Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Published in

Tư liệu

06/10/2020

Vô luận 2 : Vô minh - vô tri

Lê Hữu Khóa

 

Vô minh - vô tri

Vô minh sinh vô tri, tạo vô giác, dựng vô cảm, xây vô tâm

voluan1

Vô học-vô hậu : Vô minh - vô tri

 

Vô luận là vận dụng hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận) để thấy cho thấu từ nội dung tới nội hàm hệ vô (vô minh, vô tri, vô giác, vô cảm, vô tâm) bằng hệ nhân (nhân tri, nhân trí, nhân tính, nhân lý, nhân bản, nhân văn, nhân vị, nhân nghĩa, nhân đạo, nhân tâm, nhân từ).

Vô minh, có thượng nguồn của hệ ngu (ngu si, ngu đần, ngu dại) ngay trong não trạng của một cá nhân mang vào sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội, đời sống xã hội, tổ chức xã hội bằng hệ hành (hành vi, hành động, hành tác) của mình. Bi nạn của một dân tộc, của một đất nước tới từ những các cá nhân lãnh đạo biến hệ ngu này thành chính sách, tên gọi của nó là : ngu dân, đây là loại hệ lụy của một chế độ chính trị áp đặt lên một giống nòi, một xã hội, lên luôn tất cả các chân trời tương lai của nhiều thế hệ mai hậu. Một cá nhân lãnh đạo vô minh khi tạo ra một đảng cầm quyền vô minh, thì sẽ dựng lên một chế độ độc đảng vô minh, sẽ tạo ra một định chế toàn trị vô minh, sẽ xây lên một hệ thống chuyên chính vô minh. Tất cả hệ lụy này sẽ thủ tiêu không những nhân tri, nhân trí mà nó hủy diệt nhân tính, nhân lý của dân tộc đó, mà không quên thanh trừng luôn nhân bản nhân văn của dân tộc đó.

Vô tri, vì không hiểu nên không biết một chuyện cơ bản trong nhân sinh là phải học, học mới biết, học đây là học thật, học để hiểu, hiểu để phân tích sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội, đời sống xã hội, tổ chức xã hội. Hiểu để giải thích tới nơi tới chốn từ hiệu quả tới hậu quả, từ hệ lụy tới hệ luận về chính sách, chế độ, định chế, hệ thống… Nơi nào vô tri ngự trị thì nơi đó, xã hội đó, dân tộc đó sẽ mất trọn nhân tri, nhân trí, nhân tính, nhân lý, nhân bản, nhân văn. Khi vô tri được xem là một thực trạng không nắm hiểu biết tới từ một thực tế bất tri vì không có hiểu biết, chính nó sẽ tạo ra thất tri tức là không có sự hiểu biết có căn bản, có căn cơ, có căn cứ. Khi mất nguồn cội căn bản này thì sẽ tiếp tục đánh mất mọi hiểu biết tiếp theo, sau này. Vì quy luật của sự hiểu biết là tiến trình thăng hoa, từ dưới lên trên, từ thấp lên cao, từ dễ tới khó, có hiểu biết căn bản ban đầu sẽ có căn cơ hiểu biết thêm các chuyện khác khó hơn, phức tạp hơn. Như vậy, câu chuyện học để hiểu, là câu chuyện học thật để hiểu thật, học từ gốc, rễ, cội, nguồn để cá nhân được hiểu tới nơi tới chốn về cành, lá, chồi, nhụy, lộc, hoa, trái… Câu chuyện học thật để hiểu thật hoàn toàn ngược lại với chuyện mua bằng bán cấp trong chế độ vô minh với cơ chế vô tri hiện nay với học giả-thi gia-điểm giả-bằng giả, từ lãnh đạo tới cán bộ.

voluan2

Khi khoa học giáo dục so sánh có mặt để cân, đo, đong, đếm, giáo khoa, giáo trình, giáo án dựa trên giáo lý, giáo luận, giáo dục của hai hệ thống giáo dục, hệ thống thứ nhất là của Việt Nam hiện nay trong tay độc đảng toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam lấy tuyên truyền ngu dân để diệt nhân trí ; và hệ thống giáo dục thứ nhì các nước hiện nay đang sống với văn minh của dân chủ, văn hiến của nhân quyền, thì mọi sự thật về giáo khoa, giáo trình, giáo án làm nên chân lý về giáo lý, giáo luận, giáo dục, từ đây nội dung của giáo dục là phải làm sáng tỏ được lẽ phải của giáo dục. Thí dụ cụ thể dễ dàng kiểm chứng nhất là giáo trình trung học phổ thông dành cho học sinh tuổi thiếu niên tại các quốc gia tiến bộ này là :

Cái lý dùng để phân tích và giải thích sự thật, làm nên từ lý lẽ để con người lý luận mà nhận ra chân lý chỉ bằng còn đường của lý, và tất cả con đường khác không qua lý luận để giải luận, thì các con đường nếu không là mê tín, dị đoan, cuồng đạo, thì là con đường của bạo quyền, tà quyền, ma quyền.

Cái lý dùng để phân tích và giải thích mọi khám phá khoa học, kỹ thuật, tạo điều kiện ra đời của cái lý biết phân tích và giải thích mọi bất bình đẳng, bất công trong đời sống xã hội, sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội ; và cũng chính cái lý này dắt con người tới con đường đấu tranh vì công bằng và công lý.

Cái lý dùng để phân tích và giải thích từ tiến bộ khoa học, kỹ thuật tới con đường đấu tranh vì công bằng và công lý, cũng sẽ được vận dụng như cái lý để định nghĩa thế nào là hạnh phúc, thế nào là tự do, thế nào là nhân quyền, thế nào là là dân chủ. Cái lý chính là chủ lực để chống bạo quyền, tà quyền, ma quyền, nên nó chống luôn cuồng quyền, cực quyền, lộng quyền, lạm quyền, tham quyền.

chính lý thì phải chỉnh lý khi phân tích, hợp lý khi giải thích, toàn lý khi thuyết phục đối tác, tha nhân, đồng loại, tại đây phương trình (chính lý, chỉnh lý, hợp lý, toàn lý) làm chỗ dựa cho cảm xúc đúng (bất nhẫn khi thấy bất công), làm nền móng cho cảm động đúng (dấn thân khi thấy bất công tới từ bạo quyền). Cảm xúc đúng vì biết thương người, cảm động đúng vì biết thương đồng bào, đồng loại chính là cái lý của đạo đức (thương người như thể thương thân) làm nên giáo lý (bầu ơi thương lấy bí cùng).

Từ đó biết đấu tranh bằng hệ lý của luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận) sử dụng thảo luận để tranh luận, vận dụng tranh luận để thuyết luận, tận dụng thuyết luận để trao luận. Đây là một quá trình truyệt đối bất bạo động của các chủ thể vừa biết tôn trọng lý lẽ của sự thật, lý luận của chân lý, lập luận của lẽ phải, một quá trình thông minh của cách đối nhân xử thế văn minh, nơi mà :

Cái lý có thượng nguồn từ đề nghị tới trung nguồn của thảo luận để có hạ nguồn thái hòa cùng nhau quyết định trên cái lý để cùng nhau thực hiện bằng hành động vì cái lý của công bằng, tự do, bác ái, đó là cái lý của cộng hòa. Quy trình đề nghị-thảo luận-quyết định-thực hiện chính là quy trình của giáo lý thông thái làm nên giáo luận thông minh nơi mà học thuật chính là học thật ; và học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả hoàn toàn không có chỗ đứng ghế ngồi trong giáo lý làm nên nhân lý này.

Cái lý có tự thượng nguồn từ đa tài, đa lực, đa trí, đa dũng, đa năng, đa hiệu, tới trung nguồn của đa nguyên để có hạ nguồn hòa bình cùng nhau quyết định trên đa đảng để cùng nhau thực hiện bằng hành động vì cái lý mà bảo vệ nhân quyền, đó là cái lý của dân chủ. Khi cái lý cho xuất hiện cái đa, thì đa tài này bổ sung cho đa tài kia, thì đa trí này bổ túc cho đa trí kia, thì đa hiệu này trợ lực cho đa hiệu kia. Nên đa nguyên vận dụng đa đảng, để đảng này cạnh tranh bằng đa dũng với đảng kia, để đảng này tranh đua bằng đa lực với đảng kia, để thông minh của đảng này được thể nghiệm, rồi thi thố với thông thái của đảng kia. Đây chính là nhân trí phải có trong nhân giáo của giáo dục.

voluan3

Ngược lại, hệ thống giáo dục của Việt Nam hiện nay trong tay độc đảng toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam có :

Giáo lý, giáo luận, giáo dục qua tuyên truyền ngu dân về tư tưởng Hồ Chí Minh, đây là loại tư-tưởng-rỗng-tư-tưởng, vì định nghĩa của một tư tưởng phải dựa trên một hệ thống lý luận trong đó nội dụng của tư tưởng này phải có xác chứng của sự thật, có minh chứng của chân lý, và có thực chứng của lẽ phải. Nơi mà tất cả các lý luận về sự thật, chân lý, lẽ phải đều mang một giá trị vừa khách quan trên tiêu chuẩn của khoa học, vừa nhân bản và nhân văn trên các tiêu chuẩn nhân đức.

Giáo khoa, giáo trình, giáo án là qua tuyên truyền ngu dân về tư tưởng Hồ Chí Minh, đây là loại tư-tưởng-trống-tư-tưởng, mà chỉ là các hiệu lệnh không có dẫn chứng của chứng minh khách quan. Nó chỉ là các khẩu lệnh không có sự chuẩn xác của đạo lý hay, đẹp, tốt, lành biết chế tác ra một nhân sinh quan biết tôn trọng nhân quyền, một thế giới quan biết tôn vinh nhân loại. Tính phổ quát của một tư tưởng phải có nhân tâm để bảo vệ nhân sinh, phải có nhân lý để bảo vệ nhân thế, phải có nhân tri để bảo vệ nhân tính.

Giáo lý, giáo luận, giáo khoa, giáo trình, giáo án sử dụng một tư tưởng để giảng dạy trong hệ thống giáo dục, thì tư tưởng này phải dựa trên một tác giả có những tác phẩm làm nên sự nghiệp được hình thành qua một tư tưởng có lớp lang thứ tự của một hệ thống. Tại đây, đặc thù của tác giả là gốc, rễ, cội, nguồn làm nên đặc tính của tác phẩm, làm ra đặc điểm của tư tưởng này, Hồ Chí Minh không hề là một tác giả của bất cứ một tác phẩm nào, để làm (cho ra trò) một tư tưởng nào !

voluan4

Nếu ngay trong một hệ thống giáo dục quốc gia, mà tuyên truyền ngu dân đã đánh lận con đen từ kiến thức tới tri thức, từ trí thức tới ý thức, từ nhận thức tới tâm thức, thì đây không phải là vô học trong vô hậu thì còn gì nữa đây ?

Chưa hết, khi tuyên truyền ngu dân từ tận dụng tới lạm dụng một hệ thống giáo dục quốc gia để lập nên một quá trình giáo lý, giáo luận, giáo khoa của đánh lận con đen, để tạo ra một quy trình giáo khoa, giáo trình, giáo án thay trắng đổi đen, tuyên truyền ngu dân bằng tuyên giáo độc ngôn, khi nó muốn thay thế giáo lý của đạo đức thì tuyên truyền trị, ngu dân trị, vô học trị phải "dở trò" :

Cả vú lấp miệng em, cụ thể là nó chống lại các tri thức phản biện bằng lý trí, trong khi đó chúng ta biết là các học sinh từ tiểu học tới trung học tại các quốc gia có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền được học kỹ lưỡng và rõ ràng về tri thức phản biện, cần thiết để công dân phải biết tự bảo vệ công bằng và công lý trước bạo quyền và bạo lực.

Cố đấm ăn xôi, cụ thể là nó chống lại tri thức phê bình bằng trí tuệ, trong khi đó chúng ta biết là các học sinh từ tiểu học tới trung học tại các quốc gia có phát triển giáo dục, có tiến bộ khoa học được học rành mạch và minh bạch về tri thức phê bình, cần thiết để công dân phải biết tự bảo đảm công luật và công pháp trước lạm quyền và lộng quyền.

Vụng chèo khéo chống, cụ thể là nó chống lại tri thức đa nguyên bằng tuệ giác, trong khi đó chúng ta biết là các học sinh từ tiểu học tới trung học tại các quốc gia có lý trí của giáo lý, có trí tuệ của giáo luận được học trong tỉnh táo để có sáng suốt mà phân giải. Cụ thể là đa tài hơn độc tài, đa trí hơn độc trí, đa lực hơn độc lực, đa năng hơn độc năng, đa hiệu hơn độc hiệu. Đa là dụng cái này để bổ sung, bổ túc cho cái kia, vì đa lực làm nên tổng lực, vì đa trí chắc chắn là khôn hơn độc tôn ! Nên đa đảng năng động trong thông minh, chủ động trong thông thái hơn độc đảng.

Như vậy, tuyên truyền ngu dân khi lạm dụng một hệ thống giáo dục quốc gia để cả vú lấp miệng em, rồi cố đấm ăn xôi, và vụng chèo khéo chống để ba khuyết tật này trở thành khuyết não. Một khuyết não ngay trong giáo dục, giáo lý, giáo luận, giáo khoa, giáo trình, giáo án từ kiến thức tới tri thức, từ trí thức tới ý thức, từ nhận thức tới tâm thức. Một khuyết não ngay trong quá trình trưởng thành của học sinh, sinh viên. Nếu đây không phải là hậu quả của vô học đã làm nên hậu nạn của vô hậu thì còn là gì nữa ?

voluan5

Có những quốc gia trên đường đi tìm văn minh của dân chủ, văn hiến của nhân quyền trên nhiều châu lục, mà cụ thể là các hàng xóm láng giềng của Việt Nam như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapour đã có những minh quân, minh vương, minh chúa, minh chủ đã thấy để thấu :

Phải sử dụng hệ đa, nơi mà đa nguyên mang sung lực của đa tài, đa trí, đa lực, đa dung, đa năng, đa hiệu để phát triển khoa học kỹ thuật từ đó xây dựng tiến bộ về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục…

Phải vận dụng hệ thông, nơi mà sự thông thái của một hệ thống giáo dục đã giáo dưỡng được sự thông minh của học sinh, sinh viên để khi họ trưởng thành như công dân thì họ là những chủ thể thông thạo từ huấn nghiệp tới tu nghiệp, từ nghề nghiệp tới sự nghiệp.

Phải vận dụng hệ sáng, nơi mà một hệ thống giáo dục luôn tạo điều kiện thuận lợi cho phản biện, cho phê bình, cho đa nguyên để học sinh, sinh viên có sáng kiến ngay trong giáo lý, giáo luận, giáo khoa, có sáng tạo ngay trong giáo khoa, giáo trình, giáo án. Những chủ thể của giáo dục có tự do trong lý luận, có tự chủ trong lập luận, có tự tin trong giải luận, nơi mà luận luôn song hành với nhau để sáng lập ra những mô thức tiến bộ mới, những mô hình phát triển mới.

Thảm họa tới từ tuyên truyền ngu dân của Đảng cộng sản Việt Nam trong hệ thống giáo-điều-phản-giáo-dục, làm nên khuyết tật trong giáo lý, giáo luận, giáo dục, tạo ra khuyết não ngay trong giáo khoa, giáo trình, giáo án, nó truy, hủy, diệt, triệt :

- Văn hóa cộng hòa : tự do bảo trì công bằng.

- Văn minh dân chủ : đa nguyên bảo vệ đa đảng.

- Văn hiến nhân quyền : nhân vị bảo đảm nhân phẩm.

Chưa hết, tuyên truyền ngu dân trong hệ thống giáo-điều-phản-giáo-dục truy, hủy, diệt, triệt ngay trong trứng nước mọi xuất hiện, mọi hiện diện của minh quân, minh vương, minh chúa, minh chủ. Vì nó đã chôn sống ngay trên thượng nguồn mọi nguyên khí của quốc gia chính là những hiền tài của dân tộc, đây không phải là hậu quả của vô học đã làm nên hậu nạn của vô hậu thì còn là gì nữa ?

voluan6

Vô học-vô hậu : vô giác-vô cảm

 

Hãy bắt đầu từ định vị tới định nghĩa về vô giác vô cảm :

Vô giác, từ vô tri giác tới vô cảm giác luôn mang theo khuyết tật vô tự giác của nó. Một kẻ vô giác thì không những vô minh từ lý trí tới trí tuệ, mà còn vô tri từ cảm xúc tới cảm động ; vô giác là thụơng nguồn của vô tình, vô tâm với tha nhân, với đồng loại. Nơi mà sự thông cảm để chia sẻ nỗi khổ niềm đau với đồng bào, đồng loại hoàn toàn vắng mặt từ tư duy tới hành vi. Vô giác biệt dạng trong tâm khảm, vì nó đã biệt tăm trong tâm trí. Khi vô giác xuất hiện trong sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội, đời sống xã hội, tổ chức xã hội thì nhân nghĩa, nhân đạo, nhân tâm, nhân từ không hề có chỗ đứng ghế ngồi gì trong não trạng của kẻ vô giác. Câu chuyện vô tự giác có cha sinh mẹ đẻ là vô tri giác vô cảm giác, là câu chuyện sinh cùng năm đẻ cùng tháng với hệ lụy vô học-vô hậu, mà vô học không phải là chuyện đi học để lấy bằng cấp, mà là chuyện được giáo dục tử tế và được giáo dưỡng đàng hoàng bằng giáo lý. Cụ thể là kẻ thoát được vô học thì chọn khôn không chọn ngu (Kẻ ngu cởi truồng, người khôn mất mặt) ; cụ thể là kẻ thoát được vô học thì chọn thanh không chọn hèn

(Thân em như giếng giữa đàng

Người thanh rửa mặt, kẻ hèn rửa chân).

Như vậy câu chuyện vô học-vô hậu không hề là chuyện học vị hay học hàm, mà là chuyện học lực qua giáo dục của đạo lý hay, đẹp, tốt, lành, vì biết dựa trên giáo lý khôn-để-thanh, vì chỉ có ngu mới hèn, mới thô, mới tục mà thôi.

Vô cảm, cảm xúc biệt tăm, cảm động biệt tích trước bi cảnh của tha nhân, trước thảm cảnh của đồng loại, với thái độ thờ ơ trước các bất công, với hành vi hững hờ trước các hậu quả do bạo quyền, tà quyền, ma quyền gây ra ngay trong đạo lý tổ tiên, ngay trong luân lý dân tộc, ngay trong giáo lý của đạo đức. Nếu vô cảm tới từ vô minh, nó sẽ truy diệt nhân tri, nhân trí ; nếu vô cảm tới từ vô tri, nó sẽ thủ tiêu nhân tính, nhân lý ; nếu vô cảm tới từ vô giác nó sẽ thanh trừng nhân bản, nhân văn, mà không quên thanh toán luôn nhân nghĩa, nhân đạo, nhân tâm, nhân từ. Vô cảm đang tràn lan trong xã hội hiện nay, với sự thờ ơ trước bạo quyền độc đảng công an trị, sự hững hờ trước tà quyền tham nhũng trị, sự dửng dung trước ma quyền tham tiền trị. Nơi mà sự ích kỷ luôn đi tìm tư lợi trong ma lộ ai chết mặc ai ; nơi mà tư lợi đã thành khuyết tật chỉ biết vụ lợi của điếm tật bây chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi. Tại đây, đã tạo ra một tâm nạn tập thể gây ra bao họa nạn cho toàn một xã hội ; nơi mà dân tộc của xã hội đó đang tự "ghẻ lạnh hóa" từ nhân vị, nhân đạo tới nhân nghĩa, nhân tâm của chính mình.

Khi ta có từ định vị tới định nghĩa về vô giác, vô cảm, ta có thể đi thêm một bước nữa để tới định đề rồi tới định luận về các hậu quả của giác, cảm chính là sự vắng mặt của giáo lý biết thương đồng bào, của giáo luận biết quý đồng loại. Đây là câu chuyện của kiến thức về tình thương được bắt đầu bằng tri thức về tình người, nơi mà tình thương và tình người phải bắt đầu bằng kiến thức về công bằng, bằng tri thức về công lý. Tại sao trong giáo lý, giáo luận làm nên giáo dục, giáo khoa, dựng nên giáo trình, giáo án của các quốc gia có văn minh dân chủ, có văn hiến nhân quyền thì học sinh được học, được hiểu, được thấu rất rõ ràng trong rành mạch về công bằng lẫn công lý. Cụ thể là trong giáo trình của trung học phổ thông của các quốc gia vừa có phát triển kinh tế, vừa có tiến bộ khoa học để bảo vệ văn minh dân chủ, văn hiến nhân quyền, các thiếu niên được học từ sử học tới triết học của thế kỷ XVIII, thế kỷ của những ánh sáng của sự thật, của chân lý, của lẽ phải :

Lập luận về công lý, có chỗ dựa là lý luận về công bằng, lập luận là xây nền, tường, mái phải dựa vào lý luận là tìm đường đi nẻo về, có phương pháp đi và có biện pháp về. Từ đây, mỗi học sinh biết tự lập luận để chống bất công, tự lý luận để không phạm pháp trước công lý.

Giải luận chống cuồng tín, tới từ mê tín, dị đoan có chỗ dựa là diễn luận chống cuồng đạo tới từ đạo giáo, tôn giáo, nơi mà mọi thế lực muốn độc quyền để tăng quyền lực lẫn quyền lợi của nó trong xã hội, trong dân tộc, đều đáng được dẹp bỏ.

Định luận về tự do, chỉ thực hiện được tự do khi tự do có gốc, rễ, cội của công bằng, làm nên nền, tường, mái cho công lý, nơi mà bạo quyền độc trị, tà quyền độc đảng, ma quyền độc tài không được có chỗ đứng ghế ngồi trong không gian của công bằng lẫn công lý, trong không gian của tự do lẫn tự chủ.

voluan7

Các thiếu niên của các quốc gia có phát triển kinh tế, vừa có tiến bộ khoa học để bảo vệ văn minh dân chủ và văn hiến nhân quyền được học-để-hiểu, được thấy- để-thấu (đây là học thật hoàn toàn ngược lại với học giả) :

Newton, là một khoa học gia chủ trương khám phá khoa học ngay trong nhân sinh phải trở thành nhân tri ngay trong nhân thế ; nhân trí ngay trong nhân loại, nên ông chống lại một loại giáo hội lạm quyền trong độc quyền, chặn kiến thức, ngăn tri thức, ông chủ trương phổ biến, phát hành, truyền thông mọi kiến thức khoa học tới dân chúng, quần chúng. Một nhân sinh càng nhiều nhân tri, một nhân loại càng nhiều nhân trí, thì ngu dân trị phải lùi, thì tuyên truyền trị phải lui, thì vô học trị phải tự vùi để tự diệt.

Diderot là một khoa học gia chủ trương biến kiến thức kinh điển thành tri thức tự điển, với một công trình vừa chính xác trên các khám phá khoa học, vừa tổng quan trên các chuyên khoa, chuyên nghành, để biến kiến thức hàn lâm thành tri thức phổ thông. Mọi chính quyền ngăn kiến thức phổ quát đều là tà quyền, mọi chính phủ chặn tri thức tổng quát đều là ma quyền, chúng không có chính nghĩa nên không có chính danh được công nhận như một chính quyền. Chính nghĩa của kiến thức phải được lưu hành rộng rãi, và chính danh của tri thức phải được phát hành rộng khắp.

Voltaire, một tư tưởng gia của tự do ngôn luận, triết gia của tự do diễn đạt nơi mà tự do biết tạo ra dân chủ, nơi mà công lý có mặt để bảo vệ nhân quyền. Ông bảo vệ tư tưởng của ông trong hiện cảnh của quân chủ độc quyền, ông bảo lưu triết học của ông trong thực cảnh của thiên chúa giáo độc tôn, với lý luận của công bằng trong quyền làm người, với lập luận của công lý trong chọn lựa về dân chủ.

Nếu các học giả trên có trong giáo trình của trung học phổ thông giành cho thiếu niên tại các quốc gia có văn minh dân chủ, có văn hiến nhân quyền thì tại sao :

Giáo lý, giáo luận, giáo dục, giáo trình, giáo án này lại vắng mặt trong của hệ thống giáo dục dưới quyền cai trị của Đảng cộng sản Việt Nam, luôn được mỵ danh trong mỵ dân là sự nghiệp trồng người ?

Giáo lý, giáo luận, giáo dục, giáo trình, giáo án loại này có thể được thay thế hoặc được trợ lực bằng chính các nhân sĩ Việt như Lê Hữu Trác (Hải Thượng Lãn Ông), như Lê Quý Đôn, bằng các tư tưởng gia như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… ?

Không phối hợp danh nhân của thế giới với các nhân sĩ của Việt tộc, khi tất cả các chủ thể này đều có một giáo lý tử tế, vào một giáo luận đàng hoàng trong một hệ thống giáo dục có giáo trình tiến bộ khoa học, có giáo án văn minh dân chủ ?

Khi trao đổi về giáo lý, giáo luận, giáo dục, giáo trình, giáo án làm nên tiến bộ cho nhân sinh, văn minh cho nhân loại, từ tác giả tới tác phẩm, thì người ta mới "ngả ngửa" mà nhận ra là :

Các lãnh đạo trong trung ương của Đảng cộng sản Việt Nam, đã hoặc đang giữ những chức vụ then chốt từ chính quyền tới chính phủ, không hề biết vì không hề hiểu, chỉ vì chưa hề đọc các tác phẩm danh nhân quốc tế với các danh nhân của Việt tộc.

Các lãnh đạo trong Bộ Giáo dục, đã hoặc đang giữ những chức năng chủ đạo từ bộ trưởng tới các thứ trưởng, không biết, không hiểu, vì không hề đọc các tác phẩm danh nhân quốc tế với các danh nhân của Việt tộc.

Đây không phải là vô học trong giáo lý, giáo luận, giáo dục, nên vô hậu trong giáo khoa, giáo trình, giáo án thì còn là gì nữa ? Với một hệ thống ngu dân trị ngay trong não trạng hàng dọc từ lãnh tụ trong chính quyền tới lãnh đạo trong chính phủ, thì đây hoàn toàn không phải lỗi của thầy cô đang nhận giáo năng giảng, dạy, trao, truyền học thức tới học sinh. Cũng hoàn toàn không phải lỗi của học sinh đang đi học muốn học những điều hay lẽ phải, nhưng lại phải cúi đầu học các mê thức tuyên truyền ngu dân, chính là thân phụ của vô học và thân mẫu của vô hậu.

voluan8

Vô học-vô hậu : vô tâm-vô kiến

 

Khi tâm lý học xã hội nghiên cứu hiện tượng vô tâm như hành vi không có sự thương cảm về nỗi khổ niềm đau của đồng bào, đồng loại, được trợ lực bởi xã hội học nhận thức với phân tích về hành vi của các cá nhân không có sự chia sẻ trước các nạn nhân của các bất bình đẳng, của các bất công làm ra bao thảm họa cho xã hội. Khi trong quan hệ xã hội chỉ thấy hậu duệ ; trong sinh hoạt xã hội chỉ thấy tiền tệ ; nên trong đời sống xã hội trí tuệ bị hủy diệt ngay trong trứng nước. Diệt trí tuệ là ý đồ của ngu dân trị, hủy lý trí là tà sách của tuyền truyền trị, triệt tuệ giác là ma lộ của vô học trị.

Vô tâm, xuất hiện khi lương tâm không có chỗ trong tâm cảm, để thấy cho thấu tâm cảnh khốn cùng của tha nhân, của đồng loại, sáng sớm còn là dân lành mà chiều tối đã thành dân oan, nạn nhân của bọn cướp ngày là quan, được bảo kê bởi bạo quyền công an trị, bởi tà quyền tham nhũng trị, bởi ma quyền tham tiền trị. Vô tâm có cùng cha sinh mẹ đẻ với vô cảm, có thân tộc là vô minh, mang huyết thống của vô tri, đây là loại người nhìn mà không thấy, và khi thấy rồi thì cũng không hiểu. Vì khi lương thiện vắng mặt trong lương tâm, thì lương tri đã biệt tăm biệt tích ngay trong tư duy của kẻ vô tâm, không có cảm tình của cảm tính thì sao có được cảm xúc tạo nên cảm động, mà biết thương cảm đồng bào, dân tộc, giống nòi. Khi vô tâm xuất hiện trong sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội, đời sống xã hội, tổ chức xã hội thì bạo quyền công an trị, thì tà quyền tham nhũng trị, thì ma quyền tham tiền trị đã lộng quyền trong lạm quyền rồi. Tại đây, nhân vị, nhân bản, nhân văn sẽ tan nát ; rồi nhân tri, nhân trí, nhân lý sẽ tan tành ; cuối cùng là nhân nghĩa, nhân đạo, nhân tâm, nhân từ sẽ vĩnh viễn tan biến !

Hãy cân, đo, đong, đếm hệ vô (vô minh, vô tri, vô giác, vô cảm, vô tâm) bằng mô thức giải luận của các bậc đàn cha, đàn chú, đàn anh (Trần Đức Thảo, Nguyễn Khắc Viện, Trần Đại Nghĩa…) đã phải trả những giá rất đắt để rời không gian của hệ thức (kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức, tâm thức) tại phương Tây, vì đã nghe lời của Hồ Chí Minh là rời Pháp để về lại quê nhà mà "phục vụ cách mạng". Khi về tới nơi, khi khám phá ra chế độ độc đảng toàn trị của hệ vô (vô minh, vô tri, vô giác, vô cảm, vô tâm), thì họ đã cắn răng rồi thốt lên từ đáy lòng :

"Cái đáng sợ của chuyên chính vô sản mà bản chất của nó chính là chuyên chính vô học !".

Chuyên chính vô học là sợi chỉ đỏ để nhận ra tuyên truyền trị, ngu dân trị, vô học trị, phải nói ngay từ bây giờ một cách thật rõ ràng trong rành mạch là vô học không hề là chuyện được đi học, để có bằng cấp qua học vị rồi học hàm. Mà vô học ở đây là không được giáo dục một cách lớp lang thứ tự, không được giáo dưỡng suốt đời và suốt kiếp bằng hệ nhân (nhân tri, nhân trí, nhân tính, nhân lý, nhân bản, nhân văn, nhân vị, nhân nghĩa, nhân đạo, nhân tâm, nhân từ) để tiếp, nhận, trao, truyền hệ thức (kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức, tâm thức). Cả hai, hệ nhân và hệ thức, chính là hai đại diện của :

- Văn minh của cộng hòa có nền là tự do, công bằng, bác ái.

- Văn hiến của nhân quyền có gốc là dân chủ, đa nguyên, đầu phiếu.

voluan9

Vô kiến chính là hậu quả của vô tri bất kiến, không có tri thức nên không có ý kiến trước hậu quả của ngu dân trị, không có chính kiến trước tà ngữ của tuyền truyền trị, vì không có chính kiến nên không có chính ngữ trước vô học trị. Trống ý kiến, vắng chính kiến vì ngay trên thượng nguồn của vô học trị đã rỗng chính trí, đã biệt chính tâm. Khi ta xếp đặt lại thứ tự của hành vi vô kiến theo hệ lụy vô tri nên vô kiến trong vô ngôn lẫn vô ngữ thì ta sẽ nhận ra chân dung của kẻ vô kiến, chân tướng của kẻ vô tri, chính là nạn nhân của ngu dân trị, của tuyên truyền trị, của vô học trị. Cụ thể là từ khi tấm bé còn đi tới ngày rời trường lớp tới khi rời đại học, thì các học sinh, các sinh viên phải học một giáo trình vô học trị :

- Tư tưởng Hồ Chí Minh là không phải là tư tưởng, vì nó trống nội dung, rổng giá trị, vắng lý luận…

- Học tập đường lối và chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam, nơi mà đường lối là ngu dân trị và chính sách là tuyên truyền trị trong độc ngôn của độc đảng vô học trị.

Các học sinh, các sinh viên này đã "lảnh đủ" để cam chịu nên là nạn nhân của vốn vô học có trong não trạng của các lãnh tụ và lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam dung độc đảng toàn trị áp đặt lên nhân kiếp của các học sinh, các sinh viên bằng giáo trình trình vô học hóa, có bằng cấp nhưng là học giả, có học vị nhưng là thi giả, có học hàm nhưng là chứng chỉ giả. Các học sinh, các sinh viên sẽ phải "lảnh nhận" kiếp vô kiến trong ngu muội của vô tri, và khi gặp kiến thức thật song hành cùng tri thức thật thì họ cúi đầu trong vô kiến. Khi gặp trí thức thật trong ý thức thật thì họ khoanh tay trong vô ngôn, khi gặp nhận thức thật trong tâm thức thật thì họ khom lưng trong vô ngữ. Hậu quả của ngu dân trị không sao lường hết được, hệ lụy của quá trình vô học hóa không sao đo đạt được. Ngay khi các nạn nhân này có thành công kinh tế, có thành đạt vật chất và khi họ tự vỗ ngực tự gọi họ là : "đại gia", thì vô kiến không giấu được vô minh và vô tri, nên ngoài xã hội họ vẫn bị đặt tên là : "trọc phú" !

Câu chuyện vô kiến vì vô minh và vô tri, có gốc, rễ, cội, nguồn của quá trình mất nhân tri vì trống vắng kiến thức thật, lạc nhân trí vì rỗng loát tri thức thật là thảm họa của nhiều thế hệ sinh ra và lớn lên trong chế độ độc tài toàn trị hiện nay. Các thế hệ này bị ma trận liên hoàn của : ngu dân trị, tuyền truyền trị, vô học trị được chủ xướng bởi độc đảng trị, trong một nhà tù vô hình được cai quản bởi công an trị. Các bạn sinh viên, học sinh hãy tâm niệm chỉ một thi từ của thi sĩ Tô Thùy Yên : "Hỡi ơi ! Hiền sĩ gặp ma trận !". Mà trong hậu đài là một tập đoàn tội phạm với vốn vô học nhưng lại biết mạo danh là "cách mạng", biết mạo ngữ là"chuyên chính vô sản", biết mạo ngôn là"xã hội chủ nghĩa" lại còn biết mạo dạng là"đầy tớ của nhân dân". Nhưng là một lũ buôn bằng bán cấp, một đám buôn chức bán quyền, một đảng luôn tìm mọi cách để giữ đặc quyền bằng tham nhũng trị, bám đặc lợi bằng tham tiền trị, mặc dầu chúng biết rất rõ là chế độ vô học hóa của chúng chế tác ra rất vô hậu ! Vì nó đang đưa nhân kiếp của Việt tộc xuống tầng đáy vực của hệ : vô minh, vô tri, vô giác, vô cảm, vô tâm vô học trong vô hậu.

Vô hậu trước Tàu tặc đang cướp đất, biển đảo ; trước Tàu họa đang ô nhiễm hóa trầm trọng môi trường và môi sinh của Việt tộc, từ bô-xít Tây Nguyên tới Formosa tại Hà Tĩnh, cùng nhiều nhà máy nhiệt điện tha biến đất nước không những thành một ổ rác khổng lồ của Tàu gian mà biến các thành phố lớn trên đất Việt thành những thành phố ô nhiễm loại hàng đầu của thế giới. Với Tàu hoạn là thực phẩm bẩn cùng hóa chất độc ; với Tàu nạn là buôn ma túy, buôn người để buôn nội tạng ; song hành cùng Tàu tà ngày ngày tha hóa văn hóa, văn minh, văn hiến Việt ; trong hoạn cảnh của một tập đoàn vô kiến hèn với giặc trong vô hậu, và ác với dân trong vô học. Bi kịch của đất nước và là thảm kịch của Việt tộc hiện nay là phải "lảnh đủ" mọi hậu quả rồi "gánh trọn" mọi hậu nạn của một phương trình đầy ngập các ẩn số : Tàu tặc, Tàu họa, Tàu gian, Tàu hoạn, Tàu nạn, Tàu tà…

voluan10

Tại các quốc gia có văn minh của dân chủ song hành cùng các phát minh của khoa học, có văn hiến của nhân quyền song đôi cùng các khai phá về tự do vì công bằng, thì các học sinh thiếu niên cấp trung học phổ thông được học các giáo lý, giáo luận, giáo dục tới từ thế kỷ XVIII, mang tên là thế kỷ của những ánh sáng, qua lịch sử với các tư tưởng gia, các triết gia, các khoa học gia đã trao tới quần chúng, cụ thể là đã đại chúng hóa, ít nhất bốn thông điệp :

- Phổ biến tri thức tới toàn xã hội.

- Pháp huy lý trí tới toàn nhân loại.

- Phát triển trí tuệ phê bình để chống bất công.

- Phản kháng ngu dân để chống độc tài.

Tất cả những thông điệp này, được tóm gọn trong mô thức của triết học tri thức của Kant : "Cái lý mà biết chống lại cái ngu dân, thì cái lý là cái lõi của sự thông minh trong nhân tri". Những điều hay lẽ phải này đã trở thành giáo khoa, giáo trình, giáo án cho học sinh thiếu niên tại các quốc gia có tiến bộ nhân lý, có văn minh nhân trí, tại sao nó lại vắng mặt, biệt dạng trong hệ thống giáo dục hiện nay trong tay độc đảng toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam. Và khi các lãnh tụ của Đảng cộng sản Việt Nam đang lãnh đạo từ chính quyền tới chính phủ phải rời vô kiến để có ý kiến về các cuộc cách mạng thực sự của nhân loại như :

- Cách mạng khoa học trong khai phá kiến thức và tri thức

- Cách mạng chính trị trong khai sáng công bằng và tự do

- Cách mạng xã hội trong khai phóng dân chủ và nhân quyền

Thì nhân dân mới "vỡ lẽ" ra, thì dân chúng mới "chưng hửng", thì đại chúng mới "té ngửa" ra là các lãnh tụ của Đảng cộng sản Việt Nam đang lãnh đạo từ chính quyền tới chính phủ không hề có một kiến thức cơ bản nào, không hề có một cơ sở gì cho trí thức về giáo lý tri thức làm nên giáo trình trí thức này. Tại sao vậy ? Chỉ tại vì :

Lãnh tụ đã hoặc đang lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không biết, không hiểu vì không học và không đọc gì về các kiến thức và tri thức của nhân loại.

Lãnh tụ đã hoặc đang lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không hề biết, không hề hiểu, không hề học, không hề đọc thì làm sao họ xây dựng được giáo lý, giáo luận, giáo dục trên các kiến thức và tri thức của nhân loại mà họ không biết.

Lãnh tụ đã hoặc đang lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không biết, không hiểu, không học, không đọc thì làm sao họ tạo dựng được giáo khoa, giáo trình, giáo án trên các kiến thức và tri thức của nhân loại mà họ không biết.

Ngay khi họ "biết sơ sơ" "hiểu sới sới" về các cuộc cách mạng đã khai sáng nhân tri, đã khai phá nhân trí, đã khai phóng nhân quyền, thì họ lại tìm mọi cách để ngăn, chặn, hủy, diệt, triệt cho bằng được ! Vì cách mạng khai sáng nhân tri trực tiếp tẩy xóa đi chính sách ngu dân trị của họ ; vì cách mạng khai phá nhân trí trực tiếp khử trừ đi chính sách tuyên truyền trị của họ, vì cách mạng khai phóng nhân quyền trực tiếp bứt bứng đi chính sách vô học trị của họ. Đây không phải là vô học vì không có kiến thức đã làm nên vô hậu là diệt tri thức ngay trong trứng nước thì còn là gì nữa đây ?

Ngược lại các hệ thống giáo dục của các quốc gia có văn minh dân chủ, có văn hóa nhân quyền, thì sân chơi là học thuật, trò chơi là học lực, và luật chơi là học thật. Chính phương trình học thuật-học lực-học thật là thực thể không đội trời chung với học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả ; nên độc đảng trị, công an trị, tham nhũng trị không có ghế ngồi trong giáo lý, giáo luận, giáo dục của các quốc gia có văn minh dân chủ. Nên tuyên truyền trị, ngu dân trị, vô học trị không có chỗ dựa, chỗ bám trong giáo khoa, giáo trình, giáo án của các quốc gia có văn hiến nhân quyền. Khi vào sâu để khảo sát hệ thống giáo dục của các quốc gia, có văn minh dân chủ, có văn hiến nhân quyền, thì chúng ta thấy các học sinh thiếu niên cấp trung học phổ thông được học các giáo trình của sử học và triết học của thế kỷ khai sáng XVII và XVIII :

- Chống cuồng đạo, cực quyền.

- Chống lộng quyền, lạm quyền.

- Dựng khoan dung để xây độ lượng.

- Chống định kiến để xa tà kiến.

- Quá trình mưu cầu hạnh phúc.

Ngược lại, hệ thống giáo dục của tuyên truyền trị-ngu dân trị-vô học trị mang hàm số kiểu : ơn Bác, ơn Đảng, để trá nhân giả nghĩa của một bạo quyền công an trị, của một tà quyền tham nhũng trị, của một ma quyền tham tiền trị, trong hành tác âm binh vừa ăn cướp vừa la làng, bóc lột dân tộc tới tận xương tủy, cùng lúc bắt buộc nhân dân phải mang ơn mình ! Đây không là vô học trong vô luân làm ra vô hậu trong vô luận thì còn là gì nữa !

Lê Hữu Khóa

 (26/09/2020)

---------------------


lhk0 Lê Hữu Khóa

Giáo sư Đại học Lille

Giám đốc Anthropol-Asie

Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á

Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCO  Liên Hiệp Quốc

Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa Paris

Thành viên hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Đông Nam Á

Hội viên danh dự ban Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới.

Các công trình nghiên cứu việt nam học của giáo sư Lê Hữu Khóa, bạn đọc có thể đọc và tải qua Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-trang thầy Khóa.

Quay lại trang chủ

Additional Info

  • Author: Lê Hữu Khóa
Read 168 times

Viết bình luận

Phải xác tín nội dung bài viết đáp ứng tất cả những yêu cầu của thông tin được đánh dấu bằng ký hiệu (*)