Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Tiếng Việt kỳ diệu

Hai dân tộc Kinh Việt Nam và Hán Trung Quốc (Trung Quốc) có nhiều điểm giống và khác nhau. Trong 1000 năm Bắc thuộc, nước ta bị Hán hóa toàn diện, các khác biệt bị xói mòn rất nhiều, kể cả về huyết thống. May sao tổ tiên ta vẫn giữ được một khác biệt căn bản nhất – ngôn ngữ. Giữ được thế cũng là nhờ tiếng Việt tiềm ẩn những tính năng kỳ diệu, chẳng hạn ngữ âm cực kỳ phong phú, có thể ghi âm hầu như mọi ngữ âm ngoại ngữ.

caicach1

Sau 1.000 năm bị Hán hóa, ngôn ngữ Việt chấp nhận chữ Hán nhưng cấm cửa tiếng Hán. Tổ tiên ta đã nghĩ ra cách đọc chữ Hán bằng tiếng Việt (gọi là từ Hán-Việt) mà không đọc bằng tiếng Hán, tức Việt Nam hóa phần ngữ âm của chữ Hán, biến thành chữ của mình, gọi là chữ Nho với ý nghĩa "Chữ của người có học". Chữ Nho chính là chữ Hán đượcphiên âm ra tiếng Việt, vì thế dễ học hơn. Tổ tiên ta có thể dùng chữ Nho bút đàm giao dịch với quan chức chính quyền chiếm đóng, đạt được yêu cầu bắt dân ta học chữ của chúng. Rốt cuộc người Việt có chữ để ghi chép và giao tiếp nhưng vẫn đời đời nói tiếng mẹ đẻ, không ai nói tiếng Hán. Mưu toan Hán hóa ngôn ngữ hoàn toàn thất bại.

Giữ được nguyên vẹn tiếng mẹ đẻ và nhờ đó giữ được nòi giống và đất nước mình — đây là thắng lợi vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Nói theo ngôn ngữ học hiện đại, là tổ tiên ta đã biết lợi dụng đặc điểm ghi ý không ghi âm của chữ Hán để đọc chữ Hán bằng bản ngữ. Chữ Nho đã thầm lặng vô hiệu hóa quá trình Hán hóa ngôn ngữ. Từ Hán-Việt đã giúp kho tàng từ vựng tiếng Việt phong phú thêm nhiều lần cả về số lượng và mỹ cảm. Cho dù khoảng 60% từ vựng tiếng Việt hiện nay có gốc Hán ngữ nhưng đó chỉ là hiện tượng giao thoa ngôn ngữ bình thường. Chẳng hạn tại Trung Quốc, khoảng 70% từ ngữ tiếng Hán hiện đại có gốc tiếng Nhật.

Để sửa nhược điểm chữ Nho không ghi được tiếng Việt, vào khoảng thế kỷ 12 tổ tiên ta làm một thử nghiệm ngôn ngữ táo bạo : sáng tạo chữ Nôm có yếu tố biểu âm, ghi được tiếng Việt. Chữ Nôm cấu tạo trên nền tảng chữ Hán, biết chữ Hán mới học được chữ Nôm, vì vậy phụ thuộc Hán ngữ và khó phổ cập, lại chưa được nhà nước công nhận, thời gian tồn tại quá ngắn so với chữ Nho. Tuy vậy, do văn thơ chữ Nôm thể hiện được tiếng nói và nỗi lòng của người bình dân nên đã tạo dựng được một nền văn học mới trội hơn hẳn văn học chữ Nho, mở ra một giai đoạn phát triển rực rỡ nền văn hóa Việt. Thử nghiệm này còn hé lộ một tiềm năng cực kỳ quý giá của tiếng Việt — thích hợp chữ biểu âm(phonograph). Đây là điều kiện tất yếu để 5 thế kỷ sau các giáo sĩ Francesco de Pina, Cristoforo Borri, Alexandre de Rhodes…làm được chữ biểu âm Latin hóa cho tiếng Việt. Giả thử các giáo sĩ-bậc thầy ngôn ngữ học ấy đến Trung Quốc làm chữ biểu âm cho tiếng Hán thì chắc chắn họ sẽ thất bại, bởi lẽ tiếng Hán không thích hợp chữ biểu âm.

Với hai ưu điểm quý giá –– biểu âm và Latinh hóa, chữ Quốc ngữ đã làm thay đổi hẳn đời sống ngôn ngữ, văn hóa, xã hội nước ta, mở ra một kỷ nguyên mới cho nền văn minh Việt. Loại chữ này ghi âm được 100% tiếng Việt, thực hiện nói/nghĩ thế nào viết thế ấy, viết thế nào đọc thế ấy, lại dễ học dễ dùng chưa từng thấy. Giới tinh hoa nước ta ca ngợiChữ Quốc ngữ là hồn đất nước.

Nói chữ biểu âm Latin hóa là loại chữ viết tiên tiến chắc sẽ bị những người theo "Thuyết chữ Hán ưu việt" phủ định, nhưng lại được hai sự việc sau khẳng định :

1) Người Trung Quốc từng bỏ ra ngót 100 năm thực thi cải cách chữ viết theo hướng làm chữ biểu âm Latin hóa thay cho chữ Hán.

2) Toàn bộ 14 phương án chữ viết do Nhà nước Trung Quốc sau năm 1949 làm cho 10 dân tộc thiểu số chưa có chữ đều dùng chữ biểu âm Latin hóa. Dân tộc Tráng từ xưa đã có chữ vuông kiểu chữ Nôm, Nhà nước vẫn làm chữ mới biểu âm Latin hóa cho họ.

Chữ Quốc ngữ đã thúc đẩy nền văn minh Việt phát triển với tốc độ gấp trăm lần quá khứ. Thứ chữ này nhanh chóng được toàn dân chào đón và học tập, vừa nâng cao dân trí vừa có tác dụng thống nhất âm tiếng Việt trong cả nước, qua đó góp phần thống nhất dân tộc. Dùng chữ Quốc ngữ có thể dịch các từ ngữ Hán hoặc Nôm và ngoại văn ra tiếng Việt, nhờ thế dân ta được tiếp xúc với kho tàng văn hóa của tổ tiên, các trào lưu tư tưởng mới và khoa học kỹ thuật phương Tây. Các lĩnh vực văn học, giáo dục, nghệ thuật, báo chí, xuất bản nhanh chóng hình thành và phát triển, vượt xa mấy nghìn năm cũ. Cây văn hóa Việt Nam vươn cao, thoát khỏi nguy cơ còi cọc vì cớm nắng do ở cạnh đại thụ văn hóa Trung Hoa. Phạm Quỳnh nói Chữ Quốc ngữ là công cụ kỳ diệu giải phóng trí tuệ người Việt. Đúng thế, dùng chữ Quốc ngữ có thể ghi lại mọi ý nghĩ, không bị gián đoạn do phải tra tìm chữ như khi dùng chữ Hán, chữ Nôm. Trí tuệ được giải phóng dẫn đến sự hình thành một tầng lớp trí thức tân tiến. Do chữ cái Latin dùng được kỹ thuật in chữ rời, các sách báo, ấn phẩm đua nhau xuất bản. Các tổ chức cách mạng đều dùng chữ Quốc ngữ để tuyên truyền tư tưởng yêu nước chống thực dân phong kiến.

Chữ Quốc ngữ làm cho tiếng Việt trở thành ngôn ngữ hoàn toàn độc lập với Hán ngữ. Thời xưa Việt Nam, Nhật, bán đảo Triều Tiên đều dùng chữ Hán ; khi thấy mặt hạn chế của nó, cả ba đều cố "Thoát Hán" về ngôn ngữ. Bán đảo Triều Tiên thế kỷ 15 làm chữ biểu âm Hangul, nhưng Hàn Quốc hiện vẫn phải dùng chữ Hán để chú giải các từ ngữ cần chính xác (như về pháp lý). Người Nhật thế kỷ 9 làm chữ biểu âm Kana, nhưng hiện vẫn dùng gần 2000 chữ Hán. Riêng Việt Nam nhờ dùng chữ Quốc ngữ mà từ năm 1919 chính thức bỏ chữ Hán. Quá trình "Thoát Hán -Thoát Khổng" này nhanh gọn, không gây ra sự đứt gãy văn hóa, là một thắng lợi văn hóa-tư tưởng cực kỳ quan trọng của dân tộc ta.

Hán ngữ nhìn từ tiếng Việt

Sau khi tiếp xúc phương Tây, giới tinh hoa Trung Quốc nhận ra các nhược điểm nghiêm trọng của chữ Hán. Từ cuối thế kỷ 19, họ bắt đầu nghiên cứu cải cách Hán ngữ theo hướng phiên âm hóa chữ Hán do nhà truyền giáo người Ý Matteo Ricci đề ra năm 1605. Đầu tiên họ làm ra chữ thiết âm (1892), đến 1911 đã đề ra 28 phương án chữ phiên âm. Thời Ngũ Tứ, nhiều học giả đòi bỏ chữ Hán, dùng chữ phiên âm. Năm 1918, Trung Quốc ban hành phương án "Chú âm Tự mẫu" dùng 39 chữ cái ghi âm Hán ngữ, là công cụ để nghiên cứu phần ngữ âm tiếng Hán. Phương án này hiện vẫn dùng ở Đài Loan và trong các tự điển của Trung Quốc.

Năm 1952, Mao Trạch Đông chỉ thị cải cách chữ Hán phải theo xu hướng phiên âm chung của thế giới. Năm 1954 Trung Quốc lập Ủy ban Cải cách chữ viết, tiến hành cải cách chữ Hán với quy mô lớn chưa từng có. Ngô Ngọc Chương, Chủ nhiệm Ủy ban, nói : Trung Quốc sau này sớm muộn sẽ phải chuyển sang dùng chữ phiên âm (tức chữ biểu âm), đây là quy luật khách quan phát triển chữ viết của thế giới ; nhưng Trung Quốc không chủ trương bỏ chữ Hán…

Cải cách chữ viết đã đạt được thành tựu quan trọng : – Đơn giản hóa (bớt nét) được vài nghìn chữ Hán để chữ trở nên dễ học dễ nhớ ; – Làm ra Phương án Pinyin Hán ngữ dùng chữ cái Latin có thể ghi chú âm (phiên âm) cho chữ Hán, mã hóa chữ Hán đưa vào máy tính, đánh chữ trên máy tính và smartphone, quốc tế hóa chữ Hán ; – Chuẩn hóa chữ Hán, xác định Tiếng Phổ thông (Standard Mandarin) là tiếng nói của toàn dân. Các thành tựu trên đã được luật hóa và áp dụng trong cả nước, giúp nâng cao tỷ lệ biết chữ, thống nhất ngôn ngữ. Hiện nay Trung Quốc đã áp dụng rộng rãi chế độ "Nhất ngữ Song văn" (Một tiếng nói, hai chữ viết) : Toàn dân nói một thứ tiếng Phổ thông ; chữ Hán là chữ viết pháp định, vẫn dùng như cũ, kèm theo dùng chữ Pinyin Hán ngữ để ghi âm chữ Hán.

Từ 1986, Ủy ban Cải cách chữ viết Trung Quốc ngừng đặt vấn đề làm chữ biểu âm thay chữ Hán, và nói tương lai chữ Hán sẽ do các thế hệ sau quyết định. Nghĩa là rốt cuộc Trung Quốc đã không đạt được mục tiêu tạo ra loại chữ biểu âm thay cho chữ Hán.

Ở đây có hai vấn đề : có nên bỏ chữ Hán không và có thể làm được chữ biểu âm cho Hán ngữ không. Rõ ràng, bỏ chữ Hán sẽ gây thảm họa bỏ mất di sản vĩ đại của nền văn minh Trung Hoa 5.000 năm ; 1,4 tỷ người Hoa không thể chấp nhận. Mặt khác, việc làm chữ biểu âm có nhiều khó khăn, chủ yếu do Hán ngữ có quá nhiều chữ hoặc từ đồng âm.

Chữ/từ đồng âm (homophonic words) là những chữ/từ khác nhau về tự hình và ý nghĩa nhưng đọc cùng âm, do đó mỗi chữ/từ có nhiều ý nghĩa khác nhau, khi nghe đọc hoặc khi dùng chữ biểu âm sẽ không phân biệt được, gây hiểu lầm. Chữ đồng âm dẫn tới cụm từ đồng âm, làm cho ngôn ngữ kém chính xác. Đây là vấn đề của Hán ngữ chứ không phải của chữ Hán. Một ngôn ngữ chính xác thì không nên có chữ/từ đồng âm, nhưng thực tế ngôn ngữ nào cũng ít nhiều có hiện tượng này. Khi có nhiều chữ/từ đồng âm thì không thể dùng chữ biểu âm –– vì nhìn chữ sẽ chẳng hiểu gì. Như câukhi nhìn chữ Hán (chữ biểu ý, ideograph) thì có thể hiểu ý nghĩa, nhưng nhìn chữ biểu âm Ta jiao ta gen ta zou thì chẳng thể hiểu, vì ba chữ  (he, she, it) cùng đọc [ta]. Đoạn văn 施氏食狮史  cho thấy rõ nạn nhiều chữ/từ đồng âm đã giết chết chữ biểu âm.

Tổ tiên người Trung Quốc hiểu lẽ đó nên đã làm chữ viết có tính biểu ý (tức chữ Hán) mà không làm chữ biểu âm. Thế nhưng hiện nay một số học giả Trung Quốc vẫn hy vọng giải quyết được vấn đề chữ đồng âm và do đó làm được chữ biểu âm cho Hán ngữ.

Qua nghiên cứu tiếng Hán từ trên nền tảng tiếng Việt, chúng tôi cho rằng hy vọng nói trên là không hiện thực. Ngay từ năm 1954 Ủy ban Cải cách chữ viết Trung Quốc đã đặt nhiệm vụ tham khảo chữ Quốc ngữ Việt Nam. Nhưng năm 2009 một học giả hàng đầu Trung Quốc chê bai : "Chữ viết của Việt Nam sau khi phiên âm hóa, đầu đội mũ, chân đi giày, rất nực cười".Do nhìn chữ Quốc ngữ với con mắt trọng tự hình, nhẹ ngữ âm nên họ chỉ thấy "giày, mũ" mà chưa thấy một điều quan trọng : tiếng Việt giàu âm tiết, tiếng Hán nghèo âm tiết, do đó Hán ngữ có quá nhiều chữ đồng âm, hậu quả là không làm được chữ biểu âm.

"Nghèo âm tiết" là nói số âm tiết của ngôn ngữ đó nhỏ hơn số đơn từ thông dụng.

Để xác minh Hán ngữ nghèo âm tiết, chúng tôi đã dùng "Tự điển Tân Hoa" bản thứ 10 华字典第10 双色本 (có 8.700 đơn tự) để thống kê số âm tiết có trong tự điển, kết quả được 415 âm tiết không xét thanh điệu, gồm 22 âm tiết có một chữ, 393 âm tiết có 2 chữ trở lên (tức có chữ đồng âm) ; đổ đồng mỗi âm tiết có 22 chữ đồng âm. Một số âm tiết có quá nhiều chữ đồng âm : [yi] có 135, [ji] – 123, [yu] – 118, [xi] – 103,…. So với 8.105 chữ thông dụng Nhà nước Trung Quốc quy định thì 415 âm tiết rõ ràng là nghèo âm tiết

Số liệu trên không khác với số liệu của Trung Quốc [1]. Li Gong-Yi dựa "Hán tự Tin tức tự điển" (7.785 đơn tự) thống kê, được414 âm tiết không xét thanh điệu, gồm 22 âm tiết có một chữ, 392 âm tiết có chữ đồng âm ; [yi] có 131, [ji] – 121, [yu] – 115, [xi] – 102, [fu] – 99 chữ. Khi thống kê theo "Từ Hải" (19.485 đơn tự), âm [yì] (khứ thanh) có 195 chữ ! Thống kê âm tiết có xét thanh điệu thì tiếng Hán có khoảng 1.400 âm tiết –– so với 8105 chữ thông dụng thì vẫn là quá nghèo âm tiết. Nếu xét toàn kho chữ Hán có khoảng 100 nghìn chữ (và không ngừng tăng) thì số chữ đồng âm quá nhiều.

Dễ thấy tiếng Việt giàu âm tiết : có 11 âm ă, â, b, đ, gh, ô, ơ, ư, v, ng, nh mà tiếng Hán không có ; về thanh điệu tiếng ta có 6, tiếng Hán 4. Thống kê âm tiết (không xét thanh điệu) bắt đầu bằng nguyên âm A : tiếng ta có 27, tiếng Hán có 5 âm tiết [2]. Hơn nữa tiếng ta có nhiều âm tiết chưa dùng, như đỉu, đĩu, bỉa, bĩa… Hiện chưa có số liệu âm tiết tiếng Việt do Nhà nước công bố. Một công bố trên mạng cho biết tiếng Việt có 17.974 âm tiết, trong đó quá nửa chưa dùng. Một công bố khác nói có hơn 6.000 âm tiết đã dùng.

Tiếng Hán và tiếng Việt thuộc loại ngôn ngữ đơn âm tiết (đơn lập, monosyllabic), mỗi tiếng một âm tiết, do đó cần dùng rất nhiều âm tiết, vì thế dễ xảy ra nạn lắm chữ/từ đồng âm. Như đã nói, tiếng Việt giàu âm tiết nên không có nạn đồng âm, do đó làm được chữ biểu âm ; tiếng Hán nghèo âm tiết nên có nạn đồng âm nghiêm trọng, do đó không làm được chữ biểu âm. Theo chúng tôi, chừng nào Hán ngữ còn là ngôn ngữ đơn lập và nghèo âm tiết thì còn chưa thể làm chữ biểu âm, suy ra không thể thay được chữ Hán. Kết luận này dường như không hợp với quan điểm của một số học giả Trung Quốc.

Đặc điểm của ngôn ngữ đa âm tiết

Có một sự thực khó hiểu : tiếng Nhật ít âm tiết hơn tiếng Hán (100 so với 415) mà vẫn làm được chữ biểu âm Kana –– điều đó chứng tỏ tiếng Nhật có số đơn từ khác âm nhiều hơn số đơn từ thông dụng.

Như đã biết, tiếng Nhật thuộc loại ngôn ngữ đa âm tiết (đa lập, multisyllabic), ví dụ từ samurai và Hiroshima có 3 và 4 âm tiết.

Trong ngôn ngữ đa âm tiết, mỗi đơn từ có thể là một chỉnh hợp (arrangement, tức tổ hợp có phân biệt thứ tự) gồm ít nhất 2 âm tiết khác nhau. Sau đây sẽ dùng toán học để chứng minh kết cấu chỉnh hợp có khả năng tạo ra tổng số đơn từ lớn hơn tổng số âm tiết của ngôn ngữ. Khi ấy được bài toán tính số chỉnh hợp chập k của một tập hợp chứa n phần tử. nlà lượng âm tiết của ngôn ngữ ; k là số âm tiết khác nhau trong một đơn từ, A là số lượng các chỉnh hợp (đơn từ) tạo ra từ n âm tiết. Kết quả A bằng n giai thừa (factorial) chia cho (n – k) giai thừa :

A (n, k) = n ! / (n-k) !

Rõ ràng A lớn hơn n rất nhiều ; k càng lớn thì A càng lớn. Khi k=2 thì A= (n-1) n ; khi k=3 thì A=(n-2) (n-1) n…

Tóm lại, kết cấu chỉnh hợp có ưu điểm tạo ra số lượng đơn từ rất lớn, khiến cho ngôn ngữ nghèo âm tiết vẫn làm được chữ biểu âm (chẳng hạn tiếng Nhật).

Ví dụ một ngôn ngữ có 415 âm tiết (n = 415), khi mỗi đơn từ là một chỉnh hợp 2 âm tiết (k = 2, như city, семья) thì tổng số đơn từ A sẽ bằng (415-1)(415), tức 171810 đơn từ, quá nhiều so với 415 âm tiết. Khi k = 3 (như minister, привычка) được 70957530 đơn từ.

Giả thử Hán ngữ là ngôn ngữ đa âm tiết, mỗi từ 2 âm tiết, thì do có 171810 đơn từ nên không có chữ đồng âm. Tiếc rằng không thể cải tạo ngôn ngữ đơn âm tiết thành đa âm tiết. Người Nhật có thể chỉ dùng chữ Kana mà không dùng chữ Hán, nhưng vì để thừa kế di sản văn hóa cổ mà hiện nay họ vẫn dùng gần 2000 chữ Hán kết hợp với chữ Kana.

Kết luận

Các trình bày nói trên đã chứng minh hai luận điểm của tác giả :

1. Ngôn ngữ đơn lập nếu nghèo âm tiết thì không thể làm được chữ biểu âm, nếu giàu âm tiết thì làm được chữ biểu âm. 

2. Ngôn ngữ đa lập dù nghèo âm tiết vẫn có thể làm được chữ biểu âm.

Từ đó giải đáp được các câu hỏi vì sao cùng là ngôn ngữ đơn lập mà tiếng Việt làm được chữ biểu âm còn tiếng Hán thì không ; vì sao tiếng Nhật rất nghèo âm tiết lại làm được chữ biểu âm ; vì sao phần lớn các nước đều dùng ngôn ngữ đa lập và chữ biểu âm.

Xin nói thêm : cho dù hiện nay chữ Hán vẫn bị phê phán, song cần thấy rằng chữ Hán là lựa chọn hợp lý của tổ tiên người Trung Quốc. Chữ Hán có tính biểu ý thích hợp với một đất nước quá rộng và đông dân, nói hàng trăm phương ngữ khác nhau, hơn nữa ngôn ngữ nói có quá nhiều chữ/từ đồng âm, nếu chỉ dựa vào thính giác thì rất khó phân biệt (nhưng không thể tránh được tình trạng này, bởi lẽ Hán ngữ nghèo âm tiết). Những lý do ấy không cho phép Hán ngữ dùng chữ biểu âm ; từ đó suy ra chữ Hán sẽ không thể bị thay thế, –– nghĩa là chữ Hán sẽ không bao giờ bị từ bỏ. Giới học giả Trung Quốc ngày nay chấp nhận quan điểm Chữ Hán là báu vật của văn minh cổ đại lại là gánh nặng của văn minh hiện đại, nhưng người Trung Quốc sẽ không vì mang gánh nặng ấy mà tiến chậm trên con đường hiện đại hóa, bởi lẽ họ nổi tiếng cần cù, chịu khó, chịu khổ lại được tiếp nguồn sức mạnh to lớn của nền văn minh Trung Hoa 5.000 năm.

Nguyễn Hải Hoành

Nguồn : Nghiên cứu quốc tế, 29/06/2020

———–

[1]苏培成著 "二十世纪的现代汉语研究", 书海出版社2001.

[2] Tiếng Việt : a, ac, ach, ai, am, an, ang, anh, ao, ap, at, au, ay ; ăc, ăm, ăn, ăng, ăp, ăt ; âc, âm, ân, âng, âp, ât, âu, ây (27 âm tiết). Tiếng Hán : a, ai, an, ang, ao (5 âm tiết).

Published in Tư liệu

Ngày xưa các nước Đng Văn (cùng văn hóa, ch viết), tc là các nước Trung Hoa, Nht, Hàn và Vit ; dùng Hán t làm ch viết. Sau đó người Vit da theo chất liu ch Hán mà to ra ch viết riêng ca mình gi là ch Nôm đ ghi chép tiếng Vit. Có nhiu minh chng cho thy ch Nôm đã xut hin nước ta t thi Lý Trn. Các bn văn quan trng, như các văn bn ca triu đình hay sách hc và thơ phú c ca Vit Nam, t thi lp quc cho đến nhng năm đu thế k 20, đu viết bng Hán t. Cũng cùng thi gian y nhiu bài thơ, văn và sách truyn đi chúng được viết bng ch Nôm. Ch Nôm trông ging ch Hán nhưng người Trung Quc không th đc được.

chunom1

Chữ Nôm viết theo th Hành thư. Các ch này đc theo chiu dc t phi sang là ‘Lơ thơ dăm chi qut, lt pht my đim đào, lao xao vài git bi, lúi húi ci hu bao’.

Cả ch Hán c (tc là ch Nho) và ch Nôm ca nn văn hóa hơn ngàn năm ca người Vit đu b xóa mt bi ch Quc ng hin nay, do các v Giáo sĩ Công giáo người Ý, Pháp và B Đào Nha ly mu t La tinh, B Đào Nha và ch s La Mã và rp mà to ra, bt đu t hi thế k 16-17. Và sau đó người Pháp ép buc triu đình và dân chúng Vit Nam phi chp nhn li ch viết này. Thâm ý ca h là khiến dân Vit ri s không còn đc được văn, sách cũ trong nước đ biết nn văn hóa ca mình na. Mt dân tc đã mt văn hóa sẽ chp nhn nn văn hóa mi, trong trường hp này là ca mu quc, d hơn. Và như thế h s bt chng đi nn đô h ca ngoi bang hơn. Xem cách chính ph Pháp và nhà cm quyn Pháp Đông Dương hi đó ráo riết thúc đy vic này thì thy rõ ý đ ca họ.

Triều đình Vit Nam, ngay t lúc người Pháp áp đt ch Quc ng thi vua Khi Đnh, cũng như nhiu hc gi Vit Nam sau này, vn c gng dch tài liu, văn sách cũ ca nước ta bng ch Hán và ch Nôm ra ch Quc Ng. Đ người dân Vit có th đc và biết rõ hơn được nn văn hóa ca nước mình. Nhưng làm sao có th phiên dch được c hơn ngàn năm ch nghĩa đó…

Trước năm 1954 min Bc và 1975 min Nam, các trường trung hc vn dy ch Hán cho hc sinh các năm đu. Và các nhà trí thc Vit Nam c hai miền trong các giai đon đó dù theo Tây hc nhưng vn coi trng và có căn bn Hán hc. Cho nên nn tng văn hóa dân tc ca h rt vng.

chunom2

Người Nht hin cũng vn dùng ch Hán c (gi là Kanji tc Hán t)

Người Nht hin cũng vn dùng ch Hán c (gi là Kanji tc Hán t) cho các văn bn quan trng. Trong khi t thế k th 5 họ cũng bt đu t to ra các h thng ch viết cho ngôn ng riêng ca mình mà ngày nay tng hp li gi là Kana, ging như trường hp ch Nôm ca Vit Nam. May mn cho người Nht là h không b đô h bi ngoi bang cho nên h hin vn dùng song song hai hệ thng Hán t và quc ng Kana. Trong tt c nhng trường hp quan trng, h vn dùng Hán t. Thí d như bng đ tên ca Th tướng Nht vn được viết bng ch Hán là ‘Th Tướng Các h Đi thn’. Các b trưởng Nht vn dùng chc danh bng Hán t là ‘Đi thần’, v.v.

chunom3

Thi xưa ch viết chính ca Hàn Quốc cũng là Hán t (Hanja).

Hàn Quốc cũng tương t. Thi xưa ch viết chính ca h cũng là Hán t (Hanja). Đến năm 1440 vua Sejong lp xong h thng mu t ký âm đ đc tiếng Hàn quc gi là Hangul, tc Hàn ngôn (Bc Triu Tiên sau này đt ra h thng mu t riêng gi là Chosolgul, tức Triu Tiên ngôn, hay Uri Kulja, tc Quc ng). Và t đy Hangul được sử dụng song song vi Hán t, dù Hangul b chng đi bi gii Nho sĩ đến ni đã có nhng lúc b triu đình cm sử dụng. Đến khong cui thế k 19, đu thế k 20 thì Hangul chiếm thế thượng phong. Nhưng gii hc gi trí thc Hàn Quc cho đến gi vn phi rành Hán văn đ đc văn sách, thơ phú và các tài liu c ca nước h, vì trong c ngàn năm cho đến lúc y đu viết bng Hán t.

Năm 1971 Hàn Quốc bãi b vic dy Hán t cp Tiểu hc. Hán t ch còn được dy trung hc, vi 900 mt ch Hán được dy bc Cơ s, và 900 ch na bc Ph thông. Tng cng sinh viên Hàn Quc có vn liếng 1800 ch Nho. T năm 2013 có phong trào đòi hi phc s ging dy ch Hán cho bc Tiu hc để giới tr Hàn Quc biết và hiu được văn hóa ca h sm hơn.

Bắc Triu Tiên ngay khi đc lp tuyên b bãi b vic dy Hán t. Nhưng t năm 1966 đã khôi phc li vì thy cn thiết. Và hin nay hc sinh t lp 5 đến lp 9 được dy c thy 1500 mt ch Hán. Bc ph thông thêm 500 ch và bc Đi hc thêm 1000 ch. Như vy tng cng sinh viên Bc Triu Tiên hc được 3000 ch Nho.

chunom4

Chữ Hán hin đi khác vi chữ Hán c

Trung Quc thì Hán ng hin đi khác vi Hán ng c. Ch viết gin th sau này li càng khiến cho ch Trung Quc hin đi ri xa chữ Hán thời Đường, Tng. Ch Hán c, tc là th ch Hán được người Vit chính thc sử dụng trong các lãnh vc hành chính, giáo dc, văn chương thi phú… sut hơn ngàn năm, có tính bao hàm. Nghĩa là mt ch có th đc được bng nhiu âm và bao hàm nhiu nghĩa khác nhau. Hán ngữ c này không biến đi theo thi gian và hin nay tn ti như mt t ng. Trong khi đó ngôn ng Hán biến đi theo thi gian v c cách phát âm ln ý nghĩa, nht là qua các thi Nguyên, Thanh. Người Hoa bây gi mun hiu Hán t, Hán ng cổ và đọc được văn sách c ca h thì cũng phi đi hc. Mt giáo sư tiến sĩ khoa Nhân chng hc người Hoa ca Đi hc Hong Kong khi đc các câu đi ch Hán trong các đn, chùa Vit Nam đã gãi đu gãi tai than ch hiu lõm bõm. Đi khái Hoa ng hin nay bên Trung Quốc so vi Hán ng c thì cũng tương t như tiếng Ý ngày nay so vi tiếng Latin xưa, hay tiếng n so vi tiếng Phn c.

Nên nhớ rng vùng lãnh th cho đến Quế Lâm ca Trung Quc hin nay ngày xưa thuc v người Bách Vit. Qung Đông và Qung Tây xưa thuộc Vit cho nên vua Quang Trung mi có ý đnh đòi li. Như vy nn văn minh Đin c xưa vùng tây nam Trung Quc, mà nhiu người Vit vn cho là ca Trung Hoa, tht ra cũng phi là mt nn văn minh Vit. Vì cư dân Vân Nam, Qung Tây thi c là người Bách Việt. Và trong tam Hoàng thy t ca Trung Hoa, thì Thn Nông được cho là thy t ca ging Vit. Cho nên nn văn minh Hán chưa chc đã ca riêng nước phương Bc.

Ngay bên Trung Quốc danh xưng ‘Hán’ không hn có nghĩa là người Hoa. Người Hoa t xưng là Đường nhân ch không gi mình là Hán nhân. ‘Trang Hán t’ có nghĩa là người đàn ông văn minh ch không phi là người đàn ông Trung Quc. Danh xưng Hán này có nghĩa là như vy ch không phi vì triu đi nhà Hán. Cho đến các thi Đường, Tng thì ch viết các nước Đng Văn vn ch gi chung chung là Văn t, nghĩa là ch viết. Đến đi Nguyên mi có danh xưng chính thc ‘Hán t’ đ ch ch viết ca người Trung Châu, đ phân bit vi ‘Mông t’ là ch viết ca người Mông C. Ngay Vit Nam hi xưa ch ‘Hán phủ’ có nghĩa là ‘chn văn minh’, thí d như kinh đô Huế hay các đô th ln, đ phân bit vi nhng nơi quê mùa man mi không biết ch nghĩa, l giáo…

Quả tht, các t ng trong tiếng Vit, Hàn hay Nht cũng có đi đa s là t ch Hán. Dù được viết bng Quốc ngữ B-La Tinh ca Vit Nam, Kana Nht, hay Hangul, đa s t ng ca các nước Đng Văn này đu có gc t Hán ng. Thí d đơn c là gn hết các tên hay h ca c nam ln n Vit Nam đu là ch Hán phát âm theo li Hán Vit. Nhng tên h ph thông nht n Hùng, Dũng, Cường, Văn, Dung, Hoa, Nguyt, Lan ; hay Nguyn, Trn, Lê, Phan, v.v, đu là ch Hán. Ri t tế, công ty, du lch, thành công, phúc đc, v.v, trong ngôn ng Vit Nam cũng là ch Hán. Và nhà nghiên cu Trn Quang Đc khng đnh rng âm đc tiếng Hán thời Đường gn vi âm đc tiếng Hán Vit ca người Vit hơn là âm đc tiếng Trung Quc hin đi.

Một điu rt kh thi nhưng có th tr thành không tưởng, vì tính cách và phong cách sng ca người Vit mình hin nay. Đó là nếu nhng ai tht s đã có lòng tự hào dân tc hết sc, thì nên quay v hc ch Nôm ca t tiên. Đ được t hào như người Nht t hào vi Kana và người Hàn vi Hangul ca h, do chính h to ra. Và đ đc được truyn Kiu đúng như cách Thi hào Nguyn Du đã viết nó. Viết thư pháp hay đại t, câu đi bng ch Nôm cũng rt đp. Trong khi đó câu đi viết dc mà viết bng ch Quc ng B-Latin có khi b vướng mc, vì li ch này viết ngang ch không viết dc. Và nếu có nhiu nhng t có nhiu ch cái như nguyt, trường, thường, chuyn,v.v, thì có khi vướng.

Bữa trước trên đài truyn hình công cng PBS ca M có chiếu chuyn mt thanh niên Nht sau 10 năm c gng hc ngh làm răng gi bng tay theo li c truyn không thành công nhưng vn quyết chí hc tiếp. Mt chuyn nho nh còn cn công sức và lòng kiên nhn như thế, hung chi vic khôi phc mt nét văn hóa ca c mt dân tc như ch Nôm. Không th là chuyn mì ăn lin được. Nhưng mun hc ch Nôm thì trước tiên phi hc ch Hán.

Phải cm ơn các giáo sĩ Tây phương đã to ra cho chúng ta chữ Quc ng rt d hc (ch d vi người Vit biết nói tiếng Vit thôi, còn đi vi người ngoi quc thì ch Quc ng Vit Nam được cho là rt rc ri). Nhưng nếu chúng ta không b người phương Tây đô h hơn mt trăm năm thì người Vit vn còn có được 2 dòng chữ viết tương hình rt đp là Hán và Nôm đó. Không thy người Nht nào than vic hc song song 2 b ch Hán và Kana ca h là khó hay lc hu c.

Trịnh Bách

Nguồn : VOA, 08/02/2017

Published in Văn hóa