Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Published in

Tư liệu

14/08/2020

Triệt luận 5 : Những hành tác triệt diệt của các người

Lê Hữu Khóa

 

triet1

Những hành tác triệt diệt của các người

Hành tác triệt diệt là bạo sách của bạo quyền độc đảng triệt hủy đi nhân tính Việt được chế tác ra từ nhân tâm Việt, nhân từ Việt, nhân tính Việt ; là tà sách của tà quyền độc đảng triệt xóa đi nhân bản Việt đã được chế tác ra từ nhân lý Việt, nhân tri Việt, nhân trí Việt ; là ma sách của ma quyền độc đảng với ma tri triệt hạ nhân phẩm Việt đã được hình thành từ nhân vị Việt, nhân đạo Việt, nhân nghĩa Việt.

Những hành tác triệt diệt của các người là phần V của Triệt luận đào sâu hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức, tỉnh thức) để vừa đi tìm văn minh của dân chủ, và văn hiến của nhân quyền qua các đính chế tiến bộ của nhân loại hiện này. Từ đó, trở về lại thảm họa của Việt tộc hiện nay đang bị độc đảng toàn trị giam cầm nhân kiếp của mình. Nơi mà Đảng cộng sản Việt Nam độc tài nhưng bất tài, vì những lãnh đạo vô học tạo nên những chính sách vô hậu cho cả một giống nòi Việt, ngày ngày bị lao lý hóa trong công an trị, tham nhũng trị, tham tiền trị…

Thức luận : văn minh dân chủ, văn hiến nhân quyền

triet02

Triệt luận đào sâu hệ thức để vừa đi tìm văn minh của dân chủ, và văn hiến của nhân quyền qua các đính chế tiến bộ của nhân loại hiện này.

Định đề của hệ thức, trên đó ta nhận ra những định luận : Kiến thức có từ kinh nghiệm hoặc từ học tập, có từ ngoại cảnh hay có từ tư duy biết lý luận, có từ tập luyện tới tinh luyện, có từ môi trường tới sự xuất hiện của tha nhân… Tri thức, là sự hiểu biết từ dữ kiện tới chứng từ, từ kinh nghiệm học tập tới trải nghiệm với xã hội như khả năng biết xếp đặt theo thứ tự để tổ chức một trật tự cho kiến thức, mà từ xếp đặt tới xếp loại, tri thức còn là khả năng trật tự hóa những ưu tiên trước các thử thách của cuộc sống…

Trí thức, không phải là một giai tầng xã hội của những kẻ có bằng cấp cao, có hiểu biết rộng, mà là sung lực của tri thức biết nhận ra sự thật bằng khách quan của khoa học, thấu được nỗi khổ niềm đau của nhân sinh bằng đạo đức trọng sự thực, quý chân lý để thăng hoa lẽ phải. Ý thức, mang lực tổng hợp của kiến thức lại có lực tổng kết của tri thức, lại có sự hiện diện của đạo lý biết nhận ra hay, đẹp, tốt, lành, lại được luân lý của bổn phận và trước nhiệm giúp nhận ra lẽ phải trước khi quyết định và hành động.

Nhận thức, là quá trình đưa kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức vào quỹ đạo của đạo lý, luân lý, đạo đức để luôn có tỉnh táo mà nhận ra sự thật, luôn có sáng suốt mà nhận ra lẽ phải, tự đó có một nhân sinh quan, một thế giới quan, một vũ trụ quan biết tôn trọng sự thật và lẽ phải. Tỉnh thức, là khả năng nhận ra những sai lầm của tha nhân, mà cũng là kỹ năng nhận ra những lầm đường lạc lối của chính mình, để phải vận dụng lại kiến thức, tri thức, trí thức, để tận dụng trọn vẹn hơn ý thức, nhận thức để khỏi bị rơi vào lỗi, tội bị kết án bởi đạo lý, luật pháp đại diện cho lẽ phải và sự thật.

Chính hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức, tỉnh thức) là gốc, rễ, cội, nguồn để phân tích và giải thích sự ra đời : hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri) ; hệ tự (tự do, tự trọng, tự chủ, tự tin) ; hệ thông (thông minh, thông thạo, thông thái) ; hệ sáng (sáng kiến, sáng chế, sáng tạo) ; hệ chuyên (chuyên cần, chuyên môn, chuyên nghiệp) ; hệ tinh (tinh lực, tinh thông, tinh hoa). Qua điền dã, điều tra, khảo sát, nghiên cứu với các phương pháp của khoa học xã hội và nhân văn, tiểu luận này phân tích để phân định, giải thích để giải luận là tất cả các hệ trên đã, đang, sẽ bị truy, diệt, khử, trừ bằng hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn) của Đảng cộng sản Việt Nam, chính là cha sinh mẹ đẻ của : hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền) ; hệ bất (bất tài, bất lực, bất tín, bất lương) ; hệ gian (gian dối, gian trá, gian xảo, gian manh) ; hệ vô (vô minh, vô tri, vô giác, vô cảm).

Điền dã, điều tra, khảo sát, nghiên cứu với các phương pháp của khoa học xã hội và nhân văn, chỉ là một công đoạn của phân tích và giải thích các hiện tượng, các dữ kiện, các chứng từ… Công đoạn tiếp theo chính là mức độ của học thuật mà cũng là trình độ của hệ thức, cụ thể là vận dụng rồi tận dụng hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận) để được đi sâu vào các hệ lụy mà cũng là hệ luận để nhận ra :

Lý luận trên các kết quả của điền dã, điều tra, khảo sát, nghiên cứu để ra đường đi nẻo về của hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn) của Đảng cộng sản Việt Nam, chính là cha sinh mẹ đẻ của hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền) ; hệ bất (bất tài, bất lực, bất tín, bất lương) ; hệ gian (gian dối, gian trá, gian xảo, gian manh) ; hệ vô (vô minh, vô tri, vô giác, vô cảm).

Lập luận trên hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức, tỉnh thức) là gốc, rễ, cội, nguồn của hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri) ; hệ tự (tự do, tự trọng, tự chủ, tự tin) ; hệ thông (thông minh, thông thạo, thông thái) ; hệ sáng (sáng kiến, sáng chế, sáng tạo) ; hệ chuyên (chuyên cần, chuyên môn, chuyên nghiệp) ; hệ tinh (tinh lực, tinh thông, tinh hoa) để thấy lối của Việt tộc qua các phạm trù của cộng hòa (tự do, công bằng, bác ái) trong không gian của đa nguyên có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền.

Giải luận trên các kết quả của điền dã, điều tra, khảo sát, nghiên cứu để nhận ra những thảm họa trên nhân kiếp của Việt tộc, tới từ bạo quyền độc đảng liên minh với tà quyền để tham quyền ; với ma quyền để lạm quyền, với quỷ quyền để lộng quyền. Đào càng sâu phân tích để được xới thật rộng giải thích : bạo quyền độc đảng sẽ thay hình đổi xác để thành cực quyền, một loại quyền lực tuyệt đối sẵn sàng khử trừ mọi đối trọng, đối kháng khác với nó. Bạo quyền độc đảng sẽ thay thân đổi dạng để thành cuồng quyền, loại quyền lực tuyệt đối sẵn sàng truy diệt mọi đối thoại, đối luận khác với nó.

Diễn luận trên các kết quả của điền dã, điều tra, khảo sát, nghiên cứu trong học thuật về Việt Nam hiện nay về vấn đề quyền lực thì không thể bỏ qua các chỉ báo về : tà quyền, ma quyền, quỷ quyền, tham quyền, lạm quyền, lộng quyền cực quyền, cuồng quyền. Thảm kịch trên số phận của Việt tộc sẽ là bi nạn của giống nòi Việt, của các thế hệ mai hậu khi Việt tộc đã để bị tà quyền, ma quyền, quỷ quyền, tham quyền, lạm quyền, lộng quyền, cực quyền, cuồng quyền, cướp đi hệ nhân của mình, nơi mà nhân tính, nhân lý bị mất nhân tri, nhân trí, bị lạc nhân bản, nhân văn, bị xa nhân nghĩa, nhân đạo, bị xóa nhân tâm, nhân từ, tựu trung là bị tước đi nhân quyền !

Vô luận : lãnh đạo vô học, chính sách vô hậu

triet3

Phát triển tuyên truyền trị, củng cố công an trị để thực hiện sâu đậm quyết sách ngu dân trị.

Vô học-vô hậu từ vốn vô học tới tuyên truyền trị, ngu dân trịvô học trị là một hệ thống độc đảng để toàn trị mà Đảng cộng sản Việt Nam áp đặt từ khi nó cướp được chính quyền cho tới nay là độc quyền trong toàn trị lên xã hội, lên dân tộc mang cấu trúc của vô học-vô hậu. Tuyên truyền ngu dân bằng đổi trắng thay đen, che giấu sự thực để trưng bày ngược lại cái phản sự thật ; thi hành một chế độ công an trị mà tuyên truyền là chế độ của dân, do dân, vì dân.

Nếu nó là một hệ thống tuyên truyền trị để cai trị thì ta phải gọi nó là tuyên truyền trị. Tuyên truyền ngu dân bằng ăn không nói có, che giấu một bản chất của một chế độ độc đảng để độc quyền trong đặc quyền, đặc ân, đặc lợi của tầng lớp lãnh đạo, cán bộ, đảng viên, rất thiểu số, bọn này ăn trên ngồi trốc, cỡi đầu cỡi cổ cả một dân tộc khoảng 100 triệu người, mà ngày ngày ra rả chúng là đầy tớ của nhân dân. Nếu nó là một hệ thống vận dụng ngu dân để quản trị thì ta phải gọi nó là ngu dân trị. Tuyên truyền ngu dân bằng cướp ngày là quan, để tổ chức cướp đất của dân bằng cách đưa vào hiến pháp đã bị Đảng cộng sản Việt Nam "hiếp định" bằng điều : "đất đai là sở hữu của toàn dân nhưng do nhà nước quản lý", để cướp đất của dân, biến dân lành một sớm một chiều thành dân oan. Nếu nó là một hệ thống độc đảng trong vô hiến, vô pháp, vô công với bản chất vô tri, vô thức, vô minh thì ta phải gọi nó là vô học trị.

Khi bạo quyền lãnh đạo, chia chát cùng tà quyền tham quan, cả hai có liên minh với ma quyền tham đất, vì tất cả bọn chúng đều tham tiền, thì hệ lụy của tuyên truyền không còn là chuyện ăn gian nói dối, mà là chuyện tổ chức để cướp của hại người, theo nghĩa sâu xa nhất mà thí dụ cụ thể là bứng dân lành ra khỏi nơi chôn nhau cắt rốn để một sớm một chiều thành dân oan, phải màn trời chiếu đất, phải đầu đường xó chợ. Tuyên truyền ngu dân như quá trình độc quyền sinh sát của một độc đảng đứng và đạp trên tất cả số phận của một dân tộc, tận dụng tuyên truyền ngu dân như một quá trình giáo dục ngu dân.

Đây là quá trình độc quyền hóa từ quyền lực tới quyền lợi của một độc đảng, vừa độc tôn vừa độc trị để truy diệt từ khả năng phát triển kinh tế tới tiềm năng làm chủ tri thức nhân bản để có cuộc sống văn minh. Độc đảng này luôn tìm mọi cách hủy diệt đa nguyên của đa đảng biết tận dụng đa trí, đa tài, đa lực, đa năng, đa hiệu… Độc đảng toàn trị mang ma trận của tư lợi hóa qua đặc quyền, đặc lợi, đặc ân, đặc sủng của một giai tầng thống trị, chỉ là một thiểu số gần 5 triệu đảng viên là thành phần nòng cốt tự lãnh đạo tới cán bộ để bòn rút tài nguyên đất nước, tiền của đồng bào, tiền tài của một dân tộc khoảng 100 triệu dân.

Từ ý đồ độc quyền làm nên con tính độc lợi chế tác ra quá trình tư lợi, tiểu luận đề nghị giải luận quá trình này vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả tới từ một quá trình chưa bao giờ được phân giải tới nơi tới chốn, đó là quá trình vô học-vô hậu. Vốn vô học của một tập đoàn lãnh đạo từ ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam 1930, tới ngày cướp được chính quyền 1945, qua giai đoạn 1954 sử dụng chuyên chính vô sản với bản chất của chuyên chính vô học, bất chấp thảm họa nội chiến của hàng triệu triệu sinh linh trong huynh đệ tương tàn, cho tới ngày cướp trọn được chính quyền trên cả nước 1975. Chiến thắng tới từ vốn vô học của loài cố đấm ăn xôi, thuộc loại vua thua thằng liều, được sự hỗ trợ của hai cường quốc chuyên chính vô sản là Liên Xô và Trung Quốc, có cùng bản chất chuyên chính vô học-vô hậu của loại trộm, cắp, cướp, giật bằng con tính bất nhân mạnh được yếu thua, với con toán thất đức sự thật chỉ mặt qua nòng súng, kiểu Mao Trạch Đông.

Vô học hóa cả một dân tộc dựa trên vốn vô học của lãnh đạo từ tuyên truyền ngu dân tới tới giáo dục ngu dân ; vô học hóa từ định chế làm nên luật pháp tới cơ chế trong sự vận hành của một xã hội. Nơi mà quần chúng liêm chính, dân chúng liêm khiết, nhân sĩ liêm minh hoàn toàn không có chỗ đứng ghế ngồi, nơi mà hiền tài là nguyên khí của quốc gia đã bị đào tận gốc bới tận rễ, để nhường chỗ cho hằng số vô học-vô hậu : quan hệ-tiền tệ-hậu duệ-đồ đệ, hằng số này có chủ thầu là vô minh, có đầu nậu là vô tri, có đầu cơ là vô trí để truy, hủy, diệt, triệt trí tuệ. Đây chính là bi kịch của đất nước hiện nay, là thảm kịch của Việt tộc, đã và đang bị trùm phủ bởi hằng số vô học-vô hậu, từ gần một thế kỷ (1930-2020).

Phân tích rõ vai trò và chức năng của trí tuệ ; chính là hiện thân của có học-có hậu khi trí tuệ được trợ lực bởi lý trí biết giải thích để nhận ra sự thật ; vì trí tuệ được trợ duyên bởi tuệ giác biết giải luận để nhận ra lẽ phải. Câu chuyện có học-có hậu chính là con đường sống của Việt tộc, đây là chân trời của tất cả thế hệ tương lai. Câu chuyện của vô luận, đề nghị một quá trình phân giải để thấy-cho-thấu hậu quả cùng hệ quả qua các hệ lụy của hằng số vô học được toan tính bởi hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc tôn, độc trị). Nó mang khuyết tật của vốn vô học, lấy bất nhân thất đức của ăn tươi nuốt sống mà nuốt trọn cái ăn hiền ở lành biết làm nên cái ăn ở có hậu trong giáo lý Việt.

Hậu quả cùng hệ quả qua các hệ lụy của hằng số vô hậu đã và đang ngăn chặn con đường phát triển kinh tế vì một xã hội tiến bộ, biết thăng hoa một dân tộc trong một đời sống văn minh, đã bị hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền) của tập đoàn lãnh đạo độc đảng toàn trị, mà bản chất là một tập đoàn tội phạm đã bứng đi cội đạo lý Việt ăn ở có nhân mười phần không khó ; đã bị bứt đi rễ giáo lý Việt đường mòn nhân nghĩa chẳng mòn. Nhập đề để nhập nội, cụ thể là nhập trí của lý trí có nhân bản, là nhập tri có nhân văn, để thấy cho thấu hằng số vô học-vô hậu mà Đảng cộng sản Việt Nam áp đặt lên nhân kiếp của Việt tộc chỉ là một hằng số : tạm thời ! và hằng số này chấm dứt sớm hay muộn là tùy vào trí thức của Việt tộc biết hay không biết vận dụng văn minh của dân chủ, biết tận dụng đa nguyên làm nên đa trí, đa tài, đa lực, đa dũng, đa năng, đa hiệu, vì văn hiến của nhân quyền để biết tự bảo vệ nhân vị lẫn nhân phẩm của mình.

Nên câu chuyện cốt lõi vẫn là có-học-để-có-hậu, câu chuyện này hoàn toàn không hề là câu chuyện về bằng cấp, nơi mà học vị lẫn học hàm hiện nay đều bị giả hóa ở những mức độ khác nhau trong hệ thống giáo dục của hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc tôn, độc trị) có anh em sinh đôi với hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền). Hệ thống giáo dục này đã và đang bị quá trình mua bằng bán cấp, giả hóa rồi tha hóa về mọi mặt, từ giáo lý, giáo luận, giáo dục tới giáo khoa, giáo trình, giáo án. Mua bằng bán cấp trong giáo dục để mua chức bán quyền ngoài xã hội từ gốc tới ngọn, cái giả đã thay thế cái thật với trường giả-học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả.

Nên câu chuyện gốc rễ vẫn là có-học-để-có-hậu, không hề câu chuyện về bằng cấp có thể bị giả, nơi mà học vị có thể bị gian, học hàm có thể bị dối, ngược lại có-học-để-có-hậu là câu chuyện : học thật của ăn ở có nhân mười phần không khó, học lực của đường mòn nhân nghĩa chằng mòn, học thuật của sống lâu mới biết lòng người có nhân. Nhập đề để nhập nội, với rào trước đón sau lấy chữ nhân làm gốc, rồi rào dậu tát ao lấy chữ học (học thật bằng học lực để hiểu học thuật) làm chủ lực để đối kháng, để kình chống, để phản kháng, để chống đối từ hậu quả tới hệ quả với tất cả hệ lụy tới từ vô học-vô hậu !

Như vậy, độc giả đừng đọc và đừng hiểu vô học-vô hậu là không có bằng cấp, trống học vị, rỗng học hàm ; mà vô học-vô hậu đây là : vô nhân làm nên vô tri, vô tri làm nên vô trí, vô trí làm nên vô giác, vô giác làm nên vô cảm, vô cảm làm nên vô tâm, mà tất cả có cùng cha sinh mẹ đẻ là : bất nhân thất đức. Nếu muốn tránh hiểu lầm mô thức vô học-vô hậu của tiểu luận vô luận này, thì độc giả hãy đọc bằng nhân tri của nhân trí, bằng nhân lý của nhân tính, bằng nhân bản của nhân văn, bằng nhân tâm của nhân từ, bằng nhân vị của nhân quyền, và chúng ta cùng nhau bảo vệ nhân phẩm của chính mình trước bạo quyền của ngu dân trị, tà quyền của tuyên truyền trị, ma quyền của vô học trị. Lập luận phản biện chống vô học-vô hậu có các phương pháp cụ thể để lội ngược dòng mọi ý đồ của tuyên truyền ngu dân do độc đảng toàn trị dùng tuyên huấn qua tuyên giáo, đã và đang gây ra nhiều hậu quả với bao hệ lụy trùm phủ lên nhân kiếp Việt tộc, lên số kiếp của nhiều thế hệ mai sau :

* Phương pháp luận của hiện tượng học trực quan của mắt thấy tai nghe, từ thượng nguồn của các chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam đề ra cho tới hiện tượng học trực diện trước các hậu quả, các hệ lụy mà Việt tộc đang phải gánh chịu hiện nay. Mà Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo tức là nó chính là chủ mưu trong quá trình vô học hóa toàn xã hội, nó cũng là đầu nậu một ý thức hệ dựa vào tuyên truyền trị, nó là đầu cơ bằng ngụy tạo qua các chính sách lấy ngu dân trị vừa làm phương tiện, vừa là cứu cánh. Hậu quả giờ đây đã rõ, từ một quê hương gấm vóc giờ đã thành một đất nước cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm từ nguồn nước tới không khí loại hàng đầu trên thế giới ; từ một dân tộc thông minh bây giờ đã thành lao nô cho các nước láng giềng, cho Tàu tặc không những cướp đất, biển, đảo, mà còn thao túng kinh tế Việt, giăng bẫy thương mại Việt và đang bóc lột nhân công Việt ngay trên đất Việt…

* Lý thuyết luận của hiện tượng học lý trí, đề nghị sử dụng lý thuyết để phê bình lý thuyết, vận dụng chủ thuyết để phê bình chủ thuyết, tận dụng luận thuyết để phê bình luận thuyết, ở đây không có chỗ đứng ghế ngồi cho hệ độc (độc quyền, độc trị, độc tài, độc tôn, độc đảng) kiểu cả vú lấp miệng em. Không gian của lý thuyết luận này có gốc, rễ, cội, nguồn của hệ đa của đa tài, đa dũng, đa năng, đa hiệu làm nên từ đa thức, đa tri, đa trí ; có chỗ dựa là đa nguyên. Chính đây mới là không gian của phương trình sự thật-chân lý : so ra mới biết ngắn dài. Nơi mà phản diện của hệ vô (vô minh, vô tri, vô giác, vô cảm, vô tâm) chính là hệ thức (kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức, tâm thức) có trí lực của hệ thông (thông minh, thông thạo, thông thái), có luận lực của hệ sáng (sáng kiến, sáng chế, sáng lập, sáng tạo).

* Khoa học luận của hiện tượng học nhận thức, biết phân tích để giải thích các hậu quả, hậu nạn tới từ các chính sách tuyên truyền ngu dân mang thực chất vô học-vô hậu. Cấu trúc của khoa học luận này tuân thủ bốn công đoạn của khoa học xã hội thực nghiệm qua nghiên cứu, điều tra, khảo sát, điền dã thực địa, nơi mà dữ kiện mang theo chứng từ, chứng tích, chứng nhân để lập lại sự thật, để dựng lại chân lý : Khoa học thuật sử tính, là công đoạn một, có quá trình sử luận, nơi mà các sự cốsự kiện mà người nghiên cứu định vị được không gian và thời gian. Nếu định vị được địa điểm và thời điểm của sử kiện thì sẽ định vị được kết quả, hậu quả, hiệu quả của sự kiện đã là sự cố hay đã là biến cố tác động lên sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội, đời sống xã hội, tổ chức xã hội, tới từ các chính sách tuyên truyền ngu dân mang thực chất vô học-vô hậu.

khoa học thuật bối cảnh là công đoạn hai, để phân tích thực cảnh của một xã hội nơi mà sự cố đã thành biến cố, để phân loại các hoàn cảnh, tại đây hoạt cảnh xã hội bị đóng khung bởi các chính sách tuyên truyền ngu dân mang thực chất vô học-vô hậu ; từ đó phân giải toàn cảnh các chính sách của tuyên truyền trị, ngu dân trị mang thực chất vô học trị. Các chính sách tuyên truyền ngu dân của độc đảng toàn trị được "chống lưng" bởi một hệ thống công an trị, và "sân sau" của các chính sách này chính là tham nhũng trị ; được bảo kê kiểu "ô dù" giữa các bè, đám, nhóm, phái… với mưu hèn kế bẩn, mà tất cả đều bị chi phối bởi tham tiền trị.

khoa học so sánh, là công đoạn ba, nơi mà mọi dữ kiện trong cùng một bối cảnh, mọi chứng từ trong cùng một hoàn cảnh, mọi cá nhân trong cùng một hoạt cảnh, đều có thể so sánh được, ở cấp độ khác nhau từ địa phương tới trung ương, ở mức độ khác nhau từ quốc gia tới quốc tế, ở cường độ khác nhau từ kiến thức tới ý thức, ở trình độ khác nhau từ tri thức tới nhận thức… Cụ thể là đưa ra ánh sáng các chính sách tuyên truyền ngu dân gây nên hậu quả và hậu nạn vô học-vô hậu, rồi vận dụng so sánh để đo đạc cường độ, mật độ, mức độ của các chính sách tuyên truyền ngu dân này, để hiểu bản chất của nó qua chính trình độ của nó.

Có khoa học tổng quan, là công đoạn bốn, với đồ hình được phân định và phân giải vừa hợp lý, vừa chỉnh lý của khoa học sử tính, khoa học bối cảnh, khoa học so sánh, để có nhận định tổng thể , từ đây hình thành sự phân loại các thành phần bằng các khuynh hướng chung, các hành vi đa số, các hành tác thiểu số, các hành động đơn lẻ của bè, đám, đảng, nhóm, phái, qua quan hệ giữa quyền lực và quyền lợi, trong không gian của tuyên truyền trị, ngu dân trị, vô học trị gây nên hậu quả và hậu nạn vô học-vô hậu.

Khi phân tích, phân định, phân loại, phân giải các chính sách tuyên truyền trị, ngu dân trị, vô học trị gây ra hậu quả và hậu nạn vô học-vô hậu, ngay trong hệ vô (vô minh, vô tri, vô giác, vô cảm, vô tâm) thì khoa học luận sẽ sử dụng hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận) để thấy-cho-thấu từ nội dung tới nội hàm của hệ quả (kết quả, hệ quả, hậu quả) mà không quên nhân quả của câu chuyện vô học về tri thức làm ra vô hậu không tương lai. Tại đây, hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức, tỉnh thức) vừa là phương pháp luận nòng cốt, vừa là khoa học cốt lõi, để xây dựng lý thuyết luận chủ đạo, từ đó cho ra đời các tri thức luận sau đây :

* Tri thức luận lịch sử, những kiến thức căn bản của thế kỷ XVIII làm nên ít nhất năm cuộc cách mạng : khoa học, kỹ thuật, tri thức, dân chủ, nhân quyền trong đó hai định luận về công bằngcông lý là những hằng số không chỉ có phương Tây, cụ thể là Tây Âu và Bắc Mỹ được thụ hưởng mà các hằng số này đã trở thành sở hữu của nhân loại, nếu nhân loại đó muốn nhân sinh sống bằng tiến bộ, muốn nhân thế sống trong văn minh. Hậu quả của vốn vô học trong não bộ lãnh đạo đã tạo ra quá trình vô học hóa ngay trong chính sách tuyên truyền ngu dân áp đặt lên hệ thống giáo dục quốc gia từ đó tạo ra bao thế hệ học sinh và sinh viên : vô kiến thức tiến bộ, vô tri thức văn minh. Rồi sau đó các học sinh và sinh viên này khi trưởng thành không hiểu được chức năng của tri thức để có được vai trò của các công dân biết đóng góp vào tiến bộ xã hội, vào văn minh của dân tộc.

* Tri thức luận giáo dục, từ khám phá tới ứng dụng vào đời sống, vào xã hội, vào định chế và vào cơ chế, thì các tiến bộ tạo nên đời sống văn minh tới từ năm cuộc cách mạng : khoa học, kỹ thuật, tri thức, dân chủ, nhân quyền biết bảo vệ và bảo đảm về công bằngcông lý, thì các tiến bộ và văn minh này phải được đưa vào hệ thống giáo dục. Một hệ thống giáo dục quốc gia, có giáo lý, giáo luận dựa trên tiến bộ, có giáo khoa, giáo án dựa trên văn minh đã có mặt trong giáo trình của trung học phổ thông dành cho học sinh tuổi thiếu niên tại các quốc gia có văn minh dân chủ, có văn hiến nhân quyền. Nếu hệ thống giáo dục quốc gia hiện nay tại Việt Nam không giáo lý, giáo luận dựa trên tiến bộ, có giáo khoa, giáo án dựa trên văn minh mà chỉ mượn hệ thống giáo dục để áp đặt tuyên truyền trị, ngu dân trị, vô học trị, thì sẽ không tránh khỏi hậu quả của vô học, sẽ không tránh được hệ quả và hệ lụy của vô hậu (vì vô tri thức nên vô tương lai).

* Tri thức luận chính sách, của một chế độ độc đảng toàn trị vận dụng tuyên truyền trị, để độc đảng được độc quyền, độc trị, độc tài, độc tôn mà đi ngược lại văn minh dân chủ, có văn hiến nhân quyền, thì tuyên truyền trị là anh em sinh đôi với ngu dân trị. Mà hậu quả ngu dân trị trước hết là tự tha hóa dân tộc của mình, kế đó là tự nô lệ hóa cho ngoại bang, và cuối cùng là tự đồng hóa từ trí thức tới giống nòi, cụ thể là trao thân gởi phận cho ngoại bang. Nghịch lý của mọi chính sách tuyên truyền trị, ngu dân trị, vô học trị tới từ tập đoàn lãnh đạo chính là các tác giả của độc đảng, các tác nhân của toàn trị, thì chính các chính sách này tự vô học hóa từ não trạng tới não bộ của họ. Nhưng thảm họa thì thật lớn cho một dân tộc, cho một giống nòi, vì các chính sách tuyên truyền trị, ngu dân trị, vô học trị tiêu diệt các nguyên khí quốc gia, hủy triệt các hiền tài của dân tộc.

*Tri thức luận trình độ, xác chứng mọi chính sách ngu dân luôn đi ngược lại với các chính sách vì dân, cụ thể là vì khoa học, kỹ thuật, tri thức, dân chủ, nhân quyền, công bằng, công lý là những quốc sách vì dân. Nhưng bản chất của các chính sách đều có cốt lõi của vần đề : trình độ ! Có những chế độ độc tài nhưng được điểu khiển và điều hành bởi các minh vương, minh quân, mình chủ, minh chúa ; cũng như có các chế độ lạm dụng hình thức dân chủ của tam quyền phân lập nhưng bị tham nhũng thối nát hóa ngay từ bên trong. Các loại dân chủ hình thức để mạo danh tam quyền phân lập này đã để bất tài diệt thực tài, thì tiến bộ không tới với dân tộc, mà văn minh cũng không có mặt trong xã hội.

Câu chuyện trình độ là câu chuyện cốt lõi để có nhận thức là trong toàn cầu hóa thông tin và truyền thông hiện nay thì quá trình khám phá khoa học, khai phá nhân quyền, khai thác sức mạnh của dân chủ đã là quá trình trực tuyến. Có tin tức tức khắc, có thông tin tức thì, có chứng từ, chứng tích, chứng nhân để chứng minh sự thật tức thời, đó là chân lý có mặt ngay bây giờ và ở đây. Nên tuyên truyền trị để ngu dân trị hoàn toàn bị phản tác dụng, vì sẽ bị vô hiệu hóa bởi tin tức tức khắc, thông tin tức thì, sự thật tức thời trong bối cảnh toàn cầu hóa truyền thông hiện nay. Vì vậy, tuyên truyền trị là bản lai diện mục của vô minh và vô tri ; và ngu dân trị là dị tướng làm nên dị dạng của vô giác và vô cảm ; tất cả làm nên vô tâm và vô trí của chế độ độc đảng toàn trị hiện nay do Đảng cộng sản Việt Nam điều hành và điều khiển.

* Tri thức luận xã hội, kiến thức của cá nhân có từ giáo dục gia đình, rồi giáo dục học đường, và sau đó là giáo dục xã hội, nơi mà sinh hoạt xã hội được trao cho các lãnh đạo có tri thức biết thừa nhận các công ích xã hội được đặt trên tự lợi cá nhân của mình. Từ tri thức tới ý thức, các lãnh đạo sẽ lần lượt nhận ra trong các quan hệ xã hội thì an sinh xã hội quan trọng hơn tính toán ích kỷ cá nhân trong quá trình sống chung để chung sống với tập thể, với cộng đồng. Chung là chia vì chia để chung, đây là căn bản để có đời sống xã hội, tại đây ý thức đã trở thành nhận thức bằng đạo lý xã hội, lấy công bằng làm cơ sở cho tổ chức xã hội, trong đó cá nhân là công dân có trách nhiệm với đất nước, có bổn phận với đồng bào. Chính công dân này chủ động để trở thành chủ thể biết vận dụng hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức, tỉnh thức) để đưa văn minh dân chủ và văn hiến nhân quyền song hành cùng các tiến bộ về khoa học, kỹ thuật, kinh tế, văn hóa, giáo dục… vào xã hội.

* Tri thức luận định chế, một chế độ toàn trị dựa trên độc đảng bám độc quyền để độc trị bằng độc tôn qua tuyên truyền trị song hành cùng công an trị để tạo dựng một định chế với hệ thống giáo dục của ngu dân trị, tạo ra một hệ thống xã hội thất nhân bất đức thất tri bất thức. Định chế này bất chấp hậu quả và hậu nạn của vô học trong tri thức, vô hậu trong nhận thức, vì ý đồ đã thành mưu toan quyết định mọi chính sách của độc đảng toàn trị là : phát triển tuyên truyền trị, củng cố công an trị để thực hiện sâu đậm quyết sách ngu dân trị. Đây là một tà lộ trong ma nghiệp (đi dễ khó về, vì dễ chết khó sống) trước nhân loại văn minh, trước nhân sinh tiến bộ của thế giới hiện nay. Chỉ vì vốn vô học của lãnh đạo chính trị vừa là gốc, rễ, cội, nguồn của tuyên truyền trị, vừa là móng, nền, tường, mái của ngu dân trị để vô học hóa toàn xã hội, toàn dân tộc. Nên sinh lộ của Việt tộc là minh lộ của văn minh dân chủ, là nhân lộ của văn hiến nhân quyền, cả hai biết bảo đảm tự do, biết bảo vệ công bằng, biết bảo hành công lý. Vì đây là nhân đạo của nhân tri, nhân trí xây nên nhân bản và nhân văn để giữ nhân vị và nhân tâm mà phục vụ cho nhân phẩm.

* Tri thức luận lãnh đạo, là xới tới nơi trong phân tích để soi tới chốn trong giải thích về hệ vô thức (vô kiến thức, vô tri thức, vô trí thức, vô ý thức, vô nhận thức, vô tâm thức) có từ vốn vô học chính là điểm khởi hành của một tập đoàn lãnh đạo mang ý đồ độc quyền lãnh đạo bằng phương án vô học hóa toàn xã hội, toàn dân tộc. Với ý đồ độc quyền lãnh đạo bằng cách ngăn chặn một hệ thống giáo dục quốc gia dựa vào khai sáng nhân tri, nơi mà giáo lý, giáo luận dựa trên tiến bộ, có giáo khoa, giáo án dựa trên văn minh đã có mặt trong giáo trình của trung học phổ thông dành cho học sinh thiếu niên tại các quốc gia có văn minh dân chủ, có văn hiến nhân quyền. Ngược lại giáo trình của trung học phổ thông này hoàn toàn không được hiện diện trong hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay đang được điều khiển và điều hành bởi ngu dân trị có dây mơ rễ má tới từ vô học trị của các lãnh tụ và các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Cụ thể là lực lượng lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã và đang đưa dân tộc, giống nòi, xã hội, đất nước vào ma lộ của vô minh, khi họ đã chặn ngay thượng nguồn mọi ánh sáng tới từ khám phá về văn hiến nhân quyền, tới từ khai phá về văn minh dân chủ.

* Tri thức luận tiến bộ, thấy để thấu vì phải thấy để tin là cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật, tri thức, dân chủ, nhân quyền, công bằng, công lý thực sự là những tiến bộ, không thể chối cải được, nên không thể không thừa nhận bởi mọi chính quyền, chính phủ có chính danh, vì có chính nghĩa do dân và vì dân. Mọi bạo quyền công an trị, mọi tà quyền tuyên truyền trị, mọi ma quyền ngu dân trị đều là bọn âm binh mang quỷ nghiệp trong điếm tri khi chúng đi ngược lại nhân lộ trong ánh sáng của văn minh dân chủ và văn hiến nhân quyền. Bọn âm binh này mới chính là bọn phản động, theo đúng ngữ vựng, ngữ văn, ngữ pháp của từ phản động được định nghĩa và định luận là : những cá nhân, bè nhóm, đảng phái, tập đoàn lãnh đạo đi ngược lại văn minh dân chủ ; đi trái chiều với tiến bộ khoa học biết bảo vệ nhân sinh ; đi nghịch hướng với văn minh nhân tri biết bảo vệ nhân quyền, đi ngược dòng tiến hóa của nhân loại.

* Tri thức luận văn minh, khi tiến bộ song hành cùng văn minh là khi khám phá khoa học và ứng dụng kỹ thuật tạo ra phát triển sản xuất để tạo thăng tiến kinh tế. Thì cùng lúc các tiến bộ và văn minh này đã phát huy dân chủ và nhân quyền ; những tiến bộ và văn minh cũng là những công cuộc đấu tranh để bảo vệ công bằng chống bất bình đẳng, để bảo đảm công lý chống bất công. Mà bất bình đẳng và bất công tới từ các chính quyền mà thực chất là bạo quyền sử dụng tà quyền để tham quyền ; là ma quyền vận dụng lạm quyền để lộng quyền ; là điếm quyền tận dụng cực quyền để cuồng quyền. Loại chính quyền âm binh này ngày đêm rình rập dân chúng bằng công an trị, ra rả qua nhồi sọ bằng tuyên truyền trị, rà rỉ qua tẩy não bằng ngu dân trị, luồn lách bằng vô học trị qua mua bằng bán cấp (học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả), để mua chức bán quyền (cao học gian, tiến sĩ giấy, học vị lừa, học hàm lận).

* Tri thức luận dân chủ, nơi đây tiến bộ và văn minh đã rõ nét trên nhiều lãnh vực, có hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức, tỉnh thức) để bảo vệ hệ thống giáo dục quốc gia, nơi mà giáo lý, giáo luận dựa trên tiến bộ của lý trí, có giáo khoa, giáo án dựa trên sự khai hóa của trí tuệ. Có hệ nhân (nhân lý, nhân tính, nhân tri, nhân trí, nhân bản, nhân văn, nhân tâm) biết bảo trị nhân vị, biết bảo đảm nhân quyền, và nhân phẩm luôn được bảo vệ bởi hệ công (công bằng, công lý, công tâm, công luật). Chính dân chủ với tự do đầu phiếu trong tự do ứng cử và bầu cử là nơi mà nguyên khí của quốc gia là các hiền tài của dân tộc được nhập nội vào hệ đa (đa tài, đa trí, đa lực, đa năng, đa hiệu) làm nên đa nguyên để đa đảng được hiện diện từ chính quyền tới chính phủ. Chính tri thức luận dân chủ là điểm khởi hành trên nhân lộ của khai sáng văn minh dân chủ, để xóa đi tuyên truyền trị, để khử đi ngu dân trị, để tẩy đi vô học trị, mang hậu quả và hậu nạn của vô hậu, vì vô tri thức nên vắng chân trời.

* Tri thức luận nhân quyền, là công cuộc đấu tranh cho toàn bộ hệ nhân (nhân lý, nhân tính, nhân tri, nhân trí, nhân bản, nhân văn, nhân tâm, nhân vị, nhân đạo, nhân quyền, nhân phẩm). Tại đây, tri thức luận nhân quyền trực diện để chống lại tuyên truyền trị, mang chân dung của ngu dân trị, có chân tướng vô học trị, tới từ độc đảng trị là cha sinh mẹ đẻ của bạo quyền công an trị, được "chống lưng" bởi tà quyền tham nhũng trị, có "sân sau" của ma quyền tham tiền trị. Một bên là ánh sáng của nhân quyền biết tôn trọng dân chủ để tôn vinh công lý, để thăng hoa tự do công bằng và bác ái. Ánh sáng của cộng hòa (tự do, công bằng, bác ái) và ánh sáng của nhân quyền (dân chủ, đa nguyên, văn minh) tạo nên hùng lực khai sáng nhân tri để khai hóa nhân trí, để lột mặt nạ tuyên truyền trị, ngu dân trị, vô học trị, để vạch mặt chỉ tên độc đảng trị, tham nhũng trị, tham tiền trị.

Bạo quyền độc đảng hiện nay đi ngược lại mọi tiến hóa của nhân loại vì nhân quyền, đi nghịch hướng với tự do vì công bằng ; đi trái chiều với dân chủ vì văn minh và tiến bộ. Mà thảm kịch là tuyên truyền trị, ngu dân trị, vô học trị đã và đang hủy diệt hệ thông (thông minh, thông thái, thông thạo) lẫn hệ sáng (sáng kiến, sáng chế, sáng lập, sáng tạo) của Việt tộc, một dân tộc không hề thua kém các dân tộc láng giềng cùng văn hóa tam giáo đồng nguyên với Việt Nam đó là : Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan… Nhưng giờ đây dưới sự lãnh đạo toàn trị trong ngu dân, độc đảng với vốn vô học đã biến thanh niên Việt thành lao nô, phụ nữ Việt thành nô tỳ trong các quốc gia láng giềng này. Hậu quả của vô học-vô hậu là : nô lệ, nô bộc, nô công, nô tỳ… Hãy tổng kết lại các liên minh trong học thuật : phương pháp luận của hiện tượng học trực quan ; lý thuyết luận của hiện tượng học lý trí ; khoa học luận của hiện tượng học nhận thức. Hãy đúc kết lại các liên hiệp trong khảo sát : khoa học thuật sử tính, khoa học thuật bối cảnh, khoa học thuật so sánh, khoa học thuật tổng quan. Tất cả tạo ra liên kết lại các liên đới trong điều tra : tri thức luận lịch sử, tri thức luận giáo dục, tri thức luận chính sách, thức luận trình độ, tri thức luận xã hội, tri thức luận định chế, tri ri thức luận lãnh đạo, tri thức luận tiến bộ, tri thức luận văn minh, tri thức luận dân chủ, tri thức luận nhân quyền. Khi đã có tổng kết lại các liên minh trong học thuật, đúc kết lại các liên hiệp trong khảo sát, liên kết lại các liên đới trong điều tra, thì đây là lúc áp dụng mô thức học thuật của cụ Tiên Điền Nguyễn Du là : "Phải lần cho tới tận nguồn lạch sông" để xới tới cội, bới tới nguồn của độc đảng trị, tham nhũng trị, tham tiền trị ; để đào tới gốc, tới rễ của tuyên truyền trị, ngu dân trị, vô học trị.

Các người đã

Điếm nhục hóa giáo dục

triet4

Cô giáo Trần Thị Thu Trà (giáo viên đứng lớp) dùng thước kẻ, gậy tre và điện thoại đánh một bé gái Phàn Chung Thủy (học sinh lớp 1 tại điểm lẻ của Trường tiểu học xã Phìn Ngan, Lào Cai) trọng thương phải đưa vào Bệnh viện Lào Cai cấp cứu (05/04/2016)

Bạo quyền độc đảng lãnh đạo hiện nay đã tha hóa nền giáo dục nước nhà, đã đưa phản xạ vắng nhân cách của họ : hèn với giặc, ác với dân, vào không gian giáo dục, vào môi trường học đường. Đưa không khí hèn vào các ứng xử không có đạo lý khi có một vài thầy cô không có đủ can đảm để bảo vệ sinh viên của mình đấu tranh cho lẽ phải, có lòng với dân, có tâm với đất nước. Không khí hèn lan tỏa rồi trùm phủ lên thái độ sống của vài (hoặc nhiều) thầy cô, đúng ra họ phải là trí thức có đạo lý, tức là phải thẳng đầu-ngay lưng-vững chân, ngược lại họ lại cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối trước bạo quyền độc đảng, trước tà quyền cấp bộ, trước ma quyền cấp trường, qua chuyện buôn bằng bán cấp trong hệ thống giáo dục.

Gian lận trong mua chức bán quyền trong cơ chế, mà trong đám chóp bu lãnh đạo đã có kẻ buôn dân bán nước cho Tàu tặc đã chiếm biển, chiếm đảo của ta ; cho Tàu họa với thực phẩm bẩn, hóa chất độc ; cho Tàu họan đã và đang hủy diệt môi trường Việt, môi sinh Việt ; cho Tàu nạn với bọn đầu cơ các công trình, đầu nậu luôn trong chuyện buôn người, tất cả chúng đang bần cùng hóa, đang bẩn thỉu hóa Việt tộc. Ý đồ của Tàu tặc-Tàu họa-Tàu họan-Tàu nạn đang diễn biến trước mặt chúng ta, với sự thông đồng của bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền. Hãy dùng nội dung của nghĩa vụ học để chế tác ra nội công cho phân tích, làm nên nội lực cho giải thích để thẳng thắn kết luận : tất cả bọn Tàu tà với ý đồ xâm lược nước ta, thông đồng trong bóng tối với bọn độc tài trong độc quyền phản dân hại nước, tất cả chúng chỉ là : âm binh ! (tà kiếp trong âm lộ). Khi sinh viên biết xuống đường để nói lên : ý thức yêu nước, nhận thức thương nòi với sự tỉnh thức phải bảo vệ quê hương, dân tộc tới cùng ; thì đúng ra là tất cả thầy cô có nhân cách thẳng đầu-ngay lưng-vững chân phải ủng hộ sinh viên. Không có nhân cách trong giáo dục, thì đừng mong có phong cách trong giáo khoa, thì đừng mong có tư cách trong giáo án, để trao truyền kiến thức đàng hoàng và tử tế tới sinh viên, học sinh [1].

Câu chuyện hèn với giặc, ác với dân, mang không khí hèn vào giáo lý, nó cũng mang không khí ác vào quan hệ thầy cô với học trò, cái ác ngày ngày xuất hiện trong không gian giáo dục, trong môi trường học đường hiện nay của Việt Nam, khi dân tộc và đất nước bị lãnh đạo bởi cái bạo, cái tà, cái ma, cả ba cái này làm nên cái ác bằng cái bạo. Trong đó có bạo động giữa thầy cô với học trò, bạo hành giữa học trò với nhau, bạo lực lên ngôi một cách thô tục nhất ; khi mà cái ác liên minh với cái bạo, nó điếm nhục hóa cả một hệ thống giáo dục ! Với tên bộ trưởng bộ giáo dục viết-rồi-bôi chuyện "trừng phạt" sinh viên : "bán dâm quá bốn lần" ; đây là cách hành văn của bọn ngọng ngôn ngữ, điếc ái ngữ, lòa nhân tri, què trí tuệ. Chúng điếm nhục hóa cả một hệ thống giáo dục, (gian giáo trong điếm lộ !).

Các người đã

Âm binh hóa công an

triet5

Lực lượng Cảnh sát cơ động sẵn sàng đánh đập dã man những ai dám phản đối chính quyền độc đoán - Ảnh minh họa

Các công an đã hành hung dân chúng với bạo lực ở cấp thô bỉ nhất, đã nhục mạ con với ngôn từ tục tỉu nhất, với phong cách hành xử bỉ ổi nhất của họ, con hãy chọn bốn phân tích sau [2] : phân tích chiều ngang, đây là loại chỉ biết thô tục qua bạo động vì họ không được giáo dục về đạo lý, luân lý, đạo đức, vì Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo họ chỉ dạy họ bạo lý, tà lý, vô đức. Phân tích chiều cao, đây là loại chỉ biết buộc tội bằng bạo lực vì họ không được giáo dục về hệ lương (lương tâm, lương tri, lương thiện) và hệ liêm (liêm chính, liêm sỉ, liêm khiết).

Phân tích chiều sâu, đây là loại chỉ biết thóa mạ bằng vô minh, làm nên loại người vô tri, vô giác, nên rất vô cảm trước các chủ thể đại diện cho hệ lương và hệ liêm như con và các sinh viên, thanh niên, mọi thành phần xã hội trong tháng 6 năm 2016 đã đầy đủ bổn phận công dân trước họa "buôn dân bán nước" của tập đoàn tội phạm đang cai trị nước ta. Phân tích chiều rộng, qua lịch sử : con và các người đã xuống đường trong năm tháng đó là : những đứa con tin yêu của Việt tộc ! Mà trong lịch sử Việt tộc đã là một dũng tộc đánh thắng bao lần ngoại xâm phương Bắc ; là một minh tộc, biết thắng Tàu tặc trong lịch sử bằng chính sự thông minh của mình : Ngô Quyền, Lê Đại Hành, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung [3].

Vào giáo lý được giáo dục tôn vinh, được đạo lýđạo đức xướng danh trong những thử thách của nhân loại, trong những thăng trầm của nhân sinh, qua hai phân tích của hai triết gia có chỗ đứng trung tâm trong tư tưởng hiện đại[4] : Levinas, ngọn núi cao của hiện tượng luận cùng lúc lại là bình nguyên mênh mông của triết đạo đức, yêu cầu trước khi ta phân tích về cách hành xử bạo ác của kẻ nắm bạo quyền để phán quyết về nhân cách và số kiếp của họ, Hãy trở lại để đào sâu ngay trong nhân tính a : chất thánh ! Nếu chất thánh có trong mỗi ông thánh, thì chất thánh này có trong mỗi chúng ta : đạo Chúa gọi nó là vị tha, đạo Phật gọi nó là từ bi, chế tác ra bao dung, rộng lượng, khoan hồng để mở đường cho tha thứ.

Derrida, chủ trì phải tháo cấu trúc tư tưởng để hiểu kiến trúc nhân tính, dặn chúng ta khi vị tha, từ bi, bao dung, rông lượng, khoan hồng để mở đường cho tha thứ, tha lỗi, tha tội. Mà nếu đúng là tha thứ thì phải tha thứ những chuyện không tha thứ được ! Mà nếu đúng là tha lỗi thì phải tha lỗi những chuyện không tha lỗi được ! Mà nếu đúng là tha tội thì phải tha tội những chuyện không tha tội được ! Còn tha thứ vì muốn được sống yên, tha lỗi vì muốn được sống lâu, tha tội vì muốn được sống riêng thì tha thứ, tha lỗi, tha tội chỉ loại này chỉ là vụ lợi bằng ích kỷ, không phải là tha thứ thật, tha lỗi thật, tha tội thật[5].

Các người đã

Hèn hạ hóa học thuật

 

Trí thức hiện nay phải lãnh nhận tất cả hậu quả mà nền giáo dục tuân theo giáo điều của độc đảng bằng độc tài hiện nay tại Việt Nam chỉ cho phép các người nghiên cứu là mô tả tin tức rồi kể lể dữ kiện. Đảng trị không cho phép tự chủ để phân tích, có tự tin để giải thích, có tự do để phê bình, mà chính sự khách quan phê bình là hùng lực của học thuật, hùng lực này không hề được cổ súy trong một chế độ chính trị độc tài (lại bất tài) hiện nay tại Việt Nam.

Tại các quốc gia có dân chủ, tự do, nhân quyền, nên lãnh đạo dựa vào văn hóa, nên có nghiên cứu dựa vào văn minh, nên có học thuật dựa vào văn hiến ; mà giới trí thức trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn còn tự cho phép mình khi có tác phẩm riêng thì đi tiếp bước nữa để tự xây sự nghiệp riêng, và sự nghiệp này sẽ làm nền cho tư tưởng riêng của tác giả đó, mà không bị ý thức hệ độc đoán (vì độc tôn) nào vu cáo, buộc tội, bỏ tù. Nếu không có phương trình tác giả riêng-tác phẩm riêng-sự nghiệp riêng-tư tưởng riêng thì đừng mong cầu là nền học thuật, chuyện nghiên cứu hiện nay của Việt Nam được song hành với các nền học thuật tiến bộ trong dân chủ, văn minh trong nhân quyền. Nên ở đây từ : riêng quý báu vô cùng, đó là chỉ báo khoa học cho sự nghiệp nghiên cứu, nơi mà tự do riêng của mỗi người làm nên nhân cách liêm chính của người đó trong học thuật.

Các bạn trẻ hiện nay đa số ít đọc, lạ lẫm ngay trên đường đi nẻo về của học thuật, nhưng cũng có các bạn trẻ đọc nhiều và kỹ vì họ chăm chỉ, để đi tìm hệ chuyên, lấy chuyên cần để tạo ra tinh chuyên, thực sự chuyên nghiệp để được công nhận là chuyên gia trong chuyên môn của mình. Chuyện tầm sư học đạo làm kim chỉ nam cho nhân cách cá nhân biết tôn sự trọng đạo. Nếu các bạn trẻ hiện nay, đọc nhiều để hiểu nhiều theo lời khuyên của Rousseau : "Les hommes soyez humains" (Con người ơi hãy giữ nhân tính).

Nên giới học thuật rất xa lạ với các bạn trẻ không học cũng chẳng đọc, suốt ngày tụ họp trong quán nhậu, rồi la cà qua các quán cà phê, trong khi Tàu tặc ngoại xâm đang cướp lãnh thổ và lãnh hải của Việt tộc, trong khi giặc nội xâm là tà quyền tham nhũng đang bòn rút tận xương tủy tiền của của dân tộc và tài nguyên của đất nước. Giới học thuật càng lạ lẫm hơn khi các bạn trẻ thích nhậu, thích la cà tán gẫu mang đầy ảo tưởng khi họ tán dóc với nhau là : dân tộc Việt rất thông minh, người Việt Nam rất giỏi… mà họ không thấy là chế độ độc tài nhưng bất tài từ quản lý tới quản trị nhưng luôn muốn độc trị hiện nay đang vùi tuổi trẻ xuống bùn nhơ, trai thì đi làm lao nô, gái thì đi làm tiện tỳ cho các nước làng giềng.

Các người đã :

Bất nhân hóa lý trí Việt

 

Hệ lý, tức là lấy lý luận để lập luận, tìm giải luận để diễn luận, qua hành trình đi tìm hệ nhân, tức là lấy nhân tính để đi tìm nhân lý qua nhân tri tạo nên nhân trí ; rồi đào nhân tâm, xới nhân từ, vung nhân nghĩa để tạo nhân bản, giữ nhân văn, và bảo vệ nhân vị, để vượt thoát các thử thách của nhân thế, để vượt thắng các thăng trầm đang đe dọa nhân sinh.

Hệ công, đấu tranh vì công bằng, để xã hội có công pháp, dân tộc có công luật, giữ vững công tâm để hiểu hệ lương, nơi mà hành động lương thiện tạo ra hành tác có lương tri, nơi đây tri thức của thiện luôn có nguồn là lương tâm, làm nên cái sạch cho nhân phẩm, làm nên cái trong cho nhân tính, sạch và trong chế tác ra cặp đôi "chung lưng đấu cật" : công cạnh lương.

Hệ tự, dụng tự do để xây tự chủ, dùng tự tin để giữ tự trọng, lấy tự quyết để gạt bạo quyền lãnh đạo buôn chức bán quyền, tà quyền tham quan buôn bằng bán cấp, ma quyền buôn thần bán thánh, chính hệ tự này sẽ cho ra đời hai đứa con sinh đôi : hệ thông, nơi mà thông minh làm nên thông thái ; và hệ sáng, nơi mà sáng kiến mở đường cho sáng tạo.

Từ khi cướp được chính quyền cho tới khi độc quyền trong độc đảng với độc đoán của loài cuồng quyền, thì Đảng cộng sản Việt Nam đã triệt lý trí việt, cụ thể là thủ tiêu hệ luận ; nơi mà độc trị sinh ra quái thai của nó là toàn trị đã giết đi hệ nhân ; nơi mà độc quyền trong lạm quyền đã giết đi hệ công ; nơi mà độc trị trong độc tôn đã giết đi hệ lương ; nơi mà độc tài trong bất tài đã giết đi hệ công, rồi tiêu diệt luôn cả hệ : tự !

Các người đã

Đồi bại hóa trí thức Việt

 

Trong lịch sử cận đại và hiện đại của Việt Nam, từ ngày lập Đảng cộng sản Việt Nam, năm 1930 cho tới nay không có lần nào lãnh đạo đảng này nghe những lời khuyên nhủ của trí thức. Cụ thể là họ diệt trí thức : Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường… Còn văn nghệ sĩ, thì danh sách bị họ hãm hại rồi truy diệt không kể hết đâu : Trần Dần, Lê Đạt, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Phùng Quán, Phùng Cung… Lịch sử của Đảng cộng sản Việt Nam là lịch sử diệt trí thức để dẹp tri thức !

Trong xã hội hiện nay, Đảng cộng sản Việt Nam không hề nghe quần chúng. Nếu Đảng cộng sản Việt Nam nghe thì họ đâu biến dân chúng, thành dân oan, dân đen ! Nếu họ chân thành nghe lời than, tiếng oán trong nhân quần thì Đảng cộng sản Việt Nam nên bỏ ngay cái thói cai trị dân bằng bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham quan, ma quyền tham nhũng, mà tổ chức tự do đầu phiếu. Đảng cộng sản Việt Nam có thể bắt đầu bằng trưng cầu dân ý và chỉ cần hỏi một câu thôi là : "Việt tộc có đồng ý cho Đảng cộng sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo dân tộc và đất nước không ?", hoặc "Việt tộc muốn có tự do, dân chủ, công bằng qua đa nguyên để có đa đảng, để tập hợp được đa tài, đa trí, đa năng, đa hiệu… không ?". Kết quả đầu phiếu trong dân chủ chân chính là hiệu quả của chân lý.

Trong sinh hoạt trí thức, các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam không có lần nào họ thành tâm đối thoại với trí thức. Làm sao Đảng cộng sản Việt Nam dám đối thoại qua đối luận với trí thức, vì Đảng cộng sản Việt Nam biết rất rõ là họ không có hệ thức (lấy kiến thức để xây tri thức, trồng trí thức ; lấy ý thức để dựng nhận thức, để lãnh đạo trong tỉnh thức). Tại các quốc gia có tự do trong dân chủ, lấy nhân quyền làm nhân cách, các lãnh đạo thường xuyên gặp gỡ và đối thoại với trí thức trên truyền hình, truyền thanh, chưa kể qua các hội thảo, hội nghị, hội luận, từ quốc gia tới quốc tế, các lãnh đạo này họ không hề thiếu hệ thức, nên họ không né, không lách giới trí thức.

Thiện chí đối thoại để sự thật được công nhận như chân lý, rồi nhận chân lý để tìm ra lẽ phải cho nhân tính lẫn nhân sinh trong xã hội Việt hiện nay đang bị không những tha hóa nặng nề mà còn bị khổ sai hóa, âm binh hóa, Tàu nạn hóa… Không được quên dân oan, đang gào công lý, hét công luận, thét công luật, hiện tượng luận nhân kết để báo động cho đồng bào khi độc đảng dùng độc tài để cướp đất, phá nhà dân chúng, thì ai cũng có thể là nạn nhân. Vật đổi sao dời ! Vì nắng sớm chiều mưa bạn ạ ! Vì không ai giầu ba họ, không ai khó ba đời !

Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, vô sản trong vụ lợi vì họ đã có nhà, có của bên Châu Âu, có cả thẻ xanh để định cư tại Mỹ, lúc chúng cao bay xa chạy. Tà kiếp trong điếm lộ ! Nên các từ ngữ : bạo quyền sinh ra tà quyền, ma quyền sinh ra âm binh. Mà âm binh của Đảng cộng sản Việt Nam là bọn bút nô, ký nô, văn nô, bọn này chuyên nghề vu khống, vu cáo, chúng chỉ là ma xó, ma bùn, ma trơi… Một loại ký sinh trùng trong tà dạng của âm binh ! Mà người miền Bắc của bạn gọi là "chó cắn trộm" ! Và Trần Dần nạn nhân của chúng sau Nhân Văn Giai Phẩm, đặt tên cho chúng là bọn "chém sau lưng".

Các người đã

Thô tục hóa lương tâm Việt

 

Lương tâm dựa vào lương thiện để xây dựng lương tri biết vận dụng kiến thức để hiểu nhân loại, biết dụng tri thức để thấu nhân sinh, biết vận hành trí thức để nhập nội vào nhân thế, biết vận dụng ý thức để hướng dẫn vào nhân quần, biết mô thức hóa nhận thức để giúp nhân tình tỉnh thức ! Lao tác trong sự nghiêm túc của lý trí, sự nghiêm minh của trí tuệ, làm nên tuệ giác để phân tích khách quan các dử kiện xã hội, các diễn biến nhân văn. Một trí thức khi được đào tạo qua quá trình khoa học, chưa đủ ! Một trí thức phải có đạo lý hay, đẹp, tốt, lành, làm nên luân lý có bổn phận với dân tộc, có trách nhiệm với đất nước ; chính đạo lýluân lý này là gốc, rễ, cội, nguồn dựng lên giáo lý để định hướng giáo khoa, giáo trình, giáo án làm nên giáo dục cho xã hội, cho quốc gia, cho dân tộc.

Trong môi trường giáo dục mang lý trí của khoa học qua những mô hình của kiến thức làm nên mô thức cho trí tuệ, thì chính phương trình sự thật-chân lý-lẽ phải dẫn dắt ngữ vựng, ngữ văn, ngữ pháp chớ không phải ngược lại. Nói gần nói xa, không qua nói thật ! để có lời thẳng thắn của tổ tiên ta : So ra mới biết ngắn dài. Vì mọi chuyện trong cuộc đời của một người trí thức đều là chuyện của mức độ làm nên trình độ của bạn, của tôi trong trí giới cũng như trong giáo giới. Trình độ can-dự-để-can-thiệp từ kiến thức tới lý trí, từ trí tuệ tới lý luận, từ đạo lý tới đạo đức. Khi nghiên cứu, khảo sát, điều tra, điền dã thực địa thì : lý thuyết luận (lấy lý thuyết mới trợ lực cho lý thuyết cũ) để hiểu thực tế của nhân sinh, với phương pháp luận (lấy phương pháp này để hỗ trợ cho phương pháp kia) để thấu thực cảnh của nhân thế, rồi dụng khoa học luận (lấy khám phá khoa học để củng cố các định đề của khoa học) để thấm vào số kiếp của nhân loại. Cả ba lãnh vực tri thức này khơi lên một cách trực tiếp hay gợi ra một cách gián tiếp : sự hình thành nhân sinh quan ta trước nỗi khổ niềm đau của nhân quần, thế giới quan trước các thăng trầm của nhân gian, vũ trụ quan của ta với muôn vật, muôn loài, trong đó môi trường có môi sinh được quyền sống, không những có động vật, thực vật, mà cả mọi sinh vật hữu hình hoặc vô hình trong cuộc sống[6].

Các người đã :

Bất công hóa công tâm Việt

 

Lương tri trí thức chống bất công, loại bất chính, xóa bất lương, vất bất nhân khi thấy dân oan bị phá nhà, cướp đất, đuổi ra khỏi môi trường sống của mình, của gia đình mình và của tổ tiên mình. Bị cướp nhà, cướp đất là bị vừa động đất, vừa động trời. Đây không phải là mất mát mà là mất hết, đây không phải là mất mùa mà là mất trắng !

Song hành cùng dân oan bao ngày tháng qua bằng học thuật, lấy khảo sát, nghiên cứu, điều tra, điển dã để minh chứng rồi xác chứng đây là chuyện trộm, cắp, cướp, giựt đất của dân, đây là chuyện : không thể chấp nhận được ! Đây không phải là bất công tới từ bất bình đẳng mà là cả một hệ bất : bất chính của một hiến pháp của ma thức (chớ không phải mô thức) : đất đai là sở hữu của toàn dân, do chính phủ quản lý, đảng chỉ đạo, loại câu chữ này thật bất lương, vì nó biến đất của công dân thành đất trong tay bọn bất nhân (bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham quan, cấu kết với ma quyền tham đất vì tham tiền), để trộm, cắp, cướp, giựt có tổ chức.

Hãy xem lại các bài học căn bản của xã hội học : bất bình đẳng có mặt trong đời sống xã hội, trong sinh hoạt xã hội, trong quan hệ xã hội ! Còn bọn bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham quan, ma quyền tham đất để tham tiền, tất cả chúng nằm trong hệ bất (bất chính, bất lương, bất nhân) đây lại là phạm trù của đạo đức học, phải lấy hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri) ra để trực diện mà trực luận với chúng.

Các người đã

Oan hóa nhân sinh Việt

 

triet6

Những dân oan này bị cướp mất nhà đất tại các địa phương mà không được giải quyết trong nhiều năm qua. Họ tụ tập bên ngoài Quốc Hội ngày thứ Tư, 5 tháng 6, 2019, để kêu gọi nhà nước hãy thực thi công lý với người dân.

Hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri) trong câu chuyện lương tri trí thức, hãy nhớ lời dặn dò của Thomas Mann, sau ngày bọn giết người Đức quốc xã sụp đổ là : khi nhìn thì phải thấy ! Nhìn mà không thấy thì khác gì mù lòa. Ông trách dân tộc Đức ông là bọn giết người Đức quốc xã không phải trên trời rơi xuống để gây ra thế chiến thứ hai (1939-1945), cùng lúc thảm sát người Do thái trong chương trình diệt chủng của chúng. Bọn này đã xuất hiện rồi thắng cử trước sự cúi đầu và nhắm mắt của dân tộc Đức, từ những năm 1930.

Nhìn mà không thấy hệ bất (bất chính, bất lương, bất nhân) thì chắc chắn là có lỗi, đừng để lỗi biến thành tội với đồng bào và tổ quốc ! Việt kiều đặt chân tới Hà Nội là thấy dân oan nằm ngồi la liệt tại cơ quan tiếp dân của Trung Ương, đường Ngô Thị Nhậm, Việt kiều đặt chân tới Sài Gòn là thấy dân oan vật vờ qua lại khu Thủ Thiêm ; vậy mà các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam sống hằng ngày trên đất nước lại không thấy, coi dân oan như không có, vì nhìn mà không thấy. Không thấy dân oan ngoài đường giữa phố đã là chuyện lạ ! Lại không thấy dân oan đòi công lý qua mạng xã hội thì càng lạ !

Bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham quan, ma quyền tham đất lấy cái man trá để chế tác luật rừng man rợ của chúng : đất đai là sở hữu của toàn dân, do chính phủ quản lý, đảng chỉ đạo… Nên muốn hiểu về định lượng của bất công trong chế độ có lãnh đạo bất nhân tại Việt Nam hiện nay, không được quên phân tích vĩ mô ! Theo nghiên cứu hiện nay thì Việt Nam hiện nay là đất nước "phá kỷ lục về dân oan", không phải hàng trăm ngàn mà đã là hàng triệu trên ba miền của đất nước. Nếu chính quyền độc đảng hiện nay mà liêm chính thì hãy làm thống kê liêm sỉ về con số này, chính quyền chỉ cần lấy chỉ báo qua các đơn kiện, thì mọi việc sẽ rất rõ ràng. Tự do nghiên cứu, điều tra, khảo sát, điền dã… qua định lượngđịnh chất để biết thực chất của chuyện oan khiên này, là phạm trù của khoa học xã hội nhân văn nhưng không hề có trong một chế độ độc đảng toàn trị.

Các người đã

Bẩn thỉu hóa tuệ giác Việt

 

Tuệ giáccủa công bằngdân oan họ đã thưa kiện mọi nơi, họ đã đi "cùng trời cuối đất" để "kêu oan" ; mọi cơ quan có thẩm quyền đã thông đồng với nhau là không xử lý nổi oan của họ bằng công lý, mà nhắm mắt làm ngơ để họ tiếp tục sống trong "màn trời chiếu đất", sáng chiều "đầu đường xó chợ". Họ kêu gào rồi lang thang từ hành pháp tới tư pháp, họ thét gọi các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam phải cứu họ, nhưng"tứ bề im ngặt" nên họ phải tới quốc hội rồi trần truồng và gào thét công bằng giữa phố thị. Vì tại đây thì họ tin là có thể gặp để gọi được các đại biểu do họ bầu ra để bảo vệ họ mà ! Nhưng buồn thay"nồi nào úp vung nấy", họ chỉ gặp các đại biểu mà tuyệt dại đa số là đảng viên lấy "kịch trường" Quốc hội để diễn "hài kịch" cúi đầu-cong lưng-bấm nút, để bật đèn xanh cho các âm mưu của bạo quyền lãnh đạo ở cấp bộ chính trị. Nhưng "kịch trường" Quốc hội của các "hài kịch" lại chính là "bi kịch" của Việt tộc, trong Quốc hội có một lực lượng đại biểu "hao tiền tốn của" cho thuế dân, lại âm mưu bằng thỏa hiệp âm binh với độc đảng : xảo nghiệp trong điếm trường !

Hãy "kiểm chứng thực địa" là ra đường vào dịp Tết gần nơi bạn đang cư trú để nhìn-và-thấy có hàng trăm dân oan vẫn ra Hà Nội, dù biết các cơ quan lãnh đạo đã đóng cửa nghỉ Tết ! Dân oan nằm lăn lóc trên đường Ngô Thì Nhậm, với khí trời lạnh mùa đông miền Bắc. Tại sao vậy ? Tại vì họ không còn đất, còn nhà, họ mất hết, họ tới thủ đô để kêu oan, để đòi công lý, mà lãnh đạo chính quyền phải trả lại công lý cho họ, Đảng cộng sản Việt Nam đừng lẻo miệng là "đầy tớ của dân" nữa ! Lãnh đạo đừng lẻo lưỡi "phục vụ dân", hãy thật sự phục vụ nhân dân, bằng cách chống bất công, chống bạo quyền, hãy bảo vệ dân bằng tuệ giáccủa công bằng.

Trí tuệ của lãnh đạo bắt đầu bằng trực diện để trực quan : các cơ quan có những tòa nhà đắt tiền, rộng lớn, cũng từ tiền thuế của dân mà ra ; chính các cơ quan đó, từ địa điểm của các hội đoàn tới các địa danh của của chính quyền, thì tất cả cửa nẻo đóng im ỉm ngay cả ngày hành chính bình thường, nơi mà chung quanh dân oan đứng, ngồi, nằm la liệt, họ đang đi ăn xin công lý đấy ! Họ trực diện với một chính quyền vô phép trước công pháp đấy !

Hiện nay, dân chúng có kinh nghiệm với một chính quyền đi bắt cóc các nhà vận động dân chủ, tuyên bố xử họ công khai nhưng chặn công dân đi dự ngay trước cổng tòa, bỏ tù các nhà vận động dân chủ nhưng khi thả họ ra thì không có chứng thư giam giữ và phóng thích, cùng lúc chối leo lẻo trước quốc tế là Việt Nam : không có tù nhân lương tâm. Một chính quyền bắt cóc dân-xử đóng cửa tòa-nhốt bừa bãi-thả thô tục, đó là một chính quyền : xảo tri trong nhục lộ. Nietzsche, chỉ hai bài học : bài học thứ nhất : "Sự thật rất xấu, con người có một "nghệ thuật" gạt sự thật để sự thật đừng giết con người", cụ thể có rất nhiều người sợ sự thật, vì khi họ đi tìm sự thực, khi gặp sự thực, rồi đào sâu sự thực thì họ sẽ phải đối mặt với bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền như hoàn cảnh nước Việt hiện nay.

Bài học thứ nhì : "Nếu bạn nhìn vực thẳm quá lâu, thì chính vực thẳm sẽ vào sâu trong bạn để nhìn bạn", đây là hậu quả của câu thứ nhất, đối với những ai sống quá lâu trong vực thẳm, bị cầm tù trong vực thẳm mà không thấy vực thẳm đang vùi, đang lấp, đang chôn, trước tiên là con mắt của mình, sau đó là thể xác của chính mình. Vì, vực thẳm vừa sâu lại vừa hẹp, cái tối tăm của nó làm ta bị lòa mắt ; nên bọn âm binh sống trong vực thẳm luôn có ý đồ làm cho Việt tộc lòa mắt vì tối ; mà âm binh thì sống nhờ bóng tối nên âm binh thấy người, mà chưa chắc người thấy được âm binh !

Các người đã

Đày ải hóa thiện tính Việt

 

Mang tâm trạng bi quan trước nhân tình thế thái, Baudelaire có hai tâm sự ; hai tâm sự nhưng thật ra là hai bài học thật "khiếp hồn" cho kiếp người : bài học thứ nhất :" Đừng tìm trái tim tôi các dã thú đã ăn nó rồi !", đây chính là câu chuyện "cận hồn, sát vía" của Việt tộc hiện nay. Vì Việt tộc đang sống với các con dã thú : khi dân chúng cúi đầu trước bạo quyền tạo ra bao bất công làm mọi người sẽ mất luôn cả nhân phẩm ; khi nhân dân khoanh tay trước tà quyền tham quan sinh ra bao khốn cùng làm chúng ta mất luôn cả nhân tri, khi dân chúng quỳ gối trước ma quyền tham tiền tạo ra bao điều bất lương làm Việt tộc mất luôn cả nhân tính ; tức là dân tộc ta đã bị dã thú ăn thịt rồi ! Bài học thứ nhì : "Cuộc sống rồi sẽ dứt nhưng hối tiếc thì không". Không nhắm mắt trước bất công của bạo quyền, không cong lưng trước cái bất chính của tà quyền, trước cái bất nhân của ma quyền để không hối tiếc trước khi rời cuộc sống này.

Trong một xã hội Việt Nam hiện nay với hàng trăm triệu đồng bào sống trong vô cảmvô giác trước nỗi khổ của dân đen, trước nỗi oán của dân oan, triệu triệu người vô cảm này, sống say trong vô minh để chết mộng trong vô tri, từ ô nhiễm môi trường tới thực phẩm bị đầu độc ; cả một dân tộc đang đánh mất định hướng lương tri, tìm tới mê tín dị đoan trong chuyện cầu vong, cầu hồn để rồi bị loạn tâm trong mê tín, mà còn gọi đó là tâm linh !

Mỗi lần có những nỗi buồn lo ập đến trong tâm hồn, mang theo bao độc chất của tà quyền đang biến thành ám chất trong cõi lương tri, với loại câu hỏi như sau, làm hỗn loạn tư duy : Tại sao Việt tộc ra nông nổi này ? Người Việt hiện nay chọn vô cảm làm phản xạ trước các nỗi khổ niềm đau với chính đồng bào mình. Tại sao Việt tộc lại đánh để mất đời sống tâm linh của nhân tâm như vậy ? rồi gọi tên mê tín, dị đoan là tâm linh, biến cõi tín ngưỡng, từ chùa chiền tới lăng miếu, thành nơi buôn thần bán thánh có vụ lợi, để phục vụ cho tư lợi. Tại sao Việt tộc lại cúi đầu, khoanh tay, quỳ gối trước bạo quyền độc tài, trước tà quyền tham quan, trước ma quyền buôn người bán tình ? Mà không vận dụng chiều sâu tâm linh của tổ tiên, để biến nó thành chiều cao cho chính nhân phẩm của mình ; là đứng dậy, là thẳng lưng, là ngẩng đầu, để gạt đi cái bạo, xóa đi cái , vất đi cái ma, để lấy lại cái người (vì cõi người).

Các người đã

Nghiện ngập hóa tinh chất Việt

 

Quốc hội lại bỏ phiếu (theo đa số) là chống lại chuyện soạn ra luật nghiêm túc có liêm sỉ để chặn chuyện nghiện ngập rượu bia, ma túy đang là một ung thư vĩ mô trong đời sống xã hội, sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội ; một loại ung thư của "thói hư tật xấu" không những có lỗi mà còn có tội với dân tộc. Tại sao là tội ? Đó chính là tội đầu độc cả một dân tộc vào chuyện nghiện ngập, để truy diệt sinh khí của đồng bào, để vùi dập sinh lực của bao thế hệ thanh niên, lẽ ra phải là nguyên khí của quốc gia, đây không phải là tội thì là gì ?

Chuyện sống còn của dân oan, là chuyện thuộc về phân phẩm của Việt tộc. Camus trả lời các câu hỏi lớn của nhân sinh bằng nhân tính, các câu hỏi lớn của nhân thế bằng nhân tri, các câu hỏi lớn của nhân loại bằng nhân phẩm, qua ba luận điểm : Lòng rộng lượng chân thành nhất của chúng ta đối với tương lai là dâng hiến tất cả ngay bây giờ cho hiện tại. Nếu kẻ chủ không sống được nếu không có kẻ hầu, thì một trong hai kẻ này ai là người thực sự có tự do ?

Luận điểm thứ nhất trong tình hình của Việt tộc hiện nay là chúng ta phải đấu tranh cho công bằng, tự do, bác ái qua đường đi nẻo về của nhân quyền, dân chủ và đa nguyên. Luận điểm thứ nhì trong hiện trạng của xã hội Việt là kẻ chủ (Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo bằng bạo quyền nhưng "hèn với giặc, ác với dân") và người tớ (dân đen bị áp chế, dân oan bị áp bức) cả hai đều không có tự do, đây là bi kịch làm nên thảm kịch của đất nước hiện nay. Luận điểm thứ ba trong thực trạng của bi nạn bộ ba (nội xâm tiếp tay cho ngoại xâm) :

Đảng cộng sản Việt Nam lấy độc đảng để độc quyền, độc tài, độc tôn, độc trị trong bất tài và bất trị. Tham quan của Đảng cộng sản Việt Nam lấy tham quyền để tham ô, tham nhũng, đang làm suy kiệt tới dân tộc, môi trường, đạo lý… tới cùng cực. Tàu tặc cướp đất, biển, đảo song hành cùng Tàu họa gây ô nhiễm môi trường để diệt môi sinh, song đôi với Tàu hoạn qua thực phẩm bẩn đi cùng với hóa chất độc tạo nguồn cho ung thư vĩ mô trên số phận của Việt tộc, làm nên Tàu nạn với bao công trình có quy mô từ cấp quốc gia tới cấp địa phương rơi vào tay Tàu tà.

Các người đã

Ngu dân hóa lương tri Việt

 

Trước thảm kịch này của đất nước, hãy tìm lại các nẻo đường của lương tri qua các trí thức của các nước được xem là có văn hóa cao, có văn minh rộng, có văn hiến đẹp, chỉ để nhìn lại cho rõ lương tri của mỗi chúng ta. Những tư tưởng gia như St Augustin, Plotin, Montaigne… hay các triết gia Kant, Pascal, Ricoeur… khi họ từ đi tìm con đường của lương tri thì họ có sẵn hai nhân lộ. Con đường thứ nhất bằng định hướng thần học, chóng chầy họ sẽ tìm tới thượng đế, đấng sinh thành của muôn loài và vạn vật ; con đường thứ hai bằng định hướng của luân lý, đi tìm nhân tính bằng nhân phẩm. Nhưng dù đi trên hai đường khác nhau, nhưng họ thường tâm sự là họ đã gặp nhau trên : cái tôi tỉnh thức để tin yêu. Chính cái tôi tỉnh thức để tin yêu này là một định luận có nhiều định đề khác nhau, và khi được hội tụ lại thì các giá trị của lương tri hiện rõ trong cấu trúc của định luận này. Cái tôi tỉnh thức có hành trình của tỉnh táo để sáng suốt của thức, lấy kiến thức để lập tri thức, có ý thức để tạo nhận thức. Đây là định nghĩa thông minh về chữ hiền, làm nên hiền triết, dựng lên minh triết lấy hiền mà xoa dịu mọi điều hung, bạo, ác, dữ đang phùng mang trợn mắt giữa nhân thế. Từ đây, cái tôi của chủ nghĩa trung tâm được nuôi nấng bởi cái ích kỷ đã được trút rũ khỏi não trạng, để trưởng thành mà nhận ra cái tôi tỉnh thức, đã tỉnh thức trước thân phận con người, trong đó cái tôi vị kỷ thuở nào có số phận thật nhỏ bé của cát bụi (theo ca từ của Trịnh Công Sơn), cát bụi những biết thức để biết : "Tôi là ai mà yêu quá đời này ?".

Montaigne, tư tưởng gia thế kỷ thứ XVI, đứa con tin yêu của thể loại tùy bút khuyên chúng ta nếu muốn đi tìm lương tri, hãy ghé qua : chủ thể trong tự do, tại đây, bạn cứ đào thật sâu tâm hồn của mình để nhận ra các giá trị của lương tri, vì con đường tự do đang sâu lắng, đang hiện diện trong mỗi chúng ta. Như vậy, muốn đi tìm lương tri thì hãy tìm ra con đường đi tới cõi đó ; muốn nhận ra các giá trị của lương tri thì phải để đầy đủ thời gian để đi tìm ra các giá trị ấy. Và, trên các nẻo đường này, ta đã có niềm tin vui sống để nuôi hy vọng sống vui, với tâm hồn rộng mở, chỉ cần thêm sự nhạy cảm với nỗi khổ niềm đau của nhân thế, với nỗi vui mang điềm phúc của nhân sinh, lấy sự cảm thông để cõng, bồng, bế, nâng cái nhạy cảm này.

Con đường đi tìm cõi lương tri có kho tàng là các giá trị của lương tâm : Hãy làm hơn cái tôi đã có bằng cách vượt cái tôi đang có ! Hãy tìm các lương tri mới, mà cũng chính là sự thông minh mới ; một cái tôi mới để biến cái tôi nhỏ bé trở thành cái tôi mênh mang. Plotin đặt tên cho nó là : một tâm hồn trọn vẹn biết ở trên cao ! Nhưng không phải ở luôn trên cao, vì là tâm hồn rộng mở nên tâm hồn này lên xuống qua lại, để tiếp người, để nhận đời, để yêu cuộc sống hơn bằng cách bảo vệ lương tri việt.

Các người đã

Ghẻ lạnh hóa tin yêu Việt

 

Có một phương trình Tin yêu-Hướng thiện-Nhận thức-Tâm nguyện được cấu trúc gẫy gọn qua lời Kiều của sư phụ Nguyễn Du : Nhớ lời nguyện ước ba sinh/ Xa xôi ai có biết tình chăng ai ? Hãy tìm ngay trong chiều sâu lương tri mình để mời các ẩn số lương tâm sau đây lên tiếp sức : Tin yêu vừa là niềm tin vào cuộc sống, vào tình yêu, vào tình thương làm nên nỗi niềm sâu lắng, trầm kín trong nội tâm bạn, nó là người-bạn-sâu-bên-trong, nó thân thuộc trong thân quen trong tâm khảm của bạn, vì tin yêu này quá thân thương với bạn, nên bạn luôn tin vào nó. Hướng thiện được chế tác từ tin yêu làm nên quyền năng ngay trong không gian tâm linh của riêng bạn, nó yêu cầu bạn phải trả lời ba câu hỏi : Tôi là ai ? Ý nghĩa cuộc sống của tôi là gì ? Tôi muốn làm gì và có thể làm gì để đưa cuộc đời theo hướng thiện ?

Nhận thức được chế tác từ hướng thiện của tin yêu này, làm nên từ ý thức về cuộc đời của bạn, nơi mà cuộc đời là không gian và thời gian luôn bị các biến cố xé tan nát, chính những sự cố này làm nên kinh nghiệm cho tâm thức phải luôn ở dạng tỉnh thức để nắm chính lương tri của mình ngay trong hiện tại, để bạn sáng suốt mà chuẩn bị cho tương lai. Tâm nguyện ngụ ngay trong tâm thức có chiều sâu của nội tâm ở dạng thức tỉnh nhất ; sẽ tạo điều kiện để bạn khởi duyên, trợ lực bạn cho đời sống xã hội, trợ duyên bạn trong các quan hệ xã hội, trợ tâm bạn trong sinh hoạt xã hội, tha nhân và bạn sẽ gần nhau hơn trong các giá trị của tin yêu bằng tâm nguyện.

Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã xây dựng một chế độ sống bằng vô cảm (Ai chết mặc ai ! Bây chết mặc bây !). Hãy trả lời với tà quyền lãnh đạo bằng một câu của Phạm Thiên Thư, mà Phạm Duy đã phổ nhạc : "Muôn loài như sương rơi. Xin làm hoa trắng đỡ…". Hãy tới cõi lương tri của trí thức bằng chính tự do, bằng chính tâm hồn trong, linh hồn sáng của bạn, hãy đi trên con đường : nhân tính làm nên nhân tình ; nhân từ biết chở che cho nhân nghĩa. Từ đó mọi tuyên truyền ngu dân, mọi khẩu lịnh mỵ dân tự nhiên thành bọt bèo, rồi tự biến mất trong cõi sinh, cõi sống.

Sương thì yếu yểu, rơi là tan, mà hoa cũng vậy, rất mong manh, vậy mà hoa biết hứng đỡ sương, lấy chính thân mong manh của mình để hứng đỡ cái chóng chày, cái đang phôi pha giữa sự sống. Đây là một bài học quý về lương tri, nếu đang yếu lả, đang mong manh, vẫn có thể giúp, có thể cứu những ai yếu hơn mình, mong manh hơn mình. Lương tri thật cụ thể, vì nó không bỏ quên ai, dù kẻ cứu cũng đầy các khó khăn, ngập các thử thách, tràn các thăng trầm, nhưng phải giúp-cứu-nâng-đỡ kẻ yếu "trước đã", đây là chuyện mà các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không hiểu !

Các người đã

Vô vị hóa minh triết Việt

 

Câu chuyện lương tri trí thức có thể ghé qua các công trình nghiên cứu của triết gia Jerphagnon khi ông nghiên cứu toàn bộ hệ thống tư tưởng Châu Âu để hiểu tại sao các minh sư triết học ngày càng đi sâu vào minh triết để hiểu các giá trị tâm linh. Nơi đây, minh triết là minh lộ để con người tới được các chân trời tâm linh, tại các chân trời này con người sẽ thấy các kinh nghiệm của nhân phẩm, luôn song hành cùng các trải nghiệm của nhân văn. Tại tụ điểm của lương tri này, con người sẽ nhận ra rồi nhận rõ các giá trị của cuộc sống, để hiểu tại sao lại có chuyện trễ, tại sao lại có chuyện chậm ?

Platon khi được Jerphagnon soi rọi qua cấu trúc triết học của chính Platon, luôn đi tìm để phân tích quan hệ giữa con người, linh hồn và thượng đế ; nơi mà mỗi con người sống trong cuộc đời như đi trên một con đường, và trên con đường đó con người gặp-nhận-hiểu-thấu nhân vị của linh hồn, nhân sinh qua thượng đế, mỗi lần gặp-nhận-hiểu-thấu như vậy con người luôn tự đặt cho mình câu hỏi tại sao ta gặp-nhận-hiểu-thấu trễ như vậy, chậm như vậy ?

Augustin là trường hợp mà Jerphagnon ở lại thật lâu trong nghiên cứu của mình, trước hết St Augustin có tất cả các thành công trong xã hội, bằng tinh hoa của học thuật dựa trên tinh anh có trong sự thông minh của ông ; nhưng năm 33 tuổi Augustin đã bỏ tất cả để đi tìm thượng đế, vì nếu nhận ra thượng đế thì sẽ hiểu linh hồn là gì ? Cũng với sự thông minh xuất chúng của mình, Augustin không rơi vào chuyện mê tín, dị đoan, hoang tưởng, mà ông tổ chức một cuộc đối thoại với thượng đế với tấm lòng kính cẩn tuyệt đối. Nhưng khi ta đọc kỹ tác phẩm Xưng tội (Confessions) của ông, người ta nhận ra ông mượn chuyện xưng tội là để vinh danh nhân phẩm của nhân loại. Như vậy, chuyện ông tổ chức một cuộc đối thoại với thượng đế có thể chỉ là một cái cớ chăng ? Cớ để ông biến đối thoại thành độc thoại, ông độc thoại với thượng đế để đốí thoại với đời, với người, với chính thân phận của mình.

Pascal là trường hợp mà Jerphagnon thấy được cái ý thức của con người luôn khiêm tốn để tỉnh táo, luôn khiêm cẩn để sáng suốt, để nhận ra tâm trạng trễ, tâm cảnh chậm khi con người đứng trước các chân lý của khoa học, các sự thật của nhân sinh, các lẽ phải của đạo đức. Pascal luôn tìm định nghĩa để giữ định đề, giữ định đề để không lạc đề khi phân tích và giải thích mọi giá trị, từ toán học tới triết học, từ ngôn ngữ tới nhân sinh. Và khi vào để phân tích và giải thích các giá trị tâm linh, con người sẽ có định hướng qua định nghĩa của ngữ vựng rồi từ đó mà đi tìm ngữ pháp rồi ngữ văn cho các chiều hướng của tâm linh.

Một cuộc đối thoại luôn muốn tìm con đường tâm linh để đi lên, lên cao, cao mãi để được ngang tầm với nhân vị là chuyện không hề có trong tư duy của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay. Như vậy sự thông minh làm nên nhân tri có thể hiểu được và thấu được sự thông minh của nhân quyền ; làm nên các giá trị của lương tri, tự chúng là những con đường cao tốc, cho phép dân tộc đi nhanh để gặp các giá trị thiêng liêng không hề có trong chính sách của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam tự trước đến nay, nên họ mới bị Việt tộc tặng cho biệt danh : "vô sản vì vô học".

Các người đã

Vô thức hóa thông minh Việt

 

Thấy được cái ý thức của con người luôn khiêm tốn để tỉnh táo, luôn khiêm cẩn để sáng suốt, để nhận ra tâm trạng trễ, tâm cảnh chậm khi con người đứng trước các chân lý của khoa học, các sự thật của nhân sinh, các lẽ phải của đạo đức. Tìm định nghĩa để giữ định đề, giữ định đề để không lạc đề khi phân tích và giải thích mọi giá trị, từ toán học tới triết học, từ ngôn ngữ tới nhân sinh. Và khi vào để phân tích và giải thích các giá trị tâm linh, con người sẽ có định hướng qua định nghĩa của ngữ vựng rồi từ đó mà đi tìm ngữ pháp rồi ngữ văn cho các chiều hướng của sự thông minh có mặt trong đời sống của tri thức : Loại thứ nhất là thông minh tức khắc đó là sự thông hiểu tính lập đi lập lại của các hiện tượng trong không gian và thời gian để hiểu cách vận hành của chúng, rồi từ đó đặt cứu cánh hợp lý và phương tiện hợp thời để đạt kết quả. Loại thứ hai : thông minh xét nghiệm biết xem xét tính lập đi lập lại của các hiện tượng trong không gian và thời gian để khảo nghiệm thực chất của các hiện tượng này. Và khi lương tri xuất hiện trước hai loại thông minh này, nó sẽ vận dụng nhân sinh quan của nhân tâm, phối hợp cùng thế giới quan của nhân từ, để chế tác ra một vũ trụ quan của nhân lý, trong đó kẻ tự cho mình là thông minh phải lấy nhân tính cao nhất của mình để cùng tha nhân bảo vệ nhân phẩm, nâng cao nhân vị cho nhân sinh.

Trên thượng nguồn của mọi chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam không có sự thông minh để quyết định và sự thông thái vì cẩn trọng khi nhận ra sự lập đi lập lại của các hiện tượng trong không gian và thời gian, cả hai sẽ hiểu nguyên nhân của các sự kiện, cũng như quy luật của các sự cố, để tránh sai lầm trong hành động. Chính sự thông minh trợ lực cho đời sống tâm linh để tìm hiểu chiều sâu của sự kiện bằng nhân tri để cảm nhận sự cố bằng sự rung cảm của nhân tâm. Dưới hạ nguồn, sự thông minh biết nhận ra nguyên nhân của sự thất bại, còn thông thái thì tổng hợp các nguyên nhân của sự thất bại để tránh thảm bại, rồi đi tìm con đường đi khác để tới thành công, mà không kinh qua quá khích và cực đoan. Còn lương tri thì lùi ra để đứng xa trong tỉnh táo, mà phân tích thất bại, để sau đó lương tâm sẽ trở lại đứng gần, sát, cận kề sự thất bại để tìm ra sự cảm thông với kẻ thất bại. Từ đó tìm cách đưa ra một ánh sáng mới, để chỉ cách thoát nạn cho kẻ thất bại, được ra khỏi đường hầm của sự bại trận, để tìm con một con đường khác, bại ít thắng nhiều, vì mang các sắc xuất thành công rõ nét. Chuyện lương tri trí thức không dùng các con tính số học mang tính toán của toán học, mà bằng sự cảm nhận đa chiều về nhân thế, qua sự đa dạng của nhân gian.

Các người đã

Giả mạo hóa lẽ phải Việt

 

Trong lương tri giáo dục, khi thế hệ đi trước có trách nhiệm phải trao truyền ít nhất ba giá trị giáo dục cốt lõi cho các thế hệ đi sau là sự trao truyền sự thật của lịch sử, mà sự thật làm xuất hiện chân lý với sử liệu, sử chứng, không ai chối cãi được, song hành cùng các tang chứng, làm nên chứng tích luôn có mặt trong kỷ niệm, trong ký ức, tạo ra chất sống cho sử học. Chính sự thật làm nên chân lý giúp nhân sinh thấy ra lẽ phải. Chính lẽ phải giúp ta nhận diện ra các giá trị của đạo đức cùng lúc trên hai nhân lộ, con đường đầu tiên giúp nhân sinh nhận ra đạo lý của các chuyện hay, đẹp, tốt, lành có mặt trong nhân đạo. Con đường tiếp theo là khi có đạo lý rồi thì nhân sinh sẽ tìm ra luân lý khám phá ra bổn phận với xã hội, trách nhiệm với đồng loại. Từ đây, ranh giới giữa đạo lýluân lý sẽ bị xóa dần đi, để tạo nên sự hòa hợp mới, làm nên các giá trị của lương tri.Hãy lập nên một phương trình mới cho nhân tâm biết bảo vệ nhân phẩm : (sự thật+chân lý = lẽ phải) + (đạo lý+luân lý = đạo đức) = các giá trị tâm linh.

Khi phương trình này hình thành thì ta được trao nhận một định nghĩa mới về : tự do, một định nghĩa đẹp vì đây là cùng có tự do với tha nhân, với đồng bào, với đồng loại, để cùng hưởng chung với mọi người, mọi loài. Ngược hẳn với loại định nghĩa thấp hèn về tự do qua cái ích kỷ chỉ cho một người, một phái, một đảng có trong não trạng của bạo quyền lãnh đạo, đã thành tà quyền hãm hại dân tộc, rồi sẽ thành ma quyền buôn dân, bán nước. Sự vận hành toàn bộ của các giá trị của lương tri đi từ cái tôi tới tha nhân, tâm linh là trao không để cùng hưởng chung, mà không hề đòi trả ân, trả oán, từ đây chúng ta có được một định nghĩa về các giá trị tâm linh, qua các chỉ báo rành mạch trong sinh hoạt xã hội, trong đời sống xã hội, trong quan hệ xã hội, vì tâm linh không thể tự định nghĩa, mà phải dựa trên sự phối hợp giữa : luân lý, đạo lý, đạo đức luôn đi đôi kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức ; và công bằng, công lý có từ công tâm, công đức luôn chung lứa với lương tâm, lương thiện, lương tri.

Có kinh nghiệm của Mục sư L. King và thiền sư Thích Nhất Hạnh ; chỉ vì tôi chỉ nghiên cứu, khảo sát, điều tra, điền dã về chuyện "con người" thôi bạn ạ ! Mục sư L.King (đứa con tin yêu của lòng tin bất bạo động để chống kỳ thị) phân tích trong thời buổi hiện đại của khoa học, cái người (humain) trong cái thánh (sainneté) phải có mặt để bảo vệ các giá trị tâm linh, giúp con người luôn cẩn trọng ngay trên chính mạng sống của mình, khi ông giải thích rằng con người dùng khoa học để chế ra các hỏa tiễn được điều khiển tự động, nhưng chính con người thi đang lầm đường lạc lối trong mê lộ của sự giết chóc lẫn nhau, thì các hỏa tiễn điều khiển tự động này là sự tự sát của con người, chớ không phải là một tiến bộ văn minh gì cả !

Khi đấu tranh chống chiến tranh vì hòa bình, vì muốn bảo vệ con người và sự sống, trong lần chuẩn bị cho một cuộc biểu tình ngoài đướng phố tại Mỹ, mục sư L.King có hỏi thiền sư Thích Nhất Hạnh là nên chọn khẩu hiệu nào để làm biểu tưởng hòa bình cho cuộc xuống đường này ? Thiền sư Thích Nhất Hạnh khuyên mục sư L.King nên chọn một ca từ của Phạm Duy, nói lên ý lực của con người từ chối diệt con người : "Tôi từ chối giết người ! Vì giết hết người rồi tôi sẽ sống với ai ?", không có một chứng từ lịch sử nào để minh chứng là các lãnh tụ thủa trước và các lãnh đạo thủa này của Đảng cộng sản Việt Nam biết, nghe, đọc, hiểu, nghiệm được câu này !

Các người đã

Hình sự hóa công lý Việt

 

Khi tổng kết các nghiên cứu, khảo sát, điều tra, điền dã về tội phạm học qua trường hợp của Việt Nam, từ khi dân tộc và đất nước này phải gánh chịu bạo quyền của Đảng cộng sản Việt Nam-Đảng cộng sản Việt Nam, từ 1930 tới nay. Dân chúng đã biết loại não trạng quyền lực-quyền lợi không sao tách được nhân sinh quan, thế giới quan của Đảng cộng sản Việt Nam để có thể khách quan hóa từ sự kiện tới sự cố, theo đúng yêu cầu của khoa học [7], cụ thể là đưa chứng từ vào dữ kiện để sự thật làm sáng lên chân lý. Sự chân thành trong mạch lạc, với chân thật của luận chứng, để chúng ta hiểu nhau hơn, trên tinh thần của học thuật là tôn trọng lẫn nhau, để sự thật được song hành cùng chân lý, sẽ giúp nhận ra lẽ phải. Quy trình sự thật-chân lý-lẽ phải được kết tụ thành một tổng thể, mà không ai có thể tách ra được, để vo tròn bóp méo, để đánh tráo, rồi bào chửa, sau đó là "chạy tội" cho tội phạm đã gây ra tội ác ; khi mà các nghiên cứu, khảo sát, điều tra, điền dã của tội phạm học đã được thực hiện tới nơi tới chốn rồi thì chuyện "chạy tội" cho Đảng cộng sản Việt Nam xem như vô ích !

Dù là một chuyên ngành mới mẻ của khoa học xã hội và nhân văn, nhưng các lãnh đạo không thể tham ô, các quan chức không thể tham nhũng trên các nghiên cứu, khảo sát, điều tra, điền dã của tội phạm học. Khi chuyên ngành sinh sau đẻ muộn này ra đời thì công việc thường nhật của nó là : lột trần tội ác ! lột mặt nạ tội phạm ! Nên nó không sợ bất cứ bạo quyền nào ám hại nó, không lo bất cứ tà quyền nào mua chuộc nó, không để bất cứ ma quyền nào bán đứng . Đảng cộng sản Việt Nam tạo ra mê thức qua tuyên truyền một chiều của một chế độ độc tài-toàn trị, biến mộng tưởng thành kiến thức chủ quan. Mà mộng tưởng là nguồn của mê thức, dắt con người vào mê lộ để bị lạc bẫy trong tà lộ, nơi mà thủ phạm và nạn nhân đã vào tử lộ, từ đó vô tình hay vô tâm : tội phạm đã gây ra tội ác, mà tội phạm học phải vạch mặt chỉ tên, vì đây là nghiệp vụ học của tội phạm học.

Quy trình sự kiện-chứng từ-xác chứng [8] làm gốc, rễ, cội, nguồn cho tội phạm học, khi sự kiện đã thành sự cố với các hậu quả hại người-giết người-chết người, nơi mà chứng tích đưa đường dẫn lối cho chứng từ, thì xác chứng của nghiên cứu sẽ định hình cho minh chứng để sự thật được đưa ra ánh sáng, để chân lý được quang minh chính đại từ tòa án của lương tâm tới tòa án của công pháp. Có ba quy trình : sự kiện-sự cố ; chứng tích-chứng từ ; xác chứng-minh chứng, vu cáo mà không có phân tích sự kiện-sự cố ; vu khống mà không có giải thích chứng tích-chứng từ ; vu họa mà không có giải luận xác chứng-minh chứng là chuyện thói quen làm nên khuyết tật, để khuyết tật làm nên khuyết não ngay trong tư duy của các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Đó là phản xạ từ bao năm, của những các quan chức của Đảng cộng sản Việt Nam : khi nạn nhân của họ phân tích sự kiện-sự cố, thì bị họ vu cáo là "các lực lượng thù địch" ; khi nạn nhân của họ giải thích chứng tích-chứng từ, thì bị họ vu khống là "phản động chống cách mạng" ; khi nạn nhân của họ giải luận qua xác chứng-minh chứng thì bị họ vu họa là "bôi nhọ lãnh đạo của Đảng". Các thói quen vu cáo, vu khống, vu họa cho người khác, cho bất cứ ai không đồng ý với Đảng cộng sản Việt Nam.

Đó là câu chuyện của tội ác trong Cải cách ruộng đất (1954-1958) : chỉ cần vài chữ tố cáo không chứng từ là tòa án nhân dân quyết tội (không có) lên đầu những ai bị vu cáo là "địa chủ" ; để ngay tức khắc sau đó là đám đông quần chúng (bị giật dây) vu khống cho các nạn nhân là "bóc lột" nông dân ; rồi dẫn tới (cũng tức khắc) chuyện tử họa của các nạn nhân này là bị bắn giết ngay tại chỗ. Tổ tiên Việt không quên nghiêm cẩn dạy con cháu : sai một ly đi một dặm. Nhưng đối với đám tuyên giáo (tà nghiệp trong xảo lộ) vu cáo mà không dám đối thoại để hiểu thế nào là sự thật ; với lũ lãnh đạo độc tài nhưng bất tài (gian kiếp trong tà lộ) vu khống mà không dám trực diện để thấu thế nào là chân lý ; với bọn bút nô, ký nô (ma nghiệp trong điếm lộ) vu họa mà không dám đối luận để thấm thế nào là lẽ phải. Đây chính là ma nghiệp của Đảng cộng sản Việt Nam.

Các người đã

Cuồng quyền hóa chính trị Việt

 

Sự có mặt vô cùng quý giá của dân chủ qua đa nguyên (đa tài, đa trí, làm ra đa hiệu, đa năng để đa lực) dựa trên nhân quyền (nhân tri, nhân trí trợ lực cho nhân lý, nhân tính làm nên nhân bản, nhân văn, để nhân vị có chỗ đứng, nhân đạo có đường đi mà tới gặp và nhận nhân phẩm)[9]. Vì " cá nằm trên thớt " mà cá muốn sống còn hay sống sót thì phải nhận tủi nhục mà tủi thân chịu nhục dưới một chế độ của hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc trị) làm nên cái độc hại chống tri thức.

Khi đã chấp nhận cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối trước cái ác đã làm nên cái tội ; ngược lại đường đi nước bước qua các quá trình giải luận của tội phạm học là : vén cái ác để vạch cái tội. Khi mất nhân cách vì không dám phê bình qua phân tích và giải thích các tội ác của bạo quyền độc đảng, các tội phạm của tà quyền độc trị, các tội lỗi của ma quyền độc tài, thật sự là khi ta "nhắm mắt làm ngơ" thì ta đã đồng lõa, là đồng phạm với các tập đoàn tội phạm này rồi !

Một tập đoàn tội phạm luôn biến quyền lực thành bạo quyền độc đảng, tà quyền độc trị, ma quyền độc tài để vơ vét qua hệ tham (tham quyền để tham ô, rồi tham nhũng, chỉ vì tham tiền) nên quyền lợi của chúng thật ra chỉ là tư lợi, vì chúng buôn thần bán thánh qua chiêu bài cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Cụ thể là khi còn đi học chúng đã biết buôn bằng bán cấp để sau đó là mua chức bán quyền, chúng mang dã tâm buôn đất bán người (biến dân lành thành dân oan), nên trong bọn chúng dã có kẻ bước qua buôn dân bán nước, đối với chúng chỉ là vài bước, có khi dễ như trở bàn tay, vì những kẻ này đã chuyển qua phương Tây tiền của vơ vét được của dân tộc, chúng đã có nhà, có thẻ xanh, thẻ cư trú tại Tây Âu và Bắc Mỹ, để chớp nhoáng cao bay xa chạy, khi bọn Tàu tặc tới xâm lược đất nước của chúng ta, biến Việt tộc thành lao nô cho chúng.

Tội nghiệp thay khi thấy người tài lại để bọn độc tài nhưng bất tài "chăm lo" chuyện bảo vệ dân tộc, phát triển đất nước điều khiển, thao túng, giật dây, "xỏ tai, kéo mũi", để chung quy là ngụy biện các thảm họa trên một dân tộc mà đa số cằng ngày càng túng thiếu, mà tuyên truyền ngày ngày ra rả là "thành quả cách mạng". Rồi chung cuộc là ngụy tạo các thảm nạn trên một đất nước thành "định hướng xã hội chũ nghĩa". Mà thực tế là dân tộc Việt hiện nay cứ bỏ đất nước ra đi dù ra ngoài chỉ để làm lao nô, nô tỳ, nô bộc cho các quốc gia láng giềng vì họ đã quá nhờm tởm bạo quyền, tà quyền, ma quyền ngày ngày dẫm lên lưng, đạp trên vai, nhấn lên đầu của họ bao bất công và tội ác không sao chấp nhận được.

Đất nước Việt hiện nay cạn kiệt tài nguyên tới vì bọn mafia lãnh đạo, với bao ô nhiễm môi trường, môi sinh bị truy diệt[10]. Độc hóa từ thiên nhiên tới thực phẩm, với âm mưu của ngoại xâm Tầu tặc thông đồng với nội xâm tham nhũng mà thế giới có đầy đủ dữ kiện, trong khi dân tộc vẫn bị bộ máy tuyên truyền độc đảng bưng bít, che giấu, đây là một tội ác mà tội phạm học không thể nào bỏ qua được. Khi bọn bạo quyền độc đảng, tà quyền độc trị, ma quyền độc tài, có vài đứa khi đi chơi tại phương Tây, chúng vỗ bụng tục tỉu trước Việt Kiều, rồi cười đểu mà nói là với số tiền của dân tộc mà chúng vơ vét được, thì chúng và con cái, cháu chắt của chúng : "ăn năm đời, mười đời không hết !".Đám đầu nậu tham nhũng này chính là những tội phạm đã gây ra những tội ác, nên tội phạm học phải có mặt để tổng kết bằng vạch mặt chỉ tên (lột mũ bạo quyền, lột mặt nạ tà quyền, lột trần ma quyền) bằng các tiêu chí của : hệ liêm (liêm chính, liêm khiết, liêm sỉ) ; hệ chính (chính tri, chính kiến, chính lý) ; hệ đạo (đạo lý, đạo đức, đạo hạnh).

Đám lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không hề trích câu của tổ tiên Việt đã để lại cho con cháu Việt :"Sống lâu mới biết lòng người có nhân"[11]nhân đây là nhân tính làm nên nhân cách để được song hành cùng nhân từ, nhân nghĩa, nhân tâm, làm nên nhân vịnhân lý, nhân bản, nhân văn, vì biết đi vào nhân đạo để tạo dựng nên nhân phẩm !

Các người đã

Thô bỉ hóa tư duy Việt

 

Phê bình làm nên phê phán trong quy trình đào tạo bình thường của các quốc gia có văn minh dân chủ, có văn hiến nhân quyền, ai cùng học được :

Xã hội luận phê bình (Sociocritique), định hình môi trường sống của công trình nghiên cứu trong một vũ trụ xã hội, nơi mà khảo sát, điều tra, điền dã, nghiên cứu là một quá trình phê bình xã hội, mang tính chất xã hội hóa riêng của nó và mỗi quá trình xã hội hóa luôn nằm trong một môi trường ý thức hệ nào đó (độc đảng hay đa nguyên, độc tài hay đa tài, toàn trị hay đa trị…). Bản thân người nghiên cứu và người đọc cũng không thoát khỏi môi trường ý thức này, nên công trình nghiên cứu luôn có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với môi trường xã hội và các ý thức hệ trong xã hội đó. Chính xã hội luận phê bình có cơ sở nghiên cứu khách quan đã mang lại những tiến bộ lớn trong học thuật và ngay trong các xã hội có dân chủ đa nguyên, khi chính các công trình nghiên cứu đã lột mặt nạ của mê thức giả danh kiến thức để làm chuyện "đánh lận con đen" mà định hướng dư luận. Nên các chế độ độc đảng toàn trị hiện nay, như Việt Nam thường vu oan, vu cáo, vu khống, vu họa để chống phương pháp này, vì khi xã hội luận phê bình được thực hiện tơi nơi tới chốn thì bộ máy tuyên truyền sẽ bị vô hiệu hóa, và đám tuyên giáo sẽ bị lột mặt nạ !

Dân tộc luận phê bình (Ethnocritique), nơi mà dân tộc tính được đánh giá qua cá tính của dân tộc đó qua sinh hoạt văn hóa, qua quan hệ xã hội, qua đời sống tâm linh… Dân tộc luận phê bình có thể bắt đầu bằng nghiên cứu các văn bản từ lịch sử tới văn học, để đi sâu vào các điều tra thực địa, nơi mà phê bình tới từ phân tích và giải thích sẽ làm rõ sức thông minh và lực sáng tạo qua các cộng đồng quốc gia, qua các tập thể xã hội, qua các cá nhân có cá tính được định nghĩa như các chủ thể của sáng tạo.

Nói gần nói xa, không qua nói thật  dân tộc luận phê bình còn đi xa hơn thế nữa để vào sâu từng dân tộc tính qua các giai đoạn lịch sử, cụ thể là thủa xưa Việt tộc là một dũng tộc đã thắng bọn Tàu tặc khoảng 20 lần bằng chính lòng dũng cảm của ý chí bất khuất quyết tâm giữ nước ; cũng đã là một minh tộc biết thắng Tàu tặc bằng chính sự thông minh của mình : Ngô Quyền, Lê Đại Hành, Trần Hưng Đạo bằng thủy chiến ; Nguyễn Trãi bằng sự phối hợp giữa kháng chiến, ngoại giao và tâm lý chiến ; Quang Trung bằng tri thức luận quân sự về quản lý không gian và thời gian… Vậy mà dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay, thì chí khí của dũng tộc, sáng tạo của minh tộc, xem như bị tiêu tán hóa cùng trước thực chất đớn nhục của Đảng cộng sản Việt Nam là : hèn với giặc, ác với dân ! Đẩy Việt tộc từ dũng tộc, minh tộc sang "hèn tộc", "nhục tộc", đây là một tội ác ngay trên dân tộc tính, là tội đồ trước tiền đồ của tổ tiên, mà cũng là một tội ác trước các thế hệ mai hậu của Việt tộc.

Địa dư luận phê bình (Géocritique) là phương pháp phân tích đặt ưu tiên cho nghiên cứu về tính đặc thù của một không gian địa lý trong phân tích và giải thích. Địa dư luận phê bình chống lại các quy phạm sơ cứng về không gian, thí dụ cụ thể là tháng Bảy năm 2019 này bọn Tàu tặc đã vào lãnh hải của Việt Nam tại bãi Tư Chính, với thái độ xâm lược mà chính phủ độc đảng Việt Nam đã giấu nhẹm dân chúng, hơn 700 trăm tờ báo bồi bút cho Đảng cộng sản Việt Nam đã "im hơi lắng tiếng", để chính các báo đài ngoại quốc thông báo mà dân chúng biết được qua truyền thông quốc tế. Địa dư luận phê bình cho thấy rất rõ trong năm 2019 này là dân Hồng Kông, dân Đài Loan không sợ Trung Quốc, trước đó Philippines còn kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế về "đường lưỡi bò" của Tàu tặc trên biển Đông, tại sao chỉ có Đảng cộng sản Việt Nam là sợ Trung Quốc ? Địa dư luận phê bình cho xuất hiện phương pháp giải luận chỉnh lý là Đảng cộng sản Việt Nam sống còn nhờ Đảng cộng sản Trung Quốc-Đảng cộng sản Trung Quốc, phương pháp này cho xuất hiện luôn phương pháp diễn luận toàn lý là lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam từ mật ước Thành Đô, 1991, chỉ có não trạng cứu đảng, chớ không hề đặt ưu tiên cứu nước lên hàng đầu, tại đây có những lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam đã mở ra con đường bán nước[12], và đã chuẩn bị não bộ để chấp nhận chuyện mất nước.

Định dạng luận (Formalisme) một phương pháp phân tích và giải thích dựa trên hình thức, mà hình thức ở đây chính là nội dung của nội dung ! Nơi mà lời nói là nhân cách (học ăn học nói, học gói học mở). Nơi mà nhân dạng làm nên nhân vị (cái tai cái tóc là vóc con người) nơi mà tầm vóc vừa là nội công, vừa là bản lĩnh của chủ thể, chính tầm vóc nói lên trình độ tri thức và mức độ tư duy của chủ thể [13]. Ba lãnh đạo cấp bộ, cấp cục, cấp ngành của bạn, mỗi người một cách, làm cả một dân tộc xấu hổ đến "độn thổ" : một tên thứ trưởng Bộ Văn hóa đương nhiệm trao bằng giáo sư cho một ca sĩ chưa bao giờ đặt chân tới đại học để làm luận án tiến sĩ nhạc học, rồi sau đó phong một chức mới "nữ hoàng tâm linh" cho một bà hát hầu đồng. Một bà giám đốc cục của Bộ Văn hóa, được quần chúng đặt tên là bà "tiến sĩ lon", vì bà ra lịnh cấm Coca Cola dùng chữ lon trong quảng cáo (mở lon Việt Nam), vì qua cảm nhận của bà "tiến sĩ lon" này, thì bà thấy "quan ngại" chữ lon trong "mộng tưởng" của bà có thể bị thêm dấu, thêm mũ để hiểu sang một chữ khác mang nghĩa của một chữ tục có thể xúc phạm tới phụ nữ…

Một bà đại biểu của hội đồng nhân dân thành phố Hồ Chính Minh, lại là trưởng ban Đô thị trong hội đồng này, cũng là giám đốc ban Nhân học của đại học cũng tại thành phố này, bà được quần chúng đặt tên là bà "tiến sĩ lu", vì bà đề nghị mỗi nhà nên có một cái lu để chống lại chuyện ngập lụt trong thành phố hơn 10 triệu dân này vào các mùa mưa. Não trạng của bà "tiến sĩ lu", làm cả nước "hoảng hồn" đến "điếng hồn" về trình độ não nạn của bà. Và trong cơn vừa bực tức quần chúng, lại vừa hờn căm mạng xã hội, bà đề nghị luôn là nên dùng "luật an ninh mạng" để trừng phạt những ai "dám giễu cợt" trên đề nghị mỗi nhà một cái lu của bà. Chưa xong bà còn biến cái ngu thành cái ác khi bà đề nghị là "tống cổ" dân định cư, theo bà là trái phép ra khỏi thành phố mang tên "Bác Hồ" ! Đây là một hành vi kỳ thị rất bất chính và hoàn toàn ngược lại với nghiệp vụ học của người trí thức.

Định dạng luận cũng như xã hội luận phê bình, dân tộc luận phê bình, địa dư luận phê bình không hề lý thuyết và rất cụ thể, vì đa năng nên đa hiệu để phân tích nhân diện, nhân dạng, nhân cách của các lãnh đạo bất tài vô tướng, có quyền lực qua quan hệ-tiền tệ-hậu duệ để truy diệt trí tuệ. Trong khi quần chúng giễu cợt-cười trêu : "thứ trưởng văn hóa của nữ hoàng tâm linh", "tiến sĩ lon", "tiến sĩ lu"… (gian nghiệp trong điếm lộ), Đảng cộng sản Việt Nam có các lãnh đạo, các cấp trên của bạn với não trạng lon lu gây bao não loạn rồi não nạn cho dân lành ; "chạy tội" cho bọn não sạn này không khác gì chính ta đang thanh trừng thông minh của ta, thì không khác gì chính ta đang truy diệt trí tuệ của ta !

Các người đã

Bạo quyền hóa đời sống Việt

 

Một chế độ độc đảng-toàn trị biết là nó không sao "bao thầu" tất cả mọi quan hệ xã hội, biết là nó không sao "cáng đáng" nổi tất cả mọi đời sống xã hội, biết là nó không sao "xiết cổ" nổi tất cả mọi sinh hoạt xã hội, nên nó phải "vơ đũa cả nắm" ! Ngạn ngữ "vơ đũa cả nắm" đã thành định nghĩa để vạch mặt chỉ tên chế độ độc đảng-toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay đang vùi dập số phận của Việt tộc xuống bùn nhơ. Để lột mặt nạ chế độ độc đảng-toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam, vận dụng như các chỉ báo để nghiên cứu, khảo sát, điều tra, điền dã, và các chỉ báo này rất dễ hiểu qua bốn hệ sau : hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn) ; hệ toàn (toàn trị, toàn bộ, toàn thể, toàn khối) ; hệ kiểm (kiểm duyệt, kiểm soát, kiểm tra, kiểm định) ; hệ thanh (thanh tra, thanh lọc, thanh trừng, thanh toán).

Các chỉ báo này giúp ta phân loại các thế hệ lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam ra từng thành phần trong từng giai đoạn khi họ đi từ tội phạm này sang tội phạm khác, từ tội ác này sang tội ác khác, qua phương pháp phân loại hóa (catégorisation) của xã hội học[14] ; và khi tổng kết về các chế độ độc đảng-toàn trị trên thế giới, câu nói của tổ tiên ta rất đúng : cá mè một lứa ! Hãy trở lại cấu trúc của phương pháp này đã dựa trên nhiều phương pháp khác của KHXHNV, để thấy lỗi, đẻ nhận ra tội của nền giáo dục đại học hiện nay do độc đảng quản lý với thực trạng học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả ; Hãy tận dụng các phương pháp cần biết khi tiếp cận với nghiên cứu, khảo sát, điều tra, điền dã thực địa[15] về các thảm họa mà Việt tộc đang nhận lảnh :

Chức năng luận (Fonctionnalisme) là phương pháp tương đối phổ thông trong KHXHNV đề nghị nghiên cứu về tổ chức qua chuyên môn của chức năng, để khảo sát các quyết định trong hành chính, từ đó tổ chức sự vận hành của cơ chế, cùng lúc nghiên cứu luôn các khủng hoảng có thể xẩy ra không những trong cơ chế mà còn lan tỏa ra xã hội. Chức năng luận chuẩn đoán những khủng hoảng qua định nghĩa để định vị chức năng, tại đây lý luận mọi tổ chức là một tập hợp của các chức năng khác nhau được xếp theo hàng dọc rồi hàng ngang, để giới hạn các tự do của cá nhân, và cá nhân chỉ được đánh giá qua chức năng. Chức năng luận chỉ thấy mỗi cá nhân là một con số, không có cá tính, chỉ có chức năng, chỉ là một phần tử trong một tập hợp chính là guồng máy, mà từ sáng kiến tới sáng tạo cá nhân không được tôn vinh, từ đó nó duy lý hóa một cách máy móc mọi quan hệ xã hội, mọi sinh hoạt xã hội, mọi đời sống xã hội. Nó lý luận cạn tàu ráo máng là mọi chức năng, mọi phần tử đều có thể thay thế được, như người ta thay thế cầu chì, bóng đèn là điện cứ phát điện, nên khi áp dụng vào nhân sinh, thì nó càng ráo máng cạn tầu hơn, vì nó luôn có ý đồ vắt chanh bỏ vỏ !

Đây là cách đối nhân xử thế giữa những người cộng sản, mà lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam rất nhẫn tâm trong vô cảm khi họ thành trừng nhau. Tất cả các đảng cộng sản trên thế giới này điều bị vướng vào tội ác này, không những thanh trừng nhau mà họ còn tàn sát dân lành, họ diệt chủng luôn chính dân tộc họ, đó là trường hợp của bọn diệt chủng Khmer đỏ. Nên khi định lượng về các cuộc thảm sát do các lãnh đạo các đảng cộng sản trên thế giới, từ khi có chế độ độc đảng-toàn trị tại Liên Xô 1917, thì con số nạn nhận đã vượt lên hơn một trăm triệu người, gấp nhiều lần tội ác của bọn Đức quốc xã trong đệ nhị thế chiến. Chức năng luận thật là con dao hai lưỡi, khi nó được dùng để tổ chức các nhà máy trong giai đoạn xây dựng công nghệ cơ khí và sản xuất xe hơi, thì nó làm ra bao của cải cho các nước phương Tây, nhất là Mỹ ; nhưng khi nó bị các lãnh đạo các đảng cộng sản trên thế giới vo tròn bóp méo nó, thì hậu quả của nó thật tán tận lương tâm !

Cấu trúc luận (structuralisme), tìm cách đi ngược lại với chức năng luận, nếu chức năng luận lý luận là mọi chức năng, mọi phần tử, mọi bộ phận đều có thể thay thế được, hư thì vất đi, thế bằng cái mới thì nguồn máy sẽ hoạt động trở lại ; đây là bản chất máy móc trong quan hệ giữa phần tử và tổng thể. Cấu trúc luận thì lý luận ngược lại là quan hệ xã hội, sinh hoạt xã hội, đời sống xã hội là những tổng thể sống như cơ thể của con người, phần tử này tùy thuộc phân tử kia, bộ phận này lệ thuộc vào bộ phận kia, nên chức năng này được định nghĩa và định vị bởi chức năng kia, làm nên quan hệ sống còn của nguồn máy, của tổ chức, của cơ chế. Cụ thể là khi tim ngừng đập, thì các nội tạng khác sẽ ngừng theo, và thân thể sẽ chết, chính tính lệ thuộc lẫn nhau này làm nên quan hệ tùy thuộc nơi mà một tổ chức là tập hợp những phần tử, phần tử này sống nhờ phần tử kia.

Quan hệ sinh tử này được ứng dụng trong dân tộc học mà tên gọi hiện nay là nhân học để giải thích quan hệ huyết thống tự gia tộc tới thống tộc, theo hàng dọc tự tổ tiên tới con cái, cháu chắt, làm nên quan hệ sống còn trong trật tự gia đình. Cấu trúc luận không ngừng ở dân tộc học, xã hội học… mà còn đi sâu vào ngôn ngữ học, khi nó giải thích trong một câu luôn luôn có : chủ từ, động từ, túc từ, chỉ cần một trong ba phần tử này mất đi, thì ngôn ngữ sẽ không sử dụng được, sẽ đưa đối thoại, trao đổi, truyền thông đi vào ngõ cụt, tức là không ai hiểu ai hết ! Cấu trúc luận xếp cá nhân vào trật tự sống còn của tập thể, nên nó tổ chức luôn nhân sinh quan, thế giới quan, vũ trụ quan của cá nhân. Tại đây, cấu trúc luận đã bị các đảng cộng sản lạm dụng để lập ra một cơ chế xã hội toàn trị, nơi mà độc tài qua độc đảng nắm toàn bộ bộ máy tuyên truyền để đánh lận con đen về các sự thật của nhân sinh, các chân lý của nhân tính, các lẽ phải của nhân tâm, để chế tác ra các quái thai chống nhân lý và nhân tri : "dân chủ thì phải tập trung" ; "dân làm chủ nhưng đảng lãnh đạo" ; "đất đai là sở hữu của toàn dân nhưng do nhà nước quản lý và đảng chỉ đạo"[16].

Đây không phải là cấu trúc luận khoa học mà là kiến trúc luận lưu manh ! Nơi mà duy vật hiểu theo nghĩa tồi tệ nhất để trở thành tội lỗi nhất, kiến trúc lưu manh với lý luận côn đồ xuất đầu lộ diện để truy diệt duy lý theo nghĩa nhân lý nhất ; và duy tâm theo nghĩa nhân tâm nhất[17].

Văn hóa luận (culturalisme), nơi mà văn hóa là kiến thức của cộng đồng, tri thức của tập thể, tại đây văn hóa luận phân tích và giải thích văn hóa như một hệ thống trật tự để tổ chức các phong tục tập quán, thói quen… như văn hóa đã tổ chức các kinh nghiệm, các kiến thức, các vốn liếng của tổ tiên để làm nên đạo lý cho cộng đồng và ý thức cho tập thể. Văn hóa luận tôn trọng để tôn vinh truyền thống, từ thờ cúng tới lễ hội… nơi mà các giá trị văn hóa chính là các giá trị tâm linh với ý nghĩa của đạo lý, với nội dung của luân lý.

Chính văn hóa xếp đặt các hành vi của cá nhân được lập lại theo truyền thống, nó xếp đặt luôn các lề thói về cưới hỏi, kinh tế, trao đổi… Văn hóa luận còn đi xa hơn nữa khi nó tổ chức các sinh hoạt ưu tiên : ngôn ngữ trong truyền thông, tư tưởng trong xã hội, ý thức trong hành động, nên văn hóa vừa có mặt trong quản lý xã hội, vừa có mặt trong môi trường giáo dục của một cộng đồng ; của một dân tộc. Chính văn hóa làm nên cho ý thức tập thể ; văn hóa biết biến cái tối đa của kiến thức thành cái tối đa của ý thức, để tạo nên sự đồng cảm giữa các thành viên có chung một văn hóa.

Khi các đảng cộng sản muốn cướp chính quyền, để sau đó áp đặt độc đảng qua độc trị, độc tài, độc quyền, độc tôn, thì các lãnh đạo cộng sản luôn tìm cách tấn công văn hóa, truy diệt truyền thống của đạo lý hay, đẹp, tốt, lành của một dân tộc, giúp dân tộc đó sống có bổn phận với giống nòi, và sống có trách nhiệm với đất nước. Mao đã giật dây dân tộc của hắn để làm Cách mạng văn hóa, chính là để hủy diệt văn hóa truyền thống. Và tên tội đồ này đã thí mạng bao triệu nạn nhân trong cuộc thảm sát này, mà nó không hề là một cuộc cách mạng văn hóa, mà thực chất là hủy diệt truyền thống văn hóa. Rồi Đảng cộng sản Việt Nam nối gót theo Đảng cộng sản Trung Quốc để làm Cải cách ruộng đất, vừa để thảm sát hàng trăm ngàn sinh linh bị vu cáo rồi vu khống là các thành phần địa chủ. Đây không hề là một cải cách mà là cuộc truy cùng diệt tận quan hệ làng nước trong quan hệ láng giềng cao đẹp trong văn hóa truyền thống Việt : bán bà con xa, mua láng giềng gần.

Các người đã :

Ma quyền hóa sinh hoạt Việt

 

Chủ động luận (dynamisme), đề nghị nghiên cứu thật sâu vào tính đa nguyên tạo ra đa tài, đa lực, đa trí, đa hiệu, đa năng, không những làm nền cho dân chủ, mà cũng là nội lực của tập thể, của cộng đồng, của dân tộc để hiểu tính chủ động thường trực trước mọi đổi thay xã hội, biến hóa thời cuộc, tiến bộ khoa học kỹ thuật… Chủ động luận đề nghị xem cạnh tranh trong thương mại, kinh tế là hằng số của nhân sinh, có cạnh tranh mới có tiến bộ ; cùng lúc chấp nhận tranh đua trong khoa học kỹ thuật như là một thực thể thường nhật của nhân sinh, vì có tranh đua mới có hiện đại hóa. Chủ động luận luôn đặt ra các câu hỏi để đánh giá lại các quyết đoán được rà soát lại bởi quá trình đề nghị-đối thoại-quyết định-hành động.

Đây chính là sung lực của đa nguyên, làm nên quá trình đối thoại-đối trọng-đối lực-đối kháng bằng phản biện để phản luận, làm hùng lực cho dân chủ đưa xã hội thăng tiến, đưa dân tộc thăng hoa. Chính hai quá trình này : đề nghị-đối thoại-quyết định-hành động trong đa nguyên để khơi dậy đa lực, đa tài, đa trí, đa năng, đa hiệu, tạo sinh lực cho đối thoại-đối trọng-đối lực-đối kháng, từ đó lấy cái đúng thuyết phục được cái sai, vì cái đa luôn khôn ngoan hơn cái độc, và khi dân chủ cô lập được độc tài, khi đa nguyên vô hiệu hóa được độc đảng, thì cái độc hại của độc trị sẽ không vận dụng được cái ác để gây ra tội ác. Không nên trông chờ hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn) chấp nhận chia lợi, chia quyền, cụ thể là chung-chia với hệ đa (đa nguyên, đa lực, đa tài, đa trí, đa năng, đa hiệu). Vì chung để chia, thì hệ độc sẽ mất hệ đặc (đặc quyền, đặc lợi, đặc ân)[18] của nó !

Chỉnh lý luận (rationalisme), bắt đầu bằng đề nghị tìm hiểu để giải thích tính duy lý khi con người đặt quyền lợi của mình trên quyền lợi của người khác, cụ thể là cá nhân chỉ thấy tư lợi của mình, nếu duy lý như vậy thì tự lợi của người này có thể gây nên thiệt hại cho người kia, thfi đây chỉ là loại ích kỷ thô thiển. Nên từ đây, chỉnh lý luận phân tích các thỏa thuận giữa các duy lý khác nhau, đang xung đột nhau để tìm ra tính hợp lý được tập thể, cộng đồng, xã hội công nhận, từ đó định nghĩa lại quyền lợi của cá nhân, vẫn giữ tư lợi nhưng phải biết là tư lợi không được gây hậu quả xấu tới tha nhân. Khi có được thỏa hiệp về quyền lợi cá nhân làm nên tư lợi cho mọi cá thể, thì tính toàn lý sẽ xuất hiện để bảo đảm tự do cá nhân được có mặt và được tăng tư lợi trong cuộc sống ; mà không quên công bằng xã hội giữa các cá nhân, các tập thể, nơi mà công bằng luôn có chỗ dựa là công lý[19]. Và, chính tự do cá nhâncông bằng xã hội cho phép bác ái ra đời trong đoàn kết và tương trợ, qua các cơ chế xã hội có mặt tự do cạnh tranh, nhưng cũng có mặt các hội đoàn từ thiện, các chủ thể thiện nguyện, các tổ chức nhân đạo…

Nên phương trình tự do-công bằng-bác ái tưởng là mâu thuẫn nhau, nhưng thực sự hỗ trợ cho nhau trong quan hệ hỗ tương chung-chia để chung-sống. Khi duy lý đã được điều chế bởi quá trình chỉnh lý-hợp lý-toàn lý thì duy lý sẽ rộng mở và sẽ rời duy lợi vì tư lợi để nhập nội vào quy trình chung để chia và chia để chung với tha nhân, với đồng loại, trên nguyên tắc của cộng hòa vì công ích xã hội qua phương trình tự do-công bằng-bác ái của dân chủ. Đây là chuyện mà một chế độ độc tài-toàn trị không bao giờ làm được, vì tự do dẫn tới đa nguyên, công bằng dẫn tới dân chủ, và bác ái dẫn tới nhân quyền, một quá trình của nhân trí phục vụ nhân vị, nhân tri phục vụ nhân tính, nhân lý phục vụ nhân tâm. Một chế độ độc tài-toàn trị không bao giờ muốn có tự do-công bằng-bác ái để phải công nhận đa nguyên-dân chủ-nhân quyền. Vì vậy các chế độ độc đảng-toàn trị luôn luôn đi về hướng : bất nhân !

Cá nhân luận (individualisme), không phải là cá nhân chủ nghĩa sẽ dẫn tới ích kỷ chủ nghĩa, mà cá nhân luận đưa ra định đề là mỗi cá nhân là một đơn vị tính toán của thống kê, là đối tượng của điều tra, khảo sát, nghiên cứu về một sắc tộc trong dân tộc học, về một xã hội trong xã hội học, về một đơn vị lao động trong kinh tế học…[20] Nên cá nhân là căn bản của mọi phân tích, nguyên tắc của mọi giải thích, và Weber đã cho ra đời cá nhân phương pháp luận (individualisme méthodologique) để đi sâu vào các dữ kiện xã hội, trong đó có các nguyên tắc tổ chức của tập thể, của cộng đồng, và sâu hơn nữa là các giá trị luân lý được đại diện bởi chính các cá nhân, thay mặt cho thân tộc, thống tộc, dân tộc của mình. Cá nhân luận là nơi nhận diện các trách nhiệm cá nhân trong chọn lựa cũng như trong quyết định trước khi hành động. Chính Tocqueville đã thấy được cá nhân luận là tiền đề của xã hội dân chủ, vì nó biết chống lại các thái độ độc tài, các hành vi độc đoán, các hành động độc tôn. Cách hành xử cả vú lấp miệng em không có chỗ đứng, ghế ngồi trong cá nhân luận, cho nên các chế độ độc đảng-toàn trị đứng ngồi không yên rồi mất ăn mất ngủ với cá nhân luận. Vì nó biết cổ súy tính đa nguyên của các cá nhân, vì nó biết cổ vũ tính sáng tạo qua sáng kiến trong phương pháp giải quyết của cá nhân luận để chống lại các quy luật độc trị được độc tài phổ biến qua tuyên truyền.

Cá nhân luận còn đi xa hơn khi nó phân tích quá trình thành lập các phong trào xã hội, tới từ các công đoàn tôn vinh dân chủ, các nghiệp đoàn tôn trọng nhân quyền để tạo ra các so sánh lực lượng mới, làm tiền đề cho cải cách thực sự đưa dân tộc thăng hoa. Cá nhân luận định nghĩa cá nhân không chỉ là một cá thể mà là một chủ thể có sáng kiến để có sáng tạo làm nên lực đẩy, dàn phóng cho chuyện thay đời đổi kiếp theo hướng tích cực. Cá nhân luận làm ra chủ thể có ý thức, không bao giờ vô cảm trước bổn phận với dân tộc, không bao giờ vô tâm trước trách nhiệm với đất nước. Cá nhân luận xây dựng chủ thể có lương tâm với với đồng bào, sống lương thiện với xã hội, luôn giữ lương tri với tiền đồ dân tộc.

Và trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay, các chủ thể chính thống lại là các tù nhân lương tâm, đang trong vòng lao lý, vì quả cảm đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ, họ đang bị hành hạ, đày đọa bởi bạo quyền. Chính các tù nhân lương tâm này đã và đang đại diện cho hệ lương (lương tâm, lương thiện, lương tri) cho Việt tộc ! Cá nhân luận là một trong những gốc, rễ, cội, nguồn để thay, để tháo, để gỡ, để xóa độc đảng-toàn trị đang sâu dân mọt nước qua hệ tham (tham quan, tham ô, tham quyền, tham quan, tham tiền), đang bòn rút của cải dân tộc, đang tiêu hủy tài nguyên đất nước.

Tri thức luận (cognitivisme), rời bỏ để dứt khoát với mọi phương pháp dựa trên siêu hình học (linh hồn, thiên đàng, địa ngục…) để lập lại quá trình xây dựng ý thức chỉ bằng kiến thức thí nghiệm được, tri thức kiểm chứng được. Tri thức luận thẳng thắn chấm dứt với mê tín, dị đoan, và đã chọn khoa học não bộ và khoa học thần kinh làm tiền đề và thượng nguồn để khám phá quá trình xây dựng tri thức của con người biết chế tác ra niềm tin dựa trên đạo lý hay, đẹp, tốt, lành, có đạo đức của chân, hiện, mỹ, có luân lý của bổn phận và trách nhiệm của mọi cá thể muốn sống đúng và sống chung cùng một xã hội với tha nhân. Hai trường phái chính của não bộ học vừa đối lập nhau, vừa bổ sung cho nhau trong qua trình giãi thích các sinh hoạt của não bộ : trường phái duy vật mang định đề chỉ có bộ óc là nơi quyết định tất cả mọi việc ; và trường phái môi trường thì tạo định luận qua bối cảnh của môi trường xã hội sẽ tác động trực tiếp lên năng lực của não bộ, cụ thể là não bộ thay đổi và chuyển hóa theo môi trường.

Trong nghiên cứu về tâm lý học tri thức thì Jame nhận định vai trò của bộ óc là để bảo đảm thăng bằng bền vững cho cá nhân ; và Watson đã đi sâu thêm khi giải thích bộ óc mang sung lực tổ chức hóa mọi hành động của cá nhân. Trong các công trình về não bộ học thì Churchland đưa ra các phân tích về bộ óc là nơi có khả năng diễn luận kinh nghiệm của cuộc sống, từ đó biến thành ý thức để xây dựng ra các hành động cho tương lai, lý luận này được tiếp nối bởi các công trình của Edelman nhận định bộ óc như một hệ thống biết tự tổ chức, nơi mà ý thức làm tiền đề tạo dựng lên các cơ sở lý giãi để phân loại và so sánh các sự kiện.

Chính não bộ học[21] thăng tiến liên tục với những khám phá mới về các khu vực sinh hoạt của nảo đã cũng cố vai trò giải luận của tri thức luận, hiện có chỗ đứng trung tâm trong hầu hết các chuyên ngành của khoa học xã hội nhân văn. Trong tình hình của xã hội Việt Nam dưới bạo quyền độc đảng, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền thì tri thức luận là nguồn nước ngầm sẽ trở thành sóng thần trong tương lai để giúp mọi công dân của Việt tộc thay đổi não trạng sau bao năm làm nạn nhân của bộ máy tuyên truyền ngu dân trong mê lộ của dối trá, gian manh, lừa đảo[22].

Tri thức luận đủ nội lực để xóa đi nguồn máy độc tài nhưng bất tài trong việc bảo vệ đất nước, đủ sung lực để loại bỏ bộ máy độc trị nhưng không biết quản trị để đưa dân tộc vào tiến bộ và văn minh. Tri thức luận biết phối hợp với tất cả các nghành KHXHNV để giúp dân chủ trong đa nguyên lột mặt nạ bọn tổ chức học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả, cùng lúc lột trần quá trình mua điểm-bán bằng trong tà lộ của mua chức chức-bán quyền, để vạch mặt chỉ tên bọn sâu dân mọt nước đang lẩn lút như âm binh trong ma lộ của buôn dân-bán nước cho Tàu tặc. Vì tri thức luận biết quản lý sự thật-chân lý-lẽ phải bằng hệ thức, nơi mà kiến thức là sung lực của tri thức, ý thức là hùng lực của nhận thức.

Các người đã

Tàu nạn hóa dân tộc Việt

 

Ngữ vựng, ngữ văn, ngữ pháp là một tổng thể hoàn chính để định nghĩa một thực tế, từ đó lập nên định đề để định luận qua hệ luận : có lý luận để tìm ra đường đi nước bước, có lập luận biết xây dựng từ nền lên mái ; có giải luận để hiểu đâu là hằng số, đâu là biến số của tội ác, để thấu luôn đâu làm hàm số, đâu là ẩn số của tội phạm ; có diễn luận theo cấp bậc : đâu là lỗi, đâu là tội, bằng phương pháp luận của khoa học xã hội của thực địa (dân tộc học, sử học, nhân học…) [23] và của khoa học nhân văn của văn bản (ngôn ngữ học, triết học, văn học…), nên định nghĩa dọn đường cho định đề, chọn chỗ cho định luận :

Tàu tặc đã chiếm đất, chiếm đảo, chiếm biển, rồi còn bắn giết, sát hại ngư dân Việt trước một Đảng cộng sản Việt Nam nhắm mắt-cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối trước Tầu tặc, từ ngày quy hàng Đảng cộng sản Trung Quốc qua mật ước Thành Đô, từ đó cho tới nay Tầu tặc đã nắm dao đằng chuôi để Đảng cộng sản Việt Nam phải đứng trước mũi dao để ngày ngày phải : hèn với giặc-ác với dân.

Tàu nạn, đang hằng ngày đe dọa Việt tộc với ô nhiễm môi trường, nơi mà môi sinh bị truy diệt bởi chính các tập đoàn mang công nghiệp bẩn của Tàu sang đất Việt, từ các nhà máy luyện thép tới các nhà máy điện than, đang tạo ra các làng ung thư. Với cả Tây nguyên bị khai thác vô tội vạ, bầy nhầy nhiễm ô. Mà ta không được quên thực phẩm bẩn với hóa chất độc tới từ Tầu tạo ra ung thư cấp quốc gia mà các cơ quan y khoa quốc tế đã xếp Việt Nam là một quốc gia đang trong vòng tử nạn của ung thư hóa, một chuyện chưa bao giờ có tại Việt Nam, và không thể tưởng tượng được trong tư duy bình thường của các công dân các quốc gia văn minh.

Tàu hoạn, không những thông đồng với bọn phản dân hại nước, mà Việt tộc gọi chúng là : nội xâm ! Cả ngoại xâm Tàu hoạn và nội xâm (tham quyền để tham tiền, tham quan để tham nhũng), đã và đang biến dân Việt thành lao nô, nô tỳ thấp kém nhất cho chúng sỉ nhục ngay trên đất Tàu, bị hành hạ như loại nô lệ giữa thế kỷ XXI này. Chưa hết, chúng còn tổ chức bắt cóc người Việt từ trẻ con tới phụ nữ để mổ mà cướp nội tạng của đồng bào ta, cái hoạn của Tầu là cái hèn của Đảng cộng sản Việt Nam làm nên cái nhục cho Việt tộc.

Tàu họa, đúng là họa : họa mất nước, họa nô lệ, họa diệt vong… tất cả từ Tầu, dưới bóng đêm của âm binh buôn dân bán nước của bạo quyền độc đảng, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền lẩn lút trong gian nghiệp của điếm lộ. Bắt đầu là Tầu trúng thầu qua tham nhũng để tham quan vơ vét trước, sau đó chính dân tộc lãnh mọi hậu nạn, với các công trình đội vốn, rồi dân Việt còng lưng để trả thuế, lẫn nợ công đã ngập đầu, ngập mặt. Một dân tộc nheo nhóc trong mê lộ, với một tập đoàn lãnh đạo mà thực chất là một tập đoàn tội phạm đã có nhà, có của, có thẻ xanh, có thẻ cư trú tại phương Tây.

Mô thức giải luận về Tàu nạn-Tàu tặc-Tàu hoạn-Tàu họa, lập ra để dẫn đến mô hình lập luận thế nào là Tàu tà nơi mà cái xấu, tồi, tục, dở của Tàu tà sẽ được thực hiện qua cái thâm, độc, ác, hiểm của Tàu tặc sẽ xóa, loại, diệt, hủy mọi đạo lý hay, đẹp, tốt, lành của Việt tộc !

Các người đã

Mạt vận hóa chính sự Việt

 

Đây không chỉ là ngữ pháp, mà là mô thức giải luận cũng để tới được mô hình lập luận về đám bạo quyền lãnh đạo, về lũ tà quyền tham quan, về bọn ma quyền tham tiền, khi tôi lập nhân dạng qua xã hội học để nhận ra nhân diện của chúng qua tâm lý học, rồi phân tích nhân cách của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam qua chính trị học ; với các chỉ báo sau đây : họtự kiêudù họ biết họ tồi hơn thiên hạ. Họtự mãndù họ biết họ xấu hơn bá tánh. Họtự phụdù họ biết họ thấp hơn quốc tế. Họtự đạidù họ biết họ dở hơn tha nhân. Họ tự kiêu nhưng họkhông tự tin, vì họ không có nội công trong lý của trí. Họ tự mãnnhưng họ không tự chủ, vì họ không có bản lĩnh trong trí của tuệ. Họ tự phụ nhưng họ không tự trọng, vì họ không có tầm vóc trong tuệ của giác. Họ tự đại nhưng họ đầy tự ty, vì họ không có hùng lực trong đạo của lý. Họ dùng độc đảng của họ để họ ăn hiếp dân tộc họ,nhưng họ lại cúi đầu trướcbạo quyền Tàu tặc Họ dùng độc tài của họ để họ hiếp đáp dân tộc họ, nhưng họ lại cong lưng trướctà quyền Tàu hoạn. Họ dùng độc quyền của họ để họ trấn áp dân tộc họ nhưng họ lại quỳ gối trướcma quyền Tàu họa. Nên mô thức giải luận của mô hình lập luận đốn mạt nghiệp-mạt vận kiếp rất hợp với "chân dung quyền lực" của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam !

Theo chân phản xạ của bạo quyền độc trị, của phản ứng tà quyền độc tôn, theo ứng xử của ma quyền độc tài, mà trong triết học đạo đức người ta đã gọi là liên minh giữa âm binh luôn tham quyền-lạm quyền-lộng quyền cho tới chết. Đốn mạt vận tới khốn nạn kiếp là bọn bút nô, ký nô, báo nô của các người vu khống để vu cáo với ngữ pháp thô thiển cùng ngữ văn thô bỉ về các công trình nghiên cứu, khảo sát, điều tra, điền dã rất liêm chính về số phận Việt tộc đang bên bờ vực thẳm dưới chế độ độc đảng có nọc độc hại của nội xâm, đang lập lờ mở cửa cho ngoại xâm Tàu tặc xâm chiếm rồi xâm lược đất nước Việt.

Đảng cộng sản Việt Nam nuôi dưỡng bọn bút nô, ký nô, báo nô khi ngậm máu phun người thì chúng lại giấu tên, chúng không dám đối diện với chứng từ của khoa học vì chúng không bao giờ dám đối luận với chứng cớ để lập luận, giải luận với chứng tích để có diễn luận khách quan. Một chế độ độc đảng lấy tiền thuế của dân để nuôi bọn bút nô, ký nô, báo nô cùng một lực lượng ngàn ngàn dư luận viên lẩn lút như ma trơi, ma xó, ma bùn để làm công việc chó cắn trộm. Nạn nhân của cuộc thanh trừng chống Nhân Văn giai phẩm, Trần Dần[24] biết rất rõ bọn này, Trần Dần đặt tên cho chúng là bọn chuyên nghề : chém sau lưng ! và khi cơ chế của Đảng cộng sản Việt Nam sinh đẻ ra loài nửa dơi, nửa chuột này thì bạo quyền đã nhập nội với tà quyền thành ma quyền rồi ! Khi được thông báo về lực lượng âm binh này, thì chính các chuyên gia quốc tế tư vấn cho các quốc gia có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền, họ đã thấy Việt tộc đang sa cơ vào : tà lộ của ma quyền[25].

Các người đã

Gian trá hóa niềm tin Việt

 

Gần mực thì đen nên gần âm binh thì bị lây ám khí, những đứa con tin yêu của học thuật, những đứa con yêu dấu của nghệ thuật thành, những người "dị ứng" với Đảng cộng sản Việt Nam, lợm giọng mỗi lần Đảng cộng sản Việt Nam lấy công an, lấy giám hiệu, lấy đảng bộ ra dọa nạt những người trí thức đang giảng dạy tại các đại học. Đảng cộng sản Việt Nam không biết đây là thất bại nhân tâm đã dắt tới thảm bại nhân đức từ khi Đảng cộng sản Việt Nam áp đặt chế độ công an trị lên nhân kiếp của Việt tộc gần một thế kỷ qua. Muốn hiểu sự thất bại về nhân tâm, sự thảm bại về nhân đức, thì các người chỉ cần suy nghiệm chỉ một câu của triết gia Ricoeur : "Một chế độ tốt có cơ chế tốt làm nên đời sống tốt vì biết dựa vào quan hệ tốt". Chỉ một chữ tốt mà nó bao trùm từ sinh hoạt xã hội tới quan hệ xã hội làm nên đời sống xã hội[26].

Trong số kiếp của các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam chưa bao giờ họ suy nghiệm để suy ngẫm, suy tư đàng hoàng để tư duy tử tế về chữ tốt này. Vì nếu các người có tâm nguyện đạo lý về chữ tốt này, thì các người đâu có bị nhân dân hiện nay đặt biệt hiệu là : mưu hèn kế bẩn. Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không đi tìm đâu xa, cũng không cần học ngoại ngữ, các người chỉ cần lấy môt ca từ của nhạc sĩ Phạm Đình Chương trong ca khúc Ly Rượu Mừng : sáng cuộc đời lành ! ra mà tâm niệm để tâm huyết, rồi biến ý nguyện sáng lành này thành ý lực sáng tốt, từ đó các người sẽ thấy nhân sinh quan của các người tốt hơn, sẽ nhận ra thế giới quan của các người lành hơn.

Ăn ở có nhân để có hậu là đạo lý cốt lõi của tổ tiên Việt, vận dụng bao đời để giáo dục rồi giáo dưỡng Việt tộc. Không bao giờ có chữ nhân trong sinh hoạt đảng, vì chữ nhân[27] này không bao giờ có trong chính sách, trong nghị quyết của Đảng cộng sản Việt Nam, thì đừng mong nó có trong nhật thứ của Đảng cộng sản Việt Nam, vì nó hoàn toàn vắng bóng trong ngữ pháp từ khi các người lập đảng. Vì lịch sử của Đảng cộng sản Việt Nam được viết bởi ngữ pháp gian trá, ngữ văn gian manh, ngữ vựng gian xảo mà kẻ bị lừa chính là dân tộc Việt ! Cả một giống nòi đã là nạn nhân từ khi Đảng cộng sản Việt Nam nắm chính quyền, và gần một trăm triệu nạn nhân hiện nay vẫn phải gánh chịu, các người chính là thủ phạm đã biến nhân kiếp của Việt tộc thành nhục kiếp !

Vô trương bất tín, không thấy không tin nên thấy rồi mới tin, nơi mà kinh nghiệm và trải nghiệm chỉ là một : trả giá bằng kinh nghiệm cá nhân để nhận rõ thật hư, để hiểu rõ vàng thau. Những nạn nhân vì bị các người lừa thủa Mặt trận Việt Minh, những nạn nhân buổi giao thời 1975, khi các người tuyên truyền là du học sinh miền Nam nên về quê hương vì đã có hòa bình, thống nhất rồi nên về phục vụ, để xây dựng lại quê hương dưới sự chỉ đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Những nạn nhân là du học sinh sau thế chiến thứ hai như Trần Đức Thảo, Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Khắc Viện… đã cả tin Hồ Chí Minh, họ đã về nước theo lời gọi gian trá, lời hứa gian manh, lời nguyện gian xảo của các người. Họ trở về và họ đã thí mạng [28] !

Các người đã

Gian lận hóa nỗi niềm Việt

 

Thức khuya mới biết đêm dài, chữ có-nhân-để-có-hậu của tổ tiên Việt luôn đối trọng để đối kháng với cái bất nhân-nên-vô hậu có trong hành xử gian trá, hành tác gian manh, hành động gian xảo của Đảng cộng sản Việt Nam. Muốn thấu hiểu tâm địa rất độc địa của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam trong phản xạ truy diệt các nhân sĩ yêu nước không theo Đảng cộng sản Việt Nam, thì khẩu lệnh kiểu sát nhân của Tố Hữu có ngay : "giết, giết, giết..." rồi "nhắm thẳng đầu thù mà bắn" ... thì tâm địa sát khí dày đặc độc khí tuyên truyền sát nhân biến dã tâm thành ác luận của Đảng cộng sản Việt Nam.

Nhưng Việt tộc luôn tin vào nhân phẩm làm nên nhân vị, để nhân từ tạo nên nhân cách, con người có thể sống lành, sống tốt mà không coi ai là đối thủ của ai, không coi ai là đối phương của ai, Việt tộc không biến tha nhân thành kẻ thù, rồi thành tử thù để phải giết nhau giữa nhân sinh. Như Đảng cộng sản Việt Nam đã dựng lên kịch bản 1954-1975, với thảm cảnh huynh đệ tương tàn, với hàng triệu triệu con dân Việt, phải bôi mặt để giết nhau trong cuộc nội chiến Bắc-Nam ![29] "Tôi từ chối giết người, vì giết người rồi, tôi sống với ai ?", đó là một ca từ của của nhạc sĩ Phạm Duy, mà các người có thể ngồi thật yên, thở thật sâu với nhân vị thiền định để suy nghĩ về nhân cách đã trống nhân tâm, về nhân cách đã vắng nhân tính khi Đảng cộng sản Việt Nam chỉ biết dùng bạo lực với đồng bào của mình.

Vụ Thủ Thiêm đã hàng chục năm với hơn hàng chục ngàn đồng bào, một sớm một chiều từ dân lành thành dân oan trong bi cảnh đầu đường xó chợ ; vụ vườn rau Lộc Hưng với hàng trăm gia đình trong họa cảnh màn trời chiếu đất ; cả hai vụ đều chưa dứt nước mắt thì các người mang hàng ngàn công an ngày 09 tháng giêng 2020, tới sát hại một đồng chí lão thành của các người : cụ Lê Đình Kình, một người còn nhân vị trước công lý, vì biết giữ nhân cách để đấu tranh vì công bằng. Còn các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam thì nhân tâm đã mất nên nhân vị chẳng còn, nhân đức vắng biệt nên nhân cách đã bỏ đi biền biệt, vĩnh viễn đi mất tăm, mất tích, khi Đảng cộng sản Việt Nam đã mổ bụng, phanh thây cụ Lê Đình Kình. Ý đồ của Đảng cộng sản Việt Nam là đe dọa dân lành đang đấu tranh đòi công bằng, gào công lý, các người tự vỗ ngực là bạo quyền sát thủ, là tà quyền sát nhân, mà không quên sử dụng ma quyền côn đồ, lưu manh, xã hội đen để ngày ngày truy hiếp dân lành, dân den, dân oan.

Khẩu phật tâm xà là dư âm của loài lòng lang dạ sói khi ông Chủ tịch nước kiêm Tổng bí thư chúc tết đồng bào, luân lý bị đánh tráo, đạo lý bị đánh sụp, đạo đức bị mổ bụng phanh thây, khi phải nghe ông này nói : "chưa bao giờ dân ta được như ngày hôm nay", "chưa bao giờ dân tin đảng như bây giờ"... Lạ quá, sao lại có một dân tộc tin vào những kẻ sát nhân, cướp đất giết người ?[30] Thiển nghĩ các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam nên để vài phút ra mà thấy để thấu Việt tộc đang ở tâm trạng nào đây khi trao thân gởi mạng kiểu cá nằm trên thớt cho một tập đoàn tội phạm độc đảng luôn có hành tác trộm, cắp, cướp, giật của bạo quyền với lòng tham không đáy.

Suy bụng ta ra bụng người, là giáo lý Việt của tổ tiên Việt để lại cho con cháu không thể nào vận dụng vào tâm khảm làm nên tâm địa của các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, vì muốn biết người biết ta, thì ngay trên thượng nguồn phải có nhân từ để bảo đảm cho nhân vị, phải có nhân bản để bảo trì cho nhân cách. Mà chữ nhân, từ nhân tâm tới nhân nghĩa đã vắng bóng hoàn toàn trong tâm trạng làm nên tâm tư của các người, thì làm sao các người có thể đoán đúng, dò trúng tâm tình của dân tộc để đưa Việt tộc vào tiến bộ của văn minh có dân chủ làm nên văn hiến cho nhân quyền.

Có một tư tưởng gia của thế kỷ XX có thể giúp các người suy nghĩ để suy luận thêm về nhân vịnhân cách của các người, đó là Levinas, khi ông đúc kết đạo đức học bằng triết luân lý : "Nỗi lo của ta tới từ khuôn mặt của tha nhân". Nếu các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam thấy để thấu được nỗi-lo-lẫn-nỗi-buồn hiện nay trên các khuôn mặt của đồng bào, của Việt tộc hiện nay đang bị đày đọa trong địa ngục do chính Đảng cộng sản Việt Nam lập ra bằng bạo quyền công an trị, bằng tà quyền tham quan trị, bằng ma quyền tham tiền trị thì các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã đi được bước đầu tiên trên nhân lộ để tìm ra nhân vị lẫn nhân cách của các người[31].

Có thực mới vực được đạo, mà thực đối với các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là thực phẩm cũng như tiền bạc phải ăn càng nhiều càng tốt, còn đối với trí thức chân chính thì thực phải là sự thực làm nên sự thật có rễ của chân lý để lẽ phải được đâm lộc kết chồi. Nhưng bi kịch của Việt tộc trong tay cuồng quyền của các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã gian trá hóa sinh hoạt xã hội, đã gian manh hóa quan hệ xã hội, đã gian xảo hóa đời sống xã hội, mọi cái thực trong cái thật đã bị giả hóa. Học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả để chuyện mua bằng bán cấp và chuyện mua chức bán quyền là loại ung thư đôi có trong bi hài kịch của xã hội ngày nay, có bằng cao học mà lái xe ôm, có bằng tiến sĩ mà trốn chuyên môn[32].

Các người đã

Vô cảm hóa nội tâm Việt

 

Ăn bát cơm dẻo, nhớ nẻo đường đi, đó là câu chuyện ân nghĩa đồng bào đã làm nên ánh sáng để lành mạnh hóa cuộc đời, đây là một câu chuyện vừa chân thật lại vừa thông minh trong lương tri chính trị, vì nó nghịch chiều với câu chuyện của các người là : hứa cuội, hứa hão, hứa điêu, hứa ngoa, hứa láo với dân tộc bằng một ý thức hệ ngoại lai về một thiên đường cộng sản. Để khi dân tộc khám phá ra lực lượng cộng sản chỉ là một tập đoàn tội phạm của bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham nhũng, ma quyền tham tiền, tất cả chỉ là một tạp-hợp âm binh luôn tránh né cái lành, vì luôn lo sợ cái sáng : ánh sáng của sự thật, ánh sáng của chân lý, ánh sáng của lẽ phải.

Lột mặt nạ bọn buôn dân bán nước, là thượng nguồn của mọi hành trình trong ý thức dân tộc, mà con dân Việt hiện nay phải vận hành để trở thành chủ thể, để chủ quyết trong chủ động, để bảo vệ Việt tộc, nơi mà mọi con dân Việt đều có chung một giòng sinh mệnh với giống nòi Việt, đồng mệnh [33] trước hai họa nạn : nội xâm cuồng quyền vì dại tiền, ngoại xâm quỷ quyền vì tham đất, tham biển.

Nắng ba năm ta không bỏ bạn, mưa một ngày bạn đã bỏ ta, chân lý nhân sinh để nhận diện ra sự phản bội mà cũng là trí khôn Việt tộc để nhận ra sự phản trắc của một lực lượng chính trị, mượn xương máu đồng bào để cướp chính quyền rồi lộng quyền-lạm quyền-tham quyền, để bội phản chống giống nòi, để bội bạc với tổ tiên. Mỗi chọn lựa nhân vị có cái giá của nó, mỗi chọn lọc nhân cách có cái hy sinh của nó. Đúng ! chỉ có sự hy sinh biết rửa bẩn thành trong, đục ngầu thành thanh khiết, một sự hy sinh tự trong sạch hóa, vừa biết đường đi nẻo về của đạo lý Việt, vừa biết đi tới, chảy tiếp trong giòng luân lưu của lương tri Việt tộc trong suốt, vượt thắng đục nội xâm, vượt thoát bẩn ngoại xâm [34].

Và ngay trên thượng nguồn, khi nội xâm đang vơ vét tiền bạc của dân tộc, đang nạo vét tài nguyên của đất nước, thì mọi con dân Việt có lương tri phải tự biết đặt cho mình các câu hỏi sau đây : Cuộc sống hiện nay của Việt tộc mà chúng ta đang sống đây có phải là cuộc sống thật hay không ? Sự thật ở đâu khi chế độ độc đảng có độc quyền bưng bít, đánh tráo sự thật ? Chân lý ở đâu khi chế độ độc trị đang quản trị dân tộc bằng tuyên truyền mang trá ? Lẽ phải ở đâu khi cả xã hội Việt đang sống bằng sự giả dối nơi mà mọi giá trị đạo lý đều bị truy diệt ?

Khi chính chế độ độc đảng trong độc hại đang xóa, tẩy, hủy, diệt mọi khái niệm đồng bào trong đồng cam cộng khổ, trong đồng hội đồng thuyền để giờ đây mỗi con dân Việt chỉ là một cá thể ích kỷ trong đơn lẻ, không hề đồng tình, đồng tâm, đồng lực để thăng hoa cuộc sống bằng sự thật-chân lý-lẽ phải ! Đây chính là sự thảm bại lớn nhất của Đảng cộng sản Việt Nam, mà cũng là một trong những cái tội to nhất của Đảng cộng sản Việt Nam.

Nhìn xa trông rộng để được làm người, tôi xin kể một câu chuyện cho các người nghe, vì tôi biết chắc chắn là các người không biết câu chuyện này, mà tôi là nhân chứng mắt thấy tai nghe. Đó là câu chuyện trong giới trí thức, trong tầng lớp học thuật của phương Tây, lấy lý luận của kiến thức để xây lập luận cho tri thức, từ đó đi tìm giải luận để hiểu sự thật, nắm bắt được diễn luận để mở đường cho lẽ phải nhập nội vào nhân sinh. Đó là thời điểm lịch sử sau 1975, khi Đảng cộng sản Việt Nam tự vỗ ngực để tự xướng tên là : "Đảng lãnh đạo mọi thắng lợi của dân tộc", "Đảng đã đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào", "Đảng đã làm nên một cuộc cách mạng thần thánh"… ; thì cùng lúc đó các tư tưởng gia, các lý thuyết gia, các chuyên gia quốc tế hầu hết đều nhận ra là chủ nghĩa cộng sản là một thảm họa không sao lường được cho nhân loại !

Nói có sách, mách có chứng theo cách phân tích của tổ tiên Việt là khi đàn anh các người đang lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam đang tự vỗ ngực để tự xướng danh, thì các người thầy của tôi tại phương Tây đã làm trọn vẹn vai trò tri thức của họ[35]. Chính họ đã chứng minh được không những bằng hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận) dựa vào hệ chứng (chứng nhân, chứng tích, chứng từ, chứng thư)duy vật biện chứng sản sinh ra duy vật sử quan là một luận thuyết thô sơ để mị dân, thô bạo để ngu dân, thô tục để ru dân, thô lậu để lừa dân.

Nên nó đã sát nhân từ khi Lenin hành tác trong chuyên chính vô sản ; từ khi Staline hành động trong thanh trừng để thanh toán hàng triệu người ; từ khi Mao đã tổ chức cuộc thảm sát bằng Cách mạng văn hóa, mà các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam đã lập lại bản sao qua Cải cách ruộng đất. Một thời mà thi sĩ Tô Thùy Yên đã mô hình hóa được bằng thi ca của ông : "Thịt rơi xương rụng trùng trùng. Một thời thế đổ với cùng xác thân"… Thời của hành quyết để vinh danh thảm sát, thời của máu đã mở đường cho nước mắt, thời của cái ác tự xưng tên xướng danh là cách mạng.

Tại Châu Âu ngay sau 1975, không những hai đối thủ "không đội trời chung" trong học thuật là Aron và Sartre đã lý cùng mâm, luận cùng chiếu để tìm mọi cách vớt thuyền nhân Việt Nam đang vật vờ trong đầu sóng ngọn gió, cùng lúc tính mạng của họ luôn bị đe dọa bởi bọn hải tặc biển Đông, chỉ vì các thuyền nhân Việt này chỉ muốn trốn khỏi địa ngục trần gian của các người. Mà trước đó nữa hàng chục năm trước 1975, đã còn có bà Carrère d'Encausse, thông báo rất sớm bằng những công trình nghiên cứu của bà là hệ thống cộng sản Đông Âu chắc chắn sẽ sụp đổ, vì Liên Xô chỉ là một chế độ bất nhân đang xây lâu đài trên cát, suy nghiệm đã thành sự thật với sự sụp đổ toàn diện của hệ thống cộng sản Đông Âu từ 1990.

Các người đã

Dại chợ hóa ngoại giao Việt

 

Khôn nhà dại chợ kiểu gà què ăn quẩn cối xay, loại chó cậy gần nhà, để khi ra gặp hợp tác quốc tế thì cúi đầu ; khi gặp chất vấn quốc tế thì khoanh tay ; khi gặp đối đáp quốc tế thì khom lưng mà niểng cho qua chuyện. Ma xó bị ngợp dưới mặt trời. Các chuyên gia quốc tế tư vấn cho các quốc gia có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền, họ không lầm khi họ nhận ra nhân diện của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam không có ánh sáng của nhân vị, khi nhân dạng của các lãnh đạo này không có hào quang của nhân cách. Chỉ vì các chuyên gia quốc tế này không thấy nhân trinhân trí trong nhân bảnnhân văn của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam, họ không thấy nhân lýnhân tính, họ không nhận ra nhân tâmnhân từ của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam. Họ không thấy thông minh Việt : "Người khôn chưa đắn đã đo. Chưa ra tới biển đã dò nông sâu" trong nhân diện lẫn nhận dạng của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam.

Tàu tặc đang chiếm biển, đảo của Việt tộc ; Tàu họa đang gây nhiễm ô từ không khí bằng các nhà máy nhiệt điện than cho tới Formosa đã hủy diệt cả một vùng biển miền Trung ; Tàu nạn đang buôn người, buôn nội tạng, buôn ma túy ; Tàu hoạn với thực phẩm bẩn, hóa chất độc, tất cả tạo nên một chướng khí trong âm địa mà Tàu tà đang trùm phủ lên nhân kiếp Việt. Giờ thiêng của Việt tộc, ngày linh của đất nước Việt đã tới, con dân Việt phải quyết đoán trong quyết tâm, để quyết liệt bằng quyết luận là không lùi, để không bị rơi bẫy của Tàu tà.

Và trước mắt và ngay trên đất nước mình, con dân Việt phải đối diện với bạo quyền để đối trọng với tà quyền, đối luận với nội xâm để đối kháng chống ngoại xâm, như chống lại những cái bất nhân, phi nhân, xảo nhân đang có mặt ngay trong chế độ độc hại của Đảng cộng sản Việt Nam. Faucault yêu cầu mọi người phải thấy trong quyền lực chính trị không chỉ có trong cơ chế của nó, mà phải nhận ra cái lộng quyền của nó trong sinh hoạt xã hội, cái lạm quyền của nó trong quan hệ xã hội, cái tham quyền của nó trong đời sống xã hội. Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam có cả ba : lộng quyền, lạm quyền, tham quyền.

Khôn nhờ dại chịu lại là một bất công khác đang đổ trên đầu, trên vai, trên lưng Việt tộc, khi lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam khờ trước quốc tế nhưng ác trước quốc nội, dại với người ngoài nhưng độc với đồng bào, theo biểu tượng thấp tồi mà dân Việt đã đặt tên để gọi kiếp cho các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam : hèn với giặc, ác với dân ! Đây là thảm kịch đôi của Việt tộc đã bị một độc đảng cường quyền chặn dân chủ, dẹp nhân quyền, mà chính trong nội bộ của các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam cũng không bao giờ có tài, loại minh vương mà các đời Lý, Trần đã có. Không có luôn minh chủ của đời Ngô, đời Đinh ; càng không có minh quân với tầm vóc của Trần Hưng Đạo, với vai vóc của Quang Trung… Còn minh sư kiểu Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bình Khiêm, Ngô Thời Nhiệm[36]… đang có mặt trong giới trí thức Việt hiện nay, thì ngày ngày bị các người trù, dập, truy, diệt.

Vì trong thâm tâm của các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam rất lo là nhân trí của minh sư sẽ dẹp âm tri của các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam ; đã mất ăn mất ngủ vì trong tâm địa của các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam mang một nỗi sợ là nhân lý của minh sư sẽ xóa đi âm dạng của các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Khi văn sĩ Malraux đóng vai minh sư đã khuyên minh quân De Gaules trước cao trào kỳ thị chống người ngoại quốc tới quá nhiều nước Pháp, chỉ bằng một câu của chân tâm mang đầy hùng lực của minh trí trước bọn đầu cơ chính trị lấy mỵ dân để nuôi kỳ thị, khi Malraux tuyên bố : "Bổn phận của nước Pháp là phải tiếp nhận và nuôi dưỡng các nhân tài của thế giới". Minh quân tỉnh táo biết chọn minh sư sáng suốt, như biết chọn lựa nhân vị lãnh đạo của mình, như biết chọn lọc nhân cách chính trị của mình ; các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam có trình độ trí thức để có mức độ tri thức này không ?

Đại ngục điện tiền, với quỷ dữ giữa trần gian đang bẩn thỉu hóa trần thế để ô nhục hóa Việt tộc bằng bạo quyền công an trị, bằng tà quyền tham quan trị, bằng ma quyền tham tiền trị khi các người biến thanh niên Việt thành lao nô, các phụ nữ Việt thành nô tỳ cho các nước láng giềng trong kiếp nô lệ với điều kiện lao động bại nhân vị, thảm nhân cách ! Biến đồng bào thành lao nô để thu ngoại tệ cùng lúc để tổ chức các đường dây buôn người, bòn rút tận xương tủy tiền bạc của đồng bào là một ý đồ ma luôn song hành cùng với mưu đồ quỷ là diệt nhân tài, giết hiền tài. Tránh tri thức vì sợ bị lột mặt nạ là các người bất tài ! Tránh trí thức vì sợ bị vạch mặt chỉ tên là các người ôm độc trị nhưng không biết quản trị !

Chẳng cần cháy nhà mới lòi mặt chuột, vì Việt tộc hiểu Việt sử hơn ai hết : bọn cướp ngày là quan, tà quan trong điếm quyền, ngụp lặn trong tham quan để tham ô, đuối ngộp trong tham nhũng vì tham tiền[37]. Triết gia Deleuze tỉnh táo nên sáng suốt nhận ra : "Bọn độc tài không sợ phản luân lý, chúng chỉ sợ phong trào xã hội". Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam có thấy các phong trào đấu tranh cho công lý vì công bằng xã hội đang lớn mạnh ! Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam có thấy các phong trào phấn đấu tranh cho dân chủ vì tiến bộ nhân sinh đang lớn lên ! Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam có thấy các phong trào đối kháng vì văn minh nhân quyền đang lớn rộng !

Phản dân hại nước là tà lộ của tà quyền, chóng chầy sẽ sa vào ma lộ của buôn dân bán nước cho Tàu tặc. Trong lúc chờ đợi đa nguyên trong đa đảng để Việt tộc có đa trí, đa tài, đa năng, đa hiệu[38]mà thăng hoa cùng nhân loại, thì chính các phong trào của xã hội dân sự sẽ tạo ra sung lực để tẩy, xóa, khử, trừ đi tà quyền đang tham quyền, ma quyền đang tham tiền. Âm binh nội xâm đã sa vào tà lộ của loài cõng rắn cắn gà nhà, nhưng thật xót xa là bọn âm binh này sẽ đẩy Việt tôc vào tử lộ ! Mà muốn làm người thì các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam phải tẩy, xóa, bứng, nhổ mọi tạp chất của nội xâm (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền) đây là loài ký sinh trùng làm ô nhiễm nội chất, làm ô tạp nội lực, làm ô uế nội công của Việt tộc. Muốn làm người thì hãy tái tạo lại nội công cho Việt tộc mà trước mắt là dựng lên một tòa án dân tộc, đầy đủ lương tâm dày dạn trí tuệ, lấy lương tri để dẫn dắt tuệ giác biết luận-tội-án để xử tội ác.

Lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo là bài học cao quý của minh sư Nguyễn Trãi, hoàn toàn vắng bóng trong các nghị quyết của các người, hoàn toàn biệt tăm trong các chính sách của các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Mọi bạo quyền hung tàn đang đe dọa nhân nghĩa đồng bào, chúng sẽ bị tẩy, xóa, khử, trừ bởi nhân trí của đồng bào ; vì cường bạo, hung tàn sẽ không có chỗ đứng, ghế ngồi trong luân lý Việt tộc. Việt tộc đang chờn vờn bên bờ vực thẳm mà thủ phạm là bạo quyền độc đảng phản dân hại nước, là tà quyền tham nhũng buôn dân bán nước, là ma quyền tham tiền buôn tông bán tổ. Liên minh âm binh này luồn lách trong bóng tối để vơ vét tiền bạc của đồng bào, bòn rút tài nguyên của đất nước nhưng sẵn sàng biệt tăm biệt tích khi đất nước bị Tàu tặc xâm lược, khi đồng bào phải chịu số phận bị đồng hóa của Tàu tà. Hai chữ đồng bào[39] hoàn toàn ngược chiều với đồng bạo, đồng tà, đồng ma để bị đồng bẩn, vì đồng bào đã thấy rồi bạo quyền, tà quyền, ma quyền khi thành cuồng quyền đang đồng liệt, đồng bại, đồng quỵ ngay trong nhân vị Việt của chúng !

Các người đã

Ma bùn hóa nhân cách Việt

 

Ăn cháo đá bát, là hình ảnh của tổ tiên Việt dặn dò con cháu Việt hãy thật trọng trước loại người vong ân bội nghĩa, đó cũng là nội dung của lịch sử của Đảng cộng sản Việt Nam, đưa dân tộc lên tuyến đầu chết thay các người, để các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam có cơ hội mà cướp chính quyền. Rồi khi các người nắm được chính quyền trong tay thì các người tha hồ quật lên và vất đi cả một hệ thống đạo lý Việt mà không hề có một tài năng gì để thay thế bằng một hệ thống đạo lý mới. Việt tộc mỗi lần mường tượng tới chân dung các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, người ta chỉ thấy toàn vô : vô gia đình, vô tổ quốc, vô thần như vô tâm linh, vô đạo giáo, vô nhân tâm.

Đây là một thất bại vô cùng lớn về nhân dạng của người cộng sản, mà nhân diện của người cộng sản trên đất Việt thì còn thảm hại hơn. Thảm hại xây bằng thảm bại, từ chính sách này qua chính sách kia, đất nước mang tiếng là hòa bình, là thống nhất mà gần nửa thế kỷ qua từ 1975 tới bây giờ, các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không có một công trình gì để viết vào Việt sử cận đại. Từ Cải cách ruộng đất sắt máu tới hệ thống về trại cải tạo bất nhân, từ chính sách kinh tế mới mang con bỏ chợ [40] tới tất cả các chính sách tiếp theo từ đối ngoại với Tàu tà tới quốc phòng sụp quỵ trước Tàu tặc, từ quản lý sản xuất lụi sụi tới xuất khẩu lao động hằng triệu con dân đi làm lao nô, nô tỳ cho láng giềng… Thảm bại hàng loại làm nên thảm trạng của Việt tộc hiện nay[41], mà các chuyên gia quốc tế đã phải nói lên : "Việt Nam là quốc gia không chịu phát triển", đó là họ lịch sự ; chớ trong các buổi họp giữa các chuyên gia thì sự thật vẫn là sự thật, họ thành thật phân tích để giải thích thẳng thắn là : "Việt Nam không thể phát triển, với độc đảng toàn trị trong độc tài nhưng bất tài, độc trị nhưng không hề biết quản trị" [42].

Trông mặt bắt hình dong, nơi mà nhân diện nói lên nhân cách, nhìn mặt đoán lòng, nên mỗi lần chính trị học muốn tìm hiểu về bản chất cũng như bản lĩnh của một chính quyền, của một chính phủ thì họ sẽ dựa vào các chỉ báo trong điều tra thực địa của xã hội học chính trị. Mà chính ngay trong xã hội học chính trị từ thượng nguồn của điền dã, điều tra, khảo sát cho tới hạ nguồn của phân tích, giải thích, bình luận các kết quả của nghiên cứu thực địa, thì các chuyên gia luôn dựa vào các biệt hiệu, các biệt danh mà dân chúng "trao tặng" cho một chính quyền, cho một chính phủ[43].

Điều này, thật rõ trong thực trạng xã hội Việt Nam hiện nay trước một chính quyền độc tài nhưng bất tài, trước một chính phủ độc trị nhưng không biết quản trị, mà nhân dân đã miệt thị qua các biệt hiệu, các biệt danh : "hèn với giặc, ác với dân" ; "mưu hèn kế bẩn" ; "sâu dân mọt nước" ; "phản dân hại nước" ; "buôn dân bán nước", còn nhiều biệt hiệu, biệt danh khác nữa, và trong đại dịch coronavirus tới từ đất nước của Tàu tặc, nhân dân lại trao tặng thêm cho các người một biệt dạng mới : dacosavirus, mà họ viết tắt đảng cộng sản của các người ra : dacosa và xem nó như một đại dịch còn nguy hiểm hơn coronavirus nhiều. Biệt danh của dịch phận !

Đi với ma mặc áo giấy, khi bạo quyền độc đảng, tà quyền độc tài, ma quyền độc quyền làm nên tập hợp âm binh, biến dạng trong dị dạng của quỷ quyền độc tôn, nơi mà quỷ quyền vô thần vì vô luân biết tổ chức chuyện buôn thần bán thánh để trục lợi cho thật đầy túi tham. Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam sau khi giết bản chất thật của Phật giáo, đã thay thế vào đó một ma đạo không dính dáng gì với Phật học luôn có chỗ dựa là Phật tâm, các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã ùn ùn đưa bọn công an sư quốc doanh, mà Phật tử chân chính gọi là ma tăng. Bọn ma tăng này là loại âm binh mặc áo thầy tu, nên tôi rất cẩn trọng mà không trích ngạn ngữ : "Đi với Phật mặc áo cà sa" trong tình hình hiện nay, chúng cũng là loại quỷ nhập cửa chùa với lòng tham không đáy, là phải vơ vét cho đầy túi như các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, cũng là loại cào nạo cho tới cùng để bốc hốt cho tới tận.

Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ, một luân lý cao thượng của tổ tiên Việt chỉ làm trò cười cho các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Đó là câu chuyện sát nhân mà các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là sát thủ, vì các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã giết thực thể đồng bào, nơi mà mọi con dân Việt có đồng mẹ, đồng cha, đồng thai, đồng tổ, đồng tông, đồng tích… nơi mà tương thân và tương trợ chỉ là một trong đồng lòng, đồng tâm, đồng quyết, đồng hành… để giữ đất, giữ nước, giữ tiền đồ của tổ tiên, giữ tương lai cho mai hậu[44]. Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã tráo trá vào đó diện tà, ma tướng, quỷ dạng của các người là : đồng phạm, đồng lõa, đồng mưu, để đồng hội với các người trong đồng tội.

Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam diệt nhân tài là nguyên khí của quốc gia và chỉ thâu nhận đồng phạm để đồng thuyền với các người trong hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền). Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam khử nhân tính đồng bào của bầu ơi thương lấy bí cùng và chỉ tiếp nhận đồng lõa để làm đồng bọn cùng các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trong hệ bất (bất tín, bất lương, bất nhân) mà chia chác với nhau sau khi vơ vét tiền bạc của đồng bào, nạo vét tài nguyên của đất nước. Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam triệt nhân lý yêu nước thương nòi của Việt tộc và chỉ thâu phục bọn đồng sàn như đồng chí để đồng mưu với các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam bằng hệ gian (gian dối, gian trá, gian xảo, gian manh) từ phản dân hại nước tới buôn dân bán nước cho Tàu tặc. Lấy xảo diện thay nhân diện, lấy gian dạng thay nhân dạng, đã tạo nên đường đi nước bước của các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trong tà lộ của ma kiếp.

Các người đã

Thui chột hóa vận mệnh Việt

 

Ma bùn độn thổ, nếu độn thổ để trốn nhân lý, để lánh nhân tính, để lách nhân tri, thì đâu thể làm người được, như vậy đi tìm nhân vị làm gì, vì nhân cách đã mất từ khi chấp nhận kiếp sống luồn thấp hơn đất. Khi nói tới Mật nghị Thành Đô năm 1990, năm của sự phản trắc, khi các lãnh tụ Đảng cộng sản Việt Nam của các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã chọn Tàu tặc làm cha khi chọn chúng làm hậu phương để đỡ lưng vớt kiếp cho Đảng cộng sản Việt Nam[45]. Nên chúng mới xem các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam thấp hơn gót giầy của chúng, vì các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã chấp nhận thấp hơn đất rồi, từ đó chúng tự cho phép đứng trên lưng, trên vai, trên đầu các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.

các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã nhận phận làm "cúi đầu ở đợ" cho Tàu tặc. Bây giờ chuyện độn thổ đã biến các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam thành ma bùn, chỉ vì các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không dám công khai tuyên bố nội dung của mật nghị này trước công chúng, mà các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã ký với chúng, một sự phản trắc tổ tiên, dân tộc tới tận gốc, rễ, cội, nguồn sâu xa nhất trong giáo lý Việt tộc. Bây giờ, năm năm, tháng tháng, ngày ngày, Việt tộc khám phá ra các người khoanh tay khi Tàu tặc chiếm đất, đảo, biển ; các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam nhắm mắt, cúi đầu để dẫn độ tội phạm Tàu họa giết người, buôn ma túy, buôn nội tạng… mà không dám xử chúng tới nơi tới chốn trên đất Việt khi chúng đã giết hại đồng bào mình.

Rồi tháng 2 năm 2020, bây giờ các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đang quỳ gối nên không dám đóng cửa biên giới như các quốc gia láng giềng với Tàu tặc trước đại dịch coronavirus. Dân Việt ngỡ ngàng trong chóng mặt bởi hờn căm khi biết các người đã ký bao hiệp định ma bùn của loài độn thổ để nhận giặc làm cha. Từ đây hãy gọi mọi hiệp định ma bùn của các người là : "hiếp định" như các "hiếp định dẫn độ", "hiếp định không được đơn phương đóng cửa biên giới"… Còn bao nhiêu "hiếp định" mà các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã và đang giấu trong bùn, không cho Việt tộc biết ?

Vắng mợ chợ vẫn đông, Việt kiều[46] gần nửa thế kỷ nay, biết rất rõ ý đồ trong mưu thâm kế độc của các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là bế môn tỏa cảng không cho hiền tài Việt kiều đóng góp để xây dựng lại đất nước, vì các người mang đầy mặc cảm của loại độc tài nhưng bất tài, độc trị nhưng không biết quản trị, các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam tránh phải chạm trán với Việt kiều như lách sự thật của trí tuệ khoa học, như chui luồn trước tuệ giác của tiến bộ, với văn minh của dân chủ, với văn hiến của nhân quyền. Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam biết là Việt kiều liêm chính thì không thể nào đồng lõa với các người trong tham ô ; các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam biết là Việt kiều lương thiện thì không bao giờ là đồng phạm cùng các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trong tham nhũng ; các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam biết là Việt kiều có lương tri thì không thể nào đồng mưu với các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trong tham quyền cố vị.

Bế quan tỏa cảng chống Việt kiều, các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã ngăn sông cấm chợ để gạt ra mọi trí thức Việt kiều yêu nước muốn văn minh dân chủ, muốn văn hiến nhân quyền phải có mặt trên đất nước Việt[47]. Chỉ mong có được một ngày trước muôn dân, trước Việt tộc, bằng trực luận qua trực tuyến để đối diện mà đối thoại với các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam bằng lý luận từ chứng từ, bằng lập luận từ chứng nhân, bằng giải luận từ chứng tích[48], để đồng bào trong ngoài nước biết : Ai yêu nước hơn ai ? Ai là con cháu Lạc Hồng ? Ai là bọn ma bùn buôn dân bán nước ?

Các các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam vu khống rồi vu cáo những công dân yêu nước là : "Những lực lượng thù địch", tôi xin thẳng thắn đề nghị với các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam hãy trực luận bằng trực tuyến cấp quốc gia để xem : Ai mới chính là lực lượng thù địch phản Việt tộc ? So ra mới biết ngắn dài, nếu các người không có can đảm thực hiện cuộc trực luận này, thì các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam chưa rời bùn nhơ để nhận nhân kiếp !

Lỡ tàu, lỡ đời, lỡ kiếp, đó là nỗi đau xót của đồng bào Việt kiều đang sống tại hải ngoại khi phải thấy một dân tộc, một văn hóa, một ngôn ngữ như Hàn quốc… nhưng Nam Hàn có mọi tiến bộ từ khoa học, kỹ thuật tới nghệ thuật, văn hóa ; có văn minh của dân chủ, rồi có văn hiến của nhân quyền, hoàn toàn ngược lại với Bắc Hàn - Bắc Hàn Triều Tiên là một quái thai từ não trạng lãnh đạo tới tâm thần tập thể cấp quốc gia, trong một chế độ độc đảng ngầm du đảng, độc trị ngậm nọc độc của đói, khổ, bịnh, tật.

Nên ngày ngày, đêm đêm xót xa cho số phận Việt tộc đã lỡ tàu, lỡ đời, lỡ kiếp do tội của các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã cướp đi thông minh Việt, sáng tạo Việt mà ta biết rất rõ bằng luận chứng của khoa học xã hội và nhân văn [49] là : Việt tộc không hề thua kém về trí tuệ [50], không hề thấp tồi về lý trí, và phải được thành công trong khoa học kỹ thuật ; thành tựu trong kinh tế, thương mại ; thành đạt trong nghệ thuật, văn hóa như Nam Hàn, như Đài Loan, như Nhật Bản, như Singapour… Tội của các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là tội đôi đã giết thông minh Việt [51], đã triệt sáng tạo Việt, giờ lại còn biến con dân Việt thành lao nô, nô tỳ cho Nam Hàn, Đài Loan, Nhật Bản, Singapour…

 

Các người đã 

Mạ lị hóa chân lý Việt

 

Nói gần nói xa không qua nói thật giữa người Việt với nhau là các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không có kiến thức lý thuyết gì về chủ nghĩa cộng sản ! Vì nếu có kiến thức thì các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã đối luận trong đối thoại với trí thức Nam Trung Bắc của Việt tộc để hiểu sự thật của nhân sinh tới nơi tới chốn. Chỉ cần sau 1975 là chân tướng tham quyền đã làm lộ chân dung lạm quyền của các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nơi mà tham quyền cố vị đã sản sinh ra loại đảng viên tham quan để tham ô, tham nhũng vì tham tiền, còn đâu lý tưởng cộng sản tự vỗ ngực để xứng danh là cách mạng thủa nào.

Đến đầu thế kỷ XXI này, thì Việt tộc đã nhận ra chân tướng độc quyền, chân dung độc trị của các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam chỉ là một tập đoàn tội phạm. Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đặt Đảng cộng sản Việt Nam đạp lên trên hiến pháp, lên trên luật pháp, lên cả trên giáo lý Việt của một dân tộc gọi nhau là đồng bào : đồng bào thai vì đồng mẹ, đồng cha nên đồng nòi, đồng giống, đồng tông, đồng tích

Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa đấy ! Ngày ngày, các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam sinh hoạt bằng tà hệ của quan hệ-hậu duệ-tiền tệ, để ngày ngày truy hủy trí tuệ Việt, giết thông minh Việt để chôn luôn sáng tạo Việt, tối cần cho nhân trí tiến bộ, cho nhân tri văn minh. Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam thích vơ vét tiền của dân lành, nạo vét tài nguyên đất nước, để xây biệt phủ, dựng biệt dinh với thẻ xanh, quốc tịch ngoại cùng vàng bạc đã có sẵn trong túi, chỉ chờ Tàu tặc chiếm quê hương, đất nước của Việt tộc, là các người cao bay xa chạy qua phương Tây. Coi chừng ! Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam nên cẩn trọng, vì phương Tây của văn minh dân chủ, của văn hiến nhân quyền, họ không chấp nhận sống chung với bạo quyền, tà quyền, ma quyền đâu ! Phương Tây có phương pháp luận đuổi tà hiệu quả lắm ; phương Tây có khoa học luận truy ma hiệu quá lắm !

Ngày 12 tháng 2 năm 2020 các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam hí hửng với Hiệp định tự do thương mại với Liên Hiệp Châu Âu, vì các người xem Liên Hiệp Châu Âu là công cụ để xuất khẩu, để nhập khẩu, một loại dụng cụ cho các người vơ vét thêm nhiều vố nữa. Xin nói rõ với của các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là họ lầm to ! Đừng nhìn Liên Hiệp Châu Âu như một công cụ thương mại, đừng xem Châu Âu như dụng cụ xuất nhập khẩu của các người, mà hãy thấy để thấu, để hiểu thật sâu về sự tương tác giữa Tòa án công lý Liên Hiệp Châu Âu (La cour de justice de l'Union Européenne) và Tòa án Châu Âu vì nhân quyền (la Cour Européenne des Droits de l'Homme) nơi mà các giá trị của văn minh dân chủ, của văn hiến nhân quyền luôn được vinh danh, được thăng hoa. Vì Châu Âu là một châu lục có truyền thống dân chủ lâu đời nhất, có lịch sử nhân quyền sâu đậm nhất. Họ sẽ không để yên cho các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đày đọa tiếp lao động Việt, không để yên cho các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam vùi dập tiếp dân tộc Việt lâu nữa đâu !

Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam hoàn toàn chịu trách nhiệm về vận mệnh của giống nòi Việt, cơ đồ của tổ tiên Việt, trước họa nội xâm tham nhũng song lứa cùng đôi với họa ngoại xâm Tàu tặc. Vì muốn làm người phải có nhân làm lõi, làm rễ, làm cội, làm gốc, làm nguồn, chỉ cần các người suy nghĩ theo mô thức gẫy gọn của tư tưởng gia Rousseau : "Con người ơi hãy giữ nhân tính !"[52].nhân tính thì ngược lại với bản năng đói ăn khát uống của những kẻ chưa trưởng thành vì chưa có nhân tính, qua giáo dục của nhân tri, qua giáo lý của nhân trí, nên chưa thể là : người.

Nhưng nghịch lý là chính chế độ độc đảng nó độc hại trong độc tài của các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã cho sản sinh ra loại người giật ăn cướp uống, đó là đồng bọn mà các người gọi là đồng chí, tranh tham ô để giành tham nhũng. Ăn ở bất nhân nên sống chết vô hậu, loại này thì không sao có nhân được, nên các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam sẽ không thành người theo nghĩa nhân vị biết dựa vào nhân tính, nhân tâm, nhân nghĩa, nhân từ, nhân đạo[53] ; các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam sẽ không có nhân cách vì chúng trống nhân lý, nhân tri, nhân trí, nhân bản, nhân văn.

Các người đã

Bần cùng hóa sự thật việt

 

Sự thật mất lòng, với tất cả các chỉ báo hiện nay từ các kết quả nghiên cứu, từ chính trị học tới sử học, từ nhân học tới xã hội học… cho phép dự đoán một điều là các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không đủ tâm vì chẳng đủ tầm để làm được ba chuyện sau đây của một chính quyền có nội công, một chính đảng có bản lĩnh :

Chính thức hóa bằng chính sách quốc gia về hòa hợp hòa giải dân tộc, đưa thảm nạn của huynh đệ tương tàn trong quá khứ của cuộc nội chiến 1954-1975 về tận suối giải oan, để thực hiện cho bằng được giáo lý tổ tiên Việt : người trong một nước phải thương nhau cùng. Xóa đau thương cũ để cùng nhìn về tương lai mới bằng ngữ vựng hòa giải để hóa giải oan kiếp nội chiến, để hứa là sẽ không đưa một ý thức hệ ngoại lai nào nữa vào đất nước Việt để Việt tộc phải chịu cảnh gà nhà bôi mặt đá nhau… giết nhau.

Hợp thức hóa bằng chính sách xóa để xây ngay lại hiện tại với ngữ văn hòa hợp để cùng nhau hợp tác với một trọng tài chỉnh lý trong liêm chính là : tam quyền phân lập, có văn hóa của đa nguyên để tạo dựng văn minh của dân chủ, để dựng văn hiến của nhân quyền. Hãy nhận ra công bằng trong tiến bộ, với công lý diệt được nội xâm, có công pháp loại được ngoại xâm, bằng công tâm của con dân Việt, chớ không bằng thái độ và hành xử của một độc đảng chỉ muốn độc tài trong độc quyền, độc tôn trong độc trị.

Thích ứng hóa bằng thông minh nội bộ ngay trong Đảng cộng sản Việt Nam của các người để quản lý tương lai gần là tìm cho ra được những nhân vật gánh vác được vận nước kiểu minh quân, minh chủ, minh chúa đã có nhiều lần qua các đời Lý, Trần, Lê… bằng chính ngữ pháp lương thiện của chính quyền trong liêm chính của chính phủ, trong khi chờ đợi tương lai lớn của dân chủ, tương lai cao của đa nguyên.

Nếu các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không hiểu hoặc hiểu mà không muốn thực hiên, thì ngày tàn của quý vị đang tới, sẽ tới với các trận giông của xã hội dân sự nối theo là những trận bão của nhân quyền, dân chủ, đa nguyên, sẽ tạo ra những thay đổi triệt để mà trong đó các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không có ghế ngồi lẫn chỗ đứng trong lòng dân tộc ! Rồi thì chỉ lo, chỉ buồn là Việt tộc lại phải nhận chịu thêm bạo lực của bạo quyền độc đảng, bạo hành của cuồng quyền công an trị, bạo động của nội chiến huynh đệ tương

Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam càng tham quyền thì nhân dân càng lo, càng buồn, mà lo và buồn có lý do của nó, vì Việt tộc thấy rõ và hiểu thấu là tại các quốc gia có được văn minh của dân chủ, văn hiến của nhân quyền, họ có các lãnh đạo chính trị với thông minh tỉnh táo để có sáng tạo sáng suốt. Họ luôn tìm ra được các quyết sách không có máu đổ đầu rơi, luôn giải quyết mọi việc theo chiều hướng ít đau khổ nhất cho nhân dân của họ, họ không khôn nhà dại chợ như các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, ngược lại họ ngoan nhà khôn chợ.

Cụ thể là các quốc gia có được văn minh của dân chủ, văn hiến của nhân quyền có sự thông minh của tôn trọng lẫn nhau trong đối thoại nên họ mới có được đa nguyên ; họ có sự sáng tạo luôn sáng suốt trong đối luận nên họ mới có được dân chủ. Nếu các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không lập được dân chủ trong đa nguyên, không trao được tự do và công bằng tới Việt tộc, thì không sao các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam tặng được một giá trị nhân sinh cao quý nhất tới Việt tộc, đó là : nhân quyền ! Một nhân quyền tốt trong một nhân Việt đẹp. 

Một lời-một ý-một nghĩa, các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam có muốn nhận ánh sáng của chân lý[54], hào quang của sự thật, mặt trời của lẽ phải ? Câu trả lời thật giản đơn khi nhân sinh quan, thế giới quan, vũ trụ quan chỉ là một : muốn làm người phải có nhân !

Các người đã

Cuồng quyền hóa quan hệ Việt

 

Tâm trạng làm nên tâm lý của một người phải thốt lên là mình bị : mất hồn ! tức là người đó đang bị hốt hoảng tới thất thần, mất sắc, nhạt diện… ngạc nhiên tới cùng cực, sửng sốt tột độ. Chỉ không đầy nửa thế kỷ, từ sau 1975 ngày hết chiến tranh mà cũng là ngày số phận dân tộc nằm trong tay của ít nhất ba loại quyền lực bất nhân thất đức của bạo quyền công an trị, tà quyền tham nhũng trị, ma quyền tham tiền trị. Không mất hồn sao được khi thấy :

*Bạo quyền công an trị biến những đồng bào yêu nước, trọng dân chủ, quý nhân quyền thành những tù nhân lương tâm, với những nhà tù đầy những đứa con tin yêu của Việt tộc.

*Tà quyền tham nhũng trị liên minh với xã hội đen, tức là bọn côn đồ, du đảng, lưu manh cùng đến cưỡng chế để cướp đất của dân lành, một sớm một chiều biến họ thành dân oan.

*Ma quyền tham tiền trị của bọn sân sau, dùng ô dù của bạo quyền và tham quyền chống lưng cho chúng để trộm, cắp, cướp, giật đất đai của dân để làm giầu, vô loài với tên gọi là trọc phú, sống trong biệt thự, biệt dinh, biệt phủ, đã đẩy dân oan vào thảm cảnh màn trời chiếu đất, với thảm trạng đầu đường xó chợ.

Chưa hết, bạo quyền công an trị, tà quyền tham nhũng trị, ma quyền tham tiền trị sống và đối xử với nhau trong quan hệ giết người cướp của, trong phản xạ của thanh toán để thành trừng lẫn nhau, để thêm vào lý lịch âm binh của chúng hai tâm loạn sau :

*Cực quyền, một loại quyền lực của cực đoan, cực đoán làm nên độc đoán, một loại quyền lực tuyệt đối, chúng gọi nhau là đồng chí nhưng đối xử với nhau như tử thù trong không gian lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Chúng đạo đức giả với nhau bằng khẩu Phật tâm xà khi gặp nhau, nhưng sống với nhau thâm ý không đội trời chung với nhau.

*Cuồng quyền, một loại quyền lực của các hành tác tự cuồng giận tới cuồng điên sẵn sàng giết đồng bào, đồng loại, kể cả đồng chí lương thiện của chúng như vụ hành quyết xã Đồng Tâm, thôn Hoài để hành sát cụ Lê Đình Kình là đồng chí với hơn nửa thế kỷ tuổi đảng của chúng.

Hiện trạng bạo quyền, tà quyền, ma quyền, cực quyền, cuồng quyền nó đã phản lại giáo lý của tổ tiên Việt : người trong một nước phải thương nhau cùng, một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ, máu chảy tới đâu ruột đau tới đó, thương người như thể thương thân… để ăn ở có hậu của giáo lý đường mòn nhân nghĩa chẳng mòn. Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam phản lại luôn tiến bộ của nhân sinh có văn minh của dân chủ, văn hiến của nhân quyền, mà các quốc gia láng giềng : Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapour đã thực hiện được, mà Tây Âu và Bắc Mỹ đã được hưởng từ nhiều thế kỷ qua. Cứ liên kết hai hệ : hệ liêm (liêm khiết, liêm chính, liêm sỉ) song hành cùng hệ công (công bằng, công lý, công tâm) sẽ nhận rõ chân dung diện mạo âm binh các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.

Các người đã :

Nô lệ hóa thanh niên Việt

 

Một Việt tộc mất vía sau khi bị mất hồn ; khi mất hồn thì coi như bị mất sắc, mất diện, còn mất vía là mất đi nội lực của hồn, sung lực của tâm, tức là mất đi từ nội công bên trong, tới bản lĩnh bên ngoài, khi ta phải thấy :

* Xuất khẩu lao động Việt hằng triệu qua các quốc gia láng giềng, trai thì làm lao nô, gái thì làm nô tỳ, phải vùi dập nhân phẩm của chính mình để nhận kiếp nô lệ xứ người. Lúc bị sỉ nhục, lúc bị tra tấn, lúc bị trục xuất, lúc bị cướp nội tạng, có ngày đi mà không biết ngày về lại nơi chôn nhau cắt rốn của mình.

* Cờ gian bạc lận do chính các tướng công an tổ chức ngay trong sào huyệt của Bộ Công an, được hối lộ hàng nghìn nghìn tỷ đồng, để khi trước tòa thì khóc lóc rồi thố lộ là : đầu mình bé nhưng tham vọng (vì tiền) thì lớn. Nhân cách các tướng công an này nhỏ hơn hạt bụi đường, không đánh giặc để bảo vệ biên cương, bờ cõi của đất nước mà chỉ biết vơ vét trong lén lút qua bài bạc.

* Lãnh đạo tham nhũng là các bộ trưởng Bộ Thông tin và truyền thông, sau khi đã nhận các chức vụ về tuyên truyền để ngu dân hóa đồng bào bằng giáo ngữ đạo đức giả của tuyên huấn. Bọn này nhận hối lộ hàng triệu mỹ kim, nhưng có đứa lại đổ lên đầu chính con gái của mình là đang giữ tiền tham ô cho mình. Tư cách bộ trưởng sao mà đốn mạt như vậy, quá thấp so với người phải ăn xin ngoài đường còn có liêm sỉ của kẻ phải đi xin, chớ không bao giờ chấp nhận kiếp ăn cắp.

Khi chúng ta đi sâu vào điền dã, khảo sát, điều tra, nghiên cứu ngay trong tâm địa của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam :

* Xuất khẩu lao động thì chúng còn vơ vét được qua các đường dây mà chính chúng tổ chức, chớ chuyện trọng hiền tài, quý nguyên khí quốc gia thì chúng rất sợ. Chỉ vì chúng mất ăn mất ngủ trước nhân tri của tuổi trẻ, trước nhân trí của sinh viên. Chúng tìm mọi cách để khử, trừ, tiêu, diệt hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhân thức, tỉnh thức) của thanh niên, của sinh viên. Vì hệ thức đã đe dọa và sẽ tẩy xóa đi hệ bất (bất tín, bất tài, bất nhân) của chúng.

* Cờ gian bạc lận thì chúng còn tiếp tục lừa đảo để vơ vét trong bất chính, chớ liêm chính để có liêm sỉ thì không hề có trong bản chất cướp ngày là quan của chúng. Hệ liêm (liêm chính, liêm khiết, liêm sỉ) không có chỗ đứng ghế ngồi trong nhân cách của chúng, trong hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền) của chúng.

* Lãnh đạo tham nhũng sẵn sàng biến dân lành thành dân đen rồi dân oan, chúng sống trong biệt thự, biệt dinh, biệt phủ với thẻ xanh, quốc tịch ngoại, và chúng đã giấu của cải trộm, cắp, cướp, giật được ở nước ngoài rồi, chỉ chờ khi Tàu tặc bắt đầu xâm lược để đồng hóa Việt tộc là chúng cao bay xa chạy qua phương Tây, bằng con đường tà nghiệp trong điếm lộ của chúng.

Chủ tâm với ý đồ của bạo quyền, tà quyền, ma quyền, cực quyền, cuồng quyền là khử, trừ, hủy, diệt :

* Cần lao Việt, đã có trong lao động biết hiệu quả của thức khuya dậy sớm, hiểu hiệu năng của một nắng hai sương, thấu được kết quả của ăn bữa sáng lo bữa tối, để nhận ra an cư lạc nghiệp trên nền của trong ấm ngoài êm.

* Thông minh Việt đã có trong bản lĩnh giữ nước Việt, có trong nội công lập quốc Việt, thắng bất cứ bạo quốc ngoại xâm nào có thâm ý chiếm đoạt đất Việt, đồng hóa Việt tộc.

* Sáng tạo Việt đã có trong thành công tại học đường, thành tài trong nghệ nghiệp, thành đạt trong kinh tế, thành tựu trong xã hội khi có được điều kiện hay, đẹp, tốt, lành để thành người.

Chuyện này thấy rất rõ trong cuộc sống của Việt kiều tại phương Tây, khi có điều kiện như mọi người, thì sẽ thành danh không thua ai. Không kiêu căng tự phụ hơn người để rơi vào họa vô minh của khinh người ; cũng không mặc cảm tự ti để sa với nạn vô tri của nhục kiếp, luôn sáng suốt để bảo vệ nhân phẩm, nên phải luôn tỉnh táo để bảo vệ nhân quyền cho mình, cho đồng bào mình. Khi liên kết hai hệ : hệ thông (thông minh, thông thạo, thông thái) song lứa cùng hệ sáng (sáng kiến, sáng lập, sáng tạo) để thay đổi nhân kiếp Việt hiện nay. Nhưng trước hết phải gạt bỏ đi môt hệ thống toàn trị độc đảng của quan giàu nước yếu, làm ra hệ lụy của nước nghèo dân khổ, để lập lại quy trình bình thường của nhân lýnhân tri theo hướng thăng hoa của nước giàu dân mạnh.

Các người đã

Vô nhân hóa nhân vị Việt

 

Tại sao mình phải làm thợ, làm công cho các quốc gia láng giềng, mà chính mình biết là họ không hơn mình về : thể lực trong lao động giỏi, trí lực trong học tập tốt, tâm lực trong sáng tạo hay. Không mất thần sao được khi đọc bằng tiếng Việt các bảng hiệu tại các nơi buôn bán là tại các quốc gia láng giềng : cấm trộm ; từ bao giờ người Việt bị các nước láng giềng xem là kẻ cắp ? Trong ánh nhìn của công dân các nước láng giềng thì phụ nữ Việt bị xem thường vì bị nghi ngờ là gái điếm ; từ bao giờ phụ nữ Việt trong các quốc gia này lại bị khinh rẻ như vậy ? Khi chúng ta biết rành rõ là phụ nữ Việt không thua kém từ tài tới đức bất cứ phụ nữ nào trong thế giới này.

Khi các nhân công Việt sinh sống và lao động tại các nước láng giềng, thì công dân các nước láng giềng thì họ nhìn như các loại người làm chui sống lậu ; từ bao giờ người Việt bị các nước láng giềng xem là kẻ buôn gian sống lậu ? Chỉ vì mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình không còn là đất sống ! Hiện nay, con dân Việt phải đánh đổi cả mạng sống của mình, để mất mạng trong thùng xe đông lạnh, với danh hiệu "thùng nhân" ! Vậy mà, con dân Việt vẫn ngày ngày tiếp tục trốn chạy bạo quyền độc đảng, tà quyền tham nhũng, ma quyền tham tiền bằng cách thu thân dồn kiếp trong các hành lý du lịch : nhân kiếp Việt là đây sao ?

Mọi công dân Việt trong nước hiện nay đang sống dưới một chế độ toàn trị độc đảng mà Đảng cộng sản Việt Nam đang ngồi xổm lên Hiến pháp, với một tổng bí thư đảng biết chiếm luôn chức chủ tịch nước để tuyên bố một điều vi hiến nhất là điều lệ của Đảng cộng sản Việt Nam cao hơn Hiến pháp ; đó là hình ảnh của Mã Giám Sinh đểu cáng trong thô lậu : "Ghế trên ngồi tót sổ sàng". Đảng cộng sản Việt Nam ngồi trên đầu Tư pháp, từ tòa án tới thẩm phán, chỉ là công cụ một cách thô thiển chỉ để phục vụ tư lợi của Đảng cộng sản Việt Nam, làm công cụ ở vị thế thấp hèn buộc cáo trạng hàng chục năm lao lý với các công dân yêu nước đấu tranh vì dân chủ và nhân quyền.

Cùng lúc thì xử nhẹ, xử giảm, xử tha cho các đồng chí của họ là những tội phạm đã làm thất thoát hàng nghìn tỷ đồng, chính là tiền thuế của dân, với những luận điệu lập lờ đánh lận con đen phản công lý, của loại Sở Khanh, tà ngôn trong gian ngữ : "Nói lời rồi lại nuốt lời như chơi". Đảng cộng sản Việt Nam ngồi trên lưng Lập pháp, ngay tại Quốc hội với đại đa số đại biểu là đảng viên có mặt để nhắm mắt-cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối, bỏ phiếu để biển lận thay cho Đảng cộng sản Việt Nam, với thói âm binh của mua chức bán quyền.

Dùng tiền để mua ghế đại biểu, cùng lúc đã có quốc tịch ngoại, không ngần ngại khi làm sân sau, khi làm ô dù, khi chống lưng cho bạo quyền công an trị lập luật an ninh mạng, khi thì phục vụ tà quyền lập ra luật đặc khu để bán nước. Đây là hành tác của tú bà : "Đưa người cửa trước, đón người cửa sau".

Việt tộc phải giữ cho bằng được hai hệ : hệ liêm (liêm chính, liêm khiết, liêm sỉ) sánh đôi cùng hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri) để xây dựng lại con người Việt bằng đạo đức Việt an cư lạc nghiệp bằng giáo lý ăn hiền ở lành. Đừng trông chờ vào các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, không biết ăn ở có hậu cho mai hậu thì làm sao các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam biết ăn hiền ở lành.

Các người đã

Tham nhũng hóa sinh hoạt Việt

 

Sự hiểu biết về dân tộc, về xã hội, về đất nước đang bị ngự trị bởi vô tri đã làm nên hậu nạn là vô minh, vắng tri nên lãng trí là điều sẽ đến, mà rỗng trí thì trống tâm. Hãy hình tượng hóa biểu hiện của mất tri, tức là bụi đời ngay trong tri lực, nên sẽ trở thành oan hồn ngay trong tư duy của mình. Mất tri vì một chế độ toàn trị nhưng vô tri, độc tài trong bất nhân thất đức đã cướp đi mọi sự hiểu biết của mình, mà quá trình mất tri hiển hiện hằng ngày trước mắt ta :

* Buôn bằng bán cấp, với học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả, cả một hệ thống lãnh đạo bằng giả từ thứ trưởng tới bộ trưởng, mua học vị, để buôn học hàm nhưng không hề có học lực. Tráo trở nhận bằng cấp của học thuật nhưng chưa bao giờ học thật, luồn lách trong học đường bằng chui rúc trong học gian, nhận bằng cao học nhưng không biết giáo khoa, giáo trình, giáo án chuyên ngành cao học của mình là gì ? Nhận bằng tiến sĩ nhưng không biết chuyên môn của mình có nền tảng trên chuyên khoa gì, nên luôn tránh hội thảo, lách hội luận, chuồn hội nghị, không hề trực diện với sách đèn, mà chỉ biết chui nhủi bằng mua gian bán lận.

* Buôn chức bán quyền, bằng liên minh âm binh của quan hệ-tiền tệ-hậu duệ luôn tìm mọi cách để truy, hủy, diệt, khử trí tuệ. Luôn có phản ứng luật rừng trước lý trí của khoa học, luôn có phản xạ lách luật trước đạo lý của công bằng, lấy bôi trơn thay cho đối nhân đàng hoàng, lấy lót tay thay cho xử thế tử tế. Trơ trẽn nên trâng tráo, tà quyền trong lơ láo để gian tráo trong quan hệ giữa người với người, chưa hề học tôn sư trọng đạo để được học làm người, nên dễ dàng tráo trở trong lừa thầy phản bạn.

* Buôn thần bán thánh, với sư công an, sư quốc doanh, sư đảng viên, không có Phật học làm nên Phật lực, nên trọn kiếp chỉ là ma tăng, mượn cửa chùa để làm điều phạm pháp. Quỷ dữ vờn chánh điện, để vơ vét bằng mê tín dị đoan, nhởn nhơ trong tà đạo để múa may trong oan gia trái chủ ; không xứng đáng làm phật tử, mà giả hiệu hòa thượng, giả danh đại đức. Không dám đối thoại với kẻ chân tu về Phật đức, không dám đối luận với cư sĩ về Phật luận, giả xuất gia để hiện hình là mục súc trong quỷ giới. Khi bị hỏi về tu tâm, tu đức hay tu tuệ thì bọn ma tăng trả lời là tu tham, tu sân, tu si

Ba loại âm binh này đã lập nên liên minh tà trị của chúng để củng cố và duy trì : hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn) ; hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền) ; hệ bất (bất tín, bất trung, bất tài, bất lương, bất nhân). Từ buôn bằng bán cấp tới buôn chức bán quyền chỉ một bước, nên từ buôn thần bán thánh tới buôn dân bán nước cũng chỉ một bước, tất cả bọn này là cá mè một lứa, vì chúng có cùng một bản chất là phản dân hại nước, có cùng một nội chất của sâu dân mọt nước.

Việt tộc phải liên kết hai hệ : hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhân thức, tỉnh thức) song đôi cùng hệ luận ( luận, lập luận, giải luận, diễn luận, trao luận) để nhận rõ chân ma diện tà rồi vạch mặt chỉ tên giống vô loài mạt vận này để đưa chúng ra khỏi nhân sinh Việt.

Các người đã :

Thất đức hóa nhân lý Việt

 

Khi tổ chức xã hội theo kiểu độc đảng toàn trị bị thất đức ngay trong đạo đức làm người ngay trong quan hệ xã hội, sinh hoạt xã hội và đời sống xã hội, thì nhân lý và nhân tính sẽ bị đe dọa. Đạo đức này không trên trời rơi xuống, không tự dưới đất trồi lên, nó xuất hiện với văn minh của dân chủ, với văn hiến của nhân quyền, đó là quyền được chọn lựa đạo lý hay, đẹp, tốt, lành cùng lúc nhận ra luân lý sống có bổn phận với đồng bào, với đồng loại, có trách nhiệm với đất nước, với quê hương. Nên đạo đức tới từ một sự chọn lựa ngay thượng nguồn, chọn lựa để có quyết định chế tác ra thỏa ước của mỗi người đồng ý sống chung, lao động chung để có tương lai chung. Chính thỏa ước này giờ đã thành công ước xã hội (Rousseau) đã cho xuất hiện nhận định về nhân quyền là quyền tự do công nhận (Montesquieu) rồi ký nhận quyền làm người (Voltaire) ngay trong quan hệ xã hội.

Nhưng hiện nay trong xã hội Việt thì ngược lại, dân tộc bị cai trị bởi một chế độ toàn trị độc đảng áp đặt độc quyền trị qua đàn áp của công an trị, Đảng cộng sản Việt Nam không được dân tộc bầu ra. Độc đảng này không đủ liêm chính để có liêm sỉ mà tổ chức tự do đầu phiếu trên nguyên tác đa nguyên của dân chủ. Mà thảm trạng hiện nay là cả một dân tộc phải sống chung để nhận chịu một số phận không do mình chọn lựa, không do mình quyết định ; mà do kẻ mạnh, kẻ chủ, kẻ ác quyết định thay mình thì đây là chuyện bất nhân thất đức mà thầy tạm gọi là mất đức. Hệ lụy mất đức xảy ra hằng ngày trước mắt chúng ta :

* Quan chức đảng viên của Đảng cộng sản Việt Nam biển thủ hàng nghìn tỷ thì chỉ tù vài năm, còn kẻ đói ăn cắp một con chó trong làng thì bị dân làng đánh đập dã man tới chết, đây có phải là chuyện mất đức không ?

(Mèo tha miếng mỡ xôn xao

Hổ tha con lợn bảo nào thấy chi).

* Quan chức đảng viên của Đảng cộng sản Việt Nam biển lận hàng nghìn tỷ thì chỉ bị kỷ luật đảng, mà pháp luật không được ngó ngàng tới, trong khi một hai thanh niên vì đói phải trộm thức ăn ngoài chợ, thì tòa án xử nhiều năm tù, đây có phải là chuyện mất đức không ?

(Mèo tha miếng mỡ thì la

Cọp tha con lợn cả nhà im hơi).

* Quan chức đảng viên của Đảng cộng sản Việt Nam biển lận hàng nghìn tỷ thì chỉ dời vị tráo nhiệm, đổi từ chỗ này qua chỗ khác, còn một thầy giáo dạy cho học sinh một bài hát yêu nước, thương nòi thì bị tòa án nhận lệnh của lãnh đạo mà xử hơn mười năm tù, đây có phải là chuyện mất đức không ?

(Hùm tha con lợn không sao

Mèo tha miếng thịt, rễu vào rễu ra).

Một chế độ đẩy xã hội bị rơi vào nhân biệt : sự phân biệt giữa người với người, giữa đồng bào với nhau, vì lãnh đạo của chế độ độc đảng đã đi trên tà lộ chống nhân quyền ! Vì nhân quyền luôn là nền để tạo nên sự công bằng giữa các cá nhân. Công bằng này không chấp nhận sự khác biệt để làm ra sự tách biệt, để dân tộc phải gánh chịu : sự phân biệt, kẻ giàu ở trên người nghèo ở dưới ; sự phân loại, kẻ gian giàu bóc lột người lành nghèo ; sự phân hóa, kẻ gian mạnh tha hóa người nghèo yếu ; sự phân cực, kẻ gian mạnh đàn áp người nghèo yếu.

Khi chính trị học, xã hội học và triết học cùng nhau phân tích về bất công tạo ra bất bình đẳng, thì luật học đã có mặt cùng công pháp quốc tế được Liên Hiệp Quốc bảo trợ nơi đây nhân quyền là : quyền được làm người mà không là nạn nhân, cũng không là thủ phạm của bất cứ bất công nào, của bất cứ bất nhân thất đức nào. Quyền được làm người với nội chất của nhân phẩm, khi công lý biết giới hạn ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu, vì giá trị của nhân quyền là vô giá, nó cao, sâu, xa, rộng hơn phạm trù bình thường -nếu không nói là tầm thường- của ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu… Quyền được làm người chính là sức mạnh của hoài bão vì nhân lý, nhân tri, nhân trí, của hoài vọng vì nhân bản, nhân văn, nhân vị, tạo ra được tính thuyết phục làm nên sự đồng cảm, đồng lòng để cùng nhau bảo vệ giá trị của nhân phẩm.

Trước bất công hiện nay trong xã hội Việt, dưới bạo quyền công an trị, dưới tà quyền tham nhũng trị, dưới ma quyền tham tiền trị, thì Việt tộc phải bảo vệ hai hành tác đạo đức : Hành tác có ! Của hội nhập bằng trí thức để có một lý tưởng chung là bảo vệ nhân phẩm, đây là câu chuyện rất rõ nét trong triết học khai sáng của Monstesquieu, Rousseau, Voltaire… Quyền được làm người được thực hiện trong đòi hỏi công bằng, trong đấu tranh vì tự do, một nhân quyền có chân trời của công lý, khi con người biết trả lời là : có mặt vì có công lý ! Cùng lúc với Hành tác không ! Là quyền được làm người khi nhân sinh đứng trước bất công, thì con người biết trả lời ngược lại là : không ! Vì bất công không chấp nhận được ! Vì nó bất nhân thất đức ! Nên sẽ bất tuân trước bạo quyền, cụ thể là sẽ bất chấp mọi tà quyền để mạnh mẽ trả lời : Không ! Không chấp nhận bất công !

Các người đã

Vô giác hóa nhân quyền Việt

 

Lý trí tỉnh táo làm nên trí tuệ sáng suốt, cả hai hợp lực để làm nên tuệ giác, sự giác ngộ của nhân tri, có cảnh giác của nhân trí về quyền làm người trong tự do, công bằng, bác ái. Liên minh của lý trí-trí tuệ-tuệ giác, không hề mơ hồ cũng không hề trừu tượng, cả hai có sức mạnh giúp ta nhận ra hai chuyện ngay trong đời sống. Hiểu được thì giải thích được, giải thích được thì xem như đã hiểu rồi, nơi mà hiểu biết và giải thích không phải là hai hành tác khác nhau, mà chỉ là một, một không gian và không có biên giới nên không cần trung gian để nối nhịp cầu giữa hiểu biết và giải thích. Hiểu được ngay thì giải thích được ngay, ngay trong quyền làm người của mình, tức là quyền được sống yên mà không là nạn nhân hay thủ phạm phản nhân quyền. Chính quyền làm người này đưa chúng ta tới quyền mưu cầu hạnh phúc, mà không một bạo quyền, tà quyền, ma quyền, cực quyền, cuồng quyền nào được quyền tước đoạt.

Quyền được làm người song lứa với luật bảo vệ người chính là chủ lực của tuệ giác. Khi nhận ra được hai mệnh đề trong cùng một mệnh đề chung tên là nhân quyền. Thì nhân quyền vừa là cơ hội đối thoại giữa các dân tộc khác nhau, giữa các văn hóa và văn minh khác nhau có thể đối luận được với nhau qua quyền được làm người, luật bảo vệ người. Vừa là cơ hội tiến bộ của mọi dân tộc khác nhau, của mọi văn hóa và văn minh dù khác nhau, nhưng biết lấy nhân vị, nhân bản, nhân văn làm nội lực cho nhân quyền. Đây là hình ảnh của con người đi về phía cao của ánh sáng ; đủ sức bước tới, bước lên, có tay trái cầm đèn soi đường, có tay phải cầm cán cân của công lý.

Câu chuyện nhân quyền là tự truyện về mức độ làm nên trình độ, khi ta có bác ái với lòng trắc ẩn chia ngọt sẻ bùi với tha nhân, chia sẻ niềm đau nỗi khổ với đồng bào, với đồng loại thì chữ nhân của nhân loại sẽ có được tầm vóc cao, kích thước rộng, nội công mạnh, bản lĩnh lớn hơn hẳn ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu… Vì kẻ chỉ biết ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu thì có thể làm người nhưng chưa chắc đã được thành nhân. nhân đây có gốc rễ, cội, nguồn của nhân tâm, nhân từ, nhân đạo, nhân nghĩa, nhân bản làm nên sung lực trong lý luận rồi hùng lực ngay trong đấu vì nhân quyền. Tại đây, nhân quyết là không gian tri thức trong đó có chủ quyết để chủ động đấu tranh vì công bằng mà chống bất công, nên nhân quyền vừa là hành động của hiện tại, vừa là hoài bão của tương lai, vừa là quy trình đấu tranh hằng ngày, vừa là chân trời trước mắt.

Nếu ngoài đường trên phố, con người Việt đã bị tha hóa bởi bạo quyền, tà quyền, ma quyền, cực quyền, cuồng quyền vô luân làm nên con người Việt vô cảm vì vô minh của ai chết mặc ai, vô giác vì vô tri của bây chết mặc bây, tức là đã bị mất tuệ. Thì cũng chính xã hội Việt ngày nay, vẫn còn không nhiều ngoài đường trên phố, nhưng không ít qua các cá nhân thiện nguyện của thương người như thể thương thân, hội đoàn nhân đạo của máu chảy tới đâu ruột đau tới đó.

Hãy đặt nhân phẩm của các bạn vào ngã tư của tu duy, và vận dụng hai quyền lực làm nên nội chất của nhân quyền : hoài bão đi tìm công bằng để lập nên công lý, song hành cùng sự chối từ bất công, để gạt bỏ đi hệ (vô cảm, vô tri, vô minh, vô giác) chỉ vì hệ này rất vô luân vì bất nhân ? Hãy đi xa hơn nữa để nhận ra chân dung diện mạo của nhân quyền có trong năng lượng đôi làm nên năng lực đôi : biết trả lời mặt vì công lý, vì đã biết trả lời không trước bất công trong nhân kiếp. Hãy sẵn sàng trả lời có ! Để đấu tranh vì công lý, và luôn sẵn sàng trả lời không ! Để tranh đấu chống bất công.

Các người đã

Tàn tệ hóa đất nước Việt

 

Sau khi có kiến thức, tri thức, ý thức và nhận thức, thì phải tỉnh thức trước họa Tàu tà, trong đó có sự vận hành của quỷ dữ liên kết với âm binh qua Tàu tặc đã chiếm biển, đảo của Việt tộc. Với Tàu họa của nhiễm ô từ bốc xít Tây Nguyên tới Formosa đã diệt ngư trường của miền Trung mà không quên các nhà máy nhiệt điện than đang thiêu diệt ngay trong buồng phổi, ngay trong nội tạng của mỗi người Việt. Cùng Tàu nạn của thực phẩm bẩn với hóa chất độc, song hành cùng Tàu hoạn với buôn người cùng buôn ma túy, giết người trên đất Việt rồi bắt người Việt để cướp nội tạng... Đây là ngoại xâm hiện nay đang trước mặt, trước mắt các bạn, đã và đang được nội xâm mở cửa để có mặt trên mọi vùng miền của đất nước, trong hang cùng ngõ hẻm của mọi thành phố Việt.

Hãy nhận ra chân dung ngoại xâm của Tàu tà (Tàu tặc, Tàu họa, Tàu nạn, Tàu hoạn) nếu các bạn không nhận ra hình tướng của nội xâm của hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn) của Đảng cộng sản Việt Nam đã nhận giặc làm bạn vàng, đang cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối trước Tàu tà với hội nghị Thành Đô, với hàng loạt ký kết giữa Đảng cộng sản Việt Nam với Tàu tà mà cho đến nay không được công bố, vẫn bị giấu kín. Dân Việt chỉ biết qua luật dẫn độ là phải đưa trả lại Tàu tà chớ không được xử các tội phạm Tàu gian bằng luật pháp Việt ; rồi tới cơn đại dịch Vũ Hán đầu năm 2020 này là không được đóng cửa khẩu biên giới nếu Tàu tà không cho phép…

Hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền) sẽ tiếp tục vơ vét tiền thuế của đồng bào, nạo vét tài nguyên thiên nhiên của đất nước, với hành tác cướp ngày là quan cùng thâm trạng lòng tham không đáy của chúng. Chính chúng sẽ bòn rút tới cạn kiệt mọi sinh lực của đồng bào, mọi nguyên khí của quốc gia, để khi đất nước lâm nguy, đồng bào lâm nạn là chúng cao bay xa chạy qua phương Tây, với quốc tịch ngoại, thẻ xanh cùng vàng bạc trộm, cắp, cướp, giật được của dân lành, dân đen, dân oan.

Đừng sai định đề về ngoại xâm để đừng sai lẫn định luận về nội xâm, để không bị sai định nghĩa : Việt tộc là sắc tộc như thế nào ? Thưa các bạn, Việt sử thì rất rõ ràng và rành mạch : Việt tộc là một dũng tộc biết thắng mọi ngoại xâm bằng sự dũng cảm của chính mình, Việt tộc là một minh tộc biết thắng mọi nội xâm bằng sự thông minh của chính mình !

Tâm tưởng của Việt tộc có một ca từ của nhạc sĩ Phạm Duy : "Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi" để mọi con dân Việt được sống cùng một giòng sinh mệnh với tổ tiên của mình, với giống nòi của mình.

***

Kết :

Việt tộc tang thương ?

 

triet7

Việt tộc tang thương, khi quê hương gấm vóc của tổ tiên Việt bị nhiễm ô, khi môi trường bị hủy, môi sinh bị diệt, khi con dân Việt phải lưu vong hóa để nhận kiếp nô bọc, nô tỳ cho các quốc gia láng giềng. Việt tộc tang thương, khi dân lành một sớm một chiều đã thành dân oan, trong hoạn nạn màn trời chiếu đất, nạn nhân của liên minh giữa bạo quyền công an trị, tà quyền tham nhũng trị, ma quyền tham tiền trị. Việt tộc tang thương, khi dân nghèo thành dân đen trắng tay trong đầu tắt mặt tối, ngày ngày lao lực trong một nắng hai sương mà không đủ sống, giờ giờ dãi nắng dầm mưa mà vẫn không sao thoát khỏi cùng quẩn. Việt tộc tang thương, với bao đồng bào vô gia cư, trong hoạn cảnh đầu đường xó chợ, với nhục cảnh trẻ bụi đời trên đường phố, sống nay chết mai, bị độc đảng bỏ rơi, bị toàn trị xua đuổi, bị cực quyền hất hủi, bị cường quyền trừ khử… tang thương nhân phẩm… tan tóc nhân tâm…

Triệt luận trở lại các tổng kết nghiên cứu thực địa về thảm họa môi trường hiện nay tại Việt Nam, được phân tích qua các tri thức của môi sinh học hiện đại. Mà không quên thảm trạng nhân sinh hiện nay với hoạn cảnh của dân oan bị phá nhà, cướp đất một minh chứng của hiện tượng luận về một độc đảng cầm quyền hành tắc như một đảng cướp, trộm, cắp, giựt đất đai, tài sản của nhân dân.

Thảm họa màn trời chiếu đất của các đồng bào vô gia cư là khảo sát tiếp theo về thảm nạn của xã hội Việt hiện nay nơi mà con dân Việt mang nhân sinh bất bình đẳng vào thẳng nhân kiếp của các nạn nhân của một chế độ độc đảng toàn trị được xây dựng trên bạo quyền của bất công. Thảm kịch một xã hội bị tha hóa từ nhân cách tới nhân phẩm qua điều tra và khảo sát về các trẻ em bụi đời, sống còn vất va vất vưởng nơi đầu đường xó chợ trong một chế độ mà chỉ có bọn ký sinh trùng quay quất, lẩn quẩn chung quanh các đặc quyền, đặc lợi của Đảng cộng sản Việt Nam để nhận bổng lộc mà vinh thân phì gia.

Thảm họa này chồng chất lên thảm họa kia, công trình nghiên cứu về các tù nhân lương tâm của Việt Nam hiện nay. Từ phân tích bối cảnh xã hội dân sự tới giải thích những chặn đường đấu tranh vì công bằng và bác ái luôn dẫn tới sự dấn thân vì văn minh của dân chủ và văn hiến của nhân quyền. Các tù nhân lương tâm chính là những đứa con tin yêu của Việt tộc, đang bị lao lý hóa bởi bạo quyền công an trị, tà quyền bất tài trị, ma quyền tham nhũng trị. Tội phạm học là chuyên ngành sinh sau đẻ muộn của khoa học xã hội và nhân văn, nhưng lại là một chuyên ngành sắc nhọn để nghiên cứu tới nơi tới chốn tội ác của Đảng cộng sản Việt Nam từ khi nó cướp được chính quyền rồi độc quyền trong quá trình tha hóa Việt tộc.

Sinh luận : môi trường bị đốn, nhân đạo bị chặt

Nhân học hiện đại đã cởi bỏ được sự phân biệt thủa nào : con người có văn hóa (culture),ngược lại với thiên nhiên (nature) không văn hóa, vì nhân học ngày nay đã ý thức được bằng kiến thức là không có môi trường thiên nhiên nuôi nấng con người thì làm gì có văn hóa. Với nhận thức được bằng tri thức là không có môi sinh thiên nhiên nuôi dưỡng con người thì không có một văn hóa nào có thể tồn tại được. Cặp đối nghịch thủa nào văn hóa-thiên nhiên, nơi mà văn hóa có lãnh thổ riêng, thiên nhiên có lãnh thổ riêng, hai lãnh thổ với biên giới rành mạch, giờ đã thành cặp đôi song hành, đồng hội đồng thuyền : văn hóa bảo vệ thiên nhiên, để thiên nhiên tiếp tục nuôi con người có văn hóa ! Mọi định nghĩa về văn hóa mà môi trường bị xóa, môi sinh bị khử, đều là những định nghĩa mang những khuyết điểm về kiến thức, tạo ra khuyết tật về tri thức.

Nhân học còn phải đi xa thêm nhiều bước nữa với trường hợp của Việt Nam hiện nay, nơi mà nhân đạo cần có môi trường và nhân phẩm cần có môi sinh. Khi ta đứng trước và thấy các cánh rừng từ Sa Pa tới Nha Trang bị đốn, bị nạo, thì ta thấy bị tổn thương từ nhân lý tới nhân tính, vì không có nhân lý nào sinh tồn với con người mà không có môi trường, vì không có nhân tính nào tồn tại với con người không có môi sinh. Tàn phá rừng để mưa kéo bùn về vùi lấp con người, nhà cửa, sông ngòi… Chính nhân lý với nhân tính tạo được nhân từ đối với thiên nhiên, như là sự thông minh biết bảo vệ môi trường như bảo vệ sự sống của chính mình.

Khi ta đứng trong hay đứng cạnh các vùng có khai thác quặng mỏ trên Tây Nguyên, như các hàng loạt các quả bom hóa chất trộn với bùn ô nhiễm sẵn sàng lăn xuống các bình nguyên bên dưới, thì ta thấy bị tổn thương từ nhân tri tới nhân trí, tại sao bạo quyền lãnh đạo vô tri đã để Tàu họa tàn phá môi trường tới mức tàn mạt hóa chính nhân cách của họ, tại sao tà quyền tham nhũng lại để Tàu hoạn tàn phá môi sinh tới độ đốn mạt hóa chính nhân diện của chúng. Khi ta đứng trên nhìn xuống khu khai thác thép của Formosa, một vùng biệt cấm Việt tộc lai vãng ngay trên đất Việt, đã một sớm một chiều giết gọn, hủy sạch môi sinh của một không gian rộng của Biển Việt tại miền Trung, thì ta thấy bị tổn thương từ nhân bản tới nhân vị của cả một dân tộc, với độc đảng toàn trị đã mở cửa cho công nghiệp độc vào xóa trắng sức sống của môi sinh, nơi có hằng triệu đồng bào đang sinh sống nhờ môi trường biển.

Nhân học hiện đại đã từ bỏ được sự phân biệt thủa nào : con người có văn hóa (culture) có toàn quyền canh tác, khái thác, tiêu xài thiên nhiên (nature) vô tri, vô giác, vô minh... Nhân học hiện đại không còn xem thiên nhiên đứng ngoài và đứng sẵn để con người sử dụng, vận dụng, tận dụng như phương tiện, như công cụ, nhất là như tài nguyên, cần lại xài và nếu cần là diệt. Một nhân học thông minh về môi trường là một nhân học có phương pháp luận biết ngăn chặn lại lối nghĩ, cách làm bất nhân là : tất cả sinh vật trong thiên nhiên làm nên môi sinh của môi trường đều được quy ra thành hàng hóa rồi thành tiền bạc để quyền lực biến thành quyền lợi rồi tự lợi mà tha hồ vơ vét. Một nhân học thông thái về môi sinh phải nhận diện được chính hệ độc nơi mà độc đảng sinh ra độc quyền, tạo nên độc tài, chế tác ra độc trị, để dựng lên độc tôn đã dung dưỡng rồi giáo dưỡng hệ tham nơi mà tham quan sinh ra tham quyền, tạo nên tham ô, chế tác ra tham nhũng, để tham tiền qua tham đất, tham rừng, tham biển… Chính hệ độc đã "béo bổ hóa" hệ tham bằng độc đoán của độc đảng tạo ra các hậu quả độc hại cho môi trường, các hề lụy độc hiểm cho môi sinh.

Một nhân học thông thạo về môi trường và môi sinh phải phân tích được, phải giải thích được thảm trạng đã trở thành thảm họa cho Việt tộc. Các thành phố bị ngập lụt sau mỗi trận mưa tới từ các quy hoạch vô tri, vô minh, vô giác, hoàn toàn vắng bóng kiến thức làm nên tri thức, ý thức dựng nên nhận thức là : không được hủy sông ngòi, không được diệt các dòng chảy, và khi nước không thoát được thì nước sẽ hại, sẽ giết người. Các nhà máy thủy điện sau các trận xả lũ, đã giết dân và súc vật, thì chúng để lại trong thiên nhiên, trong đồng ruộng, trong canh tác một bãi tha ma của ô nhiễm, với các tổn hại đi cùng với các tổn phí khi con người muốn để tái tạo lại môi trường ban đầu.

Các nhà máy nhiệt điện ngày ngày khói và tro bay trong không khí để tồn đọng lại trong buồng phổi, trong nội tạng của con dân Việt, với sự xuất hiện của các làng ung thư, song hành cùng các thống kê kinh hoàng hằng năm về số người bị ung thư tại Việt Nam, mà nguyên nhân chính là biến thiên nhiên thành tro, biến môi trường thành khói, để rồi tất cả thành chất độc, làm ra chất chết hủy diệt hằng ngày Việt tộc. Nhân cách con người khai thác thiên nhiên chính là cách sống và chết con người trên trái đất này : có hậu hay không có hậu ! Mà có hậu thì sốngkhông có hậu thì phải là chết ! Và chết trong đớn hèn và tủi nhục, vì đã sống không xứng đáng với chính môi trường đã nuôi nấng mình.

Môi trường học không những đề nghị nghiên cứu các sinh hoạt, quan hệ, đời sống của con người trên môi trường thiên nhiên, mà môi trường học còn phải đi sâu và đi xa để phân tích các chính sách về môi trường, các quyết sách về môi sinh, các quốc sách về thiên nhiên của một quốc gia. Vì các quyết định của chính quyền và các hành động của chính phủ tác động trực tiếp và dài lâu trên môi trường, môi sinh ; và chính môi trường và môi sinh là một trong những nền tảng của an sinh xã hội hiện tại, mà cùng là một trong những bảo hiểm cho các thế hệ tương lai. Môi trường học còn đưa ra các chỉ báo về không gian xanh trong đô thị, về môi trường xanh của một quốc gia, mà một chính quyền sáng suốt trong quyết định, một chính phủ thông minh trong hành động, biết nhìn xa trông rộng để bảo vệ môi trường, cụ thể là biết vận dụng tiến bộ khoa học, phát triển kinh tế mà trực tiếp phục vụ cho môi trường. Trong các quốc gia quý nhân quyền, trọng dân chủ, thì môi trường là chỉ báo nhân lý để đánh giá một dân tộc có thật sự là một dân tộc văn minh hay không ?

Qua khảo sát, điều tra cách đối xử của dân tộc đó, nhất là chính quyền của dân tộc đó đối với môi trường và môi sinh của họ ; cụ thể là không có một dân tộc nào thật sự văn minh, không có một chính quyền nào thật sự thông minh khi họ đối xử tàn tệ với môi trường. Môi trường học dựa vào nghiên cứu, điều tra, khảo xác, điền dả để tìm tới các phân tích và giải thích về hiện trạng của một môi trường. Chưa đủ ! Môi trường học vận dụng các kết quả nghiên cứu để đi tới kết luận với dữ kiện chính xác, chứng từ khách quan về các hậu quả trên môi trường do con người sinh sống trên môi trường đó.

Chưa xong ! Môi trường học còn phải tìm tới các các hậu quả trên môi trường sẽ gây ra các hệ lụy nào trên con người trong hiện tại, trên các thế hệ mai hậu. Chưa hết ! Môi trường học phải đi cao hơn về tính liên kết giữa con người và thiên nhiên bằng lý luận của nhân sinh, nhân thế, nhân gian ; bằng lập luận của nhân lý, nhân tính, nhân bản ; bằng giải luận của nhân tri, nhân văn, nhân trí để có các diễn luận về nhân đạo, nhân nghĩa, nhân phẩm làm nên nhân vị của con người được định vị rõ ràng trong không gian của môi trường là nơi nhân dân và nhân loại đang sinh sống.

Môi trường học khẳng định minh bạch là không thể có nhân sinh, nhân thế, nhân gian lơ lửng sống không môi trường ; là không thể có nhân lý, nhân tính, nhân bản lững lờ trên không trung mà không dựa vào môi sinh ; là không thể có nhân tri, nhân văn, nhân trí bay bổng rồi vật vờ qua lại mà không dựa vào thiên nhiên nơi mình sinh ra và lớn lên, cho nên không thể có nhân đạo, nhân nghĩa, nhân phẩm làm nên nhân vị mà không được định vị qua không gian và thời gian rỏ ràng trên một môi trường, qua hiện hữu trên một môi sinh. Môi trường học không hề rời chính trị, không hề xa chính sách, không hề quên chính giới, chính khách, không hề tách khỏi chính quyền và chính phủ trực tiếp quyết định lên số phận của môi trường, số kiếp của môi sinh.

Thảm trạng môi trường hiện nay của Việt Nam là chính quyền độc đảng không hề có một quốc sách sáng suốt nào về môi trường, chính phủ độc tài nhưng bất tài được Đảng cộng sản Việt Nam dựng nên cũng không không hề có một chính sách thông minh nào để cứu rỗi toàn cảnh bi đát trong bi nạn về môi trường Việt hiện nay. Nhiều chuyên gia quốc gia và quốc tế đã không ngần ngại đưa ra hình ảnh quê hương gấm vóc thủa nào, giờ chỉ là một bãi rác khổng lồ, lẫn lộn với hóa chất độc, ngày đêm gây ô nhiễm trên mức độ của quốc gia, tạo ung thư trên mật độ của dân tộc.

Môi trường học rọi sâu vào các hậu quả, soi rộng vào các hệ lụy qua nghiên cứu, điều tra, khảo xác, điền dã để nhận ra Đảng cộng sản Việt Nam với chính quyền độc trị nhưng không biết quản trị hệ môi trường, chính phủ độc tài nhưng bất tài trước thảm họa của ô nhiễm. Ngược lại và thậm tệ hơn, chính quyền và chính phủ của Đảng cộng sản Việt Nam đã dùng bạo quyền lãnh đạo để chung chia qua những nhóm lợi ích mà thực chất là các tập đoàn tội phạm sâu dân mọt nước biết buôn rừng bán biển. Trong bọn này còn có kẻ phản dân hại nước vì đã có ý đồ buôn dân bán nước, giết môi trường và diệt môi sinh có trong phản xạ bất nhân của chúng. Chúng dùng tà quyền tham quan để chung lưng đấu cật với ma quyền tham tiền, sẵn sàng tiêu diệt môi trường, truy giết môi sinh qua các quy hoạch đô thị, nông thôn, chúng cũng không tha thiên nhiên trên các vùng sâu, vùng xa với độc lý của tham-đất-vì-tham-tiền

Môi trường học nhân kết chính là môi trường học lột trắng nhân cách không kiến thức, vắng tri thức, trống ý thức, biệt nhận thức của một chính quyền độc trị độc đoán trong phản quản trị hệ môi trường, chính phủ độc tài nên độc hại trong quá trình phát họa ô nhiễm trùm lên đất nước, phủ lên số phận của cả một dân tộc. Môi trường học biết lột trần nhân dạng các hậu quả của vô minh, vô tri, vô giác, vô cảm của một chính quyền độc trị nhưng không biết quản trị hệ môi trường, chính phủ độc tài nhưng bất tài trước thảm họa của ô nhiễm. Môi trường học biết lột mặt nạ nhân diện của bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham quan ma quyền tham tiền, qua lòng tham không đáy của hệ tham : tham quyền để tham quan, tham ô để tham nhũng, tham đất tham tiền, sẵn sàng diệt môi trường, giết môi sinh vì tham, vì tiền.

Oan luận : nước mắt dân oan

Hiện tượng học về dân oan trong tiểu luận hiện tượng học nhân kết này. Chọn trực diện để tạo trực ảnh. Các bạn đã dùng mạng xã hội để gởi tới đồng bào những hình ảnh liêm chính nhất về bi nạn dân oan, mà cũng là thảm kịch hiện nay của Việt tộc. Hiện tượng học lấy cuộc sống để chế tác ra chất sống, trong chất sống có mắt thấy tai nghe, vì vô trương bất tín (không thấy không tin), chính hiện tượng làm nên kiến thức trực quan của con người. Hiện tượng học có chỗ dựa là hiện tượng luận, nơi mà : trực quan thấu trực cảnh, thực tế kể thực trạng, tầm nhìn sự thật nâng tầm vóc chân lý.

Từ đây, lấy chất sống của cuộc sống để tìm tới sự thật, để tạo ra tri thức, dụng tri thức để dựng lên ý thức, trong đó đạo lý của hay, đẹp, tốt, lành được hình thành để luân lý nói rõ về trách nhiệm và bổn phận của mỗi người, để sống có đạo đức, có nền là nhân phẩm đã biết nhận thức về mọi điều kiện làm người, và muốn làm người với nền của nhân lý, với vóc của nhân tri, với tầm của nhân trí. Nhân kết vừa là tổng kết, vừa là hùng lực của nhân vị tin vào nhân lý, biết dựa vào nhân tri, được nâng cao bởi nhân trí. Nhân bản có nền là nhân văn, có gốc là nhân phẩm, mang rễ của nhân từ. Nhân nghĩa biết trợ lực cho nhân thế, biết trợ duyên cho nhân tình, để nhân loại biết "ăn ở có hậu" ở mãi với nhân duyên.

Nhân kết Việt là thuật ngữ tới từ ít nhất là ba lập luận của Việt tộc : giống nòi Việt, gọi nhau là đồng bào vì cùng bào thai, vì cùng huyết thống. Dân tộc Việt, vì vậy có cùng một giòng sinh mệnh, sinh tử có nhau. Quê hương Việt, là mái nhà Việt để bảo vệ mọi công dân Việt. Nhân kết Việt, được tạo dựng qua ít nhất là ba lý luận của Việt tộc : Kết thân, vì có cùng một giòng máu, "máu chảy ruột mềm" ; kết gia, vì cùng là đồng bào, "anh em một nhà" ; kết kiếp, vì là thân phận Việt biết "một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ". Dân oan là con dân Việt, là đồng bào Việt, là dân tộc Việt, là giống nòi Việt, chia sẻ với chúng ta cùng một nhân kiếp Việt : chúng ta không thể bỏ rơi dân oan !

Hãy đứng về phía nước mắt của dân oan mất nhà, mất đất. Hãy đứng về phía tiếng gào của dân oan đòi công lý. Hãy đứng về phía tiếng hét của dân oan đánh thức công luận. Hãy đứng về phía tiếng thét của dân oan dựng dậy công luật. Hãy đứng về phía tiếng khóc của dân oan đang cầu cứu dân tộc ! Hãy đứng cùng xã hội học  để phân tích bất công. Hãy đứng cùng triết học  để vạch mặt bọn bất nhân. Hãy đứng cùng luật học  để lột mặt nạ đám tham nhũng. Hãy đứng cùng nhân học  để trực diện chống tà quyền. Hãy đứng cùng sử học  để ghi nhận tội ác của độc đảng-độc tài ! Dân oan là nạn nhân của tham nhũng, tác giả là bọn tham quan tạo ra tham ôvì tham tiền, nên hiện tượng luận nhân vị phải có lý luận để lột mặt nạ chúng, với hình ảnh như dữ kiện, như chứng từ ; từ đó phân tích và giải thích để lý luận về bản chất bất nhân của hệ tham (tham nhũng, tham quan, tham ô, tham tiền).  Một hiện tượng luận nhân vị chỉnh lý phải lý luận rành mạch về nội chất và nội dung của hệ tham này.

Dân oan là nạn nhân của tham nhũng, nó là con đẻ của độc đảng lấy độc tài để xây dựng độc quyền, lấy độc trị để độc tôn, qua thủ thuật của bạo quyền, qua ma thuật của tà quyền, lấy âm binh công an trị để khổ sai hóa xã hội, lấy tuyên truyền một chiều để ngu dân hóa quần chúng, để rồi tha hóa mọi giá trị đạo đức của tổ tiên. Một hiện tượng luận nhân vị toàn lý phải thấy-để-thấu cái độc hại của hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc trị độc tôn)  này. Dân oan là nạn nhân của tham nhũng độc đảng, biến quyền lực thành quyền lợi, rồi biến quyền lợi thành tư lợi, nên chúng chính là tà quyền, là âm binh đang biến chất nhân phẩm Việt, bản sắc Việt, lương tâm Việt. Chúng là bọn cướp công ích của dân tộc, cướp công tài của đất nước, cướp công bằng xã hội, và chúng nhẫn tâm cướp luôn công lý của dân oan, vì chúng bất nhân, thất đức ; nên một hiện tượng luận nhân vị phải có minh lý để thông suốt nhân vị của dân oan là một thực thể đại diện cho hệ công (công ích, công tài, công bằng, công lý).

Dân oan là nạn nhân của tham nhũng độc đảng trong tư lợi của tà quyền ; dân oan đấu tranh đòi lại đất của họ, để đòi lại hệ công (công ích, công tài, công bằng, công lý),  bằng thái độ liêm chính, bằng hành động liêm sỉ, họ liêm khiết tự lời nói tới quyết tâm. Một hiện tượng luận nhân vị phải có trực lý để diễn luận rõ ràng dân oan đại diện cho hệ liêm ( liêm chính liêm sỉ liêm khiết) , họ chính là đại biểu cho sự thật xã hội, chân lý quần chúng, lẽ phải dân tộc. Dân oan là thực thể đại diện cho hệ công (công ích, công tài, công bằng, công lý) cảcho hệ liêm ( liêm chính liêm sỉ liêm khiết) , dân oan không thể bị bỏ rơi, dân oan không thể đơn độc trong cuộc đấu tranh vì nhân phẩm Việt, được xây dựng trên nhân vị của nhân bản, nhân văn bằng nhân nghĩa, nhân từ của Việt tộc. Chúng ta chung lưng đấu cật, song hành và gắn bó với tiếng gào, tiếng hét, tiếng thét của dân oan, họ là đồng bào của chúng ta, họ đang lâm cảnh màn trời chiếu đất , họ chính là nhân nghĩa Việt phải có trong mỗi công dân

Khổ luận : đầu đường xó chợ… sống nay chết mai

Nếu một dân tộc 100 triệu dân, mà có hằng triệu người vô gia cư, thì dân tộc đó đã phải nhận một phần lớn số phận màn trời chiếu đất. Nếu một giống nòi có 100 triệu con dân, mà có hằng triệu người vô gia cư, thì giống nòi đó đã phải nhận một phần lớn nhân kiếp đầu đường xó chợ. Nếu ra đường, một công dân Việt đã thấy nhiều đồng bào của mình không có mái ấm che thân, khi công dân này sẽ nhận ra nhân phẩm của các đồng bào vô gia cư đã mất rồi ! Thì chính lúc đó công dân đang có mái ấm che thân phải nhận ra luôn là chính nhân phẩm của mình đang bị xúc phạm.

Nếu ngoài phố, một công dân Việt đã thấy nhiều đồng bào của mình mất đất mất nhà, công dân này sẽ nhận ra nhân vị của các đồng bào vô gia cư không còn nữa ! Thì chính lúc đó công dân này đang đất có nhà cũng phải nhận ra luôn là chính nhân vị của mình cũng đang bị mất, và sẽ bị mất bất cứ lúc nào bởi bạo quyền độc tài, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền. Nếu trên đường ngoài phố, một công dân Việt đã thấy nhiều đồng bào của mình đang bụi thân trong bùn kiếp, mà trước đó họ là dân lành, dân đen đã bị bạo quyền độc tài, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền biến thành dân oan, dân bụi ; họ đã bị cướp nhân quyền rồi ! Thì chính công dân đó phải nhận ra là chính nhân quyền của mình cũng sẽ bị cướp. Vì khi một dân tộc để bạo quyền độc tài, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền chỉ biết trộm, cắp, cướp, giật, rồi quyết định nhân kiếp của mình thì dân tộc đó phải nhận kiếp nạn nhân : không nhân phẩm, không nhân vị, không nhân quyền…

Bụi luận : bụi đời… bụi kiếp… oan hồn…

triet8

 

Bụi đời (bụi giữa đời, bụi trong đời, bụi ngoài đời…) chỉ những ai vô gia đình, không nhà, không nơi sống cố định, không nơi ở yên ổn, sống như bụi trôi dạt, lất phất giữa đời. Sống trên đường phố, đi lại qua các phố phường, rồi bị xếp loại một cách vô phúc nhất bởi những kẻ có gia đình, có nhà, có nơi nương tựa là loại đầu đường xó chợ ; đây là loại bất công mà khoa học xã hội và nhân văn chưa đặt tên. Luận về hiện tượng xã hội bụi đời này, thì tên gọi rất khác nhau, qua từng quốc gia, qua từng xã hội ; nên có những quốc gia văn minh, có những xã hội có nhân văn, tên gọi những ai tứ cố vô thân một cách êm đềm hơn. Thí dụ như người Pháp gọi họ là : kẻ không nơi cư trú cố định (sans domicile fixe). Êm tên để nhẹ kiếp ! Vì họ còn là người, họ chỉ không có nhà để ở, không còn gia định để nương, họ không hề là : bụi ! Ngữ pháp bụi luận làm tựa cho tiểu luận này, đi từng giai đoạn, từ điều tra qua điền dã, từ nghiên cứu qua khảo sát, từ phân tích qua giải thích, để xây dựng nên một quy trình cho luận về hiện trạng đau thương này của Việt tộc.

Trong đó, lý luận về một cá nhân bụi đời, không nên quy chụp vào số phận hay phần kiếp của cá nhân đó ; mà đây là một hiện trạng xã hội, nơi mà nhân học nhận thức phải song hành cùng xã hội học giáo dục để nhân diện được trách nhiệm của toàn bộ xã hội đối với với tất cả cá nhân này, nhất là chính quyền quản lý xã hội đó phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về bi nạn bụi đời. Tại đây, lập luận về thực thể bụi đời, không những nói lên hậu quả gia đình tạo ra hậu nạn xã hội bụi đời, mà nhân học nhận thức phải song hành cùng xã hội học tri thức để nhận ra những bất bình đẳng luôn song đôi với bất công trong một xã hội, từ đó cướp đi tất cả điều kiện sống bình thường cùng cơ may được sống yên, được sống lành trong một mái ấm. Vì có mái ấm thì sẽ không có bụi đời ! Từ đây, giải luận về bi nạn bụi đời, phải tìm từ gốc tới ngọn, tại sao là dân chúngmột sớm một chiều lại trở thành dân oan, từ những người có mái ấm dung thân, giờ lại lâm vào cảnh tứ cố vô thân, rồi màn trời chiếu đất, rồi đầu đường xó chợ. Vậy nên nhân học nhận thức phải sẽ chung đôi cùng xã hội học chính trị để nhận ra đường đi nước bước của bạo quyền lãnh đạo độc tài, có chung chia với tà quyền tham quan sống nhờ tham nhũng từ trung ương tới địa phương, rồi chia chác với đám ma quyền tham tiền qua buôn đất, không những biến dân chúng thành dân oan, mà còn biến họ thành tro bụi ngay trong cuộc sống, xô đẩy họ vào kiếp bụi đời !

Sau đó, diễn luận từ lỗi cơ chế tới tội lãnh đạo nơi mà những kẻ bụi đời không còn là những cá nhân riêng rẽ, mà là một thành phần xã hội ngày càng đông, sống trong nheo nhóc của cùng cực đói nghèo, mất trắng an sinh xã hội, mất trọn nhân quyền, quyền được sống bình thường của những công dân trong một xã hội pháp quyền. Kết cục là đẩy ra, vất ra, quăng ra đường phố, chợ búa, những đứa trẻ không nhà, những thiếu nhi mất nhà, xa cha mẹ, nên nhân học nhận thức phải sánh đôi cùng tội phạm học phân tích để kết luận trong tỉnh táo và sáng suốt là biến trẻ thơ, biến thiếu nhi thành bụi đời là một tội ác !

Thân phận không phải là số phận, thân phận mang không gian của hiện tại, số phận phải đèo số kiếp dài theo thời gian ; nhưng thân phận hiện tại nói lên số phận tương lai ; vì thân phận là chỉ báo (vì là điềm báo) cho số phận, vì cả hai vừa là nhân và vừa là quả, gắn liền với nhau trong nhân kiếp. Thân phận bụi đời không nhất thiết là thân phận mồ côi, vì có kẻ có cha mẹ có nhà nhưng thành bụi đời, có người mồ côi nhưng suốt kiếp không thành bụi đời ; nhưng mồ côi cha lẫn mẹ, rồi không người bao bọc, chở che, và hoàn cảnh mồ côi không nơi nương tựa rất dễ rơi vào bi nạn bụi đời.

Thân phận bụi đời làm nên số phận bụi đời, không phải là một đường thẳng từ đầu tới cuối kiếp người, mà thân phận bụi đời là những đoạn đường rất khác nhau, tùy cá nhân, tùy hoàn cảnh, nhất là tùy thuộc vào các chính sách an sinh xã hội, trong đó chính quyền phải chịu trách nhiệm, chính phủ phải nhận trọng trách trước thực trạng xã hội này. Thân phận bụi đời có thể bắt đầu rất sớm từ lúc còn là thiếu nhi, đây là trung tâm nghiên cứu và ngã tư khảo sát của tiểu luận này, có khi kéo dài cả đời, rồi để lại rơi vào chuyện tái sản xuất hiện trạng thân bụi, mà xã hội học gia đình và giáo dục gọi tên là : tái sản xuất xuyên thế hệ.

Thân phận bụi đời cũng có thể là những đoạn đường của một cá nhân, một gia đình, phải chịu nhiều lần thảm cảnh thân bụi ; đã thoát ra được họa cảnh bụi đời, nhưng họ luôn là con mồi trước mọi áp bức, bất công, bạo lực… đẩy đưa họ lại con đường cũ : bụi đời. Đây là hệ lụy của các nạn nhân ngắn cổ bé họng, trong một hệ thống hàng dọc của bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham quan, ma quyền tham đất vì tham tiền, biến dân lành thành dân oan, rồi thành dân bụi, mà không có một cơ chế công lý nào bảo vệ các nạn nhân này.

Thân phận bụi đời nói lên thảm kịch của bất công trong xã hội, tại đây các nạn nhân bụi đời bị xem như sống ngoài lề của đời sống xã hội hiện tại, bị loại ra khỏi trong sinh hoạt xã hội hằng ngày, bị bứng gốc khỏi quan hệ xã hội bình thường. Họ vô hình trong cách tính của chính quyền, họ vô dạng trong thống kê của chính phủ. Nhưng họ là kết quả tất yếu làm ra hậu quả tức thời tới từ bạo quyền lãnh đạo vô luân, tà quyền tham quan vô cảm, ma quyền tham tiền vô giác. Chính ba cấu trúc : đời sống xã hội, sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội là nội công của xã hội học nạn nhân hóa, làm nên nội lực cho nhân học nhận thức về các nạn nhân trong một xã hội, trong một dân tộc, trong một đất nước.

Họa nghiệp bụi đời có thể chỉ là một thời gian ngắn, có khi lại là cả kiếp người, nơi mà xã hội học góc độ (sociologie des trajectoires) đề nghị xét nghiệm một đời người như một hành khách đi những chặng đường của cuộc sống, qua hình tượng của phương tiện lưu thông công cộng : có trạm, có đi, có ngừng, có đổi, có tới... Trong đó có đoạn đường (trajet), nhiều người lên cùng một chuyến xe cùng khởi hành một trạm xe, nhưng họ xuống các trạm khác nhau, và có khi tới trạm cuối thì không còn ai. Một ngày kia, xã hội Việt không còn trẻ em Việt bụi đời, ngày ấy là ngày xã hội Việt thật sự bước vào đoạn đường văn minh.

Trong đó có những đoạn đường di chuyển chấp nối (correspondance) nhau, qua các thời điểm khác nhau, qua các không gian không giống nhau. Khi còn là thiếu nhi thì đã là bụi đời tại Hà Nội, miền Bắc ; khi thiếu niên thì cũng là bụi đời nhưng tại Huế, miền Trung ; khi thanh niên thì vẫn là bụi đời nhưng sinh tồn tại thành Hồ, miền Nam. Tổng thể của mọi sự chấp nối là hình ảnh trung thực của hoạn trạng bụi đời. Trong đó có dừng chân (pause), giữa những đoạn đường khác nơi, khác vùng, và một cá nhân có thể sống liên tục kiếp bụi đời (ngựa quen đường cũ) ; mà cũng có các cá nhân khác tạm thời tìm ra việc làm, có thể nhất thời có hội ngộ với một quý nhân, có hạnh ngộ với một ân nhân, và được chăm sóc được sống vài tháng, vài năm… có nơi nương thân ổn định, với một gia đình trong một mái ấm, dù là tạm bợ (nhờ duyên ta biết quê người nơi đây).

Và có trạm cuối (terminus) của một cá nhân, một gia đình, sống mà không có lối ra về kinh tế, không có lối thoát về nghề nghiệp, không còn con đường sống bình yên trong một cuộc sống bình thường, vì bị mất tất cả vốn xã hội. Mà xã hội học về vốn xã hội (sociologie des capitaux) khi phối hợp với nhân học chính trị (anthropologie politique) đề nghị nghiên cứu các nạn nhân bụi đời bị lâm vào môi trường nghiện ngập và tội phạm, vì cuộc sống hàng ngày đã đưa đẩy họ vào đường cùng, mà chính họ cũng là các con mồi, là các nạn nhân bị giật dây vào các hành động phạm pháp.

Có khi là trạm thoát, nơi đây là trạm đến (arrrivée) mang nhân tố tích cực, khi một cá nhân bụi đời, hoặc một tập thể bụi đời được hỗ trợ từ học hành tới huấn nghiệp, từ kinh tế tới xã hội, từ giáo dục tới văn hóa… để thoát kiếp bụi đời. Tại đây, khoa học giáo dụcxã hội học chính trị lập được một liên minh trong phân tích để nhận ra các thành công của các chương trình cứu trẻ bụi đời ; trong đó có sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa chính quyền và các hội đoàn từ thiện, giữa chính phủ và các chủ thể thiện nguyện ; nơi mà ý nguyện của hội lành, người tốt, cùng đồng tâm, đồng cảm, đồng giao với ý lực của chính quyền, chính phủ, tất cả cùng nhau tâm nguyện phải cứu cho bằng được các trẻ bụi đời !

Lọan kiếp là không có được nghĩ ngơi trong bình thường của trong ấm ngoài êm, trong thực cảnh không nơi nương náu. Nhưng nghiên cứu, khảo sát, điều tra, điền dã… về trẻ mồ côi của Việt Nam có không gian đặc thù của nó, có thời gian đặc biệt của nó, có thời điểm mang đặc tính của nó. Nó không giống như tác phẩm văn chương hiện thực Những kẻ khốn cùng (Les Misérables) của V.Hugo, thực trạng của các trẻ bụi đời Việt hiện nay mang cường độ và mức độ bạo động tới từ bạo quyền của một chế độ công an trị. Bạo lực lãnh đạo sinh ra bạo động trong một xã hội Việt đã mất phương hướng về giáo dục và đạo đức, với một chính quyền độc đảng chọn độc tài nhưng bất tài trong quản lý, chọn độc trị nhưng lại không biết quản trị, chọn độc tôn nhưng không tôn vinh được một đạo lý nào cho dân tộc, một luân lý nào cho đồng bào.

Lọan kiếp là không có mái ấm gia đình, mất đi mọi quy luật từ cha mẹ sinh thành tới tổ ấm có gia phong, trong đời sống bình thường có gia giáo : con cái ở đâu, ông bà ở đó. Tại Châu Âu, có sắc dân Tzigan (Gitan), là cộng đồng du mục nơi mà tập thể chọn : ăn xin, ăn mày… để sinh nhai hằng ngày, để sinh sống hằng năm, trong một thời gian dài qua nhiều thế hệ, nhưng họ không tự nhận là bụi đời. Hiện trạng trẻ bụi đời tại Việt Nam có dây dưa rễ má của một đất nước bị loạn tâm bởi chiến tranh trong thế kỷ qua, bị loạn thần qua nghèo đói, lại vô phúc song hành cùng bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham nhũng, ma quyền tham tiền, với túi tham không đáy, tạo ra vô cảm "ai chết mặc ai", làm ra vô nhân "bây chết mặc bây".

Loạn kiếp có ngay trong văn hóa thân tộc, nơi mà thống tộc trong quy luật "cùng máu mủ", khinh kẻ ngoại nhà, ngoại họ : "người dưng nước lã", rồi đặt tên ác để vinh danh bạo quy luật khép kín này : khác máu tanh lòng. Chính vòng kín này đã loại đi các cơ may, các cơ duyên để kẻ lạ được chấp nhận vào nhà, vào xóm, vào làng… Tại Việt Nam, hiện nay có các nhà, các xóm, có khi có cả làng chọn : ăn xin, ăn mày… như một nghề, dính tới một nghiệp, đã có từ bao đời. Nhưng chính các kẻ cùng nhà, cùng xóm, cùng làng này làm nghề này, họ không hề tự xem họ là : bụi đời ; vì họ có nhà, có họ, có thân tộc… và họ vẫn hãnh diện về họ hàng của họ : chim có tổ, người có tông, nhưng họ không hề có tình tương trợ, cụ thể là nơi nương tựa của những nạn nhân bụi đời mà không có quan hệ thân tộc với họ.

Lương luận : tuệ giác tù nhân lương tâm Việt tộc

Tù nhân lương tâm mang hệ lương (lương tâm, lương thiện, lương tri) đi tù, vào tù vì lương tâm của mình, như vậy bạo quyền của độc đảng toàn trị, tà quyền của cơ chế độc trị, ma quyền của công an trị như đang bỏ tù cả dân tộc, cả đồng bào khi chúng đẩy các tù nhân lương tâm vào vòng lao lý. Tù nhân lương tâm là tuyến đầu trong cuộc đấu tranh cho nhân quyềnnhân phẩm. Tù nhân lương tâm là những đứa con tin yêu của Việt tộc bằng lương tri của mình : "Sống lâu mới biết lòng người có nhân !".

Tù nhân lương tâm nhắc cho dân tộc, cho đồng bào là nhân quyền luôn có chỗ dựa trên hệ nhân nơi mà nhân phẩm là gốc của nhân tâm, nhân từ, rễ là nhân bản, nhân văn, có cội là nhân tính, nhân lý, làm nguồn cho nhân tri, nhân trí, tất cả cùng bồi đắp cho nhân vị. Tù nhân lương tâm chấp nhận : tù đày, tra tấn, nhục hình, truy sát… để đưa cả hệ nhân này vào nhân đạo, để đi trọn con đường từ nhân ái tới tận nhân nghĩa, tù nhân lương tâm là những đứa con kiên cường của Việt tộc bằng quyết tâm của mình : "Đường mòn nhân nghĩa chẳng mòn !".

Tù nhân lương tâm mở cửa cho dân tộc thấy chân trời của nhân quyền, đẩy cửa cho đồng bào thấy rạng đông của dân chủ, bằng chọn lựa của hệ đa : nhận đa đảng để đón đa tài, quý đa trí để dâng đa năng, trọng đa dũng để tạo đa hiệu. Tù nhân lương tâm xuất hiện rồi dùng nhân tính để xóa não bộ của bạo quyền độc đảng toàn trị, dùng nhân lý để tẩy não trạng của tà quyền cơ chế độc trị, dùng nhân bản để gỡ não hoạn của ma quyền công an trị. Tù nhân lương tâm đầy chính nghĩa là những đứa con ngoan dũng của Việt tộc : "Sống có nhân mười phần không khó".

Tù nhân lương tâm bồng, ẳm, bế, cõng hệ đạo trong chính nhân kiếp của mình, để làm sáng lên đạo lý : Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ của tổ tiên, để làm rõ ra đạo đức của Việt tộc : Bầu ơi thương lấy bí cùng. Chính đạo lý khi song hành cùng đạo đức làm nên luân lý qua bổn phận và trách nhiệm của Việt tộc khi gọi nhau là đồng bào, cùng tổ tiên, cùng huyết thống. Trên thượng nguồn lập quốc con dân Việt đã sinh ra cùng một bào thai thủa nào của cha Lạc Long Quân, của mẹ Âu Cơ, luôn thấy để thấu : "Máu chảy ruột mềm". Tù nhân lương tâm là những đứa con đoan chính của Việt tộc qua dấn thân : "Máu chảy tới đâu ruột đau tới đó". 

Tội luận : khoa học luận của tội phạm học

Khoa học luận dùng khám phá khoa học để phê bình và xem xét lại các định đề cố hữu của khoa học, như vậy khoa học luận dụng diễn luận khoa học để giải luận khoa học, dùng lý luận khoa học mới để khám nghiệm lại các lập luận cũ. Nên, định hướng khoa học luận phải dựa trên phương trình luận (lý luận, lập luận, diễn luận, giải luận) để lập nên các chỉ báo, từ đó nghiên cứu, điều tra, khảo sát, điền dã về sự thật để nhận ra chân lý. Chính sự thật và chân lý sẽ mở ra một chân trời cho tội phạm học có đầy đủ nhận thức về lẽ phải : Cái ác được nhận ra bằng quá trình của ý thức, vì ý thức trước đó biết là có cái tốt hoàn toàn ngược lại với cái ác, và cái tốt có mặt trong cuộc sống để bảo vệ cuộc sống.

Cái độc là nền của động cơ hành động cho ra cái ác, chính sự hiện diện của lý trí báo thức cho ý thức biết là cái lành có trong cái nhân, để duy trì cuộc sống trong xây dựng, chống lại sự tàn phá của cái độc.Cái thâm là con tính của cái độc, để biến cái ác thành cái thực trong cuộc sống. Nưng chính tại đây, ý thức hợp lực với lý trí để chế tác ra niềm tin bảo vệ cho bằng được cuộc sống bằng cái hay mang tầm vóc của cái tốt, mang bản lĩnh của cái lành để tiếp tục bảo hành cuộc sống. Cái hiểm, là thủ đoạn của cái thâm, là gốc rễ của cái độc, là cội nguồn của thâm. Nó luồn lách qua tà quyền, nó chui rúc để bám bạo quyền, nó thích bóng tối hơn ánh sáng, vì nó sợ sự thật, nó sợ bị lột mặt nạ, nên bóng tối là nơi ẩn nấp của cái hiểm để nó thực hiện tội ác của nó.

Tội ác, không những mượn bóng tối để ẩn nấp, mà còn để che giấu tội trạng, để khỏa lấp tội phạm, dấu diếm tội nhân, mà còn để lẩn trốn ánh sáng của sự thật, chính sự thật sẽ đưa tội phạm ra trước ánh sáng : công lý ! Tội trạng, sẽ được xử bằng công lý, có cái lý của công bằng, có cái luận của công luật, cái cái quyết của công pháp, nơi đây pháp luật thực thi cái luật trên nền của công tâm.

Tội phạm, khi bị lên cán cân, một bên là đạo lý (hay, đẹp, tốt, lành) và một bên là luật pháp (công bằng, công lý, công pháp, công tâm), thì nguyên nhân, động cơ, hành động, hậu quả của tội ác, tội trạng, tội phạm sẽ vạch mặt, chỉ tên tội nhân. Tội nhân, bị vạch trần lý lịch qua bằng chứng của tội ác, qua tang chứng của tội trạng, qua minh chứng của tội phạm, nên luật pháp có đầy đủ luận chứng để luận tộikết tội thủ phạm của tội ác ; dù đó là một đảng, một chính quyền, một chính phủ, một bọn tham quan, một tập đoàn tội phạm, một nhóm sát nhân… dù chúng có sự hỗ trợ của một cường đảng như Tàu tặc, Tàu phỉ hiện nay.

Phương pháp luận dụng phương pháp để bổ sung phương pháp, dùng phương pháp để củng cố phương pháp, sử dụng phương pháp để kết nối nghiên cứu với điều tra, khai thác phương pháp để kết hợp khảo sát với điền dã, lý luận trên phương pháp để lập luận cùng phân tích, diễn luận qua phương pháp để giải luận song hành cùng giải thích. Định vị phương pháp luận của tội phạm học dựa vào nội lực đã có trong các chuyên nghành khoa học xã hội và nhân văn, nhưng tội phạm học mang tính đặc thù nghiên cứu về sự thật luôn bị giấu diếm, mang tính đặc điểm điều tra về chân lý luôn bị phủ lập, mang đặc tính khảo sát về lẽ phải luôn bị ám sát cùng nạn nhân ngay trong tội ác.

Khoa học nhân văn, từ văn học tới triết học, cho tới ngôn ngữ học có cơ sở là văn bản từ dữ kiện tới chứng từ, từ phân tích tới giải thích, văn bản làm nền cho diễn luận và giải luận. Nhưng tội phạm học phải đi xa hơn nữa trong cách thuyết phục dữ kiện để tạo tiền đề cho tang chứng, chứng từ là thượng nguồn để nhận ra tang vật, từ đó thấy rõ tội ác để nhận diện tội nhân.

Khoa học xã hội, từ xã hội học tới dân tộc học mà tên gọi mới là nhân học cho tới sử học, có nền cũng là văn bản, nhưng định vị qua điều tra thực địa, qua nghiên cứu thực tiễn, qua điển dã thực nghiệm tại chỗ, nơi mà "mắt thấy tai nghe" ngay "tại chỗ, tại nơi", "bây giờ và ở đây" làm rễ cho thực tế, làm gốc cho sự thực. Nhưng tội phạm học phải đi sâu hơn nữa trong cách diễn đạt các tội ác không nằm trên mặt nổi của xã hội, mà trong các mạch ngầm, bóng khuất, xó gian, luồn bẩn… luôn được giấu kín và được bảo kê bởi tà quyền.

Sử học, ghi nhận sự kiện, mô tả dữ kiện, giải bày sự cố, rồi xếp vào một trật tự của không gian, một thứ tự của thời gian, trong đó các diễn biến được phân tích và giải thích bằng chứng từ, làm nên luận cứ cho sử học. Nhưng tội phạm học phải đi rộng hơn nữa trong cách phân giải các sử kiện có liên quan tới quá trình thâm, độc, ác, hiểm của tội nhân luôn ép nghẹn, các tội trạng luôn phủ lấp cho tội phạm để thủ tiêu các tội ác của nó.

Văn học, biết ghi nhận sự kiện để sáng tác ra hành động của các nhân vật trong tiểu thuyết, biết mô tả dữ kiện để sáng tạo ra các cá thể với hành vi đặc thù để phong phú hóa các diễn biến. Đồng thời, biết giải bày sự cố qua không gian và thời gian được tổ chức vừa theo thực trạng, vừa theo sức tưởng tượng của tác giả, qua văn xuôi hoặc qua thi ca. Nhưng tội phạm học phải khách quan bằng sự chính xác của tang chứng, qua minh chứng của tang vật. Tại đây tội ác gây ra có tác động dây chuyền không những trên nạn nhân của nó, mà còn lan tỏa ra xã hội, thấm nhập vào giáo dục, làm hư úng đạo lý cộng đồng, luân lý tập thể, đạo đức tổ tiên.

Triết học, dựng tư tưởng để lý luận trên các khái niệm, xây dựng ra kiến thức lý thuyết để lập luận các vấn đề của nhân sinh bằng diễn luận các quá trình tri thức của nhân trí để tìm tới sự thật. Nhưng tội phạm học phải tỉnh táo để cặn kẽ, tự đó tập hợp đầy đủ tang chứng, tang vật, qua biến cố mà hậu quả được thấy-biết-hiểu không những trong môi trường của nạn nhân qua hành động của tội nhân, mà ngay trên môi sinh của một dân tộc, của một quốc gia, từ đó xét nghiệm các hậu quả này trên toàn nhân loại.

Xã hội học, nghiên cứu về đời sống xã hội, điều tra về sinh hoạt xã hội, xét nghiệm các quan hệ xã hội, để tìm hiểu các mâu thuẫn, các xung đột, qua phân loại và phân tầng trong xã hội. Xã hội học cùng lúc thấu hiểu hợp tác giữa các cộng đồng qua tính đoàn kết hay qua quá trình bị tha hóa ; các sáng kiến của tập thể tự đòi hỏi tới đấu tranh ; các sáng tạo của cá nhân luôn củng cố quyền lợi xã hội của mình qua các công trình có lợi ích an sinh xã hội.

Nhưng tội phạm học phải đào sâu hơn nữa quá trình liên đới giữa quyền lực-quyền lợi-tư lợi để nhận diện được cái ác có mặt không những qua quá trình bóc lột đồng loại để trục lợi, mà nó còn dựa dẫm lên bạo quyền để trộm, cắp, cướp, giật ; Nó còn biết đeo bám vào tà quyền để giết, loại, hủy, bỏ các cái hay, đẹp, tốt, lành của đạo đức xã hội, bằng tội ác để vơ vét, để đục khoét, để bỏ đầy túi tham tư lợi của nó.

Nhân học, nghiên cứu toàn bộ nhân sinh, khảo sát toàn diện nhân tình, điều tra toàn cõi nhân thế, nhận diện nhân loại bằng chiều sâu để hiểu chiều cao, thấu đáo chiều rộng để biết chiều dài của nhân vị. Nhưng tội phạm học phải mang tính chính xác của phương pháp để có tính chuẩn xác trong phân tích và giải thích các bóng tối của nhân sinh nơi mà tội ác đang ẩn náu. Các góc khuất của nhân thế nơi mà tội phạm đang luồn lách, các mạch ngầm của nhân tình nơi mà tội trạng không được phơi bày, nơi có các luồng vừa bẩn, vừa độc của tà quyền đang bao che cho tội nhân. Chúng đang giết, loại, thiêu, hủy đồng loại, đang bất chấp nhân tính được định vị qua không những qua nhân bản và nhân văn, mà còn qua nhân nghĩa và nhân từ.

Luật học, lấy công bằng để bảo vệ nhân sinh, dùng công luật để duy trì nhân thế, dụng công pháp để bảo trì nhân tính, đại diện cho công tâm để xử lý các vấn đề của nhân tình, phán quyết bằng hệ công (công bằng, công luật, công pháp, công tâm để lập nên công pháp) làm nên công luận để tuyên án tội phạm. Nhưng tội phạm học phải chuẩn bị sắc sảo nhất ngay trên thượng nguồn để giúp luật học, luật pháp tra, quyết, xét, xử tội ác với sự tỉnh táo của khách quan, với sự sáng suốt của liêm minh, nơi mà sự liêm chính của chứng từ được vạch ra bởi sự liêm khiết của mọi công dân trong một dân tộc có văn hiến, trong một quốc gia có văn minh đang là nạn nhân trực tiếp hoặc gián tiếp của tội ác, mà luật phải luận tội tới nơi, tới chốn, một cách nghiêm minh nhất.

Định chất lý thuyết luận của tội phạm học, nơi mà nội chất của lý thuyết là biến đúc kết kiến thức thành mô hình qua công thức, khi kiến thức trở thành mô thức thì tri thức thành hình qua lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận của lý thuyết. Lý thuyết luận dụng lý thuyết mới để xét nghiệm lại lý thuyết cũ, tập hợp lý thuyết cũ và mới để lý thuyết luận có thể sử dụng lý thuyết để củng cố lý thuyết ; từ đó lý thuyết luận tận dụng lý thuyết để bổ sung cho lý thuyết. Tại đây, định chất lý thuyết luận của tội phạm học mang nội hàm của các thành quả đã đạt được trong tất cả các ngành khoa học xã hội nhân văn, và từ các thành quả này tội phạm học phải đủ lực, đủ tầm, đủ vóc, đủ dạng để có các sung lực cần thiết của mình qua các quá trình xây dựng lý thuyết, vừa có cơ sở, vừa có tiềm năng :

Cái ác gây ra tội ác, ngược lại với cái thiện, vì nó diệt không những nhân phẩm có trong nhân tính, nhân bản có trong nhân tri, nhân nghĩa, nhân từ có trong nhân vănnhân vị ; mà nó còn giết, diệt, hủy, thiêu các điều kiện làm người bình thường nhất đã có trong nhân loại, nhân tình, nhân thế, nhân sinh. Cái ác gây ra tội ác, ngược lại với cái lành, vì chính cái lành làm nền cho hệ tự (tự do, tự chủ, tự quyết, tự trọng), có trong quan hệ giữa người, tạo nên sự sống chung trong đời sống xã hội, sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội. Chính từ cái lành này, mọi người có cùng một quá trình tư duy tự làm người biết sống chung qua sự tôn trọng lẫn nhau để tiến tới chuyện làm người biết làm việc chung, biết chia sẻ với nhau trong điều kiện làm người vì cái lành.

Cái ác gây ra tội ác, ngược lại với cái tốt, vì chính cái tốt chế tác ra hệ công (công ích, công lợi, công pháp, công luật để bảo vệ công bằng), trực diện để đối kháng lại với cái ác. Và, chính cái tốt nói rõ bổn phận với cộng động, trách nhiệm với tập thể của mỗi công dân, từ đó biến đoàn kết thành tương thân, tương trợ làm nền cho bản chất của cái tốt : bác ái ! Từ định chất này, cái tốt làm được bác ái, vì nó mang nội hàm của vị tha, khoan dung, rộng lượng để tới thẳng từ bi, mà nhân từ là kết quả tích cực của cái tốt biết làm nên nhân phẩm.

Cái ác gây ra tội ác, ngược lại với cái hay, không hề là chuyện của bẩm sinh, mà là chuyện của giáo dục. Nó không trên trời rơi xuống mà là chuyện rèn luyện qua phẩm chất của giáo khoa, làm nên giá trị nhân tính qua giáo trình, chế tác ra chất lượng của nhân bản qua giáo án. Vì cái hay mang cái thiện, cái lành, cái tốt vào cuộc sống xã hội, qua đường đi nẻo về của nhân sinh quan hay của mỗi cá nhân, qua thế giới quan hay của một dân tộc, qua vũ trụ quan hay của một chính quyền. Và, nếu chính quyền này chỉ là bạo quyền, hoặc tà quyền thì không thể cấy, cày, tưới, tẩm được cái hay để chống lại cái ác.

Cái ác gây ra tội ác, ngược lại với cái đẹp, tới từ ý muốn của nhân phẩm, ý định của nhân ái, ý lực của nhân lý.Nơi mà con người biết đứng dậy và đi tới để đi xa hơn trách nhiệm cá nhân và bổn phận công dân, để tới phương án mà cũng là phương trình của cái đẹp : tự do luôn song hành cùng nhân phẩm, cả hai không để cái ác lộng hành, rồi biến tự do lẫn nhân phẩm là nạn nhân của nó. Đứng dậy, đi tới để lấy, cầm, giữ, nắm hệ tự (tự do, tự chủ, tự quyết, tự trọng), để bảo vệ tự do lẫn nhân phẩm, phải được xem như ngang hàng, lắm lúc còn cao hơn cả hạnh phúc của một cá thể, cao hơn cả sự bình yên của một tập thể. Cái đẹp vì nó đẹp ở trên cao (cao hơn cả trời), ngay trong tư duy của con người tự do biết yêu người, của con người tự trọng biết yêu cuộc sống.

Cái ác gây ra tội ác, luôn chống lại với chủ thể chính là cá thể có cá tính luôn biết đòi hỏi công bằng qua công lý, luôn thấu hiểu tự do để có tự chủ. Chủ thể tôn trọng bổn phận và trách nhiệm, nhưng chủ thể muốn làm công dân trong ý nghĩa toàn vẹn nhất, với giá trị phổ quát nhất : chủ thể của tự do hành động vì công lý. Cá tính của chủ thể trong sáng tạo biết song hành, biết chung lưng đấu cật với cái lành, cái tốt, cái hay, cái đẹp để sáng tạo của chủ thể phải là tác phẩm của cái thiện, hoàn toàn mâu thuẫn với cái ác.

Cái ác gây ra tội ác, ngược lại với cái nhân, vì trong cái nhân có sự thương yêu biết hiến dâng lòng bác ái, có thiện chí biết hiến tặng thiện tâm ; trong khi đó cái ác không những gây nên nỗi khổ, niềm đau cho nạn nhân của nó, mà còn truy, hủy, giết, diệt nhân phẩm của nạn nhân này. Cái ác không phải chỉ là lỗi, mà chính là tội : tội ác đã giết thân xác, diệt cuộc sống, hủy nhân cách của nạn nhân, bằng bạo lực của bạo quyền, bằng bạo hành của tà quyền, nó mang bản chất của bạo động, hoàn toàn ngược lại với phẩm chất bất bạo động của hệ nhân (nhân từ, nhân nghĩa, nhân bản, nhân văn).

Cái ác gây ra tội ác, ngược lại với cái sinh, chính là sự sống đang bị cái ác gây thương tích, tạo thương tật, gây ra thương xót trong xã hội, quần chúng. Chính cái ác báo hiệu cái chết đang tới, nó báo động cái sinh trong sự sống đang bị đe dọa bởi bạo lực, được bảo kê bởi bạo quyền, được hà hơi tiếp sức bởi tà quyền, bất chấp công tâm và công lý. Muốn chống lại cái ác, thì sự hiểu biết về công bằng và công lý không đủ, sự thấu đáo về tự do, tự chủ không đủ, mà phải vận động tư duy qua hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận) trên hệ nhân (nhân phẩm, nhân từ, nhân nghĩa, nhân bản, nhân văn). Cả hai hệ (luận nhân) này, phải đủ hùng lực để chế tác ra hệ sáng (sáng kiến, sáng chế, sáng tạo) biết bảo vệ cái nhân.

Triệt nhưng không diệt được : Chủ thể Việt tộc

 

triet9

Khi bạo quyền công an trị của các người đàn áp, bắt bớ các nhà hoạt động vì yêu dân chủ, quý nhân quyền, các người đã tạo ra một lực lượng tinh khôi cho Việt tộc, đó là các tù nhân lương tâm. Vô tình các người đã biến các đứa con tin yêu này thành các minh sư cho tương lai đa nguyên trong dân chủ, đa tài vì nhân quyền cho Việt tộc.

Khi tà quyền tham nhũng trị của các người đã cướp đất, phá nhà của dân lành rồi biến họ thành dân oan, thì vô tình các người đã biến các nan nhân này thành những chủ thể để đấu tranh cho công bằng xã hội. Họ đại diện cho công bằng Việt không lùi trước bất cứ bất công nào của các người.

Khi ma quyền tham tiền trị của các người đã bần cùng hóa bao thế hệ Việt để họ bị lâm cảnh nô lệ hóa trong chính sách xuất khẩu lao động của các người, trai thì lao nô, gái thì nô tỳ cho các nước láng giềng. Vô tình các người đã đặt họ vào thế phải tự giải phóng nhân kiếp để có nhân vị tốt lành hơn, bằng những tri thức mà họ học được ở các quốc gia có văn minh dân chủ, có văn hiến nhân quyền.

Khi cực quyền độc đảng trị của các người đã tự tạo ra các đặc ân, đặc sủng, đặc lợi cho hệ thống độc đảng toàn trị, thì vô tình các người đã tập hợp tất cả những nạn nhân (của hệ thống độc tài nhưng bất tài của các người) vào một mặt trận. Trong mặt trận này có liên minh của hùng lực của dân oan, dân đen, dân lành, của tri lực của trí thức, của tâm lực của cả một xã hội dân sự yêu công bằng, chuộng công lý, tất cả đang chuẩn bị lật đổ các người.

Khi cuồng quyền ngu dân trị của các người đã sử dụng bạo động công an, vận dụng bạo hành của xã hội đen, tận dụng bạo lực của những thành phần bất hảo nhất của xã hội vô tri trong vô minh, vô cảm vì vô giác để trấn áp để đàn áp các con dân Việt, thì vô tình các người đã dựng lên những phong trào xã hội vì nhân phẩm Việt, với những sinh hoạt xã hội tự bảo vệ nhân bản Việt, với những sinh hoạt xã hội tự đấu tranh vì nhân văn Việt, với những quan hệ xã hội tự duy trì nhân vị Việt, đây chính là lương tâm Việtmê quyền vô học trị của các người không thấy, chưa thấy, và khi thấy được thì đó là ngày tàn của các người.

Chưa hết, có một chủ thể Việt tộc mà các người không sao diệt được, đó là luồng sóng ngầm của nhân tâm Việt, các người muốn triệt nhưng các người sẽ không diệt được, chỉ vì các người không đủ tâm để đủ tầm hiểu được luồng người Việt này. Luồng người Việt này có mặt trong những nơi có hiện cảnh lá lành đùm lá rách, ở những hoạn cảnh bầu ơi thương lấy bì cùng, ở những bi cảnh một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ, ở những nhân cảnh thương người như thể thương thân…

Đó là những chủ thể thiện nguyện trong hành tác từ thiện giờ giờ, ngày ngày có mặt tại các trung tâm của nỗi khổ niềm đau của Việt tộc hiện nay. Họ đứng cùng dân oan, dân đen, dân lành… Họ luôn đứng về phía nước mắt của các nạn nhân trong chế độ độc đảng toàn trị, độc tài nhưng bất tài, độc trị nhưng không hề biết quản trị. Mê chấp trong cực quyền, mê muội trong cuồng quyền, các người cho sinh ra toàn những quái thai. Các người là cha sinh mẹ đẻ của bạo quyền tham đất, tà quyền tham nhũng, ma quyền tham tiền, với công an làm côn đồ và côn đồ làm thay công an. Các người đã vùi dập nhân phẩm Việt nhưng hậu quả bất nhân thất đức của các người sẽ mạt kiếp hóa rồi vô hậu hóa các người !

Khi các chủ thể thiện nguyện trong hành tác từ thiện cùng dân oan, dân đen, dân lành một ngày kia đứng cùng chiến tuyến với xã hội dân sự biết yêu văn minh dân chủ, biết quý văn hiến nhân quyền thì ngày đó các người sẽ không còn tiếp tục triệt nhân lý Việt, hủy nhân tri Việt, giết nhân tâm Việt… Và ngày đó chính là ngày tàn của chế độ độc đảng toàn trị đã bất nhân thất đức với Việt tộc từ khi các người cướp được chính quyền… Có những luồng sóng ngầm của luồng người đại diện cho nhân tâm Việt ăn hiền ở lành, vì thấy-và-thấu đạo lý của tổ tiên Việt : ăn ở có hậu, luồng sinh mệnh của Việt tộc này sẽ đứng lên và dẹp bỏ bạo quyền của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam trong chớp mắt !

Lê Hữu Khóa

(13/08/2020)

-------------

Chú thích :

[1] Nhân luận và nhân Việt, Anthropol-Asie xuất bản, facebook Vùng Khả Luận (trang thầy Khóa).

[2] Tri Luận, Anthropol-Asie xuất bản, facebook Vùng Khả Luận (trang thầy Khóa).

[3] Tâm luận tìm sử luận, Anthropol-Asie xuất bản, facebook Vùng Khả Luận (trang thầy Khóa).

[4] Chính Luận, Anthropol-Asie xuất bản, facebook Vùng Khả Luận (trang thầy Khóa).

[5] Dân luận, Anthropol-Asie xuất bản, facebook Vùng Khả Luận (trang thầy Khóa).

[6] Lý thuyết luận, phương pháp luận, khoa học luận, Anthropol-Asie xuất bản, facebook Vùng Khả Luận (trang thầy Khóa).

[7] Lê Hữu Khóa, KHOA HỌC LUẬN, Anthropol-Asie xuất bản, Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-Trang thầy Khóa.

[8] Lê Hữu Khóa, CHÍNH LUẬN, Anthropol-Asie xuất bản, Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-Trang thầy Khóa.

[9] Lê Hữu Khóa, NHÂN LUẬN-NHÂN VIỆT, Anthropol-Asie xuất bản, Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-Trang thầy Khóa.

[10] Lê Hữu Khóa, XÃ LUẬN, Anthropol-Asie xuất bản, Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-Trang thầy Khóa.

[11] Lê Hữu Khóa, TÂM LUẬN TÌM SỬ LUẬN, Anthropol-Asie xuất bản, Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-Trang thầy Khóa.

[12]Lê Hữu Khóa, KIẾP LUẬN, Anthropol-Asie xuất bản, Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-Trang thầy Khóa.

 

[14] Lê Hữu Khóa, TRI LUẬN, Anthropol-Asie xuất bản, Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-Trang thầy Khóa

[15] Lê Hữu Khóa, PHƯƠNG PHAP LUẬN, Anthropol-Asie xuất bản, Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-Trang thầy Khóa

[16] Lê Hữu Khóa, ANTHROPOLOGIE DU VIETNAM, tome 4, Editions les Indes Savantes. Paris.

[17] Lê Hữu Khóa, ANTHROPOLOGIE DU VIETNAM, tome 5, Editions les Indes Savantes. Paris.

[18] Lê Hữu Khóa, OAN LUẬN, Anthropol-Asie xuất bản, Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-Trang thầy Khóa.

Lê Hữu Khóa, BỤI LUẬN, Anthropol-Asie xuất bản, Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-Trang thầy Khóa.

[19] Lê Hữu Khóa, DÂN LUẬN, Anthropol-Asie xuất bản, Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-Trang thầy Khóa.

[20] Lê Hữu Khóa, LÝ THUYẾT LUẬN, Anthropol-Asie xuất bản, Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-Trang thầy Khóa.

[21] Lê Hữu Khóa, ANTHROPOLOGIE DU VIETNAM, tome 3, Editions Les Indes-Savantes. Paris.

[22] Lê Hữu Khóa, TRỰC LUẬN, Anthropol-Asie xuất bản, Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-Trang thầy Khóa.

[23] Lê Hữu Khóa, CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN CĂN BẢN CỦA KHXHNV, Anthropol-Asie xuất bản, Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-Trang thầy Khóa.

[24] CHỦ LUẬN (l’argumentation créative du sujet). Anthropol-Asie. Paris

[25] XÃ LUẬN (l’argumentation sociétale). Anthropol-Asie. Paris

[26] CHÍNH LUẬN (l’argumentation politique). Anthropol-Asie. Paris

[27] LINH LUẬN (l’argumentation spirituelle). Anthropol-Asie. Paris

[28] KIẾP LUẬN (l’argumentation karmique). Anthropol-Asie. Paris.

[29] ANTHROPOLOGIE DU VIETNAM. Tome 3. Les Indes savantes. Paris.

[30] TỘI LUẬN (l’argumentation contre le crime d’Etat). Anthropol-Asie. Paris

[31] ANTHROPOLOGIE DU VIETNAM. Tome 3. Les Indes savantes. Paris.

[32] GIÁO LUẬN (l’argumentation éducative). Anthropol-Asie. Paris

[33] VIỆT LUẬN (l’argumentation vietnamienne). Anthropol-Asie. Paris

[34] HỌA LUẬN (l’argumentation contre le drame humain). Anthropol-Asie. Paris

[35] TRI LUẬN (l’argumentation cognitive). Anthropol-Asie. Paris

[36] SỬ LUẬN (l’argumentation hítorique). Anthropol-Asie. Paris

[37] OAN LUẬN (l’argumentation contre l’injustice). Anthropol-Asie. Paris

[38] TỰ LUẬN (l’argumentation libérée pour la liberté). Anthropol-Asie. Paris

[39] ĐỒNG LUẬN (l’argumentation fondatrice de la nation). Anthropol-Asie. Paris

[40] BỤI LUẬN (l’argumentation à propos de la «poussière de la vie »). Anthropol-Asie. Paris

[41] KHỔ LUẬN (l’argumentation contre la souffrance). Anthropol-Asie. Paris

[42] SINH LUẬN (l’argumentation anthropologique de l’écologie). Anthropol-Asie. Paris

[43] TUỆLUẬN (l’argumentation de l’esprit). Anthropol-Asie. Paris

[44] THƯ LUẬN (l’argumentation des correspondances). Anthropol-Asie. Paris

[45] LƯƠNG LUẬN (l’argumentation consciencieuse). Anthropol-Asie. Paris

[46] VIETNAMIENS EN FRANCE, L’harmattan.

[47] VIETNAMIENS DE LA DEUXIEME GENERATION, l’Harmattan.

[48] PRISON, CORPS, EXIL, ANIMALITE. L’harmattan.

[49] THỨC LUẬN (l’argumentation de l’éveil). Anthropol-Asie. Paris

[50] THUẬT LUẬN (l’argumentation réceptacle de l’art). Anthropol-Asie. Paris

[51] NGHỆ LUẬN (l’argumentation artistique). Anthropol-Asie. Paris

[52] TỔNG LUẬN. I (l’argumentation synthétique. 1). Anthropol-Asie. Paris

[53] TỔNG LUẬN. II (l’argumentation synthétique. 2). Anthropol-Asie. Paris

[54] TỔNG LUẬN. IV (l’argumentation synthétique. 4). Anthropol-Asie. Paris

-------------

Ghi chú thêm :

Các bản thảo được nhà xuất bản Anthropol-Asie ấn hành có thể tham khảo tại Facebook Vùng khả luận (trang thầy Khóa).

triet10

NHÂN LUẬN (l’argumentation humaine de l’homme)

CHÍNH LUẬN (l’argumentation politique de l’action)
DUYÊN LUẬN (l’argumentation relationnelle de la rencontre)
KIẾP LUẬN (l’argumentation karmique de la vie)
MỸ LUẬN (l’argumentation esthétique de l’art)
NGHỆ LUẬN (l’argumentation artistique de la création)
TÂM LUẬN (l’argumentation affective du sentiment)
THI LUẬN(l’argumentation poétique de l’inventivité)
TÌNH LUẬN (l’argumentation sentimentale de l’amour)
TỰ LUẬN (l’argumentation libérée du sujet)

TRỰC LUẬN (l’argumentation directe du dialogue)

XÃ LUẬN (l’argumentation sociétale de la conscience)

OAN LUẬN (l’argumentation sociologique contre l’injustice)

BỤI LUẬN(l’argumentation à propos de la "poussière de la vie")

VIỆT LUẬN (L’argumentation vietnamienne de l’intégrité)

LINH LUẬN (L’argumentation spirituelle de l’existence)

GIÁO LUẬN (l’argumentation éducative de l’enseignement)

THƯ LUẬN (l’argumentation politique de la gouvernance)

TUỆ LUẬN (l’argumentation transmissive de l’éducation)

TỘI LUẬN (l’argumentation morale contre le crime d’Etat)

SINH LUẬN (l’argumentation anthropologique de l’écologie)

LƯƠNG LUẬN (l’argumentation légale contre le crime d’Etat)

CHỦ LUẬN (l’argumentation créative du sujet)

KHỔ LUẬN (l’argumentation éthique face à la souffrance)

HỌA LUẬN (l’argumentation sociétale face au malheur)

THUẬT LUẬN (l’argumentation esthétique face à l’œuvre d’art)

ĐỒNG LUẬN (l’argumentation fondatrice de la nation)

NGỮ LUẬN (l’argumentation cognitive de la langue)

KÝ LUẬN (l’argumentation narrative contre l’injustice)

VÔ LUẬN (l’argumentation éducative contre l’obscurantisme)

ĐẠO LUẬN (l’argumentation asymétrique de la voie)

THƯƠNG LUẬN (l’argumentation éthique de la compassion)

NGHĨA LUẬN (l’argumentation durable du sentiment)

YÊU LUẬN (l’argumentation intime de l’amour)…

 

-------------


lhk0 Lê Hữu Khóa

Giáo sư Đại học Lille

Giám đốc Anthropol-Asie

Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á

Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCOLiên Hiệp Quốc

Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa Paris

Thành viên hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Đông Nam Á

Hội viên danh dự ban Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới.

Các công trình nghiên cứu việt nam học của giáo sư Lê Hữu Khóa, bạn đọc có thể đọc và tải qua Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-trang thầy Khóa.

Quay lại trang chủ

Additional Info

  • Author: Lê Hữu Khóa
Read 214 times

2 comments

  • Comment Link Hoàng Trường Sa jeudi, 13 août 2020 23:12 posted by Hoàng Trường Sa

    Theo ngu ý của tôi, phần kết này là một áng kim cổ kỳ văn. Nó vạch trần đảng Cộng Sản Việt Nam trước dư luận VN một cách hùng hồn và thuyết phục. Chỉ xin phép tác giả cho tôi được mạo muội thêm vào trong hệ “độc” (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn) của ĐCSVN hai chữ ĐỘC ÁC cho được trọn vẹn với đặc trưng của đảng này.

    Một lần nữa xin chân thành cám ơn tác giả Lê Hữu Khóa.

  • Comment Link VH jeudi, 13 août 2020 19:37 posted by VH

    Cám ơn sự cống hiến của giáo sư Lê Hữu Khoá dành cho ngôn ngữ Việt. Các bài viết của giáo sư rất công phu và rành mạch. Phải có thời gian mới đọc và hiểu hết được những gì giáo sư viết. Đúng là tác phẩm để đời.
    Việt Hoàng

Viết bình luận

Phải xác tín nội dung bài viết đáp ứng tất cả những yêu cầu của thông tin được đánh dấu bằng ký hiệu (*)