Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Published in

Tư liệu

18/01/2021

Đối luận : Từ biết yêu đến... nhân sinh tự chủ

Lê Hữu Khóa

1. Các người có biết yêu không ?

Trong khoa học xã hội và nhân văn, chủ đề tình yêu sâu rộng trong học thuật, sắc nhọn trong nghiên cứu, không ồn ào trong khảo sát, không gào thét trong điền dã nhưng luôn hiện hiện, nhưng hiện hữu như một ẩn số của nhân tri làm đẹp cho hằng số của nhân sinh. Không tính toán hóa các toan tính như toán học, không thí nghiệm hóa các tri thức như các ngành khoa học thực nghiệm, ngược lại khoa học xã hội và nhân văn đi tìm để hiểu, thấy để thấu những bí ẩn sâu xa nhất của con người, trong đó có chủ đề về tình yêu.

love1

Chủ đề tình yêu được con người xem là thiêng liêng từ cảm động nhẹ tới cảm xúc mạnh khi yêu, khi được yêu, ngay cả khi đang đi tìm tình yêu. Chuyện lạ là tình yêu cũng phải được nuôi, phải được dưỡng, phải được bảo trọng như một thân thể cần khí trời để thở, cần thức ăn để nuôi thân. Nhưng thân thể thì ăn uống là phản xạ thường nhật, mà người Việt nói là "cơm bữa", còn tình yêu đòi hỏi cao, sâu, xa, rộng hơn, tình yêu bó-để-buộc hai kẻ thật sự yêu nhau phải giữ cường độ cảm động, mật độ cảm xúc làm nên trình độ của tình yêu, vì tình yêu không hề là một tình cảm bình thường. Nên tình yêu đưa đường dẫn lối cho hai kẻ thật sự yêu nhau phải sáng tạo hằng ngày bằng từ hành động tới hành tác, phải chế tác thường nhật từ ngôn ngữ tới thuật ngữ để nuôi phần tâm hồn bằng cảm động, dưỡng phần tâm linh bằng cảm xúc.

Nếu phần tâm hồn và phần tâm linh không được nuôi dưỡng rồi giáo dưỡng bằng cường độ cảm động, mật độ cảm xúc tình yêu sẽ chết dần chết mòn để tới lúc là "chết luôn" ! Để hai kẻ hết yêu nhau phải "cắn răng" mà chỉ xem nhau là "tình bạn" ; đau xót hơn là khi hết yêu nhau mà đã có hôn nhân, đã cho ra đời các thế hệ sau, lại không dám ly hôn, mà phải "ngậm hờn" mà biến tình yêu thành "tình nghĩa". Thậm tệ nhất từ khi Đảng cộng sản Việt Nam cướp và nắm được chính quyền, thì người Việt khám phá ra thêm là khi hai kẻ thuở trước yêu nhau, thuở này hết yêu nhau, cụ thể là khi tình yêu chết, tình ái bị bứng tận gốc, tình dục bị trốc tận rễ, thì người ta "dở khóc dở cười"đổi tên thay họ tình yêu ra thành "tình đồng chí".

Nhưng tình yêu và "tình đồng chí" là hai phạm trù hoàn toàn trái ngược nhau, đối nghịch nhau -hai phương trời cách biệt- chỉ vì tình yêu thiêng liêng nên khi hai kẻ yêu nhau mà không kết hai thành một được, thì tình yêu có thể dẫn tới bi kịch. Còn chuyện biến tình yêu ra thành "tình đồng chí" chỉ có thể là hài kịch, mà trong điều tra vì học thuật, khảo sát để nghiên cứu của tôi nhiều năm qua về các lãnh tụ lập ra đảng tới các lãnh đạo đang cầm quyền của Đảng cộng sản Việt Nam thì đúng là bi-hài-thảm-kịch khi họ lần mò như âm binh ẩn hiện trong âm giới, khi họ lén lút đi lại trong không gian ân ái của ham muốn làm nên tình dục phải được thỏa mãn.

love2

Cụ thể là hệ vấn đề nghiên cứu của tôi chỉ là một câu hỏi : từ các lãnh tụ lập ra đảng tới các lãnh đạo đang cầm quyền của Đảng cộng sản Việt Nam : họ có biết yêu không ? Đối diện để đối thoại thì câu hỏi trực tiếp để trực luận là : các người có biết yêu không ? Đây là một câu hỏi cần được có câu trả lời chỉnh lý tới từ các lãnh tụ, các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, mà câu trả lời hợp lý còn phải tới từ các chủ thể biết vận dụng tự do tri thức trong học thuật để có giải đáp toàn lý. Vì đây là câu chuyện vô cùng "trầm trọng" trong nhân kiếp của mỗi cá nhân, vì sống mà không biết yêu thì khác gì chưa sống, không sống ! Sống mà không vượt thắng tình cảm thô sơ để được hạnh ngộ với tình yêu thì đúng là bất hạnh ! Sống mà chỉ thỉ thấy tình dục phải cần đươc thỏa mãn mà không có gì cảm xúc với tình yêu mà lại muốn lãnh đạo dân tộc thì dễ thành bất nhân.

Rào trước đón sau trong học thuật bằng lý luận cũng là rào dậu tát ao trong nghiên cứu bằng chứng từ, hãy bắt đầu bằng văn tự của các lãnh tụ tới văn bản của các lãnh đạo hiện nay, thì tình yêu hoàn toàn vắng mặt, kể cả tình thương [1] cũng vắng tanh luôn, từ chính sách tới quốc sách của Đảng cộng sản Việt Nam. Nếu tình yêu vắng mặt trong các quyết sách chính trị thì đây cũng là chuyện dễ hiểu, nhưng tình yêu cũng "biền biệt miệt thiên thu", (theo mô thức của thi sĩ Tô Thùy Yên) ngay trong các hồi ký của các lãnh tụ, các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Ngược lại, tại các quốc gia có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền thì các lãnh tụ lẫn lãnh đạo các đảng phái đã cầm quyền, họ viết thoải mái về tình yêu, họ kể thư thả về người yêu, họ trình bày mạch lạc về giá trị của tình yêu trong cuộc đời của họ. Nhưng tại Việt Nam thì các lãnh tụ lẫn lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam tuyệt đối "im hơi lặng tiếng" trước tình yêu. Một sự im lặng vừa đáng ngờ, vừa đáng lo !

love3

Chuyện cao, sâu, xa, rộng của một chủ đề nghiên cứu làm nên chuyện hay, đẹp, tốt, lành trong không gian tri thức của khoa học xã hội và nhân văn là chuyện ẩn số này cõng ẩn số kia, chuyện hằng số kia bồng hằng số nọ. Tại sao vậy ? Chỉ vì học thuật chỉ tôn trọng sự thực, nghiên cứu chỉ tôn vinh chân lý, điều tra để khảo sát là đưa sự thật và chân lý tới để đối diện với lẽ phải, mà lẽ phải được làm nên từ rễ đạo đức của tổ tiên, gốc đạo lý của dân tộc, cội luân lý của giống nòi. Tại đây, chúng ta rất ngạc nhiên là từ lãnh tụ thuở lập đảng tới lãnh đạo thuở này khi đứng trước quần chúng thì họ vỗ ngực xưng tên là họ làm cách mạng để bảo vệ lẽ phải, để chống bất công. Nhưng trong lý lịch cá nhân thì họ là đám đàn ông đa thê, không hề tôn trọng phụ nữ, và chưa hề thực sự mong muốn nam nữ bình quyền, nữ nam bình đẳng. Chủ đề tình yêu có thông minh riêng của nó, vì nó biết vạch mặt chỉ tên đám đàn ông lãnh đạo thô tục trước tình dục, mạt vận trước tình yêu ; đây là sự thông minh biết đứng về phía phương trình sự thật-chân lý-lẽ phải. Cụ thể hơn nữa sự thông minh của tình yêu biết đứng về phía nước mắt !

Chuyện đáng sợ bắt đầu bằng đảng trưởng thuở lập đảng là Hồ Chí Minh cho tới ngày qua đời thì hai chữ tình yêu hoàn toàn biệt tăm biệt tích từ văn bản tới hồi ký, nhưng nhân vật này lại tự biết viết hồi ký lấy một bút hiệu giả danh để tự ca tụng mình, chỉ mới qua tuổi năm mươi mà tự xưng là cha già của dân tộc. Lại còn tự xướng là nhận cuộc sống độc thân, không lập gia đình để hy sinh trọn vẹn cho cách mạng, cho đất nước. Nhưng sự thật là sự thật, trong cuộc sống của hắn có những bóng tối là những quan hệ tình ái hoặc tình dục rất vụng trộm với phụ nữ mà học thuật lẫn người đời không nghĩ đây là tình yêu. Vì người biết yêu là kẻ phải bảo vệ người yêu của mình để bảo trì tình yêu của mình ; còn nhân vật này thì ngược lại có quan hệ với một phụ nữ lại để người phụ nữ bị thủ tiêu, mà người Hà Nội đặt tên là án mạng bãi Dâu sông Hồng. Câu chuyện tình yêu luôn đẹp dưới ánh sáng của nhân tính trước chân trời của nhân lý, còn chuyện thủ tiêu hoặc để đàn em âm binh của mình thủ tiêu người phụ nữ đã có quan hệ tình ái với mình, thì đây là chuyện chẳng dính dáng gì với tình yêu. Mà ngược lại, đây chính là kẻ tội đồ đã giết người để xóa dấu tích, loại người này không bao giờ có chỗ đứng, ghế ngồi trong tình yêu. Vì loại người này không bao giờ hiểu để biết tình yêu là gì, sẽ không bao giờ thấy để thấu mô thức tình yêu của Thanh Tâm Tuyền : "Hãy yêu như giọt nước long lanh".

love4

Vì người biết yêu là kẻ phải bảo vệ người yêu của mình để bảo trì tình yêu của mình ; còn nhân vật này thì ngược lại có quan hệ với một phụ nữ lại để người phụ nữ bị thủ tiêu, mà người Hà Nội đặt tên là án mạng bãi Dâu sông Hồng. Ảnh minh họa Hồ Chí Minh và Nông Thị Xuân

Chuyện đáng sợ của đảng trưởng thuở nào là Hồ Chí Minh lại dính chặt như sam với chuyện đáng buồn nôn của kẻ đã tự bỏ nhân vị thi sĩ của mình để chọn làm bút nô cho bạo quyền độc đảng toàn trị là Tố Hữu. Ngay trong một bài thơ tình, lúc hắn tỏ tình với một phụ nữ, thì hắn hô to hét lớn rằng : "Trái tim anh dành cho đảng phần nhiều", mà hắn biết hơn ai hết là đảng của hắn không hề có trái tim để hắn dùng trái tim của hắn mà làm kho. Bản lai diện mục của Tố Hữu đã có lý lịch vướng vào cái ác khi hảm hại các chủ thể của Nhân Văn Gia Phẩm, ở đây cái ác làm nên cái tội là sẵn sàng ngậm máu phun người của hắn. Bị kịch của đám bút nô cho đảng là chúng vắng tình yêu, trống tình thương, rỗng tình nghĩa nên chúng luôn bị các nạn nhận của chúng đi trên lưng của chúng về kiến thức, đi trên vai của chúng về tri thức, đi trên đầu của chúng về nhận thức. Cho tới ngày mạt kiếp-mãn phần bọn bút nô này chỉ là bọn chuyên nghề chém sau lưng theo mô thức của Trần Dần, mà dân gian còn gọi là bọn chó cắn trộm. Chúng không sao hiểu được nhân sinh quan của tình yêu chế tác ra vũ trụ quan nhân tính, chúng làm sao nhập nội được vào mô thức của Hoàng Cầm về tình yêu, mà Hoàng Cầm luôn là nạn nhân của sự ganh tị của Tố Hữu trước và sau oan án Nhân Văn Giai Phẩm, chỉ vì Tố Hữu không biết yêu mà Hoàng Cầm thì biết yêu : 

"Có phải em đang cầm gió Bấc

Quất lên sông Đuống buốt phù sa".

Chuyện đáng sợ của đảng trưởng thuở nào với chuyện đáng buồn nôn của kẻ đã tự chọn nhục vị bút nô thế kỷ trước mang hệ lụy nhân nào quả nấy tới thế kỷ này với tư cách đáng làm ta lợm giọng của nguyên tổng bí thư Nông Đức Mạnh, mà dân gian đồn đại rồi chính hắn cũng nuôi tâm dưỡng tích là dứa con rơi của Hồ Chí Minh đảng trưởng thuở nào. Ngoài chuyện bất tài trong vô tướng mà nhân vật này phải luôn đánh bóng bằng đầu tóc cho mượt như sắp phải hầu đồng cho tới nội thất của hắn kiểu trọc phútrọc tri lẫn trọc thức. Ba cái trọc này đã vạch tới nơi tới chốn cái vô thẩm mỹ của chính hắn và của nhiều quan chức của Đảng cộng sản Việt Nam tới từ vô minh về mỹ quan, vô tri về mỹ cảm làm nên vô giác trước mỹ thuật, vô cảm trước mỹ học. Nên cái trưởng giả học làm sang của hắn đã vạch mặt chỉ tên hắn chính thành viên của đám là vô học nên vô hậu trước mỹ luận. Trên chủ đề tình yêu này, thì hắn có biết gì không ? Nhưng người đời biết chỉ biết hẳn qua chuyện, mã tầm mã tức là ngựa tìm ngựa, khi hắn đoạt người tình của chính con trai của hắn bằng quyền lực và tiền bạc. Loại cướp nhân tình bằng quyền lực kiểu gà què ăn quẩn cối xay và tiền bạc kiểu thừa gió bẻ măng làm sao thấy được giá trị cao cả của tình yêu đích thực bằng mô thức tình yêu biết còng tình thương của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn : "Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ".

love5

Một đảng với đám quan chức lén lút trong tình dục, lòn lách trong đa thê, luồn rút trong đa thiếp… tôi có lần được nghe tận tai những lời thô bỉ của chúng : "làm quan thì được quyền đa thê, đa thiếp". Ảnh minh họa Nông Đức Mạnh và Đỗ Thị Huyền Tâm

Chuyện đáng sợ của đảng trưởng, chuyện đáng buồn nôn của bút nô, chuyện đáng lợm giọng của một cựu tổng bí thư, tất cả làm nên chuyện đáng rùng mình của một đảng với đám quan chức lén lút trong tình dục, lòn lách trong đa thê, luồn rút trong đa thiếp. Các hành động của đám này hoàn toàn ngược với cuộc sống, nghịch với cuộc đời của những ai biết yêu, từng yêu, đã yêu, vì đã biết dấn thân vì tình yêu, đường đường chính chính trong quan minh chính đại. Hoạn kịch làm nên bại não, họa kịch làm ra liệt não là khi đám này tụ lại với nhau như bầy sâu thì chúng lại tự vỗ ngực, mà tôi có lần được nghe tận tai những lời thô bỉ của chúng : "làm quan thì được quyền đa thê, đa thiếp". Khi nghe được loại câu chữ này, thì đúng là tôi lợm giọng, buồn nônnổi da gà vì thấy chúng đang tự súc vật hóa tư cách của chúng. Không có tư cách trong xã hội thì làm sao có phong cách để lãnh đạo dân tộc ? Không có tư cách lẫn phong cách thì làm sao có nhân cách để thấy-cho-thấu tình yêu ? Đám quan chức này không sao biết nhân vị vô biên của tình yêu trong mô thức của nhạc sĩ Phạm Duy : "Tình âm dương chan chứa xoay trong vòng tử sinh". Đám quan chức này không sao biết được nhân ái vô vàng của tình yêu mô thức của thi sĩ Cùng Trầm Tưởng :

"Quanh bên tôi đời êm như ấp ủ

Mật đêm thương vừa ngọt đủ tuần trăng".

Não bộ làm nên não trạng "làm quan thì được quyền đa thê, đa thiếp" là hoạn kịch làm nên bại não, họa kịch làm ra liệt não trong âm giới của chúng, mà cũng là thảm kịch cho Việt tộc. Chúng sẽ lây truyền bịnh khuyết não, sẽ lây lang dịch khuyết nhân tới các thế hệ trẻ mà chúng ta ngày ngày thấy nhan nhản cảnh ăn tươi nuốt sống quan hệ tình ái của nhiều người trẻ. Cả một tập thể không nhận ra giá trị thiêng liêng của tình thương, không hiểu được giá trị thiêng bẩm của tình yêu. Chính giá trị thiêng liêng của tình thương và giá trị thiêng bẩm của tình yêu có mặt để bảo vệ nhân lý vì nhân tính, nhân bản vì nhân văn, nhân đạo vì nhân vị, nơi mà nhân tự biết song hành cùng nhân ái.

love6

Hãy trở lại hệ vấn đề nghiên cứu ban đầu chỉ qua một câu hỏi cho các lãnh tụ lập ra đảng cho tới các lãnh đạo hiện nay đang cầm quyền của Đảng cộng sản Việt Nam, họ có biết yêu không ? đã hình thành câu hỏi trực tiếp để trực luận là : các người có biết yêu không ? Đây là dịp học thuật hỏi thêm một câu nữa là các người có biết nội lực tri thức, sung lực ý thức và hùng lực nhận thức của tình yêu không ? Nếu không biết thì xin được giới thiệu kích thước và tầm vóc cùng bản lỉnh của tình yêu tới với các người, chỉ qua hành tác thi ca của Thanh Tâm Tuyền :

Bài ca tụng tình yêu

Tôi chờ đợi lớn lên cùng giông bão

Hôm nay tuổi nhỏ khóc trên vai

Hôm nay tuổi nhỏ khóc trên vai

Tìm cánh tay nước biển

Con ngựa buồn lửa trốn con ngươi

Đất nước có một lần tôi ghì đau thương trong thân thể

Những giòng sông, những đường cày, núi nhọn

Những biệt ly, những biệt ly rạn nứt lòng đường

Hút chặt mười ngón tay, ngón chân da thịt

Như người yêu, như người yêu từ chối vùng vằng

Những giòng sông, những đường cày, núi nhọn

Những biệt ly, những biệt ly rạn nứt lòng đường

Tôi chờ đợi cười lên sặc sỡ… mái ngói thành phố ruộng đồng

Bấu lấy tim tôi thành nhịp thở

Ngõ cụt đường làng cỏ hoa cống rãnh

Cây già đá sỏi bùn nước mặn nồng chảy máu tiếng kêu.

doiluan2

Giáo sư Phạm Biểu Tâm nói chuyện với Sinh viên Y Khoa trong một giảng đường 28 Trần Quý Cáp, Sài Gòn sau khi bị bắt trước biến cố 1963 - Ảnh Life

2. Dân trí cỏng dân sinh

Phan Chu Trinh không để lại cho chúng ta một sự nghiệp cách mạng chính trị, mà ông đã để lại cho ta một sự nghiệp lý luận chính trị mà khai trí luôn là ánh sáng để đưa đường dẫn lối cho dân tộc và giống nòi, với định đề mà ông luôn muốn trao cho chúng ta : dân trí đi trước để dẫn dân sinh. Các quốc gia láng giềng cùng nôi tam giáo đồng nguyên với chúng ta đã thành công trên nhân lộ này : Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, mà ta không quên Singapour. Ta cũng không được quên Trung Quốc với tầm nhìn khoa học kỹ thuật của họ trong hệ vấn đề dân trí, từ Đặng Tử Bình tới đám đàn em, đàn con hiện nay đang lãnh đạo Đảng cộng sản trung quốc, với những toan tính chính sách làm nên thành công trong tính toán không những trong khoa học kỹ thuật mà cả từ thương mại tới kinh tế, từ văn hóa tới nghệ thuật. Đám lãnh đạo hiện nay của Đảng cộng sản Trung Quốc có nội lực dân trí đi trên lưng, có sung lực dân tri đi trên vai, có hùng lực nhân trí đi trên đầu đám đang lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam. Đây là sự thật của dân trí làm nên chân lý của nhân trí trong hành tác chính trị.

Khi khai dân trí là tiền đề làm nên thượng nguồn để hạ nguồn là nơi mà dân sinh tiếp nhận không những phát triển đất nước mà cả tiến bộ cho dân tộc trong đó văn minh đóng vai trò giải phóng, và một dân tộc chỉ thật sự được giải phóng nếu nhân trí kham được nhân thế, nhân tri bồng được nhân gian. Cụ thể là nếu dân trí không cỏng được dân sinh, thì mọi thuật ngữ "giải phóng", "cách mạng" đều là xảo ngữ, mở đường cho thói ăn gian bán lận, mà trong hành tác chính trị đây chỉ là trò phản dân hại nước. Câu hỏi cho mỗi người Việt sau khi Đảng cộng sản Việt Nam cướp được chính quyền và hiện giờ đang cầm quyền đã gần một thế kỷ là : Việt tộc đã để lở bao cơ hội vận dụng dân trí để cỏng dân sinh ? Nói gần nói xa không qua nói thật là chúng ta đã bị các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam lừa bao nhiêu lần rồi với chiêu trò xảo ngữ "giải phóng", "cách mạng", để mất đi dân trí lẫn dân sinh, mất cả chì lẫn chài, mất trọn nhân trí, mất trắng nhân sinh.

Đòi hỏi đầu tiên cho phạm trù dân trí chính là kiến thức của các lãnh đạo phải minh trí trong quyết sách để minh tri trong quốc sách, tại đây minh trí là mật độ của kiến thức và minh tri là trình độ của tri thức, với bản lỉnh nhìn xa trọng rộng để thấy cho thấu sự vận hành của dân trí sẽ cỏng, bồng, bế, ắm dân sinh. Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam chưa bao giờ có nôi lực của minh trí là nên sung lực của minh tri, làm nên sự hiểu biết, với sự hiểu về sai một ly đi một dặm, với sự biết về người khôn chưa đắn đã đo/chưa ra tới biển đã dò nông sâu. Từ thế kỷ XX cho tới nay là thế kỷ XXI, hoạn cảnh của các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã tạo ra thảm cảnh của Việt tộc hiện nay, với xuất khẩu lao động để làm tôi tớ cho các quốc gia láng giềng cùng nôi tam giáo đồng nguyên với ta : Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapour, với nạn cảnh trai thì lao nô trong nhục lộ, gái tì nô tỳ trong điếm lộ…

Chính phạm trù dân trí sẽ trợ duyên để trợ lực cho Việt tộc gìn giữ văn hiến của tổ tiên, văn minh của dân tộc, văn hóa của giống nòi, và đây phải là tiêu chuẩn đầu tiên để tuyển chọn ai sẽ lãnh đạo để phát triển đất nước, tạo ra tiến bộ vì dân tộc, lập ra văn minh vì giống nòi. Khi ta định vị được tính tất yếu của dân trí bằng minh tri là thượng nguồn của mọi chính sách, thì tiêu chuẩn minh tri của lãnh đạo chính trị phải nhận trọn vẹn trách nhiệm với đất nước, bổn phận trước đồng bào, sư mệnh trước giống nòi. Nhân lộ lãnh đạo này rất rõ trong chính giới có các chính khách minh tri với chính trường minh bạch, đó là phương trình : đề nghị chính sách-thảo luận quyết sách-quyết định quốc sách-vận hành quốc lực. Một phương trình có nhân trí dẫn nhân sinh, nhân tri dắt nhân thế, những kẻ nào muốn lãnh đạo chính trị mà không thấy, không thấu, không biết, không hiểu phương trình này thì đừng lãnh đạo ! mà trước hết là các lãnh đạo hiện nay của Đảng cộng sản Việt Nam đừng lãnh đạo nữa !

Thảm cảnh của Việt tộc đang ở trên một tà lộ khi còn nằm trong tay các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, đã bị lừa đảo nhiều lần, mà vẩn đi, đứng, nằm, ngồi trên tà lộ này, vì ngày ngày được ru ngũ bởi tuyên truyền trị bằng xảo ngữ "giải phóng", "cách mạng", trong tà sách của ngu dân trị. Hãy trở lại câu hỏi ban đầu là chúng ta đã bị các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam lừa bao nhiêu lần rồi với chiêu trò xảo ngữ"giải phóng", "cách mạng" ? Và hãy vận dụng chính dân trí của chúng ta để đào sâu them vào câu hỏi này là "giải phóng" rồi, "cách mạng" rồi, sao dân tộc vẩn mất nhân phẩm, vắng nhân quyền, rỗng nhân tri, trống nhân trí ? Câu trả lời là Việt tộc đã vô tình hay vô ý trao thân gởi phận cho đám lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam mà bẩn-bản-chất là sự kết tụ của vô minh, vô tri, vô giác, vô cảm, tới từ vô học từ tri thức tới đạo lý, đang đưa đưa dân tộc lẫn giống nòi vào con đường vô hậu !

56367210

Ai giết người nhiều nhất : Hitler, Staline hay Mao ? Ảnh minh họa khách bộ hành đi ngang qua bức tường in hình cựu lãnh đạo Trung Quốc Mao Trạch Đông tại lễ hội ‘Vui vẻ và nghệ thuật’ ở thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây, ngày 13/12/2008.

3. Thất kinh vì chủ thể !

Có một chuyện trong nội não của các lãnh tụ lập ra Đảng cộng sản Việt Nam cho tới các lãnh đạo hiện nay của đảng này, làm đám người này ngày mất ăn, đêm mất ngủ, đó là không gian kiến thức làm nên thời gian tri thức của phạm trù chủ thể ! Cũng tại đây, đã có một cuộc biển lận tắm máu hằng trăm triệu người, mà thượng nguồn tới từ các đảng cộng sản được lãnh đạo bởi các tên lãnh tụ sát nhân Lenin, Staline, Mao… Đám này đã truyền dịch tâm não, truyền bịnh khuyết trí tới Đảng cộng sản Việt Nam qua ý đồ độc đạo là lấy chuyên chính độc đảng để tạo ra độc đảng toàn trị. Trên đất nước Việt từ khi Đảng cộng sản Việt Nam cướp được chính quyền, thì độc đảng toàn trị cho sinh đôi đợt đầu là công an trịtuyên truyền trị, rồi sinh đôi đợt hai là ngu dân trịtham nhũng trị. Trong âm giới này là cả một tà giới của tham quyền để lạm quyền, lộng quyền để cực quyền, độc quyền trong cuồng quyền, tất cả từ đảng tộc tới đảng sử đều trong tình trạng mất ăn mất ngủ để rình rập rồi ám sát chủ thể, khủng bố rồi thủ tiêu chủ thể.

Nhưng chủ thể là gì ? Chủ thể rời vị thế xã hội của một cá nhân đơn lẻ là cá thể đang bị lẻ loi trong cơ chế xã hội, để nhận nhiệm vụ của một công dân vừa làm chủ nhân kiếp của mình, vừa làm chủ đất nước, chủ thể là chủ để nhận bổn phận trước dân tộc, trách nhiệm trước đất nước, sứ mệnh trước giống nòi. Chủ thể đấu tranh cho tiến bộ vì dân tộc, dấn thân cho phát triển vì đất nước, thông minh trong văn minh vì giống nòi, nên chủ thể mang nội lực của cộng hòa (tự do, công bằng, bác ái) làm nên sung lực của dân chủ để bảo vệ nhân quyền bằng đa nguyên qua đa tài, đa trí, đa dũng, đa lực, đa năng, đa hiệu… Từ lý trí tới đạo lý, chủ thể luôn đi xa hơn cá thể, nhìn cao hơn cá nhân, trông rộng hơn công dân, nơi mà văn hóa phải văn minh để chế tác ra văn hiến, chế tác bằng sáng tạo. Chính lực sáng tạo của chủ thể đã đặt tự do, công bằng, bác ái, dân chủ, nhân quyền vào dàn phóng của cấp số nhân : có tự do rồi thì phải có tự do hơn, có công bằng rồi thì phải có công bằng hơn, có bác ái rồi thì phải có bác ái hơn, nhất là có dân chủ, nhân quyền rồi thì phải có dân chủ, nhân quyền nhiều hơn, thêm nữa, nhân lên. Đây chính là nguồn cơn mất ăn của độc đảng toàn trị, công an trị, tuyên truyền trị, ngu dân trị, tham nhũng trị, cũng là nguồn cội mất ngủ của tham quyền, lạm quyền, lộng quyền, cực quyền, cuồng quyền.

Câu chuyện chủ thể là nạn nhân của một cuộc biển lận tắm máu của các tên lãnh tụ sát nhân của các đảng cộng sản lấy chuyên chính độc đảng để áp đặt độc đảng toàn trị, có một thượng nguồn sâu xa khác ngay trong học thuật, ngay trong lịch sử của trí thức, trong đó triết học là một trong những nạn nhân của một cuộc biển lận tri thức. Hãy đi từ bằng cổ triết Hy Lạp Socrate, Platon, Aristote… trước công nguyên với các sư tổ để tới hiện triết với các triết sư Heiddeger, Sartre, Derrida… Họ giữ gìn và bảo vệ quỹ đạo triết học bằng ba phạm trù tri thức : sự thật, tự do, chủ thể. Họ bắt đầu bằng cuộc khởi hành đi tìm sự thật để nhận ra chân lý, chính sự thật có hùng lực giải phóng nơi mà tự do của nhân loại là cuộc đấu tranh được vạch ra để tiếp nhận vừa sự thật, vừa tự do bằng vai trò chủ đạo của chủ thể. Liên kết sự thật-tự do-chủ thể đã dọn đường cho cộng hòa (tự do, công bằng, bác ái), cùng lúc vạch đường cho dân chủ dùng đa nguyên để bảo vệ nhân quyền.

Marx, cha sinh mẹ đẻ ra chủ thuyết cộng sản đã bắt đầu cuộc cờ gian bạc lận khi giải thích sự thật bằng đấu tranh giai cấp, phân giải tự do bằng duy vật sử quan, để bứng đi không gian tri thức của chủ thể, rồi thay bằng một tập thể chuyên chính, với các danh hiệu chuyên chính vô sản, chuyên chính cách mạng, chuyên chính độc đảng… Và các đứa con khuyết trí của Marx là Lenin, Staline, Mao… chúng vô minh trước sự thật, vô tri trước tự do, vô giác trước chủ thể, lại tự ý thêm thắt vào chủ thuyết cộng sản các họa thuyết : bạo lực cách mạng, bạo động chuyên chính… Từ Hồ Chí Minh tới đám lãnh đạo hiện nay của Đảng cộng sản Việt Nam, họ vẫn tiếp tục điếm lận hóa sự thật, điếm nhục hóa tự do, để thanh trừng cho bằng được sự vận hành của không gian kiến thức làm nên thời gian tri thức của chủ thể. Chủ thể Việt bị thanh toán tận gốc trong phong trào Nhân văn, chủ thể Việt bị thanh trừng tận rễ tự Cải cách ruộng đất sau 1954 tới Trại cải tạo sau 1975, trong chiến tranh cũng như trong hòa bình chủ thể Việt luôn bị tận diệt. Thanh trừng cho bằng được sự nẩy mầm, sự xuất hiện, sự pháp triển của chủ thể luôn là ưu tiên của Đảng cộng sản Việt Nam, ngày ngày lao lý hóa các chủ thể biến họ hành các tù nhân lương tâm là một minh chứng.

Truy cùng diệt tận hệ thức (kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức) chính là vốn luận thức của chủ thể, bằng cách triệt cùng xóa sạch tri thức trong giới trí thức là cái nôi để giáo dục và giáo dưỡng chủ thể, bằng những tà toan quỷ toán của Đảng cộng sản Việt Nam là đốn mạt hóa hệ thống giáo dục để điếm lận hóa tri thức bằng học giả, thi giả, điểm giả, bằng giả để mua chức bán quyền, mà ý đồ thâm độc là diệt chủ thể ngay trong trứng nước. Nên Đảng cộng sản Việt Nam, từ lãnh tụ sinh ra đảng tới lãnh đạo đang cầm quyền bằng bạo quyền độc đảng toàn trị, ngày ngày sống trong hoạn kịch tri thức, mượn chủ thuyết cộng sản để cờ gian bạc lận bằng quỷ quyền công an trị, và không bao giờ dám đối diện để đối luận bằng đối thoại với các chuyên gia đã và đang nghiên cứu về chủ thuyết cộng sản. Hoạn kịch tri thức của các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam chính là họa kịch trí thức của những lãnh đạo vô minh trong tham quyền, vô tri trong cực quyền, vô giác trong cuồng quyền, sống rồi chết với mặc cảm không bao giờ có lý trí về sự thật, trí tuệ về tự do, và tuệ giác về chủ thể.

Thật thất kinh trong giờ bên huyệt đạo của đám này, vì khi còn sống, khi còn cầm quyền họ đã sát nhân, họ đã giết hại, họ đã thủ tiêu, họ đã thanh trừng không biết bao nhiêu là chủ thể, chính là những đứa con tin yêu của dân tộc vận dụng nhân trí để tiếp nhận nhân quyền. Phản chủ thể rồi diệt chủ thể, thật thất kinh cho đám lãnh đạo này, vì khi lìa đời mà đám này không sao có được nhân kiếp của chủ thể, nhân kiếp của những người làm chủ sự thật và tự do, để làm chủ tiến bộ và văn minh.

intelligence1

4. Sự thông minh ân cần

Nửa thế kỷ trước, khi thấy tôi thắc mắc về nội dung của sự thông minh, thân phụ tôi không giúp tôi định nghĩa sự thông minh là gì, mà chỉ nhắc nhở tôi một câu : "Muốn đi tìm nội dung rồi định nghĩa để hiểu giá trị của sự thông minh thì cứ đi tìm, có khi dành cả đời để hiểu nó cũng không bỏ công, nhưng hình như người thật sự thông minh là kẻ tạo điều kiện cho người khác thông minh bằng mình !". Nửa thế kỷ sau ngay Paris, tôi tổ chức một hội thảo quốc tế tại Thư Viện Quốc Gia, với các đồng nghiệp nhiều chuyên ngành của khoa học xã hội và nhân văn, được trợ lực bởi các sư huynh của tôi trong các ngành đang được vinh danh như ngôn ngữ học, nhân học, xã hội học, tâm lý học… với sự trợ duyên của các sư phụ của tôi trong các ngành chủ đạo như chính trị học, sử học, triết học, văn học...

Ngày cuối là tổng kết hội thảo, lý gần tìm luận xa mà cũng là cơ duyên lành để tôi tái ngộ với câu chuyện về nội dung, định nghĩa, giá trị của sự thông minh, tôi đưa đẩy để các sư phụ cùng các sư huynh giúp tôi ra khỏi mê hồn trận về hằng số, hàm số và ẩn số của sự thông minh. Thì bạn tôi là triết gia F.Jullien, giờ đã là một ngân hà đặc sắc trên vòm trời triết học hiện đại với tri thức đặc thù của triết liên văn hóa, có phát biểu : "Sự thông minh phải được định vị và định hình bằng chính nội công và bản lĩnh trong chính hành tác hằng ngày của nó, cụ thể là nó đi thong thong, nó về ung dung, nó ngồi thoải mái, nó nằm thư thả với tất các sự thông minh đã được thừa nhận".

Đã hơn nửa thế kỷ, lời dặn dò của thân sinh, lời trần tình của một triết gia vừa là thân hữu, vừa là sư huynh đã hội tụ lại trong sự liên kết giữa cái tôi và tha nhân, mà chân trời của sự hội tụ này là : sự thông minh nếu là sự hiểu biết vừa sắc, vừa nhọn của một cá nhân, thì sẽ không có sự thông minh nếu không có tha nhân. Tha nhân vừa là mực thước, vừa là tầm vóc của sự thông minh, tha nhân mang cùng lúc hằng số, hàm số và ẩn số của sự thông minh, và chính tha nhân là đường đi nước bước để nhận diện rồi nhận dạng ra sự thông minh. Đây cũng là câu chuyện học thật qua trau dồi đèn sách, mà cũng là câu chuyện học lực của mài sắt nên kim trong cuộc đời học thuật, chính các thuật ngữ học thật-học lực-học lực giờ đã thành một phương trình cho học kiếp, để tách cái học thật ra khỏi cái học giả.

Những ai đã biến phương trình cho học kiếp là học thật-học lực-học thuật trở thành nhân sinh quan rồi thành thế giới quan cả vũ trụ quan của mình thì rất ngạc nhiên về thảm trạng của Việt tộc hiện nay với học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả đã sinh đôi ra hai quái thai là học vị giả và học hàm giả để sử dụng trong chuyện mua bằng bán cấp, để tận dụng trong chuyện mua chức bán quyền. Mà hiện nạn là sự hiểu biết vừa là bàn đạp, vừa là dàn nhún cho sự thông minh đã bị thanh trừng ngay trên thượng nguồn, để cho hậu nạn là sự thông minh bị thủ tiêu, bị bóp chết ngay trong trứng nước, dưới một chế độ độc đảng toàn trị đang chủ đạo để chủ trì ngu dân trị. Độc đảng mê muội trong độc tài nhưng bất tài trong tổ chức giáo dục bằng học thật-học lực-học thuật. Độc quyền nhưng hoạn quyền trong giáo dưỡng từ trau dồi đèn sách tới mài sắt nên kim vì học luyện. Độc đảng mê chấp trong độc trị nhưng hoàn toàn nhưng không biết quản trị tính liên kết giữa giáo dục-giáo khoa-giáo trình-giáo án trong học tập. Độc đảng mê hoại trong độc tôn nhưng không biết gì về tôn ti trật tự đã có sẵn trong bể học là học tập trong khiêm tốn, có học lực trong khiêm cẩn, bằng học thuật trong khiêm luận của "Người khôn chưa đẳn đã đo/ Chưa ra tới biển đã dò nông sâu".

thongminh2

Chúng ta có thể khởi hành đi tìm gốc, rễ, cội, nguồn của sự thông minh trong các văn tự của cổ triết, cổ văn, cổ sử của Hy Lạp từ Socrate tới Platon và nhiều thế hệ sau nữa, họ thường xuyên gởi sự thông minh vào lòng tin của họ nơi Thượng đế. Những kẻ khiếm não cổ súy cho duy vật biện chứng hay lý luận khiếm thức là học thuật tùy thuộc vào khoa học sao lại mang niềm tin nơi Thượng đế để mê tín hóa khoa học. Khi nghiên cứu toàn bộ từ cổ triết tới hiện triết, bằng những minh sư của triết học từ Pascal tới Kant, rồi từ Levinas tới Ricoeur… thì những triết gia này chính là những đứa con tin yêu của triết học đã nối kết siêu hình học vào lập luận của triết học, rồi họ mời ta đi trên một nhân lộ thông minh, nơi mà con người không hề cúi đầu tuân lệnh một cách vô điều kiện Thượng đế hay bất cứ một đấng quyền năng nào.

Ngược lại, các minh sư triết học này đã biết đặt Thượng đế vào lộ trình của nhân tri đi tìm sự thật, mà trên lộ trình này thì Thượng đế là một giả thuyết luận tuyệt vời, một phương trình toán tuyệt năng, một luận thức triết tuyệt đối. Augustin là một trong những tư tưởng gia mà triết học đã biết dựa vào để nhận diện ra tầm vóc của Thượng đế qua giả thuyết luận tuyệt vời-một phương trình toán tuyệt năng-một luận thức triết tuyệt đối, ông chỉ khuyên nhân sinh : "Hãy cứ tiến tới trên nhân lộ của chính mình, nếu nhân lộ này làm ra nhân tri, thì nhân lộ này chỉ xuất hiện với chính những bước chân của nhân sinh". Ai tin Thượng đế hơn Augustin ? Vậy mà ông xem câu chuyện đi tìm sự thông minh chính là câu chuyện của nhân sinh trên nhân lộ của nhân tri, chớ không hề là câu chuyện phải phục tùng bằng vô minh, rồi khuất phục bằng vô tri trước Thượng đế. Nhắc tới Thượng đế thì cũng nên nhắc tới Phật học, nơi mà Phật giáo ngay thượng nguồn là một minh triết trước nỗi khổ niềm đau của nhân sinh, không hề là tôn giáo với một Thượng đế đầy quyền năng biết sáng tạo ra sự sống. Cho nên thử thách của Phật học không hề là một niềm tin vô điều kiện về đấng quyền năng sáng tạo ra con người và cuộc sống, mà là sự tỉnh thức chính là nền, móng của sự hiểu biết chính là tường, mái của sự thông minh. Một sự tỉnh thức để thấy tức khắc thực tại, để thấu tức thì phương pháp giải thích mà tiếp nhận đúng lúc từ kiến thức tới tri thức, từ ý thức tới nhận thức, đây chính là sự thử thách của mọi cá nhân để nhận diện rồi nhận dạng ra sự thông minh.

thongminh3

Trong cuộc đời của một thi sĩ có ảnh hưởng vừa sâu, vừa rộng trong thi ca Pháp trong thế kỷ XX, đó là thi sĩ Char nơi mà thi tính tới từ bản lai diện mục của sự tỉnh thức, không có sự thông minh nếu không có sự tỉnh thức. Giữa thế chiến thứ hai, quê hương Pháp của ông đã bị Đức quốc xã chiếm đóng, một ngày kia bọn sát nhân Đức quốc xã mang một thanh niên của kháng chiến Pháp ra hành quyết trước dân làng, lấy bạo quyền giết người vừa để hù dọa, vừa cảnh cáo dân làng. Mà bọn Đức quốc xã này không biết là chúng đang bị bao vây bởi đội kháng chiến mà Char là đội trưởng. Và tất cả đồng đội chỉ chờ Char ra lệnh là họ sẽ nổ súng để cứu nguy rồi cứu sống người thanh niên đang đứng trước mũi súng của bọn Đức quốc xã. Char rơi nước mắt mà tâm sự với các đồng đội là : "Chúng ta sẽ không nổ súng cứu bạn thanh niên kháng chiến kia, anh ấy vừa là đồng đội, vừa là văn hữu của tôi, là người tôi vô cùng thương quý, nhưng chúng ta sẽ không nổ súng để cứu bạn. Vì nếu chúng ta nổ súng để diệt bọn Đức quốc xã này thì chúng sẽ trở lại đông hơn, nhiều hơn để tàn sát cả làng này, lúc đó chúng ta không chỉ mất một sinh mạng, mà hằng trăm sinh mạng !". Trong nguy nan, sự tỉnh thức xuất hiện để đánh thức cho bằng được sự thông minh để cân, đo, đong, đếm tới nơi tới chốn các hậu quả, các hậu nạn.

Triết gia làm cầu nối giữa hiện tượng luận và triết học là Merleau-Ponti ông luôn xem để xét sự thông minh ngay trong chính quan hệ giữa nhân sinh, ngay trong chính tương quan giữa nhân gian, ngay trong chính tương tác giữa nhân thế. Ông chỉ kể một chuyện rất gọn để làm rõ phương trình quan hệ-tương quan-tương tác giữa người với người, dù là người này xa lạ với người kia, câu chuyện người cũng chính là câu chuyện đời. Ông không phải là triết gia trong tháp ngà, ngồi nhà viết sách, mà phương châm đi một ngày đàng học một sàng khôn chính là đường đi nẻo về của triết lộ mà ông hành tác cả đời, ông kể với các môn sinh : "Một ngày kia tôi lạc giữa một sa mạc mênh mông tại Phi châu, tôi tìm mãi mới ra một nơi có bóng mát để nghỉ chân và nghỉ mệt, thì có một người phụ nữ đi từ xa tới, tới gần tôi thì tôi thấy một nụ cười thân thiện nở trên khuôn mặt của người hoàn toàn xa lạ này. Nếu hai kẻ không biết nhau, nhưng nụ cười xuất hiện thì mọi sự xa lạ của hai kẻ xa lạ đã được xóa đi. Dù chưa hề quen nhau, nhưng nụ cười đã vượt lên mọi cách biệt về văn hóa, về quan hệ, làm mọi khoảng cách tự tan biến đi để sự ân cần xuất hiện". Tha nhân đã xuất hiện để tiếp rồi đón ta trong những hoạn nạn, sự thông minh ân cần là sự hiểu biết cso thể cứu được người trong hoạn nạn.

Người khôn hoặc kẻ thật sự thông minh thì phải thấy cho thấu là nụ cười đã mở đường đưa lối để ta nhận ra sự ân cần, nếu hiểu được sự ân cần thì sẽ hiểu tính đoàn kết trong nhân đạo, tính tương trợ trong nhân từ. Nhưng kẻ tự cho mình là thông minh lấy trục lợi để vụ lợi, lấy quyền lợi làm tư lợi, những kẻ đó chúng ta không biết rằng họ thật sự có thông minh hay không, nhưng chúng ta thấy họ đang làm cho chúng ta lợm giọng tới buồn nôn. Đó là đám lãnh đạo với bầy sâu của chúng chung quanh Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay, chúng tham quyền vì đặc quyền, chúng lạm quyền để tạo đặc lợi, chúng cuồng quyền để giữ đặc ân. Đám sâu này, chúng không biết sự ân cần với tha nhân, tính đoàn kết với đồng loại, tính tương trợ với đồng bào. Chắc chắn đây không phải là sự thông minh mà chỉ là tà tính trong tà kiếp, tổ tiên Việt đã dặn dò con cháu Việt hãy cẩn thận : khôn quá hóa dại. Đám lãnh đạo với bầy sâu của chúng chung quanh Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay đã ngu dại hóa sự thông minh, khi chúng đã điếm nhục hóa giáo lý tương thân tương trợ của Việt tộc.

Trong ngôn ngữ học lẫn trong phê bình văn học, người đọc còn nhớ Barthes đã chế tác ra các mỹ luận để thấy cho thấu mỹ quan, mỹ thuật, mỹ học, nơi mà sự thông minh đã biết làm rõ, làm sáng cái đẹp. Nhưng Barthes là một minh sư có những luận thuyết mà con người phải dùng sự tinh tế để nhận diện ra sự thông minh, ông dặn các môn sinh : "Cái lịch sự trong giao tế với tha nhân còn thông minh hơn cả sự thông minh !". Cái lịch sự làm nên cái lịch thiệp của người được giáo dục tử tế, được giáo dưỡng đàng hoàng, đây chính là cái lịch lãm của từ tốn trong giao tiếp, của khiêm tốn trong quan hệ. Nơi đây sự khoe khoang về cái tôi không hề có chỗ đứng, ghế ngồi khi chúng ta chào đón rồi tiếp đãi tha nhân. Cái biết nghiêng mình chào khách nó thông minh hơn nhiều lần cái tôi vỗ ngực ta đây, khi ta nghiêng mình chào tha nhân tức là ta đang gạt đi cái thông minh của riêng ta qua một bên, để sẵn sàng tiếp nhận cái thông minh của tha nhân sẽ làm giàu nhân sinh quan của ta. Khi ta hiếu khách vì trọng khách tức là ta đang phong phú hóa thế giới quan của ta. Khi ta quý khách vì nể khách tức là ta đang đa tri hóa vũ quan của ta. Vì nội lực làm nên bản lĩnh của sự thông minh luôn đa nguyên, chỉ có đa nguyên mới sinh ra được : đa tri, đa trí, đa tài, đa năng, đa hiệu…

thongminh4

Triết gia đi đầu trong việc lập cầu nối giữa hiện tượng luận và triết học đạo đức là Levinas, thầy đã tạo dựng ra một hệ thống triết học mới dựa hoàn toàn vào tha nhân để nhân ra cá thể, nơi mà nhân diện và nhân dạng của tha nhân biết làm nên nhân cách của chúng ta. Nơi đây sự xuất hiện của tha nhân làm thay đổi nhân sinh quan của ta, sự hiện diện của tha nhân làm chuyển đổi thế giới quan của ta, sự biểu hiện của tha nhân làm biến đổi vũ trụ quan của ta, thầy đúc kết gọn trong một thuật ngữ : "Nỗi lo của mỗi chúng ta tới tự khuôn mặt của tha nhân". Vì tha nhân báo hiệu cho chúng ta biết giữa nhân sinh cái ác đã xuất hiện với bạo quyền. Tha nhân báo tin cho chúng ta biết giữa nhân gian thì cái gian đang hoành hành ; tha nhân báo động cho chúng ta biết giữa nhân thế thì cái tà đang điếm ngự nhân tính. Đây là thử thách về sự thông minh cho mỗi công dân Việt hiện nay trước thảm cảnh : bạo quyền công an trị đang bám, quấn, siết nhân kiếp Việt tộc ; tà quyền tham nhũng trị đang chui, luồn, lách vào hơi thở giống nòi ; ma quyền tham tiền trị đang nạo, vét, vơ tài nguyên, thiên nhiên, đất nước của tổ tiên ; quỷ quyền ngu dân trị xóa mắt, lấp tai, chặn lời đồng bào ; xảo quyền tuyên truyền trị ác giọng, độc lưỡi, điếm môi tiếng Việt ; cực quyền tội ác trị truy cho cùng, triệt cho tận nhân nghĩa Việt ; cuồng quyền thanh trừng trị thanh toán để thủ tiêu nhân đạo Việt.

Triết gia biết nghi ngờ các cấu trúc làm nên các cơ chế lúc nào cũng có sẵn, mà cũng triết gia này đã từ chối các cuộc cách mạng sắc máu để đập đổ các cơ chế đã có sẵn này, đó là Derrida. Thầy yêu cầu chúng ta hãy dành ưu tiên cho sự tỉnh táo được song hành cùng sự sáng suốt rồi đặt cả hai vào tính trỗi dậy, lực bật dậy của sự thông minh. Thầy cặn dặn các môn sinh là : "Khi một chế độ, một cơ chế đã vạch đường chỉ lối cho ta đi theo ý muốn, ý định, tức là ý đồ của nó, thì ta hãy vận dụng sự thông minh của mình để thoát ra ngoài, đi khác, đi xa, thậm chí đi lạc ngay ý đồ của nó". Đây chính hành tác ưu tiên để hiểu chủ thuyết tháo gở mọi cấu trúc có sẵn (déconstruction) của thầy, từ đây ta hãy xem để xét lại định nghĩa về sự thông minh chính là sự thông thái biết tháo gở các mắc xích đang lao lý hóa tri thức của chúng ta. Nếu cần thì ta còn phải biết chặt xiềng để hóa giải mà vất đi mọi khung khuôn đang là nhà tù vô hình của bạo quyền, tà quyền, quỷ quyền, ma quyền đã vây bủa nhân kiếp của chúng ta.

Tư tưởng gia đi lại thoải mái từ ngôn ngữ học tới văn học, từ triết học tới sử học là Steiner, với tháng rộng năm dài từ tế kỷ XX qua tới thế kỷ XXI này, thầy yêu cầu chúng ta nhận ra sự thông minh có ngay trong các hệ thống tư tưởng. Nơi mà con người khác con vật nhờ chính tư duy bằng tư tưởng, thầy còn mang chuyện này ra "cá độ" với các môn sinh về tính tương quan giữa sự thông minh và các hệ thống tư tưởng : "Nếu người ta biết là hệ thống tư tưởng này có tuổi thọ dài hơn, lâu hơn hệ thống tư tưởng kia, thì chúng ta chỉ cần nghiên cứu một chỉ báo duy nhất của học thuật là các hệ thống tư tưởng mà có tuổi thọ cao là các hệ thống tư tưởng có chỗ đứng, ghế ngồi dài lâu trong âm nhạc, trong hội họa, trong thi ca". Chính âm nhạc, hội họa, thi ca là thành lũy để bảo vệ cái đẹp để định vị mỹ quan, định hình mỹ thuật, định dạng mỹ học, đây chính là bí quyết của sự thông minh có mặt trong các hệ thống tư tưởng có tuổi thọ cao, luôn biết gần những cái hay, đẹp, tốt, lành ; cùng lúc xa lánh những cái xầu, tồi, tục, dở.

Nhà xã hội học luôn đi tìm khoa học luận của khoa học xã hội bằng sự thật của điều tra thực địa, bằng chân lý của hiện thực ngay trong điền dã là Passeron, từ năm này sang tháng nọ thầy luôn dặn các môn sinh rằng : "Sự thông minh cũng như mọi chuyện trên đời này đều có gốc, rễ, cội, nguồn nằm ngay trong ẩn số của trình độ !". Đây là câu chuyện càng học càng thấy thiếu, càng học càng thấy bể học vô biên, mà cũng là câu chuyện nồi nào úp vung nấy. Đây lại là câu chuyện về sự thật là trái đất tròn xoay quanh mặt trời, lại biết tự xoay của Gallilé. Vì đây cũng là trình độ của chân lý khoa học, mặc dù nó hoàn toàn trái ngược lại với mê thức đương thời của giáo hội thủa sinh thời của Gallilé. Thủa đó trình độ giáo hội chỉ tới mức trái đất phải phẳng, con người mới đứng được, mới đi được trên đất, nơi mà trực diện đã nhốt tù trực quan. Nói gần nói xa không qua nói thật là trình độ trái đất của Gallilé đã đi trên lưng, trên vai, trên đầu trình độ mặt đất của giáo hội. Cho nên ẩn số của trình độ giờ đã là hằng số cho mọi định nghĩa về sự thông minh, vì trong thực tế, luôn có sự thông minh này cao, sâu, xa, rộng hơn sự thông minh kia. Chỉ vì có kiến thức này cao hơn kiến thức kia, chỉ vì có tri thức này sâu hơn tri thức kia, chỉ vì có ý thức này xa hơn ý thức kia, chỉ vì có nhận thức này rộng hơn nhận thức kia. Sự thông minh cõng trình độ của kiến thức, nó bồng luôn cường độ của tri thức, nó bế luôn mật độ của trí thức. Tại đây Việt tộc phải thấy các hiểm họa để thấu các hiểm nạn ngay trên nhân kiếp của mình đã và đang nằm trọn trong tay của bạo quyền độc đảng toàn trị, độc tài trong vô minh, độc quyền trong vô tri, độc trị trong vô thức, độc tôn trong vô học.

Người làm tươi tỉnh chính trị học hiện đại bằng chủ thuyết dân chủ biết sinh ra đa nguyên để bảo vệ cho bằng được nhân quyền là Gauchet, thầy luôn dặn dò các môn sinh là : "Hành động dân chủ chính là hành tác của nhân quyền, các chế độ dân chủ không có phản xạ giết dân như các chế độ độc tài quân phiệt, hay độc đảng toàn trị, vì các chế độ dân chủ được dân bầu ra. Hãy thấy sự thông minh ngay trong cơ chế dân chủ, vì tại đây dân chủ là dân được chọn lựa, dân được đề nghị, dân được quyết định, dân được hành động như chủ thể trong không gian và thời gian của định kỳ qua bầu cử để giới hạn nhiệm kỳ của chính quyền. Chính trị học về dân chủ phải trở thành nhân học dân chủ lấy nhân tri mà phục vụ cho nhân quyền, tại đây sự thông minh đã có mặt trong nhân loại bằng nhân trí biết bảo vệ nhân vị !". Thầy dùng nhiều thời gian giáo khoa để dặn các môn sinh của thầy rằng dân chủ, đa nguyên, nhân quyền chính là cuộc cách mạng chân chính nhất, vì nó tới từ sự thông minh rất trong sạch của nhân loại.

Kẻ vận dụng triết học để đi tìm bốn sự thật trong nhân sinh là Badiou đã nhận ra không phải chỉ có một sự thông minh mà ít nhất là bốn sự thông minh luôn là bạn đồng hành với bốn sự thật : sự thật trong chính trị làm nên thể chế, sự thật trong nghệ thuật biết định hình cái đẹp, sự thật trong tình yêu biết cảm nhận sự dấn thân, sự thật trong tình bạn biết chấp nhận thử thách trong thăng trầm. Có khi ông còn nói to rồi hét lớn là : "Còn một sự thật thứ năm mà con người không được quên là không phải nơi nào có áp bức là nơi đó có sự nổi dậy để đòi hỏi công bằng, gào gọi công lý ; nhưng nơi nào có sự nổi dậy để đòi hỏi công bằng, thét gọi công lý thì chắc chắn nơi đó đã có bất công". Đây chính là thử thách về nhận thức của Việt tộc, khi ta tự đặt câu hỏi Việt tộc có phải là một minh tộc hay không ? Người Việt có thật là thông minh hay không khi bạo quyền độc đảng toàn trị đang biến dân lành thành dân đen, dân hiền thành dân oan, chúng làm giàu qua chuyện phá nhà để cướp đất của dân. Chưa hết, đám lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam còn chế ra tà lộ xuất khẩu lao động, để trai thì làm lao nô, gái thì làm nô tỳ cho các nước láng giềng, để chúng vơ vét nhiều tiền của hơn. Vẫn chưa xong, chúng còn nạo vét hết tài nguyên, thiên nhiên, môi trường, cơ đồ của tổ tiên Việt đã gìn giữ cho con cháu Việt. Đây không phải là áp bức giờ đã thành áp chế hay sao ? Đây không phải là bất công giờ đã thành bất nhân hay sao ?

Triết gia của triết học đạo đức nơi mà chữ tốt sẽ đưa đường dẫn lối cho chữ thông lẫn chữ minh, đó là thầy Ricoeur, các môn sinh học được đức độ của thầy không những ngay trong nhân cách của thầy, mà còn học được đạo lý làm nên nhân lý ngay trong nhân tính có sẵn trong mỗi chúng ta. Thầy tâm sự với các môn sinh : "Các bạn nên nhớ chữ tốt không phải chỉ là một tỉnh từ suông, mà chữ tốt này là nội hàm của mọi định nghĩa về sự thông minh làm nên nội lực của hành động thông minh. Vì khi chúng ta chấp nhận sống chung với nhau trong tập thể, trong cộng đồng, trong xã hội thì chữ tốt này vừa là yêu cầu, vừa là đòi hỏi của sự thông minh có trong mỗi cá nhân. sự thông minh luôn muốn có các quan hệ tốt trong một chế độ tốt biết làm nên một xã hội tốt tới từ một hệ thống giáo dục tốt…". Đây cũng chính là đòi hỏi bức thiết về sự thông minh của Việt tộc, vì Đảng cộng sản Việt Nam đã cướp chính quyền và nắm chính quyền gần một thế kỷ qua mà dân tộc này không hề có quan hệ tốt trong một chế độ tốt biết làm nên một xã hội tốt tới từ một hệ thống giáo dục tốt !

Họa nạn của chế độ độc đảng toàn trị, cha sinh mẹ đẻ của ngu dân trị là đây, vì ngay trên thựơng nguồn từ các lãnh tụ thủa trước tới các lãnh đạo thủa này của Đảng cộng sản Việt Nam là cả một hoạn kịch của vô minh, vô tri, vô tuệ tới từ vô học, mà nhân gian chỉ mặt gọi tên là : mất dạy ! mà Việt tộc thấy rõ trong tuyên truyền trị ngày ngày nuôi dưỡng ngu dân trị, vì cả hai hành động để diệt sự hiểu biết, triệt sự thông minh của Việt tộc. Các lãnh tụ thủa trước tới các lãnh đạo thủa này của Đảng cộng sản Việt Nam luôn bóp chết sự hiểu biết trong sơ sinh để truy cùng diệt tận sự thông minh khi chưa là trứng nước. Hoạn kịch của Đảng cộng sản Việt Nam đã làm nên họa kịch rồi thảm kịch của Việt tộc ngày nay là từ dân tộc tới giống nòi đang phải nhận lãnh một tà sách mất dạy hóa do Đảng cộng sản Việt Nam chủ trương và chủ trì. Các lãnh tụ thủa trước tới lãnh đạo thủa này của Đảng cộng sản Việt Nam là những tội đồ của Việt tộc, mà một trong những tội sâu xa nhất chưa được khoa học xã hội và nhân văn nghiên cứu tới nơi tới chốn là những tội đồ này đã giết sạch, giết gọn, giết trọn sự thông minh của Việt tộc.

thongminh0

Lời quê chắp nhặt dông dài trong mô thức của cụ Tiên Điền Nguyễn Du buộc tôi phải đi tới định nghĩa về sự thông minh ân cần cho riêng tôi : đó là sự thông minh luôn có tha nhân đứng chỗ trung tâm trong cuộc sống của mỗi chúng ta ! Tha nhân trao cho ta từ kiến thức tới tri thức, từ ý thức tới nhận thức. Từ khi xã hội học ra đời thì chuyên ngành này đã biết khẳng định rằng một cá nhân khi sinh ra dù thông minh tới đâu khi phải sống tách biệt với tha nhân, không đồng loại, chẳng đồng bào, thì ngay như một kiến thức sơ đẳng nhất là con người phải chết, thì cá nhân này cũng không biết ! Có thấy tha nhân chết trước mắt mình đâu mà biết là cái chết là chuyện có thật.

Sự thông minh ân cần là chính sung lực mở đường cho ta tới gặp để đón tha nhân, để tiếp đồng loại. Hãy biến sơ ngộ với tha nhân thành tao ngộ qua kiến thức. Hãy biến tao ngộ với tha nhân thành tái ngộ bằng tri thức. Hãy biến tái ngộ với tha nhân luôn hạnh ngộ biết nuôi dưỡng nhận thức. Ân cần với tha nhân từ đoàn kết tới tương trợ, để thấy cho thấu nỗi khổ của đồng bào, niềm đau của đồng loại ; ngược lại những kẻ nhìn mà không thấy, thấy mà không thấu, thì những kẻ này đừng tự vỗ ngực là họ thông minh !

Cho Đồng bào tôi - Nhạc Nguyễn Đức Quang - Lời Việt Dzũng

5. Tôi muốn biết về đồng bào tôi : 

Chất liệu thiêng liêng của niềm tin

Việt sử viết rõ Việt tộc vừa là một dũng tộc, kiên cường trong dũng cảm vì đã biết thắng mọi ngoại xâm, lại vừa là một minh tộc biết thắng mọi cường quốc xâm lược, vì biết lấy ít đánh nhiều, biết lấy nằm gai nếm mật trong trường kỳ để thắng mọi bọn xâm lược muốn ăn tươi nuốt sống trong chớp mắt đất nướcViệt. Sử liệu đã làm nên sử tính của Việt tộc như một hằng sử, đây là một dân tộc biết bảo vệ cơ đồ của tổ tiên, đạo lý của dân tộc, luân lý của giống nòi.

Nhưng trong Việt sử này, đã có lúc bị thô bỉ hóa bởi tà sử của những cá nhân lãnh đạo, có vài bận trong hằng sử bất khuất của tổ tiên Việt trong cộng đồng ông cha ta, có những đám lãnh đạo lại "để bị mất nước như chơi" ! Đây là loại hàm số (rất ngầm), xưa thì có Kiều Công Tiễn, Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, thời đại của Đảng cộng sản Việt Nam từ cận sử tới hiện sử có Hoàng Văn Hoan… Hiện nay lại là bọn Hán gian mang tâm địa thần phục Tàu tặc có mặt ngay trong đám lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, chúng sẵn sàng buôn dân bán nước, nghe tướng Trương Giang Long nói rằng chúng nhiều lắm : "trăm này sinh ra trăm kia"…

Khi tự đặt câu hỏi : tôi muốn biết về đồng bào tôi, thì đây không hề là một câu hỏi mộng tưởng trong mông lung, mà là một câu hỏi của sử luận có trong thực sử, ngược và nghịch với giả sử. Chính sử luận sẽ là phương pháp luận của khoa học sử để đưa ra ánh sáng sử tính của một dân tộc, đưa ra ánh sáng để làm chi vậy ? Để từ đó vận dụng khoa học luận của sử học mà nhận diện ra hiện sử của Việt tộc, tức là thấy-cho-thấu nhân diện, nhân dạng, nhân cách của Việt tộc đang đi, đứng, nằm, ngồi dưới một bạo quyền độc đảng toàn trị là Đảng cộng sản Việt Nam. Đảng này đã và đang áp đặt lên nhân kiếp của Việt tộc một loạn sử ; và nếu loạn sử này đưa dân tộc tới diệt vong, thì nó chính họa sử. Câu chuyện về bản lai diện mục của Việt tộc là đây !

Nên khoa học luận của sử học không ngừng ở sử liệu, mà phải vận dụng sử luận để chế tác ra phương pháp luận mà cân, đo, đang, đếm sử tính của một dân tộc, từ cổ sử tới cận sử để nhận ra khai sinh cùng lý lịch của hiện sử. Và câu hỏi : tôi muốn biết về đồng bào tôi chính là một câu hỏi về hiện sử, mà muốn có câu trả lời thì phải phân tích tới nơi để giải thích tới chốn ngay trong hệ hành (hành vi, hành động, hành tác) thường nhật của chính dân tộc này, tức là bây giờở đây trên đất nước Việt hiện nay để nhận ra :

Bạo quyền công an trị đã và đang bám, quấn, siết nhân kiếp Việt tộc.

Tà quyền tham nhũng trị đã và đang chui, luồn, lách vào hơi thở giống nòi.

Ma quyền tham tiền trị đã và đang nạo, vét, vơ đất nước của tổ tiên.

Quỷ quyền ngu dân trị đã và đang xóa mắt, lấp tai, chặn lời đồng bào.

Xảo quyền tuyên truyền trị đã và đang ác giọng, độc lưỡi, điếm môi tiếng Việt.

Cực quyền tội ác trị đã và đang truy cho cùng, triệt cho tận nhân nghĩa Việt.

Cuồng quyền thanh trừng trị đã và đang thanh toán để thủ tiêu nhân đạo Việt.

Aristote có lẽ là người đầu tiên trong cổ triết Hy Lạp từ ngàn xưa đã nhận ra các hiểm nạn luôn rình rập các niềm tin về dân chủ, vì chỉ có các thể chế thật sự dân chủ mới do dân và vì dân ; và triết gia này đã nhận ra nội dung liêm chính của dân chủ, đó chính là ánh sáng của chân lý ! Một chế độ thực sự do dân và vì dân thì phải sử dụng, vận dụng và tận dụng dân chủ để đưa mọi sự thật ra ánh sáng, cụ thể là nói công khai trước công chúng mọi công lý. Phương trình công khai-công chúng-công lý chính là nhân lộ của nhân tri đã biết đường đi nẻo về của nhân đạo, tại đây đạo đức học sẽ đưa đường dẫn lối cho chính trị học. Phương trình công khai-công chúng-công lý xuất hiện trước ánh sáng để bảo vệ phương trình thứ hai : sự thật-chân lý-lẽ phải, từ đó trợ duyên để trợ lực cho phương trình thứ ba : đạo đức-đạo lý-đạo hạnh. Và cả ba phương trình này làm nên tổng lực vì giá trị của dân chủ, từ nhân sinh tới nhân tri, từ nhân vị tới nhân trí, từ nhân quyền tới nhân phẩm...

Nhưng giá trị là gì ? Giá trị bắt đầu từ cảm xúc của lương tâm để đi tới cảm động của lương tri đã đưa đường dẫn lối chúng ta bằng niềm tin luôn tới từ sự lương thiện, nên niềm tin thì do chính con người sáng tạo ra, chế tác ra, chớ không có thánh thần, tôn giáo hoặc một đấng quyền năng nào tạo ra cả ! Chúng ta tin bằng hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri) nên chúng ta đã chọn lựa niềm tin rồi đặt niềm tin vào hệ thống giá trị làm nên hệ đạo (đạo đức, đạo lý, đạo hạnh) của chính chúng ta. Chúng ta tin nên chúng ta đã dấn thân như dấn thân vì một đạo đức, chúng ta tin nên chúng ta sẵn sàng hy sinh như hy sinh vì một đạo lý, và chúng ta hành tác trong quan hệ xã hội với đồng bào, đồng loại bằng chính đạo hạnh của chúng ta.

Hệ thống giá trị của niềm tin vừa là nền, vừa là chất liệu thiêng liêng của con người vì con người, của đồng bào vì đồng loại, của chủ thể vì tha nhân. Nơi đây nhân sinh quan về giá trị của niềm tin và thế giới quan về giá trị của niềm tin chỉ là một, một không gian, một lãnh thổ, không hề có biên giới tách biệt. Khi chúng ta xem-để-xét cả ba phương trình : thứ nhất công khai-công chúng-công lý ; thứ nhì sự thật-chân lý-lẽ phải ; thứ ba đạo đức-đạo lý-đạo hạnh, thì chúng ta sẽ thấy để thấu là ba phương trình sẽ làm nên hùng lực cho giá trị của niềm tin. Từ đây thì Việt tộc biết là mình phải gì, nếu không làm gì cả, thì sẽ chúng ta sa vào hoạn lộ rồi họa lộ, vì đã trao thân gởi phận cho :

  • Bạo quyền công an trị, như trao nhân kiếp của mình cho một tập đoàn tội phạm.
  • Tà quyền tham nhũng trị, như trao nhân sinh của mình cho bọn trộm, cắp, cướp, giật.
  • Ma quyền tham tiền trị, như trao nhân phẩm của mình cho bọn buôn thần bán thánh.
  • Quỷ quyền ngu dân trị, như trao nhân quyền của mình cho bọn phản dân hại nước.
  • Xảo quyền tuyên truyền trị, như trao nhân tri của mình cho bọn ăn gian nói dối.
  • Cực quyền tội ác trị, như trao nhân tâm của mình cho bọn đầu trộm đuôi cướp.
  • Cuồng quyền thanh trừng trị, như trao nhân tính của mình cho bọn cướp của giết người.

Khi tự đặt câu hỏi : Tôi muốn biết về đồng bào tôi, thì đây cũng là câu hỏi về ba phương trình : thứ nhất công khai- công chúng-công lý ; thứ nhì sự thật-chân lý-lẽ phải ; thứ ba đạo đức-đạo lý-đạo hạnh đang ở đâu trong đời sống thường nhật của đồng bào tôi ? Cụ thể là nhân sinh quan và thế giới quan về giá trị của niềm tin đang ở đâu trong cuộc sống hằng ngày của đồng bào tôi ? Nói gần nói xa không qua nói thật là : đồng bào tôi có còn giữ được chất liệu thiêng liêng của niềm tin đã có trong Việt sử, đã xác chứng rằng : Việt tộc vừa là một dũng tộc, vừa là một minh tộc ?

doiluan6

Sự man trá đôi ngầm : cướp quyền để lạm quyền, lạm quyền để cực quyền, cực quyền để cuồng quyền, và cuồng quyền chỉ vì tham quyền.

6. Sự man trá đôi :

Cướp quyền để điếm vốn

Sự man trá tới từ ý định giả dối với tha nhân rồi trở thành ý đồ lừa đảo đồng loại, mà động lực là mưu đồ biến quyền lợi thành tư lợi, vụ lợi trong tính toán để trục lợi bằng toan tính. Sự man trá đôi là tà lộ của hành tác đôi : tác giả của sự giả dối cũng là thủ phạm của sự lừa đảo, và tác giả-thủ phạm có mặt trong quỷ lộ của tội ác chỉ vì đặc quyền, đặc lợi, đặc ân chỉ cho riêng nó. Nên nó sẵn sàng gây tội ác, tội thì nặng hơn lỗi, nó luôn mang tội ác đôi, nó vừa là tội phạm trước đạo lý, vừa là tội phạm trước luật pháp. Đây chính là tội lỗi từ lãnh tụ lập ra đảng cho tới các lãnh đạo đang cầm quyền của Đảng cộng sản Việt Nam, từ khi họ cướp được chính quyền. Sẽ không thể phân tích để giải thích sự man trá đôi, nếu không thấy các sự man trá đôi ngầm : cướp quyền để lạm quyền, lạm quyền để cực quyền, cực quyền để cuồng quyền, và cuồng quyền chỉ vì tham quyền. Trong tà giới này thì dân chủ không có chỗ đứng, và nhân quyền không có ghế ngồi. Đừng mong các đầu đảng, đầu lãnh, đầu sỏ, đầu nậu của Đảng cộng sản Việt Nam ngày đêm sống và chết vì mê mệt bởi độc quyền, thì mong chúng chia quyền bằng tam quyền phân lập !

Sự man trá đôi không những xuất hiện từ miệng lưỡi của từ lãnh tụ lập ra đảng cho tới các lãnh đạo đang cầm quyền của Đảng cộng sản Việt Nam, mà nó còn hiển nhiên "ghế trên ngồi tót sổ sàng" kiểu Mã Giám Sinh ngay trong Hiến pháp : Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo dân tộc, đất nước. Từ đây, sự man trá đôi ngầm đã trở thành sự man trá đôi công khai trước công chúng và công luận. Nơi mà độc đảng để độc quyền, độc quyền để độc trị, độc trị để độc tôn, từ ngôn ngữ học tri thức tới xã hội học nhận thức, chúng ta phải nhận diện độc không phải chỉ là một từ mà là một hệ (đó là một hệ dây chuyền của cơ chế tạo ra một mạng lưới của chế độ), mà thí dụ hiển nhiên là hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc quyền, độc trị, độc trị, độc tôn). Chính hệ độc này đã cho sinh đôi ra hệ mang trá đôi con là hệ quyền (cướp quyền, lạm quyền, cực quyền, cuồng quyền, tham quyền) là anh em sinh đôi với hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền).

Nên ý đảng chính là ý đồ tuyệt đối của mọi man trá đôi, nơi mà lòng dân chỉ có để các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trục lợi để vụ lợi, moi lợi để hốt lời, nạo lợi để vét lời. Mà thí dụ trắng trợn ngày ngày diễn ra trước xã hội là sự man trá đôi có trong hành tác đôi là vơ vét tiền bạc của đồng bào cùng lúc nạo vét tài nguyên của đất nước : điếm vốn để điếm lợi ! Dân tộc đã nhận ra sự man trá đôi vô cùng bẩn thỉu của đám đang cầm quyền bằng chính tục ngữ hiện đại, vạch mặt chỉ tên để nhận diện tư cách của bọn tội đồ của sự man trá đôi : mưu hèn kế bẩn. Chúng không có tư cách thì làm sao chúng có phong cách để lãnh đạo, nên tục ngữ hiện đại đã lột trần được bản lai diện mục của chúng là : hèn với giặc, ác với dân, một nhận định rất chính xác đối với bọn cướp quyền của dân tộc để điếm vốn với ngoại bang !

Sự man trá đôi có thượng nguồn của nó từ khi người cha đẻ sinh ra chủ thuyết cộng sản đã giải thích lịch sử con người là lịch sử của đấu tranh giai cấp, nơi mà giai cấp bị trị là giai cấp bị bóc lột bởi giai cấp thống trị vừa nắm thượng tầng kiến trúc để tổ chức xã hội, vừa kềm hạ tầng kiến trúc đã duy trì quan hệ xã hội bất công tới từ cơ chế người bóc lột người, và giai cấp bị bóc bột phải đứng lên để làm cách mạng để lật độ giai cấp thống trị bằng chuyên chính vô sản. Tại đây, sự man trá đôi xuất hiện tức khắc với các lãnh tụ của các đảng cộng sản vào đầu thế kỷ XX, từ Lenin tới Staline, từ Mao tới Hồ Chí Minh, nơi mà chuyên chính vô sản dù các lãnh tụ tới lãnh đạo đều biết đây chính là chuyên chính vô sản. Cướp chính quyền bằng bạo lực như cướp một vốn làm chủ từ thượng tầng tới hạ tầng để sau đó là điếm hóa quyền lực bằng công an trị, thanh trừng trị, tham ô trị, tuyên truyền trị, ngu dân trị… Khi liên minh học thuật giữa chính trị học tri thức, xã hội học quyền lực cùng sử học cơ chế đươc hình thành, thì tất cả lý lịch từ lãnh tụ tới lãnh đạo đều có các hằng số của sự man trá đôi, mà hằng số này ngày càng lộ, ngày càng rõ trong bản lai diện mục của các lãnh đạo, các quan chức hiện nay của Đảng cộng sản Việt Nam.

Hãy bắt đầu bằng sự man trá đôi giả vờ lấy lú lẫn để đánh lận con đen trước quần chúng của Tổng bí thư kiêm chủ tịch nước bằng tuyên bố đôi kiểu cờ gian bạc lận trước những người liêm chính : "chưa bao giờ đất nước được như ngày hôm nay" cùng lúc "không biết tới cuối thế kỷ này đất nước có tới được xã hội chủ nghĩa không ?". Theo triết học phân tích khi song hành với phân tâm học ngôn ngữ, thì mọi sự man trá đôi điều có mâu thuẫn nội tại của nó. Tổ tiên Việt không lầm khi lột mặt nạ bọn này là : "khôn quá hóa dại", nên chúng không biết là trong man ngôn trá ngữ của chúng, thì chính chúng là nạn nhân của hài kịch : "câu trước đá câu sau". Mà thảm cảnh là con dân Việt hiện nay phải làm lao nô cho các chính sách đôi của Đảng cộng sản Việt Nam là xuất khẩu lao động để vơ hốt ngoại tệ, cùng lúc chủ mưu trong tà lộ buôn người ; trai thì làm lao nô, gái thì làm nô tỳ cho các quốc gia láng giềng mà trong lịch sử về tri thức thì những dân tộc của các quốc gia không hề hơn người Việt.

Sự man trá đôi cũng là phản xạ của một tên thủ tướng mang tiếng là đại diện cho hành pháp, nhưng luôn có phản xạ đi ăn xin xứ cờ hoa từ viện trợ tới xuất khẩu, vậy mà trong đại dịch năm 2020 này lại xảo ngôn là "Nếu cột đèn tại Mỹ mà biết đi, thì chúng cũng đi tìm Việt Nam mà tới", một điếm ngữ trong bi cảnh hiện nay của gần một trăm triệu đồng bào đang phải sống trước sự đe dọa của đại dịch đang trùm phủ lên toàn đất nước, cùng lúc không thấy chính phủ của tên xảo ngôn này có chính sách mua thuốc chủng ngừa cho dân chúng chưa ? Trong khi đó từ Hoa Kỳ tới Âu châu đã bắt đầu chích ngừa từ nhiều tuần nay.

Hành pháp thì xảo ngôn điếm ngữ, còn lập pháp thì không phải là lập quyền mà là tật quyền với tuyên bố man trá đôi của bà chủ tịch Quốc hội với điêu lời điếm lưỡi là : "Về chuyện đặc khu, thì Bộ Chính trị đã quyết định rồi, Quốc hội chỉ cần bỏ phiếu để ra luật thôi". Sự man trá đôi luôn gây ra cái lợm giọng ngay trong trí lực của người nghe, gây ra chuyện buồn nôn ngay trong tâm lực của người phải "chịu trận" sự man trá đôi. Mà kẻ phát ngôn chính là tác giả của sự man trá đôi, nghịch đời là chúng không biết là từ dân tộc trong nước tới thiên hạ ngoài nước đang lợm giọng, đang buồn nôn vì lời lẽ của chúng, đây chính là hậu quả đôi của người liêm chính trước kẻ bất chính có chủ mưu gian trá đôi.

Lợm giọngbuồn nôn vẫn chưa đủ, chuyện làm cho cả nước "rởn da gà" là cái mất dạy đôi của tên Bộ trưởng Bộ Giáo dục hiện nay, kẻ đã buôn bằng bán cấp để mua chức bán quyền khi hắn đã mất dạy ngay trong việc đạo văn để tổ chức gian lận đôi, cả học vị lẫn học hàm. Và chính hắn đã có mất dạy đôi ngay trong nhân cách của hắn khi phát biểu trong hội nghị, trước quần chúng với một cánh tay chỉ trỏ thô lậu, và một cánh tay đút chui trong quần một cách thô tục. Cái mất dạy đôi của hắn đã là phản ứng phủi lỗi để trở thành phản xạ che tội cho đồng bọn, khi hắn ăn nói nước đôi : "Tự điển còn phải đính chính nói chi tới sách giáo khoa" để lấp liếm tội lỗi của đám soạn sách giáo khoa, cũng mất dạy đôi như hắn bất tài nhưng lại muốn đi dạy thiên hạ. Hiện nạn làm nên hậu nạn của Việt tộc là để bọn vô loàivô học đang vô hậu hóa cả một giống nòi !

Sự man trá đôi sinh đôi ra âm binh đôi từ đục nước béo cò trong tham ô tới bọn thừa gió bẻ măng trong tham nhũng ; với đám tham quan cha ăn trên ngồi trốc cho tới bọn tham quan con gà què ăn quẩn cối xay, đã sinh ra loại họa ngôn hoạn ngữ của một bà quan chức của thành Hồ là : "Con quan mà làm quan là hồng phúc cho dân tộc", nơi mà tâm lý học giáo dục khi liên kết với tâm thần học trí lực để nhận ra tâm bịnh của loại người này là khuyết não lý trí đã tạo ra khuyết tật ngay trong trí tuệ, nên Việt tộc đừng mong là loại lãnh đạo này có tuệ giác tối thiểu để cưu man giống nòi.

Sự man trá đôi đi từ trên xuống dưới, từ lãnh tụ tới lãnh đạo, từ bộ trưởng tới tướng lĩnh của một cơ chế luôn sinh ra loại âm binh đôi vong ân bội nghĩa, loại này chỉ biết vơ vét tiền bạc của đồng bào và nạo vét tài nguyên của đất nước, cho tới khi vào tù rồi ra tòa thì chúng không hề biết lời xin tha thứ đôi là : xin lỗi đồng bào và xin lỗi xã hội. Mà chúng chỉ biết xảo ngôn điếm ngữ chỉ xin tha tội trước đảng trưởng của chúng, cùng với các lời tự thú đôi vừa tồi, vừa hèn là : chúng vừa bất tài, lại vừa đang lâm trọng bịnh. Đây là hành vi tự điếm nhục đôi : tự thô bỉ nhân cách của chúng để tự chôn sống nhân vị của chúng.

Sự mang trá đôi là bản chất làm nên bản sắc của các lãnh đạo, các quan chức của Đảng cộng sản Việt Nam, phải là một đề tài học thuật sâu, nghiên cứu rộng của khoa học xã hội và nhân văn, với khảo sát song hành cùng điều tra từ cơ chế tới thể chế, nơi mà Đảng cộng sản Việt Nam đang áp đặt lên nhân kiếp của Việt tộc một hậu nạn đôi : dân tộc đã bị man trá hóa, giống nòi đang bị điếm nhục hóa.

doiluan7

Tri thức nhân quyền chính là hùng lực để thay đời đổi kiếp cả giòng sinh mệnh của nhân loại theo hướng thăng hoa trong những năm tháng tới.

7. Dân-Chủ-Nhân-Quyền

Tri thức dân chủ không chỉ được sử dụng để xây dựng chế độ dân chủ, mà tri thức này chính là tổng luận tri thức tới từ các kiến thức của nhân sinh mà khoa học xã hội nhân văn tổng kết được. Tri thức nhân quyền không chỉ được vận dụng để bảo vệ nhân quyền cho những cộng đồng, những tập thể, những cá nhân trước các bạo quyền độc tài hay độc đảng, như thảm họa nhân quyền của Việt Nam hiện nay dưới bạo quyền của Đảng cộng sản Việt Nam. Mà tri thức nhân quyền chính là hùng lực để thay đời đổi kiếp cả giòng sinh mệnh của nhân loại theo hướng thăng hoa trong những năm tháng tới. Đây chính là thượng nguồn của sự khai sinh ra không gian tri thức dân-chủ-nhân-quyền.

Con đường dấn thân vì dân chủ và con đường đấu tranh vì nhân quyền không hề phẳng lặng mà đầy chông gai, hai con đường này tưởng là song hành nhưng thực ra chỉ là một, đó là xa lộ cao tốc của dân-làm-chủ để chống lại tà hệ của một thiểu số mang ý đồ tư lợi hóa quyền lực, để biến công ích thành tư lợi. Mà thiểu số này khi cướp được chính quyền thì sẽ biến tư lợi thành đặc lợi, đặc quyền thành đặc ân. Nên con đường dấn thân vì dân chủ và con đường đấu tranh vì nhân quyền không hề là con đường đi bộ đầy hoa, hay con đường thủy biển êm sóng lặng.

Trong lịch sử của nhân loại, thì những người liêm chính muốn đi trên con đường dân-chủ-nhân-quyền luôn bị trù dập, tù đày, hãm hại, khủng bố, ám sát, thủ tiêu bởi đám âm binh không nhân tính, trống nhân lý, rỗng nhân đạo. Chúng là ma xó của đặc quyền, ma trơi của đặc lợi, ma bùn của đặc ân, nên mỗi lần ánh sáng của dân-chủ-nhân-quyền đại diện cho lẽ phải xuất hiện là chúng chui, luồn, rút, trốn vào bóng tối âm giới của chúng, để rình rập với phản ứng mà dân gian gọi là chó cắn trộm, với phản xạ của quỷ tà mà các nạn nhận trong nhóm Nhân văn giai phẩm gợi là bọn chém sau lưng người lương thiện có lương tâm dân chủ, có lương tri nhân quyền.

Dù con đường dân-chủ-nhân-quyền này còn nhiều chông gai, còn lắm thử thách, lại dư thừa thăng trầm, nhưng tình hình mới của thế kỷ XXI này ngày càng sáng sủa hơn với toàn cầu hóa thông tin tức khắc qua truyền thông tức thì. So với thế kỷ XX qua, thì hiện nay chúng ta không bị đe dọa bởi các cuộc thế chiến như hai cuộc thế chiến của thế kỷ qua, và chính các liên hiệp châu lục và liên minh liên châu lục là thực lực để ngăn chặn chiến tranh, đây chính là rào chặn thế chiến, mà Liên hiệp Âu châu là một thí dụ sinh động.

Còn đám âm binh quá kích lạm dụng đạo giáo, mà Hồi giáo đang là nạn nhân của chúng, để chúng cực đoan trong khủng bố, thì đám này lại đồng hội đồng thuyền với đám độc tài quân phiệt, cả hai đám này cũng là đám ngồi cùng chiếu ăn cùng mâm với đám độc đảng toàn trị kiểu Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên. Cả ba đám cá mè một lứa này chỉ là bọn thổ phỉ bằng quyền lực, ngày đêm rình rập để ăn tươi nuốt sống mọi sự phát triển dân-chủ-nhân-quyền ; nên tà kiếp của chúng chỉ là loại ăn nhờ ở đậu trong nhân gian. Nếu lấy một loạt chỉ báo của hệ nhân (nhân tâm, nhân từ, nhân nghĩa, nhân đạo, nhân bản, nhân văn, nhân tri, nhân trí…) thì tuổi thọ của chúng rất thấp, chính chúng cũng biết là chúng có ngày phải chết yểu trước hệ nhân này, và mọi tà kiếp đều sẽ chết bất đắc kỳ tử.

Thuần lý về học thuật, thì phải xem nay để xét xưa, thấy hiện tại để thấu quá khứ, mà hiểu cho ra lý, ra lẽ, mà cụ thể là các học thuyết tới triết học sử (lấy triết học để suy diễn lịch sử) không những đều sai lầm nặng nề, mà còn gây ra các thảm họa cho nhân loại. Trong đó có triết học sử của Marx giải thích lịch sử nhân loại bằng quá trình đấu tranh giai cấp, rồi đưa tà dẫn quỷ qua con đường suy diễn là vật chất quyết định trí tuệ, nơi mà dân chủ không hề có chỗ đứng, nơi mà nhân quyền không hề có ghế ngồi. Nên từ đây, giới học thuật của khoa học xã hội và nhân văn khi đi vào nghiên cứu để điều tra, đi vào khảo sát để điền dã, thì nên gạt ra loại triết học sử này, mà ngược lại phải xem để xét sử học triết (dựa vào sử học để diễn luận triết).

Từ đây học thuật sẽ dựa vào sự thật của quá khứ để tìm ra chân lý của tương lai, cụ thể nương vào lịch sử để xây dựng triết học, với lý trí bình tĩnh là có lý thuyết sai phải bị xóa bỏ đi bởi các lý thuyết đúng. Với sự cẩn trọng của trí tuệ sáng suốt là các lý thuyết sai có thể được tận dụng để cướp của giết người như thảm họa độc đảng toàn trị kiểu Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên hiện nay. Một lý trí bình tĩnh song hành để chung lưng đấu cật cùng một trí tuệ sáng suốt sẽ xây dựng được một tuệ giác thông thái ngay trong giới học thuật, từ nghiên cứu tới điều tra, từ khảo sát tới điền dã. Một công hai việc, cùng lúc học giới sẽ đưa nền học thuật của Việt Nam ra khỏi hệ nạn (tai nạn, hiểm nạn, họa nạn, hoạn nạn) của tà giới hiện nay là học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả.

Tri thức dân chủ không chỉ được sử dụng để xây dựng chế độ dân chủ, tri thức nhân quyền không chỉ được vận dụng để bảo vệ nhân quyền trong nhân sinh, mà cả hai là nội lực của sự thông minh biết đường đi nẻo về của một nhân sinh quan vì nhân phẩm. Cả hai là còn là sung lực của sự thông thạo biết đi tới nơi về tới chốn của một thế giới quan vì nhân bản. Cả hai sẽ là hùng lực của sự thông thái biết trời cao đất rộng của một vũ trụ quan, nơi mà nhân loại biết tự bảo vệ mình, cùng lúc biết bảo quản thiên nhiên, môi trường, chung sống thái hòa với mọi sinh linh trên quả địa cầu này.

doiluan8

8. Nhân sinh tự chủ

Khi con người trong thế một cổ ba tròng : tôn giáo toàn quyền, quân chủ độc quyền, tham quan lộng quyền thuở xa xưa, thì nhân loại tưởng chừng như lịch sử không có lối ra, vậy mà nhân sinh có nhân trí vẫn có lối ra bằng cách mạng công nghệ, kinh tế thị trường, tự do thương mại... Vậy mà với thế kỷ XX, từ chế độ cộng sản kiểu Liên sô tới chế độ Đức quốc xã, lịch sử lại rơi vào ngõ cụt, lần nầy cũng vậy tưởng chừng như không có lối thoát, vậy mà nhân loại vẫn thông minh vẫn chọn văn minh dân chủ, từ Tây Âu tới Bắc Mỹ để vượt thắng mọi bạo quyền này. Đây là câu chuyện của một nhân sinh biết sử dụng công bằng, biết vận dụng công lý, biết tận dụng công luận, để vượt thoát rồi vượt thắng các bạo quyền chống dân chủ, phản nhân quyền.

Khi nhìn lại thế kỷ ánh sáng XVIII, chỉ vài tư tưởng gia : Diderot, Montesquieu, Rousseau, Voltaire… với lý luận vì dân chủ để lập luận vì nhân quyền, đưa nhân loại qua một quỷ đạo hoàn toàn mới với giải luận về tam quyền phân lập. Những ai không thấy để thấu từ nội công tới bản lĩnh của tam quyền phân lập thì thường nghĩ rằng cơ chế tam quyền này hình như bị ngưng động lại ngay trong định chế dân chủ, bất di bất dịch, từ Tây Âu tới Bắc Mỹ, dường như chẳng có gì thay đổi từ hơn hai thế kỷ nay. Hãy xem tới nơi để xét tới chốn là có rất nhiều thay đổi theo hướng thăng hoa, nơi mà dân chủ là văn minh vì nhân sinh, và nhân quyền là văn hiến vì nhân loại. Đây là một bước tiến vạn dặm ngay trong não trạng của nhân sinh, từ một cổ ba tròng (tôn giáo toàn quyền, quân chủ độc quyền, tham quan lộng quyền) thuở nào, giờ đây nhân sinh đã biết tự giải thoát bằng :

- Sử tính, hiểu lịch sử để làm khá hơn lịch sử, thấu cái xưa để làm tốt cái nay, rồi làm đẹp cái mai, làm lành cái hậu, đây chính là định nghĩa về sự thông thái của nhân sinh. Con người ra khỏi bóng tối của bất công thì phải nhìn về phía có ánh sáng của công lý biết làm nên công bằng để nhận ra vừa sự thực của nhân vị, vừa chân lý của nhân bản, vừa lẽ phải của nhân lý.

- Chính tri, biết làm nên chính trị, nơi mà định chế dựa vào tự do, nơi mà cơ chế nương vào công bằng, nơi mà chế độ tin vào bác ái, được kiểm nghiệm qua đầu phiếu, ứng cử và tranh cử như một sân chơi trong sạch, dựa vào luật chơi trong sáng : định kỳ của chính quyền chỉ là nhiệm kỳ của chính phủ.

- Luật pháp, nơi mà tư pháp giữ khoảng cách liêm chính với lập pháp, nghiêm minh với hành pháp, không ai đứng ngoài luật, và công luật đại diện cho công lý để xét rồi xử một cách liêm khiết mọi vị phạm luật pháp của bạo quyền, của tà quyền, của ma quyền, bất chấp lý lịch và quyền lực của nó.

Liên minh sử tính-chính tri-luật pháp chính là sự trưởng thành của tam quyền phân lập, sự trưởng thành tới với ba nội công mới của dân chủ, như ba bản lĩnh mới của nhân quyền :

- Nhân sinh tự chủ tới từ kinh tế tự lập, trong các châu lục có văn minh dân chủ, văn hiến nhân quyền thì tự lập về kinh tế đã tạo ra tự do về thương mại, làm nên sức bật, tạo ra dàn nhún để phát triển kinh tế mà kết quả tích cực được thấy rõ trong tiến bộ của nhân sinh ngày càng tự chủ tự sản xuất tới tiêu thụ. Tự chủ để tự lập để nhận ra là nhân loại được đứng độc lập trước ba hoạn lực (tôn giáo toàn quyền, quân chủ độc quyền, tham quan lộng quyền) thuở nọ.

- Nhân sinh tự chủ tới từ khoa học kỹ thuật tự tiến, biết tạo năng suất trong công nghệ, tạo hiệu quả trong công nghiệp, và trong các châu lục có văn minh dân chủ, văn hiến nhân quyền thì tự tiến bằng khoa học kỹ thuật luôn. Đây vừa là một hằng số của phát tri- ển kinh tế lẫn tiến bộ xã hội, lại vừa là thành quả không những tích cực mà làm còn đưa nhân loại theo hướng thăng hoa. Để nhân sinh thấy cho thấu sự liên kết của phát triển-tiến bộ-văn minh chỉ là một không gian, một lãnh thổ, không hề có biên giới tách biệt.

- Nhân sinh tự chủ tới xã hôi dân sự tự sinh, đây là bước đi thật xa về dân chủ, thật cao về nhân quyền, thật rộng về nhân tri, thật sâu về nhân phẩm, nơi mà các giá trị của cộng hòa (tự do, công bằng, bác ái) chính là hành tác thường nhật của xã hội dân sự. Nơi đây, công dân không chỉ đi bầu rồi trao thân gởi phận cho một chính quyền được định kỳ, mà công dân còn biết tự thành lập các hội đoàn, các tập thể, các cộng đồng qua các tổ chức xã hội, sinh hoạt xã hội qua quan hệ xã hội. Từ đó, ngày ngày, tuần tuần, tháng tháng xem để xét, cụ thể là cân, đo, đóng, đếm từ hành vi tới hành động của lập pháp, từ chính sách tới quốc sách của hành pháp, từ liêm minh tới nghiêm minh của tư pháp.

- Nhân sinh tự chủ đã gạt đi rồi tôn giáo toàn quyền, quân chủ độc quyền, tham quan lộng quyền thuở xa xưa, bóng tối lịch sử này xem như đã dứt kiếp trước nhân loại biết bảo vệ nhân sinh bằng dân chủ và nhân quyền. Phạm trù nhân sinh tự chủ từ chính tri tới luật pháp, từ kinh tế tới thương mại, từ kỹ thuật tới công nghiệp, từ khoa học tới xã hội…

Chính là con đường đi lên, đi cao, đi rộng, đi xa của nhân sinh qua phương trình tự lập-tự tiến-tự sinh của nhân sinh tự chủ một chân lý làm ngời sáng dân chủ, làm rực sáng nhân quyền. Nhưng đây lại là ác mộng của bạo quyền độc đảng toàn trị, tà quyền tham nhũng trị, quỷ quyền công an trị, mà Việt tộc đang là nạn nhân. Vì chúng luôn tìm mọi cách ngăn, chặn, truy, diệt nhân sinh tự chủ, vì chúng biết hơn ai hết nhân sinh tự chủ sẽ trực tiếp xóa, gạt, vứt, chôn đi các đặc quyền, đặc lợi, đặc ân của chúng do chúng tạo ra cho chính chúng !

Lê Hữu Khóa

(18/01/2021)


[1] Xem bài : KHÔNG CÓ CHỮ THƯƠNG, trong ĐỐI LUẬN, nxb ANTHROPOL-ASIE, 2021. Paris.

-------------------

Lê Hữu Khóa là Giáo sư Đại học* Giám đốc Ban Cao học Châu Á * Giám đốc biên tập Anthropol-Asie * Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á * Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCO – Liên Hiệp Quốc * Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa Paris * Cố vấn thẩm định giáo dục và nghiên cứu đại học Bourgone-Franche-Comté * Biên tập viên tập chí Hommes&Migrations * Thành viên Hội đồng khoa học bảo tàng lịch sử nhập cư Hội viên danh dự nhóm Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới

Quay lại trang chủ

Additional Info

  • Author: Lê Hữu Khóa
Read 304 times

Viết bình luận

Phải xác tín nội dung bài viết đáp ứng tất cả những yêu cầu của thông tin được đánh dấu bằng ký hiệu (*)