Những bộ óc như Schmidt, Gates, Jobs, v.v… chỉ có thể hiện hữu ở những nước như Mỹ hoặc trong các thể chế tự do dân chủ. Những nhân tài như Jack Ma, số phận ra sao ở Trung Quốc chắc phần lớn chúng ta cũng đã biết.
Schmidt biện luận : "Để giành chiến thắng trong cuộc thi định hình thế kỷ này, công việc như thường lệ sẽ không hiệu quả. Thay vào đó, chính phủ Hoa Kỳ sẽ phải vượt qua các xung động quan liêu cứng nhắc của mình...". Ảnh minh họa Daniel Liévano
Sau gần 14 tháng xâm lược Ukraine, nước Nga của Putin vẫn chưa hoàn thành cái mà họ gọi là "Chiến dịch quân sự đặc biệt" (Special Military Operation). Vớingân sách quốc phòng gấp 10 lần, và quân đội gần gấp 5 lần, Putin vẫn chưa đạt được mục tiêu chính trị hay quân sự tại Ukraine. Tinh thần dũng cảm kiên cường của quân dân Ukraine, khả năng tài tình của giới lãnh đạo chính trị, đứng đầu là Tổng thống Volodymyr Zelensky, và sự yểm trợ hết mình của phương Tây, đứng đầu là Hoa Kỳ, là những yếu tố quan yếu. Nhưng trên mặt trận chiến đấu, khả năng biết khai dụng kỹ thuật tân tiến của quân đội Ukraine mang tính cách quyết định cho kết cuộc hiện nay. Từ dữ liệu quan yếu của quốc gia được tích trữ trên Cloud, đến vận dụng vệ tinh Starlink và SpaceX để duy trì nối kết với thế giới, cho đến khai dụng những máy bay không người lái để vừa ngăn chặn vừa chủ động tấn công vào quân đội Nga, Ukraine có thể tiếp tục duy trì cuộc đấu tranh bất tương xứng này trên đường dài, nếu phương Tây không bỏ rơi họ.
Viết trên Foreign Affairs cho số tháng Ba/Tư này, Eric Schmidt biện luận rằng quân dân Ukraine đã vận dụng quyền lực sáng tạo đổi mới (innovation power). Nó là một thế lực mới trong chính trị quốc tế. Nó củng cố cho quyền lực cứng lẫn quyền lực mềm. Riêng về trí tuệ nhân tạo, sự phát triển của nó ‘không chỉ mở khóa các lĩnh vực khám phá khoa học mới ; nó cũng đẩy nhanh quá trình đó’, giúp cho các kỹ sư và khoa học gia khám phá ra các công nghệ mạnh mẽ hơn, qua đó tái định hình lại thế giới trong quá trình này. Với Schmidt, khả năng sáng tạo nhanh hơn và tốt hơn, nền tảng cho mọi sự phát triển về quyền lực quân sự, kinh tế và văn hóa, sẽ quyết định kết quả của cuộc giao tranh quyền lực giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Mặc dầu Mỹ đang dẫn đầu Trung Quốc trong một số lĩnh vực, nếu tiếp tục như hiện nay thì đừng mong kết quả sẽ như vậy mãi.
Schmidt biện luận : ‘Để giành chiến thắng trong cuộc thi định hình thế kỷ này, công việc như thường lệ sẽ không hiệu quả. Thay vào đó, chính phủ Hoa Kỳ sẽ phải vượt qua các xung động quan liêu cứng nhắc của mình, tạo điều kiện thuận lợi cho sự đổi mới, và đầu tư vào các công cụ và tài năng cần thiết để khởi động chu kỳ tiến bộ công nghệ. Nó cần cam kết thúc đẩy đổi mới để phục vụ đất nước và phục vụ nền dân chủ. Bị đe dọa (ở đây) không gì khác hơn là tương lai của các xã hội tự do, thị trường mở, chính phủ dân chủ và trật tự thế giới rộng lớn hơn’.
Trong bài viết này, Schmidt đưa ra nhiều ý tưởng sâu sắc, và với kinh nghiệm, chuyên môn, khả năng vượt trội và tầm nhìn xa nhưng thiết thực, rất đáng để tất cả những ai quan tâm cùng suy nghĩ.
Trước khi nói thêm về những ý tưởng của Schmidt, chắc cũng cần giới thiệu về Schmidt một chút. Có thể nói Schmidt đứng chung với những tên tuổi hàng đầu của thế giới trong lĩnh vực công nghệ, như Bill Gates và Steve Jobs.Eric Schmidt từng là Giám đốc Điều hành CEO của Google từ năm 2001 đến 2011, Chủ tịch Điều hành Google từ năm 2011 đến 2015, và từ năm 2015 đến 2017 sau khi đổi tên sang Alphabet, và Cố vấn Kỹ thuật từ năm 2017 đến 2020. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ash Carter là người đã mời Schmidt làm tư vấn cho bộ quốc phòng. Schmidt cũng đóng nhiều vai trò khác nhau, từ Chủ nhiệm Dự án Nghiên cứu Cạnh tranh Đặc biệt, cho đến Chủ tịch Ủy ban An ninh Quốc gia về Trí tuệ Nhân tạo. Đầu tháng Tư vừa qua, Schmidt đã tham dự cuộc Đối thoại Sydney do Viện Chính sách Chiến lược Úc (APSI) tổ chức. Người đứng đầuBộ Nội vụ Úc Secretary Michael Pezzullo đã phỏng vấn và điều hợp phần nói chuyện rất thú vị này với Schmidt. Nội dung đã đượctóm tắc để dễ dàng theo dõi trên trang mạng của APSI có tên "Cuộc chạy đua sống còn về công nghệ tiên tiến". Những trao đổi giữa những bộ ó c chuyên môn hàng đầu về công nghệ và chiến lược giúp cho chúng ta hiểu thêm về tình hình hiện nay và viễn cảnh tương lai.
Trở lại bài trên Foreign Affairs, Schmidt đánh giá rằng trí tuệ nhân tạo là quan yếu trong cuộc chạy đua quyền lực sáng tạo trong mọi lĩnh vực. Sau trí tuệ nhân tạo hay Artificial Intelligence/AI thì công nghệ mạnh hơn nữa là Artificial General Intelligence/AGI, tức Trí tuệ Tổng quát Nhân tạo (TTTQNT). Nghĩa là khả năng có thể thực hiện bất kỳ nhiệm vụ tinh thần nào mà con người có thể làm và hơn thế nữa. Sự phát triển của TTTQNT còn vài thập niên nữa nhưng khi đạt được, khả năng của nó là vô hạn, và quốc gia nào đạt được trước sẽ có ưu điểm lớn. Schmidt đưa ra một số ý niệm quan trọng sau đây về vấn đề đổi mới/sáng tạo trong công nghệ để duy trì ưu thế trong cuộc đua định hình trật tự thế giới.
Một, quy trình đổi mới sáng tạo (innovation) đã thay đổi nhiều, và ngày càng nhanh hơn. Sáng tạo dựa trên một vòng lặp phát minh, áp dụng và thích ứng, là một chu trình phản hồi thúc đẩy nhiều đổi mới hơn nữa. Nếu bất kỳ mối liên kết nào trong chuỗi quy trình này bị phá vỡ, thì khả năng đổi mới hiệu quả của một quốc gia cũng bị ảnh hưởng. Trước đây muốn đi đầu về phát minh mới nào, nó đòi hỏi nhiều năm nghiên cứu. Nhưng giờ đây ưu thế cấu trúc này ngày càng giảm, một phần vì nhờ vào nghiên cứu học thuật dễ tiếp cận hơn và sự gia tăng của phần mềm nguồn mở (open-source software), vì thế các công nghệ giờ đây lan tỏa nhanh hơn trên khắp thế giới. Chẳng hạn, Mỹ đi đầu về công nghệ 4G, nhưng rồi Trung Quốc bắt kịp (ở đây Schmidt bỏ qua công nghệ bị đánh cắp hay không tôn trọng bản quyền trí tuệ của Trung Quốc).
Hai, cuộc cạnh tranh giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc không chỉ là giữa hai nhà nước mà cũng chính là giữa hai hệ thống. Hệ thống của Trung Quốc là chính phủ thúc đẩy cạnh tranh trong nước và tài trợ cho những người thắng cuộc với tư cách là "nhà vô địch quốc gia". Các công ty của Trung Quốc đóng hai vai, tối đa hóa thành công thương mại và thúc đẩy lợi ích an ninh quốc gia của Trung Quốc. Đây là lý do mà Mỹ và phương Tây rất e ngại đối với Huawei hay Tiktok, chẳng hạn. Mô hình của Mỹ thì dựa vào một nhóm các tác nhân tư nhân khác nhau. Chính phủ liên bang tài trợ cho khoa học cơ bản nhưng phần lớn để lại sự sáng tạo và thương mại hóa cho thị trường. Lâu nay, cả ba chính phủ, công nghệ và học thuật là nguồn sáng tạo chính của Mỹ. Sự phối hợp này đã thúc đẩy nhiều đột phá về công nghệ, từ cuộc đổ bộ lên mặt trăng cho đến Internet. Nhưng sau Chiến tranh Lạnh, chính sách Mỹ đã thay đổi nhiều, và lý do Washington miễn cưỡng tài trợ cho khoa học là vì tính cấu trúc chính trị tại Mỹ. Dù sao, nhìn thấy được tầm quan trọng trong việc kích hoạt t ương tác giữa chính phủ, khu vực tư nhân và học thuật, quốc hội Mỹ đã thông qua đạo luật CHIPS and Science Act, và chỉ đạo tài trợ 200 tỷ đô la cho Nghiên cứu và Phát triển khoa học trong mười năm tới.
Ba, tập trung vào thương mại hóa công nghệ và thu dụng nhân tài. Schmidt nhấn mạnh đầu tư vào tương lai phải mang ý nghĩa là ‘Mọi công nghệ mới, từ trí tuệ nhân tạo đến điện toán lượng tử đến sinh học tổng hợp, đều phải được theo đuổi với mục tiêu thương mại hóa rõ ràng’. Và quan trọng nhất là trọng nhân tài. Với mức sống xứng đáng và cơ hội dồi dào Mỹ đã thu hút được hầu hết những bộ óc AI thông minh nhất thế giới, với hơn một nửa đến từ ngoài nước Mỹ. Nếu Mỹ không tiếp tục chính sách trọng dụng nhân tài này thì sẽ mất đi ưu thế sáng tạo của mình. Schmidt biện luận rằng giống như Manhattan Project (tức dự án chế tạo bom nguyên tử bắt đầu hoạt động từ năm 1942) được lãnh đạo phần lớn bởi những người tị nạn và di cư từ Châu Âu, bước đột phá công nghệ tiếp theo của Mỹ gần như chắc chắn sẽ dựa vào những người nhập cư.
Ngoài ra Schmidt cũng đưa ra những phân tích sâu sắc về chính sách quốc phòng của Mỹ, nhất là những bất cập hay tốn kém hiện nay. Chẳng hạn, xây dựng một chiến hạm rất tốn kém, 10 tỷ đô la và mất 10 năm, nhưng có thể bị tên lửa chống hạm siêu thanh tối tân YJ-21 của Trung Quốc một ngày nào đó đánh chìm. Schmidt biện luận rằng quân đội Hoa Kỳ cũng phải học cách tích hợp các công nghệ mới vào quy trình mua sắm, kế hoạch chiến đấu và chiến tranh. Trong bốn năm làm chủ tịch Ban Sáng tạo Quốc phòng, Schmidt đã rất ngạc nhiên về mức độ khó thực hiện, mà một trở ngại lớn là quy trình mua sắm nặng nề của Lầu Năm Góc : các hệ thống vũ khí lớn phải mất hơn mười năm để thiết kế, phát triển và triển khai. Trong khi đó, bên công nghệ sản xuất sản phẩm mới do tư nhân thực hiện thì khác, cho nên chính phủ Mỹ phải làm sao chế tạo hỏa tiễn như bên công ty chế tạo xe điện, phải tìm cách sáng tạo nhanh gấp 10 lần và ít tốn kém hơn nhiều.
Schmidt nhận định muốn vượt trội Trung Quốc, hay tránh được những cuộc tấn công về an ninh trên mạng, Mỹ phải đi đầu trong lĩnh vực sáng tạo. Thử thách đối với Hoa Kỳ là các quan chức chính phủ được khuyến khích để tránh rủi ro và tập trung vào ngắn hạn, khiến đất nước thường xuyên đầu tư dưới mức vào các công nghệ của tương lai. Schmidt khẳng định rằng những nguyên tắc đã xác định lối sống ở Hoa Kỳ, bao gồm tự do, chủ nghĩa tư bản, nỗ lực cá nhân, là những nguyên tắc đúng đắn trong quá khứ và vẫn là như vậy trong tương lai. Những giá trị cơ bản này là nền tảng của một hệ sinh thái sáng tạo. Schmidt kết luận ‘Câu thần chú cũ của Silicon Valley đúng không chỉ trong ngành công nghiệp mà còn trong địa chính trị : đổi mới hoặc chết’.
Những bộ óc như Schmidt, Gates, Jobs v.v… chỉ có thể hiện hữu ở những nước như Mỹ hoặc trong các thể chế tự do dân chủ. Những nhân tài như Jack Ma, số phận ra sao ở Trung Quốc chắc phần lớn chúng ta cũng đã biết. Không những tài giỏi trong lĩnh vực công nghệ, những người như Schmidt được trọng dụng trong lĩnh vực như an ninh quốc phòng khi đất nước cần đến. Họ hoàn toàn có tự do trong tư tưởng, không bị ràng buộc bởi chính kiến, và mục đích của họ là làm sao đưa ra hướng đi và giải pháp tối hảo trong những tình huống phức tạp nhất có thể. Nhân tài sẽ được tuyển chọn và trọng dụng dựa trên giá trị đích thực họ mang đến. Khi họ không còn đóng góp hiệu quả họ phải ra đi. Đây là những khác biệt sâu sắc giữa hai hệ thống dân chủ và cường quyền.
Phạm Phú Khải
Nguồn : VOA, 19/04/2023
Lời giới thiệu : Trong nhiều năm qua, các học giả Trung Quốc và thế giới đã và đang bàn cãi không ngớt về vấn đề tại sao khoa học kỹ thuật cận đại không ra đời tại Trung Quốc, vì sao văn minh Trung Hoa thời cổ từng dẫn đầu thế giới nhưng về sau lại tụt hậu. Có nhiều ý kiến khác nhau. Ví dụ Dương Chấn Ninh cho rằng đó là do người Trung Quốc không có tư duy logic, hoặc tư duy truyền thống của họ không có phương pháp suy diễn. Lê Minh nói đó là do người Trung Quốc kém thông minh nhưng lại tự cho là thông minh… Trong bài nói ngày 1/7/2017 tại lễ tốt nghiệp của các học viên Viện Nghiên cứu phát triển quốc gia thuộc Đại học Bắc Kinh, nhà kinh tế nổi tiếng Trung Quốc Trương Duy Nghênh công khai đưa ra quan điểm : do thể chế chính trị truyền thống của Trung Quốc luôn hạn chế sự tự do của dân chúng cho nên người Trung Quốc không thể có phát minh sáng tạo. Bài nói của ông (được giới thiệu dưới đây) đã gây tiếng vang lớn trong dư luận Trung Quốc, người khen kẻ chê đều rất nhiều.
Trương Duy Nghênh (Zhang Weiying张维迎, 1959-), tiến sĩ kinh tế học Đại học Oxford Anh Quốc, Giáo sư Đại học Bắc Kinh, đồng sáng lập Viện Nghiên cứu phát triển quốc gia, nguyên Giám đốc Học viện Quản lý Quang Hoa, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Mạng (ba cơ quan này đều thuộc Đại học Bắc Kinh).
Nguyễn Hải Hoành
***
Chào các bạn sinh viên ! Trước tiên tôi xin chúc mừng các bạn đã tốt nghiệp !
Tên gọi "Người Bắc Đại" [tức người của trường ĐH Bắc Kinh] là một vầng hào quang, cũng có nghĩa là trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm đối với dân tộc chịu bao khổ cực, chịu đủ mọi vùi dập của chúng ta.
Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh cổ nhất thế giới, đồng thời cũng là nền văn minh cổ xưa duy nhất được giữ gìn cho tới ngày nay. Trung Quốc thời cổ từng có thành tựu phát minh sáng tạo vẻ vang, có đóng góp quan trọng cho sự tiến bộ của nhân loại. Nhưng trong 500 năm qua, về mặt phát minh sáng tạo thì Trung Quốc không có gì nổi trội đáng nói. Chúng ta hãy dùng con số để nói rõ điểm này.
Theo thống kê của học giả Jack Challoner ở Viện Bảo tàng Khoa học Anh Quốc, trong thời gian từ thời kỳ đồ đá cũ (2,5 triệu năm trước) cho đến năm 2008, đã có 1001 phát minh lớn làm thay đổi thế giới, trong đó Trung Quốc có 30 phát minh, chiếm 3%. Toàn bộ 30 phát minh này đều xuất hiện trước năm 1500, chiếm 18,4% trong số 163 phát minh lớn trên toàn cầu trước năm 1500. Trong đó, phát minh cuối cùng là bàn chải đánh răng xuất hiện năm 1498, đây cũng là phát minh lớn duy nhất đời nhà Minh. Trong hơn 500 năm sau năm 1500, toàn thế giới có 838 phát minh, trong đó không có phát minh nào đến từ Trung Quốc.
Kinh tế tăng trưởng bắt nguồn từ sự xuất hiện không ngừng các sản phẩm mới, công nghệ mới, ngành nghề mới. Xã hội truyền thống chỉ có vài ngành nghề như nông nghiệp, luyện kim, gốm sứ, thủ công nghệ, trong đó nông nghiệp chiếm vị trí chủ đạo tuyệt đối. Hiện nay chúng ta có bao nhiêu ngành nghề ? Xét theo tiêu chuẩn phân loại đa tầng quốc tế, chỉ riêng về sản phẩm xuất khẩu, số ngành được mã hóa bằng mã 2 chữ số có 97 ngành, mã 4 chữ số có 1222 ngành, mã 6 chữ số có 5053 ngành, và vẫn không ngừng tăng thêm. Toàn bộ các ngành mới này đều được sáng tạo trong 300 năm qua, đều có thể tra cứu được nguồn gốc của mỗi sản phẩm mới này. Trong số rất nhiều ngành nghề mới, sản phẩm mới này không một ngành nghề mới hoặc sản phẩm quan trọng mới nào do người Trung Quốc phát minh cả !
Lấy ngành sản xuất xe hơi làm ví dụ. Ngành này được những người Đức như Karl Benz, Daimler và Maybach sáng lập vào khoảng giữa thập niên 1880, sau đó trải qua hàng loạt tiến bộ kỹ thuật, chỉ từ năm 1900 đến 1981 đã có hơn 600 sáng tạo đổi mới quan trọng (theo sách Industrial Renaissance của Albernathy, Clark và Kantrow, 1984).
Trung Quốc hiện nay là nước sản xuất xe hơi lớn nhất thế giới, nhưng nếu bạn viết một bộ lịch sử tiến bộ công nghệ của ngành chế tạo xe hơi, thì trong bảng những nhân vật được vinh danh sẽ có hàng nghìn nhà phát minh tên tuổi, trong đó có người Đức, người Pháp, người Anh, người Ý, người Mỹ, người Bỉ, người Thụy Điển, người Thụy Sĩ, người Nhật, nhưng sẽ không có người Trung Quốc !
Ngay cả trong những ngành nghề truyền thống mà Trung Quốc từng dẫn đầu từ trước thế kỷ XVII như luyện kim, gốm sứ, dệt may, những phát minh sáng tạo lớn xuất hiện trong 300 năm qua không có cái nào do người Trung Quốc làm ra.
Tôi cần đặc biệt nhấn mạnh sự khác nhau của thời gian trước và sau năm 1500. Trước năm 1500, thế giới chia thành những khu vực khác nhau, các khu vực này về cơ bản đều ở tình trạng khép kín với nhau, một kỹ thuật mới xuất hiện ở một nơi nào đó thì có ảnh hưởng rất nhỏ tới các nơi khác, và cống hiến của nó đối với toàn nhân loại rất hạn chế.
Ví dụ năm 105, ông Thái Luân [Cai Lun] thời Đông Hán phát minh ra kỹ thuật làm giấy, nhưng đến sau năm 751, kỹ thuật sản xuất giấy của Trung Quốc mới truyền tới thế giới các nước theo đạo Islam [Hồi giáo], lại qua 300 – 400 năm nữa mới truyền tới Tây Âu. Hồi tôi học tiểu học, khi luyện viết chữ còn phải viết trên bàn đất sét mà không viết trên giấy.
Nhưng sau năm 1500, toàn thế giới bắt đầu quá trình nhất thể hóa, chẳng những tốc độ phát minh kỹ thuật đã tăng nhanh, mà tốc độ truyền bá kỹ thuật cũng tăng lên, khi một kỹ thuật mới xuất hiện ở nơi này, nó sẽ nhanh chóng du nhập vào nơi khác, và sẽ có ảnh hưởng lớn đến nhân loại. Ví dụ năm 1886 người Đức phát minh ra xe hơi, 15 năm sau, Pháp trở thành nước đứng đầu sản xuất xe hơi, lại qua 15 năm nữa, nước Mỹ thay Pháp trở thành cường quốc số một về sản xuất xe hơi. Đến năm 1930, tỷ lệ phổ cập xe hơi ở Mỹ đã lên đến 60%.
Vì thế sau năm 1500 mới thực sự có thể so sánh được trình độ sáng tạo đổi mới giữa các nước, ai giỏi ai kém rõ rành rành ! Trung Quốc trong 500 năm gần đây không làm ra được một phát minh sáng tạo mới nào đáng ghi vào sử sách, điều đó có nghĩa là cống hiến của chúng ta cho sự tiến bộ của nhân loại gần như bắng số không ! Kém xa tổ tiên ta !
Tôi còn muốn nhấn mạnh vấn đề quy mô số dân. Các nước có quy mô lớn hoặc nhỏ, nếu chỉ so sánh đơn giản giữa các nước với nhau về số lượng phát minh sáng tạo, xem ai nhiều ai ít thì sẽ dễ làm cho mọi người hiểu nhầm.
Nói về lý luận, dưới những điều kiện khác đã cho, một nước càng đông dân thì sáng tạo đổi mới sẽ càng nhiều, tiến bộ kỹ thuật sẽ càng nhanh. Hơn nữa, tỷ lệ sáng tạo đổi mới và tỷ lệ dân số có mối quan hệ số mũ [lũy thừa] với nhau, không phải đơn giản là mối quan hệ tỷ lệ đồng đẳng. Ở đây có hai nguyên nhân : thứ nhất, về mặt sản xuất, tri thức có hiệu ứng kinh tế và hiệu ứng lan tràn quan trọng ; thứ hai, về mặt sử dụng, tri thức không có tính loại trừ các sự vật khác.
Hơn 10 năm trước, nhà vật lý người Mỹ Geoffrey West phát hiện : trong đời sống đô thị, mối quan hệ giữa số lượng phát minh sáng tạo của con người với số lượng dân thì tuân theo quy luật lũy thừa với số mũ dương 5/4 : Nếu đô thị A có số dân đông gấp 10 đô thị B thì tổng lượng phát minh sáng tạo của A sẽ bằng 10 lũy thừa 5/4 [tức101,25] tổng lượng phát minh sáng tạo của B, tức 17,8 lần [chính xác : 17,78279].
Qua đó có thể thấy, cống hiến về mặt phát minh sáng tạo của Trung Quốc cho thế giới quá ư không tỷ lệ với quy mô số dân của Trung Quốc. Dân số Trung Quốc gấp 4 lần dân số Mỹ, 10 lần Nhật, 20 lần Anh Quốc, 165 lần Thụy Sĩ. Xét theo quy luật lũy thừa về sáng tạo tri thức nói trên, lẽ ra số lượng phát minh sáng tạo của Trung Quốc phải bằng 5,6 lần số lượng phát minh sáng tạo của Mỹ, 17,8 lần của Nhật, 42,3 lần của Anh và 591 lần của Thụy Sĩ.
Nhưng tình hình thực tế là trong 500 năm gần đây, cống hiến về mặt phát minh sáng tạo của Trung Quốc gần như bằng số không. Chưa cần so sánh với Mỹ, Anh, mà chúng ta cũng chưa đạt được ngay cả con số lẻ của Thụy Sĩ. Người Thụy Sĩ phát minh ra kìm phẫu thuật, máy trợ thính điện tử, dây an toàn, công nghệ chỉnh hình, màn hình tinh thể lỏng v.v…
Công nghệ mực chống giả được Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc dùng để in đồng Nhân dân tệ là công nghệ của Thụy Sĩ, 60% -70% lượng bột mỳ của Trung Quốc được chế biến bằng máy móc của công ty Bühler (Thụy Sĩ).
Nguyên nhân do đâu vậy ? Lẽ nào do gene của người Trung Quốc có vấn đề ? Hiển nhiên không phải thế ! Nếu không, chúng ta chẳng có cách nào giải thích được vì sao nền văn minh Trung Quốc cổ đại lại rực rỡ như thế.
Hiển nhiên đó là do thể chế và chế độ của Trung Quốc. Sức sáng tạo dựa vào tự do ! Sự tự do về tư tưởng và tự do về hành động. Đặc điểm cơ bản của thể chế Trung Quốc là hạn chế sự tự do của con người, bóp chết tính sáng tạo, bóp chết tinh thần doanh nhân. Thời đại người Trung Quốc có sức sáng tạo nhất là thời Xuân Thu Chiến Quốc và thời nhà Tống. Đây không phải là sự ngẫu nhiên. Hai thời đại này cũng là những thời đại người Trung Quốc được tự do nhất.
Trước năm 1500, phương Tây không sáng sủa, phương Đông tối tăm. Sau năm 1500, một số nước phương Tây trải qua tiến trình cải cách tôn giáo và phong trào Khai sáng đã dần dần tiến tới tự do và pháp trị, còn chúng ta lại giẫm chân tại chỗ, thậm chí đi ngược đường với họ.
Tôi cần phải nhấn mạnh, tự do là một chỉnh thể không thể chia cắt, khi tư tưởng không tự do thì hành động không thể tự do ; khi ngôn luận không được tự do thì tư tưởng không thể tự do. Chỉ có tự do thì mới có sáng tạo. Tôi xin lấy một ví dụ để nói rõ điểm này.
Ngày nay việc rửa tay trước khi ăn và sau khi đi đại tiểu tiện đã trở thành thói quen của mọi người. Thế nhưng năm 1847, khi thầy thuốc nội khoa người Hungari Ignaz Semmelweis đề xuất thầy thuốc và y tá phải rửa tay trước khi tiếp xúc với sản phụ, ông đã xúc phạm các đồng nghiệp, vì thế mà bị mất việc và chết trong một nhà thương điên lúc 47 tuổi. Quan điểm của Ignaz Semmelweis dựa trên sự quan sát về sốt hậu sản. Hồi ấy bệnh viện của ông có hai phòng đẻ, một phòng phục vụ người giàu, do các thầy thuốc và y tá chuyên ngành chăm sóc chu đáo, những thầy thuốc này luôn thay đổi công việc giữa đỡ đẻ và mổ xác ; một phòng đẻ khác là để phục vụ người nghèo, do các bà đỡ phụ trách. Semmelweis phát hiện tỷ lệ người giàu bị sốt hậu sản cao gấp 3 lần người nghèo. Ông cho rằng nguyên nhân là do thầy thuốc không rửa tay trước khi tiếp xúc với sản phụ. Nhưng quan điểm ấy của ông lại mâu thuẫn với lý luận khoa học đang thịnh hành thời đó, ngoài ra ông cũng không đưa ra được các chứng minh khoa học để thuyết minh cho phát hiện của mình.
Vậy thói quen vệ sinh của nhân loại đã thay đổi như thế nào ? Việc này có liên quan tới phát minh ra máy in.
Thập niên năm 1440, doanh nhân Đức Johannes Gutenberg phát minh ra máy in sắp chữ bằng những con chữ rời. Nhờ có loại máy in này mà số lượng ấn phẩm tăng lên cực nhiều, việc đọc sách trở nên phổ biến, nhiều người bỗng phát hiện mắt họ vốn là bị "viễn thị" [ ?], thế là xuất hiện nhu cầu tăng bùng nổ về kính mắt. 100 năm sau khi phát minh máy in, tại Châu Âu xuất hiện hàng nghìn nhà sản xuất kính mắt, và do đó dấy lên cuộc cách mạng về kỹ thuật quang học.
Năm 1590, cha con doanh nhân sản xuất kính mắt Janssen (Hà Lan) lắp vài mắt kính vào trong một cái ống và họ phát hiện những vật thể quan sát thấy qua những lớp kính này được phóng to lên, từ đó mà phát minh ra kính hiển vi. Nhà khoa học người Anh Robert Hook đã dùng kính hiển vi phát hiện ra tế bào, từ đó dẫn đến một cuộc cách mạng khoa học và y học.
Nhưng kính hiển vi thời kỳ đầu chưa có độ phân giải cao, cho đến thập niên 1870, nhà chế tạo kính mắt Carl Zeiss người Đức sản xuất ra loại kính hiển vi kiểu mới có cấu tạo dựa trên công thức toán học chính xác. Chính là nhờ vào loại kính hiển vi này, bác sĩ người Đức Robert Koch và một số người khác đã phát hiện ra những con virus mà mắt người không nhìn thấy, qua đấy chứng minh quan điểm của bác sĩ người Hungari Ignaz Semmelweis là đúng đắn, và từ đó sáng lập ra lý thuyết vi sinh vật và vi khuẩn học. Nhờ sự ra đời hai khoa học này mà mọi người đã dần dần thay đổi thói quen vệ sinh [rửa tay trước khi ăn và sau khi đi toa-let], và tuổi thọ của loài người cũng được kéo dài với biên độ lớn.
Chúng ta có thể giả thiết : nếu lúc đầu máy in Gutenberg bị cấm sử dụng, hoặc chỉ được phép in các ấn phẩm đã bị Giáo hội và chính quyền kiểm duyệt, thế thì việc đọc sách báo sẽ không được phổ cập, nhu cầu về kính mắt cũng sẽ không lớn như thế, kính hiển vi và kính viễn vọng cũng sẽ không được phát minh, khoa học vi sinh vật cũng không xuất hiện, chúng ta không được uống sữa bò thanh trùng, tuổi thọ dự tính của loài người cũng sẽ không tăng từ hơn 30 lên tới hơn 70 tuổi, càng không thể nào mơ tưởng đến chuyện thám hiểm không gian vũ trụ.
Trong hơn 30 năm qua, kinh tế Trung Quốc giành được những thành tựu cả thế giới quan tâm dõi theo. Những thành tựu ấy được xây dựng trên cơ sở khoa học kỹ thuật mà thế giới phương Tây tích lũy được trong 300 năm phát minh sáng tạo. Mỗi một kỹ thuật và sản phẩm quan trọng giúp cho kinh tế Trung Quốc tăng trưởng nhanh đều do phương Tây phát minh chứ không phải do chúng ta phát minh. Chúng ta chỉ là kẻ ăn theo chứ không phải là kẻ sáng tạo đổi mới. Chúng ta chỉ dựng một chái nhỏ trên tòa nhà lớn do người khác xây dựng. Chúng ta không có lý do để ngông cuồng tự cao tự đại !
Newton bỏ ra 30 năm để phát hiện lực vạn vật hấp dẫn, tôi mất 3 tháng để làm rõ định luật vạn vật hấp dẫn. Nếu tôi nói mình dùng thời gian 3 tháng để đi hết con đường 30 năm của Newton thì nhất định các bạn sẽ cảm thấy nực cười. Ngược lại, nếu tôi quay sang chê cười Newton, thế thì chỉ có thể cho thấy tôi quá vô tri !
Chúng ta thường nói Trung Quốc dùng 7% diện tích đất có thể trồng trọt để nuôi sống 20% số dân thế giới, nhưng chúng ta cần hỏi lại : Trung Quốc dùng cách nào để có thể làm được việc đó ? Nói đơn giản, đó là sử dụng nhiều phân hóa học. Quá nửa lượng đạm trong thực phẩm người Trung Quốc ăn là đến từ phân bón hóa học vô cơ [phân đạm]. Nếu không sử dụng phân hóa học thì một nửa số dân Trung Quốc sẽ chết đói.
Kỹ thuật sản xuất phân đạm đến từ đâu ? Kỹ thuật này do nhà khoa học người Đức Fritz Habe và kỹ sư Carl Bosch của công ty BASF phát minh ra cách đây hơn 100 năm, chứ không phải do chúng ta phát minh. Năm 1972, sau chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Mỹ Nixon, Trung Quốc đã làm thương vụ đầu tiên với Mỹ : mua 13 hệ thống thiết bị sản xuất chất Ure tổng hợp quy mô lớn nhất, hiện đại nhất thế giới hồi ấy, trong đó có 8 hệ thống thiết bị của công ty Mỹ Kellogg.
Sau đây 50 năm, 100 năm nữa, khi viết lại lịch sử phát minh của thế giới, phải chăng Trung Quốc có thể thay đổi được tình trạng từng không có tên trong bộ sử đó ? Trên mức độ rất lớn, câu trả lời phụ thuộc vào việc liệu chúng ta có thể nâng cao một cách bền vững mức độ tự do mà người Trung Quốc được hưởng hay không. Bởi lẽ chỉ có tự do thì mới có thể làm cho tinh thần doanh nhân và sức sáng tạo của người Trung Quốc được phát huy đầy đủ, làm cho nước ta trở thành một quốc gia thuộc loại hình sáng tạo đổi mới.
Vì thế đẩy mạnh và bảo vệ tự do là trách nhiệm của mỗi một người quan tâm tới vận mệnh của Trung Quốc, lại càng là sứ mệnh của người Đại học Bắc Kinh ! Không bảo vệ tự do thì không xứng với danh hiệu "người Bắc Đại" !
Trương Duy Nghênh
Nguyên tác :张维迎:心灵不自由 创新无从谈起, 2017年07月04日 作者 : 张维迎
Nguyễn Hải Hoành biên dịch và ghi chú trong ngoặc [ ].
Nguồn : Nghiên cứu quốc tế, 14/01/2019
Lời giới thiệu : Trong nhiều năm qua, các học giả Trung Quốc (Trung Quốc) và thế giới đã và đang bàn cãi không ngớt về vấn đề tại sao khoa học kỹ thuật cận đại không ra đời tại Trung Quốc, vì sao văn minh Trung Hoa thời cổ từng dẫn đầu thế giới nhưng về sau lại tụt hậu. Có nhiều ý kiến khác nhau.
Ví dụ Dương Chấn Ninh cho rằng đó là do người Trung Quốc không có tư duy logic, hoặc tư duy truyền thống của họ không có phương pháp suy diễn. Lê Minh nói đó là do người Trung Quốc kém thông minh nhưng lại tự cho là thông minh…
Trong bài nói ngày 1/7/2017 tại lễ tốt nghiệp của các học viên Viện Nghiên cứu phát triển quốc gia thuộc Đại học Bắc Kinh, nhà kinh tế nổi tiếng Trung Quốc Trương Duy Nghênh công khai đưa ra quan điểm : do thể chế chính trị truyền thống của Trung Quốc luôn hạn chế sự tự do của dân chúng cho nên người Trung Quốc không thể có phát minh sáng tạo. Bài nói của ông (được giới thiệu dưới đây) đã gây tiếng vang lớn trong dư luận Trung Quốc, người khen kẻ chê đều rất nhiều.
*****
Chào các bạn sinh viên ! Trước tiên tôi xin chúc mừng các bạn đã tốt nghiệp !
Tên gọi "Người Bắc Đại" [tức người của trường Đại học Bắc Kinh] là một vầng hào quang, cũng có nghĩa là trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm đối với dân tộc chịu bao khổ cực, chịu đủ mọi vùi dập của chúng ta.
Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh cổ nhất thế giới, đồng thời cũng là nền văn minh cổ xưa duy nhất được giữ gìn cho tới ngày nay. Trung Quốc thời cổ từng có thành tựu phát minh sáng tạo vẻ vang, có đóng góp quan trọng cho sự tiến bộ của nhân loại. Nhưng trong 500 năm qua, về mặt phát minh sáng tạo thì Trung Quốc không có gì nổi trội đáng nói. Chúng ta hãy dùng con số để nói rõ điểm này.
Theo thống kê của học giả Jack Challoner ở Viện Bảo tàng Khoa học Anh Quốc, trong thời gian từ thời kỳ đồ đá cũ (2,5 triệu năm trước) cho đến năm 2008, đã có 1001 phát minh lớn làm thay đổi thế giới, trong đó Trung Quốc có 30 phát minh, chiếm 3%. Toàn bộ 30 phát minh này đều xuất hiện trước năm 1500, chiếm 18,4% trong số 163 phát minh lớn trên toàn cầu trước năm 1500. Trong đó, phát minh cuối cùng là bàn chải đánh răng xuất hiện năm 1498, đây cũng là phát minh lớn duy nhất đời nhà Minh. Trong hơn 500 năm sau, năm 1500, toàn thế giới có 838 phát minh, trong đó không có phát minh nào đến từ Trung Quốc.
Kinh tế tăng trưởng bắt nguồn từ sự xuất hiện không ngừng các sản phẩm mới, công nghệ mới, ngành nghề mới. Xã hội truyền thống chỉ có vài ngành nghề như nông nghiệp, luyện kim, gốm sứ, thủ công nghệ, trong đó nông nghiệp chiếm vị trí chủ đạo tuyệt đối. Hiện nay chúng ta có bao nhiêu ngành nghề ? Xét theo tiêu chuẩn phân loại đa tầng quốc tế, chỉ riêng về sản phẩm xuất khẩu, số ngành được mã hóa bằng mã 2 chữ số có 97 ngành, mã 4 chữ số có 1.222 ngành, mã 6 chữ số có 5.053 ngành, và vẫn không ngừng tăng thêm. Toàn bộ các ngành mới này đều được sáng tạo trong 300 năm qua, đều có thể tra cứu được nguồn gốc của mỗi sản phẩm mới này. Trong số rất nhiều ngành nghề mới, sản phẩm mới này không một ngành nghề mới hoặc sản phẩm quan trọng mới nào do người Trung Quốc phát minh cả !
Lấy ngành sản xuất xe hơi làm ví dụ. Ngành này được những người Đức như Karl Benz, Daimler và Maybach sáng lập vào khoảng giữa thập niên 1880, sau đó trải qua hàng loạt tiến bộ kỹ thuật, chỉ từ năm 1900 đến 1981 đã có hơn 600 sáng tạo đổi mới quan trọng (theo sách Industrial Renaissance của Albernathy, Clark và Kantrow, 1984).
Trung Quốc hiện nay là nước sản xuất xe hơi lớn nhất thế giới, nhưng nếu bạn viết một bộ lịch sử tiến bộ công nghệ của ngành chế tạo xe hơi, thì trong bảng những nhân vật được vinh danh sẽ có hàng nghìn nhà phát minh tên tuổi, trong đó có người Đức, người Pháp, người Anh, người Ý, người Mỹ, người Bỉ, người Thụy Điển, người Thụy Sĩ, người Nhật, nhưng sẽ không có người Trung Quốc !
Ngay cả trong những ngành nghề truyền thống mà Trung Quốc từng dẫn đầu từ trước thế kỷ XVII như luyện kim, gốm sứ, dệt may, những phát minh sáng tạo lớn xuất hiện trong 300 năm qua không có cái nào do người Trung Quốc làm ra.
Tôi cần đặc biệt nhấn mạnh sự khác nhau của thời gian trước và sau năm 1500. Trước năm 1500, thế giới chia thành những khu vực khác nhau, các khu vực này về cơ bản đều ở tình trạng khép kín với nhau, một kỹ thuật mới xuất hiện ở một nơi nào đó thì có ảnh hưởng rất nhỏ tới các nơi khác, và cống hiến của nó đối với toàn nhân loại rất hạn chế.
Ví dụ năm 105, ông Thái Luân [Cai Lun] thời Đông Hán phát minh ra kỹ thuật làm giấy, nhưng đến sau năm 751, kỹ thuật sản xuất giấy của Trung Quốc mới truyền tới thế giới các nước theo đạo Islam [Hồi giáo], lại qua 300 – 400 năm nữa mới truyền tới Tây Âu. Hồi tôi học tiểu học, khi luyện viết chữ còn phải viết trên bàn đất sét mà không viết trên giấy.
Nhưng sau năm 1500, toàn thế giới bắt đầu quá trình nhất thể hóa, chẳng những tốc độ phát minh kỹ thuật đã tăng nhanh, mà tốc độ truyền bá kỹ thuật cũng tăng lên, khi một kỹ thuật mới xuất hiện ở nơi này, nó sẽ nhanh chóng du nhập vào nơi khác, và sẽ có ảnh hưởng lớn đến nhân loại. Ví dụ năm 1886 người Đức phát minh ra xe hơi, 15 năm sau, Pháp trở thành nước đứng đầu sản xuất xe hơi, lại qua 15 năm nữa, nước Mỹ thay Pháp trở thành cường quốc số một về sản xuất xe hơi. Đến năm 1930, tỷ lệ phổ cập xe hơi ở Mỹ đã lên đến 60%.
Vì thế sau năm 1500 mới thực sự có thể so sánh được trình độ sáng tạo đổi mới giữa các nước, ai giỏi ai kém rõ rành rành ! Trung Quốc trong 500 năm gần đây không làm ra được một phát minh sáng tạo mới nào đáng ghi vào sử sách, điều đó có nghĩa là cống hiến của chúng ta cho sự tiến bộ của nhân loại gần như bắng số không ! Kém xa tổ tiên ta !
Tôi còn muốn nhấn mạnh vấn đề quy mô số dân. Các nước có quy mô lớn hoặc nhỏ, nếu chỉ so sánh đơn giản giữa các nước với nhau về số lượng phát minh sáng tạo, xem ai nhiều ai ít thì sẽ dễ làm cho mọi người hiểu nhầm.
Nói về lý luận, dưới những điều kiện khác đã cho, một nước càng đông dân thì sáng tạo đổi mới sẽ càng nhiều, tiến bộ kỹ thuật sẽ càng nhanh. Hơn nữa, tỷ lệ sáng tạo đổi mới và tỷ lệ dân số có mối quan hệ số mũ [lũy thừa] với nhau, không phải đơn giản là mối quan hệ tỷ lệ đồng đẳng. Ở đây có hai nguyên nhân : thứ nhất, về mặt sản xuất, tri thức có hiệu ứng kinh tế và hiệu ứng lan tràn quan trọng ; thứ hai, về mặt sử dụng, tri thức không có tính loại trừ các sự vật khác.
Hơn 10 năm trước, nhà vật lý người Mỹ Geoffrey West phát hiện : trong đời sống đô thị, mối quan hệ giữa số lượng phát minh sáng tạo của con người với số lượng dân thì tuân theo quy luật lũy thừa với số mũ dương 5/4 : Nếu đô thị A có số dân đông gấp 10 đô thị B thì tổng lượng phát minh sáng tạo của A sẽ bằng 10 lũy thừa 5/4 [tức 101,25] tổng lượng phát minh sáng tạo của B, tức 17,8 lần [chính xác : 17,78279].
Qua đó có thể thấy, cống hiến về mặt phát minh sáng tạo của Trung Quốc cho thế giới quá ư không tỷ lệ với quy mô số dân của Trung Quốc. Dân số Trung Quốc gấp 4 lần dân số Mỹ, 10 lần Nhật, 20 lần Anh Quốc, 165 lần Thụy Sĩ. Xét theo quy luật lũy thừa về sáng tạo tri thức nói trên, lẽ ra số lượng phát minh sáng tạo của Trung Quốc phải bằng 5,6 lần số lượng phát minh sáng tạo của Mỹ, 17,8 lần của Nhật, 42,3 lần của Anh và 591 lần của Thụy Sĩ.
Nhưng tình hình thực tế là trong 500 năm gần đây, cống hiến về mặt phát minh sáng tạo của Trung Quốc gần như bằng số không. Chưa cần so sánh với Mỹ, Anh, mà chúng ta cũng chưa đạt được ngay cả con số lẻ của Thụy Sĩ. Người Thụy Sĩ phát minh ra kìm phẫu thuật, máy trợ thính điện tử, dây an toàn, công nghệ chỉnh hình, màn hình tinh thể lỏng v.v…
Công nghệ mực chống giả được Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc dùng để in đồng Nhân dân tệ là công nghệ của Thụy Sĩ, 60% -70% lượng bột mỳ của Trung Quốc được chế biến bằng máy móc của công ty Bühler (Thụy Sĩ).
Nguyên nhân do đâu vậy ? Lẽ nào do gene của người Trung Quốc có vấn đề ? Hiển nhiên không phải thế ! Nếu không, chúng ta chẳng có cách nào giải thích được vì sao nền văn minh Trung Quốc cổ đại lại rực rỡ như thế.
Hiển nhiên đó là do thể chế và chế độ của Trung Quốc. Sức sáng tạo dựa vào tự do ! Sự tự do về tư tưởng và tự do về hành động.
Đặc điểm cơ bản của thể chế Trung Quốc là hạn chế sự tự do của con người, bóp chết tính sáng tạo, bóp chết tinh thần doanh nhân. Thời đại người Trung Quốc có sức sáng tạo nhất là thời Xuân Thu Chiến Quốc và thời nhà Tống. Đây không phải là sự ngẫu nhiên. Hai thời đại này cũng là những thời đại người Trung Quốc được tự do nhất.
Trước năm 1500, phương Tây không sáng sủa, phương Đông tối tăm. Sau năm 1500, một số nước phương Tây trải qua tiến trình cải cách tôn giáo và phong trào Khai sáng đã dần dần tiến tới tự do và pháp trị, còn chúng ta lại giẫm chân tại chỗ, thậm chí đi ngược đường với họ.
Tôi cần phải nhấn mạnh, tự do là một chỉnh thể không thể chia cắt, khi tư tưởng không tự do thì hành động không thể tự do ; khi ngôn luận không được tự do thì tư tưởng không thể tự do. Chỉ có tự do thì mới có sáng tạo. Tôi xin lấy một ví dụ để nói rõ điểm này.
Ngày nay việc rửa tay trước khi ăn và sau khi đi đại tiểu tiện đã trở thành thói quen của mọi người. Thế nhưng năm 1847, khi thầy thuốc nội khoa người Hungari Ignaz Semmelweis đề xuất thầy thuốc và y tá phải rửa tay trước khi tiếp xúc với sản phụ, ông đã xúc phạm các đồng nghiệp, vì thế mà bị mất việc và chết trong một nhà thương điên lúc 47 tuổi. Quan điểm của Ignaz Semmelweis dựa trên sự quan sát về sốt hậu sản. Hồi ấy bệnh viện của ông có hai phòng đẻ, một phòng phục vụ người giàu, do các thầy thuốc và y tá chuyên ngành chăm sóc chu đáo, những thầy thuốc này luôn thay đổi công việc giữa đỡ đẻ và mổ xác ; một phòng đẻ khác là để phục vụ người nghèo, do các bà đỡ phụ trách. Semmelweis phát hiện tỷ lệ người giàu bị sốt hậu sản cao gấp 3 lần người nghèo. Ông cho rằng nguyên nhân là do thầy thuốc không rửa tay trước khi tiếp xúc với sản phụ. Nhưng quan điểm ấy của ông lại mâu thuẫn với lý luận khoa học đang thịnh hành thời đó, ngoài ra ông cũng không đưa ra được các chứng minh khoa học để thuyết minh cho phát hiện của mình.
Vậy thói quen vệ sinh của nhân loại đã thay đổi như thế nào ? Việc này có liên quan tới phát minh ra máy in.
Thập niên năm 1440, doanh nhân Đức Johannes Gutenberg phát minh ra máy in sắp chữ bằng những con chữ rời. Nhờ có loại máy in này mà số lượng ấn phẩm tăng lên cực nhiều, việc đọc sách trở nên phổ biến, nhiều người bỗng phát hiện mắt họ vốn là bị "viễn thị" [?], thế là xuất hiện nhu cầu tăng bùng nổ về kính mắt. 100 năm sau khi phát minh máy in, tại châu Âu xuất hiện hàng nghìn nhà sản xuất kính mắt, và do đó dấy lên cuộc cách mạng về kỹ thuật quang học.
Năm 1590, cha con doanh nhân sản xuất kính mắt Janssen (Hà Lan) lắp vài mắt kính vào trong một cái ống và họ phát hiện những vật thể quan sát thấy qua những lớp kính này được phóng to lên, từ đó mà phát minh ra kính hiển vi. Nhà khoa học người Anh Robert Hook đã dùng kính hiển vi phát hiện ra tế bào, từ đó dẫn đến một cuộc cách mạng khoa học và y học.
Nhưng kính hiển vi thời kỳ đầu chưa có độ phân giải cao, cho đến thập niên 1870, nhà chế tạo kính mắt Carl Zeiss người Đức sản xuất ra loại kính hiển vi kiểu mới có cấu tạo dựa trên công thức toán học chính xác. Chính là nhờ vào loại kính hiển vi này, bác sĩ người Đức Robert Koch và một số người khác đã phát hiện ra những con virus mà mắt người không nhìn thấy, qua đấy chứng minh quan điểm của bác sĩ người Hungari Ignaz Semmelweis là đúng đắn, và từ đó sáng lập ra lý thuyết vi sinh vật và vi khuẩn học. Nhờ sự ra đời hai khoa học này mà mọi người đã dần dần thay đổi thói quen vệ sinh [rửa tay trước khi ăn và sau khi đi toa-let], và tuổi thọ của loài người cũng được kéo dài với biên độ lớn.
Chúng ta có thể giả thiết : nếu lúc đầu máy in Gutenberg bị cấm sử dụng, hoặc chỉ được phép in các ấn phẩm đã bị Giáo hội và chính quyền kiểm duyệt, thế thì việc đọc sách báo sẽ không được phổ cập, nhu cầu về kính mắt cũng sẽ không lớn như thế, kính hiển vi và kính viễn vọng cũng sẽ không được phát minh, khoa học vi sinh vật cũng không xuất hiện, chúng ta không được uống sữa bò thanh trùng, tuổi thọ dự tính của loài người cũng sẽ không tăng từ hơn 30 lên tới hơn 70 tuổi, càng không thể nào mơ tưởng đến chuyện thám hiểm không gian vũ trụ.
Trong hơn 30 năm qua, kinh tế Trung Quốc giành được những thành tựu cả thế giới quan tâm dõi theo. Những thành tựu ấy được xây dựng trên cơ sở khoa học kỹ thuật mà thế giới phương Tây tích lũy được trong 300 năm phát minh sáng tạo. Mỗi một kỹ thuật và sản phẩm quan trọng giúp cho kinh tế Trung Quốc tăng trưởng nhanh đều do phương Tây phát minh chứ không phải do chúng ta phát minh. Chúng ta chỉ là kẻ ăn theo chứ không phải là kẻ sáng tạo đổi mới. Chúng ta chỉ dựng một chái nhỏ trên tòa nhà lớn do người khác xây dựng. Chúng ta không có lý do để ngông cuồng tự cao tự đại !
Newton bỏ ra 30 năm để phát hiện lực vạn vật hấp dẫn, tôi mất 3 tháng để làm rõ định luật vạn vật hấp dẫn. Nếu tôi nói mình dùng thời gian 3 tháng để đi hết con đường 30 năm của Newton thì nhất định các bạn sẽ cảm thấy nực cười. Ngược lại, nếu tôi quay sang chê cười Newton, thế thì chỉ có thể cho thấy tôi quá vô tri !
Chúng ta thường nói Trung Quốc dùng 7% diện tích đất có thể trồng trọt để nuôi sống 20% số dân thế giới, nhưng chúng ta cần hỏi lại : Trung Quốc dùng cách nào để có thể làm được việc đó ? Nói đơn giản, đó là sử dụng nhiều phân hóa học. Quá nửa lượng đạm trong thực phẩm người Trung Quốc ăn là đến từ phân bón hóa học vô cơ [phân đạm]. Nếu không sử dụng phân hóa học thì một nửa số dân Trung Quốc sẽ chết đói.
Kỹ thuật sản xuất phân đạm đến từ đâu ? Kỹ thuật này do nhà khoa học người Đức Fritz Habe và kỹ sư Carl Bosch của công ty BASF phát minh ra cách đây hơn 100 năm, chứ không phải do chúng ta phát minh. Năm 1972, sau chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Mỹ Nixon, Trung Quốc đã làm thương vụ đầu tiên với Mỹ : mua 13 hệ thống thiết bị sản xuất chất Ure tổng hợp quy mô lớn nhất, hiện đại nhất thế giới hồi ấy, trong đó có 8 hệ thống thiết bị của công ty Mỹ Kellogg.
Sau đây 50 năm, 100 năm nữa, khi viết lại lịch sử phát minh của thế giới, phải chăng Trung Quốc có thể thay đổi được tình trạng từng không có tên trong bộ sử đó ? Trên mức độ rất lớn, câu trả lời phụ thuộc vào việc liệu chúng ta có thể nâng cao một cách bền vững mức độ tự do mà người Trung Quốc được hưởng hay không. Bởi lẽ chỉ có tự do thì mới có thể làm cho tinh thần doanh nhân và sức sáng tạo của người Trung Quốc được phát huy đầy đủ, làm cho nước ta trở thành một quốc gia thuộc loại hình sáng tạo đổi mới.
Vì thế đẩy mạnh và bảo vệ tự do là trách nhiệm của mỗi một người quan tâm tới vận mệnh của Trung Quốc, lại càng là sứ mệnh của người Đại học Bắc Kinh ! Không bảo vệ tự do thì không xứng với danh hiệu "người Bắc Đại" !
Trương Duy Nghênh (Trung Quốc)
Nguyên tác :张维迎:心灵不自由 创新无从谈起, 2017年07月04日 作者 : 张维迎
Nguyễn Hải Hoành biên dịch và ghi chú trong ngoặc
Nguồn : nghiencuuquocte.net, 14/01/2019
Trương Duy Nghênh (Zhang Weiying张维迎, 1959-), tiến sĩ kinh tế học Đại học Oxford Anh Quốc, Giáo sư Đại học Bắc Kinh, đồng sáng lập Viện Nghiên cứu phát triển quốc gia, nguyên Giám đốc Học viện Quản lý Quang Hoa, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Mạng (ba cơ quan này đều thuộc Đại học Bắc Kinh).
Thế giới hiện nay đang phẳng hóa rất nhanh khi những cách biệt về địa lý, vốn, máy móc… đang tiến tới bị xóa nhòa thì sự cạnh tranh để phát triển tất yếu phải dựa vào nguồn lực tri thức và sáng tạo. Đào tạo những con người sáng tạo phải là mục tiêu của nền giáo dục quốc gia.
Chia sẻ của cô giáo Trần Thị Mỹ Hà về quyết định trên
Do đó, "triết lý giáo dục cần phải chuyển sang hướng đào tạo con người tự do, để họ có thể tư duy độc lập, tư duy sáng tạo, thay vì đào tạo con người công cụ như mục đích của hệ thống hiện thời" (Giáp Văn Dương, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 8/5/2017).
Triết lý đó phản ánh nhu cầu phát triển đặt ra với nền giáo dục, và nếu không đáp ứng được, khoảng cách tụt hậu của nước ta so với trung bình thế giới chắc chắn sẽ ngày càng nhanh chóng xa hơn !
Có nhiều biểu hiện cho thấy nền giáo dục nước nhà, buồn thay, đang quay lưng hay chống lại các đòi hỏi từ nhu cầu mới của đất nước.
Cách đây không lâu, một học sinh lớp 12, vì viết trên Facebook của mình những dòng chê thái độ phục vụ của Bệnh viện đa khoa khu vực Đồng Tháp Mười, đã bị Ban giám hiệu trường Trung học phổ thông Kiến Tường mời lên làm việc về nội dung trên. Cũng trong ngày 6/3, T. đã xóa nội dung này trên trang Facebook cá nhân. Tiếp đó, ngày 16.3, Ban giám hiệu nhà trường ra quyết định kỷ luật T. với hình thức khiển trách, lý do là vi phạm điều 41 Thông tư số 12/2011/TT-BGD&ĐT ngày 28/3/2011 của Bộ GD&ĐT về ban hành Điều lệ trường Trung học phổ thông (Tuổi Trẻ Online, ngày 1/6/2017).
Cách đây một năm, cô giáo Trần Thị Mỹ Hà - Tổ trưởng tổ Văn trường Trung học phổ thông Trần Nhân Tông, vì đăng một status trên trang Facebook của cô không đồng tình với một đề nghị của thành phố Hà Nội, bị chi bộ trường Trần Nhân Tông phạt cảnh cáo.
Trong cả hai sự kiện, nhiều người không hiểu tại sao lại có sự can thiệp của nhà trường. Bài viết trên Facebook, dù có phổ biến trên mạng, được coi là bài viết riêng trên trang nhà cá nhân. Bài viết lại nêu quan điểm rất rõ ràng, trình bày công khai và minh bạch trước công chúng, không vi phạm thuần phong mỹ tục, tại sao trường lại chen vô ? Không thích thì không xem, không đồng ý thì tranh luận công khai. Nếu bài viết xúc phạm hay vu khồng cá nhân hay tổ chức nào đó, thì cá nhân hay tổ chức đó kiện người viết. Trường lấy tư cách gì mà chen vào ?
Một câu hỏi khác nữa là : Ban Giám hiệu trường Trung học phổ thông Trần Nhân Tông có quyền "mời cô Hà lên làm việc" vì status của cô không ? Ban giám hiệu trường Trung học phổ thông Kiến Tường có quyền mời học sinh T. lên làm việc về nội dung status của em và sau đó ra quyết định kỷ luật hay không ? Ở một xứ như Pháp hay Mỹ chẳng hạn, cô giáo có quyền không đi dự buổi làm việc đó vì "chuyện của cá nhân tôi, không ăn thua gì các ông". Hoặc giả, cô đi dự và khi nhận quyết định cảnh cáo, cô có quyền kiện nhà trường về quyết định đó. (Học sinh T. cũng có quyền như vậy).
Câu hỏi thứ ba, theo tôi, quan trọng hơn nhiều : Hai sự việc xảy ra cách nhau một năm, tại hai đầu đất nước, nói lên điều gì ? Giữa hai sự việc đó là một chuỗi các sự việc, độc lập nhau nhưng hòa cùng tiết tấu, cho thấy hình như có một sợi dây xuyên suốt các sự việc. Ở một môi trường khai phóng và tôn trọng con người, cách hành xử như vậy không được chấp nhận và gây một làn sóng phản ứng mạnh mẽ. Tại sao ở Việt Nam những sự việc đó được lặp đi lặp lại ? Phải chăng cách tổ chức xã hội của Việt Nam nếu không ủng hộ thì cũng dung dưỡng cách hành xử như thế ?
Các sự việc cho thấy trong môi trường giáo dục Việt Nam, thầy cô và học sinh rất nhỏ bé trước cơ quan, tổ chức, ban giám hiệu. Cô giáo và bạn học sinh lớp 12 kia đều quá tuổi làm chứng minh nhân dân, quá tuổi đi bầu. Cô giáo là một người trưởng thành, có nghề nghiệp đàng hoàng, có vai trò truyền thụ kiến thức và tác phong sống cho học sinh, mà cứ bị xem như, và bị "xử" như một đứa con nít, mỗi lời nói, hành vi là bị nạt nộ, trừng mắt, hăm he hay vuốt đầu khen thưởng ! Làm sao cô giáo thành người lớn cho nổi ? Làm sao cô giáo thành một người tự do như Giáp Văn Dương mong muốn được ?
Trở lại câu nói của Giáp Văn Dương được trích bên trên, tôi không biết mục đích của hệ thống giáo dục hiện thời có phải là "đào tạo con người công cụ" hay không, nhưng với cách hành xử như thế thì nhiều sản phẩm của nền giáo dục sẽ là con người công cụ. Khi trong trường học, thầy cô và học sinh có nhiều tính cách công cụ và tuân phục thì xã hội có ít tính sáng tạo và độc lập, quốc gia thiếu năng lực phát triển.
Có phải các sự việc như trên chỉ xảy ra trong lãnh vực giáo dục ? Không, Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch qua cách đối xử gần đây với các ca khúc, cách hành xử trước các tiếng nói phản biện trong vụ bán đảo Sơn Trà… cho thấy bộ này có cùng lối tư duy và cung cách hành xử.
Có phải tất cả các sự việc đó cho người ta cảm giác rằng trong hệ thống này thì các cơ quan chức năng có nhiều tính công cụ và lệ thuộc mà kém tính sáng tạo và đột phá ? Khi cơ quan là cơ quan công cụ thì hệ thống không thể là hệ thống "kiến tạo" và tôi e rằng các quan chức quản lý cấp cao còn rất nhiều việc phải làm để đạt được mục tiêu chính phủ kiến tạo.
Muốn có kiến tạo, phải chăng một trong các việc căn bản đầu tiên cần làm là xác định tinh thần độc lập, tự do tư duy và sáng tạo như là một trong các giá trị cốt lõi ?
Lê Học Lãnh Vân
Nguồn : Một Thế Giới, 02/07/2017