Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Ba hiểu lầm phổ biến về tình hình đất đai và đời sống nông dân thời Việt Nam Cộng Hòa

Các số liệu nghiên cứu chỉ ra nhiều lầm tưởng, từ cả hai phía.

Copy of LK's works

Các chương trình cải cách ruộng đất thời Việt Nam Cộng Hòa. Ảnh : Người Việt/ Nhatbook/ Báo Quốc Dân/ Viet Stamp. Đồ họa : Luật Khoa.

Tình hình về ruộng đất, quyền sở hữu đất đai, công bằng xã hội liên quan đến đất đai trong thời kỳ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa còn tồn tại là một trong những đề tài có nhiều ý kiến trái chiều nhất liên quan đến chế độ cũ này.

Đối với chính quyền và các nhóm ủng hộ chế độ Việt Nam hiện hành, dễ hiểu khi họ có ngàn lời để chê bai và chỉ trích cách tiếp cận về quyền sở hữu và quản trị đất đai của miền Nam Việt Nam – nhắm vào bất bình đẳng và thực tế tích tụ ruộng đất kinh hoàng tại vùng đất màu mỡ này.

Ngược lại, những người từng sống, còn hoài niệm hoặc có cảm tình với Việt Nam Cộng Hòa đôi khi cũng lại dành hơi nhiều lời có cánh cho những thành tựu của chính quyền này, dẫn chứng qua sự vượt trội về sản lượng và năng suất sản xuất nông nghiệp của miền Nam Việt Nam so với Bắc Việt.

Với bài viết này, người viết không đặt ra mục tiêu phân tích chi tiết về số liệu và đưa ra các đánh giá chính sách liên quan đến chủ trương đất đai của Việt Nam Cộng Hòa. Mục tiêu của bài là chỉ ra một số lầm tưởng phổ biến trong các bài viết phổ thông, các trang mạng xã hội, chứng minh ngắn gọn sai sót của chúng thông qua những tài liệu học thuật chính thống trong cùng thời kỳ, và về cùng chủ đề.

Hiểu lầm 1 : "Cải cách điền địa" của Ngô Đình Diệm thành công vang dội so với "Cải cách ruộng đất" diễn ra tại miền Bắc ?

Ngô Đình Diệm luôn được tụng xưng là một lãnh tụ, một "người tài" của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Vị trí và tiếng nói chính trị của ông được xem như là đại diện của 20 năm tồn tại của chính quyền miền Nam Việt Nam. Nếu ở miền Bắc người ta tôn thờ Hồ Chí Minh thì tại miền Nam, những người có cảm tình với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đều tôn xưng Ngô Đình Diệm. Song nếu bạn là một người nông dân bình thường sống trong những năm 1954 cho đến tận 1968, chính sách đất đai của Ngô Đình Diệm chắc chắn không thể hấp dẫn hay thu hút được bạn.

datdai2

Ngô Đình Diệm, Tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng Hòa, người khởi xướng chương trình "Cải cách điền địa". Ảnh chụp tại Sài Gòn năm 1957. Nguồn : Keystone/ Getty Images.

Trước tiên, những con số sẽ chỉ ra thực trạng bất bình đẳng về đất đai ngay sau diễn biến 1954.

Theo các số liệu thống kê được đăng tải trên Far Eastern Survey, thuộc Viện nghiên cứu Hoa Kỳ về Thái Bình Dương, miền Nam Việt Nam vào thời điểm đó có dân số 4,5 triệu, nhưng chỉ có 255.000 người (5,6%) thật sự sở hữu đất đai. Tệ hơn nữa, có đến 184.000 người trong số đó chỉ có dưới 5 ha đất, dẫn đến thực tế là 71,7% số người có đất chỉ sở hữu khoảng 12,5% tổng diện tích đất canh tác. Phần lớn đất còn lại nằm trong tay một nhóm nhỏ.

Một nửa số người có đất không trực tiếp canh tác đất mà cho thuê lại để nhận tô, nghĩa là làm địa chủ. Số lượng đại địa chủ (những người sở hữu lên đến hơn 10 ha đất) và phần đất màu mỡ mà họ nắm giữ có thể khác nhau ở từng địa phương, song đều nằm ở mức đa số đáng quan ngại. Ví dụ, tại Chợ Lớn, đại địa chủ nắm 50,6% diện tích đất. Tại Bạc Liêu, đại địa chủ nắm đến trên 89,5% diện tích đất.

datdai3

Trái phiếu chương trình "Cải cách điền địa" vào thời Việt Nam Cộng Hòa. Ảnh : Viet Stamp.

Những thống kê này khiến cho giới quan chức Hoa Kỳ, mà cụ thể là Tổng thống Eisenhower phải lo lắng. Ông đích thân viết thư gửi cho Ngô Đình Diệm và khẩn khoản yêu cầu ông này đẩy mạnh những cuộc cải cách đất đai mang tính chất sống còn (indispensable reforms). Ông khẳng định Hoa Kỳ sẵn sàng hỗ trợ tài chính trực tiếp cho miền Nam Việt Nam mà không cần thông qua Pháp. Song những nỗ lực hỗ trợ này không được người đồng cấp trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đón nhận nồng hậu.

Luật Khoa đã từng đăng tải bài viết"Cải Cách Ruộng Đất, Cải Cách Điền Địa và Người Cày Có Ruộng" cách đây hơn bốn năm để phân tích một cách khái quát về ba cuộc cải cách ruộng đất trên dải đất hình chữ S trong vòng 20 năm nội chiến. Trong đó, tác giả bài viết đã bình luận rằng "Cải cách điền địa không nhằm vào việc thực sự cải tổ hệ thống đất đai tại miền Nam Việt Nam mà chỉ là giải pháp tình thế loại trừ ảnh hưởng kinh tế của giới đại điền chủ và tranh thủ sự ủng hộ chính trị của di dân miền Bắc Việt Nam sau những sai lầm của Cải cách ruộng đất".

Thật đúng như vậy, ngoại trừ việc phân bổ ruộng đất và các vùng đất mới cho nhóm Công giáo tị nạn từ miền Bắc, tác động của Cải cách điền địa đối với nông dân và tá điền miền Nam gần như là không tồn tại. Ba trụ cột chính sách được đưa ra là (1) giảm tô và kiểm soát thỏa thuận tá điền, (2) tái phân phối đất đai và (3) chương trình tín dụng dành cho tá điền – tất cả đều không đạt được bất kỳ thành tựu nổi bật nào.

Để nói về lý do, người viết có lẽ sẽ cần một loạt bài chi tiết để chỉ ra những sai lầm chính sách của Ngô Đình Diệm. Ví dụ như việc chính quyền ông Diệm đưa ra hạn mức sở hữu 100 ha đối với các đại điền chủ. Mục đích thật sự của chính sách này không phải là tạo ra nguồn ruộng đất dư thừa dùng cho việc tái phân phối, mà là nhằm kiểm soát quyền lực của nhóm chính trị Nam Kỳ. Điều này lại làm lợi cho nhóm Trung Kỳ và các chính khách tinh hoa Bắc Kỳ (do không có điền chủ nào ở Trung Kỳ sở hữu hơn 100 ha, và quy định này lại trở thành lợi ích kinh tế – chính trị của họ).

Đến cuối cùng, tất cả ba mục tiêu mà Cải cách điền địa đề ra đều không hiệu quả hoặc không thể đạt được, trong khi bất bình đẳng đất đai vẫn ở con số cao ngất ngưởng. Hệ số Gini của Việt Nam Cộng Hòa (Gini coefficient một loại chỉ số đo lường bất bình đẳng dựa trên phân phối thu nhập trong quần chúng) chỉ giảm được 0,04 điểm phần trăm, từ 0,84 vào năm 1955 xuống còn 0,80 vào năm 1966.

Hiểu lầm 2 : "Người cày có ruộng" của Nguyễn Văn Thiệu là một thất bại chính sách ?

Nguyễn Văn Thiệu (nắm quyền tổng thống từ năm 1967 đến 1975) không phải là một nhân vật ưa thích của những người có cảm tình lẫn ghét bỏ Việt Nam Cộng Hòa. Vì vậy, ông ít khi được xem trọng trong các đối thoại liên quan đến chính trị trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Song đối với chương trình cải cách đất đai mang tên "Người cày có ruộng", Nguyễn Văn Thiệu xứng đáng được vinh danh là một trong những lãnh đạo đầu tiên trong lịch sử Việt Nam có thể tiến hành một cuộc cải cách ruộng đất vừa hiệu quả, vừa không đẫm máu.

datdai4

Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, công bố chương trình "Người cày có ruộng". Ảnh : Người Việt.

Sau Tết Mậu Thân năm 1968, Hoa Kỳ đã bắt đầu rục rịch muốn rút khỏi miền Nam Việt Nam, và các chính khách hiểu chuyện tại miền Nam Việt Nam, như Nguyễn Văn Thiệu, biết rằng cách duy nhất để duy trì sự tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa là phải dựa vào sự ủng hộ của nông dân, những người chiếm đến 80% dân số miền Nam Việt Nam thời kỳ này.

Chương trình "Người cày có ruộng" do Nguyễn Văn Thiệu và các nhà kinh tế dưới quyền thiết kế được các nhà khoa học quốc tế thừa nhận một thành công lớn. Mục tiêu chính của nó là (1) xóa bỏ hoàn toàn chế độ sản xuất nông nghiệp tá điền, (2) bảo vệ quyền tư hữu đất đai, (3) xây dựng kinh tế quốc gia dựa trên mô hình sở hữu của các nông trang vừa và nhỏ.

Có hai lý do chủ yếu dẫn đến thành công của chương trình.

Một là, chương trình thật sự mong muốn cải tổ hệ thống quyền sở hữu đất đai tại miền Nam Việt Nam.

Sau khi đặt ra hạn mức sở hữu của các "cựu" địa chủ, lượng đất thu hồi (có bồi thường thông qua tiền mặt hoặc trái phiếu chính phủ) sẽ được giao lại cho nông dân hoàn toàn miễn phí, thay vì phải mua lại theo thời hạn như chương trình của Ngô Đình Diệm. Trong đó, tá điền đang lĩnh canh sẽ nhận được ưu đãi về thủ tục và ưu tiên chờ so với những người khác.

Những thay đổi này khiến cho lượng đất được giao và được canh tác trên thực tế tăng theo cấp số nhân, theo nghiên cứu của giáo sư Roy L. Prosterman thuộc Đại học Washington. Giáo sư Prosterman cũng là người sáng lập của Viện Nghiên cứu Phát triển Nông thôn rất nổi tiếng.

datdai5

Thống kê về kết quả tái phân bổ đất đai từ năm 1968-1969 tại miền Nam Việt Nam. Nguồn : nghiên cứu "Land-to-the-Tiller in South Vietnam : The Tables Turn" của Roy L. Prosterman.

Theo bảng thống kê, chỉ trong vòng hai năm ngắn ngủi ngay sau Mậu Thân, có đến 240.000 mẫu đất (tức lên đến gần 100.000 ha đất) được phân phối lại cho người cày, tá điền và các nông dân ít ruộng đất.

Lý do thành công thứ hai là năng lực, sự quyết đoán và bền bỉ của bản thân ông Nguyễn Văn Thiệu đối với chương trình.

Cũng trong nghiên cứu của Giáo sư Prosterman ở trên, Thiệu được ghi nhận là phải đối mặt với hàng loạt các áp lực liên quan đến các nhóm lợi ích thuộc phe điền chủ và đại điền chủ, đồng thời áp lực từ nhóm đối lập vốn không muốn ông này nhận được quá nhiều sự ủng hộ từ quần chúng.

Ông là người đầu tiên can thiệp vào quá trình "tái thu tô" của giới địa chủ chạy trốn trước và trong năm 1968 đối với những vùng vừa bình ổn (những khu vực vừa đánh bật Việt Cộng, hay Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam Việt Nam). Từ đó, chính quyền Thiệu chấp nhận tạm thời quyền sinh sống và làm ăn của rất nhiều nông dân đang canh tác, chuẩn bị cho một cuộc cải cách sâu rộng.

Chương trình Người cày có ruộng cũng chính thức giới hạn hạn mức điền địa cho những người "trực tiếp canh tác" là 15 ha tại Nam phần và 5 ha tại Trung phần. Ông cũng loại trừ khái niệm và quyền giữ "đất hương quả", vốn là một lỗ hổng pháp lý trong luật pháp thời Ngô Đình Diệm, để bảo đảm quá trình tái phân phối ruộng đất không bị ảnh hưởng. Hàng loạt các lãnh đạo và bộ trưởng liên quan đến việc soạn thảo dự thảo Luật Người cày có ruộng cũng bị sa thải khi phát hiện ra rằng họ cố tình cài cắm nhiều điều khoản để bảo vệ quyền lợi của các nhóm lợi ích.

datdai6

Một ấn phẩm do Đại sứ quán Việt Nam Cộng Hòa tại Úc thực hiện vào tháng 3/1971 để quảng bá các thành quả của chương trình "Người cày có ruộng". Ảnh : Viet Stamp.

Cho đến năm 1973, cùng lúc với thời điểm Hoa Kỳ rút quân lực chính quy khỏi Việt Nam, 2,7 triệu mẫu đất đã được phân phối cho hơn 800.000 hộ tá điền. Chế độ sản xuất nông nghiệp tá điền hoàn toàn được loại bỏ.

Cho đến thời điểm năm 1975, chỉ tính tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, 70% dân số nông thôn đã thuộc nhóm thu nhập trung bình, sở hữu hơn 80% đất và hơn 60% nông cụ (bao gồm cả các loại nông cụ hiện đại như máy cày, máy tuốt lúa). Đây chính là cái gai "tư hữu – tư bản" mà chính quyền tiếp quản và chính quyền của nhà nước cộng sản thống nhất không thể nhổ tận gốc, dẫn đến sự thất bại nghiêm trọng của mô hình sản xuất tập thể được áp đặt ngay sau đó.

Người cày có ruộng, vì vậy, không thể được xem là một thất bại chính sách.

Hiểu lầm 3 : Việt Nam Cộng Hòa thất trận vì nông dân, tá điền không ủng hộ ?

Một trong những luận điểm phổ biến nhất để phản bác tính chính danh của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa là vai trò và sự thất bại của nó trong việc cải thiện bất bình đẳng xã hội, mà quan trọng nhất là bất bình đẳng về đất đai.

Luận điểm này được chính truyền thông phương Tây đề xuất, khẳng định và tuyên truyền một cách mạnh mẽ. Theo đó, cả Hoa Kỳ lẫn chính quyền Sài Gòn đều thiếu hiểu biết và cố chấp trong việc kiểm soát và giải quyết triệt để nhu cầu cùng quyền lợi chính đáng của nông dân và người lao động. Đó là lý do chủ yếu khiến các nhóm dân cư, mà đặc biệt là dân sống tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, xem trọng vai trò của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (hay gọi ngắn là Việt Cộng).

Lập luận này được phân tích chi tiết trong quyển "The Economics of Insurgency in the Mekong Delta of Vietnamcủa tác giả Robert L. Sansom. Nó đi xa đến mức khẳng định rằng Việt Cộng là một trong những lực lượng giúp mang đến và duy trì những thay đổi kinh tế, xã hội tích cực cho vùng đồng bằng này, đặc biệt tại những vùng mà chính quyền Việt Nam Cộng Hòa không thể kiểm soát.

datdai7

Tờ bướm của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa quảng bá chương trình "Người cày có ruộng ". Ảnh : Viet Stamp.

Tuy nhiên, cho dù chấp nhận những quan điểm và luận cứ trên, rằng sự ủng hộ của giới nông dân, tá điền, những người cùng khổ dành cho phe cộng sản là căn nguyên cho sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa, ta cũng cần thẳng thắn thừa nhận rằng có điều bất thường về thành quả nông nghiệp và đất đai của vùng đất trù phú này ngay sau 1975.

Sống trong môi trường chính trị cộng sản mà nhiều người cho rằng nông dân miền Nam luôn hy vọng và ủng hộ, vì sao năng suất sản xuất lúa nước giảm lần lượt 13,2% và đến 19,7% trong các năm 1977 và 1978 ?

Theo thống kê chính thức từ nghiên cứu do Giáo sư Võ Tòng Xuân, một trong những cây đa của ngành nông nghiệp Việt Nam đương đại, kết hợp với Prabhu L. Pingali từ Viện Nghiên cứu lúa gạo Quốc tế thực hiện, ngay sau khi thống nhất đất nước, tổng sản lượng lúa giảm đến 7 triệu tấn, và giảm dần đều mỗi năm 6 triệu tấn trong một thời gian đáng báo động.

Không chỉ vậy, những cải cách về đất đai và kinh tế lao động tập thể mà Hà Nội áp dụng tại khu vực này được ghi nhận là chỉ làm căng thẳng hơn tình trạng bất bình đẳng về quyền và lợi ích, làm bùng nổ tranh cãi và bất ổn chính trị.

Điểm thú vị ở đây là, nếu chúng ta cáo buộc chính quyền miền Nam Việt Nam đã không bảo đảm được đời sống, quyền tiếp cận đất đai và bảo vệ bình đẳng xã hội dành cho nông dân, tá điền ; vì sao những người này trong giai đoạn sau 1975 lại phản đối một cơ chế đất tập thể rõ ràng bình đẳng hơn và đại đồng hơn ?

Về mặt số liệu, có thể khẳng định rằng chính quyền Việt Nam Cộng Hòa của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã giải tỏa hoàn toàn những cáo buộc về bất bình đẳng về đất đai và sản xuất nông nghiệp ở miền Nam Việt Nam, như phân tích trong "Hiểu lầm 2" ở trên.

datdai8

Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa phát hành vé số đặc biệt, xổ ngày 30/4/1970, nhân chương trình "Người cày có ruộng". Ảnh : Viet Stamp.

Cụ thể, từ năm 1970 cho đến năm 1973, cùng giai đoạn Hoa Kỳ rút quân lực chính quy khỏi Việt Nam, 2,7 triệu mẫu đất đã được phân phối cho hơn 800.000 hộ tá điền. Chế độ sản xuất nông nghiệp tá điền hoàn toàn được loại bỏ. Thiệu được khen ngợi là chính thức xây dựng thành công nền nông nghiệp trung lưu đồng thời bảo vệ sở hữu tư nhân.

Ở Đồng bằng sông Cửu Long, cứ điểm của các đại điền chủ và trùm đất đai toàn Việt Nam suốt hơn mấy thế kỷ, 70% dân số nông thôn đã thuộc nhóm thu nhập trung bình, sở hữu hơn 80% đất và hơn 60% nông cụ.

Không chỉ vậy, tiêu chuẩn về cái gọi là tá điền, trung nông, phú nông cũng hoàn toàn vượt trội so với cái mà chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc xây dựng.

Ví dụ, theo phân tích của MinhTam T. Bui và Arayah Preechametta, nếu chương trình "Người cày có ruộng" xác định người sở hữu từ 1 đến 3 ha đất là "bần cố nông", cũng những người này sẽ bị cáo buộc là "địa chủ trung lưu" trong hệ thống chính trị sau 1975.

datdai9

Bảng so sánh sự khác biệt trong cách thức phân loại các chủ đất giữa hai hệ thống, "Người cày có ruộng" của Việt Nam Cộng Hòa và hệ thống chính trị sau 1975. Nguồn : Nghiên cứu "Land Inequality or Productivity : What Mattered in Southern Vietnam after 1975 ?".

Như vậy, có thể khẳng định rằng trước 1975, chế độ tá điền đã bị bãi bỏ, công bình đất đai đã được thiết lập tại miền Nam Việt Nam, và người nông dân cũng đã trải nghiệm niềm hạnh phúc của "Người cày có ruộng" trong ít nhất 5 năm.

Nghiên cứu chi tiết của Charles Stuart Callison, một trong số ít các tác giả phương Tây gắn bó với chính sách cải cách đất đai của Việt Nam Cộng Hòa, khẳng định rằng sự ủng hộ của các nhóm dân cư như nông dân, tá điền và người sinh sống tại vùng nông thôn miền Nam Việt Nam dành cho phe nổi dậy Việt Cộng đã giảm rõ rệt.

Ông chỉ ra sức mạnh quân sự cũng như nền tảng ủng hộ quần chúng của Việt Cộng đã không còn như xưa, đặc biệt sau trận Tết Mậu Thân 1968. Nguyễn Văn Thiệu ở một mức độ nào đó đã chiến thắng cuộc chiến du kích và nổi dậy với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Sự kiện Sài Gòn thất thủ, vì vậy, có nhiều cơ sở để được xem là một thất bại quân sự thuần túy của một đội quân bị tiêu giảm nhiều nguồn tài lực hỗ trợ so với trước đó, cùng với những sai lầm chiến thuật khác ; thay vì là một thất bại về dân vận và nền tảng ủng hộ đại chúng như nhiều tài liệu và nhà quan sát phân tích.

Võ Văn Quản

Nguồn : Luật Khoa, 25/04/2021

Published in Diễn đàn

Sự suy tàn của hai biểu tượng một thời rực rỡ.

noibuon1

Rạp cải lương Hưng Đạo trên đường Nguyễn Cư Trinh, Sài Gòn năm 1965. Ảnh : Frank O’Rear.

"Trong các vở cải lương, khán giả chỉ muốn nghe phần hát, vọng cổ. Nhiều nghệ sĩ phô trương độ dài của hơi thở bằng cách hát hàng trăm từ trong một hơi, nhưng không thể hiện được nội dung gì. 

Hành vi, cử chỉ của người diễn thường sáo rỗng hoặc theo thói quen, họ thậm chí còn không cố gắng thể hiện cảm xúc nhân vật hay bối cảnh thực tế.

Mặt khác, họ trưng bày sự xa hoa sặc sỡ của các bộ quần áo mới của đoàn hát, họ phô trương vẻ trẻ đẹp của dàn diễn viên, nhưng khi diễn thì không làm gì hơn là để lộ vài phần cơ thể để chọc cười rẻ tiền […]".

Hoàng Như Mai, một học giả nhà nước có tiếng, bình luận như vậy trong bài viết "Sân khấu các tỉnh phía Nam trong mười năm qua", thuộc quyển "Mười năm xây dựng nền văn hóa mới, con người mới tại miền Nam (1975-1985)" (*). Đây là một dạng báo cáo tổng kết quen thuộc trong mọi lĩnh vực để đánh giá liệu con người của vùng đất mới bị chinh phạt đã có những "tiến bộ" gì để bắt kịp với văn hóa chủ nghĩa xã hội hay chưa.

Trớ trêu hơn, Hoàng Như Mai vẫn thường được tụng xưng  là "người thầy giáo", "người đóng góp lớn" cho sự "phát triển" của cải lương miền Nam.

Góc nhìn của ông cho thấy phần nào góc nhìn của nhà nước Việt Nam nói chung đối với cải lương, cũng như cách tiếp cận của họ với bộ môn nghệ thuật này.

Cải lương vẫn thường bị các trí thức cộng sản phê phán là một hình thức sân khấu lai căng, thừa mứa và ủy mị. Nhưng mặt khác, họ cũng nhận thấy ở cải lương khả năng thao túng cảm tình đám đông để xây dựng tính cách xã hội chủ nghĩa.

Sự lo ngại của Đảng Cộng sản trước năng lực tạo nên bản sắc danh tính riêng ngoài danh tính xã hội chủ nghĩa và tính trung hòa lịch sử của cải lương trước các lực lượng ngoại bang từ Trung Quốc, Pháp đến Hoa Kỳ lý giải phần nào mong muốn kiềm chế và "cải tổ" cải lương ngay sau 1975.

noibuon2

noibuon3

Rạp Hưng Đạo, nơi từng được xem là "thánh địa" của cải lương ở Sài Gòn trước 1975, nay trở thành Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang, một công trình xây lỗi. Ảnh : Tom Robinson (trên), Báo Người Lao Động, Báo Pháp Luật (dưới).

Khác với hình ảnh huy hoàng, danh giá ; khác với tiếng tăm và khả năng làm giàu của các đoàn cải lương trong thời kỳ Việt Nam Cộng Hòa, cải lương đương đại đã đi đến thời khắc cuối cùng của nó. Cải lương giờ đây chỉ có thể sống lang bạt ở các viện bảo tàng và các chương trình bảo tồn di sản, thay vì đóng góp tích cực vào việc định hình danh tính, tâm tư và ý chí riêng của một cộng đồng dân cư như nó đã từng.

Cái kết của cải lương và Việt Nam Cộng Hòa, dù khác thời điểm, nhưng cùng chung đâu đó đều là câu chuyện về sự suy tàn của một cộng đồng từng phát triển rực rỡ.

Cải lương và Việt Nam Cộng Hòa : kết tinh riêng độc đáo của miền Nam Việt Nam

Khái niệm "cải lương " trong tiếng Việt khó hiểu hơn là thuật ngữ tiếng Anh tương đương của nó. Trong tiếng Anh, cải lương được gọi là "reformed opera" hoặc "renovated theatre", chỉ một hình thức hát kịch sân khấu cải cách. Nhưng cải cách từ đâu ?

Có ba nguồn ảnh hưởng chính của cải lương.

Trước tiên, dễ nhận thấy và dễ hiểu, là từ hát bội của Trung Quốc.

Hát bội được cho là phát triển tại Việt Nam từ sau khi Trần Hưng Đạo đánh bại lực lượng quân Nguyên giai đoạn 1228 – 1330. Trong số các tù binh nhà Trần bắt được, có một nghệ sĩ người Hoa theo hình thức hát bội (zaju) tên là Lý Nguyên Cát được giữ lại để dạy và phát triển hình thức nghệ thuật này tại Việt Nam.

Trong nhiều thế kỷ sau đó, hát bội tiếp tục phát triển tại Việt Nam với sự nhập khẩu của nghệ thuật hát bội từ Trung Quốc. Hình thức nghệ thuật này tương tác với văn hóa Chăm (vốn trở thành một phần của Việt Nam vào thế kỷ 15) và tạo nên một số biến thể địa phương mới như "hát nam".

Cải lương vay mượn phong cách sân khấu, sự khoa trương thậm xưng của diễn xuất, cảm xúc, và sự nhấn mạnh vào hình thể của hát bội để tạo nên diện mạo của mình.

noibuon4

Sân khấu cải lương đoàn Thanh Minh Thanh Nga theo phương châm "thực và đẹp, khác hẳn với hát bội". Trong hình là tuồng "Tình sử Dương Quý Phi". Ảnh : Huỳnh Công Minh/Màn Ảnh Sân Khấu.

Về âm nhạc, cải lương sử dụng nguồn âm nhạc và ngôn ngữ thuần túy Nam Bộ.

Được biết đến với tên gọi "nhạc tài tử", hoặc trước đó là "ca ra bộ", âm nhạc trong cải lương có gốc là kiểu hát kịch có cử chỉ – một cách kể chuyện với âm nhạc. Ca ra bộ được người Pháp ghi nhận đã xuất hiện trong nhiều buổi gây quỹ địa phương hoặc trong các chương trình tạp kỹ tại Nam Kỳ từ đầu những năm 1900.

Cuối cùng, lối dẫn chuyện và phong cách kịch nói thì rõ ràng là chịu ảnh hưởng của chính kịch Pháp, từ kinh nghiệm dàn dựng sân khấu (hậu đài lẫn tiền đài), cách trang điểm, bối cảnh và kỹ thuật dẫn chuyện.

noibuon5

Một phân đoạn trong vở cải lương "Con gái chị Hằng" năm 1961. Bối cảnh và sân khấu đặc biệt mang phong cách Pháp. Ảnh : Huỳnh Công Minh/ Màn Ảnh Sân Khấu.

Cùng lúc đó, các sản phẩm âm nhạc cải lương là sự kết hợp liên hồi của ngôn ngữ, nhạc cụ và bối cảnh Tây – Hoa – Ta.

Ta thử lấy ví dụ về bài vọng cổ Dạ Cổ Hoài Lang  của Cao Văn Lầu, tác phẩm được sáng tác vào năm 1918. Ngôn ngữ trong tiêu đề và lời ca vừa đậm tính Hoa, vừa đậm tính Việt. Trong khi đó, nhạc cụ được sử dụng thì vô cùng đa dạng, với sáo, tiêu, đàn tranh, đàn bầu cho đến guitar và violin.

Theo cách nói của Vương Hồng Sển trong quyển "Hồi ký 50 năm mê hát", cải lương là cách con người Nam Bộ chôn giấu niềm yêu nước trong những năm tháng thuộc địa, nhưng cũng đồng thời là cách để thỏa hiệp và tìm niềm vui trong xã hội mới.

Đâu đó, chúng ta cũng thấy trong Việt Nam Cộng Hòa sự pha trộn, thỏa hiệp cũ – mới của cải lương.

Chúng ta thường được nghe rao giảng rằng chỉ có Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới có tính chính danh lịch sử sau Đệ nhị thế chiến, nhưng thực tế thì không hề đơn giản như vậy.

Hiệp định Sơ bộ Pháp – Việt (Franco – Vietnam Agreement 1946, hay Ho – Sainteny Agreement) xác định  rõ Pháp thừa nhận chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc (VNDCCH) có tư cách là một nền cộng hòa độc lập thuộc Liên bang Đông Dương (Indochinese Federation), một thành viên không thể tách rời của Liên Hiệp Pháp (French Union). Tuy nhiên, hiệp định này cũng chỉ giới hạn chủ quyền của VNDCCH tại Bắc kỳ (Tonkin) ; phần còn lại gồm Trung kỳ (Annam) và đặc biệt là Nam kỳ (CochinChina) thì vẫn còn danh nghĩa thuộc địa của Pháp.

Ai vi phạm Hiệp định Sơ bộ là một câu chuyện mà cả hai phía đều cáo buộc nhau, nhưng rõ ràng đến cuối cùng, VNDCCH vẫn thừa nhận mình chỉ có thẩm quyền khu vực phía Bắc, và từ bỏ nỗ lực đại diện cho một Việt Nam thống nhất, ít nhất là trên phương diện công pháp quốc tế.

Trung Kỳ và Nam Kỳ, vì vậy, vẫn còn mang danh nghĩa thuộc địa của Pháp.

Vì thế khó này, ở Nam Kỳ, con đường đấu tranh đòi độc lập chủ yếu phải thông qua con đường chính trị và thỏa hiệp. Trong đó, không thể xem nhẹ những nỗ lực của các gương mặt như Nguyễn Văn Xuân hay cựu hoàng Bảo Đại.

noibuon6

Cựu hoàng Bảo Đại rời Điện Elysée, Pháp, tháng 2/1948 sau một cuộc họp. Ảnh : Getty Images.

Kết tinh của quá trình này là Hiệp định Elysee (Elysee Accords) năm 1949. Đây là tập hợp  của nhiều thư trao đổi giữa Bảo Đại và Tổng thống Pháp Vincent Auriol.

Hiệp định thừa nhận một số điểm cơ bản như : 

(i) danh nghĩa thuộc địa của Nam Kỳ sẽ phải bị xóa bỏ (và đã được Quốc hội Pháp trầy trật thông qua sau đó) ;

(ii) lần đầu tiên Pháp đồng ý thống nhất cả ba kỳ với tên gọi chung là Việt Nam ;

(iii) chấp thuận trao lại chủ quyền (như dân sự, kinh tế, tư pháp, hành chính…) cho một chính phủ thống nhất đại diện cả ba miền. Tuy nhiên, các vấn đề về tài chính và quân sự vẫn còn phụ thuộc vào Pháp, lý giải bằng mối quan hệ với Liên hiệp Pháp.

Từ đó, Quốc gia Việt Nam (State of Vietnam) cũng có tính chính danh hình thức không kém cạnh so với VNDCCH, đặc biệt theo góc nhìn công pháp quốc tế.

Cải lương và Việt Nam Cộng Hòa : "Bật tận gốc, trốc tận rễ"

Cái chết của Việt Nam Cộng Hòa là hệ quả lộn xộn của địa chính trị quốc tế khó lường trước, nhưng cái chết của cải lương là một kết quả có thể dự báo.

Nhiều người cho rằng cải lương tự thân nó đã lỗi thời, không còn hấp dẫn, không thể cạnh tranh thì tự nhiên phải chết.

Nhưng nếu vậy thì điều gì xảy ra trước 1975, lúc cải lương vẫn có dư đất sống giữa thời điểm nhạc Âu – Mỹ đã rất phổ biến tại miền Nam, và hàng loạt thể loại nhạc Việt và các tác giả Tây hóa cũng đã được công chúng đón nhận ? Nếu phải chết, tại sao cải lương không chết dần từ lúc đó ?

noibuon7

Rạp Nguyễn Văn Hảo giới thiệu chương trình của đoàn cải lương Thanh Minh Thanh Nga, Sài Gòn, đầu xuân 1961. Ảnh tư liệu của Ngành Mai/Người Việt.

Văn hóa, đến cuối cùng, tồn tại dựa vào cộng đồng gầy dựng và nuôi dưỡng nó.

Từ công cuộc "cải cách văn hóa" nhằm "tái xây dựng" miền Nam với việc cấm nhạc vàng, cấm tác phẩm văn chương và sách vở nổi tiếng trong giai đoạn Việt Nam Cộng Hòa, đẩy hàng triệu cư dân thành thị về các khu kinh tế mới và trại cải tạo, rồi kế đó là cuộc trốn chạy lịch sử của hàng trăm ngàn cư dân miền Nam Việt Nam, nền tảng văn hóa và cộng đồng văn hóa của vùng đất khốn khổ này hoàn toàn đứt gãy.

Trong bối cảnh đó, sự thù ghét của các nhà văn hóa cộng sản dành cho cải lương còn rõ hơn ban ngày.

Các tác giả như Trần Hữu Tá, Trà Linh, Hòa Lục Bình khá đồng thanh trong việc phê phán và chê bai cải lương trong một loạt các tác phẩm đả kích, mà khét tiếng nhất phải kể đếnVăn hóa – Văn nghệ miền Nam dưới chế độ Mỹ ngụy.

Từ việc gọi cải lương là công cụ để "đồi trụy hóa" con người cho đến việc cáo buộc cải lương là chỉ dấu của một nền văn hóa thực dân lai căng dị bản, các chiến sĩ trên mặt trận văn hóa xã hội chủ nghĩa từ lâu đã xem cải lương là tội đồ.

Một lần nữa, theo cách nói của Hoàng Như Mai, cải lương là điển hình mô tả những gì "rẻ tiền, dơ bẩn và tội lỗi" của xã hội tư sản mại bản, là một sản phẩm văn hóa "giả nhái", "vô giá trị".

Sau năm 1975, với cộng đồng thưởng thức đã tan rã, và với những người "làm văn hóa" thù hận cải lương đến cực đỉnh, cải lương mất đi cả nền tảng văn hóa lẫn cơ hội chính sách để sống một cách đúng nghĩa.

*** 

Đây có thể là một nhận định khiến người nghe cải lương gần bốn thập niên trở lại đây phật lòng, nhưng cải lương sau 1975 không còn chút sức sống tự thân nào.

Tinh thần không còn. Con người không còn.

Tác giả không còn. Khán giả không còn.

Với công cuộc quốc hữu hóa cải lương và các đoàn diễn, sự áp đặt của những danh hiệu như "nghệ sĩ ưu tú", "nghệ sĩ nhân dân", cùng với sự thù ghét cải lương sẵn có của các nhà hoạch định văn hóa, hình thức kịch nghệ độc đáo một thời đã bị thao túng và trở thành công cụ để nhà cầm quyền sử dụng, cho đến khi nào hết dùng được thì thôi.

Riêng cái hạn dùng, có lẽ đã đến từ vài thập niên trước.

Võ Văn Quản

Nguồn : Luật Khoa, 20/04/2021

(*) Nhận định của Hoàng Như Mai được dịch lại từ tiếng Anh sang tiếng Việt, theo trích dẫn trong nghiên cứu A Personal Sorrow : "Cải Lương" and the Politics of North and South Vietnam  của tác giả Khai Thu Nguyen, đăng trên tạp chí Asian Theatre Journal năm 2012. Người viết không tìm được bản gốc của tác phẩm tiếng Việt được trích dẫn.

Published in Văn hóa

Rạng sáng ngày 30/01/1968, những quả tên lửa đầu tiên của lực lượng cộng sản bất ngờ đánh vào các tỉnh lỵ trên khắp miền Nam Việt Nam. Rất nhanh sau đó, một cuộc tấn công trên bộ nổ ra trên khắp cả nước, và đến sáng hôm sau, phần lớn các đô thị miền Nam đã bị bao vây, bao gồm Đài Phát thanh Sài Gòn, Bộ Chỉ huy Quân lực Việt Nam Cộng Hòa và thậm chí cả Đại sứ quán Mỹ. Trên các tờ báo địa phương, "Năm của Cát" (Year of Sand) – theo hình ảnh các bao cát chặn trước cửa nhà hay cửa sổ – đã thực sự bắt đầu.

vnch1

Một gia đình chạy trốn chiến sự ở Sài Gòn năm 1968. Ảnh Tim / Corbis, qua Getty Images

Tại Mỹ, đợt tấn công, được gọi là trận Tết Mậu Thân, thường được nhớ đến như một bước ngoặt tâm lý, thời điểm mà Tổng thống Johnson được cho là đã đánh mất niềm tin của phát thanh viên đài CBS, Walter Cronkite – và nói rộng hơn, là niềm tin của toàn thể công chúng Mỹ. Thật vậy, dù phe Cộng sản bị tổn thất đáng kể về nhân lực và tinh thần, mâu thuẫn giữa những lời hứa hão huyền của giới chức Mỹ và hình ảnh cuộc tấn công đẫm máu xuất hiện trên truyền hình đã chẳng bao giờ được hóa giải. Tuy nhiên, tác động chính trị của Tết Mậu Thân lên Việt Nam Cộng Hòa cũng giữ vai trò quan trọng không kém trong việc xác định kết quả sau cùng của cuộc chiến.

vnch2

Một cựu chiến binh miền Nam Việt Nam bị thương tập tễnh trên chiếc nạng với thức ăn nhặt được từ các cơ sở bỏ hoang của Hoa Kỳ sau khi di tản khỏi Sài Gòn, ngày 29 tháng 4 năm 1975. AP (The Fall of Saigon, 1975) - Ảnh minh họa 

Vẫn thường bị coi là chế độ phụ thuộc vào Mỹ, miền Nam Việt Nam là nơi sinh sống của hàng triệu người chống cộng nhiệt thành nhưng chia rẽ bè phái, chủ yếu tập trung ở các trung tâm đô thị và các tỉnh lỵ. Đáp lại cú sốc Mậu Thân, họ đã tạm gác lại cuộc cãi vã trước đây và cùng nhau tập hợp trong một sự đoàn kết hiếm có. Đáng tiếc là nguồn năng lượng tích cực ấy lại bị lãng phí một cách vội vàng. Thay vào đó, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã tận dụng cơ hội để nhanh chóng thâu tóm quyền lực, làm tổn hại đến cơ sở hiến pháp cho tính chính danh của ông, và khiến ngay cả những người chống cộng tận tâm nhất cũng phải tuyệt vọng. Sự quyết tâm dâng cao sau Tết Mậu Thân đã chẳng thể chống lại nỗi hoài nghi, cùng lúc đó, niềm tin và cam kết của quân đội cũng dần bị xói mòn.

Kết quả là, khoảnh khắc vốn dĩ đã có thể là bước ngoặt cho đất nước lại trở thành khởi đầu của một kết thúc. Vào ngày chính phủ cuối cùng phải đầu hàng xe tăng Cộng sản trong tháng 04/1975, số phận chính trị của miền Nam đã được định xong.

Khi nhìn lại, Việt Nam Cộng Hòa có lẽ là một thử nghiệm chính trị thất bại. Nhưng sau Tết Mậu Thân, những người ủng hộ chính thể này đã nhận ra sự cấp bách mới. Bất chấp bạo lực tàn khốc, phản ứng của người dân miền Nam đối với các đợt tấn công Mậu Thân thể hiện đỉnh cao chủ nghĩa dân tộc chống Cộng trong cả nước.

Lần đầu tiên được đưa lên tiền tuyến trong cuộc chiến, các nhà quan sát chính trị chống cộng ở thành thị đã bắt đầu hành động và đã vượt qua mọi chia rẽ sâu sắc về chính trị, vùng miền và tôn giáo. Họ chuyển nguồn năng lượng mới của mình vào một loạt các nhóm bảo trợ, gồm Mặt trận Quốc gia Dân chủ Xã hội và Mặt trận Cứu quốc (hay "Liên Minh", "Liên đoàn"). Hành động tập thể chưa từng có này được thúc đẩy bởi một nhận thức rõ ràng rằng từng phe phái ở miền Nam, nếu hoạt động riêng rẽ, sẽ không thể tự đối đầu với bộ máy chính trị Cộng sản.

Ngoài những biểu hiện lạ thường của một tình đồng chí thân thiết, tình trạng sau Tết Mậu Thân còn thổi bùng sức sống cho hệ thống hiến pháp mới của miền Nam, mà cho đến lúc đó vẫn còn bị phê phán sau cuộc bầu cử tổng thống gian lận diễn ra một năm trước. Khi đất nước quay cuồng trong đổ máu, các thể chế non trẻ như Quốc hội vừa được hồi sinh đã giúp lên kế hoạch chi tiết cho hợp tác chính trị, đồng thời thành lập một diễn đàn cho những người theo chủ nghĩa lập hiến cộng hòa, những người mà bất kể quan điểm về chế độ quân quản của họ là gì, cũng không nhìn thấy tương lai của mình dưới sự thống trị của Cộng sản.

Phẫn nộ vì bạo lực, những người chỉ trích chính phủ lâu năm bất ngờ dồn dập tố cáo đợt tấn công của Cộng sản. Ngay cả khối Phật giáo Ấn Quang, với hai cuộc nổi dậy từng khiến chính phủ miền Nam phải quy phục vào năm 1963 và 1966, giờ đây quay sang ủng hộ hệ thống hiến pháp mới. Kinh hoàng trước vụ thảm sát ở miền Trung, phe Ấn Quang nhanh chóng xóa bỏ mọi liên hệ với những người Cộng sản. Mặc dù chẳng hề ủng hộ quân đội miền Nam, các lãnh đạo tôn giáo này vẫn quyết định nắm lấy cơ hội dưới chế độ còn đang bấp bênh của Sài Gòn, vốn bị họ đánh giá là kém hơn nhiều so với Hà Nội trong việc thực hiện khát vọng chuyên chế của mình.

Để đạt được điều đó, năm 1970, nhóm Ấn Quang đã hành động bằng cách ủng hộ và thắng thế trong cuộc bầu cử Thượng viện, giành được một phần ba số ghế đang tranh chấp. Đáng chú ý hơn, khi tình hình chính trị xấu đi trong những năm sau đó, phe Ấn Quang cũng không chủ động thách thức nhà nước, ngay cả khi các đảng trung thành truyền thống phải xuống đường trong giận dữ. Khả năng kiềm chế bất ngờ của khối Phật giáo này là một yếu tố then chốt, nhưng lại thường bị bỏ qua, trong việc kéo dài sự tồn tại của miền Nam Việt Nam, và là biểu tượng cho tiềm năng bị lãng phí của hệ thống hiến pháp.

Trong khi đó, được cổ vũ bởi tinh thần quyết tâm và đoàn kết sau Mậu Thân, xã hội dân sự đô thị ở miền Nam đã khẩn thiết yêu cầu nhà nước tận dụng tinh thần ấy bằng cách thực hiện những cải cách cần thiết.

Phan Quang Đán, một nhà lãnh đạo đối lập được ngưỡng mộ vì đã dũng cảm chịu đựng sự tra tấn của chính phủ, là một trong số nhiều người nhanh chóng lên tiếng về những khả năng mới được tìm thấy. Ông tuyên bố Mậu Thân là "cơ hội to lớn để biến một chiến thắng quân sự tạm thời thành một thắng lợi chính trị quyết định – nếu chính quyền miền Nam biết nắm bắt và tiến lên nhanh chóng, tái cấu trúc quân đội và chính quyền, quét sạch tham nhũng, thực hiện cải cách ruộng đất, huy động sự tham gia tích cực của quần chúng và đạt được sự thống nhất quốc gia".

Chắc chắn đây là một nhiệm vụ khó khăn. Tuy nhiên, như phó tổng thống xuất thân quân đội Nguyễn Cao Kỳ nhận xét trong một cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh hồi tháng 03/1968, "Tôi biết rằng họ" – cư dân Sài Gòn – "vẫn không ưa gì chúng tôi, nhưng chí ít tôi cũng chắc chắn rằng họ ghét Cộng sản".

Tuy nhiên, ẩn sau lời lẽ hoa mỹ đặc trưng của Kỳ là một sự thật khó chịu cho các tướng lĩnh cầm quyền của Sài Gòn : Làn sóng giận dữ chống Cộng sau Tết Mậu Thân cũng chẳng thể đảm bảo cho lòng trung thành đối với chế độ quân sự đã từng bị phê phán rất nhiều.

Chẳng hạn, hãy xem xét sự kiện ở cố đô Huế, nơi tin tức về vụ thảm sát của Cộng sản đã làm phẫn nộ và thôi thúc người dân miền Nam. Tuy rằng nỗi đau của Huế vẫn là biểu tượng cho sự tàn bạo của lực lượng Cộng sản, các phản ứng vào thời điểm đó thường mang nhiều sắc thái và nhiều mặt. Được sáng tác sau vụ thảm sát, "Bài ca dành cho những xác người" của Trịnh Công Sơn nhấn mạnh nỗi buồn tập thể hơn là sự đổ lỗi, trong khi cuốn "Giải khăn sô cho Huế" của tiểu thuyết gia Nhã Ca lại gây tranh cãi vì đã giao cho toàn dân tộc trách nhiệm chấm dứt đổ máu.

Trong khi đó, người dân thành phố Huế tức giận không chỉ bởi những vụ bắt cóc và hành quyết của Cộng sản – mà còn bởi hỏa lực bừa bãi của Mỹ. Họ dành sự khinh miệt đặc biệt cho quân đội miền Nam, những kẻ vội vã bỏ chạy khi vừa thấy dấu hiệu rắc rối và rồi quay trở lại cướp phá những gì còn lại khi chiến sự không còn.

Xét về mặt này thì Huế không phải là ví dụ điển hình. Bỏ chạy rồi quay lại cướp bóc là một mô hình lặp đi lặp lại trong hàng ngũ Việt Nam Cộng Hòa, những người lặp lại kịch bản như ở Huế tại Sóc Trăng, Đà Lạt và Vĩnh Long, cũng như nhiều tỉnh lỵ khác. Quân đồn trú tại Tuy Hòa, thủ phủ tỉnh Phú Yên, thậm chí còn biến mất trước khi súng kịp nổ ra. Lực lượng tiếp viện cuối cùng đã đến, nhưng chỉ sau khi phe Cộng sản đã rời đi. Ấy thế nhưng quân Việt Nam Cộng Hòa vẫn tổ chức một nghi lễ ăn mừng chiến thắng thật hào nhoáng, sau đó là cuộc cướp phá toàn diện thị trấn. Một người dân địa phương rầu rĩ, "Quân đội không đánh bại được Cộng sản, họ đánh bại chúng tôi".

Phản ứng đối với quân Mỹ cũng chẳng khá hơn. Với hy vọng đánh bật sự kháng cự của Cộng sản, không quân và pháo binh Mỹ đã san bằng thành phố Nha Trang. Ngoài ra, đã có hơn 3.000 ngôi nhà bị phá hủy chỉ riêng ở Quận 8 của Sài Gòn, trong khi khoảng 20.000 cư dân sống tại tỉnh Gia Định gần đó đã lâm vào cảnh mất nhà cửa chỉ vài tuần sau chiến dịch.

Các đợt tấn công trên toàn quốc đã thúc đẩy phản ứng chống Mỹ ngày càng mạnh mẽ. Đầu thập niên 1970, những viên chức người Mỹ thường xuyên phải đối mặt với các cuộc đụng độ trên đường phố và dần dần phải chuyển về những căn cứ xa xôi. Suốt thời gian đó, những người Việt Nam theo thuyết âm mưu đã tung tin đồn C.I.A. thông đồng với các cuộc tấn công của Cộng sản, lấy lý do nhằm đẩy nhanh việc rút quân của Mỹ. Đáp lại, Hạ viện Quốc hội Việt Nam Cộng Hòa đã chính thức trình đơn khiếu nại, và các cơ quan ngôn luận của chính phủ như tờ Công Chúng (The Public) lên tiếng cáo buộc người Mỹ đã phá hủy Huế.

Cú sốc ban đầu khơi dậy quyết tâm mới ở nhiều thành phố, nhưng lại giáng một đòn tâm lý nặng nề lên hầu hết các vùng nông thôn. Chứng kiến sự hèn nhát của quân đội, cảnh quân đội lợi dụng sự khốn khổ của dân và việc quân đội thường chẳng tài nào có thể chống lại các đợt tấn công ban đầu, những người dân nông thôn hoàn toàn mất niềm tin vào khả năng cũng như mong muốn bảo vệ họ của nhà nước.

Hơn nữa, trái ngược với quan điểm cho rằng Mậu Thân đánh dấu một thất bại không thể cứu vãn đối với phe Cộng sản miền Nam, tình hình sau đó thật ra khá suôn sẻ. Trong phần lớn năm 1968, Cộng sản đã củng cố vị trí của mình tại nhiều vùng đất rộng lớn ở nông thôn, kìm chân bộ binh Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa trong các căn cứ và các thành phố. Tổn thất ban đầu được bù đắp nhờ lực lượng tiếp viện ngày một đông từ miền Bắc, bất chấp cái giá phải trả là gia tăng căng thẳng vùng miền trong hàng ngũ. Sang năm tiếp theo, sau một cuộc phản công của Mỹ– trong đó hỏa lực đã được sử dụng bừa bãi và dân thường phải hứng chịu thương vong nặng nề – cán cân quân sự đã dần thay đổi, và thậm chí cả khi đó, hành động rút lui của Cộng sản vẫn mang tính chiến thuật.

Khi thấy tinh thần dân chúng ngày càng suy yếu sau những lời hứa chiến thắng hão huyền của họ, lực lượng Cộng sản đã tăng cường sử dụng "cây gậy", bắt giữ và ám sát những người dám đứng về phía chế độ Sài Gòn. Nhưng họ cũng cẩn thận sử dụng cả "cà rốt". Ví dụ, ở tỉnh Phước Tuy, cán bộ đã đến từng nhà để hỏi han về các loại thuốc men cần thiết, sau đó họ đi mua ở chợ đen rồi đem phân phát cho dân chúng.

Một phần nhờ những nỗ lực như vậy, mạng lưới chính trị của Cộng sản mới tồn tại nguyên vẹn ngay cả khi tinh thần quân đội bị xuống thấp. Thu nhập của người dân miền Nam thời bấy giờ chỉ đủ để trang trải 30% chi phí sinh hoạt, nhưng việc thu thuế của Cộng sản vẫn tiếp tục tăng nhanh. Sau Mậu Thân, theo báo cáo của C.I.A., Cộng sản vẫn có thể "huy động ngay từ nội bộ miền Nam hầu hết nguồn quỹ và vật tư phi quân sự cần thiết để hỗ trợ cuộc kháng chiến của mình". Việt Cộng "nắm giữ quyền kiểm soát đáng kể đối với việc sản xuất, chế biến và vận chuyển nhiều mặt hàng thiết yếu cho nền kinh tế miền Nam", trong khi "hệ thống thuế của họ lấy nguồn thu từ hầu hết mọi phân khúc của nền kinh tế miền Nam". Ngay cả các đồn điền cao su của hãng Michelin, Pháp, nằm ở tỉnh gần nhất về phía tây Sài Gòn, cũng có các khoản thanh toán định kỳ cho lực lượng Cộng sản.

Nhiều năm sau Mậu Thân, sự hiện diện của Cộng sản xung quanh thủ đô Sài Gòn vẫn rất đáng gờm. Tại tỉnh Long An ở phía nam Sài Gòn, tình báo Mỹ thừa nhận rằng gần một nửa số ủy ban cách mạng cấp thôn của Cộng sản vẫn đang hoạt động với hiệu quả tương tự như chính quyền Việt Nam Cộng Hòa trong việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ. Việt Cộng tiếp tục "có thể tổ chức lớp học bình thường ở một số khu vực nhất định và thậm chí còn tổ chức các buổi biểu diễn công cộng".

Lún sâu trong trận chiến chính trị mà họ dần thua cuộc, chính phủ miền Nam thừa nhận rằng cần phải tiến hành cải cách sâu rộng nếu họ muốn có cơ hội thu hút đa số người dân bất mãn ở nông thôn. Nhưng như thường lệ, tiến độ tiếp tục bị trì hoãn suốt nhiều năm do đấu đá chính trị nội bộ kéo dài.

Đối thủ không đội trời chung của Tổng thống Thiệu, Phó Tổng thống Kỳ hào nhoáng, đã nhanh tay sử dụng Mậu Thân làm bàn đạp để lật ngược thế cờ. Kỳ buộc tội Thiệu không chịu hành động, hứa hẹn chính mình sẽ có những phản ứng quyết liệt hơn, bao gồm cả việc giải phóng miền Bắc bằng vũ lực. Tuy nhiên, ở hậu trường, ông lại cố gắng tìm kiếm hậu thuẫn cho một cuộc đảo chính quân sự. Khi tin về âm mưu của Kỳ đến tai Đại sứ quán Mỹ, ông liền bị triệu tập để khiển trách ; vị phó đại sứ, Samuel Berger, thậm chí đã đập bàn vì quá tức giận.

Nhận được hậu thuẫn của Mỹ, Thiệu lặng lẽ loại trừ những lãnh đạo quân đội vẫn trung thành với Kỳ, trong đó gồm cả một số chỉ huy có năng lực nhất của quân đội.

Hoang tưởng và cô độc, Thiệu liên tiếp tấn công các đối thủ, cả thật lẫn tưởng tượng, trong đó có Trần Ngọc Châu, một chuyên gia về chống nổi dậy. Tuy nhiên, vụ bắt giữ Châu một cách vi hiến đã gây ra làn sóng phản đối dữ dội trong Quốc hội, và để trả đũa, Quốc hội đã tìm cách trì hoãn chương trình Cải cách ruộng đất của Thiệu suốt hơn một năm.

Thiệu chính là động lực thúc đẩy sáng kiến mang tên "Người Cày có Ruộng", xóa bỏ quan ngại của người Mỹ nhờ những nỗ lực không mệt mỏi của Bộ trưởng Nông nghiệp Cao Văn Thân. Dù những người ủng hộ miền Nam luôn xem cải cách ruộng đất là liều thuốc cho việc chính phủ không được lòng dân, kết quả lúc đó lại hoàn toàn trái ngược.

Bước đột phá xuất phát từ việc Sài Gòn thừa nhận những nỗ lực phân chia đất đai mà Cộng sản đã thực hiện trên khắp miền Nam suốt nhiều năm, thậm chí hàng chục năm trước đó. Để tránh nảy sinh hận thù khi những địa chủ vắng mặt quay lại đòi đất bị trưng dụng, chính phủ đã trao quyền sở hữu hợp pháp cho nhóm người được hưởng lợi từ các chiến dịch cải cách ruộng đất trước đây của Cộng sản.

Bất chấp việc nghe có vẻ là một chính sách, cách tiếp cận này đã khiến những người trung thành với chính phủ miền Nam ở nông thôn phẫn nộ, họ cáo buộc nhà nước phản bội vì đã tưởng thưởng cho những kẻ ủng hộ địch. Các cựu binh, những người buộc phải chấp nhận việc đất của mình bị trưng thu, cũng chẳng vui vẻ gì trước tin này.

Tệ hơn nữa, việc triển khai chính sách diễn ra rất chậm, không đồng đều và bị ảnh hưởng bởi tham nhũng. Nhiều năm sau đó, nông dân vẫn phải tiếp tục trả tiền thuê cho mảnh đất mà cả chính phủ lẫn các địa chủ cũ đã ngó lơ không thông báo cho họ biết rằng họ đang nắm quyền sở hữu. Những người tị nạn phàn nàn rằng phần đất họ được chia hoặc là không thể tiếp cận, hoặc không an toàn bởi vì quân đội chẳng quan tâm đến việc bảo vệ an ninh. Các cộng đồng sinh sống ở miền Trung khô cằn của Việt Nam thì than phiền về việc định giá đất dựa trên vùng đồng bằng sông Cửu Long màu mỡ hơn. Các khoản vay cần thiết nhằm mua các thiết bị nông nghiệp thường xuyên bị các quan chức địa phương vô đạo đức bòn rút, trong khi nhóm dân tộc thiểu số tuyệt vọng trước sự xâm lấn có hệ thống của người Kinh.

Dù cải cách ruộng đất là một nỗ lực đáng hoan nghênh và đã đạt được một số thành công nhất định, nó không thể làm giảm bớt ảnh hưởng của Cộng sản, cũng không thể giảm bớt tình trạng lạm phát và tham nhũng đang tăng vọt. Ở những khu vực mà Cộng sản từng kiểm soát, tác động chỉ là trên lý thuyết chứ không phải thực tế, bởi nông dân được trao quyền sở hữu những vùng đất mà họ cho rằng mình vốn dĩ đã sở hữu từ lâu. Có lẽ, địa chủ vắng mặt là những người được hưởng lợi nhiều nhất, nhận khoản bồi thường hào phóng từ Mỹ cho những tài sản mà họ có rất ít khả năng sẽ giành lại được.

Trong khi đó, quay trở lại các trung tâm đô thị, tinh thần đoàn kết bùng nổ sau Tết Mậu Thân đã nhường chỗ cho sự tức giận khi mức sống giảm mạnh và tham nhũng lan tràn. Các liên minh tôn giáo như Mặt trận Quốc gia Dân chủ Xã hội được chính phủ hậu thuẫn trên danh nghĩa – dù thực tế họ chẳng được chính phủ quan tâm, chứ đừng nói là tài trợ – bắt đầu sa vào nhiều âm mưu và tranh cãi, trong khi các thành viên ở tỉnh lỵ xa xôi vẫn tiếp tục chờ đợi sự lãnh đạo từ thủ đô trong vô vọng. Sau này, thư ký riêng của Tổng thống Thiệu tiết lộ, nguồn trợ cấp bí mật của C.I.A cho Mặt trận đã bị các quan chức cấp cao bỏ túi để sử dụng vào mục đích cá nhân. Thiếu vắng sự ủng hộ của chính quyền, triển vọng về một mặt trận thống nhất chính trị nhanh chóng chết yểu.

Sau khi tái đắc cử vì các đối thủ của ông rút lui nhằm tỏ ý phản đối, Tổng thống Thiệu lại bận rộn chuẩn bị phương tiện chính trị hẹp của riêng mình : "Đảng Dân chủ". Trên thực tế, đảng này là bất cứ thứ gì ngoại trừ dân chủ, chủ trương tham gia nghĩa vụ dân sự là bắt buộc, trong khi các đơn vị quân sự bí mật của nó bị so sánh theo hướng bất lợi với Đảng Cộng sản. Nhưng Thiệu, người từ lâu đã chán ngán mọi chống đối dành cho chương trình nghị sự của mình, đã hình dung Đảng Dân chủ như một phương tiện để ràng buộc những người chống Cộng với nhau. Thông qua hàng loạt sắc lệnh tìm cách cấm bất kỳ đảng nào khác hoạt động, ông ép buộc mọi viên chức và sĩ quan quân đội phải gia nhập hàng ngũ của Đảng Dân chủ.

Tuy nhiên, thay vì tập hợp toàn thể xã hội miền Nam cùng ủng hộ ông cầm quyền, như điều mà Thiệu mù quáng tin tưởng, Đảng Dân chủ ngày càng xa lánh những người chống cộng – nhóm quyết giữ vững lòng trung thành với đảng cũ của họ. Các sắc lệnh về đảng phái chính trị cũng giáng một đòn chí mạng vào Thượng viện, lúc ấy đang là thể chế chính trị độc lập cuối cùng của miền Nam. Một thế hệ chính trị gia nhiệt thành đã giành được nhiều ghế thượng nghị sĩ vào năm 1967, nhưng đến năm 1973, khi Thiệu thay thế Thượng viện bằng bộ máy chính trị gia do chính ông ta lựa chọn, khả năng phản kháng của thể chế này đã bị phá vỡ.

Thời điểm đêm trước khi Thượng viện bị thay thế vào năm 1973, một nhà quan sát đã ghi lại nhận xét đầy thất vọng của một thượng nghị sĩ sắp ra đi : "Thử nghiệm chủ nghĩa hợp hiến được đưa ra hồi năm 1967 nay trở thành công cốc". Vị thượng nghị sĩ này đã rất ngạc nhiên vào năm 1967, "trước số lượng những cá nhân đủ tiêu chuẩn đã hăng hái tham gia thử nghiệm bằng cách tranh cử vào Thượng viện năm đó … Những người tốt này giờ lại phải lui về ở ẩn", ông kết luận, "âm thầm chờ đợi một biến động mới trước khi tham gia một lần nữa".

Trong những năm cuối của cuộc chiến, ngay cả các nhóm Công giáo gốc Bắc chống cộng dữ dội, từ lâu đã là những người ủng hộ trung thành nhất của chính phủ miền Nam, cũng đã mất niềm tin vào khả năng của Việt Nam Cộng Hòa trong việc giải quyết các cuộc khủng hoảng cấp quốc gia. Nỗi sợ hãi tràn lan này hoàn toàn trái ngược với nguồn năng lượng dồi dào đã từng tiếp thêm sinh lực cho miền Nam sau Mậu Thân. Và nó đã gây thiệt hại cho quân đội, khi từng cá nhân thuộc mọi cấp bậc trong quân ngũ đều mất niềm tin vào các nhà lãnh đạo thiếu khả năng của đất nước. Đã chẳng còn tính kỷ luật và sự tự tin nào trong mùa xuân năm 1975, khi quân đội được trang bị hiện đại của miền Nam một lần nữa quỵ gối ngay trong những đợt giao tranh đầu tiên với Cộng sản, và chính những người lính trên đường thoát thân đã dẫn dắt dân thường điên cuồng tháo chạy.

Tuy nhiên, niềm tin vào khái niệm về một miền Nam phi Cộng sản vẫn luôn tồn tại, dù luôn phân tán và vô tổ chức. Dù tốt xấu thế nào, chính quyền miền Nam không đơn thuần là một con rối, và như một thế hệ chính khách người Mỹ đã phát hiện ra, quyền kiểm soát hầu bao ở Sài Gòn không hề ảnh hưởng đến quyền kiểm soát chính trị tại đây. Hơn bất kỳ quyết định nào ở Washington, chính sự thất bại của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trong việc đoàn kết và truyền cảm hứng cho các cử tri chủ chốt, và trong việc đảm bảo cơ sở vững chắc ở nông thôn, đã khiến họ bị đánh bại.

Sean Fear

Nguyên tác : How South Vietnam Defeated Itself The New York Times, 23/02/2018

Nguyễn Thị Kim Phụng dịch

Nguồn : Nghiên cứu quốc tế, 18/02/2021

Sean Fear là giảng viên lịch sử quốc tế tại Đại học Leeds.

Published in Diễn đàn

30/04/1975 : Những nữ tu âm thầm tìm "mộ tình thương" của tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa

Bùi Thư, BBC, 01/05/2020

Suốt gần 20 năm qua, có những phụ nữ Công giáo đã âm thầm tìm kiếm hài cốt quân nhân Việt Nam Cộng Hòa từ các nghĩa trang hoang phế để đưa về an táng giữa một nơi chốn thanh bình.

tpb1

Hài cốt lính Việt Nam Cộng Hòa được chuyển về nghĩa trang mới

Cuộc kiếm tìm hài cốt quân nhân Việt Nam Cộng Hòa không chỉ có người thân, cựu đồng đội thực hiện mà còn có những sự tham gia của những con người không phải bà con thân thuộc, ít có liên hệ với cuộc chiến từ gần nửa thế kỷ trước, nhưng đầy lòng vị tha, như các sơ ở mái ấm tình thương này.

Buổi sáng trước ngày 30/4, thị xã nhỏ ở tỉnh Bình Thuận trở lại nhộn nhịp sau khi chỉ thị cách ly xã hội chống dịch Covid-19 được nới lỏng.

Ở cổng chào đi vào thị xã, dòng chữ đỏ "Nhiệt liệt chào mừng ngày giải phóng Miền Nam…" bằng đèn LED đập vào mắt người đi đường. Trên phố, bên cạnh những khẩu hiệu kêu gọi phòng dịch là cờ và băng rôn nhắc nhớ lễ kỷ niệm "Ngày đại thắng".

Một góc lặng lẽ khác, các bà sơ, những người không thân thích đang chăm sóc những ngôi mộ màu xanh giữa nghĩa trang mênh mông. Đó là những mộ phần của lính Việt Nam Cộng Hòa, mộ được xây chỉn chu, có cắm nhiều hoa cúc vàng rực, khói nhang tỏa ra dưới ánh nắng mai thơm ngát.

20 năm đưa người về từ miền hoang phế

"Bạn nghĩ gì trong những ngày này ?", bà sơ là giám đốc một mái ấm tình thương ở thị xã hỏi khi tiếp chuyện phóng viên BBC News tiếng Việt qua điện thoại. Không chờ nghe câu trả lời từ phía này, bà đã nghẹn ngào : "Tôi thấy đau lòng lắm".

Bà kể rằng năm 1975, bà mới là nữ tu 20-21 tuổi, đến giờ vẫn không quên cuộc vật đổi sao dời.

tpb2

Bà sơ giữa những "mộ tình thương" ở Bình Thuận

"Các ngài chết trong chiến trận, rồi thời cuộc đổi thay, mộ phần trở nên hoang phế. Tôi cùng các sơ ở đây quy tập về, khâm liệm tươm tất, mồ mả đàng hoàng. Các ngài không phải người thân của các sơ nhưng các sơ mong muốn đưa các ngài về để chăm sóc. Nhìn cảnh hoang tàn thấy đau lòng lắm, nên tìm mọi cách để đưa về cho các ngài được ấm cúng", bà chia sẻ về công việc thầm lặng nhưng gian khó hiện tại.

Chuyện bắt đầu từ năm 2000, khi bà cùng các sơ tại mái ấm tình thương quy tập các mộ phần vô danh hoặc những ngôi mộ không có người chăm sóc, trẻ sơ sinh tử vong về chôn cất trong khu nghĩa trang. Đến năm 2003, bà phát hiện các khu nghĩa trang hoang phế của quân đội Việt Nam Cộng Hòa và một hành trình mới bắt đầu.

"Xung quanh đây có những nghĩa trang cũ chôn cất quân nhân Việt Nam Cộng Hòa. Tôi đến đó, thấy mồ mả hoang lạnh. Có những nơi xói lở hoặc bị đào bới khiến xương cốt lộ ra, rất xót xa. Có nơi người ta lập các dự án bất động sản, hạ tầng giao thông trên nền các nghĩa trang đó. Tôi làm đơn xin chính quyền cho phép đưa các ngài về an táng", bà kể.

tpb3

Những nấm mộ trong nghĩa trang hoang tàn đang được quy hoạch thành dự án bất động sản ở Bình Thuận

Với sự cho phép của chính quyền, bà cùng các sơ và các em bé được nuôi dạy ở trung tâm liền tổ chức đi cải táng. Công việc được thực hiện với sự giám sát của cán bộ địa phương.

"Có nhiều lúc không tìm được hài cốt, phải nhờ nhà ngoại cảm", bà kể. "Mồ mả từ nửa thế kỷ trước, rồi chiến tranh bom đạn, rồi các hoạt động của con người, bây giờ đâu còn giữ nguyên hiện trạng. Không phải tới đó là có thể xác định được ngay".

"Khi đưa về, chúng tôi tổ chức lễ tang, tưởng niệm như đối với người thân của mình. Những người vị quốc vong thân, có người chết từ tận năm 1960, tính ra đã hơn nửa thế kỷ. Đưa các ngài về là điều mà mỗi một người chúng tôi nên làm", bà sơ nói. "Tất nhiên là chỉ có các sơ và đám trẻ ở đây thì không làm được, phải có sự hỗ trợ, giúp sức của nhiều ân nhân. Chẳng hạn để thực hiện việc đào cốt, vận chuyển, rồi xây mộ mới,… rất nhiều chi phí và công sức phải bỏ ra".

"Ở đây luôn có khói nhang, có hoa và người thăm viếng", bà nói khi đứng giữa những ngôi mộ màu xanh được đặt tên là "mộ tình thương". Đa phần "mộ tình thương" là của tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa, có hàng trăm ngôi mộ như vậy được cải táng về đây. Một số khác là mộ những người không bà con thân thích, chết trong thời loạn lạc chiến tranh và cả sau này.

tpb4

Người dân tưởng niệm tại nghĩa trang bị bỏ hoang trước khi thực hiện cải táng

Phía trước các "mộ tình thương" của quân nhân Việt Nam Cộng Hòa thường có kèm chữ viết tắt biểu thị nghĩa trang mà họ được táng trước khi đưa về đây, như BA là viết tắt của "Bảo An", vốn là nghĩa trang dành cho lính Bảo an.

"Đa phần lính Bảo an dưới đây khi đi đánh trận, chủ quan, cứ mặc nhiên nghĩ đánh xong rồi về nên không mang thẻ bài theo. Sau chết thì không xác định được, trở thành vô danh", bà giải thích, đoạn nói thêm. "Chúng tôi làm bia đề tên phía sau mộ, không làm phía trước để tránh bị chú ý".

Thỉnh thoảng có người thân ghé đến thăm, họ nhang khói, cầu khấn rồi gửi lại tiền nhưng các sơ không nhận. "Khi chúng tôi cải táng một ngôi mộ lính Việt Nam Cộng Hòa, thấy có rễ cây đi xuyên qua đầu", bà kể. "Sau vài ngày thì con trai người đó vào thăm, cậu ta kể đêm nào cũng nằm mơ thấy cha mình bị ai đó đâm xuyên qua đầu, chỉ mới hết cách đây vài hôm. Thế là cậu ta đi kiếm, rốt cuộc đã gặp chúng tôi và tìm được mộ của cha cậu ấy".

"Chúng tôi không lấy tiền của các gia đình nghèo, dù rất cần nguồn tài trợ để tiếp tục công việc", bà chia sẻ. "Có ông ấy từ Canada về tìm được người thân, sau đó tài trợ cho trung tâm để thực hiện tiếp việc cải táng. Chỉ có các bà sơ và trẻ con thì đâu có thể làm được".

Bà cho biết còn rất nhiều việc phải làm, vì trong vùng còn có nhiều nghĩa trang bỏ hoang, chẳng hạn gần thành phố Phan Thiết và trong Long Điền có những nghĩa trang cũ nằm trong các dự án bất động sản, đang được cắm cọc, phân lô.

tpb5

Hài cốt của các cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa được chuyển lên xe để về nghĩa trang mới

Những con người đã ra đi trong "cuộc chiến 10.000 ngày", họ chết trong bom đạn, trong khói súng. Sau khi được các sơ và người thân tìm kiếm hài cốt, họ mới thực sự được an nghỉ. Họ nằm bên nhau, bốn bề cây cối, núi đồi chở che. Những ân oán của cõi dương gian không còn quấy rầy họ.

"Tôi mong một ngày mồ mả của các ngài hết cảnh hoang phế, điêu tàn và được phép mang các ngài về đây trước khi người ta san ủi. Nhìn mồ mả hoang tàn, không ai thắp cho một nén nhang, rất đau lòng", bà nói.

"Vì đâu hận thù vẫn còn ở lại ?"

Chiến tranh Việt Nam, một trong những cuộc chiến tranh thảm khốc nhất thế kỷ XX, để lại mất mát cho tất cả các bên. Quân nhân tử trận, dù là của Việt Nam cộng sản, Việt Nam Cộng Hòa hay Mỹ thì đều còn rất nhiều người mất tích, nằm lại nơi rừng sâu, hoặc dưới những ngôi mộ vô danh.

Tuy nhiên, trong khi hai nhóm kia được các nhà nước tổ chức kiếm tìm với nguồn tài lực, vật lực, công nghệ đồ sộ thì những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa tử trận, ở về phía bên thua cuộc và chính thể mà họ phụng sự không còn nữa, bị đẩy ra bên lề của các mối quan tâm dòng chính.

Các cuộc tìm kiếm hài cốt lính Việt Nam Cộng Hòa hoặc quy tập, sửa sang mộ phần ở các nghĩa trang bị bỏ hoang thường được tiến hành trong thầm lặng, lễ tưởng niệm được tổ chức kín đáo, tránh sự để ý của chính quyền.

tpb6

Hài cốt của lính Việt Nam Cộng Hòa được đưa về để chuẩn bị an táng tại nghĩa trang mới

Cho đến hôm nay, 45 năm đã trôi qua kể từ khi chiến tranh kết thúc, những nỗi lo sợ vẫn còn ám ảnh nhiều quân nhân, người thân trong hành trình tìm kiếm hài cốt. Rất nhiều nỗ lực tiếp cận của BBC News tiếng Việt đã bất thành do nhân vật lo ngại gặp phiền phức.

Có rất nhiều những uẩn ức, những nỗi niềm trong các cuộc kiếm tìm. Bà sơ ở Bình Thuận đã khóc khi nói về thân phận những người lính trong các mộ phần ở nghĩa trang bị bỏ hoang. "Các ngài có người chết từ năm 1960, có người chết sau đó. Hơn nửa thế kỷ rồi, phải có ai chăm sóc chứ", bà chia sẻ.

Năm 2007, nhà thơ Linh Phương, người từng được biết đến với bài thơ "Để trả lời một câu hỏi" được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành bài hát "Kỷ vật cho em" rất nổi tiếng, đã viết những dòng đầy day dứt :

Những người lính Bắc Việt chết - đều được trở về nhà

Những người lính Mỹ chết - đều được trở về Tổ quốc

Những người lính Việt Nam Cộng Hòa chết - vẫn còn nằm nơi rừng thiêng- nước độc

Trong cuộc trò chuyện với BBC News tiếng Việt hôm 28/4, nhà thơ Linh Phương, cũng là một cựu thủy quân lục chiến, chia sẻ : "Cho đến bây giờ, tôi vẫn rất đau xót khi nghĩ về chuyện đó, nghĩ về những đồng đội chưa trở về dù chỉ là nắm xương khô. Đau xót, buồn tủi lắm".

Sau 45 năm, nước mắt của ông vẫn đầy qua điện thoại khi nói về thân phận của các cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa : "Sau chiến tranh, tôi phải đi cải tạo, rồi đi lang bạt khắp các tỉnh thành để kiếm sống, không có điều kiện gặp lại đồng đội còn sống, cũng không thể cùng anh em đi tìm kiếm những người đã tử trận. Tôi làm bài thơ này là trong niềm tâm sự đó, chứ không phải về một trường hợp cụ thể nào", ông ngậm ngùi kể về chặng đời buồn tủi của chính ông cũng như thân phận của các đồng đội.

Các nghĩa trang cũ của Việt Nam Cộng Hòa vốn là đề tài "nhạy cảm" tại Việt Nam sau năm 1975. Tại Đồng Nai, Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa trước đây đã được chính quyền mới đổi tên thành Nghĩa trang nhân dân Bình An. Như một cử chỉ biểu thị thiện chí hòa giải, từng có quan chức Việt Nam tới viếng nghĩa trang này.

Nhưng những ngôi mộ bị bỏ hoang nằm phơi dưới nắng, những người cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa là hiện thân bi kịch của một cuộc chiến tưởng chừng như đã trôi vào quá khứ xa lắc. Nhưng thực ra, vết thương của nó vẫn hiện diện trong mọi ngõ ngách, trên từng phận người và trên bình diện quốc gia.

tpb7

Mộ tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa được cải táng ở Bình Thuận

Một vết chém xẻ ngang mình đất nước, cắt chia những con người Việt Nam, đẩy họ đứng về những chiến tuyến khác nhau. Để rồi, suốt 45 năm sau khi tiếng súng ngưng bặt, người ta vẫn còn ngại nhau, e dè nhau, nghi kị nhau.

Bài thơ "Tôi xin được hỏi đồng bào của tôi" của nhà thơ Linh Phương kết thúc bằng câu hỏi tu từ :

"Ba mươi hai năm cuộc chiến trôi qua

Vì đâu hận thù vẫn còn ở lại ?"

Câu hỏi của ông từ 13 năm trước, đến bây giờ vẫn chưa có câu trả lời, cũng như số phận các đồng đội ông vẫn còn nơi rừng thiêng nước độc, 45 năm sau khi cuộc chiến trôi qua.

***********************

Thương binh Việt Nam Cộng Hòa : ‘chạnh lòng’ ngày 30/4, ‘khốn đốn’ vì Covid-19

VOA, 01/05/2020

Các thương phế binh ca Việt Nam Cộng Hòa nm trong nhóm người d b tn thương nht vì dch bnh Covid-19 Vit Nam trong khi h gn như đã b gt ra bên l s phát trin ca đt nước tròn 45 năm sau ngày hai min được thng nht, theo tìm hiu ca VOA.

tpb8

Nghĩa trang của các binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa tnh Bình Dương

Việt Nam va ra khi ba tun cách ly xã hi k t ngày 1/4 đ chng dch Covid-19 và k nim ngày ‘Gii phóng Min Nam, thng nht đt nước’ theo cách gi ca chính quyn trong nước vào ngày 30/4.

Trong khi đó, các thương phế binh ca min Nam trước đây, vn b tt nguyn, mt sc lao đng và phi làm các công vic như bán vé s, đi bán do hay lượm ve chai, đang phi vt ln vì mt kế sinh nhai trong mùa dch.

‘Tủi thân’

Ông Trần Văn T, 69 tui, hin đang thuê tr đường Tôn Tht Thuyết, Qun 4, thành ph H Chí Minh, là mt trong s đó. Hin ông đang đy xe bán bánh tiêu do đ kiếm tin sng qua ngày. Trước năm 1975, ông T thuc Sư đoàn 18 B binh, Trung đoàn 48, Tiu đoàn 1 ca Quân lc Việt Nam Cộng Hòa. Đôi chân ông trúng đn b thương hi năm 1973 trong một trn đánh Cm M, Long Khánh, ông nói vi VOA.

"Ngày 30/4 đối vi tôi là mt ngày bun – ngày bun ca các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa", ông nói. "Thm chí tôi không đi bán, tôi nhà bun nguyên ngày".

"45 năm qua nhiều khi tôi cm thy ut c trong lòng : Ti sao mình đ máu, hy sinh mt phn thân th mà bây gi thành ra như vy", ông than th.

Ông Tỷ nói ông thường lên mng đ tìm li nhng ký c ngày xưa ca Quân lc Việt Nam Cộng Hòa, trong đó có cuc diễn binh có s tham gia ca c Tng thng Nguyn Văn Thiu.

"Tôi coi trên mạng thy din hành ngày trước có tt c các binh chng, t thy quân lc chiến cho đến b binh. Tôi coi mà nước mt tôi chy. Ti sao nhng anh em mình ngày xưa oai phong lm lit mà giờ này tan rã hết trơn. Tôi đau không có cái gì mô t được", ông bày t vi VOA.

"Tại sao đn không bn trúng đu cho tôi chết luôn đi mà trúng ngay giò", ông nói thêm và khng đnh rng ‘l 30/4 (ca chính quyn) không liên can gì đến tôi’.

Theo lời ông thì do lệnh cách ly xã hi my tun nay ông nhà nên ‘không biết năm nay h có làm l ăn mng không’.

"Mấy ngày nay tôi cũng hơi ngc nhiên. Thường my năm trước còn chng na tháng đến 30/4 bt vô tuyến lên thy chiếu phim tài liu ca my ng không hà. Từ ngày có dch Covid-19 đến nay không thy chiếu gì hết mà cũng ít có ai nhc nh v 30/4", ông cho biết.

‘Cố gng gng gánh’

Về cuc sng ca v chng ông trong mùa dch bnh, ông cho biết là ‘khó khăn lm’. Ông nói mc dù có lnh cách ly xã hi, nhưng vẫn phi c đy xe đi bán bánh vì ‘không đi bán thì không có tin tr tin nhà’.

Ông cho biết thêm là ông đang n 2 tháng tin nhà, mi tháng trên 1 triu, trong khi my tun ri đi bán rt ế m vì ‘ai cũng trong nhà’.

"Hồi sm mơi v chng tôi ăn mì gói trừ cơm. Thnh thong cũng phi ăn bánh tiêu ế", ông nói. "Cũng thèm ăn món này món kia nhưng không dám mua vì s thâm vào tin tr tin nhà".

Theo lời ông T thì trước kia ông đi bán vé s nhưng ngh này đòi hi phi đi rt nhiu nên đôi chân ông ‘chịu không nổi’. Sau đó ông chuyn qua đy xe bánh tiêu đi bán – mc dù có thu nhp ít hơn nhưng chân ông đ đau hơn.

"Tôi đi bán từ 6g sáng, đi đến chng 12g trưa là v. Khi đó đui sc ri nên không đi bán ni na", ông nói thêm và cho biết v ông làm công nhân bên Quận 7 mi tháng được 4-5 triu nhưng do m đau nên phi ngh thường xuyên.

Ông nói đi bán mùa dịch ông cũng s dính bnh ‘nhưng vì miếng cơm manh áo nên mình phi liu gan’ và cho biết ông luôn luôn phi đeo khu trang khi đi bán.

Những khi xy ra chuyện đt xut như m đau thì ông T nói ‘ông vay mượn đu này đp đu kia ri mai mt đi bán ly tin tr li’ và rng ông ‘còn mnh đn dưới chân nhưng phi chu vì không có tin m’.

Về s giúp đ ca nhng người xung quanh, ông nói ‘hai v chng ông rất cô đc thành ph không có bà con, anh em, bn bè gì hết nên phi t thân mà sng’.

"Tôi và vợ tôi có đi nhà th Tin Lành. Bên đó h có cho 10 kg go, 1kg đường, chai du ăn", ông nói v s giúp đ ông nhn được trong mùa dch.

Còn về s giúp đ của chính quyền, ông T nói ông ‘không nhn được mt ht go hay mt đng bc nào. Nhng người có hoàn cnh cơ nh trong xóm ông ‘đu được t trưởng đến đưa giy biu ra phường nhn h tr’ nhưng người t trưởng đó ‘không kêu ông’.

"Cây ATM gạo tôi có nghe nói mà không biết ch nào. Tôi có nghe khách mua bánh nói là phi xếp hàng dài. Trong khi đó tôi bán bánh tiêu hng l tôi đy xe li đó xếp hàng ri xe bánh tiêu tôi đ đâu ? Nếu tôi ch thì ch biết chng nào trong lúc mình bán buôn như vy", ông bày t.

Tương t, nhng hàng quán phát cơm t thin ông nói ông cũng không đến được vì không th đng xếp hàng vi xe bánh tiêu.

"Ngay bữa bt đu cách ly có bà bán cà phê thy tôi ti nghip sao hng biết b cho tôi được 10 gói mì. Tôi nhn được tôi mng lm", ông kể.

Ông nói hy vọng ln nht gi đây là chương trình tr giúp ca nhà th Dòng Chúa Cứu Thế mà ông đã tng được tham d mt ln chương trình ‘Tri ân thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa’. Tuy nhiên, ông nói ông b ‘thit thòi’ vì biết được chương trình tr giúp của nhà th này ‘quá mun’ nh vào mt người đi đường nói cho ông biết. Do đó, ông ch ‘hưởng được s tri ân mt ln duy nht t hi 1975 đến gi’.

"Tới gi tôi biết nhà th Dòng Chúa Cứu Thế, ch phòng Công lý-Hòa bình (cũ) đã b di đi hết", ông than thở.

‘Bị nhòm ngó’

Ông Tỷ nói mc dù ông không b chính quyn đa phương làm khó d gì trong cuc sng nhưng ‘hàng xóm thì hay đ ý’ vì biết ông là người ca chế đ cũ.

"Hôm trước vui ming tôi khoe mình được hưởng chương trình tri ân ca nhà th, có người nói ‘ông coi chừng có ngày công an làm vic vi ông này kia’", ông k và cho biết ông đi đâu ‘cũng b đ ý.’

"Họ ám ch tôi là thương phế binh ch ch cơ hi biu tình đ quy ri trt t", ông nói thêm.

Hoài niệm v thi kỳ ca Việt Nam Cộng Hòa, ông T k ngày xưa ông vn là ‘Vit kiu Campuchia được chính quyn min Nam cho tàu qua rước v vào năm 1970 sau khi chính quyn Lon Nol đàn áp và giết hi người Vit’. Khi đó, c gia đình ông được chính quyn cấp nhà, nuôi ăn, cung cp thuc men trong 18 tháng. Vì l đó mà c nhà ông đu tham gia quân lc Việt Nam Cộng Hòa, ông cho biết.

"Tôi không bao giờ quên được thi kỳ đó. Đến ngày tôi đi lính cũng vy. Tôi ăn cơm ca nhà binh, sng nh lương ca quân lc Việt Nam Cộng Hòa", ông nói thêm.

"Những năm qua tôi bt đin thoi lên thăm chng hoài đ coi hi ngoi mình có gi được quân lc Việt Nam Cộng Hòa đến đâu đ mình thy mình mng", ông chia s.

Khi được hi so sánh cuc sng bây gi vi trước kia, ông Tỷ nói : "Hi đó có chiến tranh, nhà nước (Việt Nam Cộng Hòa) không my lo cho dân đy đ. Bây gi không có chiến tranh, nhà nước cũng có điu kin lo cho người nghèo, người tàn tt. Nhưng không phi ai cũng được".

"Sài Gòn bây giờ phn hoa hơn ngày xưa nhưng cũng có nhiều giai cp lm", ông cho biết. "Có người có vn, có kh năng, có thân thích người ta làm giàu. Nhưng cũng có nhiu người tha phương cu thc làm đ th vic như ph h, bán vé s, chy xe ôm".

‘Ngày đau buồn’

Từ Giáo x Thng Nht thuc xã Phú Cường, huyn Đnh Quán, tnh Đng Nai, ông Nguyn Ngc Tt, 68 tui, nguyên là lính thy quân lc chiến, nói vi VOA rng ngày 30/4 ‘gi cho ông nhiu đau bun’.

"Đã 45 năm rồi, ngày này đi vi tôi vn là ngày mình b mt nước – ngày đau bun", ông thổ lộ. "Còn người dân đâu có biết gì, h vn vui v ăn nhu vi nhau vào ngày này".

Cũng giống như ông T, ông Tt nói ông bun vì ‘ngày xưa mt thi oanh oanh lit lit mà bây gi phi lâm cnh ng như vy’.

Tuy nhiên, ông Tốt, người tng tham gia các chiến trường min Tây, H Lào ri Khe Sanh Qung Tr vào năm 1972 và có mnh pháo trong đu, nói do năm nay trong nước không t chc rình rang ăn mng ngày 30/4 nên ông cũng cm thy ‘bt chnh lòng’.

Ông cho biết ông ‘có cm giác mc cm’ khi có người vn gọi ông là ‘ngụy quân, ngy quyn’. "Nhưng tôi nói đt nước đã thng nht ri thì không có ngy quân, ngy quyn gì hết vì tt c đã là anh em mt nhà", ông nói.

Hiện ti ông Tt đi bán vé s kiếm sng. Tuy nhiên, do nhng ngày cách ly xã hi, vé s b ngưng bán, ông phải nhà ‘sng cm hơi’.

"Tôi không đi bán được, nhà có go vi nước tương nu ăn", ông nói và cho biết c v và người con trai ca ông đu bnh tt.

Ông cho biết khi chính quyn có chính sách h tr nhng h khó khăn vì dch bnh, trưởng p i ông có ‘đến nhà cho phiếu biu ra xã lãnh đ’. Khi đó, ông được cho ‘thùng mì gói, chc ký go, nước tương, bt ngt, đường, du ăn’.

Ngoài ra, những người dân xung quanh ‘cũng cho go, cho đ ăn, lâu lâu có người cho 100, 200 ngàn đng’.

"Coi như gạo trong gia đình ăn có bao nhiêu đâu. Cô bác người ta cho đ ăn, ngoài ch người ta kêu cho cá, mm các th", ông nói.

Những lúc đi khám bnh không có tin ông nói ‘có khi phi mượn li xóm nhưng có khi người ta không cho mượn mà cho luôn’.

Cũng giống như ông Tỷ, ông Tt cũng có xung nhà th Dòng Chúa Cứu Thế đ nhn quà Tết và ‘khám bnh t thin’.

Hiện ông Tt đang nhà tình thương do y ban xã cp cho nhng h nghèo. Ông k rng chính quyn xung thy nhà ông nghèo, mun sp nên mi đưa ông vô danh sách được cp nhà tình thương.

Theo lời ông thì mc dù vé s đã được phép bán li t ngày 29/4, nhưng ông đi đến sau l mi đi bán li vì ‘my ngày l không có khách nhiu’.

Ông cho biết đi bán vé s trong mùa dch ông cũng ‘rt lo’ vì ‘l mà dính bnh mt cái là thua luôn’.

Trong lúc chính quyền Vit Nam dn sc chng dch đ làm nên ‘Chiến thng mùa Xuân mi’, ông Tt nói rng ông s ‘mng’ nếu Vit Nam đy lui được dch bnh.

Published in Diễn đàn

Hành trình tìm hài cốt lính Việt Nam Cộng Hòa : "39 năm, anh em nằm dưới nền đất lạnh"

Tháng 3/1972, hạ sĩ Võ Phùng Dương cùng Liên đoàn 3 Biệt động quân được điều động tới An Lộc. Người lính trẻ không hề biết rằng ông sắp bước vào những tháng ngày lịch sử mang tên Mùa hè Đỏ lửa.

linh1

Khu mộ tập thể quân nhân chết ở đồi Charlie vào năm 1971 được lập tại Chơn Thành, Bình Phước vào các năm 2014, 2015

"Tụi tôi đến An Lộc vào ngày 4/4/1972", ông kể lại với BBC News Tiếng Việt.

Gần 10 ngày sau, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tấn công An Lộc, lúc này đã trở thành một ốc đảo của quân lực Việt Nam Cộng Hòa khi các khu lân cận đều nằm trong tay đối phương.

Biệt động quân cùng các đơn vị bộ binh thuộc Sư đoàn 5 của chuẩn tướng Lê Văn Hưng được lệnh tử thủ An Lộc.

"Đánh nhau rất ác liệt và thiệt hại sinh mạng rất nhiều. Liên đoàn 3 của tôi mất hai đại đội. Riêng đại đội tôi bị nhẹ nhất cũng mất 30 người", hạ sĩ Võ Phùng Dương nhớ lại. "Tụi tôi vừa chiến đấu vừa chôn đồng đội ngay giữa chiến trường. Lấy vải dù bọc lại rồi chôn".

Sau ba tháng giằng co, Việt Nam Cộng Hòa giữ được An Lộc. Tướng Hưng được thưởng huân chương. Hạ sĩ Võ Phùng Dương được thăng hạ sĩ nhất. Nhưng có tới hơn 2.000 quân nhân Việt Nam Cộng Hòa nằm lại đây.

"Chúng tôi chôn họ ở đó rồi xuống giải tỏa Bình Tuy, Phước Tuy, Long Khánh, Dầu Giây, Xuân Lộc…", ông Võ Phùng Dương kể.

Vào Mùa hè Đỏ lửa 1972, hạ sĩ Dương không ngờ rằng gần 40 năm sau ông sẽ trở lại An Lộc để tìm xương cốt đồng đội.

BBC News Tiếng Việt tìm đến những cựu nhân quân, những người thân của lính Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh để hiểu được hành trình tìm xương cốt đồng đội, thân nhân của mình trong bóng tối và lặng lẽ.

Ở về phía bị lãng quên

Cuộc chiến tranh khốc liệt kết thúc ngày 30/4/1975 với tổn thất nhân mạng nặng nề cho tất cả các phía. Thống kê chính thức của chính phủ Việt Nam cho biết có tới 849.018 liệt sĩ.

Phía Mỹ có khoảng 58.200 quân nhân thiệt mạng.

Riêng Việt Nam Cộng Hòa, số liệu của Mỹ và các nhà sử học độc lập ước lượng có khoảng 220.000 đến 319.000 quân nhân Việt Nam Cộng Hòa chết trong suốt cuộc chiến.

Một phần không nhỏ trong tổn thất nhân mạng này là những người "mất tích".

Sau chiến tranh, các nỗ lực tìm kiếm hài cốt liệt sĩ của chính phủ Việt Nam đã giúp quy tập được hàng ngàn hài cốt.

Người Mỹ cũng triển khai chương trình POW/MIA để tìm kiếm tù binh và quân nhân mất tích của họ. Chương trình đặc biệt được thúc đẩy từ sau năm 1995, khi Việt Nam và Mỹ bình thường hóa quan hệ và hợp tác giữa hai nước được cải thiện. Số liệu cập nhật năm 2019 cho thấy Mỹ vẫn còn 1.587 mất tích, giảm từ con số ban đầu là 2.646.

Trong khi đó, những người lính chết trận và mất tích ở phía Việt Nam Cộng Hòa, chính thể đã sụp đổ vào tháng 4/1975, ít được biết tới và nhiều lúc đã trở thành đề tài cấm kỵ tại Việt Nam thời hậu chiến.

linh2

Đoàn cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa tìm kiếm hài cốt trên đồi Charlie ở Kon Tum

Bị chính quyền mới ghẻ lạnh, đồng minh Mỹ lãng quên, các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa tử trận chỉ được người thân, đồng đội cũ tưởng nhớ và kiếm tìm.

"Thân nhân vẫn đi tìm, tìm bằng mọi giá, bằng mọi cách cả trước 1975 và sau này", cựu quân nhân Huỳnh Công Thuận chia sẻ. "Nhưng việc tìm kiếm sau năm 1975 rất khó khăn, rất khổ sở vì manh mối vô cùng ít. Dù biết đi nữa thì cũng khó có điều kiện để đi lấy cốt".

Ông giải thích thêm : "Đâu phải họ chết ở nơi phố thị. Họ chết ở nơi rừng heo hút gió hoặc bên kia biên giới, bên Lào, bên Campuchia. Chỉ có những người bạn, người đồng đội hồi xưa chôn cất giùm, đánh dấu rồi sau này dẫn trở lại mới tìm được. Nhưng trường hợp như vậy không nhiều".

39 năm dưới nền đất lạnh

Hạ sĩ nhất Võ Phùng Dương rời chiến cuộc với một chân bị mất vào tháng 2/1975 trong trận đánh ở Chơn Thành. Ông còn phải vào trại cải tạo ở Phú Khánh (nay là Phú Yên) 5 năm. Khi ông trở về nhà tại quận 4 vào năm 1980, Sài Gòn đã trở thành Thành phố Hồ Chí Minh và ông cũng không thể ở trong ngôi nhà của mình nữa.

"Tôi về Sài Gòn, trình diện ở quận 4, sau đó họ không cho tôi ở nên tôi lên vùng kinh tế mới, đi tự túc. Lúc trước có quen một cô ở Chơn Thành, tôi lên đây ở, rồi thành vợ chồng. Hai người đi làm mướn, đi cạo mủ cao su".

linh3

Thương phế binh Võ Phùng Dương đã dành nhiều năm tìm kiếm hài cốt đồng đội.

"Tôi ở đây, vẫn nhớ anh em còn nằm lại An Lộc", ông bắt đầu kể về hành trình thầm lặng của mình. "Suốt thời bao cấp khổ cực và nguy hiểm, tôi nhớ mấy chỗ đó nhưng không dám đụng vô. Lúc đó mình mới đi cải tạo ra, coi như là ra tù, còn nhiều khó khăn. Hồi đó đụng vô mấy chuyện này là ghê lắm, bị xử bắn chứ không đùa".

Đến năm 2011, ông Dương mới trở lại An Lộc để bốc cốt. An Lộc xưa giờ đã thành thị xã Bình Long sầm uất. Chiến trường ngày ấy đổi thay hoàn toàn, nhưng ông vẫn nhận ra những nơi chốn mà ông đã chôn đồng đội.

"Gần 40 năm, nhiều nơi người ta xây nhà, cốt anh em nằm dưới nền đất lạnh, đào mất thời gian lắm. Nhiều nơi họ ban đất, mình tới trình bày, nói ở đây hồi xưa có chôn anh em, thì họ cho đào. Có khi trong nền nhà có 5-7 người nằm, họ cũng đào lên rồi giao cho mình", ông thuật lại.

Trong vòng 3 năm, từ 2011 đến 2013, ông Võ Phùng Dương cùng một số anh em, bạn bè đã cải táng được 65 bộ hài cốt, chủ yếu là thành viên của Liên đoàn 3 Biệt động quân và một số đơn vị khác. Ông cũng kết nối được nhiều gia đình người thân.

"Đào lên thì có người được nhận diện qua thẻ bài, có người qua các di vật", ông chia sẻ. "Trong số 65 bộ hài cốt, có 10 bộ là vô danh, còn xác định được hết. Tôi viết tên anh em ra giấy rồi photocopy, xong đem xuống Long Khánh, Hố Nai, Biên Hòa… hỏi tìm thân nhân. Cũng tìm được một số. Đến nay đã có mười mấy gia đình đến nhận".

"Người thân đa số vào thăm, họ khóc, thắp nhang, rồi họ để lại đó chứ không đem về. Họ nói đem về cũng khó khăn, bốn mươi mấy năm rồi, thôi ở lại đó với anh em", ông Dương kể.

Người về từ Charlie

Sau khi đưa những "chiến hữu" từ An Lộc trở về an táng, năm 2014, ông Võ Phùng Dương lại cùng các cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa lên Kon Tum.

Đồi Charlie là một điểm nóng khác trong Mùa hè đỏ lửa 1972. Nơi đây được biết đến nhiều hơn qua ca khúc "Người ở lại Charlie" do nhạc sĩ Trần Thiện Thanh viết về Trung tá Nguyễn Đình Bảo, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 11 Nhảy dù, tử trận ngày 12/4/1972.

"Có anh ở Kon Tum dẫn mấy anh em đi tìm. Lên trên đồi đào được một hố chôn tập thể. Có tới 20 bộ hài cốt quân nhân Việt Nam Cộng Hòa", ông Dương kể. "Ngoài ra tụi tôi còn tìm thấy 5-6 hài cốt bộ đội nên báo cho chính quyền".

linh4

Thương phế binh Nguyễn Công Lý và kỷ vật chiến tranh đem về sau chuyến tìm kiếm hài cốt ở Lào

Ông Dương và nhóm tìm kiếm đi hai lần lên Kon Tum. Những hài cốt quân nhân vô danh từ đó được đưa về táng chung trong một ngôi mộ ở Chơn Thành, Bình Phước với tấm bia tưởng niệm ghi "Memory - Charlie - Hill", cùng tên của Trung tá Nguyễn Đình Bảo. Thông tin trên bia còn cho biết các quân nhân trong ngôi mộ tập thể thuộc Sư đoàn 23 Bộ binh. Xung quanh là 13 ngôi mộ của tử sĩ do ông Dương đưa về từ An Lộc.

"Mấy bộ hài cốt từ An Lộc là tôi mang về lúc khó khăn, không đưa đi chôn trên đó được. Tôi bỏ cốt trong hũ rồi đậy kín, để anh em ở trong nhà mình, một thời gian sau tìm thêm các anh em khác mới đưa ra đây táng".

"Chỗ này hồi trước có nhiều anh em đến viếng. Sau mọi người tổ chức tưởng niệm, rồi có người chụp hình đưa lên mạng, về sau bị cấm luôn, không vào được nữa", ông Dương cho biết.

Câu chuyện của ông Dương là một lát cắt nhỏ trong vô vàn những hành trình âm thầm tìm kiếm quân nhân Việt Nam Cộng Hòa mất tích thời chiến tranh. Có những cuộc tìm kiếm có kết quả, cũng có nhiều người tới chiến trường xưa chỉ để lấy một nắm đất trở về.

Năm 2016, sau nhiều nỗ lực và với sự giúp đỡ tài chính của nhiều người, bà quả phụ Nguyễn Văn Đương đã sang tỉnh Savannakhet (Lào) để tìm hài cốt chồng. Đại úy Đương, nhân vật trong bài hát "Anh không chết đâu anh", đã tự sát khi đơn vị của ông bị vây trên đồi 31 trong chiến dịch Lam Sơn 719 vào năm 1971.

"Chúng tôi mang trái cây, hoa từ Sài Gòn, sang đó đặt mua xôi và gà đem lên đồi cúng cho tất cả vong linh", ông Nguyễn Công Lý, cựu quân nhân nhảy dù cùng đi với bà quả phụ Nguyễn Văn Đương sang Lào, kể lại. "Bây giờ chết rồi thì không còn phân biệt cộng hòa với cộng sản. Chúng tôi khấn cho tất cả, rồi bà Đương lấy một nắm đất trên đồi mang về Việt Nam, đưa vào chùa, coi như đó là một phần xương cốt của người đã khuất".

Chiến tranh khép lại đã 45 năm, nhưng những cuộc kiếm tìm vẫn tiếp diễn trong âm thầm.

"Các gia đình, các hội nhóm cựu quân nhân, rồi nhà thờ vẫn kết nối, hỗ trợ nhau tìm kiếm, cải táng cho các tử sĩ", ông Huỳnh Công Thuận chia sẻ. "Một điều động viên lớn đó là lớp con cháu sau này cũng tham gia, hỗ trợ cho những người đã già như tụi tôi".

linh5

Bà quả phụ và con trai đi kiếm hài cốt Đại úy Nguyễn Văn Đương trên đồi 31 ở Lào

"Mình còn sống là may mắn lắm, nên làm được gì cho anh em thì làm", cựu quân nhân Võ Phùng Dương tâm sự. "Mình tật nguyền nhưng tay vẫn cầm cuốc đào được, tâm mình không có tật, chỉ nghĩ phải làm gì đó cho anh em, để vậy thì thương lắm".

Một ngày 30/4 nữa đến gần, trong lòng những người như ông Dương lại chất chứa nỗi niềm. "Mộ anh em ở đấy, khi nào nhớ nhớ thì tôi vào thắp nhang. Không có ngày giỗ. Tôi cũng tránh mấy ngày lễ kẻo rắc rối, chỉ đi vào ngày thường".

Bùi Thư

Nguồn : BBC, 28/04/2020

Published in Diễn đàn

Nhạc Vàng mà s thnh hành ca nó gn lin vi min Nam Vit Nam trước 1975 giúp cho khán thính gi ngày nay sng li thi Việt Nam Cộng Hòa và có th được xem là di sản có sc sng nht ca chế đ đã qua, các nhà nghiên cu nhn đnh ti mt hi tho mi đây tiu bang Oregon, Hoa Kỳ.

nhacvang1

Graphic - Nhac Vang

Nhạc Vàng là tên thường gi ca th loi nhc được sáng tác và trình din dưới thi Việt Nam Cộng Hòa. Ngoài tên gi này, mt phn của nó còn được gi là ‘nhc sến’ hay ‘nhc boléro’, da trên th điu và li ca.

U sầu, hoài nim

"Nhạc Vàng là mt trong nhng phương tin gi cho ký c ca nn Cng hòa sng mãi", ông Vinh Phm, nghiên cu sinh Tiến s v Văn hc đi chiếu ti Đi hc Cornell, nhận đnh ti hi tho v nn Cng hòa và các giá tr Cng hòa Vit Nam ti Đi hc Oregon, Eugene, hôm 15/10.

Điều này thy rõ trong các chương trình ca nhc và nhc hi được t chc hi ngoi đ người gc Vit tôn vinh nn văn hóa ca h vn thường trình din nhng bài hát có ni dung v Việt Nam Cộng Hòa, ông nói.

Ông Vinh đưa ra dn chng là có giai thoi v ‘ba th không th thiếu’ trong các gia đình người Vit M, trong đó có nhng đĩa nhc ca Paris by Night hay Asia, hai nhà sn xut băng đĩa hàng đu ca người Vit hi ngoi, bên cnh... chai nước mm và tô phở.

"Những bài hát như thế này thường được xem là đ gi nh v thi kỳ trước năm 1975", ông nói.

Ông Vinh cho biết th loi nhc này thường b các nhà phê bình ngày nay đóng khung là ‘âu su, áo não’ (melancholy).

Theo ông Vinh, sự u su này có nghĩa là ‘mất đi mt th gì đó’ và ‘ít nht trong phm vi văn hc và âm nhc s mt mát đó chính là mt mát tht s nn Việt Nam Cộng Hòa’.

"Nói cách khác, vật b mt (gây ra cm giác u su) đây không nm trong phm vi vô thc mà trái li được đóng khung và đnh danh rõ ràng là một đt nước".

Ông dẫn chng là trong các chương trình ca nhc ca người Vit M, ngày 30/4 năm 1975 được gi là ‘Ngày Mt nước’. Sau khi Việt Nam Cộng Hòa sp đ và nhng công dân ca quc gia này sng lưu vong thì âm nhc ca chế đ cũ giúp họ nhn thc rõ v s mt mát này, ông nói.

Trong khi đó, cách mô tả Nhc Vàng là ‘hoài nim’ (nostalgic) v thi xa xưa có ý nghĩa là ‘chp nhn quá kh là chuyn đã qua và chp nhn thc ti’, ông nói.

"Với nhng gì mà cng đng người Vit hi ngoại, vn tích cc tham gia chính tr, đã phn đi (chính quyn trong nước) lâu nay và cái cách mà Nhc Vàng được s dng đ cng c tinh thn quc gia ca h thì không th nói là có bt c du hiu gì cho thy h chp nhn quá kh mà thay vào đó đó là s phản đi Đng cộng sản", ông nhn đnh.

"Cách dùng những t như hoài nim, u su lâu nay đ phê bình Nhc Vàng đã b qua mc đích tht s ca nhng bài nhc này", ông nói.

Sau khi đất nước thng nht, chính quyn trong nước có mt thi kỳ cm đoán gt gao thể loi âm nhc này vì cho rng nó ‘quá dim tình, yếu đui và th hin nn văn hóa yếu t ca min Nam’. Thm chí nó còn được miêu t là ‘đc hi và phn đng’.

Có hợp vi gii tr ?

Trao đổi vi VOA bên l bui hi tho v lý do ti sao Nhc Vàng có s trở li ngon mc trong nước hin nay, ông Vinh nêu lên các lý do là ‘làm ra tin’, ‘d tiếp cn hơn trước’, ‘d nh d thuc’ và ‘kết ni vi thế h đi trước’.

"Anh có thể kiếm tin bng Nhc Vàng da trên s lượt người xem hay nghe trên YouTube. Mt s kênh về Nhc Vàng trên YouTube có hàng triu lượt xem mi mc đăng ti", ông gii thích.

"Một lý do na là khán gi Vit Nam hin nay có nhiu cách tiếp cn các sn phm văn hóa hơn. Vào nhng năm 1990, các băng đĩa Nhc Vàng mà h có được hoc là sao chép lậu hoc do người thân ca h mang t nước ngoài v", ông nói thêm. "Gi đây mi người ch cn rút đin thoi thông minh t trong túi ra là có th nghe Nhc Vàng".

"Mặc dù mt s bài hát vn b cm nhưng khán gi có th d dàng tiếp cn được".

Ngoài ra, tính chất lãng mn (poetic) ca th loi nhc này khiến khán gi d dàng ghi nh và thuc bài hát.

"Có những thanh niên có ông bà cha m vn còn nghe Nhc Vàng cho nên nó là mt hình thc đ h kết ni vi thế h đi trước", ông Vinh nói thêm.

Trả li câu hỏi liệu Nhc Vàng có phù hp vi th hiếu ca các khán gi tr trong nước hin nay, ông Vinh nói rng gii tr ‘quan tâm đến nhiu th loi âm nhc khác nhau ch h không quan tâm đến duy nht mt th’ cho nên ‘không th gom các khán gi tr thành mt khối duy nhất’.

Tuy nhiên, theo những gì ông quan sát, ông cho rng gii tr trong nước hin nay hướng đến âm nhc Hàn Quc, Trung Quc và nhc M, trong đó nhc Hàn rt được gii tr ưa chung.

Về vn đ liu s hi sinh ca Nhc Vàng có làm sng li s quan tâm và tìm hiểu v Việt Nam Cộng Hòa và các giá tr ca nó hay không, ông Vinh tr li rng ‘mc dù nhng bài Nhc Vàng có th gi li nhng tình cm thân thiết vi Việt Nam Cộng Hòa nhưng trong nước chúng đã được đưa ra khi bi cnh ban đu’.

"Những người hát Nhc Vàng vì h yêu giai điu bài hát (không phi li hát). Tôi không cho rng có s gn bó cá nhân rõ ràng (vi ni dung các bài hát)", ông nói thêm. "Mt s bài hát cơ quan kim duyt còn sa mt s ch trong li hát".

Ông cho rằng các khán gi Vit Nam khi hát Nhc Vàng h ‘ít quan tâm đến chính tr’ và Nhc Vàng ch đơn thun là ‘mt mt hàng mi’ phc v người tiêu dùng.

Chính vì những lý do đó mà ông cho rng Nhc Vàng hin nay ‘không còn là mi đe da chính tr’ đi vi chính quyn trong nước.

Ông đưa ra dn chng là có hin tượng ‘trong nước trình din li màn trình din nước ngoài’ (performing the performance), tc là tái hin li y chang khung cnh sân khu ca các bài hát dàn dng hi ngoi mc dù h đang Vit Nam trong khi nhng bài hát này vì không tiếp cn được bi cnh Vit Nam nên phi dng cnh gi.

Cách làm đó đã cho thấy khán gi trong nước ‘phi chính tr hóa Nhc Vàng’ – tc h là trình din âm nhc ch ‘không truyn ti thông đip chính tr’, ông Vinh phân tích.

Tuyển tập nhạc vàng nhạc xưa trước 1975 - nhạc vàng pre 75 tuyển chọn - Courtesy of Audiophile NbR Music

Di sản có sức sng nht ?

Trong phần trình bày ca mình, ông Jason Gibbs, mt nhà nghiên cu v âm nhc Vit Nam và hin đang làm vic cho Thư vin Công ti San Francisco, cho rng ‘có l di sn v Việt Nam Cộng Hòa có sc sng nht Vit Nam ngày nay là âm nhc’.

"Những bài hát vn còn sng mãi t thi đim đó tp trung vào tình cm con người và nhng cm xúc sâu thm trong lòng người", ông nói.

Theo ông Gibbs thì sở dĩ âm nhc phát trin mnh m min Nam Vit Nam vì ‘có th trường’ cho sn phm âm nhc mang tính thương mi mà nh vào đó các nhc s có rt nhiu cơ hi kiếm tin t các sáng tác ca h và có được mc sng cao.

"Trong một th trường sơ khai còn hn lon, nhng nhà sáng tác và khán gi tìm kiếm âm nhc mi m giàu cm xúc và phù hp vi giá tr chung ca mt b phn đáng k dân chúng", ông nói và cho rng th trường âm nhc min Nam lúc đó ‘hoàn toàn bn đa’ vì ‘không có hãng đĩa nước ngoài nào tranh th được th trường’.

Ông giải thích rng nhc th trường là mt ‘điu mi m min Nam Vit Nam lúc đó vì nó không tn ti dưới thi thuc đa và min Bc.

"Âm nhạc ca Việt Nam Cộng Hòa hot đng trong mi quan h ca ba yếu t : chính sách của chính quyn, đng cơ li nhun và tình cm chung ca người dân", ông cho biết.

Ông nói thêm chính quyền Việt Nam Cộng Hòa lúc đó do mun tách bch khi h tư tưởng và cách cai tr min Bc nên không th ra lnh cho các văn ngh s và người dân tuyệt đi tuân theo lnh ca chính quyn.

Tuy nhiên, ‘tâm lý chiến cũng đóng mt vai trò quan trng trong vic đnh hình công vic sáng to ca các nhc s và có nh hưởng lên các tác phm âm nhc được đưa ra th trường’. Mc dù vy, khi nhc thương mại chiếm lĩnh th trường, trên sóng phát thanh và sóng truyn hình thì nh hưởng ca chính quyn tr nên b gii hn.

Sau năm 1975, Nhạc Vàng mc dù b cm đoán quyết lit min Bc nhưng nó vn được cng đng người Vit hi ngoi gìn gi và ngày nay đã được mt b phn dân chúng min Bc, vn trước gi l lm vi dòng nhc này, chp nhn, ông Gibbs cho biết.

Trả li câu hi ca VOA rng dòng nhc tâm lý chiến có ging như nhc tuyên truyn c đng chiến đu min Bc hay không, ông Gibbs nói : "Tôi phi thừa nhn rng vi nhng gì mà tôi đã nghe thì (nhc min Nam) cũng có yếu t tuyên truyn".

"Ý tưởng tuyên truyn là nhn mnh vào hành đng xu xa ca đi phương", ông nói.

Cũng theo nhận đnh ca ông, Nhc Vàng ‘chc chn mang tính c đng quân đi’ vì nó ‘bày tỏ s cm thông cho người lính, cho nhng người dân b chiến tranh chia ct’.

"Một s bài hát còn hướng đến thu phc nhng người bên ngoài chế đ (sng min Bc)", ông nói và cho biết nhng bài hát này nm trong chương trình chiêu hi (open arms) của chính quyn và có th đi sâu vào phía đi phương.

"Tuy nhiên, họ biết rng h không th sáng tác nhng bài hát mang tính cht quân s mnh m bi vì nhng bài hát như thế không có sc hút (đi vi th trường)", ông nói thêm.

Ngọc Lễ

Nguồn : VOA, 31/10/2019

Published in Văn hóa

Làm sao để ‘gánh, gánh, gánh… gánh thóc về’ ?

Mạnh Kim, VOA, 25/10/2019

Một cuc hi tho quy mô v Việt Nam Cộng Hòa, t văn hóa, kinh tế, đến chính tr, va được t chc ti Trung tâm Châu Á hc thuc Đi hc Oregon vào ngày 14 và 15/10/2019, vi s tham d ca nhiu nhà nghiên cu Anh-M, người M gc Vit ln người Vit t trong nước…

ganh1

Một cnh ti hi tho "Khuynh Hướng Cộng hòa" tại Vit Nam trước 1975.

Nội dung hi tho đ cp nhiu ch đ mang tính nhìn li lch s vi mc đích soi ri li quá kh bng ánh sáng s tht. Chng hn v T Lc Văn Đoàn (Martina Nguyen, Baruch College) ; v c Trn Trng Kim (Nguyn Lương Hi Khôi, Đi hc Sư phm Thành phố Hồ Chí Minh) ; về tự do sáng to trong văn chương Việt Nam Cộng Hòa (Hoàng Phong Tun, Nguyn Th Minh – Đi hc Đi hc Sư phm Thành phố Hồ Chí Minh) ; v vin tr nước ngoài cho Việt Nam Cộng Hòa (Phm Th Hng Hà, Vin S, Hà Ni) ; v Hòa thượng Thích Minh Châu (Wynn Gadkar-Wilcox, Western Connecticut University) ; về Tng thng Nguyn Văn Thiu (Sean Fear, University of Leeds, Anh) ; v âm nhc (Jason Gibbs, San Francisco Public Library) ; v t do báo chí (cu Tng trưởng Việt Nam Cộng Hòa Hoàng Đc Nhã)…

Mục đích hi tho, theo giáo sư Vũ Tường – giám đc Trung tâm Châu Á hc, Đi hc Oregon – là : "Ngoài vic to ra mt din đàn đ bàn tho, phân tích và ghi chép v giai đon lch s b dư lun và các nhà giáo dc Hoa Kỳ b quên hay bóp méo, chúng tôi còn mong hi t và to mi giây liên kết gia nhng s gia và các nhà nghiên cứu v Việt Nam Cộng Hòa và lch s người M gc Vit đ cùng hc hi và trao đi. Có như vy mi hy vng chúng ta có th thay đi dn cái nhìn sai lch v cuc chiến Vit Nam, v Việt Nam Cộng Hòa và v người M gc Vit"…

Song song việc t chc hi tho, giáo sư Vũ Tường cũng cùng Hội di sn người M gc Vit (Vietnamese-American Heritage Foundation) thực hin mt d án trong năm năm gm ba phn :

1/ Thành lp qu hc bng h tr nghiên cu sinh tiến sĩ chuyên v lch sử Việt Nam Cộng Hòa và lch s người M gc Vit ;

2/ Thành lp qu tài tr giúp các hc gi tr có cơ hi trình bày nghiên cu v lch s Việt Nam Cộng Hòa và lch s người M gc Vit ti các hi tho quc tế quan trng ;

3/ Mi gii nghiên cu đóng góp vào ba quyn sách viết bng Anh ngữ ln Vit ng v lch s Việt Nam Cộng Hòa và lch s người M gc Vit.

Tất c cho thy có nhng n lc đáng ghi nhn, nhm bo v di sn văn hóa Việt Nam Cộng Hòa ngày càng mai mt không ch vi người Vit nước ngoài mà c vi người Vit trong nước. Trong thc tế, mt cách lặng l, mt phn văn hóa Việt Nam Cộng Hòa đã được khôi phc tương đi đáng k sau khong 30 năm đu b rung b, k t 1975, mt cách thô bo. Ln lượt, nhiu đu sách cũ, dù b biên tp chnh sa, đã được tái phát hành và bày bán công khai. N lc không mt mi trong việc sưu tp tư liu và viết li đ thế h hin ti thy được mt thi văn hóa hoàng kim ca min Nam trước 1975, như các tp sách v Sài Gòn xưa ca ông Phm Công Lun, là điu rt đáng trân trng (b sách công phu "Sài Gòn chuyn đi ca ph" ca ông Luận xng đáng được trao mt gii thưởng cp quc gia). Cũng không th không k s mit mài lng l đóng góp mt cách bt v li ca nhiu người "vô danh" khác, chng hn người lp ra trang "tusachtiengviet.com" vi vic cung cp bn PDF chp nguyên gc các đầu sách thuc nhiu th loi in trước 1975 ; hoc người lp ra trang "facebook.com/thuchoisach" cũng cung cấp min phí các đu sách cũ bn PDF.

Vấn đ đáng nói hơn hết, tht ra, là không ch gìn giữ di sản văn hóa mà còn là làm thế nào đ xây dng văn hóa cho thế h tương lai. Đó mi là mi lo ln nht trong mi mi lo lng v văn hóa. Đ lưu gi quá kh và làm rõ nhng điu chưa minh bch trong quá kh không là điu đơn gin nhưng đ có mt ngôi nhà văn hóa chung để va ct gi viên ngc quá kh va to ra được nhng giá tr văn hóa tiếp ni đ văn hóa dân tc không b đt gãy và mai mt mi tht s khó khăn gp vn ln. Gn như ai cũng có th thy s tàn phá văn hóa và hu qu ca nó dưới chế đ cng sản. Trong khi đó, nhng biu tượng văn hóa ca mt thi rc r ngày càng mt dn. Sau nhng Tô Thùy Yên, Phm Đình Chương, T T… là ai ? Chng ai c. Sau nhà nghiên cu Pht hc Thích Minh Châu là ai ? Ai hin ti có th ni tiếp ông Nguyn Hiến Lê ? Ai đ sc làm được nhng gì như ông Nguyn Hùng Trương vi nhà sách Khai Trí tng làm ? Và s có bao nhiêu thế h na còn biết đến thơ Du T Lê và vn nghe nhc Phm Duy ?

Ngày 9/1/2007, trong chương trình trò chơi truyn hình "Ai là triu phú", mt ging viên Đi hc Sư phm thành ph Thái Bình đã thn nhiên nói : "T Lc Văn Đoàn ư ? Tôi chưa nghe nói đến bao gi. Hình như đó là mt gánh ci lương. Còn Nht Linh chc chn là mt ngh sĩ ci lương". Bi kch, chính xác hơn là thm ha, ca tình trng nt gãy văn hóa rõ ràng không là vấn đ ca tương lai gn. Nó đã xy ra. Điu nghiêm trng, thm chí có th gi là nguy him, là s không nhn thc đy đ mc đnh hưởng trước tình trng văn hóa b tiêu dit bi chính nhng k được xem là cùng dân tc.

Với chính sách giáo dục hin ti, khi văn hóa b cưỡng ép lng ghép "tính Đng", có th thy, ch vài thp niên na, khi thế h sinh vào thp niên 1960 mt đi, di sn văn hóa min Nam trước 1975 và ca min Bc trước 1945 e rng khó có th được tiếp tc gìn gi. Điu này cũng đúng với các thế h người M gc Vit hoc người Vit sinh nước ngoài nói chung. Ngay thi đim hin ti, mt s Vit kiu sinh vào thp niên 1990 đã ch có th gi li được s kết ni mt phn văn hóa Vit thông qua vic giao tiếp tiếng Vit trong gia đình và qua ẩm thc truyn thng. Tuy nhiên, s dùng tiếng Vit trong đàm thoi giao tiếp so vi vic có được cm xúc rung đng khi đc mt bài thơ hay đon văn thun Vit là điu hoàn toàn khác. Vic có th cm th được v ngon mt món ăn truyn thống vi vic xúc đng trước mt áng văn viết bng ch m đ cũng không h tương đng.

Một người bn đã k vi tôi tâm s riêng sau khi đến M vài năm đu tiên. Ln đó, vì quá nh nhà, v ca anh y vào YouTube tìm mt chương trình ca nhc trong nước. Ca khúc đầu tiên mà cô y nghe, tht bt ng, là bài "Gánh lúa" ca Phm Duy. Bài hát, đy tình t quê hương, đy hn dân tc, đy hình nh mc mc mt đt nước xa xôi đa lý nhưng luôn nm trong sâu đáy lòng, đã như mt cú đp choáng váng, đánh thng vào tâm can đến nhói tim, làm bt dy tt c dn nén luôn c dn xung trước cuc sng b bn nơi đt khách quê người. Không th kim được cm xúc, v chng cô đu bt khóc.

Đó là giọt nước mt không ch nh nhà, không ch vì hoài nim, không ch bi cm giác tha hương. Nó đến t xúc cm ca nhng tâm hn luôn mang nng mt tâm cm, không th hiu ti sao và không bao gi có th gii thích mt cách minh tường, rng mình, nh, vn là người Vit, rng "gc r tôi", ô hay, vn còn Vit Nam. Đó là cm xúc tim óc mà đứa con ca h, tương t nhiu đa tr Vit khác sinh M, không bao gi có được. Cm xúc đó nm trong tim thc ca nhng người không ch nói tiếng Vit mà còn ôm nng cái gánh văn hóa Vit Nam trong tâm hn, trong trái tim, trong suy nghĩ và trong ý thc.

Có đáng lo không, khi nghĩ ngợi xa xôi rng, nếu thế h như người bn tôi mt đi ri thì văn hóa dân tc đi vi người Vit hi ngoi s như thế nào ? Vit Nam, đi vi các thế h hi ngoi tiếp theo, s là mt quc gia đ đến như mt đa đim du lch, tương t bao nhiêu quc gia khác ?

Vấn đ đy tính thách thc đi vi tt c người Vit hin ti là ri đây ai s "gánh, gánh, gánh thóc v" ? Làm thế nào đ "nht" được "thóc" đ mà gánh v cht đy trong b thóc quê hương sao cho thế h tiếp theo còn có "thóc" để mà nuôi dưỡng tâm hn h, trong khi kho "thóc cũ" đang cn kit, trong khi ngay trên quê hương đang xy ra mt s đ nát đến mc tàn t ca văn hóa nói chung, trong đó có s đ đn ca văn hóa tôn giáo, s thi nát ca văn hóa giáo dc, s tan hoang của văn hóa ng x, như hu qu tt yếu ca cái gi là "văn hóa cng sn".

Công cuộc nng n và phc tp này không ai có th gánh vác ni tr khi mt ý thc chung được hình thành, dn đến mt hành đng chung, đ cui cùng không ch có th gi gìn giá trị nền tng cũ mà còn to ra được nhng phm cht giá tr mi. Ít nht thi đim hin ti, mi cá nhân và tng gia đình đu có th làm được mt điu ti thiu : cn thay đi bn thân, cn kiên nhn nht nhnh tng ht thóc văn hóa, cn t tìm kiếm cách thc riêng trên con đường chn la văn hóa, và cn t gieo ht. Nó như mt câu "cliché" thường được trích dn nhưng luôn luôn đúng : bn không th thay đi thế gii nếu bn không thay đi chính mình.

Mạnh Kim

Nguồn : VOA, 25/10/2019

********************

Việt Nam Cộng Hòa : 'Những lý tưởng không bao giờ mất đi'

Vũ Tường, BBC, 21/10/2019

Đã có nhận thức mới cho phép lịch sử tái đánh giá vai trò của nhiều nhân vật, biến cố lịch sử và xu hướng chính trị từng bị lãng quên trong lịch sử Việt Nam, trong đó có giai đoạn Việt Nam Cộng hòa và cả ngay trước đó, với hàng loạt nhân vật từ Trần Trọng Kim, tới Ngô Đình Nhu, Nguyễn Văn Thiệu và nhiều người khác, một học giả từ Mỹ nói với BBC sau một hội thảo nghiên cứu Việt Nam Cộng Hòa mới tổ chức vào trung tuần tháng Mười.

vnch1

Lịch sử giai đoạn Việt Nam Cộng Hòa đã được phản ánh thiếu khách quan do nhiều nguyên nhân, theo nhà nghiên cứu từ Đại học Oregon, Hoa Kỳ

Đặc biệt tân khái niệm và cách nhìn mới về "chủ nghĩa cộng hòa" trong chính trị Việt Nam sẽ cho phép giới nghiên cứu sử học và Việt Nam học nhìn nhận vai trò quan trọng hơn của chế độ Việt Nam Cộng hòa trong lịch sử hiện đại Việt Nam và những lý tưởng này sẽ "không bao giờ mất đi", Giáo sư Vũ Tường, nhà nghiên cứu khoa học chính trị, từ Đại học Oregon, cơ quan tổ chức cuộc hội thảo khoa học trong hai ngày 14-15/10/2019, chia sẻ với BBC qua một trao đổi bằng bút đàm hôm 17/10, mà dưới đây là nội dung.

BBC : Xin Giáo sư vui lòng cho biết những kết quả chính yếu và nhận thức mới đáng kể nhất đã thu lượm được qua Hội thảo ?

Vũ Tường : Hội thảo đề xuất khái niệm và cách nhìn khá mới cho việc nghiên cứu và đánh giá lịch sử hiện đại của Việt Nam : đó là khái niệm chủ nghĩa cộng hoà trong chính trị Việt Nam. Sự hưởng ứng đông đảo và nhiệt tình của giới học giả từ những vị thâm niên đến giới trẻ ở Việt Nam và bên ngoài, từ những nhà nghiên cứu lịch sử thời thuộc địa đến những học giả về cộng đồng di dân hoặc tị nạn Việt ở nước ngoài cho thấy sự cộng hưởng mạnh về ý tưởng, đề tài, và cách tiếp cận trong nghiên cứu lịch sử do khái niệm mới đem lại.

Khái niệm mới sẽ cho phép sử gia đánh giá lại vai trò của những nhân vật, biến cố, và xu hướng chính trị thường bị lãng quên trong lịch sử Việt Nam như Trần Trọng Kim, Hoàng Đạo, Trần Văn Tùng, Phan Quang Đán, Ngô Đình Nhu, và Nguyễn Văn Thiệu, cũng như các nhóm hay nhân vật hoạt động văn hoá như Tự Lực Văn Đoàn, Đoàn Ánh Sáng, Sáng Tạo, Bách Khoa, Lương Kim Định, Thích Nhất Hạnh, Sư Chân Không, Thích Minh Châu, Nguyễn Mộng Giác, Lý Thu Hồ, và Lan Cao.

Khái niệm mới sẽ cho phép giới sử gia nhìn nhận vai trò lớn hơn của chế độ Việt Nam Cộng hoà trong lịch sử hiện đại Việt Nam. Đó không phải một chế độ do nước ngoài áp đặt lên Việt Nam như thường đọc thấy trong sách vở ở Việt Nam hay ở Mỹ, mà nó là thể hiện cụ thể, mặc dù không hoàn hảo, những lý tưởng của chủ nghĩa cộng hoà truyền đến Việt Nam từ thời thuộc địa và được giới tinh hoa lúc đó xem như một hướng đi tiến bộ cho Việt Nam tương lai. Những lý tưởng đó không mất đi với chế độ Việt Nam Cộng hoà dù bị đàn áp khốc liệt bởi những người cộng sản sau năm 1975.

Đề tài hứa hẹn

vnch2

Hội thảo nghiên cứu Việt Nam Cộng Hòa diễn ra trong hai ngày 14-15/10/2019 tại Đại học Oregon, Hoa Kỳ

BBC : Những nhận thức mới và kết quả này sẽ được giới nghiên cứu Việt Nam Cộng Hòa và Việt Nam học tại Mỹ xử lý ra sao ?

Vũ Tường : Tôi hy vọng nghiên cứu về Việt Nam Cộng hoà, chiến tranh Việt Nam, và Việt Nam học nói chung, sẽ có nhiều tương tác hơn trong tương lai.

Sẽ có nhiều nhà nghiên cứu trẻ quan tâm hơn đến Việt Nam Cộng hoà và nghiên cứu về đề tài này sẽ phát triển hơn.

BBC : Hướng nghiên cứu và chủ đề chính kế tiếp đây, liên quan Nghiên cứu Việt Nam Cộng Hòa, sẽ có thể là gì và sẽ được thi triển ra sao ? Các hội thảo tiếp theo đã được dự liệu, hay lên kế hoạch sơ thảo hay chưa ?

Vũ Tường : Hướng nghiên cứu sẽ mở rộng ra những khía cạnh của Việt Nam Cộng hoà chưa được biết đến nhiều, như văn hoá, văn nghệ, giáo dục, kinh tế, đối ngoại, xã hội dân sự, thể chế dân chủ, tư tưởng đa nguyên và tự do, hệ thống đảng phái chính trị, v.v…

Chúng tôi chưa có kế hoạch cho các hội thảo tiếp theo vì trước mắt phải tập trung vào công tác xuất bản các bài viết đã được trình bày trong hội thảo lần này.

Phần lớn các bài viết đều rất chắc chắn với tư liệu mới, cách nhìn mới và lập luận chặt chẽ, có nghĩa là thời gian phản biện và chỉnh sửa sẽ không lâu.

BBC : Giáo sư có thể chia sẻ về quan tâm chính của giới học thuật cũng như trong cộng đồng tại Mỹ về nghiên cứu Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt qua hội thảo lần này và lý do ?

Vũ Tường : Mối quan tâm chính của giới học giả và cộng đồng tại Mỹ là những thiếu sót về hiểu biết cũng như những thông tin sai lạc và thái độ miệt thị đối với không chỉ Việt Nam Cộng hoà mà cả xu hướng chính trị cộng hoà trong lịch sử Việt Nam.

Điều này do di sản của phong trào phản chiến ở Mỹ vào thập niên 1960. Phong trào này bị ảnh hưởng nặng nề bởi tuyên truyền của chế độ cộng sản miền Bắc, dẫn đến những thành kiến còn tồn tại đến ngày nay đối với Việt Nam Cộng hoà.

Đưa vào giáo trình

vnch3

Du khách viếng thăm và chụp hình tại một bảo tàng chiến tranh ở Thành phố Hồ Chí Minh

BBC : Về lực lượng nghiên cứu thuộc thế hệ trẻ, sự quan tâm này thể hiện ra sao và các hướng giảng dạy, đào tạo từ nay tới tương lai ở các cấp đại học và sau đại học sẽ thế nào ?

Vũ Tường : Với các công trình nghiên cứu mới được xuất bản, chúng tôi hy vọng cách nhìn mới sẽ được đưa vào giáo trình cho các nghiên cứu sinh và sinh viên đại học.

BBC : Được biết, có một số học giả và đại biểu tới dự hội thảo từ Việt Nam, đã, đang hay sẽ có sự kết hợp, hợp tác nào và ra sao (nếu có) giữa giới nghiên cứu ở hải ngoại (nhất là tại Mỹ) và ở Việt Nam (từ trong nước) về nghiên cứu Việt Nam Cộng Hòa ? Sự kết hợp này có hứa hẹn, triển vọng gì không, nếu có ?

Vũ Tường : Họ đã, đang, và sẽ hợp tác nhiều hơn trong tương lai.

Phía các nhà nghiên cứu Việt Nam cần sự hỗ trợ về cách nhìn, tài liệu thư viện (các công trình nghiên cứu ở nước ngoài), và môi trường để trình bày nghiên cứu.

Các học giả nước ngoài cần tư liệu lưu trữ cũng như tiếp cận những nhân vật lịch sử (nếu còn sống hay qua gia đình) ở Việt Nam.

Quốc Phương thực hiện

Nguồn : BBC, 21/10/2019

Giáo sư Vũ Tường giảng dạy và nghiên cứu tại Khoa Khoa học Chính trị, Đại học Oregon, Hoa Kỳ từ năm 2008. Ông từng thỉnh giảng tại Đại học Princeton, Đại học Quốc gia Singapore, cũng như tại Naval Postgraduate School ở Monterey, California.

Cuộc hội thảo khoa học "Việt Nam Cộng Hòa, những vấn đề, thách thức và tầm nhìn" được Trung tâm Nghiên cứu Châu Á và Thái Bình Dương, thuộc Đại học Oregon, tổ chức ở thành phố Eugene, tiểu bang Oregon, Hoa Kỳ trong hai ngày, tháng 10/2019, với khoảng 150 đại biểu, trong số đó có các nhà nghiên cứu, sử gia, Việt Nam học, nhân chứng lịch sử và các thành viên cộng đồng, tham dự.

Published in Diễn đàn

Khi chúng ta tuyệt vọng

Tuấn Khanh, RFA, 17/05/2019

Một người bạn của tôi kể rằng anh ấy hụt hẩng kinh khủng khi trãi qua đại lễ Vesak 2019 của Liên Hợp Quốc tổ chức tại Việt Nam. Thậm chí, có cái gì đó giống như là tuyệt vọng trỗi lên, khi anh thấy trên truyền hình, trên báo chí trương hình ảnh ông Thích Thanh Quyết cho ra mắt bức tranh cố gắng nối Hồ Chí Minh một bên và Đức Phật Thích Ca một bên.

giot3

Bên cạnh sự rộn rịp tại một lễ hội, mà Hòa thượng Brahmapundit, Chủ tịch sáng lập Ủy ban Tổ chức Quốc tế Đại lễ Vesak Liên hợp quốc (ICDV) khẳng định nói rằng đã thành công tốt đẹp, cuộc tranh luận và bình phẩm về sự kiện nhà nước vô thần đem biểu tượng cao nhất của Phật giáo để đứng cùng lãnh tụ của họ, đang xuất hiện khắp mọi nơi, thậm chí khiến nhiều trang tin tức quốc tế cũng ghi nhận.

Tháng 5-2019 tại Việt Nam không chỉ có vậy. Đã có nhiều điều diễn ra quyết liệt ở mọi nơi, tạo nên một bức tranh tổng thể đỏ ngầu và dữ dội hơn cả sự mô tả ông Hồ Chí Minh đứng trong bức tranh Đạo Pháp và Dân Tộc đó. Những bắt bớ liên tục diễn ra, những nhà máy có sự che chở giới lãnh đạo đang phủ đầy ô nhiễm tang tóc trên đất nước này. Những kẻ giàu có, mua chuộc được sự dốt nát và hám lợi của bọn cầm quyền đang bóp nghẽn các dòng sông, đang cày nát núi đồi và rừng xanh…

Lễ hội Vesak 2019 đã thành công đến mức nói về hòa bình thế giới, nói về ô nhiễm trên tầng cao khí quyển hành tinh, nói về hòa hợp các dân tộc nhưng lại làm ngơ những người nông dân, những làng xóm từ Nam chí Bắc luôn nơm nớp vì bị cướp đất, bị cưỡng đoạt.

Lễ hội Vesak 2019 cũng không nói đến sông Hàn bị bóp nghẹt, nói về những cánh rừng mất dần để thế chỗ bằng sân golf hay biệt phủ của giai cấp mới.

Lễ hội Vesak 2019 cũng không nhắc gì đến việc làm sao để Hà Nội ngừng rượt đuổi những người thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa, làm sao ngừng chặn bắt hay đánh đập những người bất đồng chính kiến. Từ ngày 12-5 đến 14-5, suốt trong đại lễ này không ngớt xuất hiện những cụm từ "từ bi" và "sám hối", nhưng hàng ngàn tỉ đồng từ mồ hôi nước mắt lao động của người Việt để tạo nên sự hoàng tráng của đại lễ, vẫn không hề giúp giác ngộ được bộ máy lãnh đạo vô thần Hà nội.

Trong tuyệt vọng, nhận thức luôn là một lối đi mới, tôi vẫn phải đùa và an ủi người bạn mình. Nụ cười lặng lẽ và đôi mắt nhắm của Đức Thích Ca trước các vở hài kịch nhân gian cũng là một suy niệm đủ cho anh bạn tôi – hay bất kỳ ai – bừng tỉnh. Trong bài diễn văn của ông thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có nhắc rằng "mỗi người chúng ta chính là sứ giả của đức Phật". Nhiều năm qua, những sứ giả nhân danh Đức Phật có hơi thở nhà cầm quyền, đã không ngừng dạy con người mũ ni che tai trước hiện thực, bài xích tôn giáo khác, thậm chí tạo sự lạc lối, về lịch sử dân tộc.

Trong tiếng vỗ tay và đồng tuyên bố về tình nhân loại và tự do tín ngưỡng từ đại lễ Vesak 2019, cũng đã đồng tình chôn sống sự thật về những ngôi chùa bị san lấp, về những tu sĩ bị sách nhiễu tại Việt Nam. Thậm chí, vị Bồ tát có thật của hành tinh là Đức Đạt Lạt Ma thứ 14 cũng được đại lễ sắp xếp cho lãng quên bằng trò đơn giản như thắp nến hay ca hát.

Mỗi lúc thế giới đang mở ra. Những lời nói dối của thế kỷ 21 luôn tinh xảo hơn ở thế kỷ trước. Nhưng bên cạnh đó, nhận thức của con người trước những sự dối trá giờ đây cũng khác biệt và tinh tế hơn. Sau 1975, khi ông Mai Chí Thọ - giám đốc công an thành phố - đối thoại với những bậc trí giả của Giáo hội Phật giáo Thống Nhất đã đặt vào cuộc trò chuyện là xe tăng và nhà tù. Còn 2019, trên bàn đối thoại với Phật giáo và tín đồ, nhà cầm quyền đặt cược bằng cả chùa lớn và đại lễ. Nhưng dẫu vậy, mắt của Đức Phật qua năm tháng ấy vẫn khép, nụ cười vẫn bí ẩn. Những trò vui có thay hình đổi dạng, vẫn vậy, vẫn vô nghĩa cùng những lời nói dối có hệ thống.

Nên bạn tôi, đừng tuyệt vọng, đừng từ bỏ.

Nhận thức không nhằm để chúng ta tuyệt vọng. Nhận thức để chúng ta có được cái nhìn thông tuệ và xuyên suốt, để luôn mang trong tim mình niềm hy vọng. Nhận thức rõ được sự thật sẽ khiến bạn thấy mình khép mắt lặng im và mỉm cười như Đức Phật. Sự thật ấy sẽ dắt tay anh em qua ngõ tối và sợ hãi. Sự thật rồi cũng sẽ giải thoát dân tộc này qua sự mê muội và muộn phiền.

Vì mỗi con người chỉ có một cuộc đời, nên nếu chúng ta tuyệt vọng và từ bỏ, tức đã tự dâng hiến sự sống duy nhất của mình cho kẻ ác, cho bọn vô thần. Trong nhận thức, ta vẫn đang gieo niềm hy vọng, không chỉ riêng mỗi mình, tôi nói với người bạn, và có thể, ta sẽ còn nhìn thấy Đức Phật bí ẩn mỉm cười.

Tuấn Khanh

Nguồn : RFA, 17/05/2019 (tuankhanh's blog)

**************

Hòa thượng Thích Không Tánh lên tiếng vụ ‘ngưng Tri ân Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa’

Cát Linh, Người Việt, 17/05/2019

Tin tức về việc "Dòng Chúa Cứu Thế Kỳ Đồng, Quận 3, Sài Gòn, bất ngờ chấm dứt chương trình Tri ân Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa " gây xôn xao trên mạng xã hôi.

giot4

Hòa thượng Thích Không Tánh. (Hình : Hội Anh Em Dân Chủ)

Tuy nhiên, vào tối 15 tháng Năm, trang web Nhà Thờ Thái Hà lại đăng bài trả lời phỏng vấn BBC tiếng Việt của Linh mục Giuse Nguyễn Ngọc Bích, giám tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam. Trong đó Linh mục Bích cho biết "Bề Trên vẫn cho phép tiếp tục giúp đỡ các thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa". Đáng lưu ý, bài trả lời phỏng vấn này lại chưa chính thức xuất hiện trên trang chủ của BBC tiếng Việt.

Sáng sớm ngày 16 tháng Năm, Hòa thượng Thích Không Tánh, người khởi xướng chương trình "Tri ân Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa", cho nhật báo Người Việt biết những vấn đề xung quanh sự kiện đang gây nhiều tranh cãi này.

Vì sao phải thuyên chuyển ?

Hòa thượng Thích Không Tánh nêu lên các sự việc : "Hôm Hội Đồng Liên Tôn tiếp xúc với phái đoàn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ở chùa Giác Hoa, có sự tham dự của Linh mục Lê Xuân Lộc, cũng là thành viên của Hội Đồng Liên Tôn. Khi Linh mục Lộc qua thì tôi thấy ông rất buồn. Ông cứ nói là chỉ vài thời gian nữa là phải bàn giao Văn phòng Công lý và Hòa bình ; chương trình chia sẻ với anh em thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa gặp khó khăn".

"Trong lòng tôi lúc đó nghĩ là chuyện này đã khó khăn ngay từ khi Linh mục Phạm Trung Thành mãn nhiệm, bên hệ thống Công giáo bổ nhiệm Linh mục Bích về làm giám tỉnh. Khi Linh mục Bích về một thời gian ngắn liền đưa Linh mục Thoại đi xa. Linh mục Thoại là ‘nòng cốt’ ở Phòng Công lý và Hòa bình và chương trình chia sẻ với anh em thương phế binh", hòa thượng nói tiếp.

"Mới đây thì đưa Linh mục Lê Ngọc Thanh đi xuống miền Tây để nhận nhiệm sở dưới đó. Rồi Linh mục Lộc và Linh mục Vũ cũng bị thuyên chuyển. Tôi thấy tất cả là do vị giám tỉnh mới. Bây giờ có dư luận nói là vị giám tỉnh mới thuộc về quốc doanh, nghe theo lệnh của nhà nước sao đó, làm cho chương trình Bên Nhau Đi Nốt Cuộc Đời gặp khó khăn và bị gián đoạn", hòa thượng nhấn mạnh.

Linh mục Giuse Nguyễn Ngọc Bích nói gì ?

Trước đó, trong bài trả lời phỏng vấn BBC Tiếng Việt của Linh mục Giuse Nguyễn Ngọc Bích đăng trên trang web Nhà thờ Thái Hà có năm câu hỏi và trả lời được Linh mục Bích đăng nguyên vẹn, gồm cả phần tự giới thiệu của ông.

"Thông thường, tôi rất ít trả lời phỏng vấn, nhưng khi đọc các câu hỏi của ông từ đài BBC tiếng Việt, tôi thấy các câu hỏi rất đúng đắn và có sự tôn trọng nên tôi sẵn sàng trả lời. Sau đây là các câu trả lời những câu hỏi của ông", Linh mục Bích viết.

giot5

Giám tỉnh Nguyễn Ngọc Bích. (Hình : Nhà thờ Thái Hà)

Ngay câu hỏi đầu tiên BBC hỏi về phản hồi đối với việc "đổi tên Phòng Công lý và Hòa bình và việc giúp các thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa tại đây sẽ không còn tiếp tục", Linh mục Bích khẳng định : "Chúng tôi chưa hề ra văn thư hoặc tuyên bố nào thay đổi chủ trương hoạt động. Vì vậy, một số blogger bày tỏ sự băn khoăn là không cần thiết".

Đài BBC có đặt câu hỏi với Giám tỉnh Nguyễn Ngọc Bích về việc thuyên chuyển các linh mục mà Hòa thượng Thích Không Tánh nhắc đến tên, Giám tỉnh Bích phản hồi rằng :

"Sự bổ nhiệm và thuyên chuyển là việc rất bình thường của tất cả các Dòng tu. Đó là công việc nội bộ mà người ngoài, thậm chí cả các Giám mục, chẳng có lý do gì để xen vào hay thắc mắc vì họ không thể biết được những gì liên quan đến phẩm chất, đến tư cách và đến hoàn cảnh của từng tu sĩ và vì họ cũng không có trách nhiệm phải trả lời trước mặt Chúa về những gì liên quan đến sứ mạng và sự phát triển của Dòng".

Tuy nhiên, khi trả lời phỏng vấn của Người Việt, Hòa thượng Thích Không Tánh đặt vấn đề là "Tại sao khi vừa nhậm chức giám tỉnh đã vội thuyên chuyển hàng loạt linh mục của Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn ?"

Hòa thượng nói tiếp : "Theo tôi nhớ thì hình như sự bầu bán cũng có sự vận động sao đó. Ở đây cũng đã có dư luận là Linh mục Bích là tu sĩ quốc doanh. Nếu không như thế thì tại sao đưa họ đi ra tận Quảng Nam ? Rồi nghe nói bàn giao sổ sách, giấy tờ, các thứ. Rồi đổi tên nữa, một cái tên nghe rất xã hội chủ nghĩa, rất mông lung. Nếu Linh mục Bích nói rằng vẫn tiếp tục việc giúp các thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa vậy thì việc cứu trợ như thế nào ? Rồi ngân quỹ đó ra sao ?".

Tuy nhiên, trong phần trả lời của Giám tỉnh Nguyễn Ngọc Bích dành cho đài BBC, ông viết rõ : "Tôi chưa thấy ai đổi tên phòng này với tên gọi khác. Tôi cũng vừa trao đổi với cha Tân Bề Trên Tu Viện Sài Gòn. Ngài khẳng định vẫn tiếp tục việc giúp các thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa. Như vậy, những thông tin nêu trên là không đúng sự thật".

Ngày 15 tháng Năm, Linh mục Đinh Hữu Thoại đăng lên trang cá nhân một thông cáo dán trước Phòng Công lý và Hòa bình có nội dung : "Kể từ ngày 15 tháng Năm, 2019, Phòng Công lý và Hòa bình tạm ngưng làm việc đến khi có thông báo mới".

Phòng Công lý và Hòa bình của Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn là địa chỉ quen thuộc của tất cả các thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa. Chương trình này được chuyển giao vào năm 2012 từ Hòa thượng Thích Không Tánh, chùa Liên Trì, Quận 2, Sài Gòn, về Phòng Công lý và Hòa bình, Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn.

Linh mục Đinh Hữu Thoại, một trong những người phụ trách chương trình này, nhớ lại : "Năm chúng tôi bắt đầu tổ chức giúp cho chùa Liên Trì là tháng Bảy, 2012. Do chúng tôi làm truyền thông thì nhiều người biết tới và con số thương phế binh đến càng ngày càng nhiều. Chương trình chúng tôi giúp đỡ họ là khám sức khỏe, trang bị cho họ những phương tiện trong cuộc sống như bảo hiểm y tế, xe lắc, xe lăn, xe ba bánh hay nạn, gậy, tùy nhu cầu mà chúng tôi giúp. Rồi thì sửa nhà, xây nhà mới, đi thăm bịnh và khi các ông qua đời thì chúng tôi đi viếng…".

Theo Hòa thượng Thích Không Tánh, lý do năm đó phải chuyển giao chương trình về Phòng Công lý và Hòa bình là vì số lượng thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa ngày càng tăng thêm. Chùa Liên Trì khi đó (nay không còn nữa vì bị chính quyền Đảng cộng sản Việt Nam phá bỏ) không đủ khả năng và không có địa điểm đủ rộng để gần 200 thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa sinh hoạt.

Đức Vâng Lời

Các linh mục của Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn trong những ngày qua từ chối đưa ra bình luận. Ngay cả khi nội dung trả lời của Giám tỉnh Nguyễn Ngọc Bích được đăng tải trên trang Nhà thờ Thái Hà gặp nhiều phản ứng trái chiều của dư luận thì các vị cũng chọn giải pháp im lặng.

Theo Hòa thượng Thích Không Tánh, "hệ thống Công giáo có một cái gọi là Đức Vâng Lời, nên với quý cha cấp dưới, bề trên nói gì thì phải nghe theo thôi".

Nhạc sĩ Tuấn Khanh đặt câu hỏi trong một bài viết liên quan : "Có cái gì đó rất bất thường đang diễn ra ở nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, Kỳ Đồng, nơi mà lâu nay, được khắp nơi ngưỡng mộ là ngôi nhà của lòng lành và công lý".

Theo nhạc sĩ Tuấn Khanh : Đặc biệt, trong bối cảnh của một nước Việt Nam với vết thương nội chiến vẫn chưa lành, sự kỳ thị với những cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa vẫn là một chủ trương thấy rõ.

Còn nhà giáo, nhà hoạt động Phạm Minh Hoàng viết trên trang cá nhân của ông : "Cuối năm 2018, Cha Bích tái đắc cử, và những ‘nề nếp mới’ được điều chỉnh cho ngày ‘một mới hơn.’ Những ‘ánh mắt mang hình viên đạn’ ngày một sắc nét hơn. Và sau nhiều chi tiết không tiện nêu lên đây − chuyện phải đến đã đến. Cha Trương Hoàng Vũ nhận lệnh rời Sài Gòn, vài ngày sau văn phòng được lệnh giải tán. Ngày 14 tháng Năm, các tình nguyện viên thu dọn đồ đạc, sáng 15 tháng Năm linh mục độc nhất còn lại, Cha Lộc khép lại cánh cửa sắt của văn phòng lần cuối".

Những tình nguyên viên trẻ của Phòng Công lý và Hòa bình đều bất ngờ và tức giận trước diễn biến này. Họ cho biết họ cảm thấy như đang bị mất đi một gia đình và tâm trạng của họ đau buồn, không thể nói gì được.

Tuy không cùng một tôn giáo, nhưng Hội Đồng Liên Tôn và Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn trong mấy năm qua đã có chung một mục đích, đó là "Bên Nhau Đi Nốt Cuộc Đời". Những người quan tâm đến các thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa đều đưa ra câu hỏi : "Ai sẽ cùng với họ đi nốt cuộc đời còn lại ?" 

Cát Linh

Nguồn : Người Việt, 17/05/2019

*********************

Thương cho thân phận thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa

Paulus Lê Sơn, VNTB, 16/05/2019

Thượng đế không loại trừ bất cứ một ai, chỉ có con người loại trừ nhau mà thôi. Người Công giáo xác tín một điều, Thiên Chúa không bỏ rơi một ai, nhất là những con người yếu thế, khổ đau. Thân phận của người thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa trong xã hội này là thân phận của người yếu thế, đau khổ. Họ đáng được chúng ta tôn trọng, bảo vệ và yêu thương.

phebinh1

Tác giả cùng những tình nguyện viên trợ giúp các TPB trong chương trình "Bên nhau đi nốt cuộc đời" do Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn tổ chức từ ngày 27 đến 30 tháng 12 năm 2017.

Cuộc xua đuổi từ sau kết thúc cuộc chiến năm 1975 cho đến ngày hôm nay hầu như vẫn không hềdừng lại đối với những con người thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa. Họ là những con người có phẩm giá và nhân vị, thiệt thòi hơn, họ còn bị thương tích, khuyết thiếu một phần thân thể do chiến tranh để lại. Họ thực là những con người yếu thế trong xã hội. Đáng ra họ phải được tôn trọng, bảo vệ, nâng đỡ. Cớ sao lại ra tay truy cùng diệt tận họ ?

Đầu năm 2019, khi nhà cầm quyền tấn công, đập phá, xóa bỏ vườn rau Lộc Hưng, hàng chục thương phế binh đã bị ném bỏ đồ đạc chăn mùng ra khỏi phòng trọ. Các thương phế binh này được sự nâng đỡ, chở che của các Linh Mục Dòng Chúa Cứu Thế và người dân vườn rau Lộc Hưng cho thuê trọ một căn nhà. Các ông ban ngày lê lết đi bán vé số ban đêm về có chỗ ngả lưng qua đêm.

Mới hôm 28/04/2019, công an tiếp tục đe dọa trấn áp những con người tàn phế này. Đồng thời gây áp lực với chủ nhà trọ, ép chủ nhà phải đuổi các chú thương phế binh ra khỏi nhà. Họ chả biết phải đi đâu, trú ngụ ở đâu, cuộc sống trước mắt như thế nào đây ?

Trước thông tin văn phòng Công Lý và Hòa Bình thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam sẽ đổi tên và đổi thay một số nhân sự, người ta lo lắng rất nhiều cho phần cuối cuộc đời của thân phận thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa.

phebinh2 - Copie

Thương Phế Binh đến sinh hoạt chương trình xuân 2017 tại Dòng Chúa Cứu Thế. Ảnh : Facebook Tri Ân Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa

Sự lo lắng cũng là chính đáng, vì phòng Công Lý và Hòa Bình như là mái nhà chung cho hàng chục ngàn thương phế binh tựu về hàng năm, hàng tháng trong chương trình "Bên nhau đi nốt cuộc đời". Quả thật, nơi đây đã tạo nên bầu khí yêu thương, tin tưởng và tôn trọng đối với người thương phếbinh Việt Nam. Những con người mà từ sau 1975, họ bị chế độ cộng sản coi là tàn dư của "ngụy quân" tìm mọi cách loại trừ. Thế nên giữa chốn đời khốn khổ đó, họ tìm thấy vùng trời bình yên mỗi khi tề tựu bên nhau.

Tôi có may mắn được dự phần vào những công việc trợ giúp thương phế binh trong các chương trình tri ân tại Dòng Chúa Cứu Thế 38 Kỳ Đồng, và đã đi đến nhiều gia đình của họ. Qua đó tôi thấu hiểu, cảm nhận hết sức rõ ràng tâm hồn, tình cảm và sự mẫn cảm của họ đối với con người, thời cuộc và từng cá nhân cụ thể đến với họ bằng tình thương, lòng nhân ái của con người.

Tôi thấy từng giọt lệ rỉ ra trên những khóe mắt nhăn nhúm già nua của họ khi họ được gặp lại chiến hữu từng vào sinh ra tử, khi họ lắng nghe những bài hát đầy trữ tình mang âm hưởng của người lính bảo vệ tự do.

Một thương phế binh nói trong sự biết ơn : "Chúng tôi đã và đang sống trong những sự ruồng bỏ và kiềm kẹp từ xã hội này (chính quyền cộng sản), những năm gần đây các Linh mục Dòng Chúa Cứu Thế tổ chức cho chúng tôi có cơ hội gặp mặt, đem đến cho chúng tôi sự an ủi trợ lực rất lớn, chúng tôi chân thành cám ơn những tấm lòng hảo tâm đã nhớ đến chúng tôi".

Cũng có những ông lo lắng nói rằng : "Nếu một ngày nào đó không còn chương trình bên nhau đi nốt cuộc đời của Dòng Chúa Cứu Thế thực hiện thì chúng tôi biết trông cậy ở đâu, nương nhờ ai. Chúng tôi đâu còn cơ hội gặp nhau như thế này. Tâm hồn chúng tôi có lẽ sẽ héo úa buồn bã vì cái cuộc sống này đã, đang bạc bẽo, kỳ thị chúng tôi".

Tôi còn nhớ như in câu nói của Linh mục Vinh Sơn Phạm Trung Thành, cựu Giám tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, và là một trong những người khởi xướng chương trình Tri Ân Thương Phế Binh đã chia sẻ với các cộng tác viên : "Chúng ta hãy đến với họ bằng tất cả tình thương".

Vì tình thương đó mà các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế đã sưởi ấm được hàng ngàn trái tim bị cái xã hội, cái chế độ vây ráp trong sự ghẻ lạnh, ruồng bỏ, truy diệt.

Chúng ta sẽ tiếp tục đốt lửa và thêm vào nhiều năng lượng hơn để sưởi ấm cuộc đời, thân phận thương phế binh hay chúng ta sẽ dập tắt nó ? Điều này thì tương lai sẽ cho chúng ta câu trả lời.

Vui mừng và hi vọng luôn cho con người kết quả tốt đẹp. Trong biến cố thay đổi danh xưng, nhân sự, và cách thức làm việc tại văn phòng Công Lý và Hòa Bình tại Dòng Chúa Cứu Thế. Trên Facebook Linh mục Lê Ngọc Thanh cho biết : "Bề trên nhà Sài Gòn vẫn tri ân thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa, nhưng cách thức và nhân sự sẽ thay đổi tạ ơn Chúa và đợi xem".

Thượng đế không loại trừ bất cứ một ai, chỉ có con người loại trừ nhau mà thôi. Người Công giáo xác tín một điều, Thiên Chúa không bỏ rơi một ai, nhất là những con người yếu thế, khổ đau. Thân phận của người thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa trong xã hội này là thân phận của người yếu thế, đau khổ. Họ đáng được chúng ta tôn trọng, bảo vệ và yêu thương.

Paulus Lê Sơn

Nguồn : VNTB, 16/05/2019

Published in Diễn đàn

Đáng lẽ bài này được dành cho ngày 30/4 năm tới (2020), nhưng tác giả muốn viết sớm một năm để nhớ dĩ vãng buồn vào mỗi dịp tháng Tư, và nhắc lại những thành tựu không thể phủ nhận của 21 năm Việt Nam Cộng hòa (1954-1975) có thể thành bài học quý giá cho Việt Nam bây giờ và trong tương lai.

saigon01

Phòng trà Sài Gòn trước 1975 - Ảnh minh họa

Đáng lẽ bài này được dành cho ngày 30/4 năm tới (2020), nhưng tác giả muốn viết sớm một năm để nhớ dĩ vãng buồn vào mỗi dịp tháng Tư, và nhắc lại những thành tựu không thể phủ nhận của 21 năm Việt Nam Cộng hòa (1954-1975) có thể thành bài học quý giá cho Việt Nam bây giờ và trong tương lai.

Trước tiên, di sản lớn nhất của Việt Nam Cộng Hòa đã để lại cho thế hệ sau 1975 phải nói đến là nền âm nhạc phong phú, đa dạng và chan chứa tình tự dân tộc và văn hóa dân gian.

Bất chấp chủ trương diệt tận gốc rễ của chính quyền mới sau tháng 4/1975, nét văn hóa bất diệt này vẫn tồn tại ở miền Nam và sau đó lan dần ra miền Bắc. Ban đầu chỉ có một số nhỏ bài hát được phép trình diễn chính thức, nhưng danh sách này lớn dần và đến nay thì hình như không có lệnh cấm giới hạn nữa.

Phong trào nhạc Bolero, hay còn được gọi là "nhạc vàng" tràn ngập bây giờ là ví dụ hùng hồn nhất.

Nhưng trong giới hạn của bài này, chúng tôi chỉ muốn đề cập đến các di sản chính khác về giáo dục, kinh tế, chính trị hành chính và xã hội.

Tự hào tuổi trẻ và nền giáo dục Miền Nam

Đọc xong vài quyển sách gợi chuyện cũ, tưởng như đã được rũ sạch nỗi ấm ức cái "hội chứng Việt Nam" (Vietnam syndrome) từ lâu về một đất nước phú cường văn minh như Nam Hàn phải có trong giấc mơ cho xứ mình.

Thật sự từ trên 40 năm nay, sau khi du học ở tuổi 18 rồi ra trường, sống và đi làm nhiều nơi, tôi vẫn chưa tỉnh hay thoát ra khỏi "NÓ". Tôi chưa giải tỏa được nỗi ấm ức của "giấc mơ xưa" ở tuổi thanh xuân. Tôi từng có những giấc mơ đội đá vá trời và lòng tự tin nhưng suốt đời vẫn chưa tìm thấy chốn "dung thân" để phục vụ lý tưởng tuổi trẻ.

Đã từng về làm việc ở Sài Gòn từ đầu thập niên 2000 cho đến 2014, tôi thấy hàng ngày sự phồn thịnh hơn của xã hội về vật chất so với những ngày tuổi trẻ miền Nam của tôi, nhưng tôi vẫn tò mò tìm hiểu nơi đám người tuổi trẻ hiện nay, xem họ có chia sẻ cái "phần hồn ngày xưa" của đám anh em chúng tôi đã lớn lên trong cùng thành phố này.

Chúng tôi lớn lên trong khung cảnh của một đất nước loạn ly, nhưng may mắn còn được hấp thụ một nền giáo dục, tuy mang tiếng "từ chương" lý thuyết nhưng vẫn có một giá trị tối thiểu nào đó được chứng minh sau này khi đàn chim non miền Nam chúng tôi tốt nghiệp trung học, bay ra khắp các chân trời thế giới đã ghi lại nhiều thành tích trong các trường đại học Âu Mỹ.

Chúng tôi còn may mắn lớn lên trong một nền lễ giáo cổ truyền Việt Nam còn sót lại, tôn trọng các giá trị gia đình cao đẹp từ ngàn xưa, những tin yêu vào tình đời tình người vẫn còn mạnh mẽ.

Nhất là thời kỳ "vàng son" 1955-1963 của nền Đệ nhất Cộng hòa trong thanh bình thịnh vượng của một Việt Nam Cộng Hòa dân chủ tương đối.

Đáng nói nhất là đám thiếu niên tuổi 15-16 thuở chúng tôi đã manh nha một lòng yêu nước mãnh liệt, muốn góp tay xây dựng một đất nước phú cường bằng sự chăm chỉ học hành trau dồi kiến thức, mơ tưởng đến một nền kinh tế hùng mạnh, một xã hội ấm no công bằng.

Chúng tôi chỉ có ý nghĩ đơn giản như đại đa số thanh thiếu niên trong các nước Á châu khác lúc ấy, là sẽ cố gắng học hành hay làm việc để xây dựng đất nước bằng một nền kinh tế vững chắc. Đó là lưu dấu kỷ niệm đậm đà nhất của tuổi thanh niên mới lớn ở miền Nam.

Sau này, khi có dịp về sống ở Sài Gòn rồi ngồi trầm ngâm hàng giờ bên ly cà phê ở quán Continental, tôi ngỡ ngàng xem từng đoàn xe máy phóng như đua chung quanh Nhà hát Thành phố -Trụ sở Hạ nghị viện Việt Nam Cộng Hòa trước 1975 - của những người trẻ tuổi bây giờ.

saigon2

Giới trẻ Việt Nam đang hướng về tương lai

Họ la hét ầm ĩ, có vài cô mặc thiếu vải nhún nhảy tự nhiên trên băng sau của những chiếc xe máy Honda đắt tiền kiểu mới nhất, ăn mừng trận bóng tròn vừa thắng Thái Lan hay Malaysia. Họ hét to "Việt Nam vô địch" như thể hiện ý chí chiến thắng đó giống các nhóm khán giả đông đảo thường la to mỗi lần có mặt trên những sân vận động.

Nhóm đua xe đông quá và dường như tạo thành sức sống mãnh liệt cho cái thành phố quá tải của đất nước được mệnh danh là "non trẻ" này, khi các nhóm trẻ từ 20 đến 40 tuổi được ước tính chiếm 40% dân số, vẫn là một ẩn số lớn về xã hội và chính trị.

Những người trẻ bay lượn trong phố đêm trên những "mô tô bay" như biểu hiện của tự do, của văn minh còn được tìm thấy cho tuổi trẻ của mình trong đất nước đó. Tôi chợt hiểu tại sao họ thường "đi bão, xuống đường" tràn ngập với những rừng cờ đỏ, băng rôn hay tô son vẽ mặt đậm màu quốc kỳ để chào mừng một trận vừa thắng "kẻ địch".

Bên trên những chiếc xe máy tốc độ giúp cái hừng khí ngắn ngủi chợt tìm thấy, lòng yêu nước được dịp tỏ rõ qua những sự kiện thể thao. Đam mê còn lại đó cùng những ly bia đầy giúp họ xóa đi cái vô cảm hàng ngày với những vấn đề lớn hơn của xã hội, và bớt đi cái mặc cảm thiếu trách nhiệm với một đất nước tụt hậu thua kém láng giềng. Họ có vẻ ít nghĩ xa như vậy.

Những người lớn tuổi xưa cũ của thành phố này thường tỏ lộ u hoài, nói với tôi là họ nhớ lại các thế hệ cùng tuổi như chúng tôi dạo 1960-1970. Ngay chính Chủ tịch Quốc hội đương nhiệm, Nguyễn Thị Kim Ngân, vốn gốc tỉnh Bến Tre thời Việt Nam Cộng Hòa, cũng phải tâm sự lên tiếng khen nền giáo dục cũ của miền Nam.

Những ý nghĩ vụn này đã tạo dịp cho tôi được sống lại những tự hào của một thời tuổi trẻ trong thành phố Sài Gòn, được hưởng nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa, với lý tưởng mộng mị cho một Việt Nam hùng mạnh tương lai.

Ra đi du học mong trau dồi kiến thức với tâm huyết hừng hực của một thanh niên tuổi 20, và sau này lúc ra đời làm việc ở nhiều nơi trên thế giới, vẫn mang trái tim phục vụ tuổi 30 dù mái tóc đã điểm sương.

Và cùng với người Sài gòn bấy giờ, tôi vẫn thấy bừng lên sức sống với giấc mơ xưa : Biết đâu sẽ có một ngày ?

Di sản cộng hòa cho Việt Nam nay là gì ?

A. Việt Nam Cộng Hòa và thành công kinh tế thị trường

Dù chưa được quen thuộc nhiều với các định chế kinh tế và tài chính quốc tế hay các nền kinh tế tư bản lớn, Việt Nam Cộng Hòa đã biết sớm theo các qui luật của nền kinh tế thị trường và nhất là nhấn mạnh vai trò khu vực tư nhân.

Điều này tương phản hoàn toàn với nền kinh tế Việt Nam bây giờ, sau 44 năm thống nhất, vẫn loay hoay với lý thuyết "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa" mà không ai chứng minh được.

Các thay đổi lớn sau ba thập niên Đổi Mới từ những năm 1986-1989 đã giúp Việt Nam có một bộ mặt tương đối phồn thịnh ở các thành thị, nhưng đi dần vào bế tắc nếu không có các cải cách thể chế song hành với cải cách kinh tế ở giai đoạn tới. So sánh thời kỳ 21 năm dưới Việt Nam Cộng Hòa với thời gian ít hơn một nửa so với 44 năm của nước Việt Nam thống nhất, hai di sản kinh tế nổi bật của Việt Nam Cộng Hòa là :

Cách mạng Xanh

Đặc biệt là chính sách "Cải Cách Điền Địa" dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa được tiếp nối bởi "Người Cày Có Ruộng" dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa, nhằm lấy lại các mảnh ruộng bao la nằm tập trung trong tay một số nhỏ đại điền chủ từ thời Pháp thuộc, phát đất rộng rãi cho các tầng lớp nông dân và khuyến khích tự do trồng trọt, nhất là lúa gạo, để miền Nam tự cường.

Ngoài ra, và quan trọng nhất, là những năm về sau Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã cho áp dụng một chính sách qui mô cho gieo hạt lúa mới "Thần Nông" trên toàn vùng đồng bằng Cửu Long, làm tăng gia đột biến năng suất trồng lúa và mức sản xuất gạo của đất nước, đưa đến cả khả năng xuất cảng gạo bắt đầu vào năm 1974. Đây là thành tích kinh tế đáng kể của Việt Nam Cộng Hòa khi cuộc chiến tương tàn cũng đi vào giai đoạn ác liệt nhất.

Nước Việt Nam thống nhất sau tháng 4/1975 mới chỉ nhận ra tầm quan trọng của chính sách sản xuất lúa gạo tự do với Đổi Mới từ năm 1986 khi đến bờ vực của nạn đói, lúc không sản xuất đủ gạo ăn và dân chúng bắt đầu phải trộn cơm với bo bo từ những năm 1980.

Từ khi chính phủ trung ương ở Hà Nội thay đổi chính sách bằng "ngòi bút" từ nghị quyết năm 1986 cho phép dùng giá cả và sản xuất tự do, di chuyển gạo từ vùng thừa sang vùng thiếu, đã làm lại cuộc "cách mạng xanh" nói trên của Việt Nam Cộng Hòa, khởi đầu toàn chiến lược đổi mới nông nghiệp và tiếp đó "lột xác" toàn nền kinh tế trong ba thập niên theo sau.

Điều đáng lưu ý là cuộc cách mạng này đã được thừa hưởng di sản có sẵn của chính sách tự do trồng trọt ở đồng bằng Cửu Long, diện tích trồng đã được phân phối rộng và công bằng ở miền Nam, và nhất là kiến thức nông gia trong việc canh tác lúa "Thần Nông" đã có sẵn. Đáng kể hơn là việc có thể đem kỹ thuật và giống lúa này ra đồng bằng sông Hồng ngoài Bắc, khiến mức sản xuất lúa gạo của toàn cõi tăng kỷ lục, và không ngạc nhiên khi chỉ chục năm sau Việt Nam đang từ thiếu gạo ăn trong nước, trở thành xứ xuất cảng gạo hạng ba thế giới sau Thái Lan và Ấn Độ.

Khai thác dầu khí

Việt Nam Cộng Hòa đã tìm ra vài "túi dầu" đầu tiên vào các năm 1973-74 ở thềm duyên hải Vũng Tàu, chỉ tiếc là chưa kịp thì giờ và vốn đầu tư khai thác để tìm ra dung lượng lớn đáng kể đủ hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, tình trạng thiếu an ninh do cuộc chiến tiếp diễn hàng ngày đã là yếu tố quyết định khiến các nhà đầu tư ngần ngại.

Nhiều quan sát viên quốc tế và nhà bình luận chính trị sau này đã tiếc cho Việt Nam Cộng Hòa là chưa đủ thời gian để khai thác các mỏ dầu và khí ngoài khơi khổng lồ, nhất là đủ để hấp dẫn các hãng dầu Hoa Kỳ.

Nếu có, và nếu các hãng này ký kết khai thác với chính phủ miền Nam dạo đó, chưa chắc gì có cảnh Henry Kissinger ký kết bán đứng Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1972, sửa soạn cho hiệp định ngừng bắn Paris 1973 và ngày nhân dân miền Nam phải bỏ cuộc tháng 4/75.

Sau 1975, nước Việt Nam thống nhất thừa hưởng trọn vẹn và dầu khí từ miền Nam trở thành tài nguyên chủ lực của nền kinh tế Việt Nam bây giờ. Ngoài việc đem lại số xuất cảng đáng kể hàng năm cho dân chúng và nguồn lực phát triển, đáng tiếc là một phần tài nguyên đó cũng bị mất mát do tham nhũng và đầu tư phung phí như các tài liệu điều tra mới đây về đầu tư ở Venezuela chỉ ra.

Không cần nhìn đâu xa phức tạp hơn, phải chăng một phần di sản của Việt Nam Cộng Hòa là đây ?

B. Nền dân chủ của Việt Nam Cộng Hòa

Nền dân chủ phôi thai của Đệ Nhất Cộng Hòa (1955-1963) trong khung cảnh mới dành lại độc lập và nền dân chủ được củng cố thêm của Đệ Nhị Cộng Hòa (1967-1975) tuy khiêm nhượng và tương đối, do bị đe dọa hàng ngày bởi cuộc chiến, vẫn cho phép nhân dân miền Nam sống hạnh phúc trong khuôn khổ nhân quyền được tôn trọng theo hiến chương Liên Hiệp Quốc và các quyền tự do căn bản nhất như bầu cử, ngôn luận, hội họp, biểu tình v.v…vẫn được thực thi.

saigon3

Một ngôi chùa của người Hoa trong Chợ Lớn

Chủ trương pháp trị, hay thượng tôn pháp luật (rule of law) của cả hai nền Cộng hòa với bầu cử Quốc hội và Tổng Thống tương đối tự do ; nền hành chánh trung ương và địa phương được điều khiển bởi các chuyên viên kỹ trị được đào tạo bài bản trong các trường chuyên môn (thí dụ nổi bật là trường Quốc gia Hành chánh của miền Nam). Ở mỗi tỉnh, người tỉnh trưởng là nhân vật chính trị hay quân sự do Chính phủ trung ương bổ nhiệm, nhưng Phó Tỉnh trường thường là chuyên viên kỹ trị.

Trái lại, Việt Nam thống nhất bây giờ mới chỉ cổ võ cho bầu cử tự do nhưng chưa bao giờ được thực hiện trong thực tế qua các cuộc ứng cử và bầu cử các Hội đồng Nhân dân và Đại biểu Quốc hội.

Tương tự, Việt Nam bây giờ mới bắt đầu học hỏi kinh nghiệm về cải cách hành chánh như dưới thời Việt Nam Cộng Hòa và cử chuyên viên kỹ trị ở cấp trung ương và địa phương.

Quốc hội Việt Nam bây giờ mới sửa soạn các dự thảo luật đề nghị bổ sung thẩm quyền của Thủ tướng trong việc áp dụng những mô hình mới về tổ chức bộ máy từng Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc chính phủ trung ương, và chính quyền địa phương cấp Tỉnh và cấp Huyện.

Theo đó, Thủ tướng cũng có thêm quyền thành lập, sát nhập, hay giải thể các cơ quan, tổ chức hành chính khác thuộc cấp Tỉnh và cấp Huyện.

C. Các tổ chức xã hội dân sự

Các tổ chức này dưới thời Việt Nam Cộng Hòa được tự do thành lập và hoạt động với qui chế tự trị về cả hành chính và tài chính. Ví dụ như Tổng liên đoàn Lao công hay các Tổ chức chính trị, xã hội và Hiệp hội.

Còn hiện nay, Nhà nước tìm mọi cách để trì hoãn không trình ra Quốc hội hai Dự luật lập hội và biểu tình, mặc dù hai quyền này của dân đã quy định trong Hiến pháp 2013.

Người dân cũng không được quyền ra báo, như đã duy định trong "quyền tự do ngôn luận" ở Điều 25 Hiến pháp 2013 viết :

"Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định".

saigon4

Sinh viên biểu tình chống chính phủ Nguyễn Khánh, tháng 8/1964 ở Sài Gòn

Như nói ở trên, những dòng viết ngắn của tôi nhân dịp 44 năm từ biến động lịch sử 30/04/75 không phải là để thêm nước mắt cho một đau buồn còn ghi đậm dấu trong tâm hồn tôi, một con dân Việt Nam Cộng hòa cũ.

Với thời gian hơn 50 năm từ tuổi thiếu niên rời trường, ra nước ngoài du học, rồi bôn ba theo vận nước nổi trôi làm việc bên ngoài, tôi lại tìm cách "chim quay về tổ" trong 12 năm để tò mò xem xứ mình ra sao.

Nhưng cuối cùng, sau những trải nghiệm với thực tế và con người "mới", tôi lại phải ra đi tìm về một nơi qui ẩn để nghĩ lại đời mình và quê hương cũ một cách bình tĩnh hơn.

Tôi tự cho mình trên nguyên tắc là người thuộc "Bên Thua Cuộc" với hai cơ hội bỏ lỡ từ thời 1963 của Đệ nhất Cộng hòa và 1975 của thời Đệ nhị Cộng hòa. Nhưng không phải hoàn toàn do lỗi chúng ta, mà quan trọng hơn là do sự phản bội của nước bạn "đồng minh" Hoa Kỳ không giữ lời cam kết ngăn chặn cuộc tấn công miền Nam của lực lượng cộng sản.

Lời hứa bằng giấy trắng mực đen của Tổng thống đảng Cộng hòa Richard Nixon lúc bấy giờ đã hứa bằng văn thư với Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu, sau khi ông Thiệu bằng lòng ký Hiệp định Paris 1973.

Do đó mà chúng ta đành chấp nhận kiếp tha hương hiện tại do số mệnh đi từ vận nước không khá kéo dài suốt từ hơn 70 năm nay.

Dù không giữ được miền Nam thân yêu, nhưng chúng ta, những người miền Nam đã để lại di sản Việt Nam Cộng Hòa đáng kể cho cả đất nước và dân tộc hôm nay và tương lai.

Các kênh truyền thông và các cuộc tiếp xúc của tôi với người trong nước đều cho thấy đại đa số đồng bào ta đều hướng về di sản đó với lòng thán phục và thiện cảm, cũng như lòng ngưỡng mộ của họ với các nền dân chủ tiến bộ phương Tây.

Một cách công bằng, chúng ta cũng phải nhìn nhận về "legacy" của "Bên Thắng Cuộc" (như tựa đề cuốn sách của Huy Đức), nói đúng ra là huyền thoại "chiến thắng" của họ năm 1975 nhờ vào sự mệt mỏi bỏ cuộc của Mỹ do áp lực chính trị ngay từ trong lòng Washington, D.C. và tham vọng chính trị cá nhân của Henry Kissinger muốn bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa như "món quà chuộc" lấy lòng Trung hoa, mở ra chiến thắng chính trị và thương mại cho Mỹ với thị trường rộng lớn 1,3 tỷ dân Trung Hoa.

Phần khác, họ đạt được chiến thắng quân sự sau cùng nhờ sự yểm trợ tích cực bền bỉ của Liên Xô và Trung Quốc.

Họ đã nắm được quyền hành chính trị, xét cho cùng thì cũng là một "legacy" thôi và nếu họ biết "góp vốn" bằng cái đó vào việc xây dựng một Việt Nam tương lai dân chủ và văn minh trong tình hòa giải dân tộc cả trong và ngoài nước, thì sẽ là công lao lớn cho dân tộc và đất nước.

Nhưng nếu các nhà lãnh đạo hiện nay chỉ biết nắm giữ quyền hành toàn trị, gậm nhắm quá khứ "vinh quang" của chiến thắng 1975 thì "di sản" đó sẽ bị lịch sử xóa đi nhanh chóng.

Đã trải qua thời Việt Nam Cộng Hòa, cuộc sống ở hải ngoại và có dịp về Việt Nam ngày nay thường xuyên, tôi tin vào lẽ tuần hoàn của Trời Đất sẽ phải áp dụng cho quê hương cũ : "Cùng tắc biến, biến tắc thông…"

Nhiều người lãnh đạo cũ của Việt Nam Cộng Hòa ở tuổi 35-50 lúc ra đi năm 1975 đều đã nằm xuống.

Nhóm lãnh đạo 60-80 tuổi của Việt Nam bây giờ cũng phải ra đi vì quy luật thời gian trong 5-10 năm nữa.

Các tang lễ liên tiếp của thế hệ lãnh đạo cộng sản 'kháng chiến' gần đây và sắp tới cho thấy họ đang thành quá khứ, và không phải một mà hai ba thế hệ khác trẻ hơn đang trưởng thành, chỉ chưa có quyền được làm chủ quốc gia.

Đất nước không thể "tắc" mãi như thế này, và sắp đến lúc phải có chữ "THÔNG" mà thôi.

Nhất là các thế hệ trẻ 25-55, lớp người quyết định vận mệnh của đất nước Việt Nam trong 5-10 năm nữa, sẽ nối tiếp bó đuốc lãnh đạo và, cùng với thế hệ trẻ gốc Việt lớn lên ở hải ngoại quay về, họ sẽ có thể hướng đất nước về một hướng tốt đẹp hơn nhiều.

Và tôi tin rằng họ sẽ để lại tên tuổi trong lịch sử một Việt Nam dân chủ, phồn thịnh, hùng cường trong vùng Đông Nam Á.

Vũ Thăng Long

Nguồn : BBC, 23/04/2019

Tác giả Vũ Thăng Long, gửi bài tới Diễn đàn BBC News Tiếng Việt từ California, Hoa Kỳ.

Published in Diễn đàn

1.2. Những bóng ma trên hè phố

Quê hương, hai tiếng thân thương ai trong chúng ta cũng đã một lần gọi đến. Bình thường hai tiếng gọi thân thương ấy không gợi lên trong ta một cảm xúc nào vì đang sống với nó. Giống như không khí, con người hít thở nó để sống mà không cảm nhận sự hiện hữu của nó trong từng mạch sống. Chỉ đến khi thiếu dưỡng khí chúng ta mới cảm thấy nó là cần thiết. Cũng như thế, chỉ đến khi nào tôn miếu, xã tắc Việt Nam Cộng Hòa bị người cộng sản tiêu hủy, ngôi từ đường thờ kính tổ tiên bị bỏ phế, mồ mả cha mẹ, ông bà bị xúc phạm, khi ấy chúng ta mới cảm thấy thực sự mất mát, hụt hẫng vì quê hương không còn nữa. Chắc không ít ai trong chúng ta đã hơn một lần nhỏ lệ khóc cho quê hương điêu linh, tang tóc này. Vậy thì, các bạn hỡi, từ nỗi đau thương mất nước này hãy cùng chúng tôi lắng nghe tiếng nấc nghẹn ngào của những mảnh đời rách nát.

bongma1

Ai khóc thương cho những chiến sĩ vô danh này, ai đoái hoài những người bị thương tật vì chiến tranh như chúng tôi chờ ngày tàn của cuộc sống ?

Theo những biến đổi của thời cuộc, Hoa Kỳ và đồng minh rút quân ra khỏi chiến trường miền Nam từ sau 1973, Việt Nam Cộng Hòa chao đảo theo từng đợt tấn công ào ạt của cộng quân. Nhà cầm quyền cộng sản miền Bắc nuôi dưỡng âm mưu thôn tính miền Nam từ lâu, họ cho người nằm vùng trong những cơ quan, bộ phận trọng yếu của chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hòa để quấy phá. Bị nội công ngoại kích, miền Nam sụp đổ mau chóng trước đợt tiến công quyết liệt từ đầu tháng 4/1975 của quân đội miền Bắc.

Kể từ sau ngày 30/04/1975 thủ đô Sài Gòn không còn nữa. Lăng mộ, tôn miếu, sơn hà, xã tắc của Việt Nam Cộng Hòa bị chà đạp. Mồ mả, nghĩa trang của những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, những người đứng ra bảo vệ tổ quốc và đã hy sinh vì chủ nghĩa tự do ở miền Nam, bị đào bới, san bằng trong khi xác của Hồ Chí Minh được long trọng ướp trong hòm kiếng đặt ở quảng trường Ba Đình để được chiêm bái. Có người còn đến đó để khóc thương trong khi những nơi tôn nghiêm, thờ phượng ở miền Nam thì bị biến thành những khu "văn hóa" vui chơi tập thể. Ai khóc thương cho những chiến sĩ vô danh này, ai đoái hoài những người bị thương tật vì chiến tranh như chúng tôi chờ ngày tàn của cuộc sống ? Bất công này biết bao giờ được gột rửa ? Xin mọi người hãy chia sẻ và cố gắng xoa dịu nỗi đau của dân tộc nói chung và của chúng tôi nói riêng.

Chủ nghĩa cộng sản loang nhanh như vết máu trên mảnh vải trắng tự do. Chủ thuyết vô sản tràn lấp những giá trị xưa, rồi lấn chiếm mọi ngõ ngách tâm hồn, đe dọa mọi suy tư của người dân trong thành phố bị đổi tên, ai phê bình hay chỉ trích chế độ mới đều bị trừng trị. Các lãnh tụ cộng sản Các Mác, Lênin, Mao Trạch Đông được ngợi ca, xác ướp Hồ Chí Minh được tôn thờ. Một phó sản mới được nhào nặn ra, "thành phần 30 tháng 4" ngoan ngoãn vâng lời chủ mới, hống hách với bà con, họ hàng và còn ác độc hơn cả quân "giải phóng".

Chế độ cộng sản không cần đến tôn giáo đã đành, họ còn phỉ báng thần linh, ngăn cấm nghi thức thờ cúng ông bà, vong hồn người quá cố ; tất cả đều là "mê tín dị đoan". Cảm xúc thiêng liêng và tình cảm riêng tư của con người nhưng đối với người cộng sản không là gì cả. Không những thế họ còn xúc phạm đến các tôn giáo, Chúa hay Phật, hoặc bất cứ đấng thiêng liêng nào cũng đều bị đem ra "đầu tố", nếu không bị mắng chửi bởi những người cuồng tín thì cũng bị bôi tro trát trấu. Những người lãnh đạo tôn giáo nếu không phải là thành phần "quốc doanh" thì bị liệt vào hàng "phản động", nếu không bị bắt giam thì cũng bị theo dõi, kiểm tra ráo riết. Họ còn cho người len lỏi vào các giáo phái, chia rẽ tín đồ, khai thác ngộ nhận, bẻ cong giáo lý, gài bẫy bắt giam giáo dân, hạn chế nghi thức thờ phượng. Chế độ cộng sản còn hủy diệt tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc Việt Nam, các đình làng đều biến thành khu vui chơi, giải trí.

Để đạt mục tiêu mong muốn, nghĩa là "xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội" trên khắp cả nước, tập đoàn lãnh đạo cộng sản không ngần ngại chà đạp nhân phẩm con người nhưng khôn khéo che đậy bằng những mỹ từ nhân đạo, nào là thông cảm nỗi khổ của nhân dân, nào là xóa đói giảm nghèo, khiến dư luận quốc tế và cộng đồng người Việt hải ngoại tin lầm. Khi đạt mục tiêu mong muốn, tất cả những thành phần dại dột tin theo đều bị bỏ rơi như những giẻ rách, kể cả những gia đình "liệt sĩ, cách mạng và mẹ chiến sĩ". Người đời có câu : "Mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời cộng sản biết thương đồng bào" thật là xác đáng.

Trong xã hội mới này, đạo đức bị coi thường, khôn sống dại chết, con người tranh nhau từng miếng ăn và nhìn người quen như... những con mồi. Liên đới xã hội mất dần chỗ đứng, có tiền thì có tất cả, không tiền thì không có gì hết. Quan hệ giữa người với người lần hồi mục rữa, kể cả những người sống ở nấc thang thấp cùng nhất xã hội. Chính quyền nhìn dân như kẻ thù địch và sẵn sàng dùng bạo lực trấn áp những ai tranh đấu đòi quyền sống trong danh dự. Chủ nghĩa xã hội không phải là chế độ của người nghèo. Quê hương này thật là bất hạnh, không có một tên êm đẹp nào đặt cho lá cờ sặc tanh mùi máu và cũng không thể tìm được một tên nhân từ nào để gọi những người cộng sản. Màu đỏ không phải là màu của tươi vui trong ngày lễ hội, nó là màu của tang thương và đọa đày bao phủ quê hương. Chủ nghĩa cộng sản gắn liền với sự độc ác.

* * *

Hạnh phúc không bao giờ có thật trong chế độ này, một chế độ lấy sự ác độc làm phương châm và lường gạt làm kim chỉ nam hành động. Như một kiếp luân hồi không được siêu thoát, các chế độ cộng sản phải độc ác để tồn tại.

Sau khi áp đặt bạo lực của kẻ chiến thắng trên người bại trận, các ủy ban quân quản buộc công chức và sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa ra trình diện rồi đưa họ vào những nhà tù tập thể, dưới tên gọi mỹ miều "trường học tập cải tạo". Tiếp theo sau là chính sách quản lý "hộ khẩu" khắc nghiệt, nó là sợi dây thòng lọng thắt vào cổ nhân dân, chế độ không ưa ai thì người đó phải chết. Để cướp trọn bộ số tiền nằm trong túi dân chúng miền Nam, nhà cầm quyền cộng sản ra lệnh "đổi tiền", 500 đồng cũ ăn một đồng mới, như thế cứ mỗi 500 đồng Việt Nam Cộng Hòa mới bằng một đồng xã hội chủ nghĩa, thêm vào đó họ còn quy định mỗi hộ khẩu chỉ được đổi 200 đồng mới mà thôi, số tiền còn dư do nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý. Sau hai lần "đổi tiền" như thế, toàn bộ tài sản của dân chúng miền Nam đã lọt vào tay nhà cầm quyền cộng sản. Đúng là quân cướp ngày.

Xã hội cũng thay ngôi đổi chủ. Những người trước kia thuộc thành phần ăn trên ngồi trước nay bị lọt sổ thành ăn dưới ngồi sau. Cán bộ cộng sản có chức có quyền thì "vinh thân phì gia" trong khi đất nước đã nghèo lại càng nghèo thêm. Nhà nước còn chiếm tất cả các cơ sở sản xuất lớn, "đánh" tư sản mại bản, quản lý tất cả các mặt hàng "nhu yếu" để làm chủ thật sự miền Nam. Bà con nghèo khó buôn bán trên lề đường đều bị xếp vào hàng "bóc lột". Cán bộ hạ tầng và "thành phần 30" hàng ngày săn lùng, bắt bớ, tịch thu hàng hóa của những thành phần "bóc lột", những người buôn gánh bán bưng trên các hè phố để... bán lại cho những thành phần "bóc lột" khác. Chính vì vậy mà không ít cán bộ nhà nước núp dưới danh nghĩa "cách mạng" hà hiếp dân chúng, vơ vét của công cho vào... túi riêng.

Dân chúng quá sợ hãi đã trở thành ngu dốt và yếu hèn. Người ta không biết phải sống làm sao với hệ thống luật pháp ma quái, nay thế này mai thế kia của nhà cầm quyền cộng sản. Bị ép vào đường cùng, dân chúng chỉ biết im lặng làm theo. Nhà nước cộng sản hứa cho dân một cuộc sống ấm no trong vùng kinh tế mới, nơi đây người ta chỉ thấy địa ngục trần gian. Không một cây lương thực nào có thể mọc lên trên những vùng đất khổ, biết bao gia đình tan nát và biết bao người âm thầm bỏ nắm xương tàn nơi chốn rừng sâu nước độc. Người dân đói quá phải đào những cây khoai mì mới trồng chưa kịp lớn, củ chỉ bằng ngón tay em bé, để ăn. Ăn càng non thì càng đói nặng. Ai kiên nhẫn chờ đợi những củ khoai mì lớn lên trong lòng đất thì ăn bất cứ vật gì có thể ăn được để cầm cơn đói, từ cóc nhái, ễnh ương, "bù toọt", rắn mối, dế cơm, bò rầy, trứng kiến, chuột rừng, rắn mối con còn đỏ hỏn đến măng non, củ dại, nấm rừng. Nói chung họ ăn tất cả những gì động đậy. Tại nhiều nơi, dân kinh tế mới ăn nhằm nấm độc chết hết cả nhà.

Thiếu ăn, da thịt người kinh tế mới biến sắc, áo quần rách nát, chân tay phù thủng, bệnh sốt rét rừng, dịch tả, kiết lị cướp đi rất nhiều mạng sống. Số trẻ em sinh ra trên vùng kinh tế mới không đủ bù lắp số người bị chết vì đói và bệnh tật. Đi hay ở, đó những câu hỏi được lặp đi lặp lại trong lòng mỗi người. Bỏ về thành phố thì không biết sẽ ở nơi đâu, nhà cửa, vốn liếng đã lỡ dồn cả cho chuyến đi "lập nghiệp" trên vùng kinh tế mới rồi. Ở lại thì thần chết sống kề bên hông, sẵn sàng đòi mạng. Người dân trên vùng kinh tế mới tự đặt câu hỏi rồi tự tìm câu trả lời. Thói thường vẫn vậy, khi quá cùng khổ người ta thường "đứng núi này trông núi kia". Do nhận thức yếu kém, họ chỉ mơ ước được đi... những vùng kinh tế mới khác với hy vọng sẽ có một cuộc sống khá hơn nơi đang sống.

************

Những tin đồn mà dân chúng thành thị nghe được, do những người trốn từ các vùng kinh tế về thành phố kể lại, rất là hãi hùng.

Trên một vùng kinh tế xa xôi nọ ở tỉnh Sông Bé, có một gia đình gồm có hai vợ chồng và ba đứa con nhỏ. Đứa con gái đầu lòng mới 11 tuổi phải theo cha mẹ vào rừng đào nương phát rẫy trồng khoai mì. Có lúc thiếu ăn cả nhà hái rau cỏ rừng về ăn lót dạ, chính vì thế mà hai đứa em nhỏ (đứa em gái 7 tuổi và đứa em trai 4 tuổi) chỉ lớn hơn con mèo. Người chồng trước kia là cựu quân nhân biệt phái về dạy ở một trường tiểu học nên không thích nghi kịp với nghề tay chân. Người vợ thay chồng làm việc quần quật nhưng cũng không đủ ăn, một hôm bà mắc bệnh kiết lị rồi qua đời vì thiếu thuốc men. Gia đình còn lại trở nên túng thiếu, nhiều bữa không có đủ khoai cho bốn miệng ăn, người cha và đứa con gái lớn phải nhường phần của họ cho hai đứa nhỏ, còn họ thì ăn... lá khoai mì luộc, uống nước lá mì luộc nên bị say nôn. Đêm nằm có nhiều ảo giác ngất ngây, cứ như bị ai đó nắm chân dốc ngược lên trời, oẹ mửa thốc tháo ra tới mật xanh mật vàng, trông thật khủng khiếp.

Một đêm nọ vì quá đói, hai cha con lén vào rẫy nhà hàng xóm bới trộm khoai mì. Đang lúc hì hụt đào trộm thì cả bị nhóm "dân quân tự quản" đi tuần bắt quả tang. Thế là trong đêm tối, những ánh đuốc trong thôn thắp dọi lên theo tiếng gõ dồn dập của thùng thiếc, dân chúng vây quanh cha con kẻ trộm. Người cha đứng cúi gằm mặt im lặng bên cạnh đứa con gái mặt mày tái xanh, tay còn ôm rỗ khoai mì. Một cán bộ xã, người miền Bắc, dáng vạm vỡ bước xộc đến, vẻ mặt nghiêm nghị chỉ tay vào mặt người cha hống hách nói :

- Không "nao" động hả, ông thầy ? Bắt quả tang đang ăn trộm rồi nhá.

Rồi quay sang đám dân quân, người cán bộ này ra lệnh :

- Đưa về huyện nhốt, cho chúng nó bỏ thói "nười" !

Đang khi ông thầy còn lúng túng thì người cán bộ hùng hổ tiến tới túm lấy đôi vai gầy guộc của ông thầy, kéo xuống rồi lên gối một cái "huỵch" vào ngực. Đứa con gái thấy cha bị đánh liền thét lên : "Cha !", rồi quăng rổ khoai chạy tới nhưng bị hai người đàn ông khác nắm áo đẩy qua một bên té xuống đất. Mặt ông thầy tái lại, mắt mở to, sụm đầu gối, hai tay định ôm lấy ngực thì "bịch", một cú đấm mốc từ dưới lên tống vào mặt ông thầy làm ông chúi nhủi. Người đàn bà chủ rẫy thấy vậy thét lên : "Ngưng tay, tôi không thưa kiện gì hết". Bao nhiêu căm ghét kẻ trộm nơi bà bay biến đâu mất, bà nói : "Để hai cha con ông thầy mang rổ khoai về nhà". Mặc dù khoai củ ở vùng kinh tế mới trong mùa khô này rất quí, bà còn biếu cha con ông thầy 40 đồng tiền mới (bằng một phần năm số tiền nhà nước quy định đổi cho mỗi gia đình). Hai cha con ông thầy cúi đầu tạ ơn bà hàng xóm rồi lầm lủi đi về.

Nhưng người cha trở nên quẫn trí, thay vì dùng số tiền đó để mua khoai cho con ăn, ông ra chợ mua hai kí gạo và một con gà mang về nhà nấu một nồi cháo thật to cho con ăn. Đang lúc nấu, đứa con gái thấy cha nó vừa khóc vừa bỏ một thứ bột gì đó vào nồi bốc lên mùi nồng nặc khó ngửi nên nó bỏ chạy ra ngoài không chịu ăn. Nó vừa chạy vừa khóc trong đêm tối, ba cha con ông thầy tiếp tục ngồi ăn ngon lành. Sáng hôm sau người ta thấy xác ba cha con ông thầy nằm chết bên cạnh nồi cháo. Chính quyền địa phương không cho dân chúng chôn ba cái xác ấy ngay, họ được đắp chiếu để trước cửa 24 tiếng đồng hồ, bên cạnh là bản án có ghi hàng chữ "Tự tử là có tội". Vì chiếc chiếu không đủ che ba cái xác nên đôi chân cứng đờ và tái xanh của ông thầy lòi ra trông rất rùng rợn. Sang ngày hôm sau bà con lối xóm mới được phép chôn cất ba cha con ông thầy, đứa con gái 11 tuổi ấy theo đoàn người bỏ về thành phố rồi mất tích luôn.

Các vùng kinh tế mới đúng là địa ngục trần gian, con người bị cái đói và bệnh tật dằn vặt hàng ngày, dân chúng trốn về thành phố rất nhiều. Chính quyền địa phương dựng lên nhiều chốt ngăn chặn luồn người trốn về thành phố và tung chiến dịch tuyên truyền hứa "cứu đói". Nhưng không ai nói láo bằng "vẹm", chẳng ai đến cứu đói và dân cứ tiếp tục trốn về. Trong đêm tối, từng đoàn người lũ lượt gánh đồ, vác bị trốn về thành phố. "Về đi thôi, nếu có chết thì chết ở thành phố sướng hơn chết trên rừng", mọi người rỉ tai nhau.

Về được thành phố, họ ngủ trên các vỉa hè, bến xe, sạp chợ, kể cả trong các nghĩa địa. Họ lấy nền xi măng làm giường, bao ny lông làm chiếu, mùng màn thì không cần vì da thịt họ quá cằn cỗi, ruồi muỗi có viếng thì cũng bỏ đi thôi.

bongma2

Về được thành phố, họ ngủ trên các vỉa hè, bến xe, sạp chợ, kể cả trong các nghĩa địa. Họ lấy nền xi măng làm giường, bao ny lông làm chiếu…

Nhiều người còn cảm thấy vui thích được ngủ dưới trăng sao của thành phố. Họ nói trăng Sài Gòn đẹp hơn trăng vùng kinh tế mới : "trăng gì mà trắng bệch như... mặt người chết đói, thấy mà ghê". Mọi người sung sướng chia nhau cảm giác về lại quê xưa, dẫu cho thân thể có tồi tàn rách nát trở về sống tại quê nhà vẫn thích thú hơn.

Họ làm bài thơ sau đây hiến tặng độc giả :

Về đi thôi

Nhà nước nhà nôi thôi đừng nói nữa !

Nói đi nói lại cũng chừng đó thôi.

Nơi đây khốn khổ muôn người thiếu ăn,

Chỉ mong có gạo có khoai qua ngày.

Cuốc ngày cuốc tối, cuốc cả trời mưa,

Bụng thì cứ đói, ruột thì cứ than.

Tay chân bủn rủn, toàn thân bàng hoàng,

Đêm về chỉ thấy bầy con khóc rần.

Ở thì không được chỉ nước về thôi,

Về thì du kích hung hăn hầm hừ.

Trốn chui trốn nhủi mới về tới nơi,

Chẳng may bị bắt, tiêu tan cuộc đời.

Về lại thành phố có phiền ai đâu,

Không nhà không cửa, chúng tôi ngủ đường.

Ngày ngày sớm tối lang thang ngoài đời,

Đói thì đứng chợ ăn xin của người...

"Về đi thôi", tôi nghe thấy tiếng lòng thôi thúc. Mỗi đêm nhìn bà con lối xóm bỏ về, tôi cũng nôn nao. Được những người quen cho biết tin cha tôi lâm bệnh, tôi càng xót xa. Trước kia ông đi lập nghiệp ở khu kinh tế mới Tây Ninh, cạnh Núi Bà Đen cùng với mẹ và các em tôi. Mẹ tôi chẳng may mắc bệnh sốt rét rừng đã qua đời cách đây sáu tháng, cha tôi cùng các em đã trở về thành phố cách đây bốn tháng. Hiện cha tôi sống bằng nghề xin ăn, mỗi bữa ông đứng chực ở mấy cửa hàng ăn uống quốc doanh, chờ khi thực khách ăn xong, còn sót lại những thức ăn trên tô dĩa, ông vội vàng trút hết vào lon guigoz đem về nhà hâm lại cho các em tôi ăn. Xưa kia ông có lần dạy kèm Pháp văn cho trẻ nhỏ nên hiếm khi ông dám ngước nhìn thực khách hoặc chìa lon xin tiền vì sợ người quen nhận diện, ông chỉ nói lí nhí trong miệng. Tôi cứ lo âu hình dung cha tôi với mái tóc bạc trắng đứng bơ vơ bên đường, lỡ gặp cán bộ vạm vỡ nào đó túm áo mà xô đẩy thì sao.

Miên man nghĩ đến cha, rồi nhớ lại câu chuyện ba cha con ông thầy, tôi càng nôn nóng trở về hơn. Càng suy nghĩ, tôi càng thấy nóng nặt, máu dồn lên óc. Cuối cùng thì gia đình tôi cũng chuẩn bị khăn gói lên đường. Thế là chúng tôi bỏ nhà bỏ cửa, bỏ cả mảnh đất đang làm dở dang trên vùng kinh tế mới, theo chân những người đi trước trốn về thành phố.

Sau gần một tuần lễ lòn lách, trốn tránh các nút chặn trên các con đường rừng, chúng tôi về tới thành phố cũ với tên gọi mới. Sài Gòn vẫn còn đó nhưng đời sống đã khác xưa. Khu nhà tôi còn đây, nhưng căn nhà cũ không còn. Những người dân đi xây dựng vùng kinh tế như gia đình chúng tôi về lại phố cũ đều đau lòng nhìn các gia đình cán bộ tập kết miền Bắc đến xây nhà trên những nền nhà cũ của chúng tôi, họ ăn sung mặc sướng, đời sống sung túc, no đủ trong những căn nhà đep đẽ. Tôi mới chợt hiểu "cách mạng" không có nghĩa là xóa bỏ cái cũ để nâng cao mức sống người dân, mà là "loại bỏ" những người chủ cũ, những người thất trận và người dân nghèo như chúng tôi, ra khỏi thành phố, lùa họ vào những vùng đất chết để cho thiên nhiên, bệnh tật và đói khổ tiêu diệt. Còn tại thành phố, họ nâng cao mức sống cho những công bộc, dành những khu phố đẹp cho cán bộ cao cấp và gia đình họ ở. Trong những khu lao động, người nghèo khổ bị xua đuổi để lấy đất xây thêm những khu nhà mới, gọn đẹp hơn cho những cư dân mới, những người đến từ miền Bắc xa xôi, những gia đình "có công với cách mạng" (nằm vùng cũ) hay thành phần người giàu có mới.

Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa như vậy chỉ là sự thay ngôi đổi chỗ giữa những thành phần giàu có mới và giàu có cũ. Những người nghèo khổ như chúng tôi không có chỗ đứng trong xã hội này, nếu có chăng thì ở chốn rừng sâu, nước độc. Nhiều người không biết cứ ngỡ rằng chế độ mới đã làm nhiều cố gắng cải thiện đời sống "nhân dân", nhưng nhân dân ở đây là "nhân dân cán bộ", thành phần ăn trên ngồi trốc. Những hào nhoáng bên ngoài có mục đích phô trương, khoe mẽ với các quốc gia khác, với Liên Hiệp Quốc rằng nhà cầm quyền cộng sản đang "thay da đổi thịt", lo lắng cho lớp người cùng khổ của xã hội miền Nam xưa kia, nhưng thật ra là gạt chúng tôi ra ngoài rìa xã hội, để phải sống lây lất trên các vỉa hè, nghĩa địa và hành nghề ăn xin.

Chúng tôi mới chính là người vô sản, nhưng vì là thành phần vô sản miền Nam nên chỉ hưởng đày đọa và hà hiếp. Chúng tôi không còn gì cả ngoài những thân hình ốm yếu, tật nguyền cùng với đàn con rách rưới, sống không có ngày mai và chết không ai thừa nhận. Chúng tôi không buồn vì bệnh tật ốm đau không được chữa trị, đói không được cho ăn, nhưng buồn vì quê hương thiếu vắng tình người. Những người "vô sản" ngày hôm qua đang đày đọa những người "vô sản" ngày hôm nay.

Không riêng gì dân chúng miền Nam, cả những người vô sản miền Bắc cũng là nạn nhân của nhà cầm quyền cộng sản. Họ được hứa hẹn đủ điều để rồi chỉ toàn bánh vẽ, nhà cầm quyền cộng sản luôn luôn hứa hẹn thực hiện cho cái "sẽ là", và cái "sẽ là" không bao giờ tới. Con cái họ tiếp tục vào Nam làm bia đỡ đạn, lúc chết xác thân không biết chôn vùi ở đâu, hòa bình trở lại họ trở về kiếp sống nông dân, bị bạc đãi và khốn khổ như chúng tôi. Trẻ em cũng bị lợi dụng, các khẩu hiệu ra vẻ yêu thương chăm sóc trẻ em chỉ là bánh vẽ, các em bé miền Bắc cũng như miền Nam ở thôn quê đều suy dinh dưỡng, bụng ỏng da chì trong khi con cái những cán bộ có chức có quyền ăn sung mặc sướng và được đi học. Những đứa trẻ con ông cháu cha này tiếp tục sẽ đè đầu đè cổ con cháu chúng tôi. Cuối cùng sau bao nhiêu năm sống dưới sự ách cai trị của cộng sản, dân chúng miền Bắc rủ nhau từng đoàn vào Nam... ăn xin như những người trốn từ vùng kinh tế mới về vậy.

* * *

Từ vùng kinh tế mới trở về, tôi thấy gì kể đó.

Vào thời điểm mà ly cà phê đen trộn bắp giá 150 đồng (năm 1981) thì trên các vỉa hè, góc phố bán đầy rẫy những quán hàng bán phở ruột bò 50 đồng một bát. Cứ mỗi buổi sáng, tại chợ Cầu Ông Lãnh những người lao động nghèo sống bằng đủ thứ nghề vặt vãnh, từ những anh em thương phế binh mua bán nhang đèn rong dạo, những quả phụ mua bán áo quần cũ ở những chợ trời, đến những em cô nhi, những người ăn xin và những người làm nghề khuân vác, đạp xe ba bánh, xích lô cùng những phu phụ hồ, v.v... thường xúm quanh những hàng quán phở ấy. Họ xì xụp ăn húp ngon lành những bát phở ruột bò, có người ăn hai ba bát mà vẫn còn thèm. Cơ khổ mới rõ điềm trời, nhiều người vừa mới ăn xong thì ngay lát sau bụng đã kêu đói lại rồi.

Anh em phế binh chúng tôi chú ý đến các em cô nhi, vì trong lúc chúng tôi ăn bát phở giá 50 đồng, có vài lát ruột bò xắt mỏng như giấy, thì các em cô nhi hoặc nhịn đói, hoặc kêu ăn những bát phở giá 30 đồng chỉ có nước lèo mùi ruột bò và bánh phở. Ăn xong, anh em phế binh ngồi trên ghế cóc phì phèo điếu "Hoa Mai" hay "Đà Lạt", thứ thuốc lá đen phế phẩm loại 3, bên ly cà phê đen trộn bắp, định hướng chia nhau khu vực bán nhang. Các em nhỏ cũng ngồi bệt dưới đất chia khu đi... lượm bọc ny lông, ve chai ở các thùng rác chợ và giấy vệ sinh ở những nhà cầu công cộng trên những "ao cá Bác Hồ".

Thời ấy người ta có phong trào lấy tên vị lãnh tụ "vĩ đại" đặt tên cho các công trình công cộng, những ao cá cũng vậy. Vì lúc ấy cái gì cũng có thể bán được cả, từ những bao ny lông tái sinh đen thủi đen thui đến những loại giấy vệ sinh tái sinh đi tái sinh lại đều có thể cân kí lô bán cho vựa ve chai nên các cán bộ có nhiệm vụ quản lý ao cá cũng tranh thủ làm... kinh tế. Vì thấy nguồn giấy "chùi" đáng kể ở các nhà cầu công cộng nên các em thường ngồi chầu chực đợi người ta vừa "vệ sinh" liền tranh nhau vào nhặt. Giấy vệ sinh vừa "dùng" xong liền đem ra sông giặt sạch, phơi khô, cân ký bán lấy tiền ăn cơm trưa. Nhưng nguồn giấy đó cũng là "tài sản của nhà nước", cán bộ giữ ao dọa nạt ngăn cấm các em không được vào nhặt. Một hôm cán bộ giữ ao túm được một em gái đang vào trộm "tài sản nhà nước xã hội chủ nghĩa" quăng xuống ao, trút sạch bao giấy của em vào giỏ đựng của nhà cầu công cộng "của" ông ta. Lúc bò lên bờ, chân nó bị mẻ chai cắt đứt nhiều chỗ, máu chảy đầm đìa. Người đi "vệ sinh" thường quăng mẻ chai xuống chỗ đi cầu dưới ao vì sợ cá tra tranh nhau ăn cứt, quậy nước dơ bắn lên người, do đó dưới ao toàn là mẻ chai.

Chiều hôm ấy các em có vẻ buồn buồn, chúng nó lo âu vì không biết làm sao để có tiền ăn cơm. Nếu đi xin thì dễ bị công an bắt và đưa đi "nuôi" ở mấy "trường cải tạo" giáo dục thiếu nhi, huấn luyện cho chúng biết "lao động là vinh quang". Người ta thường bảo "cái khó nó bó cái khôn" nhưng đối với các em trai thì không vậy, "cái khó nó ló cái khôn". Chúng bàn nhau chung sức để dành tiền rồi góp lại mua sắm những bình điện ắc quy loại 6 vôn. Chúng lượm những cái căm xe đạp rồi mài cho thật nhọn, gắn vào những khúc tre, từng cặp một chúng chờ đêm tối xuống cùng nhau mở những nắp cống thoát nước dọc các vệ đường quanh chợ Bến Thành, Cầu Ông Lãnh, An Đông, Hòa Bình và Bình Tây chui xuống rọi đèn đâm chĩa cá.

Có một thời dân chúng thành phố đổ tội cho những em này ăn cắp những nắp cống bằng gang đem bán. Thật sự thì cũng có chuyện đó, nhưng không phải mấy em này ăn cắp mà là người khác. Vì nắp cống quá nặng các em không khiêng nổi nên chỉ đủ sức nạy lên rồi đẩy qua một bên. Những "bạn hiền" đạp xích lô sáng sớm đi ngang thấy tiện "bợ nhẹ" đi luôn mà không cần biết hậu quả xảy ra cho người đi sau vô ý lọt xuống. Sau khi xảy ra nhiều tai nạn sụp lỗ cống, công an và dân quân canh gác ngày đêm những miệng ống cống, các em buộc phải mở những nắp cống ở xa để tránh dòm ngó, có khi phải khui những miệng cống từ các đường Hai Bà Trưng, Điện Biên Phủ (Phan Thanh Giản cũ), Hùng Vương, An Bình, Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Trãi... Mỗi lần chui xuống, các em cẩn thận đậy nắp miệng cống lại để tránh gây tai nạn. Vào lúc giữa khuya hay tờ mờ sáng, khi muốn lên các em cũng mở he hé miệng cống nhìn dáo dác chung quanh rồi mới vội vàng nhảy lên.

Đường cống dài, luồn lách quanh co và tối om, nhưng nhờ những cái bóng đèn nhỏ gắn ở trên đầu, ở trước trán, chúng lùng sục, săn tìm được cá. Nguồn cá khá nhiều nên các em nhỏ không những có ăn mà còn dư đem ra chợ bán nên chúng có vẻ rủng rỉnh tiền bạc. Kể từ đó, vào mỗi buổi sáng chúng cũng gọi những bát phở loại 50 đồng ăn đàng hoàng, cũng "bắt chước" những nhà "trí thức" phế binh (chúng gọi chúng tôi như vậy, vì hay hóng nghe những chuyện anh em phế binh kể về cuộc đời lính tráng) ngồi uống cà phê và hút thuốc lá cho đỡ lạnh. Nhờ đồng tiền kiếm được, chị và em gái của chúng cũng sắm thêm vài manh áo mới mua ở các chợ trời bán quần áo cũ, mặt mũi trông sạch sẽ hơn.

Thằng Nô (12 tuổi) và Phát (14 tuổi) thì không thấy mua sắm gì, các bạn gọi chúng nó là "trùm sô". Cả hai quê ở Long An, là con của tử sĩ Nguyễn Văn Thuận, cùng mẹ đi vùng kinh tế mới ở Cao Lãnh, Đồng Tháp Mười, nhưng đời sống quá cực nhọc và không đủ ăn, bà dẫn hai con về Sài Gòn sống lang thang. Một hôm hay tin mẹ mất, bà gởi hai đứa nhỏ cho một gia đình phế binh rồi về quê luôn, bà sống bằng nghề đi mót lúa và ở tạm nhà người bà con. Nô và Phát thường khoe với chúng tôi rằng cha chúng đi lính mặc áo "hoa rừng" (nhảy dù) chết vào mùa mưa năm 1972. Mẹ chúng đã khóc như mưa lúc nhận xác cha nên mỗi khi thành phố vào mùa mưa, chúng cảm thấy buồn buồn. Gần đến ngày giỗ cha rồi chúng cố "làm ăn" cho có nhiều tiền để về Long An thăm mẹ. Trong khi các bạn đồng lứa bắt đủ cá xong trở lên mặt đường ngủ đêm thì chúng tiếp tục lặn lội dưới các ống cống để tìm thêm cá. Có những buổi sáng chúng tôi thấy hai anh em rét run vì ngâm người dưới nước quá lâu.

Vào một đêm nọ, chúng tôi sắp đi ngủ thì thấy hai anh em thằng Phát lặng lẽ mở nắp cống chui xuống. Khoảng vài ba giờ sau thì sấm chớp ầm ầm, chúng tôi choàng thức dậy tìm chỗ trú mưa. Một trận mưa như vũ bão đổ ào xuống thành phố và kéo dài đến sáng sớm. Các ống cống rút nước không kịp làm nước mưa tràn lên các đường phố, ngập gần đến gối những bạn hàng dọn chợ đêm. "Bình thường hai anh em thằng Phát ở lâu hơn bạn bè cùng lứa dưới cống để đâm thêm cá, nhưng giờ này trời đã gần sáng mà sao lạ chúng vẫn chưa lên ?", tôi lo âu tự hỏi. Thôi rồi, tôi hốt hoảng chợt hiểu ra mọi sự. Anh em chúng tôi báo động với nhau, kẻ đi tìm người đi hỏi những đám nhỏ còn ngủ gà ngủ gật cạnh những đống rác "giữ chỗ" trước cho buổi sáng hôm sau, nhưng không ai thấy hai anh em thằng Phát đâu cả. Chúng tôi buồn bã bàn tán với nhau, hình dung cảnh tượng nguồn nước mưa tuôn ồng ọc vào các cống rãnh, hai đứa nhỏ mãi mê bắt cá không biết bên ngoài trời mưa lớn, đến khi thấy nước dâng lên quá nhanh thì đã quá muộn, dòng nước đã bít các lối chui lên và cuốn trôi hai xác thân nhỏ bé. Ôi, cuộc đời thật quá mong manh.

Cho đến một hôm, 33 ngày sau, một em bé trai khác đang lội bì bõm dưới các ống cống gần chợ Cầu Ông Lãnh tìm cá, bất ngờ đụng phải cái gì giống như "trái dừa", nó nhặt lên soi nhìn trước ánh đèn thì liền hét lên bỏ chạy, nó chui đại lên miệng cống ngay gần chợ trước sự kinh ngạc của những bạn hàng, mặt mày tái xanh. Nó vừa lượm một cái đầu lâu. Cả chợ hay tin đó liền kêu đội dân quân gác chợ và ban quản lý cho người mở nắp cống dọi đèn tìm kiếm xác hai đứa nhỏ, nhưng chỉ nhặt được một khúc đùi đã thối rữa và một nửa thân người còn lại. Người ta biết là thân xác còn lại của hai đứa trẻ bất hạnh và bọn trẻ nhận ra cái quần đùi màu đỏ của thằng Phát, bên trong còn ít tiền gài kim băng cẩn thận. Tiền đó thằng Phát để dành về quê giúp mẹ làm đám giỗ cha.

Kể từ đó bọn trẻ ở các chợ Cầu Ông Lãnh, Bến Thành, An Đông, Hòa Bình, Bình Tây và các chợ nhỏ khác không dám chui xuống những đường cống thoát nước của thành phố để kiếm cá nữa, chúng sợ ma. Từ đó biết bao nhiêu chuyện đồn đại về những xác người bị giết và bí mật quăng xuống cống để phi tang. Không còn em nào dám mạo hiểm xuống các cống nước để kiếm cá dù có đói. Thế là bọn trẻ tiếp tục chia nhau đi lượm bọc ny lông, giấy vệ sinh và xin ăn trên hè phố. Không có ánh sáng ở cuối đường hầm cho những cô nhi.

* * *

Trong cuộc sống đầy gian khổ, tạm trú ở đầu đường xó chợ hay trên vỉa hè, những anh em phế binh còn độc thân hiếm khi có ý nghĩ tìm người bạn đường. Phế binh Phan Tiến Dũng, thủy quân lục chiến cụt một chân, cũng vậy. Mặc dù còn trẻ, hiền hậu và đẹp trai nhưng từ sáng đến tối anh vẫn lầm lủi đi đi về về một mình với những bao nhang đèn. Có lẽ vì chọn nơi tạm trú ồn ào bên cạnh chợ An Đông, Tiến Dũng ít khi rãnh rỗi nhìn lên trời cao để biết rằng có một vì sao đang chiếu mạng. Thật buồn cười, có nhiều người ước ao sống trong hạnh phúc nhưng không bao giờ bắt gặp, nhiều người khác không ao ước gì thì luôn gặp may.

Trong chợ An Đông, có một phụ nữ người Việt gốc Hoa thích nghe chuyện lính. Cô tên Vòng A Muội, nhưng không hiểu tại sao ở chợ người ta thường gọi là "A Chế", còn anh em chúng tôi thì gọi là "A Phụng". A Muội, A Chế hay A Phụng là một thiếu nữ còn trẻ, duyên dáng và thật thà, cô thường hay giúp Tiến Dũng sửa soạn nhang đèn, thích nghe kể chuyện lính tráng, đánh giặc, bị bắt làm tù binh, v.v... Có lẽ A Chế có cha đi lính đánh giặc và chết trận nên mến Tiến Dũng chăng ? Mặc kệ, đó là chuyện đã qua, còn bây giờ A Chế đang hiện diện trong tập thể "gia đình" anh em phế binh chợ An Đông. Nhiều lúc tôi thấy A Chế nhìn Tiến Dũng với ánh mắt đăm chiêu, không nói gì. Anh em chúng tôi thường đùa giỡn, mối mai, khuyến khích Tiến Dũng rủ A Chế đi ăn chè. Cô không những không từ chối mà còn giành trả tiền ăn mì, ăn cháo ban đêm rồi bao Tiến Dũng đi coi cải lương và xem xi nê. Tình cảm của hai người từ đó ngày thêm gắn bó, anh em chúng tôi rất mừng.

bongma3

Cuộc sống thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa sau chiến tranh - Ảnh RFA

Tuy vậy cuộc sống trên hè phố chợt thoáng rồi tan. Mới hôm qua còn gặp nhau đó ngày mai thì chia tay vĩnh viễn. Có những cuộc gặp gỡ chỉ được một lần rồi không bao giờ xảy ra nữa. Hiểu được những điều ấy, những người sống lang thang trên vỉa hè như chúng tôi lúc nào cũng sẵn sàng chấp nhận mất mát, rủi ro và bất hạnh. Nhưng chính trong cuộc sống vội vã này nảy sinh biết bao tình cảm chân thật, rụt rè khiến cho anh em xúc động và càng muốn vun đắp cho nhau. Huống chi Tiến Dũng là một người bạn tốt, nghèo nhưng sống có tình có nghĩa, anh thường hay giúp đỡ anh em mỗi khi hoạn nạn nên rất được lòng người.

Anh em để ý thấy Tiến Dũng chăm chỉ đi bán nhanh, lại biết dành dụm tiền bạc. Những buổi trưa, Tiến Dũng chịu khó lê cái chân giả (anh cụt chân trái, xương còn mọc nên hay bị đau, đi lại khó khăn) ra ga xe lửa Sài Gòn. Ở đấy, bên góc đường Hàm Nghi - Phạm Ngũ Lão có những người đàn bà gánh cơm bán dạo, những dĩa cơm ấy rẻ vì có độn bobo (lúa mì thô dành cho súc vật), thức ăn là những con cá lòng tong kho mặn hay những con tép, giá 500 đồng một dĩa, trong khi ở cửa hàng quốc doanh một dĩa cơm bình dân giá rẻ nhất cũng phải từ 2.500 đồng đến 3.000 đồng. Tiến Dũng đã ăn những bữa cơm như thế, anh muốn để dành tiền mua tặng A Chế một cái quần tây màu cà phê sửa, kiểu điếu thuốc xì gà, bởi vì qua những mẫu chuyện trao đổi, Tiến Dũng khám phá ước mơ thầm kín của người bạn gái.

Có lần A Chế kể cho Tiến Dũng nghe : "Nhà em ở xóm Gò Vấp gần khu quân sự, những ngày cuối cùng của tháng 4 quân cộng sản pháo kích lung tung, đạn lạc vào nhà dân. Hôm đó, em cùng hai em nhỏ đang ngồi ăn cơm với mẹ thì nghe một tiếng ầm khủng khiếp. Cả xóm kinh hoảng, lao nhao la lên : "Pháo kích, pháo kích, chạy đi bà con ơi !". Em vội thu xếp đồ đạc cùng mẹ dẫn hai em chạy ra ngoài đường theo những người hàng xóm. Chạy ngang nhà con nhỏ bạn định rủ nó cùng chạy giặc như em, nhưng... ôi thật khủng khiếp. Nhà của nó tan hoang, đồ đạc gãy nát, máu thịt văng tứ tung. Đạn pháo kích rớt trúng nhà nó, giết chết cả nhà. Con Hoa nằm ngữa, thân hình phủ đầy bụi đen xì, tóc tai rũ rượi phủ trên gương mặt trắng bệch, trên ngực nó máu me đầm đìa, cơ thịt cánh tay phải của nó còn giựt giựt nhưng bàn tay bay đâu mất rồi. Em nhìn nhỏ bạn nằm im không cục cựa, lòng se thắt lại nhưng cái quần tây màu cà phê sữa của nó vẫn còn "mô đen" quá. Em nghĩ nhỏ Hoa khi chết mà còn mặc cái quần tây như thế chắc cũng được thỏa lòng".

Thạch Chia, phế binh Biệt Động Quân cụt chân phải, mặt đen như cột nhà cháy, nghe Tiến Dũng thuật lại liền nhe hàm răng ngựa cười khà khà :

- Còn chú rể nữa chi, hổng lẽ ngày lễ tuyên bố lại bận xà rong khoe cái giò bằng cây sao ?

Bà Hồng già, ho lao gần chết, phê bình A Chế :

- Đi lượm bọc ny lông mà bày đặt mặc áo bà ba - rồi bà lại hứa hẹn. Ê, đám cưới tụi bay tao đi nguyên con "dịt" cổ lùn Sa Đéc đó nghe !

Thạch Chia trề cặp môi dầy thâm xì :

- Ờ, con "dịt" của bà bằng mủ nhựa hả, ở Chợ Lớn bán thiếu gì. Nếu bà đi con "dịt" thì tui đi con heo Lái Thiêu !

Anh em cười hể hả. Thạch Chia bình thường ít nói, tính tình cộc cằn, nóng nảy, hôm nay hỗng hiểu sao như con nhồng lột lưỡi. Niềm vui nhẹ nhàng lan tỏa trong anh em như áng mây bay làm dịu ánh nắng gay gắt ban trưa, nó như làn sinh khí thoáng lên bộ mặt xám ngoẹt của người hấp hối trước đi từ trần. Đang lúc những người khốn khổ đang quay quần đóng góp mỗi người một câu cho vui câu chuyện, cho đám cưới "tưởng tượng" ấy, chị Liên (quả phụ) bỗng nhiên lạc "tông", không hiểu sao lại tru tréo lên :

- Ôi giời ơi, nếu cộng sản đừng đánh vào miền Nam thì con tôi vẫn còn có cha.

Anh em chúng tôi biết là chị đang nghĩ tới đứa con trai duy nhất 8 tuổi của chị, thằng Đức, đang theo lũ trẻ cùng trang lứa moi móc, lặn lội trong những ống cống ngầm để tìm cá. Bà Hồng nhìn chị :

- Tháng này cũng bớt mưa rồi, không sao đâu mà ! - rồi bỗng dưng bà ấy thở dài nhìn các anh em phế binh nói tiếp. Giá mà tôi được sống lại giờ phút lịch sử ấy nhỉ. Tôi sẽ đến cùng anh em chiến sĩ, được chạm tay vào cò súng một lần thôi rồi lỡ có chết cũng cam lòng. Cứ đánh một trận cho tan tành té bẹ đi, ai xui thì chết, ai may thì sống, biết đâu sẽ hưởng được tự do.

Thạch Chia cười :

- Bà già cầm nổi cây M16 không ? Nếu nổi thì tui cõng bà nha, nhưng nhớ lỡ quýnh quá đừng có "xả" ướt lưng tui đó nha bà.

Bà Hồng già giả bộ không nghe trầm tư kể tiếp :

- Một hôm tui đang đi ăn xin, gặp trúng ngay nhà cán bộ, cha này người miền Nam tập kết ra Bắc hồi còn nhỏ, năm 1954. Tui lỡ bộ tính nói vài câu rồi rút êm, nhưng "ổng" nhìn tui có vẻ thông cảm. Cha này có vẻ "trí thức" chứ không phải bậm trợn dốt đặc cán mai như mấy thằng "cách mạng ăn theo" (còn gọi là bọn "30", hay "30/4").

Ổng kể : "Khi ấy tôi còn ở Tòa Thánh Cao Đài, chiếm được Tây Ninh và thấy cảnh sinh hoạt của dân chúng dưới chế độ mới, tôi hiểu là giải phóng rồi đồng bào miền Nam sẽ khổ như đồng bào miền Bắc nên chúng tôi đâu có muốn giải phóng thành phố Sài Gòn làm chi. Không hiểu sao lính miền Nam lại bỏ chạy, đầu hàng. Chỉ cần giữ vững tinh thần, cầm cự hơn tháng nữa thôi thì tụi nó sẽ kiệt quệ thôi, xe tăng hết nhiên liệu, đạn dược không được tiếp tế, tinh thần xuống thấp và nhất là đói".

Rồi ổng kêu "bả" (vợ ổng người miền Bắc, còn trẻ) vô lấy cho tui một kí gạo, dặn tôi nhớ né tránh mấy chỗ gác dân quân. Ổng nói : "Tụi nó còn hăng lắm, tập làm cách mạng, muốn lập công với đảng, chúng không ưa mấy người ăn xin bêu xấu chế độ đâu". Còn bả thì ân cần hỏi thăm tui bịnh lâu chưa, trời mưa có lạnh không, bả cho tui bộ quần áo rồi tâm sự : "Khi miền Nam giải phóng xong, tôi bỏ miền Bắc theo ông ấy vào trong này. Vì sau bao năm chịu đựng với nhà nước này, tôi hiểu ra một điều là đừng chờ đợi pháp luật hoàn tất, bởi vì pháp luật của nhà nước lập ra không phải vì nhân dân (mặc dù họ mượn danh nghĩa nhân dân, mà vì quyền lợi của nhà nước). Khi pháp luật chưa hoàn tất thì những người dân (ở trong Nam) hãy còn "kẽ hở" để mà sống, khi đã hoàn tất (như ngoài Bắc) thì chỉ có chết đói mà thôi". Bả còn nói thêm : "Miền Nam vẫn còn sung sướng hơn miền Bắc đấy chị ạ, cố mà sống và đừng nghe chính sách gì cả nhé bởi vì sẽ cứ thế mãi thôi. Họ lừa hết lớp người này xong lại tiếp tục lừa lớp người kế tiếp, ai cũng sợ hãi nên đành im lặng để mà sống".

Nghe xong tui nhìn bả ngỡ ngàng, tuyệt vọng. Một cặp vợ chồng được chế độ này ưu đãi đủ thứ mà còn nói như vậy thì kể gì đời sống của tui. Bả tiễn tui ra về : "Thôi, chị đi đi nhé, nói chuyện nhiều không ích lợi gì". Tui bật ra cơn ho rũ rượi, bả nhìn tui thương hại, bả biết là tui sắp "đi" rồi nên dặn nhỏ : "Xin đừng gọi chúng tôi là cách mạng".

Huệ và Đồng, hai người lính cũ, cùng nói :

- Té ra là người dân miền Bắc đâu có sướng gì. Họ cũng chỉ là nạn nhân của vụ lừa thế kỷ như miền Nam mà thôi. Trong khi chúng ta lấy ngày 30/4 (1975) là ngày quốc tang thì miền Bắc có ngày 10/10 (1954) làm ngày giỗ quê hương của họ.

Thạch Chia, vốn là con sâu rượu đế (anh còn có biệt danh "đại ca tiếu ngạo" vì hay cười cợt đời khi có rượu vô), thêm vào :

- Dzậy là đúng như bà Bình hay nói ở Hiệp định Paris : "Bình mới rượu cũ", chẳng có cải cách gì ráo trọi. Ôi, nói ba cái chuyện đó chi nghe bắt mệt. Ê, Lê A, mày tính đi đám cưới tụi nó cái gì đây ?

Lê A, phế binh Dù bị cụt cả hai chân phải gắn chân gỗ bước đi trên cặp nạng lều nghều như con cua, đáp :

- Tui chỉ cần đi một vòng chợ Hòa Bình, Nguyễn Tri Phương là đem về một bọc ny lông đầy đầu gà, cánh vịt, phao câu, "pê đan" giò dĩa, lòng mề đủ thứ cho anh "nhậm chẩu" mệt nghỉ.

Lê A triết lý thêm :

- Cái khổ của chúng ta là biết những cái mà chúng ta không giải quyết được. Khi mà mọi sự đã trở thành vô nghĩa, khi mà chúng ta bị hất ra bên lề đời sống và đã trở thành những bóng ma vật vờ trên những đường phố thì chúng ta hãy sống như những bóng ma, sống như kẻ vắng mặt trong cuộc sống hào nhoáng này, cứ để ngày tháng qua đi rồi cái gì phải tới sẽ tới. Thôi đừng mất thì giờ tìm ánh mặt trời vào giữa đêm khuya, không bao giờ có đâu. Đừng có được voi đòi tiên nữa, anh em hãy nhớ lại lúc ở kinh tế mới chúng ta mơ ước gì, chúng ta có khác gì con vật nay đang hưởng ân huệ của cuộc sống đây nè : được uống nước phông ten, được ăn đầu gà cánh vịt, được ăn "pê đan" giò dĩa, được "nhậm chẩu" còn gì sướng hơn. Hãy vui với những gì đang có.

Chị Liên thở dài u uất, tiếp tục lạc "tông" :

- Lạy Chúa của con ơi, Ngài có nghe không ? Người kiên trinh chung thủy sao lại bị bỏ rơi, kẻ man trá phản bội lại cứ được đền bù. Lũ Giuđa thời đại đang đè đầu cổ nhân dân đây này, lạy Chúa của con ơi.

Chị Liên nghĩ về chồng chị. Lần về phép sau cùng, anh biết cuộc chiến sẽ còn khốc liệt hơn nữa nhưng vẫn quyết chí ra đi bảo vệ đất nước. Giờ đây chung quanh chị bao nhiêu kẻ chạy theo cuộc sống mới, có ai cần gì đến lý tưởng. Kìa nhiều người còn chỉ lối, dẫn đường cho chế độ cộng sản khống chế cuộc sống nhân dân miền Nam, họ được đền bù bằng sự no đủ, ăn sung mặc sướng trong khi con chị, "giời ạ, giờ này đang chui đầu dưới ống cống". Chị nhìn bầu trời một hồi rồi mặc cả :

- Lạy giời, xin đừng mưa nữa, nhưng không mưa thì làm sao có cá. Thôi xin mưa nho nhỏ thôi, cho con tôi có được miếng ăn.

Trong lúc những anh em phế binh khốn khổ như Tưởng lù đù, Tài râu, Hùng cụt tay, Long què giò, Bin khờ... cứ chết dần chết mòn vì bệnh hoạn, bị bắt vào "nhà nuôi", thì trên đường phố xuất hiện nhiều gia đình miền Bắc đi ăn xin ở các hàng quán. Họ vào cả cơ quan nhà nước xin tiền tàu, vé xe để về lại quê. Họ không sợ gì cả. Họ đi từng làng, từng xã vào Nam. Họ có lý do để đi vì mất mùa, lũ lụt... Họ là những ngươi đã một thời tuân hành nghiêm chỉnh những chủ trương chính sách nọ kia của nhà nước cộng sản. Bây giờ nhà nước không còn quan tâm đến họ nữa, tất cả chạy theo chỉ tiêu "tưởng tượng", các báo chí, đài cứ lải nhải nói nọ nói kia, ngợi ca những con số, phóng đại những kế hoạch 5 năm, 10 năm, thậm chỉ lập kế hoạch cho nhiều thế hệ đến năm 2020. Nhân dân khốn khổ miền Bắc bị bỏ rơi cho nên bây giờ họ đi xin công khai đấy, nhà nước có giỏi thì cứ bắt đi, họ không đi lẻ tẻ, họ đi từng đoàn, ai mà đụng đến họ thì họ kéo cả bầy tới bao vây làm áp lực. Những cán bộ miền Nam sợ những đám bần dân này vì hễ gây khó khăn gì thì họ làm đơn khiếu tố, khiếu nại lên các cấp lãnh đạo gốc miền Bắc tại Sài Gòn. Họ dùng luật pháp nhà nước miền Bắc đặt ra để đòi hỏi, yêu sách ngược trở lại nhà nước miền Nam.

Thạch Chia tức lắm, trong khi anh là người "gương mẫu" tình nguyện đi xây dựng vùng kinh tế mới, thất bại trở về không nhà không cửa, vợ anh bị sốt rét rừng nằm rên ư ử như con chó, con anh 8 tuổi không biết chữ phải đi lượm rác (đi xin sợ bị bắt vào trường "giáo dục thiếu nhi bụi đời"). Anh đã nhìn thấy người ta giựt đứa con nhỏ ra khỏi tay người mẹ đang ngồi xin ăn rồi đưa đi cải tạo lao động, đứa bé 4 tuổi được đưa vào "nhà nuôi", một thời gian sau thì chết vì phổi có nước. Khi cải tạo về, người mẹ đến nhận con mới hay hung tin, từ đó bà trở thành người điên, ăn nói ngớ ngẫn, vô duyên. Biết thưa kiện ai trong xã hội này ?

Chưa phải hết, Thạch Chia còn buồn phiền cảnh đời thay đổi trắng đen. Có những anh em tàn phế như mình, trong cơn túng quẩn đến van xin anh giúp đỡ, hứa hẹn lung tung, khi được giúp rồi thì ôm tiền trốn luôn. Thật là phiền vì Thạch Chia dẫn những anh em đó đến giới thiệu với "anh Cả", một cựu sĩ quan cụt một chân, để đến chùa lãnh nhang về bán. Bán hết nhang những anh em này lo trả nợ nần riêng rồi đi luôn, ăn luôn cả vốn của mấy ông thầy, rồi ăn luôn cái chân cụt của người giúp đỡ mình. Thạch Chia xấu hổ với người "anh Cả", gầm lên : "Ta là một kẻ cương trường, một lần thất hứa còn gì thanh danh. Thôi lần này ra đi quyết không trở lại". Thế là Thạch Chia bỏ đất Sài Gòn, dẫn đứa con trai 8 tuổi vào Chợ Lớn... ăn xin.

Bà quản lý Chợ Lớn Mới (chợ An Đông) là một phụ nữ mập ú, thân hình tròn như cái lu, trên khuôn mặt bánh bèo lủng lẳng một cặp má heo, nung núc những thịt và mỡ. Bà ngồi chễm chệ giữa chợ, giương cặp mắt cú vọ quan sát khắp nơi qua cặp kiếng trắng gọng vàng nằm ở xệ ở chóp mũi. Cặp mắt kiếng không làm tăng thêm vẻ "trí thức" sỏi đời mà chỉ tạo cho bà nét nghiêm khắc, soi mói lỗi lầm của người khác. Một ngày kia nhìn thấy hai cha con Thạch Chia đang ăn xin ở dãy hàng thịt, bà dẫn hai dân quân cầm AK47 tiến đến, bắt quả tang thằng nhỏ đang chìa nón xin tiền một khách hàng. Thế là... "chách" một cái, bà vả vào mặt thằng nhỏ thật mạnh làm nó khóc rống lên. Nghe tiếng con khóc, Thạch Chia đang khất thực bên dãy kia vội vàng chống nạng lò cò (anh không mang chân giả khi đi xin) nhảy đến cạnh bà quản lý chợ, rồi bất thần khom người xuống... "huỵch" một cái, anh thúc cùi chỏ vào mặt bà quản lý làm bà ngã bệt xuống vũng nước hôi hám ở hàng thịt, áo quần bê bết sình đen, cặp mắt kiếng cũng văng sang một bên. Hai dân quân ngơ ngác, người đi chợ đứng nhìn. Vừa lồm cồm ngồi dậy vừa quơ tay tìm cặp mắt kiếng, bà hầm hầm chỉ tay vào mặt Thạch Chia hét lên :

- Bớ người ta ! Quân ăn cướp ! Trời ơi quân ăn cướp đánh người ! Ngụy quân, bà con ơi. Ngụy quân làm loạn. Ăn cướp, ăn cướp, bắt nó lại, bớ người ta !

Thạch Chia quơ nạng trước mặt bà hăm dọa :

- Đ... mẹ, ăn hiếp con nít hả mậy ! Đồ heo nái...

Chưa nói kịp hết câu thì... "bộp" một cái, báng súng của một dân quân thúc vào miệng của anh, máu tuôn xối xả. Hàm răng đang còn ê ẩm, chưa kịp phản ứng gì thì "bịch" một cái nữa, lưng anh bị dân quân kia nện cho một cây gậy. Sau đó là những tiếng "thình thịch" vang lên, hai dân quân đấm đá loạn xạ vào người anh như đánh trống cúng đình trong ngày giỗ hội. Thạch Chia chỉ biết khom người ngồi xuống, hai tay che mặt, che đầu. Dân chúng hai bên bất mãn đứng nhìn, một ông già la lên :

- Tụi bây muốn giết người hả ? Bộ không thấy nó què giò hay sao mà đánh đập dã man như vậy ?

Thạch Chia nằm lăn lộn giữa vũng sình hôi hám, người ngợm đen sì, hai tay ôm đầu tránh né đòn thù. Đánh đá một hồi, bà quản lý giả bộ đứng ra can và phân trần với bà con :

- Thằng này là ngụy quân, nó định giết tôi. Coi nè (bà chỉ vào má bên trái vừa bị Thạch Chia thúc cho một cùi chỏ còn tím bầm), nó tính ám sát tôi đó thấy không.

Bà con trong chợ nhìn bà quản lý một cách khinh bỉ, nhiều chị phụ nữ còn che miệng cười khúc khích. Một dân quân túm áo lôi cổ anh dậy, dân quân kia trói quặt hai tay anh ra phía sau. Thạch Chia gào lên giữa hai hàm răng loan đầy máu đỏ :

- Các người biết sống thì cũng để cho người khác sống với chớ. Tui cũng là con người, tôi cũng muốn sống như mọi người chớ có giựt đồ ai đâu ?

Bà quản lý sửa lại cái kính, giả bộ hỏi :

- Nó nói vậy là sao ?

Một dân quân nét mặt hầm hầm hô lên :

- Đưa nó về trụ sở, để nó ở đây mất "quan điểm" với nhân dân.

Thằng con anh may mắn trốn thoát chạy về báo động, ai cũng khuyên nó ngồi yên nghe ngóng. Về tới trụ sở, Thạch Chia chửi bới một hồi thì bị một dân quân khác tát vào mặt mấy cái rồi đá một cú giò lái vào bụng, anh ngã quỵ xuống nằm im bất động. Chiều hôm đó, người ta lôi anh ra xích vào một cây cột giữa trời trong nghĩa địa Triều Châu, nay là Khu Du Lịch Đầm Sen. Cũng may là cây cột bị mục. Trời mát dần, Thạch Chia hồi tỉnh lại, anh đứng một chân chịu đựng từ buổi chiều đến tối. Vào lúc giữa khuya, bọn dân quân ngủ gà ngủ gật, anh lấy tay lay cho cây cột mục ngả xuống rồi từ từ rút tay bị xiềng ra khỏi thân cột. Anh vác sợi dây xích nặng 12 kí lô lên vai, nhảy lo cò ra ngoài lộ đón xe xích lô về gặp lại anh em. Vợ anh sụt sùi khóc và xoa muối ở các chỗ đau bị bầm tím trên thân mình anh. Chưa hả giận, Thạch Chia nói với vợ :

- Mài cho tui cái rựa, tui không sợ thằng nào hết, phải ăn thua đủ với tụi nó thôi. Ai cũng một lần chết, tui phải chết anh hùng, không chịu nhục được nữa. Tui có trời độ mà đừng lo.

Mọi người khuyên can mãi Thạch Chia mới nguôi. Rồi những khó khăn thường nhật trong cảnh sống bần cùng cứ bẻ gãy dần ý chí "đứng thẳng người" của anh em phế binh. Làm sao đứng thẳng được khi chỉ còn một chân, tay này chống nạng tay kia chìa ra xin tiền bố thí. Làm sao đứng thẳng khi đàn con nheo nhóc kêu khóc vì thiếu ăn, thiếu mặc và thiếu học. Thạch Chia nhìn thẳng vào cuộc đời trước mắt, chịu đựng và nhịn nhục. Ai sống thì cứ sống, ai chết thì cứ chết. Thạch Chia bất lực và tuyệt vọng.

Bà Hồng già chết rồi. Bà chết khi đang đi xin ở chợ Nguyễn Tri Phương. Bà được một bạn hàng cho một trứng hột vịt lộn, khi đang ăn thì máu từ miệng ộc ra, bà mắc nghẹn ngộp thở chết. Những anh em khác khôn ngoan hơn tìm đường ăn xin ở những vùng xa. Vào những dịp lễ lớn như Tết Nguyên Đán, họ xin ăn ở Thánh Thất Cao Đài Tây Ninh. Công an và cán bộ có trách nhiệm thu gom không bắt họ ngay mà chờ cho họ xin năm ba ngày, khoảng mùng 6 hay 7 gì đó rồi mới ào tới bắt và tiền xin được bị tịch thu sung vào "công quỹ" riêng. Anh em nào có kinh nghiệm, chỉ xin ăn một hai ngày rồi chuồn đi thì thoát nạn, hoặc là ra mấy tiệm vàng ở chợ Long Hoa mua vài ba phân vàng cất vào túi, lỡ khi bị bắt trong các chiến dịch thu gom thì dúi cho nhân viên thi hành số vàng đó để họ ngó lơ rồi trà trộn vào nhà dân tẩu thoát. Nhưng cũng phải cẩn thận vì nhiều khi "tiền mất tật mang", cán bộ thu gom ác ôn vừa lấy tiền vừa bắt giam người.

Những loại tin như vậy càng làm anh em mệt mỏi và nản lòng vì khi ấy chưa có các hội đoàn nhân đạo và ân nhân tại hải ngoại biết đến hoàn cảnh của anh em phế binh trong nước để mà giúp đỡ. Cuộc sống của người nghèo khổ rất là khắc nghiệt, mọi người cảm thấy như nghẹt thở trong nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa này. Những khẩu hiệu, bích chương, biểu ngữ loại "đánh cho Mỹ cút, đánh Ngụy nhào", không còn gây chú ý cho bất cứ ai trong thành phố. Riêng anh em phế binh, cô nhi, quả phụ chúng tôi thì thấm thía câu "đình đám người, mẹ con ta" vào những ngày lễ mừng "quốc khánh" như ngày 2/9 này. Trong lòng chúng tôi tuy không dám nói ra vì sợ trả thù, khủng bố, tù đày nhưng lúc nào cũng ngầm ngầm "nỗi hờn vong quốc" và những cảm xúc giận hờn không biết phải trút vào đâu.

* * *

Trở lại cuộc tình giữa Tiến Dũng và A Chế. Thấm thoát đã ba năm hai người hiểu nhau khá lâu và cảm thấy cần phải có nhau trong đời. Anh em cũng mừng vì cuộc đời phế binh vẫn còn có người thương mến và cũng nhân dịp gặp lại nhau, thăm hỏi, vui chơi và ăn uống cho bỏ những ngày cực khổ lang thang đó đây. Vả lại, những dịp lễ "quan trọng" của người cộng sản như thế này, kinh nghiệm cho anh em biết là không nên đi đứng ngoài đường lêu têu dễ bị chiến dịch "làm sạch đẹp tành phố" thu gom lắm. Thế là anh em quyết định chọn một chỗ gần chợ An Đông, nơi "cư ngụ" của Tiến Dũng và A Chế làm lễ cưới.

Hôm ấy mỗi người một chút tùy theo khả năng mà đóng góp. Chú rể và cô dâu "chịu" năm kí gạo ngon và một kí cá biển, mắm muối, bột ngọt, v.v... Anh em khoảng chừng mười mấy người, toàn là phế binh què cụt, vài bà quả phụ cũng đến chung vui, mỗi người góp thêm vài bó rau sống và những nhúm mì vụn mà các em cô nhi đi xin được. Lê A giữ lời hứa "danh dự" đi bán nhang một vòng đường Nguyễn Tri Phương, vừa mua vừa đổi nhang mang về một bọc gần ba kí đầu gà, cánh vịt, lòng mề, ruột heo và những cái chân vịt quay. Thành và Bé Ba thì đi một vòng chợ ca bài "Qua Cơn Mê" nên cũng đem về đóng góp vài trăm gờ ram chả cá. Chị Mạc vì chồng mới chết nên anh em cảm thông không để chị đóng góp, nhưng chị cũng xà vào phụ với cô dâu và mấy bà quả phụ khác nấu nướng.

Người vui nhất có lẽ là Thạch Chia, không biết bằng cách nào anh đã mang đến một can mười lít rượu đế, gọi là để "mừng đôi trẻ" nên duyên chồng vợ. Chú rể Tiến Dũng mặc cái áo sơ mi trắng dài tay, cái quần xanh nước biển càng khiến anh ra vẻ học trò. Cô dâu A Phụng thì mặc cái quần tây màu nâu kiểu điếu thuốc xì gà và chiếc áo bà ba cùng màu, theo cách nói của Thạch Chia, ra vẻ "tân cổ giao duyên" nhưng mà "kệ bà nó". Thạch Chia mở đầu buổi lễ :

- Hôm nay chúng ta đều có mặt đầy đủ, chỉ thiếu bà già Hồng, thôi kệ bả, mình cúng bả một ly khai màn là được rồi.

Vừa nói anh vừa đổ một chút rượu xuống đất, rồi anh đưa lên môi uống một cái ực chỗ còn lại. Anh thì thầm : "Kính lão đắc thọ". Anh gắp cái mề gà, đôi cẳng vịt quay bỏ vào cái dĩa mời bà Hồng già "về" ăn. Tiếp đó anh em nâng ly chúc cô dâu A Chế và chú rể Tiến Dũng được nhiều may mắn trong cuộc sống, sớm thoát ly cuộc đời nghèo khó, có đàn con đông v.v...

Thức ăn gồm ba món để trong nồi, ai ăn nấy múc, tô dĩa của khách để dưới nền gạch. Đầu tiên mỗi người làm một tô cơm với cá kho cho chắc bụng, sau đó là cuộc nhậu gồm một món canh hầm bà lằng đủ thứ nấu với xương heo, phổi, huyết, bao tử cùng những thứ rau cải, giá, hẹ, mì vụn... và những con cá nục chiên sốt cà chua. Món đầu gà, cánh vịt của Lê A được chiếu cố kỹ lưỡng vì mùi vị thơm thơm của nó gợi cho anh em cảm giác về những món ăn mà trước kia anh em đã từng được thưởng thức.

Câu chuyện trở nên rôm rả hơn khi có thêm mấy người anh em từ Thủ Đức cùng đến chung vui. Họ đem theo mười mấy ổ bánh mì, vài bịch huyết luộc và một kí lô ruột bò. Vài người làm nghề bốc vác quanh chợ cũng nhào vô nhập cuộc, đóng góp mười lít bia hơi cùng hai kí phá lấu vụn. Mãi vui, trời đã về chiều, chợ đã dẹp xong, anh em mỗi người góp vui một bài ca nào đó. Thạch Chia lúc này mặt mày đỏ như con tôm luộc, gõ đũa vào dĩa nước chấm, ca bài "Xuân này con không về". Lê A ngâm nga bài "Mẹ ơi, hoa cúc hoa mai nở rồi". Huệ khen cô dâu : "Đẹp ghê nơi đó à nha". Nãy giờ chú rể không uống rượu, bấy giờ "hội đồng" bắt phạt hai người phải hát bản nhạc Tàu "Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài". Đồng hứng quá hát bài "Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi...". Riết rồi mỗi người chêm vào một câu, mạnh ai nấy nói. Tự nhiên giữa lúc mọi người đang chan hòa niềm vui, chị Liên lại lạc "tông" :

- Giời ạ, nước mất nhà tan, gia đình ly tán thế này mà còn vui nỗi gì !

- Trời đất, đám cưới mà thế này thì xui quá - Thạch Chia sắp sửa rầy chị thì ở góc đường xuất hiện hai dân quân, tay đeo băng đỏ và cầm gậy đi tuần.

Anh em im bặt vì nhận ra họ là những người có trách nhiệm giữ an ninh ở khu chợ này. Họ bước đến gần, người to lớn vạm vỡ hất mặt hỏi :

- Này, mấy người làm cái gì ở đây mà ồn ào thế hả ? Âm mưu gì đó ? Định tụ tập gây rối trị an, làm xáo trộn đời sống của nhân dân hả ?

Vừa hỏi xong, người to lớn thò đầu vào bàn nhậu quan sát. Tiến Dũng còn tỉnh táo, vội phân trần :

- Dạ, tụi em đâu có làm gì đâu, đồng chí.

- Câm mồm ! - người to lớn nạt nộ. Ai đồng chí với lũ Mỹ Ngụy chúng mày.

Tiến Dũng vội nói :

- Dà, anh Hai tha lỗi, bữa nay đám giỗ ông bà, tụi em lỡ vui quá.

- Im ngay, không thì tao cho một cái tát vào mặt bây giờ. Ăn với nhậu - người to lớn lừ con mắt nghiêm nghị. Ngày xưa tụi tao ở trong rừng, ăn củ năng ấy mà còn đánh giặc, có đâu ăn nhậu lười biếng như chúng mày, không đóng góp gì cho nhân dân, cho cách mạng cả.

- Còn mày ? - người trẻ tuổi dựa hơi "cách mạng" hất hàm hỏi Lê A, lúc đó đang mặc chiếc áo lính màu hoa rừng còn tươm tất. Ngày xưa giết được bao nhiêu Việt Cộng rồi, cấp bậc gì, sĩ quan hả ?

     Thạch Chia mặt đỏ gay, ngước mắt nhìn người dân quân trẻ, trả lời thay :

- Nó ở kinh tế mới về, bị sốt rét rừng, đi bán nhang thấy... mẹ luôn. Vì ít bữa nữa cũng tới lễ quốc khánh 2/9 rồi, nó ghé đây ăn mừng mà. Sĩ quan gì cha nội.

Người to con bước xấn tới, hất đổ ly rượu trước mặt Thạch Chia :

- Ai hỏi mày mà thay lay.

Quá mức chịu đựng rồi, giọt nước đã làm tràn ly. Thạch Chia bật đứng dậy và... trời ơi anh có võ Tàu. Hai ngón tay của Thạch Chia chĩa tới như hai cái dùi đâm vào mắt người to con theo thế "song long sang châu" (con rồng cướp trái châu). Nhưng người to con cũng không phải tay vừa, hắn ngửa mặt ra phía sau né đòn rồi nghiêng người quét ngang chân phải vào cái chân còn lại của Thạch Chia (anh quên mang chân giả vào). Thạch Chia mất thăng bàng té ngồi xuống đất, người to con xông tới, hai người vật nhau lăn lộn dưới đất. Người to con đè đầu Thạch Chia xuống, thét bảo người trẻ tuổi phụ trói Thạch Chia đưa về trụ sở. Lê A nãy giờ cố gắng nhịn nhục, liền lao tới đập cái tô canh vào đầu người trẻ tuổi. Chú rể không uống rượu, bấn loạn tâm thần, cũng bước tới túm tóc người to con lôi dậy, quất cái chân giả vào mặt một cái "bộp", máu rỉ ra nhền nhệt. Say máu vì thấy người to con tay còn nắm tóc Thạch Chia, Tiến Dũng co tay quất thêm một cái nữa vào đầu khiến người to con chúi nhủi về phía trước. Huệ và Đồng nhào tới, chị Liên thét bảo con tìm cục gạch. Những tiếng thoi, đập vang lên liên hồi. Hai dân quân quên cả đau lật đật ngồi dậy, bỏ chạy.

Chưa đầy mười phút sau, anh em phế binh cùng bạn bè chưa kịp chạy trốn thì một toán dân quân khoảng hơn chục người cầm gậy gộc và súng AK chạy tới bao vây các ngõ chợ. Trời vừa xẩm tối, mạnh ai nấy chạy. Toán dân quân hễ cứ thấy ai mặc áo lính, què cụt, bước chân dậm dệch là nhào tới đánh đập. Thạch Chia bị nện báng súng tới tấp vào mình, Huệ và Đồng bị hai dân quân khi nãy nhận diện nên bị đánh hội đồng, Huệ mềm người gục xuống, máu từ miệng ồng ộc chảy ra... Chủ rể nhờ khuôn mặt hiền hậu, đẹp trai, mặc áo sơ mi trắng, quần xanh dương, dáng học trò nên dân quân sơ ý không nhìn thấy cái chân giả, thoát nạn. Anh cùng cô dâu trốn ra khỏi chợ, ngồi co ro ở một góc đường. Những người dự tiệc bị bắt dẫn đi. Thạch Chia cũng bị lôi theo, hai tay bị trói tay quặt ra đằng sau, nhảy cà nhắc theo toán dân quân. Chú rể thấy người anh của mình bị hành hạ, định bước ra can thiệp, cô dâu A Chế nắm chặt tay Tiến Dũng, nhìn anh với vẻ van nài tha thiết :

- Không làm được gì nữa đâu, anh !

Thấy cô dâu chú rể đứng bên kia góc đường lẫn lộn với đám người hiếu kỳ, Thạch Chia mặc dầu bị lôi đi xềnh xệch vẫn tìm cách quay đầu lại nói với đám đông :

- Đừng làm gì vô ích anh em ơi. Chúc cô dâu chú rể hạnh phúc.

Tiến Dũng im lặng nhìn những bạn đồng cảnh ngộ bị giải về trụ sở dân quân, lòng đau như cắt. Anh bất lực. Cuộc đời kham khổ của những anh em phế binh trở về những tháng ngày đen tối.

Đoàn người bị trói tay đi theo toán dân quân đằng đằng sát khí, tay cầm gậy gộc, súng ống, miệng thì chửi bới tục tằn, họ hùng hùng hổ hổ như thể sắp lôi ra pháp trường hành quyết những kẻ thù không đội trời chung.

Chúng tôi có làm gì để trở thành kẻ thù của ai đâu, chúng tôi chỉ muốn được vui chơi như mọi người khác trong một tiệc cưới mà cũng không yên. Lê A chịu không nổi cảnh kham khổ trong trại cải tạo đã chết một năm sau đó, để lại hai đứa con gái hiện đang hành nghề bia ôm trên các vỉa hè.

Viết lại theo lời thuật của Nhị Nguyên

Published in Tư liệu
Trang 1 đến 4