệ giác ngay trong lao lý khi họ bị độc tài phản dân quyền tù đày, tra tấn, hành hạ. Bạo quyền khi sợ không lùi bước trước luân lý của nhân quyền, nhưng nó luôn tránh né phải trực diện để đối thoại về tuệ giác của nhân quyền, vì nhân quyền vừa là trí tuệ của nhân trí, vừa là giác ngộ của nhân bản.
  • Nhân quyền chưa là một sự thật mà chúng ta đã cầm trong tay, nhưng nhân quyền là tri thức để ta nhìn ra chân trời của nhân phẩm, cùng lúc nhân quyền là dàn phóng đưa ta tới chân trời đó, một chân trời vừa đúng cho nhân bản, vừa đẹp cho nhân văn. Bạo quyền không sợ đạo đức của nhân quyền, nhưng nó sẽ biết ngượng trước cái đúng cho nhân bản, biết nhục trước cái vừa đẹp cho nhân văn.

Như vậy, nhân quyền đứng vững cả hai hướng của ánh sáng : hướng hay, đẹp, tốt, lành của nhân phẩm và hướng cao, sâu, xa, rộng của nhân trí ; bạo quyền độc đảng hoặc độc tài thì ngược lại, nó cũng có hai hướng nhưng là của bóng tối : hướng xấu, tồi, tục, dở của tà quyền, và hướng thâm, độc, ác, hiểm của bạo quyền.

Nhân ngôn

Ba năm sau chất dứt đệ nhị thế chiến, ngày 8 tháng 12 năm 1948, Liên Hiệp Quốc đã có Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, để bảo vệ nhân loại và nhân phẩm với điều kiện làm người của mỗi cá nhân từ quyền lợi tới tự do, vận dụng của hơn 60 bộ luật để bảo vệ quyền làm người trong nhân vị. Đây là hùng lực của nhân ngôn biết chính ngôn để lập ngôn, biết chính pháp để lập pháp, chính đây là cuộc cách mạng vừa toàn diện, vừa đầy đủ ở mức độ cao của nhân loại. Một cuộc cách mạng không đổ máu, không có nạn nhân, mà chỉ có con người không những biết làm công dân của quốc gia của mình, có bổn phận với đồng bào mình, mà còn là chủ thể của nhân loại biết vận dụng nhân vị để bảo vệ nhân quyền, tận dụng nhân quyền để bảo vệ nhân phẩm.

Ngày 15 tháng 3 năm 2006, Liên Hiệp Quốc cho ra đời Cao ủy cố vấn nhân quyền có vai trò khảo sát và kiểm tra về điều kiện nhân quyền trên toàn thế giới, trong đó nhân quyền được định vị bằng tất cả quyền tự do cơ bản mà mỗi người phải có. Liên Hiệp Quốc với Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền song hành cùng Cao ủy cố vấn nhân quyền đã yêu cầu các quốc gia thành viên của mình phải tôn trọng không những một vài luật mà cả một mạng lưới luật trong đó của luật bảo vệ người tàn tật, trẻ em, phụ nữ, người già song hành cùng các luật phòng chống bóc lột, đàn áp, tù tội… tới từ bất công, từ bạo quyền, từ độc tài… Khi đi vào sâu để khảo sát các nền tảng của mạng lưới luật pháp này, ta thấy sự xuất hiện rõ nét của các luật bảo vệ người lao động song hành cùng các luật xã hội để xử lý các mâu thuẫn có liên quan không những đến kinh tế mà cả đến văn hóa, trong đó có các luật chống bất bình đẳng nam nữ cùng được đề ra.

Càng đi sâu vào quá trình hình thành công pháp nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, ta thấy xuất hiện một phương pháp luận của điều tra, khảo sát, nghiên cứu đã được tận dụng trong các chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn. Tại đây Liên Hiệp Quốc không những đóng vai trò đại diện cho công pháp quốc tế để bảo vệ nhân quyền, mà còn có chức năng thâu thập các tư liệu, chứng từ kể cả các đơn thưa tụng của cá nhân hay tập thể về chế độ lao tù, về thực tế tra tấn, sát hại người tù của các chính quyền độc tài, độc đảng… Tại đây, Liên Hiệp Quốc được quyền điều tra thực địa, cụ thể là yêu cầu các quốc gia không tôn trọng nhân quyền phải mở cửa nhà tù, để các chuyên gia của Liên Hiệp Quốc khảo sát tại chỗ về điều kiện lao lý. Vô trương bất tín, thấy mới tin không thấy không tin, thì tất cả chế độ trong đó có chế độ độc đảng toàn trị hiện nay của Đảng cộng sản Việt Nam ngăn chặn, cản trở các điều tra thực địa, các khảo sát tại chỗ đều bất chính vì đã bất tín trước công pháp nhân quyền của Liên Hiệp Quốc

Danh chính ngôn thuận tại Liên Hiệp Quốc được tôn trọng, vì ngoài quyền hạn yêu cầu được điều tra thực địa, được khảo sát tại chỗ ngay tại các quốc gia có chế độ toàn trị bởi độc tài hay độc đảng, Cao ủy cố vấn nhân quyền còn trực tiếp nhận đơn kiện tụng, cùng lắng nghe các hội đoàn phi chính phủ, các nhân sĩ về các vi phạm nhân quyền tại các quốc gia của họ. Tại đây, chứng từ cùng nhân chứng song hành cùng xã hội dân sự, các hội đoàn nhân đạo, thiện nguyện làm nên những các báo cáo thường xuyên về điều kiện nhân quyền trong mỗi quốc gia thành viên. Liên Hiệp Quốc có nhật thứ đặc biệt về hai loại báo cáo :

  • Báo cáo khởi nhập (rapport initial) đóng vai trò thông báo thượng nguồn về điều kiện nhân quyền của mỗi quốc gia thành viên.
  • Báo cáo thường kỳ (rapport périodique) có chức năng thông tin thường niên về các biến đổi trên thực trạng nhân quyền của các chính quyền đã làm tốt hay chưa điều kiện nhân quyền tại quốc gia của họ.

Nhân ngữ

Phương pháp lao tác các báo cáo về nhân quyền của Liên Hiệp Quốc tuân thủ năm giai đoạn rành mạch trong nhật thứ của Liên Hiệp Quốc :

  • chuẩn bị báo cáo, thống nhất báo cáo từ nội dung tới nhật thứ,
  • hoàn thành báo cáo, từ xuất hành tới xuất bản chính thức báo cáo,
  • khảo sát báo cáo, với các dữ kiện cụ thể trên từ chứng từ tới chứng tích,
  • kiểm định báo cáo, với các kết luận cụ thể trên từ đề nghị tới chứng tích,
  • thực hiện báo cáo, đưa tính khả thi của báo cáo vào thực tế.

Nhân ngôn mở cửa cho nhân ngữ cụ thể qua công pháp của Liên Hiệp Quốc, quá trình năm giai đoạn này là một quá trình mở, không sơ cứng, không khép kín, vì Liên Hiệp Quốc thực hiện các hành tác sau đây :

  • Giúp các chính quyền thực hiện báo cáo của họ theo công pháp nhân quyền.
  • Tạo tiếng nói trực tiếp của xã hội dân sự ngay tại công đoạn chuẩn bị báo cáo.
  • Tiếp nhận trực tiếp các chứng từ, chứng thư, chứng tích ngay công đoạn chuẩn bị báo cáo.
  • Tạo điều kiện cho các chính quyền đối thoại với xã hội dân sự trong quốc gia của họ để minh bạch hóa các dữ kiện về tình hình nhân quyền tại chỗ.

Từ giai đoạn chuẩn bị báo cáo tới giai đoạn hoàn thành báo cáo của mỗi quốc gia, thì quá trình mở này thật sự thông minh khi nó chính là quá trình học tập đạo lý tôn trọng nhân quyền, nơi mà :

  • Các Bộ, Ngành trong một chính phủ, cùng nhau trao đổi để thực hiện một báo cáo vừa chỉnh lý, vừa toàn lý.
  • Chính phủ được gặp gỡ và đối thoại với xã hội dân sự để làm tốt hơn, hay hơn các chính sách tôn trọng nhân quyền.
  • Các công chức có chức quyền, các cán bộ cao cấp được tiếp nhận để tiếp thu các công pháp nhân quyền, khi mà trong nhiệm vụ hằng ngày chưa chắc họ đã nhận vấn đề nhân quyền ngay trong sinh hoạt hằng ngày của họ.

Không những là một quá trình mở, mà năm giai đoạn báo cáo (chuẩn bị báo cáo, hoàn thành báo cáo, khảo sát báo cáo, kiểm định báo cáo, thực hiện báo cáo) tạo ra được các cơ hội để chính quyền và xã hội dân sự, cùng các hội đoàn, công đoàn, đảng phái, tôn giáo… được gặp nhau cùng với cơ hội được gặp gỡ và trao đổi với Liên Hiệp Quốc.

Nhân hành

Nhân ngôn mở cửa cho nhân ngữ, để cả hai chung sức mở ra nhân hành, tại đây lý trí làm nên trí tuệ, để cả hai làm nên tuệ giác trên sự cẩn trọng của Liên Hiệp Quốc. Vì sau khi tiếp thu các báo cáo nhân quyền của một chính quyền đại diện các quốc gia mà họ đang cầm quyền, thì chính Liên Hiệp Quốc có sáng suốt để tỉnh táo tự lập ra : báo cáo song song (rapport parallèle) cạnh các báo cáo của các chính quyền. Trong báo cáo song song của mình, thì Liên Hiệp Quốc có nhiều động thái cùng hành tác phong phú :

  • Đề nghị phản biện đối với báo cáo nhân quyền của một chính quyền.
  • Đề nghị cải cách tình hình nhân quyền của một chính quyền.
  • Đề nghị cải tổ các chính sách quốc nội để nhân quyền được tôn trọng hơn.

Nhân ngôn mở cửa cho nhân ngữ, để cả hai chung sức mở ra chân trời mới cho nhân hành, tại đây khi các công dân được biết, được hiểu là nhân quyền được Liên Hiệp Quốc tức là được thế giới bảo vệ và bảo hộ, thì mỗi công dân đã có các điều kiện thuận lợi để đi trên con đường của chủ thể :

  • Tiếp nhận nhân quyền, vừa để hưởng và vừa yêu cầu chính quyền của quốc gia của mình phải bảo đảm nhân quyền cho cá nhân mình.
  • Tiếp thu nhân quyền, với báo chí từ thông tin tới truyền thông, yêu cầu chính quyền của quốc gia của mình phải bảo trì nhân quyền một cách rộng rãi nhất.
  • Tiếp đón nhân quyền, thì xã hội dân sự cùng các hội đoàn, công đoàn, đảng phái, tôn giáo… yêu cầu chính quyền của quốc gia của mình phải bảo vệ nhân quyền ngay trong tam quyền phân lập qua hành pháp, lập pháp và tư pháp.

Liên minh nhân ngôn-nhân ngữ-nhân hành làm nên sức mạnh của nhân quyền ngay trong các giai đoạn hình thành báo cáo tại Liên Hiệp Quốc, vì ngay trên thượng nguồn của các báo cáo đã có đa nguồn, không những của chính quyền, chính phủ, các Bộ, các Cục, các Vụ… mà còn có xã hội dân sự với sự có mặt của các hội đoàn, công đoàn, đảng phái, tôn giáo… vậy thì :

  • Các báo cáo này tự động và tự nhiên trở thành sinh hoạt nhân quyền của một quốc gia, một dân tộc, và tại đây ai cũng có tiếng nói, tức là nhân ngôn, nhân ngữ của mình.
  • Các thành viên trách nhiệm báo cáo nhân quyền của mỗi quốc gia, không những làm việc theo yêu cầu của của chính quyền, chính phủ của họ phải lắng nghe và ghi nhận tiếng nói, tức là nhân ngôn, nhân ngữ của xã hội dân sự.

Như vậy, năm giai đoạn báo cáo (chuẩn bị báo cáo, hoàn thành báo cáo, khảo sát báo cáo, kiểm định báo cáo, thực hiện báo cáo) là một quá trình trong đó :

  • Các báo cáo là quá trình tiếp thu và ghi nhận của toàn thể các thành phần xã hội, từ đoàn thể tới công đoàn, từ đảng phái tới công dân ; một báo cáo liêm chính là một báo cáo đa nhân và đa diện, đa chứng và đa luận.
  • Các báo cáo của một chính quyền, phải đóng đầy đủ vai trò lắng nghe để tiếp nhận các thông tin, các dữ kiện, các kinh nghiệm trên phạm trù nhân quyền.
  • Các báo cáo là nơi mà xã hội dân sự thể hiện vai trò chủ thể, để chủ động trên mọi sinh hoạt xã hội, từ đó đưa ra các chứng từ, chứng thư, chứng tích, chứng nhân ở tất cả mọi nơi mà nhân quyền bị đe dọa, bị xúc phạm.

Nhân thực

Thực tế của nhân sự để bảo vệ nhân quyền có thực tiễn về thời gian và không gian, cụ thể :

h  Từ khi tiếp nhận báo cáo quốc gia về nhân quyền tới khi trực tiếp thảo luận ngay tại Liên Hiệp Quốc về tính xác thực của báo cáo, thì thời gian là một năm ; trong giai đoạn một năm sẽ cố nhiều sự cố và biến cố về nhân quyền. Cụ thể là năm 2019, chính quyền độc đảng công an tại Việt Nam trị đã cầm tù rất nhiều các nhà hoạt động vì dân chủ và nhân quyền, và số lượng tù nhân lương tâm năm 2019 cao hơn các năm trước.

h  Khi phái đoàn đại diện cho một chính quyền phải trực diện với Cao ủy cố vấn nhân quyền để bảo vệ báo cáo của mình, thì có một quan sát viên khách quan, không phải là người của chính quyền này, có thể đưa ra những nhận định, những luận điểm khác hoặc ngược với phái đoàn đại diện của một chính quyền

h Khi phái đoàn đại diện cho một chính quyền phải đối thoại với Cao ủy cố vấn nhân quyền để bảo vệ báo cáo của họ thì đối thoại này dựa trên các yêu cầu, các đề nghị để cải tổ nhân quyền trong quốc gia đó, chứ đây không phải là tòa án với một bên là bị can và một bên quan tòa.

Nhưng tổ tiên Việt đã dặn con cháu là : "có tật giật mình", thì đây là phong cách bị động trong phòng ngự mà ta thường thấy qua phái đoàn của chế độ công an trị phản nhân quyền của Việt Nam hiện nay. Họ khuấy lên các chiêu thức thấp kém -nên thấp hèn- của loại "vừa ăn cướp, vừa la làng", với các luận điệu : "an ninh quốc gia", "các lực lượng thù địch" ; "Việt Nam không có tù nhân lương tâm"… một loại ngụy biện trơ tráo của một chính quyền không có chính nghĩa để làm nên chính tín của nó.

Khi Liên Hiệp Quốc qua Cao ủy cố vấn nhân quyền khảo sát để phân tích tính xác thực báo cáo quốc gia thì thời gian và không gian của đối thoại là một quy trình của làm nên luận, biết dựa trên dữ kiện, chứng từ, sự cố… nhưng luôn có tính tích cực để xây dựng, chớ không phải để đả phá, chỉ trích, buộc tội… Đối thoại này giúp một chính quyền chưa tôn trọng nhân quyền phải biết-cách-để-có-cách làm tốt hơn, hay hơn, lành hơn… Trong đối thoại để đối luận dẫn tới kết luận, và trong kết luận của mình, Liên Hiệp Quốc không dễ dãi thỏa hiệp với bất cứ chính quyền nào, chính Liên Hiệp Quốc đề nghị các chính quyền sau khi tiếp thu các ý kiến tích cực để nhân quyền phải được bảo vệ, thì các chính quyền phải dịch ra ngôn ngữ quốc gia của họ rồi phổ biến rộng rãi trong toàn xã hội, để từ công dân tới công đoàn, từ đảng phái tới xã hội dân sự, như là phái đoàn báo cáo của chính quyền được tiếp thu ngay tại Liên Hiệp Quốc. Mọi chính quyền, như chính quyền độc đảng của Việt Nam hiện nay, không thực hiện từ dịch thuật tới phổ biến các yêu cầu nhân quyền của Liên Hiệp Quốc trên các báo đài và hệ thống truyền thông của họ, thì chính quyền này là bất minh nên bất tín vừa với Liên Hiệp Quốc, vừa với dân tộc của mình.

Nhân uy

Khi những nhận định cùng đề nghị của Liên Hiệp Quốc qua Cao ủy cố vấn nhân quyền tới tay xã hội dân sự, thì chính xã hội dân sự phải chủ động tạo sức ảnh hưởng, sức lan tỏa của các nhận định, các đề nghị của Liên Hiệp Quốc, vì đây vừa là vai trò, vừa là sức mạnh của xã hội dân sự. Khi được làm việc như cố vấn của Liên Hiệp Quốc từ nhiều năm qua, tôi nhận ra hùng lực của xã hội dân sự, mà tôi tạm gọi tên là : chủ thể tiếp cận thân thiết. Các đồng nghiệp của tôi, có thể không đồng ý về khái niệm này, nhưng riêng tôi thì thấy rõ là :

h  Uy tín của xã hội dân sự tại Liên Hiệp Quốc cao hơn, lớn hơn, rộng hơn các bạo quyền toàn trị độc tài ngày ngày vi phạm nhân quyền.

h  Uy lực của xã hội dân sự tại Liên Hiệp Quốc song hành cùng chữ tín, chữ tri, chữ nhân, chữ từ, chữ tâm… mà các bạo quyền toàn trị độc tài không có.

h  Uy dũng của xã hội dân sự có trong mắt thấy tai nghe làm nên nhân chứng xác thực, có nhân đạonhân vịnhân quyền song hành cùng sự can đảm tố cáo các tội phạm, tội nhân, tội đồ mà các bạo quyền toàn trị độc tài đang che dấu.

Nên chủ thể tiếp cận thân thiết, chính là thuật ngữ nói lên sự đồng cảm của Liên Hiệp Quốcxã hội dân sự đồng hội, đồng thuyền với các nạn nhân, các chứng nhân về các vi phạm nhân quyền :

h  Cả hai đều là chủ thể có bổn phận với nhân loại, có trách nhiệm với nhân quyền, cùng có một chân trời, cùng nhìn về một hướng, cùng đi về một chân trời của nhân phẩm, đây là một trong những định nghĩa về chủ thể.

h  Cả hai có chung một mục đích, một chân trời là bảo vệ nhân quyền nên có chung điểm hội, điểm hẹn, điểm tụ, điểm đến với nhân quyền, đây là một trong những định nghĩa có tính giáo lý của phạm trù tiếp cận.

h  Cả hai có chung một hoài bão vị nhân quyền, có chúng một lý tưởng vì nhân đạo, đồng cảm nên đồng thanh, tương ứng nên tâm giao trong đắc khí, đây là một trong những định nghĩa tâm cảm của phạm trù thân thiết.

Các đề nghị cũng như các khuyến cáo của Liên Hiệp Quốc qua Cao ủy cố vấn nhân quyền tới với một chính quyền có văn phong của ngôn ngữ ngoại giao tích cực để xây dựng, không buộc tội cũng không mỵ dân, nên nó cũng là văn bản có tính định hướng -hay, tốt, lành- cho xã hội dân sự, cho đoàn thể, cho đảng phái, cho công đoàn… Văn bản nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, sau khi tiếp nhận báo cáo quốc gia, nó đóng góp cụ thể để phân tích các khuyết điểm, đã làm nên khuyết tật về nhân quyền trong một chính quyền. Nó cũng sáng suốt phân tích luôn các nhược điểm về nhân quyền của xã hội dân sự, của đoàn thể, của đảng phái, của công đoàn ngay trong quyền hạn của mình.

Nhân uy với sự có mặt qua các văn bản nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, tạo lên được một quan hệ mới với các chính quyền độc tài toàn trị, vì nếu các chính quyền này bất chính lại bất tín vừa với dân tộc của họ, vừa với Liên Hiệp Quốc thì các chính quyền này sẽ không có chỗ đứng ghế ngồi bền vững tại Liên Hiệp Quốc, rồi cũng sẽ không có đường đi nẻo về trên chính quê hương của mình. Vai trò của xã hội dân sự ngày càng đi vào tâm điểm của nhân quyền, khi chính xã hội dân sự đề nghị chính quyền quốc gia phải cải tổ, cải cách để phù hợp với yêu cầu, đề nghị, khuyến cáo của Liên Hiệp Quốc. Phạm trù nhân uy càng rõ nét khi chính văn bản nhân quyền của Liên Hiệp Quốc"bùa hộ mệnh" của xã hội dân sự, của đoàn thể, của công đoàn… trước bạo quyền công an trị, như Việt Nam hiện nay.

conscience6

Nhân kiện

Liên Hiệp Quốc, trung tâm bảo vệ nhân quyền, biết tiếp nhận các đơn kiện cáo của một cá nhân, một đoàn thể, một cộng đồng trực tiếp tố cáo và kiện tụng các chính quyền bất tuân nhân quyền. Một cá nhân nếu là đã nạn nhân bị đe dọa, đàn áp, tra tấn, tù đày… bởi một chính quyền không tôn trọng nhân quyền, chỉ cần gởi một lá đơn tố cáo với danh tánh, lý lịch cùng các chứng từ và nêu rõ tội danh và tội phạm của thủ phạm và chủ mưu vi phạm nhân quyền ; thì Cao ủy cố vấn nhân quyền sẽ nhận và xét đơn mà hiệu quả sẽ tới với quá trình công pháp sau đây :

h Liên Hiệp Quốc yêu cầu chính quyền thành viên đang là thủ phạm vi phạm nhân nhân quyền phải tôn trọng tất cả các điều lệ mà chính quyền này đã cam kết với Liên Hiệp Quốc.

h Cao ủy cố vấn nhân quyền tiếp nhận các đơn từ cá nhân rồi chuyển cho vụ, ban chuyên môn về các vi phạm nhân quyền khác nhau (lao động, kinh tế, hình sự, thiếu nhi…) để có nhận định chính sát về bản chất của vi phạm.

Đây là một quá trình vừa là pháp lý, vừa là thể nghiệm cấp quốc tế, để làm rõ bản chất của các chính quyền thành viên của Liên Hiệp Quốc. Một chính quyền liêm chính thì tuân thủ rành mạch các điều lệ của Liên Hiệp Quốc, sẽ xử lý tới nơi tới chốn các vi phạm nhân quyền ngay trên lãnh thổ của mình. Một chính quyền bất chính thì tháo lui hoặc tránh né không những các điều lệ của Liên Hiệp Quốc, mà cả các thông tin về các đơn kiện tụng của các nạn nhân mà Cao ủy cố vấn nhân quyền trực tiếp thông báo cho nó. Từ đây sẽ lộ rõ một chính quyền bất chính sẽ được xem và xét như chính quyền bất tín không những đối với Liên Hiệp Quốc mà còn để lộ cái bất nhân của nó trước cả thế giới. Tổ tiên Việt không lầm khi trao giáo lý cho con cháu Việt nhận diện ra kẻ gian vì tà : thưa ông tôi ở bụi này, để nhận ra kẻ xấu vì ác : cháy nhà ra mặt chuột !

Khi Cao ủy cố vấn nhân quyền của Liên Hiệp Quốc nhận đơn tố tụng thì hồ sơ của nạn nhân được hình thành sau khi kết luận là nạn nhân đã vận dụng hết tất cả quá trình tố tụng tại địa phương, tại quốc gia nơi mình là nạn nhân. Nhưng khi một chính quyền vi phạm nhân quyền không tuân thủ những điều lệ nhân quyền của Liên Hiệp Quốc khi họ là thành viên, thì Liên Hiệp Quốc sẽ có ít nhất năm biện pháp đối với loại chính quyền này :

h  Nhắc nhở chính quyền vi phạm nhân quyền bằng chính văn bản nhân quyền của Liên Hiệp Quốc.

h  Gởi trực tiếp yêu cầu của Liên Hiệp Quốc qua thư tín để yêu cầu chính quyền vi phạm nhân quyền phải thay đổi cách hành xử của nó đối với nạn nhân.

h  Yêu cầu của Liên Hiệp Quốc được thăm hỏi các nạn nhân để có những nhận thức thực địa chính xác.

h  Yêu cầu của Liên Hiệp Quốc được gặp gỡ đại diện các hội đoàn của xã hội dân sự để có thêm chứng từ, chứng tích, chứng nhân.

h  Nhắn nhủ chính quyền vi phạm nhân quyền bằng các dữ kiện mới, chứng từ mới cũng như những tri thức mới, được cập nhật để yêu cầu trực tiếp chính quyền vi phạm nhân quyền phải thay đổi bằng các chính sách mới tích cực về nhân quyền.

Trước những vi phạm nhân quyền trầm trọng như tra tấn tù nhân, Liên Hiệp Quốc có những điều tra mật tín (enquêtes confidentielles) để minh xác bằng sự thật qua thực địa, để lập ra báo cáo đặc biệt về điều kiện lao lý, mà trường hợp của Việt Nam hiện nay là thí dụ rất cụ thể : nhà tù là nơi mà các tù nhân lương tâm gọi là địa ngục trần gian.

Nhân lý

Nhân quyền là một quá trình lịch sử các chiến thắng của nhân lý, tại đây không có chiến thắng cuối cùng mà chỉ có quá trình đấu tranh liên tục, liên hồi để nhân quyền được cải thiện rồi hoàn thiện ở mọi nơi, trong sinh hoạt chính trị và kinh tế, trong quan hệ văn hóa và giáo dục, ngay trong đời sống xã hội… Nên nhân quyền luôn là chân trời mang tính phổ quát để nhân phẩm được bảo vệ trong công bằng của công lý. Khi nhân lý vận dụng công lý để bảo vệ công bằng lẫn tự do, thì ranh giới nhân lý vì công bằngnhân quyền vì công lý không còn nữa. Sau khi thành lập Liên Hiệp Quốc, thì hùng lực phổ quát của nhân quyền đã có mặt như công pháp trong các liên minh của các quốc gia có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền mà Liên Hiệp Châu Âu là thí dụ điển hình, tại đây có hai cơ quan tối cao :

h  Tòa Án Công Lý của Liên Hiệp Châu Âu (La Cour de Justice de l’Union Européenne).

h  Tòa án Châu Âu về nhân quyền (La Cour européenne des Droits de l’Homme).

Đây chính là liên minh của hệ công (công bằng, công lý, công pháp) mà chính quyền toàn trị độc đảng hiện nay của Việt Nam, vẫn ngày ngày vi phạm nhân quyền, mà các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không có tâm lẫn không có tầm để nghiên cứu về quyền năng của hai cơ quan tối cao. Tháng 2, năm 2020, khi chính quyền của Đảng cộng sản Việt Nam vui mừng trong hí hửng về Hiệp định tự do thương mại giữa Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam, thì họ chỉ nhốn nháo qua các luận điệu thương mại, nơi mà chính quyền của Đảng cộng sản Việt Nam xem Liên Hiệp Châu Âu như là một thị trường, một công cụ xuất nhập khẩu của họ. Mà họ quên hẳn đi Châu Âu là quê hương của tuyên ngôn nhân quyền, có văn minh dân chủ, có văn hiến nhân quyền lâu đời và luôn lấy nhân quyền làm nguyên tắc cho nhân bảnnhân sinh.

Nhân lý vì nhân quyền không hề là lý lẻ của tính toán thương mại, tự xem tha nhân như công cụ để mình làm giầu. Nhân lý không hề là con toán của cân, đo, đong, đếm giữa hợp tác quốc tế và tự lợi của riêng một đảng cầm quyền. Ngược lại, nhân lý có nhân lộ là niềm tin về công bằng vì nhân quyền, để vững tin về công lý biết bảo vệ nhân phẩm. Không có niềm tin để vững tin thì sẽ đánh mất chính giá trị nhân quyền của mình và của đồng loại. Nhận thức của nhân lý vì nhân quyền chuyển tải các nguyên tắc chủ lực sau :

h Nguyên tắc của nhân lý vì nhân quyền có chính danh khi dùng công lý bảo vệ nhân phẩm qua nhân lộ của nhân quyền.

h Nguyên tắc của nhân lý vì nhân quyền vượt thoát thần quyền trên số phận con người nhưng vẫn tôn trọng tôn giáo.

h Nguyên tắc của nhân lý vận dụng nhân quyền để bảo vệ tự do cá nhân, nơi mà mỗi cá nhân có nhân quyền trọn vẹn, và không là nạn nhân của gia đình, thân tộc, tập thể, cộng đồng nhất là của các bạo quyền đe dọa, đàn áp, tra tấn, hãm hại cá nhân.

Nhân lý vì nhân quyền luôn đi xa, lên cao, nới rộng, vào sâu về quyền làm người bằng chính nhân vị, trong đó cá nhân, gia đình, thân tộc, tập thể, cộng đồng, yêu cầu xã hội phải bảo vệ nhân phẩm của mình. Từ đây xuất hiện quan hệ giữa nhân lý vì nhân quyền, cấu trúc quyền lựctổ chức xã hội của một quốc gia, một dân tộc :

h Một chính quyền liêm chính là một chính quyền nhận quyền lực phục vụ nhân quyền để bảo đảm nhân phẩm cho các công dân của mình.

h Một tổ chức xã hội có nhân lý biết lấy nhân quyền làm gốc, rễ, cội, nguồn cho mọi quan hệ xã hội, sinh hoạt xã hội, đời sống xã hội.

Như vậy, nhân lý vì nhân quyền đặt nhân phẩm lên cao, và đặt đúng chỗ thần quyền trong không gian tôn giáo, đưa nhân vị của tự do cá nhân vào nhân lộ của nhân quyền, cùng lúc nhân lý vì nhân quyền đặt nền cho quan niệm chính đáng trong liêm chính của không gian quyền lực, nơi mà chính tổ chức xã hội cũng phải dựa trên nhân quyền để tồn tại trong chính danh.

Nhân tự

Thuật ngữ "nhân tự" đưa ra định đề : nội chất của nhân tính là tự do, chính tự do sẽ đóng vai trò chủ đạo trong nhân lý qua các cuộc đấu tranh vì nhân quyền.

Từ Tuyên ngôn Nhân quyền tại Pháp quốc tới thực thể nhân quyền trong các quốc gia có văn minh dân chủ, tự do luôn là gốc, rễ, cội, nguồn từ nhận định đến phân tích, giải thích để giải luận về nhân quyền. Thí dụ cụ thể có trong tuyên bố ngày 6 tháng Giêng năm 1941 của tổng thống Roosevelt, tại đây nhân quyền bắt đầu bằng bốn tự do cơ bản, là một liên minh chủ lực để xây dựng nhân vị trong nhân quyền :

h Tự do biểu đạt, từ phát biểu chính kiến cá nhân tới tự do hội họp, tự do báo chí có cùng tự do đòi hỏi, tự do biểu tình, tự do xuống đường… nơi mà tự do nói lên được hoài vọng cùng hoài bão được làm người một cách chính đáng nhất.

h Tự do tôn giáo, nơi mà tôn giáo phải được tôn trọng một cách đầy đủ nhất, vì nơi đây con người đã gởi gấm không những tín ngưỡng của mình vào các đấng được xem là linh thiêng mà đó là nơi mà niềm tin con người được hun đúc, được rèn luyện bởi những giá trị rất thiêng liêng của nhân sinh.

h Tự do được sống mà không bị đời sống vật chất đe dọa, đây là phạm trù của tự do biết vượt lên các sức ép của kinh tế, các áp đặt của tài chính, không những biến con người phải lệ thuộc vào cơm, áo, gạo, tiền ; mà còn biến con người thành con vật trong các chế độ độc tài, độc đảng dùng vật chất để tha hóa nhân cách, nhân vị, nhân quyền.

h Tự do được sống mà không sợ bất cứ một bạo lực nào, tự do phát huy trong tự duy để được phát triển qua các hành động cụ thể đấu tranh vì nhân quyền, mà không sợ bị đàn áp, không sợ bị tù đày, không sợ bị hãm hại, không sợ bị trù dập bởi bất cứ một chính quyền nào, một tập thể nào, một cộng đồng nào.

Liên minh Tự do biểu đạt-Tự do tôn giáo-Tự do được sống mà không bị đời sống vật chất đe dọa-Tự do được sống mà không sợ bất cứ một bạo lực nào chính là điểm hẹn mà cũng là dàn phóng của tự do :

h Con người phải vượt qua khó khăn, trở ngại của chén cơm manh áo để đấu tranh cho tự do, vì tự do mang giá trị nhân tri và nhân trí cao, sâu, xa, rộng hơn chuyện giá áo túi cơm.

h Con người phải vượt qua sự sợ hãi trước bạo quyền, vì chính bạo quyền rất sợ sung lực của tự do biết biến thành hùng lực trong đòi hỏi, trong đấu tranh, trong nổi loạn… Chính bạo quyền vẫn ngày đêm mất ăn mất ngủ nếu phải đối diện, chạm đầu, va trán với mãnh lực của tự do, nhất là tự do không vì vị kỷ, không vì ích kỷ, không vì tự lợi, mà tự do vì nhân quyền trong nhân phẩm.

Nói người rồi nghĩ tới ta, xem xét lại bốn tự do cơ bản của các quốc gia có văn minh dân chủ, có văn hiến nhân quyền thì hãy kết luận rành mạch là dưới chế độ độc đảng hiện nay mà Đảng cộng sản Việt Nam áp đặt lên nhân kiếp của Việt tộc thì dân tộc Việt, xã hội Việt không có tự do ! Và nhân quyền không được tôn trọng ! Vì chế độ toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam mang thực chất của nó là hoàn toàn chống tự do và phản nhân quyền, bằng hành động độc quyền, bằng hành tác độc tài của nó qua :

h Bạo quyền độc đảng dùng công an trị để truy hiếp nhân tâm Việt, nhân từ Việt.

h Tà quyền tham quan dùng tham ô, tham nhũng để tiêu hủy nhân tính Việt, nhân lý Việt.

h Ma quyền tham tiền dùng tiền tệ và quan hệ để xóa trừ nhân nghĩa Việt, nhân đạo Việt.

h Cực quyền độc trị dùng khủng bố, đàn áp, sát hại… để vùi dập nhân tri Việt, nhân trí Việt.

h Cuồng quyền độc tôn dùng vu cáo, tù đày, lao lý để tẩy khử nhân vị Việt, nhân bản Việt.

Nhân pháp

Khi lập luận nhân quyền đã đặt lại đúng chỗ cho thần quyền, nơi mà thượng đế trở về lại với không gian tôn giáo, để nhân phẩm được xác nhận và thăng hoa ngay trong nhân quyền. Nhưng trong lịch sử của các thế kỷ gần đây, thì lý luận của nhân pháp là vận dụng công lý để tận dụng công pháp mà bảo vệ nhân quyền, luôn bị chỉ trích rồi tấn công, luôn bị xuyên tạc rồi vu khống, luôn bị công kích rồi chụp mũ bởi các chế độ của hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn). Vì công pháp của nhân quyền ngày càng được công nhận thì các bạo quyền công an trị ngày càng mắc cạn ; khi công lý của nhân quyền ngày càng được trân trọng thì các tà quyền tham nhũng trị ngày càng bị đứt hơi ; lúc công bằng trong nhân quyền ngày càng được minh định thì các ma quyền tham tiền trị ngày càng lún bùn trong bóng đêm của chính chúng. Nhân pháp làm chính danh cho pháp luật vì nhân quyền được lan tỏa dưới ánh sáng của lẽ phải, thì bạo quyền công an trị, tà quyền tham nhũng trị, ma quyền tham tiền trị kiểu chế độ độc đảng của Đảng cộng sản Việt Nam ngày càng phải lui vào hầm hố của âm binh.

Khi nghiên cứu về nhân sử làm nên nhân quyền hiện nay, ta nên phân biệt ba giai đoạn khác nhau của quá trình đấu tranh vì nhân quyền :

h Giai đoạn khai sinh tuyên ngôn nhân quyền từ cách mạng tại Pháp, xóa đi chế độ phong kiến để khẳng định chủ quyền của dân tộc, chấm dứt không những vai trò thần quyền trong chính quyền, mà chấm dứt luôn quan niệm làm nên cấu trúc của phong kiến qua cha truyền con nối.

h Giai đoạn của tự do thương mại trong phát triển kinh tế, xác nhận tự do cá nhân song hành cùng tự do lao động và kinh doanh, cho xuất hiện tư bản chủ nghĩa với tự do cạnh tranh.

h Giai đoạn của công pháp quốc tế vì nhân quyền, là thực thể của hùng lực toàn cầu lấy công lý để lập quan hệ quốc tế, vì biết lấy công bằng để bảo vệ nhân quyền từ cá nhân tới tập thể, từ cộng đồng tới dân tộc, tất cả tạo nên sung lực lan tỏa của dân chủ vì nhân quyền và nhân quyền vì dân chủ.

Khi ta tổng kết được lịch sử của nhân quyền, ta sẽ nhận ra quá trình tiến bộ của của nhận thức nhân quyền, chính là chủ đề của tiểu luận này :

h Nhận thức nhân quyền đi từ một quan niệm chính đáng về tiến bộ vì quyền làm người, trong đó nguyên tắc của nhân quyền là nền tảng cho mọi tổ chức xã hội muốn có văn minh của dân chủ, văn hiến của nhân quyền.

h Nhận thức nhân quyền đi từ tính phổ quát về quyền làm người tới quy luật bảo vệ tự do cá nhân như tự do căn bản nhất, để nhận ra bản chất của một tập thể, một cộng đồng, một chế độ về cách hành xử biết tôn trọng nhân quyền của của cá nhân này.

h Nhận thức nhân quyền đi từ tổ chức xã hội có công bằng được bảo vệ bằng công lý tới một chính quyền tôn trọng nhân quyền để trong một chế độ dân chủ với nhân sinh quan tử tế vì nhân quyền từ gia đình tới dân tộc, từ văn hóa tới giáo dục, từ kinh tế tới thương mại… để bảo đảm một thế giới quan đứng đắn từ quan hệ quốc tế tới hợp tác quốc tế, trong đó nhân quyền là nền tảng mà cũng là động cơ.

Khi sự tương tác của ba nhận thức nhân quyền này được giải luận, chúng ta nhận ra nhân quyền là cội rễ của sinh hoạt xã hội có nhân bản, của quan hệ xã hội có nhân văn, của đời sống xã hội có nhân phẩm.

conscience7

Nhân trọng

Thực thể nhân quyền luôn bị tấn công và công kích ngay bên trong hành tác của nó khi nó bảo vệ tuyệt đối tự do cá nhân, phạm trù nhân trọng được đề nghị trong tiểu luận này, đưa thuật ngữ nhân trọng vào ngữ pháp của tự trọng :

h Tự trọng giữ gìn tự do, nơi mà tự do tạo nên tự tin để đi tới tự chủ mà củng cố tự trọng, nếu tự do muốn bảo vệ tự trọng thì tự do phải biết tự giới hạn tự do của cá nhân trước tự do của tha nhân, của đồng loại.

h Tự trọng sẽ tự tan biến đi khi tự do tuyệt đối của một cá nhân đe dọa và trấn áp một tự do khác, tự do của tha nhân, tự do của của đồng loại ; tại đây tự do cá nhân sẽ tự cô lập mình vì chính nó đánh mất đi chính nghĩa của công bằng trước tha nhân, trước đồng loại.

Câu chuyện nhân trọng này luôn là thử thách thường xuyên trong hành tác nhân quyền, nơi mà nó luôn gặp ít nhất ba trở lực đe dọa nhân phẩm ngay trong nhân quyền :

h Chủ nghĩa tự do cá nhân sinh ra chủ nghĩa ích kỷ của cá nhân, từ thái độ ai chết mặc ai tới cách hành xử bây chết mặc bây, đây chính là hiểm họa của nhân quyền chứ không phải chiến thắng của nhân quyền.

h Chủ nghĩa cạnh tranh kinh tế mà thực tế không những kẻ giàu ngày càng giàu hơn, người nghèo ngày càng nghèo hơn, với bất bình đẳng ngày càng nhiều, ngày càng sâu, mà còn có cả thảm trạng người bóc lột người. Chế độ nô lệ trong xã hội không còn nữa nhưng chế độ nô lệ trong lao động vẫn còn, với chủ bóc lột người làm công như súc vật, như máy móc, phải làm và chỉ làm mà không được nghỉ ngơi.

h Chủ nghĩa sở hữu tài sản, xuất hiện trong các quốc gia nơi mà chỉ có vài gia đình mà lại nắm trong tay đa số tài sản, tài nguyên, tài chính của một dân tộc ; nơi mà toàn cầu hóa hiện nay cũng là toàn cầu hóa của bất công về tài sản chung của nhân loại với khoảng trên dưới 30 gia đình đã giữ trong tay lượng tài sản hơn cả 3 tỷ cá nhân đang có mặt hiện nay trên thế giới.

Thuật ngữ nhân trọng tại đây là đề nghị đôi, nơi mà nhân quyền phải song hành cùng :

h Nhân bản, nhân văn biết tự trọng, vì biết tôn trọng tha nhân và đồng loại.

h Nhân tri, nhân trí biết tự trọng, vì biết cẩn trọng bảo vệ tha nhân và đồng loại.

Khi nhân trọng này có tự trọng nên cẩn trọng ngay trên tự do cá nhân thì :

h Chính quyền phải bảo vệ tự do của công dân.

h Nam giới phải bảo vệ tự do trong nam nữ bình quyền.

h Mọi công dân phải bảo vệ tự do của các công dân đồng tính

Phạm trù nhân trọng cũng biết tránh xa sự lạm phát ngôn ngữ luôn vận dụng ngữ pháp nhân quyền để tiếp tục lạm phát ngay trên các lãnh vực không thuộc về nhân quyền :

h Quyền thiên nhiên, thay vì phải chỉ cần phát biểu rõ qua bảo vệ thiên nhiên, môi trường, môi sinh.

h Quyền thú vật thay vì phải chỉ cần phát biểu rõ qua bảo vệ thú vật.

Nhân chủ

Khi phạm trù nhân quyền dùng luật pháp để bảo vệ quyền lợi của cá nhân, mà chính cá nhân này chỉ thấy tư lợi trong đời sống của nó, mà không thấy quyền làm người, tức là nhân quyền luôn cao, sâu, xa, rộng hơn tự lợi của cá nhân. Từ đây, cá nhân trong quá trình nhân trọng phải trở thành chủ thể đôi :

h Chủ thể luật pháp vì nhân quyền, nơi mà xã hội tôn trọng nhân quyền bằng công pháp có thể xử và phạt cá nhân khi tư lợi của cá nhân này đe dọa và gây thiệt hại cho xã hội.

h Chủ thể văn minh vì nhân quyền, đưa cá nhân vào quỹ đạo biết tôn trọng luật pháp, cùng lúc vượt lên phạm trù thuần túy của luật pháp, ngay trong quan hệ xã hội, mà không cần sự hiện diện của luật pháp, trong đó cách đối nhân tử tế trong xử thế đàng hoàng, với sự thông minh đứng đắn biết tôn trọng lẫn nhau.

Sự hình thành chủ thể đôi này (chủ thể của luật pháp, chủ thể của văn minh) chính là sung lực của nhân quyền không chỉ biết dựa trên luật pháp, mà còn vận dụng thường xuyên cách hành xử văn minh trong thông minh vì biết tôn trọng lẫn nhau trong cuộc sống chung. Khi nhân quyền đưa cá nhân có bản lĩnh của chủ thể, thì chủ thể này :

h Có chủ quyết trong hành tác bảo vệ quyền lợi của mình bằng cách tiếp cận không những qua lao động mà còn qua kinh tế, trong đó cá nhân công nhận sự có mặt của thị trường, mà cũng là nơi mà tự do cạnh tranh hiện hữu.

h Có chủ động trong hành tác bảo vệ quyền lợi của nhân quyền, khi nhân quyền bảo vệ chủ quyền theo nghĩa chính đáng vì cá nhân, mà cũng theo nghĩa rộng mở nhất vì tập thể, vì cộng đồng, vì nhân loại.

Chủ thể có trợ lực của nhân quyền là chủ thể của ý thức :

h Chủ thể là thành viên của xã hội với đầy đủ điều kiện của kiến thức tri thức, về chế độ chính trị mà chủ thể đó hằng ngày sinh sống để chủ động từ nhận thức tới tỉnh thức trước bất bình đẳng, bất công mà mình và đồng loại phải gánh chịu.

h Chủ thể là thành viên của xã hội nhưng không công nhận thân phận nạn nhân trong xã hội đó, cụ thể là không chấp nhận bị xuyền xích bởi chế độ chính trị, ngày ngày vùi lấp quyền làm người của mình, không những bằng bạo quyền công an trị, mà cả bằng tà quyền tham nhũng trị, có đồng minh là ma quyền tham tiền trị.

Nhân quyền với chủ thể chính là công dân sống trong cùng một xã hội, nơi mà nhân quyền không thể chỉ định nghĩa bằng tự do cá nhân, mà phải bằng một phạm trù rộng hơn : sống chung vì muốn chung sống, tại đây chúng ta có đề nghị của :

h Arend, sống chung chỉ thực hiện được với những thành viên được tham khảo, được phát biểu, được quyết định chung với nhau về cách chung sống, nơi mà mọi thành viên này có cùng một ý thức thượng nguồn là ý thức có chung một công bằng, như nhau.

h Gauchet, sống chung qua thời gian nơi mà hiện tại được hưởng những tài sản của tổ tiên để lại để làm vững mạnh hơn hiện tại của một cộng đồng, khi mọi thành viên cùng nhau chia sẻ chung một số phận ; tại đây chủ thể quản lý tài sản của quá khứ vì muốn sống chung đã trở thành chủ thể quản lý số phận chung trong tương lai.

Nhân chủ là giá trị của nhân quyền được hiểu theo nghĩa chung (sống chung để chung sống) không hề tùy thuộc vào nghĩa riêng (sống riêng để riêng sống).

conscience8

Nhân tuệ

Sau khi đi trở lại lịch sử hình thành phạm trù nhân quyền, từ nhân chất để hiểu bản chất của nhân sinh tới nhân lệ vận dụng nhân học để hiểu ẩn số của hủ tục trá hình truyền thống, giả danh văn hóa mà xâm phạm và xâm hại nhân quyền. Khi phân tích từng bước của nhân sinh, để giải thích từng lộ trình của nhân loại qua các phạm trù giải luận : nhân biệt, nhân định, nhân nhiệm, nhân quyết, nhân ngô, nhân ngữ, nhân hành, nhân uy, nhân thuật, nhân kiện, nhân tự, nhân luận, nhân lý, nhân pháp, thì xin tôi được đề nghị phạm trù nhân tuệ. Nơi mà pháp, lý, trí, tuệ là một tổng thể đồng hành cùng tòa án lương tâm để cùng nhau bảo vệ nhân quyền.

Pháp lý tuệ giác, ngữ pháp của một phạm trù giải luận nơi mà lý luận của luật pháp nhập nội vào không gian của trí tuệlý trí được hướng dẫn bởi lý-lập-nên-luận, có tuệ giác đưa đường dẫn lối bởi tuệ-làm-ra-giác. Đây là một mô thức diễn luận của tri thức đã trở thành sự cảnh giác, được trợ lực bởi đạo lý tỉnh táo của nhân phẩm song hành cùng luân lý sáng suốt của nhân vị, cả hai làm nên đạo đức của nhân tâm, nhân từ, nhân nghĩa. Tại sao phải làm rõ phạm trù giải luận pháp lý tuệ giác ? Lý do chính đáng tới từ thực tế của bất công, khi tòa án không dụng công lý để bảo vệ công bằng, để nạn nhân của bất công phải lãnh chịu một bất công không chấp nhận được, đó là bất công tới từ tòa án là công cụ của bạo quyền, của tà quyền, của ma quyền. Vào đường cùng khi toà án chỉ là công cụ độc tài và độc quyền của độc đảng để nạn nhân của bất công phải gào lên : tòa án lương tâm sẽ xử chúng !

Nếu phạm trù tòa án lương tâm, chỉ có lương tâm làm quan tòa cho mỗi người, thì những kẻ lãnh đạo bạo quyền, hoạt náo tà quyền, điều hành ma quyền, chúng không hề có lương tâm, vì không biết lương trị là gì, chỉ vì không có lương thiện làm nên bởi nhân tâm, nhân từ, nhân nghĩa, nên chúng sẽ không biết gì về tòa án lương tâm. Trên lý luận về luân lý, thì đây là một loại bất công vừa về đạo lý vừa về pháp lý. Vì vậy, tòa án lương tâm phải được trợ lực bằng tuệ giác có nội lực của lý trí biết bảo vệ nhân tri, nhân trí ; có trí tuệ biết bảo trì nhân tính, nhân lý ; có tuệ giác biết bảo hành nhân tâm, nhân từ, nhân nghĩa.

Tất cả hệ nhân (nhân tri, nhân trí, nhân tính, nhân lý, nhân tâm, nhân từ, nhân nghĩa) này là định hướng, làm nên đường đi nẻo về cho nhân thế và nhân loại biết sống có nhân phẩm. Sung lực của pháp lý trí tuệ là dùng hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận) để bảo hộ cho hệ lương (lương tâm, lương tri, lương thiện) bằng hùng lực của hệ liêm (liêm chính, liêm khiết, liêm sỉ), cụ thể là biết khách quan hóa từ dữ kiện tới chứng từ, từ chứng tích tới chứng nhân, dùng trực luận để trao luận. Chỉ báo làm nên chỉ số của pháp lý tuệ giác, phải có :

h lý luận, song hành cùng bình luận sự kiện, dữ kiện,

h lập luận, song đôi cùng phân tích thông tin, truyền thông,

h  giải luận, song cặp cùng giải thích sự cố, biến cố,

h  diễn luận song lứa cùng trao luận.

Pháp lý tuệ giác, sẽ cao, sâu, xa, rộng hơn luật pháp hiện hành vì pháp lý tuệ giác luôn có chỗ dựa chắc, vững, bền, lâu của :

h Lý thuyết luận : khả năng vận dụng kiến thức mới để bồi đắp cho tri thức đang có.

h Phương pháp luận : khả năng tận dụng mọi phương pháp để phương pháp này biết bổ sung cho phương pháp kia.

h Khoa học luận : khả năng khách quan hóa các khám phá mới rồi phổ quát hóa bằng hệ thức (ý thức, kiến thức, tri thức, trí thức, nhận thức, tỉnh thức).

Từ giá trị của tự do, của công bằng, nhân quyền đã ngự trị như pháp lý tuệ giác của những đòi hỏi chung vì nhân phẩm cho nhân vị. Câu hỏi cuối cùng khi ta nghiên cứu về nhân quyền chính là chân trời chung mà cũng là chân trời mới với các định đề, định luận vừa cũ, vừa mới, nhưng nhân quyền chính là kho tàng mà chúng ta luôn cần khai quật lên để thấy đựơc các giá trị nhân bản mới biết làm mới nhân quyền, có phải chăng đây chính là tuệ giác của nhân quyền ?

Lê Hữu Khóa

(07/05/2020)

---------------------

lhk0 Lê Hữu Khóa

Giáo sư Đại học Lille

Giám đốc Anthropol-Asie

Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á

Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCOLiên Hiệp Quốc

Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa Paris

Thành viên hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Đông Nam Á

Hội viên danh dự ban Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới.

Các công trình nghiên cứu việt nam học của giáo sư Lê Hữu Khóa, bạn đọc có thể đọc và tải qua Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-trang thầy Khóa.

Published in Tư liệu

Thức ?

thuc3

Định đề của tiểu luận này có làm nền hệ thức, trên đó ta nhận ra những định luận :

h Kiến thức có từ kinh nghiệm hoặc từ học tập, có từ ngoại cảnh hay có từ tư duy biết lý luận, có từ tập luyện tới tinh luyện, có từ môi trường tới sự xuất hiện của tha nhân…

h Tri thức là sự hiểu biết từ dữ kiện tới chứng từ, từ kinh nghiệm học tập tới trải nghiệm với xã hội như khả năng biết xếp đặt theo thứ tự để tổ chức một trật tự cho kiến thức, mà từ xếp đặt tới xếp loại, tri thức còn là khả năng trật tự hóa những ưu tiên trước các thử thách của cuộc sống…

h Trí thức không phải là một giai tầng xã hội của những kẻ có bằng cấp cao, có hiểu biết rộng, mà sung lực của tri thức biết nhận ra sự thật bằng khách quan của khoa học, lại biết nỗi khổ niềm đau của nhân sinh bằng đạo đức trọng sự thực, quý chân lý để thăng hoa lẽ phải.

h Ý thức mang lực tổng hợp của kiến thức lại có lực tổng kết của tri thức, lại có sự hiện diện của đạo lý biết nhận ra hay, đẹp, tốt, lành, lại được luân lý của bổn phận và trước nhiệm để nhận ra lẽ phải trước khi quyết định và hành động.

h Nhận thức là quá trình đưa kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức vào quỹ đạo của đạo lý, luân lý, đạo đức để luôn có tỉnh táo mà nhận ra sự thật, luôn có sáng suốt mà nhận ra lẽ phải, tự đó có một nhân sinh quan, một thế giới quan, một vũ trụ quan biết tôn trọng sự thật và lẽ phải.

h Tỉnh thức là khả năng nhận ra những sai lầm của tha nhân, mà cũng là kỹ năng nhận ra những lầm đường lạc lối của chính mình, để phải vận dụng lại kiến thức, tri thức, trí thức, để tận dụng trọn vẹn hơn ý thức, nhận thức để khỏi bị rơi vào lỗi, tội bị kết án bởi đạo lý, luật pháp đại diện cho lẽ phải và sự thật.

 

thuc0

 

Chính hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức, tỉnh thức) là gốc, rễ, cội, nguồn để phân tích và giải thích sự ra đời :

hHệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri)

hHệ tự (tự do, tự trọng, tự chủ, tự tin)

hHệ thông (thông minh, thông thạo, thông thái)

hHệ sáng (sáng kiến, sáng chế, sáng tạo)

hHệ chuyên (chuyên cần, chuyên môn,chuyên nghiệp)

hHệ tinh (tinh lực, tinh thông, tinh hoa).

 

Qua điền dã, điều tra, khảo sát, nghiên cứu với các phương pháp của khoa học xã hội và nhân văn, tiểu luận này phân tích để phân định, giải thích để giải luận là tất cả các hệ trên đã, đang, sẽ bị truy, diệt, khử, trừ bằng hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn) của Đảng cộng sản Việt Nam, chính là cha sinh mẹ đẻ của :

h Hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền)

h Hệ bất (bất tài, bất lực, bất tín, bất lương)

h Hệ gian (gian dối, gian trá, gian xảo, gian manh)

h Hệ vô (vô minh, vô tri, vô giác, vô cảm).

thuc2

Luận ?

Điền dã, điều tra, khảo sát, nghiên cứu với các phương pháp của khoa học xã hội và nhân văn, chỉ là một công đoạn của phân tích và giải thích các hiện tượng, các dữ kiện các chứng từ… Công đoạn tiếp theo chính là mức độ của học thuật mà cũng là trình độ của hệ thức, cụ thể là vận dụng rồi tận dụng hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận) để được đi sâu vào các hệ lụy mà cũng là hệ luận để nhận ra :

h Lý luận trên các kết quả của điền dã, điều tra, khảo sát, nghiên cứu để ra đường đi nẻo về của hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn) của Đảng cộng sản Việt Nam, chính là cha sinh mẹ đẻ của hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền) ; hệ bất (bất tài, bất lực, bất tín, bất lương) ; hệ gian (gian dối, gian trá, gian xảo, gian manh) ; hệ vô (vô minh, vô tri, vô giác, vô cảm)

h Lập luận trên hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức, tỉnh thức) là gốc, rễ, cội, nguồn của hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri) ; hệ tự (tự do, tự trọng, tự chủ, tự tin) ; hệ thông (thông minh, thông thạo, thông thái) ; hệ sáng (sáng kiến, sáng chế, sáng tạo) ; hệ chuyên (chuyên cần, chuyên môn, chuyên nghiệp) ; hệ tinh (tinh lực, tinh thông, tinh hoa) để thấy lối của Việt tộc qua các phạm trù của cộng hòa (tự do, công bằng, bác ái) trong không gian của đa nguyên có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền.

h Giải luận trên các kết quả của điền dã, điều tra, khảo sát, nghiên cứu để nhận ra những thảm họa trên nhân kiếp của Việt tộc, tới từ bạo quyền độc đảng liên minh với tà quyền để tham quyền ; với ma quyền để lạm quyền, với quỷ quyền để lộng quyền. Đào càng sâu phân tích để được xới thật rộng giải thích : bạo quyền độc đảng sẽ thay hình đổi xác để thành cực quyền, một loại quyền lực tuyệt đối sẵn sàng khử trừ mọi đối trọng, đối kháng khác với nó. Bạo quyền độc đảng sẽ thay thân đổi dạng để thành cuồng quyền, loại quyền lực tuyệt đối sẵn sàng truy diệt mọi đối thoại, đối luận khác với nó.

h Diễn luận trên các kết quả của điền dã, điều tra, khảo sát, nghiên cứu trong học thuật về Việt Nam hiện nay về vấn đề quyền lực thì không thể bỏ qua các chỉ báo về : tà quyền, ma quyền, quỷ quyền, tham quyền, lạm quyền, lộng quyền cực quyền, cuồng quyền. Thảm kịch trên số phận của Việt tộc sẽ là bi nạn của giống nòi Việt, của các thế hệ mai hậu khi Việt tộc đã để bị tà quyền, ma quyền, quỷ quyền, tham quyền, lạm quyền, lộng quyền, cực quyền, cuồng quyền, cướp đi hệ nhân của mình, nơi mà nhân tính, nhân lý bị mất nhân tri, nhân trí, bị lạc nhân bản, nhân văn, bị xa nhân nghĩa, nhân đạo, bị xóa nhân tâm, nhân từ, tựu trung là bị tước đi nhân quyền !

thuc4

Thức luận : hệ ?

Phương pháp luận về hệ lụy, khoa học luận về hệ luận

Thuật ngữ hệ được vận dụng trong tiểu luận này là một không gian chung có tính liên kết rồi kết tụ trong một hệ thống dựa vào hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận), tại không gian này thì lý thuyết luận, phương pháp luận, khoa học luận liên kết để hỗ trợ nhau, kết tụ để tạo nên nội kết, tất cả dựa trên hệ , nơi mà hợp lý, chỉnh lý, toàn lý củng cố cho nhau :

h Thí dụ thứ nhất : khi phân tích về hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn) của Đảng cộng sản Việt Nam thì phải giải thích sự độc đoán của hệ độc sẽ tạo nên sự độc hại của độc lộ sẽ dẫn tới tử lộ, hiện nay là bi kịch của cộng sản Việt Nam sẽ dẫn tới thảm kịch cho Việt tộc, nếu Đảng cộng sản Việt Nam không biết rời hệ độc.

h Thí dụ thứ nhì : khi phân tích về hệ thức (ý thức, kiến thức, tri thức, trí thức, nhận thức, tỉnh thức) để phát triển đất nước, thăng hoa dân tộc thì phải giải thích hệ nhân (nhân cách của nhân đạo, nhân tâm, nhân từ , nhân nghĩa, nhân lý, nhân tính, nhân tri,nhân trí, nhân phẩm, nhân vị, nhân bản, nhân văn), đây là lối ra và cũng là lối thoát của Việt tộc trong những năm tháng tới trước sự độc hại của độc lộ của Đảng cộng sản Việt Nam đã mở cửa dẫn đường cho hệ Tàu (Tàu tặc, Tàu họa, Tàu nạn, Tàu hoạn, Tàu tà) đột nhập vào đất nước Việt.

Phương pháp luận về hệ lụy, khoa học luận về hệ luận được đề nghị trong tiểu luận này để nhận ra một lý thuyết luận của liên minh : sử luận-triết luận-xã luận, để nhận ra ít nhất ba trở ngại của cuộc đấu tranh vì dân chủ và nhân quyền :

h sử tính, mang sự thật lịch sử đã bị thay trắng đổi đen bởi Đảng cộng sản Việt Nam ;

h đức tính, mang giáo lý của tổ tiên Việt đã bị vùi dập bởi Đảng cộng sản Việt Nam ;

h luật tính, mang công lý của luật pháp đã bị bóp nghẹt bởi Đảng cộng sản Việt Nam.

Khi cả ba : sử tính, đức tính, luật tính bị loại ra khỏi không gian quyền lực của độc tài, thì khoa học xã hội và nhân văn phải nhận ra các chủ thể mới xuất hiện trong xã hội dân sự, có chủ đoán để chủ quyết, có chủ động để chủ luận về :

h sử định, hiểu lịch sử và quyết định làm tốt hơn lịch sử ;

h đức định, hiểu đạo lý và quyết định làm tốt hơn giáo lý ;

h luật định hiểu công lý và quyết định làm tốt hơn công luật.

Liên minh sử định-đức định-luật định, làm nên luân lý của dân chủ, thì các thuật ngữ : tà quyền, ma quyền, quỷ quyền không phải là những ngữ văn để chỉ trích, chê bai, thóa mạ, phỉ bán, mà chúng chính là những mô hình giải thích quyền lực của hệ bất (bất tín, bất trung, bất tài, bất nhân) diệt đạo lý, triệt pháp lý ; để từ đó chúng ta lập được mô thức giải luận để phân tích tham quyền, lạm quyền, lộng quyền, đây là các quyền lực chống hệ công (công lý, công luật, công pháp, công tâm). Nếu không giải luận rồi diễn luận tới nơi tới chốn quá trình từ mô hình giải thích tới mô thức giải luận, thì ta sẽ không thấy để thấu các thảm họa đã, đang, sẽ giăng bẫy Việt tộc trên nhân lộ của nhân phẩm.

Lê Hữu Khóa

(06/05/2020)

---------------------


lhk0 Lê Hữu Khóa

Giáo sư Đại học Lille

Giám đốc Anthropol-Asie

Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á

Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCOLiên Hiệp Quốc

Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa Paris

Thành viên hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Đông Nam Á

Hội viên danh dự ban Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới.

Các công trình nghiên cứu việt nam học của giáo sư Lê Hữu Khóa, bạn đọc có thể đọc và tải qua Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-trang thầy Khóa.

Published in Tư liệu