Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Published in

Tư liệu

28/05/2021

Giải luận 6 : Quyền lực

Lê Hữu Khóa

Quyền lực

quyenluc1

Bạo cực cuồng quyền

Tôi chống bạo quyền không chỉ vì nó dùng bạo lực với đồng bào tôi, bạo hành với giống nòi tôi, mà tôi chống bạo quyền vì trong não bộ của nó không có chỗ đứng cho nhân vị của tha nhân mà chính tôi cũng chưa được gặp. Tôi chống cực quyền không chỉ vì nó cực đoan để độc quyền, cực độc để toàn quyền, mà tôi chống cực quyền vì não trạng của nó không có ghế ngồi cho nhân giáo của tổ tiên tôi mà chính tôi cũng chưa được gặp. Tôi chống cuồng quyền không chỉ vì nó cuồng mê trước đặc quyền của nó, cuồng điên trước đặc lợi của nó, mà tôi chống cuồng quyền vì não dại của nó không có giường nằm cho các đồng loại của tôi đang thập tử nhất sinh với bao nan bịnh vì đã là nạn nhân của nó !

Biệt tích âm binh

Tôi tuổi nặng sắp qua đời, tôi có giữ 5 chiếc chìa khóa của 5 con đường hầm đầy những âm binh luôn muốn trồi lên cõi người để đoạt hồn nhân sinh. Tôi muốn trao lại bạn, để bạn thay tôi canh giữ cõi đời, bảo vệ cõi người.

Chìa khóa thứ nhất là cửa đóng chận luồng lửa bạo quyền của công an trị. Chìa khóa thứ nhì là cửa đóng chận luồng âm khí tà quyền của tham nhũng trị. Chìa khóa thứ ba là cửa đóng chận luồng nước đen ma quyền của tham tiền trị. Chìa khóa thứ tư là cửa đóng chận luồng sát khí cực quyền của gia đình trị. Chìa khóa thứ năm là cửa đóng chận luồng sát nhân cuồng quyền của đảng trị.

Nếu bạn không muốn giữ năm chiếc chìa khóa của năm con đường hầm để chận bọn âm binh này, thì bạn không nên trao cho một ai khác nhé, đừng để bất cứ một ai mở các đường hầm này để phóng thích bọn âm binh này. Nếu bạn không muốn giữ nữa, thì hãy ném các chìa khóa này xuống đại dương sâu, cho mất chúng mất tăm, mất tích, để các chìa khóa này biền biệt miệt đâu đâu ; để âm binh phải sống nơi âm giới, chúng không xứng đáng sống cõi người…

quyenluc2

Cái ác : cường độ, mức độ, mật độ

Hằng số bạo quyền trong hằng sử cuồng quyền chính là đường đi nẻo về của cái ác cực đoan để có cực quyền, khi nó muốn cai trị nhân sinh, thống trị nhân thế, quản thúc nhân loại, chỉ bằng cái ác vận dụng để giết cái tâm, diệt cái lý, chôn luôn cái luật. Nó tự cho nó cái quyền sinh sát : muốn giết thì giết, muốn diệt ai thì diệt. Cái ác cực đoan vì cực quyền có vóc dáng vĩ mô của nó trong điều tra định lượng nơi mà cái ác đã giết hại, truy diệt, thảm sát hàng trăm triệu người trong các chế độc do độc đảng cộng sản toàn trị, hơn hàng chục lần con số tử vong của mỗi cuộc thế chiến trong thế kỷ XX vừa qua, nó hiện diện trong Cải cách ruộng đất 1954-1960, với hàng trăm ngàn nạn nhân.

Khi cái ác cầm quyền

Khi cái ác cầm quyền thì nó đã cầm dao bằng tay phải, cầm súng tay trái, bụng đeo lựu đạn, vai đội đại bác, lưng cõng bom, mà miệng của nó đã nuốt chửng công bằng lẫn công lý từ lâu. Tự thân của cái ác không có luân lý của cái thiện làm nên bổn phận đồng bào phải đùm bọc nhau, với trách nhiệm đồng loại phải che chở nhau. Trong bản chất của cái ác không có đạo lý bầu ơi thương lấy bí cùng, làm nên đạo đức một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ ; để bảo vệ giáo lý của dân tộc, của giống nòi là : máu chảy tới đâu ruột đau tới đó. Nên nội chất của cái ác chính là độc tố của nó, sẵn sàng xóa trắng lương tâm, nên cái ác trống lương tri vì vắng lương thiện, hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri) không có chỗ đứng ghế ngồi trong thâm tâm nó, vì cái ác nạo luân lý, nhổ đạo lý, bứng đạo đức.

Cái ác : từ hiện loạn tới hậu nạn

Kẻ ác hành tác trong toan tính một chiều, nó là đứa trống vắng ý thức về các hậu quả làm ra bao hậu nạn mà kẻ ác là thủ phạm trực tiếp, gián tiếp ; nên khi chúng ta nghiên cứu về cái ác, thì không nên ngừng ở động thái ác mà phải đi sâu, đi xa hơn nữa để cân, đo, đong, đếm các hậu quả bây giờ sẽ thành chướng nghiệp với các hậu nạn mà các nạn nhân của cái ác phải nhận lãnh, đừng trông chờ kẻ ác lường hết mọi hiện loạn sẽ làm nên bao hậu nạn từ những hành động ác của nó.

Cái ác : gần cái chết, xa sự sống

Khi cái ác xuất hiện, nó thường là hiện thân cho cái chết, nó hăm dọa là sẽ giết hại các nạn nhân của nó nếu các nạn nhân này không tuân phục ý đồ của nó ; nó răn đe là sẽ tiêu diệt những cá nhân, những tập thể, những cộng đồng nào không tuân thủ các toan tính của nó ; nó quát nạt là sẽ truy sát những chủ thể, những phong trào, những nhân tố nào không phục tùng các âm mưu của nó. Từ hăm dọa, răn đe, quát nạt tới bắt bớ, tù đày, tra tấn chỉ là một bước ngắn đối với cái ác ; từ nhục hình, khổ hình, cực hình tới giết chóc, ám sát, tử hình, thủ tiêu chỉ là một bước gọn đối với nó. Cái ác sử dụng, vận dụng, tận dụng cái chết để gây sợ hãi, gieo kinh hoàng, tạo khiếp đảm giữa sự sống, bằng cách cái ác tự vỗ ngực xưng danh, tự đại diện cho cái chết để đe nẹt sự sống. Gần cái chết, xa sự sống, cái ác ăn ngủ không yên trong thời hiện đại của truyền thông trực tiếp, nơi mà toàn cầu hóa thông tin là hùng lực của sự thật, sung lực của chân lý, mãnh lực của lẽ phải.

Cái ác : mượn người để giết người

Phải tập hợp cả ba loại mặc cảm : mặc cảm tự ti, mặc cảm tội lỗi, mặc cảm bất nhân để đi sâu vào tâm bệnh của cái ác, nơi mà tâm thần học giải thích được phản xạ giết người diệt nhân luôn bị mất thăng bằng trên dàn phóng của cái chết. Giết người diệt nhân chính là giết người diệt thức, trong Việt sử kẻ ác giết không những chỉ Nguyễn Trãi, mà kẻ ác còn thi hành tru di tam tộc, giết từ gốc rễ lên tới tận ngọn cành. Truy diệt hệ nhân (nhân từ, nhân tâm, nhân nghĩa, nhân đạo, nhân lý, nhân tính, nhân bản, nhân văn, nhân vị, nhân quyền) để ám sát hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri), rồi tận diệt hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức, tỉnh thức), phải truy cùng diệt tận cả ba hệ này, cái ác mới tồn tại, kẻ ác mới tiếp tục ác thêm.

Tri thức kháng quyền lực

Hãy sáng ra quy luật kiếp chống kiếp, bằng cách lấy kiếp riêng chống lại kiếp chung, nếu kiếp chung là sản phẩm của khuất phục, hậu quả của nô dịch, tai ương của bất công, thì kiếp riêng phải đứng lên, đứng ra để nhập cuộc cho chuyện đổi kiếp, và nếu làm được chuyện này thì kiếp riêng thông minh vô cùng, vì nó có sức thao lược vô song. Chuyện một đời trí thức là chuyện lấy lý luận của kiếp riêng để soi sáng vừa bằng kiến thức, vừa bằng lập luận để thay đổi theo hướng thăng hoa kiếp chung, mà muốn làm được chuyện này thì phải hiểu ngay từ thượng nguồn câu chuyện thế nào là kiếp chống kiếp. Khi triết học, sử học, xã hội học hợp lực để thấy cho thấu các hiện tượng khuất phục, nô dịch, bất công từ đâu ra ? Chúng có cùng cha sinh mẹ đẻ của chúng là quyền lực, mà tham quyền có trong chất người. Phạm trù quyền lực không những có trong chính trị, chính quyền, chính phủ mà có trong mọi cơ chế từ kinh tế qua văn hóa, từ thương mại qua giáo dục, từ nghệ thuật qua tâm linh... Để nhận diện ra là lãnh thổ của quyền lực có ở mọi nơi, chúng bất chấp biên giới, bao trùm lên kiếp người, có ngay trong phản xạ kẻ hiếp kiếp người, có ngay trong hơi thở rụt rè của kẻ bị cướp kiếp lành của mình. Quyền lực không những bao trùm tất cả mọi sinh hoạt xã hội, mọi quan hệ cộng đồng, mọi dự phóng tập thể, nó lan tỏa ngay trong khoa học, pháp lý, tình cảm là những lãnh vực được quý trọng nhất trong nhân sinh.

Tham quyền để lạm quyền

Câu chuyện dùng quyền lực để có quyền lợi từ đây mà ra tham quyền để lạm quyền cũng từ đây mà sinh sôi nẩy nở, nếu phải nghi ngờ các câu hỏi thì ta phải nghi ngại luôn các câu trả lời, nhất là các câu trả lời có sẵn công thức, có sẵn mô hình, có sẵn kinh nghiệm, vì kẻ trả lời cũng mang ý muốn-ý định-ý đồ đưa ta vào chủ ý-chủ đạo-chủ trương của họ. Chuyện này hoàn toàn đúng và được kiểm nghiệm mỗi ngày trong các chế độ độc tài và các chế độ toàn trị, kiểm soát nhân sinh bằng các câu hỏi kiểu công an trị với các câu trả lời kiểu quân đội trị.

quyenluc3

Sự thật chính trị

Chính định nghĩa về sự thật làm nền cho mọi hành động chính trị, sẽ loại khỏi ra sinh hoạt chính trị ít nhất là ba độc tố : thứ nhất là ý thức hệ không hề dựa vào sự thật ; thứ nhì là tuyên truyền độc tài không hề bám vào sự thật ; thứ ba là tuyên giáo độc đảng thì bất chấp sự thật. Chúng ta hãy đi xa hơn nữa trong định nghĩa về sự thật để tìm ra các định luận làm rễ cho mọi hành động chính trị có thực chất của hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri) đi tìm hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức) : không chỉ có một sự thật mà có nhiều sự thật, sự thật của nghệ thuật không phải là sự thật của kinh tế, và sự thật của khoa học không phải là sự thật của chính trị… Vậy thì, sự thật chính trị phải dựa trên một định nghĩa : sự thật là quá trình của thực tế làm nên quy trình cho thực tại, tại đây chính quá trình khi trở thành quy trình thì bản thân nó là kết quả của một công trình, hay ngược lại là hậu quả của một tác hại ngay trên dân tộc và đất nước mà chính quyền là thủ phạm.

Công trình của hành động chính trị

Tại sao lại đặt vấn đề một công trình của hành động chính trị ? Tại sao lại dùng ngữ pháp công trình ? Ta hãy đi xa thêm nữa trong lý luận : hành động chính trị mang đến kết quả tốt cho dân tộc, đưa đến hiệu quả hay cho nhân dân là một hành động đặc thù của một cá nhân lãnh tụ, một tập thể lãnh đạo có tính nhân quả tích cực lâu dài trong thời gian, rộng rãi trong không gian. Nó thay đời đổi kiếp cho đồng bào, cho đồng loại theo hướng thăng hoa, nó sẽ mang giá trị phổ quát cho nhân loại. Từ hành động đặc thù để có kết quả đặc trưng làm nên giá trị phổ quát cho mai hậu đây chính là định nghĩa để giải luận mọi hành động chính trị ; và "nói gần nói xa không qua nói (sự) thật" là cả thế kỷ XX cho tới thế kỷ XXI, Việt tộc chưa thấy một hành động chính trị nào có bản lĩnh của là kết quả một công trình đặc thù, có tầm vóc làm nên giá trị phổ quát cho Việt tộc.

Hành tác chính trị

Hành tác chính trị là động tác đưa vào hành động chính trị vào không gian và thời gian của sinh hoạt chính trị được điều hành bởi quyền lực chính trị (nắm chính quyền, lập chính phủ, dựng chính sách), nơi mà hiệu quả của hành tác chính trị được nhận định và đánh giá qua hiệu quả chính trị khi một cá nhân lãnh tụ, hay một tập thể lãnh đạo có quyền lực trong tay. Định nghĩa chính trị học này dùng quyền lực để nhận diện ra hành tác chính trị thật ra chưa đủ và chưa đúng, vì sau kinh nghiệm dân chủ đa nguyên của nhân loại trong hai thế kỷ qua, tại đây chính đa nguyên dựa trên đa đảng liên tục sáng tạo ra đa trí, đa tài, đa năng, đa hiệu… bó buộc chính giới và chính khách phải nới rộng ra định nghĩa này.

Nguồn cội công lý

Trong lịch sử chính trị của các quốc gia văn minh, có chính trị học để nhận định chính trường, có triết học chính trị để phân tích bổn phận của chính giới, có xã hội học chính trị để giải thích trách nhiệm của chính khách thì lý luận về công bằng là nguồn cội của mọi lập luận về công lý, cụ thể là không thể nào định nghĩa về công lý, mà không kèm theo một định nghĩa có tính thuyết phục cao về công bằng. Đây là một lỗi đã trở thành tội của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam đã tạo ra bất bình đẳng qua đặc quyềnđặc lợi cho đảng viên, từ cán bộ địa phương tới lãnh đạo trung ương, từ đó tạo ra bất công sâu xa ngay trong xã hội. Các khẩu hiệu Đảng là đầy tớ của nhân dân chỉ loại xảo ngôn của gian dối để lừa đảo ở mức trắng trợn vì các khẩu lịnh này rất thô bỉ với sự thực là Đảng cộng sản Việt Nam đã ngồi xổm lên tất cả ! Từ hiến pháp tới tư pháp, chà đạp công lý, vùi dập công pháp, chôn sống công luật.

Tự do chính trị

Tự do chính trị là một phạm trù gây ngộ nhận nhiều nhất trong không gian chính trị, khi ta nghiên cứu về chính trị, chính giới, chính khách khi có chính quyền trong tay, vì bản thân sự hiểu biết chủ quan về tự do là một con dao hai lưỡi ; và các thể chế độc đảng, các chế độ độc tài luôn dùng cách hiểu tự do chính trị tà đạo nhất để lập bạo quyền : có chính quyền là có quyền lực, thì muốn làm gì thì làm ! Gây ra những hậu quả không sao lường được, mà trên thượng nguồn là cách hiểu sai lệch về tự do, vì phạm trù tự do là một phạm trù không có quy phạm, cụ thể là không có mô thức tuyệt đối của đạo lý để kiểm soát nó, không có mô hình phổ quát của luân lý để kềm chế nó.

Con đường đạo lý chính trị

Đạo lý chính trị là hành trình của chính giớichính khách dùng chính quyền để thực thi các chính sách, để đi tìm các điều hay, đẹp, tốt, lành cho quốc gia, cùng lúc bảo vệ văn hóa, bảo đảm văn minh, bảo tồn văn hiến cho dân tộc. Trên con đường đạo lý chính trị này, lịch sử chính trị thế giới vạch rõ cho ta một chân lý là chính quyền của trong các thể chế độc tài qua độc đảng là chính quyền của giai cấp thống trị, nhưng thực chất là của các nhóm lợi ích chóp bu có tổ chức như những tập đoàn tội phạm kiểu mafia, tức là khi chúng không lấy, giành, đoạt, chiếm được thì chúng sẽ trộm, cắp, cướp, giật. Loại chính quyền này hoàn toàn khác với chính quyền của đa số quần chúng qua đầu phiếu trong các cơ chế dân chủ, lấy cải tổ xã hội thay cách mạng sắt máu, lấy cải cách xã hội để xóa đói giảm nghèo, qua các chính sách lấy công bằng của công pháp để giới hạn bất bình đẳng trong xã hội ; lấy công lý qua công luật để ngăn chặn bất công trong xã hội. Nhân loại cũng đã đi và đã có kinh nghiệm qua các con đường từ tập thể hóa tới quốc hữu hóa các phương tiện sản xuất để giới hạn, để ngăn chặn chuyện người bóc lột người, để ngăn bất bình đẳng, để chặn bất công. Nhưng con đường này có giới hạn của nó, mà hiện nay các quốc gia càng dân chủ, các dân tộc càng văn minh thì phải tìm thêm các con đường mới, nơi mà nhân vị được bảo đảm bởi nhân quyền trong công bằng và tự do, mà không quên bác ái.

Có quyền-lạm quyền-nắm quyền-tham quyền

Hãy công nhận một chân lý là khi một cá nhân, một tập thể, một đảng phái : có quyền rồi thì sẽ lạm quyền. Sự thật chính trị nắm quyền rồi lạm quyền, chân lý chính trị lạm quyền vì tham quyền tạo ra ung thư chính trị qua phương trình có quyền-lạm quyền-nắm quyền-tham quyền. Loại hoạn bịnh chính trị này bất chấp lẽ phải của luân lý chính trị, bất kể đạo đức chính trị làm nên nhân đức của một chính thể, vì vậy nên đạo lý chính trị phải bảo đảm hằng ngày vai trò trọng tài để cai quản và canh giữ chính quyền. Vì mọi công dân liêm chính đều có quyền nghi ngờ và nghi ngại loại hoạn bịnh chính trị : có quyền-lạm quyền-nắm quyền-tham quyền này ! Tại sao khi ta là công dân mà lại đặt câu hỏi này : chính trị là gì ? Ta đặt câu hỏi này nhưng chính ta phải tự tìm câu trả lời : Ta đặt câu hỏi này tại vì tôi không muốn bị lừa bởi chính trị !

quyenluc4

Quyền lực đen

Quyền lực đen, đây là khu vực mà xã hội đen chỉ là âm binh, còn bọn nắm quyền lực đen là những âm tướng, mà có khi chúng tự vỗ ngực là âm chủ, mà hành động luồn lách trong tà quyền, với hành tác chui nhủi trong ma quyền, mà các chuyên gia đã nhận diện ra chúng ngay trong hệ thống bạo quyền độc đảng toàn trị hiện nay. Chúng có mặt trong não bộ đen của cực quyền, trong não trạng đen của cuồng quyền, đối với Đảng cộng sản Việt Nam, thì chúng là tác nhân ngay trong cột xương sống hàng dọc : Bộ Chính trị, Ban bí thư trung ương, Ban tổ chức trung ương ; cùng đồng điệu với bộ xương vai hàng ngang : Bộ Công an, Bộ Quốc phòng.

Nội bộ : ung thư nội tạng đại tràng

Quyền lực đen sẵn sàng cướp ngày, giết đêm mọi công dân nạn nhân đang đấu tranh giữ đất của mình. Bộ Công an ngày ngày có phản xạ cướp đất giết người, là trung tâm tập hợp bọn thích giết người để lấy đất, bọn thích tra tấn nhân dân trong nhục hình để ép cung. Một đất nước mà số tử vong trong đồn công an, trong các trại tù có thống kê cao bất thường bởi cách hành xử bất nhân, cách hành sát thất đức của chúng. Từ Thủ Thiêm tới Đồng Tâm, mọi vùng miền của đất nước đều có dân oan, nơi mà các chuyên gia gọi tên Việt Nam là một cường quốc dân oan. Như vậy, trong hệ thống bạo quyền độc đảng toàn trị này, thì chúng không quá 50 tác nhân, vừa là thủ phạm, vừa là tội đồ của bạo quyền công an trị, tà quyền tham nhũng trị, ma quyền tham tiền trị, cực quyền bạo lực trị và cuồng quyền thanh trừng trị. Khi đi vào sâu trong khảo sát, để đi rộng trong điều tra, để đi xa trong điền dã, rồi leo ngược lên hệ thống quyền lực đen này, thì ung thư nội tạng ngay nội bộ buôn dân bán nước đã thành đại tràng qua mua chức bán quyền tràn lan ngay trong xã hội.

Chủ thể Việt tộc

Một chính quyền mới với các chủ thể Việt tộc quý văn minh dân chủ, trọng văn hiến nhân quyền, nhận trọn vẹn bổn phận với dân tộc, nhận đầy đủ trách nhiệm với giống nòi là : thiếu nợ thì phải trả nợ ! Không rơi vào thói tham quan thô bỉ của tham quyền thô tục trong chế độ độc đảng trị tham nhũng trị là vơ vét của cải tiền tài của dân tộc cùng tài nguyên, quặng mỏ của đất nước, và khi Tàu tặc giở trò thôn tính, xâm lăng, đồng hóa Việt tộc, thì bọn tham ô này sẽ cao bay xa chạy qua các nước phương Tây.

Nợ công

Các chủ thể Việt tộc quý văn minh dân chủ, trọng văn hiến nhân quyền, sẽ có mặt trong chính quyền mới có bổn phận với dân tộc, có trách nhiệm với giống nòi cũng phải luyện tập xa lánh luôn thái độ ích kỷ trong vô trách nhiệm, hành vi vị kỷ trong vô minh của một số chính quyền phương Tây. Họ mang tiếng là quý văn minh dân chủ, trọng văn hiến nhân quyền với nan bịnh : "Không muốn có bịnh, không muốn chữa bịnh, không muốn bị lây bịnh ngay bây giờ". Đây là chuyện mà ta thấy rất rõ trong nửa thế kỷ bị nợ công của Tây Âu và Bắc Mỹ, không nhận nợ công, giả vờ không muốn nợ công, làm bộ không bị lây nợ công, nhưng thật ra nợ công đã nhiều nên đã đè nặng trên vai bao thế hệ trẻ đã và chưa ra đời. Không xem nợ công là khủng hoảng, là nan bịnh để thật lòng mà chạy chữa cho hết bịnh thì đừng mong nói chuyện, bàn chuyện, khơi chuyện về nhân bản.

Đại biểu quốc hội : "vỡ lẽ" vô tri

Khi gặp các đại biểu Việt hiện nay của Quốc hội Việt đang đại diện cho lập pháp, các chuyên gia của khoa học xã hội và nhân văn mới "vỡ lẽ" ra là các đại biểu này không có kiến thức lẫn tri thức về các tác giả có tác phẩm đã làm nền móng cho cộng hòa (tự do, công bằng, bác ái), đã làm rường cột dân chủ (đa nguyên, đa đảng) trực tiếp phục vụ cho nhân quyền. Cụ thể là các đại biểu hiện nay của Quốc hội không biết, không hiểu vì họ không đọc các tư tưởng gia đã đặt nền tảng từ định đề tới định luận về công bằng xã hội, về tự do ngôn luận. Các tác giả có tác phẩm làm gốc cội cho tam quyền phân lập. Rõ ràng là các đại biểu hiện nay của Quốc hội không biết, không hiểu vì là họ không đọc các tư tưởng gia đã khai sáng từ giải thích tới giải luận quy trình tam quyền phân lập.Vận dụng cái lý trong khoa học để đề nghị tận dụng cái lý trong tổ chức xã hội, tổ chức chính quyền, tổ chức luật pháp.

Cái lý chống cái ngu

Thông điệp trong mô thức của triết học tri thức của Kant : "Cái lý mà biết chống lại cái ngu dân, thì cái lý là cái lõi của sự thông minh trong nhân tri". Những điều hay lẽ phải này đã trở thành giáo khoa, giáo trình, giáo án cho học sinh thiếu niên tại các quốc gia có tiến bộ nhân lý, có văn minh nhân trí, tại sao nó lại vắng mặt, biệt dạng trong hệ thống giáo dục hiện nay trong tay độc đảng toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam. Và khi các lãnh tụ của Đảng cộng sản Việt Nam đang lãnh đạo từ chính quyền tới chính phủ phải rời vô kiến để có ý kiến về các cuộc cách mạng thực sự của nhân loại như : cách mạng khoa học trong khai phá kiến thức và tri thức, cách mạng chính trị trong khai sáng công bằng và tự do, cách mạng xã hội trong khai phóng dân chủ và nhân quyền.

Chống cuồng đạo, cực quyền ; chống lộng quyền, lạm quyền

Các hệ thống giáo dục của các quốc gia có văn minh dân chủ, có văn hóa nhân quyền, thì sân chơi là học thuật, trò chơi là học lực, và luật chơi là học thật. Chính phương trình học thuật-học lực-học thật là thực thể không đội trời chung với học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả ; nên độc đảng trị, công an trị, tham nhũng trị không có ghế ngồi trong giáo lý, giáo luận, giáo dục của các quốc gia có văn minh dân chủ. Nên tuyên truyền trị, ngu dân trị, vô học trị không có chỗ dựa, chỗ bám trong giáo khoa, giáo trình, giáo án của các quốc gia có văn hiến nhân quyền.

Khi vào sâu để khảo sát hệ thống giáo dục của các quốc gia, có văn minh dân chủ, có văn hiến nhân quyền, thì chúng ta thấy các học sinh thiếu niên cấp trung học phổ thông được học các giáo trình của sử học và triết học của thế kỷ khai sáng XVII và XVIII : chống cuồng đạo, cực quyền ; chống lộng quyền, lạm quyền để dựng khoan dung để xây độ lượng. Chống định kiến để xa tà kiến vì quá trình mưu cầu hạnh phúc. Ngược lại, hệ thống giáo dục của tuyên truyền trị-ngu dân trị-vô học trị mang hàm số kiểu : ơn Bác, ơn Đảng, để trá nhân giả nghĩa của một bạo quyền công an trị, của một tà quyền tham nhũng trị, của một ma quyền tham tiền trị, trong hành tác âm binh vừa ăn cướp vừa la làng, bóc lột dân tộc tới tận xương tủy, cùng lúc bắt buộc nhân dân phải mang ơn mình ! Đây không là vô học trong vô luân làm ra vô hậu trong vô luận thì còn là gì nữa !

Nội dung của công bằng, nội hàm của tự do, nội lực của dân chủ

Nếu độc đảng toàn trị giả danh dân chủ, giả hiệu tam quyền phân lập với các đại biểu hiện nay của Quốc hội vô kiến thức về dân chủ, vô tri thức về tam quyền phân lập. Họ có được chỗ, được ghế đại biểu qua buôn gian bán lận kiểu đảng cử dân bầu, hoặc họ thuộc loại chạy ghế đại biểu, chạy chỗ trong quốc hội bằng tiền kiểu mua chức bán quyền, qua hệ thống tham nhũng cũng do đảng lãnh đạo và quản lý. Từ đây, số phận của dân tộc là phải sống với quốc hội giả, nhân kiếp của giống nòi là phải sống với lập pháp gian, đây không phải là hậu quả của vô học làm nên hậu nạn trong vô hậu thì còn là gì nữa ? Học giả - thi giả- điểm giả - bằng giả để mua một chức quyền thật thì chỉ là chuyện đánh lận con đen, mạo danh thì không sao có được chính danh lập pháp của chính nghĩa lập hiến. Nếu mạo danh tam quyền phân lập, mạo dạng dân chủ với buôn gian bán lận bằng cao học giả, tiến sĩ giấy, bằng bằng cấp nơi mà học vị, học hàm mà không hề qua học thật bằng học lực, thì cũng chỉ là bọn buôn bằng bán cấp để buôn chức ban bán quyền mà thôi ! Bọn này sẽ không dám vào đào thật sâu nội dung của công bằng, xới thật rộng nội hàm của tự do, khơi thật cao nội lực của dân chủ.

Hậu đài là tham nhũng trị của mua chức bán quyền

Trong xã hội độc đảng trị hiện nay mà hậu đài là tham nhũng trị của mua chức bán quyền, mà hệ thống giáo dục mở cửa cho chuyện mua bằng bán cấp, với các hệ quả học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả, với tràn lan cao học giảtiến sĩ giấy, nên học vị giảhọc hàm giả là chuyện "cơm bữa" trong phản xạ vô học, trong phản ứng vô hậu. Ngược lại, chuyện khó là chuyện học thật để hiểu thấu bằng học lực, nên học thật bằng học lực phải nhận vai trò phản biện vì tri thức để chống lại học vị giảhọc hàm giả. Nhưng tại sao khi vô học lại là nguyên nhân của vô hậu ? Câu trả lời là khi không có giáo dục tử tế, và không được giáo dưỡng đàng hoàng, tức là vắng giáo lý, trống đạo lý, rỗng đạo đức, thì kẻ vô học sẽ chọn đường đi nẻo về của vô hậu qua tục quyền (ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau), qua bạo quyền (cá lớn nuốt cá bé), qua tà quyền (thừa nước đục thả câu), qua ma quyền (thừa gió bẻ măng), qua quỷ quyền (cõng rắn cắn gà nhà), qua điếm quyền (rước voi về dày mả tổ).

Đạo đức có hậu

Khi chúng ta khẳng định bằng các định luận trên là vô học không hề là chuyện bằng cấp qua học hàm, học vị, mà vô học có phản biện là có học của con người có giáo dục và được giáo dưỡng bằng giáo lý bằng đạo lý hay, đẹp, tốt, lành của tổ tiên, bằng đạo đức có hậu của trách nhiệm với đồng bào, đồng loại, của bổn phận với đất nước, với xã hội. Từ đây, hệ vấn đề làm nên hệ luận giúp chúng ta vừa có lý, vừa có luận, để dùng thảo luận để trao luận, mà cụ thể là để chống ngu dân trị bằng tuyên truyền trị của tuyên giáo độc đảng đang chủ trì hệ thống giáo dục quốc gia hiện nay. Tại các quốc gia có tiến bộ kinh tế, có phát triển khoa học, thì học sinh và sinh viên có một hệ thống giáo dục được trợ lực bởi văn minh của dân chủ, bởi văn hiến của nhân quyền giúp học sinh, sinh viên có lý trí tỉnh táo để chống bất công, có trí tuệ sáng suốt để bảo vệ công bằng, có tuệ giác nghiêm cẩn để đấu tranh vì công lý. Ngược lại, có những hệ thống giáo dục thui chột hóa lý trí, què quặt hóa trí tuệ, mù lòa hóa tuệ giác của học sinh sinh viên, đó là hệ thống giáo dục ngu dân trị hiện nay của Đảng cộng sản Việt Nam.

Văn minh dân chủ

Câu chuyện văn minh dân chủ vẫn là câu chuyện phân minh để phân định giữa chuyên chính vô tri và dân chủ minh tri. Văn minh dân chủ là một cuộc cách mạng rộng rãi nhất với tam quyền phân lập nhưng lại thường hay bị những lãnh đạo cộng sản chụp mũ rồi vu cáo là sản phẩm của tư sản, của tư bản, đây là loại vu khống rất hồ đồ, vì nếu để mọi dân tộc chọn lựa giữa độc đảng trong chuyên chính vô sản-vô học và đa nguyên trong đa đảng để vận dụng tối đa tài, đa trí, đa năng, đa hiệu… thì chắc chắn độc đảng sẽ thảm bại và phải giải tán trước đa nguyên. Không một chế độ độc đảng toàn trị nào hiện nay đang sống sót (Cuba, Triều Tiên, Trung Quốc, Việt Nam) có đủ liêm sỉ chính trị với liêm chính chế độ mà tổ chức tự do đầu phiếu. Vì chính quyền mà các độc đảng này đang nắm chính là của cướp được (cướp chính quyền), khó có chuyện kẻ cướp của lại trả lại của cải cho nạn nhân của nó.

Văn hiến nhân quyền

Câu chuyện văn hiến nhân quyền là một cuộc cách mạng sâu xa khi công bằng phải là nền của nhân lý, khi công lý phải là gốc của nhân tri để bảo vệ nhân vị bằng nhân bản và nhân văn. Nơi mà nhân quyền có mặt thì tự do của nhân lý và nhân trí sẽ có mặt ; nơi mà nhân quyền xuất hiện thì bác ái của nhân tâm và nhân từ sẽ xuất hiện ; nơi mà nhân quyền hiện diện thì công ích xã hội xuất hiện cùng với xã hội dân sự, luôn thông minh trong sáng tạo để bảo vệ và bảo đảm an sinh xã hội. Các lãnh tụ cộng sản thường tự vỗ ngực trong múa gậy vườn hoang để tự phô trương tính ưu việt của xã hội chủ nghĩa, rồi cộng sản chủ nghĩa, đây là lúc so ra mới biết ngắn dài theo giáo lý của tổ tiên Việt. Vì tự vỗ ngực rồi tự phô trương là mình ưu việt hơn người chỉ là trò láo, gian, xảo, lận, hãy phân tích công ích xã hội, an sinh xã hội như hai chỉ báo thực ; và phân định dân chủ, đa nguyên là hai chỉ báo nguồn, đã làm nên nhân quyền thì mọi việc sẽ được minh bạch ngay.

Ý đồ của ngu dân tập thể, ngu dân cộng đồng, ngu dân giống nòi

Từ ngày Hồ Chí Minh mang danh hiệu"ra đi tìm đường cứu nước" tới bây giờ đã là một thế kỷ, với chế độ độc đảng toàn trị không dân chủ, cũng chẳng nhân quyền, thì tri thức về tam quyền phân lập trong quy luật của đa nguyên không hề có chỗ đứng ghế ngồi trong độc đảng toàn của Đảng cộng sản Việt Nam ! Cụ thể sau một thế kỷ khi bị gieo trồng chuyên chính vô sản thì tất cả thế hệ sau Hồ Chí Minh do độc đảng giáo dục, do toàn trị giáo dưỡng thì họ cũng không biết gì thêm về thế kỷ XVIII với những ánh sáng của dân chủ, của nhân quyền. Đây là hậu quả mà cũng là hệ lụy của chế độ do Đảng cộng sản Việt Nam cố tình duy trì cho tới nay chỉ để bảo vệ đặc quyền, đặc lợi, đặc ân trong chuyên chính vô học-vô hậu. Mà ai cũng biết là mọi chính sách ngu dân đều dựa trên ý đồ ngu dân tập thể trong hành vi, ngu dân cộng đồng trong hành động, ngu dân giống nòi trong hành tác. Hậu quả ngu dân không sao lường hết được, nơi mà vốn vô học của nó đã thành quyết sách vô học hóa để trùm phủ lên nhân kiếp của Việt tộc, chủ xướng bởi tuyên truyền trị, chủ trì bởi ngu dân trị, chủ đạo bởi vô học trị. Lấy cái vô học để vùi lấp cái có học, bằng ý đồ truy diệt tới tận gốc rễ hệ thức (kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức, tâm thức).

Cái vô học không có học lực bằng học thật

Cái vô học của các lãnh đạo cộng sản không có học lực bằng học thật thì chúng luôn mượn giai cấp công nhân và nông dân vốn không có được các điều kiện thuận lợi để học hành tới nơi tới chốn ra làm bình phong ; từ đó giật dây hai giai cấp này trong đấu tranh giai cấp, mà thực chất là thanh trừng tri thức. Nơi đây, trí thức là nạn nhân trực tiếp hay gián tiếp để phủ lấp cái vô học của các lãnh đạo cộng sản, với ý đồ như hằng số trong toán học là thanh trừng cái có học, như hàm số trong toan tính thâm độc để thanh toán hệ thức (kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức, tâm thức). Khi cướp được chính quyền rồi, thì chính hai giai cấp công nhân và nông dân không hề được giáo dục tử tế, được giáo dưỡng đàng hoàng, với giáo khoa có lớp lang thứ tự của khoa học, với giáo trình có dây mơ rễ má của dân chủ, với giáo án lấy học thật làm học lực của nhân quyền, để nhận học vị trong liêm chính, để nhận học hàm trong liêm khiết.

quyenluc5

Quyền có tự do

Quyền lực của lãnh đạo thì ép uổng được sự phục tùng của những kẻ phục vụ nó ; và quyền lực này không có nghĩa lý gì, khi nó không được dân bầu ra. (Đây không phải là nhân tri của dân chủ đang lột mặt nạ của bạo quyền thì còn là gì nữa ?). Quyền có tự do là quyền của mỗi cá nhân, vận dụng tự do cá nhân để khai sáng chính nhân trí của mình, để biết tự bảo vệ mình. (Đây không phải là nhân tri của nhân quyền để tự phòng thân, lập thân, tiến thân còn là gì nữa ?). Quyền lực tới cuồng tín tạo ra cuồng quyền, tới tự mê tín, dị đoan, nó không tới từ cái lý biết lý luận, nên nó cường điệu trong cuồng loạn, nó bạo động trong dã man. (Đây không phải là nhân tri chống ngu dân trị, nhân trí chống vô học trị thì còn là gì nữa ?).

Quyền lực chính danh

Quyền lực chính danh phải có chính nghĩa tới từ sự chọn lựa của cái lý, tới từ đại chúng, quyền lực chính danh có chính nghĩa là quyền lực xứng đáng trao gởi qua dân quyết. (Đây không phải là nhân trí dân chủ song hành cùng nhân luận để chống độc quyền trị thì còn là gì nữa ?). Quyền lực trong chính trị là sự xác chứng không ai ra đời mà có quyền hành lên người khác, không ai có quyền lực trên cuộc đời của ai cả, tại đây quyền có tự do là quyền thiêng liêng như quyền có lý để lý luận. (Đây không phải là chính nghĩa của chính trị biết song cặp cùng nhân lý dân chủ để chống bạo quyền thì còn là gì nữa ?). Quyền lực biết phục nhân sinh và nhân loại là quyền lực dẹp đi chế độ nô lệ, dẹp luôn cuồng quyền trong cuồng tín, khử luôn ngu muội trong ngu dân, bứng luôn tà quyền gây tha hóa, để triệt luôn mọi nguồn gốc gây ra bất hạnh cho nhân loại. (Đây không phải là nhân trí tự do song cặp cùng nhân tri biết mưu cầu hạnh phúc thì còn là gì nữa ?).

Vô học còn dài vô học còn sâu

Vô học còn dài vì vô hậu còn sâu, nếu bao thế hệ học sinh trung học phổ thông không được biết gì về các cuộc cách mạng khai sáng nhân loại từ khoa học đến kỹ thuật, từ công bằng đến công lý, từ dân chủ đến nhân quyền, thì chúng ta cùng đồng loạt "vỡ lẽ""chưng hửng" để "té ngửa" rồi "té lăn" ra là từ bộ trưởng tới thứ trưởng của Bộ Giáo dục hiện nay, họ không hề biết gì về các giáo lý, giáo luận, giáo dục đã làm nên giáo khoa, giáo trình, giáo án từ các cuộc cách mạng khai sáng nhân loại của thế kỷ XVIII. Từ bộ trưởng này tới bộ trưởng kia, rồi lên cao hơn thủ tưởng, thì chúng ta chắc bẩm là các lãnh đạo trong chính phủ hiện nay không có một tri thức gì về các đề nghị từ công bằng tới tự do, từ dân chủ tới nhân quyền, không phải họ chỉ bị cấm bởi bạo quyền độc đảng toàn trị của họ mà thực sự là họ không biết, không hiểu vì không đọc, không học về các cuộc cách mạng khai sáng nhân loại của thế kỷ XVIII. Từ hành pháp bây giờ qua tới lập pháp, là các đại biểu quốc hội phải bảo vệ dân thì dân chúng không thấy trong tuyên bố hay trả lời phỏng vấn là các đại biểu quốc hội có chút kiến thức về các tác phẩm, có chút tri thức gì về các tác giả của các cuộc cách mạng khai sáng nhân loại của thế kỷ XVIII. Từ hành pháp, lập pháp giờ đây qua tới tư pháp, là các chánh án, các quan tòa của bạo quyền độc đảng toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam, mà đem ra so sánh với các luật sư thì kiến thức của họ vừa thấp vừa tục, về giáo lý, giáo luận, giáo dục của tam quyền phân lập ; vừa hèn vừa tồi về các tác phẩm, các tác giả của các cuộc cách mạng khai sáng nhân loại của thế kỷ XVIII.

Chìm trong vô học

Nếu cả ba : hành pháp, tư pháp, lập pháp đắm chìm trong vô học về dân chủ, về nhân quyền, đuối ngộp về công bằng, về tự do làm nên tiến bộ và văn minh, thì nếu đây không phải là vô hậu từ não trạng tới não bộ thì còn là gì nữa ? Hãy khoan trách móc các thầy cô, các học giả, các dịch giả phải học hành trong họa cảnh trên đe dưới búa, phải học tập trong hoạn cảnh cá nằm trên thớt của hệ thống giáo dục được điều khiển và điều hành bằng hệ độc (độc đảng, độc trị, độc quyền, độc tài, độc tôn). Hệ độc này thâm căn cố đế của chuyên chính vô học, với vốn vô học từ lãnh tụ đến lãnh đạo, chính là cha sinh mẹ đẻ của toàn bộ hệ thống giáo dục dựa vào vô học trị, sống nhờ tuyên truyền trị, có cột trụ của ngu dân trị.

Trốn đối thoại, lách đối luận, tránh đối lý

Hãy phân tích cụ thể là các bộ trưởng, thứ trưởng tới các lãnh đạo vụ, ban, ngành được hỏi là có các tác phẩm hay của các tác giả lớn của nhân loại được dịch ra tiếng Việt rồi thì tại sao các tác phẩm và các tác giả này không được đưa vào giáo khoa và giáo trình của hệ thống giáo dục hiện nay, thì chúng ta không có một câu trả lời nào thỏa đáng tới từ bộ trưởng, thứ trưởng, các lãnh đạo vụ, ban, ngành đang có trách nhiệm với hệ thống giáo dục hiện nay. Các bộ trưởng, thứ trưởng tới các lãnh đạo vụ, ban, ngành được hỏi là có các tác phẩm hay của các tác giả lớn của nhân loại được dịch ra tiếng Việt rồi thì tại sao các tác phẩm và các tác giả này không là chủ đề của hội nghị, hội thảo, hội luận trong giới học thuật và nghiên cứu, thì chúng ta không có một câu trả lời nào chỉnh lý tới từ bộ trưởng, thứ trưởng, các lãnh đạo vụ, ban, ngành đang có trách nhiệm với hệ thống giáo dục hiện nay. Các bộ trưởng, thứ trưởng tới các lãnh đạo vụ, ban, ngành được hỏi là có các tác phẩm hay của các tác giả lớn của nhân loại được dịch ra tiếng Việt rồi thì tại sao các tác phẩm và các tác giả không là đối tượng của các cuộc đối thoại, đối luận, đối lý giữa các lãnh đạo từ chính quyền tới chính phủ, thì chúng ta không có một câu trả lời nào toàn lý tới từ bộ trưởng, thứ trưởng, các lãnh đạo vụ, ban, ngành đang có trách nhiệm với hệ thống giáo dục hiện nay.

Vô học rất thấm nên vô hậu rất "chàm"

Vô học rất thấm nên vô hậu rất "chàm", khi mọi người biết là tất cả các lãnh đạo trong chính phủ hiện nay của hệ thống vô học trị, thì từ thủ tướng tới các bộ trưởng, không có lãnh đạo nào tự viết được các tham luận mà họ phải đọc trước quần chúng, trước quốc hội, trước truyền hình ; nhất là trước các hội thảo, hội luận, hội nghị mà hội trường là những nhân sĩ có học, nên ta thường thấy các lãnh đạo này phải cầm giấy mà đọc những câu chữ mà họ không phải là tác giả. Không là tác giả của bài tham luận của mình, lại vừa chưa hề biết tác giả nào, tác phẩm nào trong học thuật và trí thức của nhân loại. Đây không phải là vô học trống chữ sinh ra vô hậu đọc nhại những chuyện mà mình không phải là tác giả thì còn là gì nữa ?

Vô trương bất tín

Từ thủ tướng tới các bộ trưởng khi bị ký giả, phóng viên, truyền hình trực tiếp hỏi những lý luận làm ra chính sách, những lập luận làm ra quyết sách của chính phủ, thì chỉ từ 3 câu tới 5 câu hỏi của báo chí là ngữ vựng của lãnh tụ bị lộn âm, ngữ văn của lãnh đạo bị lộn ngôn, ngữ pháp của các đầu lãnh bị lộn ngữ. Vô trương bất tín, không thấy thì không tin, thấy rồi mới tin, và tai nghe mặt thấy để thấu cái thực chất vô học đã làm nên các vô nghệ trong lãnh đạo, vô nghề trong quản lý, vô nghiệp trong chính nghĩa. Từ thủ tướng tới các bộ trưởng, không có lãnh đạo nào dám đối diện với trí thức để tranh luận, đối thoại với chuyên gia để trao luận, đối thuyết với các lảnh đạo quốc tế của các quốc gia có văn minh dân chủ, có văn hóa nhân quyền để cân, đo, đong, đếm từ tri thức tới tri lực, để so ra mới biết ngắn dài. Vì chuyện lãnh đạo từ quản trị tới quản lý, từ các quyết sách công ích xã hội tới các chính sách an sinh xã hội, tất cả đều là chuyện trình độ học thức, mà trình độ thì học thật sẽ lột đươc mặt nạ của học giả, và học lực sẽ vạch mặt chỉ tên học gian, học dối ! Và cái vô hậu vắng nhân tri, trống nhân trí, rỗng nhân lý sẽ bị lột trần lên bờ xuống ruộng trước học thuật.

Vô học rất lậu nên vô hậu rất nẩu

Vô học rất lậu nên vô hậu rất nẩu, không có kiến thức chuyên môn nhưng lại cứ giành đi hội nghị quốc tế, không có tri thức chuyên khoa nhưng lại cứ đòi đi hội thảo quốc ngoại, không có trí thức chuyên ngành nhưng lại cứ ham đi hội luận toàn cầu, từ đây lòi ra bao nhiêu hậu quả của vô học, bao nhiêu hệ lụy của vô hậu. Một lãnh đạo đi ra nước ngoài kéo theo một thư ký, một trợ lý, một thông dịch viên, thành một phái đoàn có khi là 3, có khi là 5, có lúc là 7, thậm chí là 10. Từ khách sạn tới nhà hàng, từ chi tiêu tập thể tới chi phí hàng không cho cả đoàn, đi một, hai, ba tuần, gây tốn kém lên hàng bạc tỷ, với số tiền đó có thể chính phủ nuôi ăn hàng tháng được hẳn một xóm nghèo, môt làng nghèo. Một lãnh đạo kéo theo 3, có khi là 5, có lúc là 7 người, lại còn cho vợ con đi theo. Sáng vào hội trường để "giả danh hội nghị", "giả dạng hội thảo", "giả tướng hội luận", nhưng sau cơm bữa trưa là nhờ vả đường dây Việt kiều tại chỗ để đi shopping, đi siêu thị, tha hồ mà mua sắm từ mỹ phẩm tới thực phẩm của các xứ Tây. Mà hóa đơn không rõ là tiền của cá nhân, của gia đình hay moi móc thẳng ra từ chi phí công vụ, tức là từ tiền thuế của dân lành, dân đen…

Vô học rất thô nên vô hậu rất lộ

Một lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam kéo theo cả đàn, cả đám, cả nhà tới xứ người, sau khi du lịch bằng công vụ, đi chơi cho thỏa, đến khi về lại quê nhà, thì đồng nghiệp hỏi về những đóng góp chuyên môn trong hội thảo ; đồng bào tra về những đóng góp chuyên ngành trong hội nghị. Thì "vỡ lẽ" ra là không có báo cáo chuyên đề, không có tổng kết chuyên môn, không có một chứng thư, một chứng tích nào thuyết phục cho sự thành công của các chuyến công vụ. Mà cũng biết thực chất là du lịch, phung phí vô học, phung phá vô hậu trên tài sản của đất nước, trên mồ hôi của dân chúng. Vô học rất thô nên vô hậu rất lộ, từ thực tập sinh tới học một, hai năm tới sinh viên du học từ cao học tới tiến sĩ được học nhiều năm tại các quốc gia phương Tây có tiến bộ khoa học, có văn minh dân chủ, có văn hiến nhân quyền, lại có sáng tạo sinh động và sinh hoạt sôi động từ văn hóa tới nghệ thuật. Tại đây, các khuyết điểm vô học, các khuyết tật vô hậu từ kiến thức tới tri thức lộ ra ngay trong phản xạ hằng ngày, ngay trong phản ứng hằng tuần, hằng tháng, hằng năm trong xã hội phương Tây.

quyenluc6

Tầm vóc văn minh làm nên vai vóc văn hiến

Các thực tập sinh, các sinh viên du học không biết gì vì không muốn học hỏi thêm về văn hóa qua nghệ thuật, văn minh qua khoa học, văn hiến qua sử học của các quốc gia tiên tiến phương Tây. Mà muốn biết thì phải học, muốn học thì phải tới thư viện của đại học, của thành phố, của văn khố quốc gia, trung tâm tư liệu chuyên ngành… Họ không làm vì không muốn biết thêm về gốc, rễ, cội nguồn từ văn minh tới văn hóa các quốc gia này. Các thực tập sinh, các sinh viên du học không biết gì vì không đọc gì về các tác phẩm của các tác giả đã làm nên văn học, thi ca, âm nhạc, hội họa, kịch thuật, điện ảnh… và khi được đồng nghiệp, đồng bào hỏi về các tác phẩm của các tác giả, thì thường là họ "tảng lờ", chỉ vì họ không biết, chỉ vì họ không chịu học. Các thực tập sinh, các sinh viên du học không biết gì về các bảo tàng, các cuộc triển lãm, các buổi hòa nhạc, các lễ hội văn hóa… của các quốc gia phương Tây nơi họ đang học… và khi được đồng nghiệp, đồng bào hỏi về các sự kiện văn hóa, các sự cố nghệ thuật làm nên tầm vóc văn minh, làm nên vai vóc văn hiến của các quốc gia phương Tây, thì thường là họ "đánh trống lảng" chỉ vì không biết, mà không biết vì không chịu học.

Thực tài chống bất tài

Chính trị học tri thức phối hợp cùng xã hội học nhận thức đã phân tích để phân loại, đã phân định để phân giải là khi hai người bất tài trong một hội đồng phải bầu cho một thí sinh thay thế họ trong tương lai thì họ không thể bầu được một thí sinh có tài ; ở đây bất tài không đủ năng lực lẫn thông minh để bầu cho thực tài. Khi hai người trong một hội đồng ; một người bất tài, một người có tài phải bầu cho một thí sinh thay thế họ trong tương lai thì họ khó có thể bầu được một thí sinh có tài ; ở đây người có tài chưa chắc thuyết phục được người bất tài, vì kẻ bất tài vừa không đủ năng lực lẫn thông minh, lại vừa lo sợ hai kẻ tài, một là đồng nghiệp hai là thí sinh khinh chê cái bất tài của mình. Khi hai người trong một hội đồng ; cả hai đều có tài, cũng có khi họ bầu cho một người thiếu tài nhưng trung thành với họ để bảo vệ đặc quyền, đặc lợi, đặc ân của họ sau khi họ ra đi. Mà còn có khi hai kẻ có tài cũng có thể bầu cho một kẻ hoàn toàn bất tài để hai kẻ có tài này tiếp tục thao túng, o ép, giật dây thí sinh bất tài nhưng "dễ bảo trước đàn cha", "biết tuân lệnh đàn chú", "biết phục tùng đàn anh"…

Vô học ẩn nấp trong tà tri, vô hậu luồn lách trong điếm trí !

Đưa thực tài vào định chế, đón chân tài vào cơ chế, nhận nhân tài vào cấp lãnh đạo là một quá trình thiên sơn vạn thủy trong nhân tri, là một quy trình vượt suối trèo đèo trong nhân trí. Tại đây, thì bạo quyền độc đảng, tà quyền tham nhũng, ma quyền tham tiền chỉ biết dựa vào quan hệ-hậu duệ-tiền tệ để diệt trí tuệ ; để tổ chức mua chức bán quyền qua mua bằng bán cấp của học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả. Cũng tại đây, độc đảng trong độc quyền sử dụng nền của tuyên truyền trị để mạo danh hồng hơn chuyên mà chọn cán bộ nguồn ; vận dụng gốc của ngu dân trị với mạo dạng lãnh đạo nòng cốt để dựng lên các thái tử đảng ; tận dụng rễ của vô học trị để mạo dạng : "con lãnh đạo mà lãnh đạo là hồng phúc cho dân tộc", một tuyên bố vô cùng vô học vì nó vô tận trong vô hậu của một bà đã là lãnh đạo trong Uỷ ban nhân dân thành Hồ. Từ đây, mới có hiện tượng vô học trong tà kiến, vô hậu trong tà luận, thí dụ dễ-thấy-vì-khó-nghe như hiện tượng tiến sĩ lu (dùng lu chống lụt cho thành Hồ), tiến sĩ lon (đọc chữ lon "lộn" ra một chữ được xem là tục trong truyền thông), thứ trưởng của Bộ (vô) văn hóa (đã trao tặng một người phụ nữ chuyên nghề hầu đồng chức hiệu nữ hoàng tâm linh). Vô học ẩn nấp trong tà tri, vô hậu luồn lách trong điếm trí !

quyenluc7

Cái tôi bị bắt buộc chọn tự do

Với bạo quyền độc tài nhưng bất tài, tà quyền độc trị nhưng không biết quản trị, ma quyền chỉ là âm binh chui luồn trong bóng tối ngu dân. Bọn cá mè một lứa này không bao giờ tự kiểm tra khách quan về chúng bằng cân, đo, đong, đếm thực tài của chúng ; không bao giờ tự kiểm định khoa học của chúng bằng so ra mới biết ngắn dài về trí tuệ của chúng. Khi đấu tranh chống bạo quyền, tà quyền, ma quyền, dù ở nơi đâu, trong bất cứ giới nào, tôi luôn tự nguyện với lòng là cho tới chết không bao giờ là người của bè, của đảng, của nhóm, của phái, của đám, mà là người của tự do đi tìm tự chủ, theo mô thức của : "cái tôi bị bắt buộc chọn tự do" như đi nhận nhân cách để lấy lại nhân vị cho chính mình. Nói gần nói xa không qua nói thật là cùng với sự bất nhẫn đưa tới phẫn nộ mỗi lần tôi phải đụng độ để trực diện mà đấu tranh chống bất công, tôi thường sống với tâm lý có liên quan trực tiếp tới thể lực của mình. Cụ thể là một sự khinh bỉ tới lợm giọng, có thể dẫn tới buồn nôn khi phải trực diện với các cá nhân đã biến chính quyền thành bạo quyền, tà quyền, ma quyền, mà trong mô thức giải luận về quyền lực, tôi phải gọi chúng là : âm binh !

Nhân tri khẳng định nhân vị

Đối với bọn lừa thầy phản bạn, với đám mua bằng bán cấp, với lũ mua chức bán quyền, với phái buôn dân bán nước, với đảng phản dân hại nước thì sao ? Lại còn dễ nữa, bạn nhớ đứng thẳng ngay bữa tiệc, đi ngay ra ngoài với mắt thẳng, vai ngay, lưng chắc, chân vững, bước mạnh, mà không quên chào chủ nhà, nhất là không quên tự nhắc với lòng là phải rời ngay chốn âm binh mại quốc cầu vinh để được về lại ngay với cõi người là yêu nước thương nòi. Chính nhân tri khẳng định nhân vị của mọi người, khi con người biết đấu tranh vì nhân quyền để bảo vệ nhân phẩm của họ, thì họ khám phá ra nhân bảnnhân văn của họ tới từ nhân tính biết tôn trọng đồng loại, từ nhân lý biết bảo vệ tha nhân.

Nhân diện nhân dạng của nhân quyền

Khi trong nhân phẩm có sẵn hai quyền lực làm nên nội chất của nhân quyền : nhân quyền tích cực của có trong hoài bão đi tìm công bằng để lập nên công lý, và nhân quyền tiêu cực của không trong sự chối từ bất công, chối bỏ bất nhân thất đức ? Từ đây, chúng ta nhận ra được là có của tích cực vì hoài bão, và không của tiêu cực chối từ bất công, tương tác lẫn nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau trên nhân lộ đi tìm nhân phẩm bằng đấu tranh vì nhân quyền. Hãy đi xa hơn nữa để nhận ra chân dung diện mạo của nhân quyền có trong năng lượng đôi làm nên năng lực đôi : biết trả lời trước công lý vì đã biết trả lời không trước bất công trong nhân kiếp ; sẵn sàng trả lời có ! để đấu tranh vì công lý, và luôn sẵn sàng trả lời không ! để tranh đấu chống bất công. Hãy lên cao hơn nữa để nhận rõ nhân diệnnhân dạng của nhân quyền, luôn vượt lên tư lợi, luôn vượt qua quyền lợi để nhập nội vào phạm trù của bác ái, có tương thân, tương trợ. Nơi mà hạt muối cắn làm đôi có khả thi với một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ, trong khả tín của bầu ơi thương lấy bí cùng, để lộ ra nhân diện của nhân quyền trong thương người như thể thương thân, để ta nhận ra nhân dạng của nhân quyền qua máu chảy tới đâu ruột đau tới đó. Khi ta công nhận là nhân quyền có chỗ đứng cao hơn, có ghế ngồi rộng hơn ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu… vì trong thực tế nhân quyền có khả quyết để quyết đoán, rồi có chủ đoán để chủ động là nhân quyền cao và rộng hơn ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu…

Hùng lực đấu tranh vì nhân quyền

Câu chuyện về nhân quyền là tự truyện về mức độ làm nên trình độ : khi ta có bác ái với lòng trắc ẩn chia ngọt sẻ bùi với tha nhân, chia sẻ niềm đau nỗi khổ với đồng bào, với đồng loại thì chữ nhân của nhân loại hoặc nhân loài sẽ có được tầm vóc cao, kích thước rộng, nội công mạnh, bản lĩnh lớn hơn hẳn ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu… Vì kẻ chỉ biết ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu thì có thể làm người nhưng chưa chắc đã được làm : nhân, nhân đây có gốc rễ, cội, nguồn của nhân tâm, nhân từ, nhân đạo, nhân nghĩa, nhân bản làm nên sung lực trong lý luận rồi hùng lực ngay trong đấu tranh vì nhân quyền. Tại đây, nhân quyết là không gian tri thức trong đó có chủ quyết để chủ động đấu tranh vì công bằng mà chống bất công, nên nhân quyền, vừa là hành động của hiện tại, vừa là hoài bão của tương lai ; vừa là quy trình đấu tranh hằng ngày, vừa là chân trời trước mắt.

Toàn trị trong độc trị để phục vụ câu chuyện con người tiêu diệt con người

Trong lịch sử nhân loại từ khi con người vào kỷ nguyên công nghiệp với sự bóc lột trắng trợn sức lao động của công nhân, nông dân… một kỷ nguyên xem con người là công cụ, là vật liệu, là hàng hóa để tạo sản xuất, để tăng năng suất. Sự xuất hiện của hai thế chiến trong thế kỷ XX vừa qua, càng làm sự bóc lột trắng trợn sức lao động của con người trở nên nhờm tởm với quá trình biến xã hội thành một nhà máy khổng lồ để phục vụ chiến tranh, để phục vụ chuyện con người tiêu diệt con người, để nhân sinh tự tiêu diệt, đưa nhân loại vào tử lộ.

Các khẩu hiệu "Tổng động viên" làm nên khẩu lệnh "Tất cả vì tiền tuyến" để tiêu diệt đối phương, giờ không những đã là kẻ thù mà đã trở thành tử thù, "không đội trời chung", loại luận điệu này thì người Việt nghe rất quen tai. Đây cũng chính là thảm họa của Việt tộc, chỉ cần một nhúm người cộng sản mang một ý thức hệ ngoại lai đấu tranh giai cấp bằng chuyên chính vô sản dưới lá cờ chống thực dân rồi chống đế quốc vì độc lập dân tộc, để đưa Việt tộc từ tà lộ mệnh danh "cách mạng", với biệt danh "giải phóng", tới tử lộ của huynh đệ tương tàn, với nhiều triệu sinh mạng của đồng bào bị thí mạng như những công cụ vô tri.

Địa ngục hiện tiền

Ngoài sự mất mát quá lớn về tính mạng của đồng bào mà Phật đạo của dân tộc gọi chính danh là : sinh linh, mọi sinh vật đều thiêng liêng vì linh thiêng bằng chính sự sống của nó. Không chỉ sự mất mát về tính mạng, mà còn sự mất trọn tất cả các giáo lý tổ tiên Việt về tương thân tương trợ, song hành cùng sự mất trắng tất cả các tiềm năng phát triển đất nước, để đưa dân tộc vào quỹ đạo của tiến bộ, để đi về hướng một xã hội có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền. Sau chuỗi mất mát-mất trọn-mất trắng hiển hiện trước mắt mọi công dân Việt là địa ngục hiện tiền, với hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn) của Đảng cộng sản Việt Nam sinh đôi với hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền) cũng của chính nó.

Nhân lý vì nhân quyền

Nhân lý vì nhân quyền không hề là lý lẽ của tính toán thương mại, tự xem tha nhân như công cụ để mình làm giầu. Nhân lý không hề là con toán của cân, đo, đong, đếm giữa hợp tác quốc tế và tư lợi của riêng một đảng cầm quyền. Ngược lại, nhân lý có nhân lộ là niềm tin về công bằng vì nhân quyền, để vững tin về công lý biết bảo vệ nhân phẩm. Không có niềm tin để vững tin thì sẽ đánh mất chính giá trị nhân quyền của mình và của đồng loại. Nhận thức của nhân lý vì nhân quyền chuyển tải các nguyên tắc chủ lực của nguyên tắc của nhân lý vì nhân quyền có chính danh khi dùng công lý bảo vệ nhân phẩm qua nhân lộ của nhân quyền. Nguyên tắc của nhân lý vì nhân quyền vượt thoát thần quyền trên số phận con người nhưng vẫn tôn trọng tôn giáo. Nguyên tắc của nhân lý vận dụng nhân quyền để bảo vệ tự do cá nhân, nơi mà mỗi cá nhân có nhân quyền trọn vẹn, và không là nạn nhân của gia đình, thân tộc, tập thể, cộng đồng nhất là của các bạo quyền đe dọa, đàn áp, tra tấn, hãm hại cá nhân.

Nhân quyền đặt nhân phẩm lên cao

Nhân lý vì nhân quyền luôn đi xa, lên cao, nới rộng, vào sâu về quyền làm người bằng chính nhân vị, trong đó cá nhân, gia đình, thân tộc, tập thể, cộng đồng, yêu cầu xã hội phải bảo vệ nhân phẩm của mình. Từ đây xuất hiện quan hệ giữa nhân lý vì nhân quyền, cấu trúc quyền lựctổ chức xã hội của một quốc gia, một dân tộc. Một chính quyền liêm chính là một chính quyền nhận quyền lực phục vụ nhân quyền để bảo đảm nhân phẩm cho các công dân của mình. Một tổ chức xã hội có nhân lý biết lấy nhân quyền làm gốc, rễ, cội, nguồn cho mọi quan hệ xã hội, sinh hoạt xã hội, đời sống xã hội. Như vậy, nhân lý vì nhân quyền đặt nhân phẩm lên cao, và đặt đúng chỗ thần quyền trong không gian tôn giáo, đưa nhân vị của tự do cá nhân vào nhân lộ của nhân quyền, cùng lúc nhân lý vì nhân quyền đặt nền cho quan niệm chính đáng trong liêm chính của không gian quyền lực, nơi mà chính tổ chức xã hội cũng phải dựa trên nhân quyền để tồn tại trong chính danh.

Công nhận công bằng

Dân chủ bắt đầu bằng sự công nhận công bằng không những trên những chuyện đã có mà luôn cho những chuyện đang có trong hiện tại của dân tộc, và sẽ có trong tương lai của quốc gia, trong đó công bằng xã hội được bảo đảm bởi công lý làm nên công luật, tất cả được thảo luận bằng hội thoại qua đối thoại bằng luân lý với sự trợ lực của pháp luật. Khi hội thoại qua đối thoại, dân chủ chấp nhận và cho phát biểu để pháp triển sự khác biệt, tính đối kháng, tính nghịch lý để mở cửa rồi mở đường cho sự mâu thuẫn hoàn toàn chính danh vì chỉnh lý trong dân chủ để thực hiện đa nguyên, qua đa quyền lợi, đa giải đáp, đa chọn lựa… bằng quyết định bỏ phiếu, nơi mà thiểu số phục tùng đa số. Tại đây, dân chủ có những định chế rõ ràng để thực hiện sức thông minh của nhân trí bằng sự tôn trọng lẫn nhau của nhân tri. Hội trường và nghị trường để hội tụ trong nghị luận các vấn đề không những phải làm trong hiện tại và cần làm trong tương lai. Hội trường và nghị trường để hội lý trên nền tảng của công bằng từ đề nghị tới thảo luận, từ quyết định tới hành động.

Hội trường và nghị trường để hội luận trên sự phân biệt công ích và tư hữu, để phân loại quyền lợi và quyền hạn, để phân định lợi ích xã hội và tự do cá nhân.

Diễn luận để thuyết phục

Khi nghiên cứu về lịch sử của dân chủ có nguồn cội trên quê hương Hy Lạp là chiếc nôi của triết học về nhân quyền, có triết lý về nhân sinh, có triết luận về chính thể, thì hai chuyên gia về cổ sử, cổ triết của Hy Lạp đã giúp ta nhận ra tiến trình và tiến hóa của dân chủ với kinh nghiệm dân chủ Hy Lạp trên cho ta thấy nội chất của dân chủ không phải là quyền mà là : lý luận để thuyết minh, lập luận để thuyết trình, giải luận để thuyết giảng, diễn luận để thuyết phục. Đây là cách xử lý hoàn toàn khác và ngược với hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn) lấy lực làm quyền, gạt để giữ quyền, rồi lấy quyền triệt luận, cầm quyền này để diệt quyền kia, nên cả vú lấp miệng em không có thảo luận, cá lớn nuốt cá bé không có hội luận, mạnh được yếu thua không có tụ luận. Nên hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn) không có văn hóa của dân chủ qua thảo luận, văn minh của đa nguyên qua hội luận, văn hiến của nhân quyền qua tụ luận, vì bộ ba này của dân chủ biết chấp nhận nghịch lý vì biết tôn trọng đa lý. Khi ta nhận định dân chủ, đa nguyên, nhân quyền chính là văn hóa, văn minh, văn hiến thì ta sẽ hiểu vai trò của của bộ ba này trong giáo dục xã hội, trong giáo khoa quần chúng, trong giáo trình học đường để giáo dưỡng ngay từ tuổi nhỏ ba liên minh này : dân chủ, đa nguyên, nhân quyền chống bạo quyền, văn hóa, văn minh, văn hiến chống cuồng quyền, giáo dục, giáo khoa, giáo trình chống cực quyền.

quyenluc8

Quyền được làm người

Một chế độ đẩy xã hội bị rơi vào nhân biệt : sự phân biệt giữa người với người, giữa đồng bào với nhau, vì lãnh đạo của chế độ độc đảng đã đi trên tà lộ chống nhân quyền ! Vì nhân quyền luôn là nền để tạo nên sự công bằng giữa các cá nhân. Công bằng này không chấp nhận sự khác biệt để làm ra sự tách biệt, để dân tộc phải gánh chịu : sự phân biệt, kẻ giàu ở trên người nghèo ở dưới ; sự phân loại, kẻ gian giàu bóc lột người lành nghèo ; sự phân hóa, kẻ gian mạnh tha hóa người nghèo yếu ; sự phân cực, kẻ gian mạnh đàn áp người nghèo yếu. Khi chính trị học, xã hội học và triết học cùng nhau phân tích về bất công tạo ra bất bình đẳng, thì luật học đã có mặt cùng công pháp quốc tế được Liên Hiệp Quốc bảo trợ nơi đây nhân quyền là quyền được làm người mà không là nạn nhân, cũng không là thủ phạm của bất cứ bất công nào, của bất cứ bất nhân thất đức nào. Quyền được làm người với nội chất của nhân phẩm, khi công lý biết giới hạn ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu, vì giá trị của nhân quyền là vô giá, nó cao, sâu, xa, rộng hơn phạm trù bình thường -nếu không nói là tầm thường- của ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu… Quyền được làm người chính là sức mạnh của hoài bão vì nhân lý, nhân tri, nhân trí, của hoài vọng vì nhân bản, nhân văn, nhân vị, tạo ra được tính thuyết phục làm nên sự đồng cảm, đồng lòng để cùng nhau bảo vệ giá trị của nhân phẩm.

Ý thức luân lý và ý thức duy lý

Có nhiều nhân loại sống cùng chung một nhân loại rộng lớn, mà nhiều nhân loại vì nhiều nhân tính khác nhau, có ít nhất là có hai nhân tính rất đậm nét trong nhân loại chung này : nhân tính thứ nhất có ý thức luân lý, như có kim chỉ nam trong nhân tình, thấy tốt thì làm, thấy xấu lánh xa, thấy gian thì loại, thấy tà thì xua, thấy ác thì khử. Ý thức luân lý có chỗ dựa là đạo lý (hay, đẹp, tốt, lành) để chế tác ra luân lý (nhận trách nhiệm để đảm bổn phận). Nếu muốn làm lãnh đạo chính trị thì ý thức luân lý phải sắc, kim chỉ nam này phải nhọn. Nhân tính thứ nhì có ý thức duy lý, như có Bắc đẩu đưa đường, dẫn lối giữa đêm, lấy kiến thức của kinh nghiệm (từ lịch sử qua cuộc sống) thấy hợp lý trong thuận cảnh, lấy cụ thể làm thực tế, biến thực tế thành thực dụng. Nếu muốn làm lãnh đạo chính trị thì ý thức duy lý phải rõ, thấy thật rành Bắc đẩu trước mắt. Nhận ra hai nhân tính ý thức luân lý ý thức duy lý còn phải đi tìm thêm các nhân tính khác, còn nếu không hiểu gì về hai nhân tính tối thiểu này thì tốt nhất đừng làm chính trị, đừng nhận trách nhiệm lãnh đạo.

Nhân tính có hải đăng là nhân đạo

Chữ nhân không phải là đơn thuần là một thuật ngữ, mà là một hệ thống tư tưởng có lý luận, mà kẻ lãnh đạo không biết hoặc không thấy thì sẽ lầm đường lạc lối trong quyết đoán làm gốc cho mọi quyết định, trong quyết sách làm nền cho mọi tổ chức và mọi quản lý. Không biết, không thấy, không nghe, tức là không có nhận thức về chữ nhân thì chỉ mang họa tới cho dân tộc, gây nạn cho giống nòi. Nhân loại sống trong một bối cảnh lịch sử nhất định : nhân thế, trong những hoàn cảnh xã hội được quyết định từ kinh tế tới giáo dục, từ vật chất tới y tế… từ quan hệ xã hội tới đời sống xã hội : nhân sinh. Chính bối cảnh hoàn cảnh tạo ra tâm cảnh trong quần chúng đó là : nhân tình. Nhân tính chỉ có khi một dân tộc xác định được các định hướng cộng đồng về đạo lý một nhân sinh quan hay, đẹp, tốt, lành : nhân đạo, từ đó nhận thức ra các bổn phận, các trách nhiệm để xây dựng một giống nòi ăn ở với nhau để sống có hậu : nhân nghĩa. Nhân tính có hải đăng là nhân đạo, có dự phóng cho mai sau là nhân nghĩa, cả ba tạo ra thế chân kiềng bền vững cho nhân lý của một dân tộc, làm chủ đất nước của mình bằng nhân văn được thể hiện qua bốn hệ nhân trên.

Nhân giáo

Năm hệ nhân : nhân tính, nhân đạo, nhân nghĩa, nhân lý, nhân văn được trao truyền và lưu truyền qua nhân giáo, trong đó một nền giáo dục đúng đắn tùy thuộc vào môt chính quyền liêm chính, một chính phủ liêm sỉ để bảo đảm nhân trí cùng nhân trí qua giáo khoa, giáo trình, giáo án. Chính nhân trí cùng nhân trí quyết định trình độ thăng tiến của một đất nước, thăng hoa của một dân tộc, mà ta thấy láng giềng cùng nôi tam giáo đồng nguyên như Việt Nam đã làm được : Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc. Chính ta không làm được lại tha hóa vào con đường phản nhân tri cùng nhân trí, tạo ra thảm họa học giả-thi giả-bằng giả, tới từ tham nhũng-tham ô-tham quan, tức là lãnh đạo chính trị của Đảng cộng sản Việt Nam đang lầm đường lạc lối, đang hoàn toàn sai !

Văn hóa, văn minh, văn hiến

Hàm nghĩa của văn mang ít nhất ba biến nghĩa : văn hóa, văn minh, văn hiến. Văn hóa, như sức sống vững bền qua nội lực một dân tộc biết biến nội công của tổ tiên mình trong quá khứ thành nội chất của tập thể, của cộng đồng luôn có nội tâm của một giống nòi biết giáo dưỡng con cháu, các thế hệ đời sau biết yêu, quý, thương văn hóa đó. Văn minh, đòi hỏi nhân tri, mở cửa mời nhân trí, biến kiến thức thành tri thức được bảo vệ có hệ thống, có lý luận, có lập luận, có giãi luận của nhận thức.văn hóa chưa chắc có văn minh, vì văn minh tạo chỗ đứng nhân quyền và dân chủ, vì văn minh viết thăng hoa : công bằng qua tự do, để xây bác ái. Văn minh thấy rất rõ trong một xã hội biết tôn trọng người lớn tuổi, biết bảo trọng phụ nữ, biết bảo vệ thiếu nhi, biết bảo quản thanh thiếu niên trong một hệ thống giáo dục lấy đạo lý hay, đẹp, tốt, lành làm nhân văn. văn minh mang sung lực hiện đại hóa văn hóa qua cải cách, qua canh tân, được hỗ trợ bởi khoa học hay, bởi kỹ thuật lành, bởi công nghiệp sạch. Có văn hóa, chưa chắc có văn minh, làm lãnh đạo chính trị phải đưa văn hóa về hướng văn minh để thăng hoa văn hóa. Văn minh là chiều cao của văn hóa, đẩy văn hóa đi lên, thì văn hiến là bề dầy, là chiều sâu, là chính sử của văn hóa. Chính văn hiến tạo rễ sâu, gốc chắc cho văn minh nâng, đưa, đẩy văn hóa hướng tiến hóa.Chuyện đáng buồn và đáng lo là các lãnh đạo tối cao của Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay không xem, không hiểu, không thấu vì không đủ tầm, không đủ vóc để biến ba biến số : văn hóa, văn minh, văn hiến thành ba hằng số trong các chính sách của họ.

Nhân rộng-lý mở

Làm chính trị với chữ nhân rộng qua cái lý mở là một "nghề" rất khó, làm lãnh đạo chính trị với chữ nhân rộng nhất qua cái lý mở nhất, chắc chắn là một "nghề" khó nhất trên đời ! Vì phải nhận những trách nhiệm nặng, đón những bổn phận rộng, nâng cao đạo đức dân tộc, hiểu xa đạo lý nhân loại. Vậy, nên suy nghĩ kỹ, thật kỹ trước khi chọn "nghề" khó nhất này. Nhân rộng-lý mở vừa là luận thuyết sinh động của chính trị, vừa là thực hành thông minh của lãnh đạo. Nhân rộng vì nhân vừa gần-vừa xa, nó gần có ngay trước mặt lãnh đạo chính trị. Đó là nhân dân, dân chúng, quần chúng : nghèo hay giầu, vui hay buồn, đau khổ hay hạnh phúc, nếu không trực diện để thấy, để hiểu, để thấu thì đừng đòi làm lãnh đạo chính trị. Còn dành làm để tham ô, trục lợi thì không phải làm chính trị mà là trộm, cắp, cướp, giựt bằng chính trị. Nhân xa vì nó bắt kẻ lãnh đạo phải "nhìn xa, trông rộng", đưa nhân tính vào nhân tình, đưa nhân thế vào nhân tâm, đưa nhân nghĩa vào nhân loại, qua con đường của nhân tri, bằng phương tiện của nhân trí. Nhân là phạm trù của tri thức, bó buộc kẻ lãnh đạo muốn trị (trị dân-trị nước) phải có tri, lấy tri để lập trí. Lý mở vì mở ra bên ngoài mới tồn tại, mới sống còn, mới có khí trời để thở, mới có thực phẩm để ăn, nhất là có nhân tri của nhân loại bên ngoài để học, có nhân lý của nhân thế bên ngoài để khôn lên, có nhân trí bên ngoài để thông minh lên. Lý mở là lý biết đón, biết tiếp, biết nhận, biết mời : các kinh nghiệm hay, các kiến thức tốt, các bài học đẹp, các nhân thế lành để tạo ra tiềm năng, tiềm lực cho chính ta.

Thông minh chính trị, minh triết lãnh đạo

Tất cả những lý đóng (đóng cửa, đóng biên giới, đóng lãnh thổ...)độc (độc tài, độc quyền, độc tôn, độc trị, độc đảng) đều đáng nghi ngờ, và nhân dân có quyền ngờ vực mọi lãnh đạo chính trị có ý đồ đóng vì độc. Nhân rộng-lý mở là nơi hội tụ thông minh chính trị và minh triết lãnh đạo, vì nó được kết tinh bởi hai hùng lực chính trị mà kẻ làm lãnh đạo phải thông hiểu : lý tưởng chính trị càng rộng thì nhân dân càng khôn (từ khôn có sở hữu là nhân trí, tức là khôn ngoan chớ không phải khôn lanh), ở đây sau khi thành công về chuyện "cơm no, áo ấm" cho dân, thì phải đi tới hướng "dân giàu nước mạnh", lại còn phải đi thêm bước nữa "nhân loại thái hòa". Vô hạn chính trị không bị khung trong một quốc gia, mà ngược lại muốn cho quốc gia đó tồn tại, có chỗ đứng xứng đáng trong quan hệ quốc tế, thì phải tìm liên minh, tìm đồng minh, tất cả trong quy luật vô hạn chính trị luôn "thêm bạn, bớt thù", luôn vô hạn học trong vô biên hiểu để luôn"học người để khôn ta". Phương trình Nhân rộng-lý mở chính là thông minh chính trị-minh triết lãnh đạo.

Ý thức chính trị, nhận thức lãnh đạo

Nhân nhập nhân vừa là lương tri của chính trị, vừa là lương tâm của lãnh đạo, đây là quá trình nhập nội vào thực tế của nhân dân, thực cảnh của dân chúng, thực tại của quần chúng để thấy, để hiểu, để thấu các vấn đề, các khó khăn, các lầm than của dân tộc, và nếu chỉ ngồi trong bàn giấy, chỉ đóng cửa phòng để họp hành, thì "có mắt cũng như mù" trước hiện thực (bây giờ và ở đây) của xã hội. Nhân nhập nhân trước hết là lấy nhân tính để nhập nội vào nhân tình ngay trong xã hội mà nhân dân đang sống, đang làm, đang ăn, đang ở, để thấy các trầm luân hằng ngày của nhân sinh, thấy dân đen nhọc nhằn như thế nào, hiểu dân oan tủi nhục ra sao, từ đó mới có ý thức chính trị để có nhận thức lãnh đạo qua chính sách. Nhân nhập nhân sau đó là lấy nhân nghĩa để nhập sâu vào nhân thế ngay trong đau đáu "chén cơm manh áo" của nhân dân, ngay trong trằn trọc "cơm áo gạo tiền" của dân chúng, để thấy thật rõ các thiếu thốn hằng ngày trước các lo toan "ăn bữa sáng lo bữa tối", rồi từ đó mài dũa ý thức chính trị cho thật bén, thật sắc để phục vụ cho nhận thức lãnh đạo thật sâu, thật rộng. Chuyện giả vờ dựng kịch đi "ăn phở" với dân thường của thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Hội An, vậy mà trước đó lại kéo hàng chục xe hộ tống qua phố cổ, nơi mà mọi người phải đi bộ, nơi mà Liên Hiệp Quốc qua Unesco muốn bảo tồn. Đây chỉ là trò chính trị thấp, của lãnh đạo tục !

Ý thức chính trị trong não bộ lãnh đạo

Nhân nhập nhân tiếp theo là lấy nhân tâm để nhập cho thấm nhân sinh, qua thành tâm của lãnh đạo phải sống với dân để hiểu dân. Đây là chuyện không khó làm, ta đã thấy nhiều lần trong Việt sử, và có không biết bao nhiêu chuyện trong sử của thế giới là vua, quan, tướng "giả dân" để "đi vào dân", để "chia sẻ cùng dân". Từ đó, đặt ý thức chính trị vào chỗ trung tâm của não bộ lãnh đạo, để có chánh ngữ khi tuyên bố : "lấy dân làm gốc" ! Còn chuyện dành đứng hàng đầu trong các lễ hội, chọn ghế ngồi hàng trên trong các hội thảo, bám chỗ ưu tiên để vái lạy trong các chùa chiền chỉ là trò bịp trong chính trị, cho kịch rởm của lãnh đạo ! Nhân nhập nhân để nắm vững phương trình ý thức chính trị-nhận thức lãnh đạo, để hiểu chính nhân dân đưa đường dẫn lối cho chính sách, chính dân chúng soi sáng chính nghĩa của lãnh đạo.Sống đủ-đủ sống trong nhận định "cơm no, áo ấm" đã là chuyện rất rõ trong lãnh đạo chính trị, vì nó được định lượngđịnh chất bằng các chỉ báo khách quan, các tính toán khoa học, các phân tích thống kê : một người, một gia đình, một quốc gia với bao nhiêu dân, thì cần bao nhiêu thực phẩm, bao nhiêu năng lượng để lao động, để sống bình thường... Chỉ số thu nhập, trung bình sản suất, sức mua trong tiêu thụ cũng được định toán hóa, mô hình hóa, để phân loại một quốc gia là giàu và một số nước là nghèo, và ở giữa là các dân tộc được xem là đủ sống đủ-đủ sống.

Sống còn-còn sống : thảm kịch của Việt tộc

Sống đủ-đủ sống phải được phân tích đầy đủ qua khác biệt vùng miền, nơi mà mọi người biết là trên đất Việt, nếu ở vùng sâu-vùng xa thì sống khó-khó sống, chính lãnh đạo phải hằng ngày đau đáu về chuyện sống khó-khó sống này, vì chóng chầy nó sinh ra một bi kịch khác : sống còn-còn sống, đây là nghịch cảnh vì nó nghịch chiều với sống đủ-đủ sống. Vì, sống còn là phải tranh sống hằng ngày để được sống, và còn sống nhưng biết phải đau đớn chấp nhận một quy luật vô cùng bất công là "sống nay, chết mai". Nên, sống còn-còn sống hiện là thảm kịch của các bé vùng sâu-vùng xa phải ăn lá để sống còn ; và cha mẹ của các bé còn sống nhưng cuộc sống không có lối ra, cuộc đời trước mắt là ngõ cụt ! Sống còn-còn sống là sống thiếu, sống lây lất, sống vật vờ, đó là sống đói, sống khổ. Kể cả sống trong căm phẫn khi thấy các lãnh đạo từ trung ương tới địa phương dựng chuyện xây đài tưởng niệm hàng ngàn tỷ để chia chát, để vơ vét, để biển lận trong cảnh cùng quẩn của dân chúng vùng sâu-vùng xa, đó không những là trường hợp của Sơn La, mà cả của Cao Bằng, Yên Bái... Bọn này không phải lãnh đạo chính trị, chúng chính là bọn "hút máu, nạo tủy" của dân, lấy tiền thuế của dân để làm giàu qua đục khoét ngân sách nhà nước.

Sống đúng là sống trong nhân phẩm, tạo ra nhân cách

Làm lãnh đạo mà không thấy ba chuyện sống đủ-đủ sống khác nhau với sống khó-khó sống, càng khác hơn nữa sống còn-còn sống, vì ba hệ vấn đề khác nhau "một trời một vực", thì các lãnh đạo nầy đừng lãnh đạo nữa. Sống đủ-đủ sống mà rơi vào sống khó-khó sống để nay mai sa vào sống còn-còn sống hiện đang là số phận ngặt nghèo của rất nhiều đồng bào ta, nhưng họ vẫn sáng suốt để nhận ra là các thiên tai (bão, lũ, lụt...) đi kèm với nhân tai (phá rừng, xã lũ, diệt môi trường...), khi người dân gọi đó là nhân tai thì các lãnh đạo chính trị phải hiểu là họ đang buộc tội lãnh đạo : "trời đánh dân" qua thiên tai thiên tai (bão, lũ, lụt...) trước hết là lỗi, là tội của lãnh đạo, trước đó đã để xẩy ra nhân tai vì lãnh đạo vô trách nhiệm ! Sống đúng là sống trong nhân phẩm, tạo ra nhân cách, dựng được phong cách của cá nhân trong xã hội, bảo vệ được tư cách biết dụng đạo lý hay, đẹp, tốt, lành, để đối nhân xử thế, qua luân lý của tổ tiên có trách nhiệm với giống nòi, có bổn phận với tổ quốc. Nhận chức trong lãnh đạo chính trị phải dựa trên đức của sống đúng trong nhân nghĩa, nhân đạo, nhân tâm để dụng trong nhân lý, nhân tri, nhân trí, để trị (quản lý, tổ chức) nhân thế, nhân tình, nhân loại. Làm lãnh đạo chính trị là hằng ngày học hệ nhân này, nói cho sâu là tu với nó, tu theo nghĩa tự rèn luyện-tự huấn luyện mình.

Xã hội tốt, định chế tốt, cơ chế tốt, đời sống tốt

Trong tôn giáo, ta thấy có kẻ tu được, có kẻ không tu được ; và kẻ tu trọn tức là kẻ tu đúng, thì ta xem như hộ có : chân tu ; trong chính trị ta thấy rất rõ chuyện này có kẻ làm chính trị được, làm trọn đời, làm cả kiếp, và khi rời khỏi cõi đời này, thì dân mang ra để thờ, đó là các lãnh đạo đắc đạo nhờ đã lãnh đạo với chữ : nhân ! Sống đúng còn là sống trong nhân văn, được hiểu theo nghĩa rộng là sống với văn hóa cao, xử thế với văn minh rộng, đối nhân trong văn hiến cao, trong đó lãnh đạo có trách nhiệm làm sáng văn hóa, có bổn phận dụng văn hiến 4000 năm của Việt tộc để đưa văn minh vào đời sống hằng ngày của nhân dân, để người dân sống văn minh trong mọi sinh hoạt xã hội. Sống đúng cần có cơ sở của một xã hội tốt, qua các định chế tốt tổ chức được các cơ chế tốt, bảo đảm một đời sống thường ngày tốt. Các lãnh đạo phải lắng nghe các câu hỏi của thanh thiếu niên, hằng ngày trên truyền thông mạng xã hội, và phải trả lời các câu đó với hệ nhân một cách chính đáng nhất. Sống đúng trước hết đối với lãnh đạo chính trị trước hết phải là sống thực, với sự thật làm nên chân lý, chế tác ra lẽ phải để trị (quản lý, tổ chức). Sống đúng đối với lãnh đạo chính là sống sạch, không tham quyền cố vị để trục lợi, nhận thanh bạch, không sợ thanh đạm, bất chấp thanh bần, như vậy mới gánh vác được đại sự !

Quy trình sống đủ-sống đúng-sống vui

Sống vui hàng ngày để vui sống cả đời, là sự hiển hiện của hạnh phúc, khi sống đủ đã có và sống đúng đã thành, thì thực tế cả một dân tộc sống vui- vui sống chính là niềm vui cao đẹp nhất của lãnh đạo chính trị. Đây không phải là chuyện mơ mòng, mà là chuyện có thật, có thật và kéo dài hàng trăm năm qua hai đời Lý-Trần, mà Việt sử kể lại với thái hòa là thực cảnh nơi mà nhà cửa cứ để mở mà không lo sợ trộm cắp, với thái bình là bối cảnh mà cả nước chuộng thiền, yêu thiền, sống thiền. Có nhiều vua, lắm tướng đánh giặc giỏi, lãnh đạo tài, quản lý đúng, lại còn biết đi tu, trong hiện cảnh của một quốc gia biết "an nhiên, tự tại, với minh vương Lý Thái Tổ, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông… Quy trình sống đủ-sống đúng-sống vui phải có trong giáo trình đào tạo lãnh đạo của đất nước, "cầm cương nẩy mực" vì đồng bào, nhận đối thoại thường xuyên với nhân dân, không chỉ vì mục đích kính tế, vật chất mà còn có giáo dục song hành cùng văn hiến, của một dân tộc tìm sự sung túc cùng lúc với các giá trị tâm linh. Không cần phải là nước giầu nhất, mạnh nhất để đạt được chuyện này. Đây chính là chuyện cứu cánh của lãnh đạo chính trị, đó là thực tế của ba quốc gia Bắc Âu nhỏ nhưng không nghèo, ít dân và rất quý dân : Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy. Họ làm đúng trong giáo dục mà không cần đầu tư nhiều tiền như Việt Nam hiện vào tượng đài liệt sĩ, vào nghĩa trang ưu tiên cho cán bộ cao cấp.

Hại dân, dân hại

Nhân vừa là nguyên nhân, vừa là nhân loại, trong đó nguyên của hạt, của giống, khi gieo vào đất sống, cấy vào nhân sinh luôn theo quy luật "nhân nào quả nấy". Vì, quảkết quả, nếu hay, đẹp, tốt, lành thì là hiệu quả ; còn nếu xấu, tồi, tục, dở thì là hậu quả. Quy luật "nhân nào quả nấy", được Phật giáo phân giải tận tường, Khổng giáoLão giáo không phân tích ngược lại hoặc khác đi ; trong khoa học xã hội và nhân văn đã dụng nó không những như lý thuyết luận mà còn như phương pháp luận để phân tích chính xác hơn quan hệ xã hội qua chính trị, giữa kẻ thống trịngười bị trị. Nhất là trong chính trị học, luôn lấy quy luật nhân quả làm cốt lõi để giải thích các phản xạ của quần chúng, các phản ứng của nhân chúng trong ngắn hại, trung hạn và dài hạn. Quy luật "ác quả ác báo" tới để củng cố quy luật "nhân nào quả nấy", cùng lúc mài sắc nhọn hơn diễn luận của quy trình nhân quả, để báo động cho nhân sinh biết cái hậu quả của xấu, tồi, tục, dở đang biến thái qua hậu nạn tới từ thâm, độc, ác, hiểm. Nơi đây, hệ bạo (bạo quyền, bạo lực, bạo hành, bạo động, bạo chúa…) bó buộc các lãnh đạo phải nghiệm thêm cho thật tỉnh táo và sáng suốt thêm một vấn nạn khác, có nhân lý vì có nhân tri : "hại nhân, nhân hại", không biết các lãnh đạo hiện nay có đủ tuệ giác hay không để cụ thể hóa nó hơn nữa : "hại dân, dân hại" !

Lý tưởng chính trị

Lý tưởng chính trị vừa chính sách hóa được các phương án phục vụ nhân dân và đất nước, vừa mô hình hóa được các tổ chức cụ thể trong đầu tư và kiểm tra, vừa cụ thể hóa mọi sinh hoạt chính trị, nơi mà lãnh đạo chính trị dẫn dắt từ thượng nguồn tới hạ nguồn các quyết tâm thực hiện các chỉ tiêu trong thực tế. Tại đây, sinh hoạt lãnh đạo chính trị là tổng kết tất cả các sinh hoạt của xã hội, từ nông nghiệp đến công nghiệp, từ kinh tế đến thương mại, từ giáo dục tới văn hóa… để tìm ra tổng lực làm cho được chuyện dân giầu nước mạnh. Lý tưởng chính trị làm nên niềm tin chính trị, nếu quốc thái dân an theo hướng đi lên của dân tộc, giới hạn mọi hậu nạn, tăng trưởng mọi sản suất, làm giầu thực sự cho mọi tầng lớp có mặt trong xã hội, thì lý tưởng chính trị đã làm nên sức mạnh chính trị. Quá trình lý tưởng-niềm tin-sức mạnh, không chỉ quyết tâm chính trị, mà nó chính là thông minh chính trị, quá trình này chính là sung lực xuyên qua để nâng lên trình độ chính trị của dân chúng, cường độ nhận thức chính trị của nhân dân. Lý tưởng chính trị trong năng lực của lãnh đạo chính trị mang luôn tiềm lực thay đổi nhân sinh quan của một dân tộc, lấy nhân tính để giáo dục nhân tình ; làm biến đổi thế giới quan của một giống nòi, lấy nhân tri để hiểu nhân loại ; làm chuyển đổi vũ trụ quan của quần chúng, hiểu môi trường chính là môi sinh cho nhân thế.

Lý tưởng chính trị bắt đầu bằng liêm chính-liêm minh-liêm khiết

Nếu phương trình nhân sinh quan-thế giới quan-vũ trụ quan được thăng hoa, thì đây chính là kết quả của tiến bộ, của văn minh, cũng là sự thành công cụ thể của lãnh đạo chính trị. Lý tưởng chính trị biến cái tầm thường lập đi lập lại không có tiến bộ, đổi cái bình thường vô thưởng, vô phạt, thay cái tầm phào của sống lây lất, đưa tất cả vào quy trình hiện đại hóa có văn minh, cùng lúc giữ được các tuyền thống tốt lành, các di sản hay đẹp, đây chính là quá trình khai thị-khai minh-khai trí có trong bổn phận và trách nhiệm của lãnh đạo chính trị, nếu lãnh đạo liêm chính-liêm minh-liêm khiết. Lý tưởng chính trị bắt đầu bằng liêm chính-liêm minh-liêm khiết để làm cho bằng được chuyện khai thi-khai minh-khai trí thì đây đúng là lãnh đạo lấy chân thật- chân tình-chân chính để chứng minh được là trong chính trị có chân tu : lấy chức để tạo đức, lấy đức để tạo phúc cho dân, lấy phúc tạo lợi cho nước.

Lý của lãnh đạo : bảo vệ đất nước, bảo bọc nhân dân

Lý của lãnh đạo, hoàn toàn ngược lại với hiện thực của Việt Nam hiện nay, là một Đảng cộng sản Việt Nam lấy ghế để ngồi trên lợi ích của dân tộc, thấy mệnh nước lờ mờ, nhìn nhân dân mông lung, lại có những liên minh chằng chéo với ngoại bang xâm lược là Tàu tặc, các lãnh đạo chính trị của Đảng cộng sản Việt Nam đang mất đi cái lý của lãnh đạo. Lý của (lãnh) đạo bắt đầu bằng hành động luân lý, hành vi đạo lý nhận trách nhiệm bảo vệ đất nước, bảo bọc nhân dân, bài học nhập môn này trong lãnh đạo chính trị bắt đầu bằng ý lực như mãnh lực trở lại thượng nguồn của dân tộc, ngay trong lịch sử để thấy-và-lấy được những kinh nghiệm của tổ tiên, tài năng của cha ông trong việc dựng nước và giữ nước, chính trị không bao giờ rời lịch sử. Lý của (lãnh) đạo trong bài học thứ hai nằm ngay trong thực tế, được xây dựng lên bởi nhiều thực tại, trong đó lãnh đạo chính trị phải làm được hai chuyện cùng một lúc, hai chuyện này gần như trái ngược nhau trong thực cảnh, để nắm rõ thực trạng của dân tộc. Một là giải quyết các bất công gây nên căng thẳng, hiềm khích, xung đột trong xã hội ; hai là lập ra chính sách cho tương lai có mục đích chính là bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, phát triển đất nước, với mục tiêu cao thượng là đưa xã hội về phía văn minh để thăng hoa dân tộc trên, chính trị không bao giờ rời xã hội.

Lý của lãnh đạo : tập hợp được tất cả tiềm năng của dân tộc

Lý của (lãnh) đạo trong bài học thứ ba là tập hợp được tất cả tiềm năng của dân tộc, tài nguyên của đất nước trong một sung lực tổng thể để tạo được một ý lực trong chính sách bảo vệ và phát huy đất nước, nơi đây lý tưởng chính trị đi đôi với hành động lãnh đạo. Chính lãnh đạo sẽ biến sung lực thành hùng lực trong phát triển kinh tế và mãnh lực trong quyết tâm bảo vệ bờ cõi quê hương, chính trị không bao giờ rời nhân dân. Lý của (lãnh) đạo trong bài học thứ tư chọn phương hướng để làm định hướng, biết định hướng để thấu các ưu tiên ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, rồi xếp loại và xếp thứ tự các ưu tiên này qua các chính sách để quyết đoán đâu là ưu sách phải thực hiện cho bằng được để dân tộc được thay đời đổi kiếp theo chiều hướng hay, đẹp, tốt, lành, đưa nhân tính vào nhân tình, đưa nhân tri vào nhân loại, đưa nhân thế vào nhân nghĩa, đưa nhân phẩm vào nhân bản, chính trị không bao giờ rời nhân đạo. Lý của (lãnh) đạo trong bài học thứ năm là nắm thời giữ thế -tùy thời lập kế, tùy thế lập mưu- để chọn ra các chính sách nhiều hiệu quả, ít hậu quả, vắng bóng khổ đau, ngày càng đầy phúc lợi cho dân tộc, không bị xơ cứng trong ý thức hệ, không bị nhốt tù bởi các khẩu lịnh tuyền truyền xa thực tế, xa thời thế, chính trị không bao giờ rời thời cuộc.

Ý tưởng chính trị phục vụ cho lý tưởng lãnh đạo

Lý của (lãnh) đạo trong bài học thứ sáu là biến tâm niệm quốc thái dân an thành tâm lực dân giầu nước mạnh, trong đó kẻ lãnh đạo giỏi là kẻ của bây giờ và tại đây, kẻ lãnh đạo tài là kẻ của hiện thực của thế giới hiện nay, kẻ lãnh đạo lớn là kẻ thấu nội cảnh và hiểu ngoại cảnh của đất nước mình, để dùng ngoại cảnh mà nâng nội cảnh. Nếu ý tưởng chính trị sinh ra từ lý tưởng lãnh đạo (quốc thái dân an để tiến tới dân giàu nước mạnh) thì ý tưởng chính trị sẽ làm nền cho sáng kiến trong quyết định, cho sáng tạo trong chính sách, từ đó thực tế hóa lý tưởng lãnh đạo. Từ đây nhân dân có thể đặt ra hai yêu cầu cho chính giới lãnh đạo, thứ nhất nếu không có ý tưởng chính trị để phục vụ cho lý tưởng lãnh đạo thì đừng lãnh đạo ! Thứ hai lý tưởng lãnh đạo luôn là ý lực lãnh đạo vượt kinh nghiệm của quá khứ, không lập đi lập lại cái cũ nếu cái cũ không làm dân tộc thăng hoa, đất nước giầu đẹp. Tới đây ta thấy hệ vấn đề lý tưởng lãnh đạo sẽ làm đầu tàu cho mọi sinh hoạt lãnh đạo chính trị, trong đó bọn tham quyền không có ghế ngồi, bọn tham ô không có chỗ đứng, bọn tham nhũng không có chỗ dựa.

Ý lực lãnh đạo, thực lực chính trị

Ý tưởng chính trị thể hiện lý tưởng lãnh đạo trong việc đi tìm quốc thái dân an rồi tiến tới dân giàu nước mạnh, thì đây là chuyện thực tiễn chớ không phải chuyện lý thuyết, chuyện thực tế chớ không phải chuyện trừu tượng, và bản lĩnh của lãnh đạo chính trị là đưa ý tưởng chính trị vào nhân sinh, đưa lý tưởng lãnh đạo vào nhân tình, để ý lực lãnh đạo biến thành thực lực chính trị, làm nên thực tế xã hội. Nếu không có lý tưởng lãnh đạo, thì sẽ không thấy, không hiểu, không thấu phương trình biến hóa của ý lực lãnh đạo-thực lực chính trị-thực tế xã hội, theo dân tộc theo hướng thăng hoa. Nếu không nhận ra phương trình này thì đừng lãnh đạo, hay để những kẻ có lý tưởng hơn mình thực hiện phương trình này, biến nó thành chương trình cụ thể trong lãnh đạo chính trị thay mình. Chính lý tưởng lãnh đạo dẫn dắt ý tưởng chính trị tạo ra đường lối chính thống cho mọi sinh hoạt chính trị, chế tác ra các quá trình tuyển chọn chương trình chính trị. Và, nếu lãnh đạo liêm chính với chính sách liêm minh thì lý tưởng lãnh đạo có mặt ngay trong hiến pháp, để điều hành tư pháp, điều chế hành pháp, điều động lập pháp.

Ý tưởng chính trị làm gốc cho tư tưởng chính trị

Trong không gian của quyền lực có sân chơi-trò chơi-luật chơi chính trị được cổ vũ bởi lý tưởng dìu dắt ý tưởng, mà ta thấy rất rõ trong các nước dân chủ vì tiên tiến, văn minh vì tôn trọng nhân quyền. Hiện diện của lý tưởng lãnh đạo đưa đường dẫn lối ý tưởng chính trị không hề là chuyện mơ hồ, huyền hoặc trong chính giới, vì nó vừa là mục đích, vừa là động cơ để cải tổ chức các định chế dựa trên phương án lý tưởng lãnh đạo-ý tưởng chính trị. Trong ý tưởng chính trị có sáng kiến và sáng tạo của đường lối chính trị, sẽ làm gốc cho tư tưởng chính trị, dựa trên lý tưởng lãnh đạo vừa là bàn đạp, vừa là dàn phóng cho mọi chính sách. Trong đó có sự chấp nhận cạnh tranh giữa các ý tưởng chính trị, có sự chấp thuận đấu tranh giữa các lý tưởng lãnh đạo. Đây chính là nội công của sinh hoạt chính trị, nội lực của bản lĩnh lãnh đạo ; nhận cạnh tranh, nhận đấu tranh tới từ đối phương, đối thủ như nhận sự "bồi dưỡng chính trị" tới từ ngoại giới để thêm sức, thêm tài cho sung lực chính trị của mình.

Lý tưởng đi xa-quyết tâm đi lên

Chỉnh chu trong hành động chính trị phải dựa vào sự chu đáo của lãnh đạo, trong đó liên tục chỉnh đốn hàng ngũ lãnh đạo, để có hiệu quả trong sinh hoạt chính trị, không ngừng cải tổ theo hướng tốt mà không cần phải dùng xương máu để làm cách mạng. Biết có công bằng qua công lý, để pháp lý có chỗ dựa là pháp luật, vừa nghiêm minh để chống tội ác, vừa biết khoan hồng để giáo dục dân chúng theo hướng tự giác, từ ý thức tới nhận thức. Lý chỉnh chu nhờ luôn được chỉnh đốn bởi đạo lý hay, đẹp, tốt, lành, bởi luân lý vững chắc của tổ tiên biết nhận bổn phận và trách nhiệm với non sông, với giống nòi, đây là chuyện có thật và có độ dày (rất dày) trong Việt sử qua quyết tâm của Ngô Quyền, qua quyết đoán của Lý Thường Kiệt, qua hai đời thịnh trị Lý-Trần, qua đạo đức của Nguyễn Trãi, qua mãnh lực của Quang Trung. Lý chính trị chỉnh chu (quốc thái dân an) luôn được bồi dưỡng bởi lý tưởng chính trị (dân giàu-nước mạnh) không hề là chuyện mơ tưởng chính trị, mơ hồ lãnh đạo, đó là những mô hình sáng, luôn được lau chùi để ngày càng sáng hơn, qua hành động chính trị cụ thể của lãnh đạo : làm chính trị thì đừng chọn cách đi đường mòn trên cái xấu, cái dở, để lập lại cái tồi, cái hèn, mà chọn cái sáng suốt khác để đi lên, trong cái tỉnh táo của lãnh đạo có lý tưởng đi xa vì có quyết tâm đi lên.

Nội chất của chính trị chính là nội lực của lãnh đạo

Lý chính trị chỉnh chu (quốc thái dân an) qua lý tưởng chính trị (dân giầu-nước mạnh) mang cách xử lý phương trình gần dân-xa thói, tức là luôn gần dân để hiểu mong cầu và đòi hỏi của dân, nhưng xa thói xấu, như xa các lệ tầm phào vì tầm thường trong nhân cách. Cụ thể là dân tình quý trọng các lãnh đạo liêm minh-liêm chính-liêm sỉ, chấp nhận thanh bạch-thanh đạm-thanh bần, và dân tình rất khinh thói khoe của hiện nay của các lãnh đạo xây biệt phủ, biệt dinh, biệt thự của các lãnh đạo thối nát. Cụ thể có ông lãnh đạo tối cao thủa nọ : cựu tổng bí thư Nông Đức Mạnh xây dựng nội thất mạ vàng, người ta khinh vì nó chỉ nói lên cái vô lý của vô minh, vô tri, vô giác của một lãnh đạo. Ta khinh bọn lãnh đạo sống để mạ vàng trong khi dân đen, dân oan ngày càng nhiều, chỉ vì ta thấy chúng ngày càng gần hệ bán nước-ngày càng xa hệ cứu Không trọn lý thì đừng mong trọn tình trong lãnh đạo chính trị trước nhân dân, vì đất nước, vì tiền đồ của tổ tiên ; những mơ hồ trong thuật ngữ : lãnh đạo vừa là kỹ thuật, vừa là nghệ thuật, đã biến thành sáo ngữ, vô thưởng vô phạt, nếu kẻ lãnh đạo không nhận ra nội chất của chính trị chính là nội lực của lãnh đạo, trong đó kết quả của chính sách được đo lường qua hiệu quả của kẻ lãnh đạo.

Trọn : học cho kỹ để hành cho đúng

Học cho kỹ để hành cho đúng là sinh hoạt thường nhất của lực lượng lãnh đạo, trong đó quá trình hành động chính trị được xếp đặt có thứ tự trong quá tình xây dựng chính sách. Trọn cứu cánh trong lý giải các chính sách, ở đây mục đích chính sẽ lý giải mọi mục tiêu trong thực tế, ở đó chuyện ích nước-lợi dân, là chính, lấy công ích dẫn dắt tư lợi. Trọn phương tiện, trong giải thích về các giai đoạn đầu tư, từ đây có tự lực để có tự cường, lấy tự chủ để vận động liên minh, kể cả viện trợ quốc tế. Trọn lợi ích, trong lý giải các thành quả, bằng kết quả hay cho giống nòi, tốt cho dân tộc, đẹp cho văn hóa, lành cho xã hội. Các lợi ích luôn có tính hữu hiệu đẩy lùi được các chuyện xấu, tồi, tục, dở trong xã hội, trong dân chúng. Trọn đầu tư, biết thuyết phục các chi phí của cả công trình, chống tham nhũng để chống đầu cơ, chống tham ô để chống trục lợi ; cô lập bọn "sâu dân mọt nước", vô hiệu hóa bọn "thừa nước đục thả câu", phong tỏa hóa bọn "mượn đầu heo nấu cháo", chúng sẽ không có chỗ ngồi trong đầu tư, vì chúng không có chỗ đứng trong chính sách.

quyenluc9

Lý gần là lý gần với thực tế của nhân dân

Trọn thấu hậu quả với những phân tích về các hậu nạn có thể xẩy ra, hậu nạn luôn ở số nhiều về nhân lực cũng như về nhân phẩm, về tài nguyên cũng như về môi trường, về xã hội cũng như về văn hóa, về giáo dục cũng như về luân lý… nếu hậu quả lường được, mà lại nhiều hơn hiệu quả thì đừng ra chính sách, đừng bỏ sức để đầu tư. Trọn tăng trưởng với các tính toán sinh lời trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, trong con tính : có rồi thì được quyền có thêm, có ít thì được quyền có nhiều hơn để nâng cao cuộc sống hằng ngày cho nhân dân, trong đó luân lý, đạo lý giáo dưỡng hệ thống giáo dục, lấy kinh tế phục vụ xã hội, lấy lợi nhuận phục vụ lao động, lấy sáng suốt để bảo vệ tài nguyên, lấy tỉnh táo để bảo tồn môi trường, lấy nhân trí để tăng trưởng nhân lý. lý gần là lý gần với thực tế của nhân dân, trong đó chuyện chén cơm manh áo của dân chúng lãnh đạo phải hiểu, tại đây chuyện cơm áo gạo tiền của quần chúng lãnh đạo phải thấu, ở đây chuyện giá áo túi cơm của nhân dân lãnh đạo phải có sự đồng cảm, không xem thường chuyện thiếu thốn của dân tộc. Ý nguyện thành ý lực đủ ăn, đủ mặc chính là thao thức đau đáu hằng ngày của lãnh đạo chính trị.

Lý xa : thay đời đổi kiếp

Lý xa là chuyện xa nhưng làm được vì nó không xa vời, vì muốn làm lãnh đạo là muốn đưa dân tộc với tới được chuyện thay đời đổi kiếp theo hướng đi lên, bền và vững của dân giầu nước mạnh. Lý xa nhưng thực hiện được vì đã có trong vốn liếng văn hóa và giáo dục của tổ tiên : con hơn cha là nhà có phúc, không trên mức độ của vài cá nhân, của vài từng lớp lãnh đạo, mà trên cường độ của cả nước, của toàn dân, trong đó đại đa số được hưởng sống vui để vui sống, không sưu cao thuế nặng, không cường hào ác bá, cụ thể là không có dân đen, không còn dân oan. Lý gần là lý gần kề với thực trạng của dân tộc, có đủ cơm ăn áo mặc, không phải đi làm lao nô ngay trên đất nước mình cho các doanh nghiệp ngoại quốc, không chịu cảnh nô tỳ cho các nước láng giềng, tuyệt đối không rơi vào cảnh nô lệ của họa tầu tặc. Lý gần vì lãnh đạo có thể làm được tức khắc qua quyết tâm chính trị biết dựa vào lý tưởng chính trị, mà không cần gọi tên qua xảo ngữ để lừa dân là lý tưởng cách mạng ! Lý xa là đưa nhân tri sáng, nhân trí cao vào nhân tình nghèo, vào nhân thế thấp, làm cho bằng được cuộc cách mạng nhân phẩm : quyết chí làm chủ và từ chối làm tớ, để thành công như các nước láng giềng cùng nôi văn minh trong tam giáo đồng nguyên như ta : Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc. Lấy sáng kiến trong giáo dục làm ra sáng tạo trong khoa học kỹ thuật ; chọn kiếp cao, bỏ kiếp thấp, cụ thể lấy tự chủ để có tự lập lập ra tự cường, tức là chọn tự trọng trước tổ tiên và con cháu, quyết không chọn điếm nhục với láng giềng, với thế giới !

Lý không chấp nhận cớ của thực

Lý không chấp nhận cái cớ của thực (thực tế, thực cảnh, thực trạng) đặc thù của sinh hoạt chính trị không chấp nhận nghèo đói, là lý đặc trưng của chính giới không chấp nhận lạc hậu, làm nên lý đặc điểm của lãnh đạo chính trị, nơi mà lãnh đạo là để xóa nghèo nàn lạc hậu. Còn bọn lãnh đạo nào mà vỗ ngực là lãnh đạo chính trị mà nhắm mắt trước nghèo đói, khoanh tay trước lạc hậu, quỳ gối trước ngoại xâm, lại còn lẳng lặng vơ vét qua chuyên quyền-tham quyền-lạm quyền, gây ra tham nhũng-tham ô. Bọn này không phải làm chính trị, mà chúng chỉ mượn việc lãnh đạo tham quantham bòn rút, tham ăn vì "quen thói bốc trời", mà thi hào Nguyễn Du đã mô hình hóa được bọn tội phạm này. Lý không chấp nhận thực tế tới từ bất bình đẳng tạo ra bất công, bất công tạo ra bất chấp luân lý, bất tuân đạo lý. Không chấp nhận bất bình đẳng tới từ "con sải nhà chùa thì quét lá đa", vì không chấp nhận bất công tới tự "con vua thì được làm vua", không nhượng bộ chuyện "con quan thì được làm quan", không công nhận hiện trạng thái tử đảng, mà nhân dân không thấy tài năng, cũng không thấy đạo đức của chúng. Lý không chấp nhận thực cảnh tới từ bọn "cướp ngày là quan", chúng biến đồng bào mình một sớm một chiều thành dân đen, dân oan. Không chấp nhận bọn "đục nước béo cò", không tha thứ bọn "sâu dân, mọt nước", không lùi bước trước bọn "thừa gió bẻ măng", không khoan nhượng bọn "mượn đầu heo nấu cháo", từ "mua quyền bán chức" qua "buôn thần, bán thánh".

"Buôn nước bán dân" là "bây chết mặc bây" !

Lý không chấp nhận thực trạng tới từ bọn "đem voi dày mả tổ", không nhắm mắt trước bọn con "cõng rắn cắn gà nhà", không quay lưng đối với bọn "buôn nước bán dân", không chấp nhận chúng vì chúng chỉ thấy chúng ! Cái ích kỷ của chúng sẽ đưa tới chuyện "ai chết mặc ai", nếu chúng nắm các chức lãnh đạo thì chúng sẽ làm chuyện bỏ đồng bào chúng "bây chết mặc bây" ! Nếu muốn làm lãnh đạo mà không tự rèn luyện hằng ngày các lý không chấp nhận thực (thực tế, thực cảnh, thực trạng) này, thì đừng lãnh đạo, vì lãnh đạo thì chỉ "khổ dân, nhục nước". Nhân dân không bắt các lãnh đạo hiện nay của Đảng cộng sản Việt Nam đi học lại, để xóa các hậu quả về tụt hậu kinh tế, tệ nạn xã hội, đồi trụy luân lý, suy kiệt chất xám... chúng ta chỉ yêu cầu các lãnh đạo này trở lại ngay tức khắc các bài học mà tổ tiên đã để lại cho con cháu, các bài học này rất dễ hiểu nên rất dễ học, dễ học nên rất dễ trao truyền, dễ trao truyền nên rất dễ đối thoại, dễ đối thoại nên rất có đồng thuận, đồng tâm : Có thực mới vực được đạo, với thực của sự thực để nuôi chân lýlẽ phải và với thực như thực phẩm để nuôi dân, nuôi con cháu, với liên minh chặt chẽ của sự thực qua chính ngôn của lãnh đạo, với chân lý phục vụ cho công lý, với lẽ phải làm nền cho đạo lý hay, đẹp, tốt, lành.

Vong quốc mất trọn, mất trắng

Có chính sách đúng, với chính trị cao, được chỉ đạo bởi lãnh đạo giỏi, theo đúng bài học của tổ tiên : có tích mới dịch nên tuồng, dựa trên năng lực lãnh đạo (khôn cậy, khéo nhờ, khó chịu), lấy tự chủ để làm chủ (khôn làm cột cái, dại làm cột con), có định hướng chủ lực, biết thời hiểu thế, nắm kế thấu mưu, làm lớn thắng to, để sớm thăng hoa dân tộc (khôn làm lẻ, khéo làm mùa). Trước mắt là loại ra cho bằng được bọn "sâu dân, mọt nước", hãy xếp loại chúng : bọn cơ hội trên tài nguyên đất nước (thừa gió bẻ măng), bọn đầu cơ trên tiềm năng dân tộc (thừa nước đục thả câu), bọn đầu nậu trên tiền của nhân dân (mượn đầu heo nấu cháo), bọn trục lợi túi tham không đáy (bắt cá hai tay). Trước hiểm họa xâm lược của Tàu tặc, làm lãnh đạo phải nghiệm ngày đêm về hệ mất mà Việt ngữ đã rất rành mạch trong ngữ vựng, ngữ văn, ngữ pháp : mất mát là thiệt thòi về tiềm năng, bị hao tổn tiềm lực ; mất thân là mất mạng, chết trong thất bại ; mất đời là mất cuộc sống, mất xã hội, mất văn hóa ; mất hết là mất tất cả, không còn gì cho hiện tại lẫn tương lai ; mất trọn là mất tất cả, kể cả gia đình, quyến thuộc, thống tộc, dân tộc ; mất trắng là mất tất cả, kể cả gốc, rễ, cội, nguồn… Mất phải được liên tục suy nghĩ-suy tư-suy ngẫm bởi lãnh đạo, từ mức độ tới cường độ của quốc nạn sắp tới : vong quốc !

Cởi để bỏ

Cởi bỏ ý thức hệ cộng sản cùng lúc giải thể Đảng cộng sản Việt Nam ! trước hết là khẳng định khả năng cởi bỏ cái độc hại của cái độc đảng, để cởi bỏ cái độc đoán tới từ cái độc quyền, để cởi bỏ cái độc tôn tới từ cái độc trị. Độc đảng luôn độc hại, vì nó làm mù quáng hóa kẻ lãnh đạo, tạo ra vô minh để đưa lãnh đạo tới vô tri, cuối cùng là vô giác trước nỗi khổ của dân tộc, niềm đau của giống nòi, với cái độc chỉ thấy nó mà không thấy nhân tình chung quanh để có nhân tính trong kiếp làm người ! Cởi bỏ, là sung lực, nó không hề thụ động vì ươn hèn, quay lưng tránh bổn phận, tháo chạy bỏ trách nhiệm, ngược lại nó mang sự thông minh của giác ngộ, giúp kẻ đã mù, câm, điếctham, sân, si đã mang ma đạo vào nhân trí để gây đổ vỡ cho nhân tri phải cải tà quy chính. Kéo dài độc đảng là kéo dài sự mê chấp trong tư duy để tiếp tục cái mê cung trong hành động chính trị quên đất nước, xua dân tộc để chạy theo phương hướng chuyên chính để chuyên quyền, một lộ trình vô định của vô tri. Cởi bỏ hệ mê (mê muội, mê si, mê chấp, mê cung) chính là sự sáng suốt trong lãnh đạo chính trị. Cởi bỏ cái để tìm cái giác để có cái ngộ là thử thách -chính thức và chính thống- của tập thể lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay nếu họ còn thiết tha với tiền đồ của Việt tộc !

Cởi để mở

Cởi mở trong lãnh đạo chính trị, không dựa trên một cá tính của một cá nhân lãnh đạo với phong thái thoải mái, không dựa trên tâm lý của một cá thể lãnh đạo với hành vi vui vẻ, mà nó chính là giáo dục chính trị sẽ biến thành phản xạ tích cực khi lãnh đạo. Cởi mở trong lãnh đạo chính trị là khả năng đón tiếp kiến thức mới, kinh nghiệm lành, phương án tốt, tư vấn hay, trong tư thế luôn luôn mong muốn học hỏi, biết nghe để biết đón, biết tiếp để biết nhận, biết nhận vì biết trao ! Cởi mở trong lãnh đạo chính trị vừa là nền trong đạo lý chính trị, luôn gần dân, không xa rời quần chúng, vừa là cầu nối để dân chúng được trao đổi về chính sách với lãnh đạo, được đối thoại với chính quyền, được thảo luận với chính phủ. Không mỵ dân, cũng không đạo đức giả, mà dựa vào khả năng lãnh đạo với lý luận về chính sách, với lập luận về đường lối luôn có giáo khoa chính trị, khi gặp nhân dân. Mở lý trí lãnh đạo để nhân dân có thể nói, tiếp, nghe, nhận chính kiến của mình mà không có chuyện "ăn trên, ngồi trốc" để áp đặt chuyện "cả vú lấp miệng em". Cởi mở để tạo quan hệ với quần chúng, với nhân dân, và làm cho quan hệ này vững, bền một cách thường trực, một quan hệ không hề "vô thưởng, vô phạt", mà là một quan hệ ngày càng cao, sâu, xa, rộng, và luôn dựa trên chính giáo của hai bên, có nền là đạo lý hay, đẹp, tốt, lành của một dân tộc, với lộ trình hai chiều "trên nói dưới nghe""dưới nói trên nghe".

Bất công tạo oan khiên

Lãnh đạo cũng là người (là phàm nhân trước khi thành vĩ nhân nếu có thành quả lỗi lạc vì dân tộc), cũng luôn cần hai nhu cầu : cởi mở để có quan hệ giữa người và người, cởi mở để có sự thỏa mãn trong quan hệ xã hội. Nếu là lãnh đạo mà không có quan hệ với quần chúng bên ngoài thì rất đáng sợ ! Đây có thể là loại tâm thần lạc vào chính giới ! Chính có lãnh đạo chính trị hiện nay đang xa rời nhân dân, mặc cho dân đen lầm lũi, mặc cho dân oan lang thang, mà nên làm ngược lại để có tâm niệm chính trị : làm lãnh đạo không phải chỉ tạo ra của cải cho dân, mà còn phải tạo ra quan hệ bền, chắc, vững, lâu với dân ! Bất bình đẳng có mặt trong xã hội, nó tới từ nhiều nguyên do, nhưng không phải bất bình đẳng nào cũng mang tới bất công. Bất bình đẳng là hệ vấn đề của xã hội, bất công là phạm trù có trong xã hội, nhưng được phân giải qua hệ của công pháp, nền móng của pháp luật. Một trong những thất bại lớn của lãnh đạo chính trị là không giải quyết được bất công, mà lại còn gây ra oan khiên, ở đây bất công trở nên oan ức không chấp nhận được, biến nạn nhân của oan án thành kiếp oan khiên, đến chết cũng không yên, thành oan hồn giữa cõi dương của người sống.

Oan vì chính sách thì xử lãnh đạo thật công minh

Nếu bị oan vì chính sách, thì chính kẻ lãnh đạo phải được mang ra xử thật công minh, đưa ra phân xử thật công bằng, không có chuyện đặc quyền dành cho lãnh đạo, không có chuyện làm lãnh đạo thì thoát được tòa án. Pháp luật sinh ra để xử mọi vụ án, và không chừa bất cứ lãnh đạo ở cấp nào trong chính quyền, cấp cao nào trong đảng ! Thử thách hàng đầu của lãnh đạo chính trị là dùng cái thực để làm nên cái tốt, ngày ngày xóa cái nghèo để tránh cái khổ cho dân. Để nhìn thấy được cái khổ trong cõi người thì không khó ! Tại đây, cái khổ được nhận diện qua sự sống còn, ngược lại sống thường là sống bình thường, bình an trong thoải mái, sống mà không phải đấu tranh từng ngày, từng giờ. Trong khi đó sống còn là phải đấu tranh để sống, muốn sống phải tranh sống, sống mà như "dở chết, dở sống", sống lây lất, cụ thể trước mắt chúng ta là trường hợp của dân đen, dân oan, nơi mà oan khiên xuất hiện rõ ràng trong cuộc sống, trong xã hội, nếu làm lãnh đạo mà nhắm mắt, không xử lý, không giải quyết thì không những đã có lỗi mà còn mang tội nữa !

Tùy thời tạo thế

Tùy thời tạo thế, được con cháu thấy rõ trong các chiến tích trong quân sự của cha ông (Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyển Trãi, Quang Trung..), qua các thành tích quản lý của tổ tiên (Lý, Trần, Lê…), trong đó lấy quy luật của thời gian (thời điểm, thời khắc, thời kỳ…) để lập nên thế (thế trận, thế tiến công, thế phản công…), hệ vấn đề này không những đúng trong quân sự mà cả trong tổ chức và quản lý. Linh động thích ứng để linh động tìm lối đi, "thời bắt thế, theo thời phải thế" mang tính linh hoạt của hành động trước thời thế, thuận lợi hay bất lợi của nhân cảnh. Lý lịch của các lãnh tụ tài giỏi làm xuất hiện một ẩn số khác có lúc đi ngược với thời thế, đó là ý chí ; tại đây tiềm ẩn một ẩn số khác là năng lực của lãnh đạo là quá trình giải bày ý chí qua đề nghị-đàm phán-quyết định, khi thuyết phục các lãnh đạo khác. Tại đây, sự chuẩn bị kỹ lưỡng các phương án vừa đối phó, vừa đối trọng ngay trên thượng nguồn để dàn xếp chu đáo nội bộ trong đó có chuyện phải cân đối phương trình thời thế-ý chí, để duy tâm không "trùm phủ" lên duy lý. Muốn thành công thì lý trí lãnh tụ phải nhận được sự đồng tình của tất cả hoặc của đa số không những của các thành viên lãnh đạo, mà luôn cả các liên minh trong nội bộ ; từ đó ý chí cá nhân sẽ hình thành ra lý trí của tập thể.

Bản lĩnh của lý luận, nội công của lập luận, tầm vóc của giải luận

Câu chuyện thượng nguồn để chuyển hóa thời thế-ý chí qua thực lực của ý chí-lý trí là quá trình vừa giải thích, vừa phạm trù hóa ý chí dựa trên tính hiệu quả, có cơ sở của điều tra sơ khởi, thực địa, làm sáng mối tương quan giữa sáng kiến của ý chítình huống tới từ thời thế. Trên thực tế lãnh đạo, phải nên phân biệt : ý chí thường thì dựa trên mô hình, còn hiệu quả thường dựa vào sự biến đổi của tình hình. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các lãnh đạo vừa có quá nhiều tin tức, dữ kiện, chứng từ luôn đa diện, đa chiều, để lấy những quyết định đúng (của chính trị tỉnh-lãnh đạo thức), cùng lúc có các chuyên ngành, với cái chuyên gia để có được những chỉ báo để dự đoán được những chỉ tiêu. Kẻ lãnh đạo tài giỏi phải biết ít nhất các tiêu chuẩn chọn lựa tư vấn, càng rộng thì càng sâu, càng xa thì càng cao, không "yếu vía" sợ chuyện "lắm thầy nhiều ma", nếu kẻ lãnh đạo đó có bản lĩnh của lý luận, nội công của lập luận, tấm vóc của giải luận để nhận ra năng lực của các cố vấn, qua ít nhất ba khả năng phân tích và phân loại tình hình của họ : tính đa phương của bối cảnh, tính đa dạng của tình huống, tính biến động của thời thế.

Tùy kế lập mưu

Tùy kế lập mưu, khai thác thuận thời mẫn kế, nhưng cùng lúc tìm ra kế phải lập được mưu, trong chính trị cũng như trong ngoại giao, và kinh tế, thương mại cũng không nằm ngoài sự vận hành của mưu lược, khác chiến lược nhận định trên toàn bộ mang tính dài hạn, và chiến thuật có tìm hiệu quả trước mắt mang tính cụ thể của một tình huống. Mưu lược thì ngược lại được sử dụng song song với tính dài hạn của chiến lược, với tính ngắn hạn của chiến thuật, như đòn bẫy-cạm bẫy của tác giả tìm ra mưu lược đó, đòn bẫy cho chính mình được nhanh hơn, rộng hơn, cao hơn, dài hơn, ngược lại là cạm bẫy cho đối phương. Tùy kế lập mưu nhận định mưu lược như là dàn phóng, dàn nhún cho ta ; có lúc là giăng bẫy để đối thủ rơi vào vì thiếu cẩn trọng, vì chủ quan, vì vô minh trước địa dư, vì vô tri trước sự thông minh của ta… Và nếu làm được cả hai việc : đòn bẫy cạm bẫy trên một trận địa thì càng hay. Thí dụ không hề thiếu trong lịch sử chống ngoại xâm của Việt tộc, mà chỉ trong khung kinh nghiệm quân sự trên sông Bạch Đằng, cũng có thể giải thích trọn lý-đủ luận qua các chiến tích của Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo. 

Trí tuệ dũng lược, tuệ giác sáng suốt

Tùy kế lập mưu quan trọng ngay trên thượng nguồn của kẻ sáng chế ra nó, và theo tri thức luận của khoa học chính trị, thì kẻ lãnh đạo chịu và nhận sự chi phối ít nhất ba yếu tố : mô hình hóa ý muốn-ý định-ý đồ của tác giả để đưa tính toán lý thuyết và thực hành cụ thể ; đồ án hóa các phương trình để biến mọi ẩn số thành hằng số để đưa vào chương trình hành động ; hợp lý hóa ý chí của mình rồi biến chúng thành chỉ tiêu để thành công khi thực hiện mô hình và đồ án của mình. Tùy kế lập mưu luôn theo quy luật nhân-thời-địa-thế, nhưng đây chỉ là nhận định ban đầu để phân tích tổng quát, kẻ lãnh đạo lập phương án hành động cụ thể phải suy nghiệm chính xác sự khác biệt (mà cũng là khoảng cách) giữa ý chí ở dạng mô hình lý thuyết và thực hành linh động trên một thực tế nhất định, trong đó có sự tôn trọng sức thông minh của đối phương, đối thủ, chỉ để tránh "thảm bại vì khinh địch". Tùy kế lập mưu là sáng tạo của trí tuệ dũng lược, dựa trên sáng kiến của tuệ giác sáng suốt có gốc rễ của tài năng "biết nhìn xa trông rộng", đây chính là tiêu chí để chọn lãnh đạo tối cao, nếu không có "cốt cách" này thì đừng giành làm lãnh tụ !

Covers Articles OVF

Nội lý diễn biến thực tế

Nội lý diễn biến thực tế nhận định thực tế không theo mô hình mà theo quy luật biến đổi thường trực của nhân thế ; luôn được nhận ra từ tình huống, khi tình huống làm xoay chuyển môi trường hiện tại tạo ra thực trạng của xã hội, bất lợi hoặc thuận lợi cho dân tộc, cho đất nước ; làm lãnh đạo chính trị là nhận định, phân tích để điều tiết hoặc khai phá các thực trạng này. Nội lý diễn biến thực tế được nhận diện qua biến đổi của thời thế, mở lối cho chính sách hoặc đóng cửa mọi sáng kiến ; làm lãnh đạo chính trị là thấy được, nhận ra nội lý diễn biến của tình hình, sẽ quyết định đúng hiệu quả của một chính sách, và nếu quyết định sai sẽ gây ra hậu quả cho xã hội, cho dân tộc. Nội lý diễn biến thực tế, khi được lãnh đạo chính trị đánh giá qua nội lý diễn biến của tình hình, thì kẻ lãnh đạo giỏi biết khai thác tiềm năng xấu hoặc tốt của thực trạng ; còn kẻ lãnh đạo tài thì biết khai triển vốn có sẵn để kiếm lời trong thời thế mới ; riêng kẻ lãnh đạo lớn thì biết tìm cho ra các nội lực mới, các đồng minh mới, các liên minh mới, để củng cố thời-thế-vị của đất nước vì dân tộc.

Nội lý biến thiên nhân tâm

Nội lý diễn biến thực tế trong tư duy của lãnh đạo chính trị chấp nhận chuyện "nắng sớm chiều mưa" trong so sánh lực lượng, bất lợi hay thuận lợi cho mình ; công nhận luôn chuyện "sớm nở, tối tàn" trong các liên minh giữa các đồng minh, bên này hay bên kia ; sẵn sàng đón nhận luôn chuyện "vật đổi, sao dời" không những giữa bạnthù, mà cả về chuyện bất biến giữa chung thủy và phản bội ngay trong nội bộ, làm được tất cả các chuyện này thì xem như "đắc đạo" trong quản lý phương trình lãnh đạo : nội lý diễn biến thực tế-nội lý biến thiên nhân tâm. Nội lý diễn biến thực tế, khi đã làm sáng tỏ nội lý biến thiên nhân tâm, thì kẻ lãnh đạo giỏi biết khai thác tính hiệu năng cho nội lực của chính mình ; còn kẻ lãnh đạo tài thì biết khai triển tính hiệu quả cho nội công của chính mình trong thời thế mới ; và kẻ lãnh đạo lớn thì biết tìm tổng hợp của cả tính hiệu năng lẫn tính hiệu quả để hiệu lực hóa chế tác ra một tổng lực mới với kết quả hay, đẹp, tốt, lành nhất cho đất nước, cho dân tộc. Nội lý diễn biến thực tế tạo ra nội lý biến đổi liên tục, hướng dẫn các kẻ lãnh đạo, giỏi, tài, lớn không bị :nhốt tù trong mô hình chính trị của chính mình, thí dụ đau thương của cải cách ruộng đất (1954-1960), của tết Mậu Thân (1968) ; còng tay trong phương án chính trị của chính mình, thí dụ bi thảm của cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn (1954-1975). Các kinh nghiệm đau đớn này bắt Việt tộc phải trả những giá quá đắt !

Nhập lý vào thể lực môi trường

Nhập lý vào thể lực môi trường, có bước đầu tiên trong nhập lý vào nội lực của bối cảnh, trong đó bối cảnh của thực tế làm chuyển đối hệ ý (ý muốn-ý định-ý đồ), lãnh đạo chính trị tài ba sẽ chuyển hóa linh động hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận) của mình theo bối cảnh để biến bối cảnh thành thực lực của mình. Nhập lý vào thể lực môi trường, có bước thứ hai là mô hình đôi, trong đó mô hình cứng mang ý chí của chính sách, mô hình mềm đưa thực tế của môi trường, của bối cảnh để làm tăng hiệu lực cho vốn đầu tư, trong đó sự phối hợp nhuần nhuyễn mô hình đôi (cứng và mềm) là khả năng và ý chí của lãnh đạo vừa biết cõng chính sách qua trở ngại, trở lực, vừa biết buông lỏng khi mô hình bóp ngộp thực lực trong thực tế. Nhập lý vào thể lực môi trường, có bước thứ ba là chiến lược đôi khi gặp nước chảy xiết, thì biết chọn nơi để làm đập nước để giữ nước, biết chọn chỗ thông nước để cho thoát nước ; trên cùng một dòng nước : hai chiến lược này không hề mâu thuẫn nhau, được xử theo lý luận đôi trong thông minh linh động để giải quyết. Nhập lý vào thể lực môi trường, có bước thứ tư là nắm hai tay, tay phải là chính sách của hệ lý (lý trí, lẽ, luận), tay trái là chuyển biến khôn lường của hệ thực (thực tế-thực cảnh-thực tại). Nắm hai tay để giữ cả hai, sự liên kết phải-trái, vừa tạo ra tính nội kết, bảo đảm sự tương tác linh hoạt của cả hai, không tách biệt nên không sợ mâu thuẫn, không có xung đột nên không có bùng nổ, đe dọa tính thực tiễn của chính sách.

Lý mục đích của luận phương tiện

Nhập lý vào thể lực môi trường, có bước thứ năm là tính hiệu quả đôi, lấy chính sách để kích thích tình hình phát triển theo hệ sáng (sáng tỏ-sáng kiến-sáng tạo) với hiệu quả có trong sự đồng tình và ủng hộ của tập thể, cộng đồng làm nên khối đại đoàn kết cho dân tộc. Song hành cùng với hệ khai (khai thị-khai minh-khai trí) để phục vụ cho khai thác mọi tiềm năng, tiềm lực, của môi trường qua hành động chính trị cụ thể. Nhập lý vào thể lực môi trường có bước thứ sáu là biến tình hình thực tế thành lực đẩy làm xoay chuyển môi trường ban đầu theo quỹ đạo của chính sách lãnh đạo trong đó hệ thực (thực tế-thực cảnh-thực tại) giờ đã nhận sự chi phối của hệ khai (khai thị-khai minh-khai trí), tạo ra thực tế mới : nhập lý vào sung lực khai phá qua hệ sáng (sáng tỏ-sáng kiến-sáng tạo), từ đây lãnh đạo mới thực sự có chiến-lược-thật-trong-tình-hình-thật. Lý mục đích của luận phương tiện, không liên quan gì tới loại khẩu lệnh "lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện", sống sượng trong diễn luận, mù quáng trong giải luận, loại khẩu lệnh này sẽ không có một cứu cánh nào có nhân lý, nhân tri, nhân văn, nếu phương tiện của nó không tôn trọng nhân bản, nhân bản, nhân tính. Ngược lại, lý mục đích của luận phương tiện luôn được diễn biến trên quá trình nhận thức của hệ lương (lương thiện-lương tâm-lương tri), không ép ý đồ chính trị của lãnh đạo qua một ý thức hệ vô tri, vô cảm, vô nhân.

Lý mục đích của nhân trí, luận phương tiện luận của nhân bản

Lý mục đích của luận phương tiện, có thượng nguồn của nhân bản, nhân bản, nhân tính, sẽ hướng để tránh được các khuyết tật sinh ra trong tư duy trong lãnh đạo chính trị là : mô hình hóa một cách cứng ngắt các đồ án ; kế hoạch hóa một cách thô thiển khi triển khai các phương án ; duy tâm hóa một cách thiển cận các quá trình sử dụng phương tiện… Lý mục đích của luận phương tiện, cũng có công cụ, kỹ thuật, đầu tư của phương tiện trong hạ nguồn để giữ cái lý trí của lý mục đích và cái hợp lý của luận phương tiện để đạt được : tính hợp lý của 3 đề (đề nghị-đối thoại-đàm phán), tính thực tế của 3 sáng (sáng lý-sáng kiến-sáng tạo), tính khả thi của 3 khai (khai minh-khai trí-khai phá). Lý mục đích của luận phương tiện luôn có sự phối hợp chặt chẽ của phương trình lý trí mục đích-hợp lý phương tiện, dựng lên tư duy hành luận của lãnh đạo trong hành động lãnh đạo qua 3 bảo (bảo đảm khối đoàn kết dân tộc, bảo trì vốn liếng xã hội, bảo quản tiền đồ tổ tiên). Lý mục đích của luận phương tiện luôn thường xuyên đánh giá để tìm hiểu thực chất để có thực lực trên 3 tiềm (tiềm năng thuận lợi của bối cảnh thực tại, tiềm lực của các liên minh mới xuất hiện trong thực cảnh, khả năng khai thác các đồng minh mới trong thực tế). Lý mục đích của nhân trí, luận phương tiệnluận của nhân bản, không biết, không thấu, không hiểu thì tốt nhất là : đừng nên lãnh đạo !

Luận tạo lực trong thuận lý

Luận tạo lực trong thuận lý, luận mang của lý trí ra chống lại chuyện triển khai những phương án trước khi nắm tình hình, trước khi điều tra cơ bản, trước khi nghiên cứu thực địa để nắm 3 thực thứ nhất (thực trạng-thực cảnh-thực tế), của lý trí dụng để thấy rõ các trở ngại, các chướng ngại của 3 thực này. Luận tạo lực trong thuận lý bắt đầu bằng chuẩn đoán theo các chỉ báo khách quan để đánh giá một 3T thứ hai (thực tại-thực lực-thực tiễn), nơi mà lý thuyết xơ cứng sẽ lùi lại để các hành động cụ thể mang nội chất tích cực là hiểu vấn đề để vượt khó khăn, lấy sáng kiến để thoát các ngõ cụt, lấy sáng tạo để biến vượt thoát thành vượt thắng. Luận tạo lực trong thuận lý sẽ cho xuất hiện một 3 thích thứ ba (thích ứng-thích nghi-thích hợp), trong đó nhập nội với 3 thực (thực trạng-thực cảnh-thực tế) để không bị bỏ rơi bởi hiện tại của bây giờở đây. Kế tiếp là thích nghi theo lời dạy của tổ tiên : "tùy cơ ứng biến" nhưng cùng lúc phải sáng tạo ra các thuận lý mới để xoay chuyển tình thế, cụ thể là chuyển hóa các so sánh lực lượng, biến bất lợi thành thuận lợi. Chính khả năng lãnh đạo biết sáng tạo ra các thuận lý mới, để đưa thích ứng thích nghi vào quy trình của thích hợp, hỗ trợ bởi các thuận lý mới, để không bi quan chịu đựng cảnh "thời bắt thế theo thời phải thế" ; từ đây biết biến vượt thoát thành vượt thắng để không mang theo tính thất thế tạo ra chủ bại của "qua sông thì phải lụy đò".

Tự tin-tự chủ-tự cường

Luận tạo lực trong thuận lý, là tạo ra khả năng hội nhập của lãnh đạo trong phương trình 3N (nội chất-nội lực-nội công), trong đó nội chất chính là lý trí bảo vệ chuyện hay, đẹp, tốt, lành trong một chính sách sáng suốt, vì lãnh đạo có nội lực của 3 luận (lý luận-lập luận-giải luận), để biến nó thành nội công của lãnh đạo. Nội công này sẽ làm nên bản lĩnh chính trị, tầm vóc của chính sách, nơi đây cũng là nơi để suy nghiệm bài học lãnh đạo của tổ tiên "so ra mới biết ngắn dài" để phân định hai loại lãnh đạo : hữu tài hay bất tài. Luận tạo lực trong thuận lý, không hề là chuyện lý thuyết mơ hồ, tạo ra mờ ảo trong hành động chính trị, mà là khả năng quản lý và tổ chức 3 lực (sung lực-hùng lực-mãnh lực). Tại đây, sung lực tới từ tiềm năng của đất nước, tiềm lực của dân tộc để tạo ra hùng lực trong xã hội với nhân dân đã hiểu rõ 3 tự (tự tin-tự chủ-tự cường) chế tác ra mãnh lực chống ngoại xâm để bảo vệ bờ cõi, tạo nên sức bật trong việc xây dựng cho bằng được chuyện "dân giàu, nước mạnh". Luận tạo lực trong thuận lý, chế tác ra tổng lực của "thuận lý luận", có thượng nguồn của lý trí, có trung nguồn của chỉ đạo linh động, có hạ nguồn trong tổng hợp 3 thích +3 luận +3 lực, để làm nên thành công của lãnh đạo. Và, kẻ lãnh đạo giỏi, người lãnh đạo tài phải biết vận hành trong mọi hành tác chính trị.

Chính quyền (không) độc

Chính quyền là quyền lực cao nhất và trùm phủ toàn sinh hoạt xã hội, có vai trò trị an song hành cùng quốc phòng, dụng giáo dục để bảo vệ đạo đức và lấy đạo đức để thi hành công lý qua pháp luật. Nhưng một chính quyền thông minh và sáng suốt không nằm ngoài hệ nhân : lấy nhân tính để dìu nhân tình, lấy nhân tri để dắt nhân thế, lấy nhân trí để dẫn nhân loại, đưa tất cả vào nhân đạo, để sống có nhân bản, đối xử có nhân văn, quan hệ có nhân nghĩa. Ước mơ mà Platon đặt tên là cộng đồng lý tưởng. Chính quyền bảo đảm các định chế xã hội, được ghi trong hiến pháp, bảo hành luôn tất cả cơ chế trong xã hội, tự hành chính tới giáo dục, bảo trì từ ngân sách tới xuất khẩu, từ văn hóa tới luân lý... Chính quyền bảo đảm, bảo trì, bảo hành dường như tất cả mọi sinh hoạt xã hội, và xã hội học chính trị đặt ngược lại vấn đề : vậy ai sẽ bảo đảm, bảo trì, bảo hành chính quyền ? Trong các quốc gia có dân chủ, chính đầu phiếu qua bầu cử sẽ quyết định câu trả lời qua các chương trình, chính sách cả các đảng phái trên nguyên tắc của đa nguyên quyền chọn lựa lãnh đạo là tự do của người dân, chính đây là câu trả lời thông minh mà hiện nay không có câu trả lời nào thông minh hơn.

Khai thị-khai sáng-khai trí

Một quốc gia không chấp nhận dân chủ, chối gạt đầu phiếu liêm chính, xua mất bầu cử trong sạch, tìm cách tiêu diệt mọi mầm mống của hệ đa (đa nguyên, đa tài, đa năng, đa hiệu, đa diện...) thì cùng lúc chính quyền độc này (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc tôn, độc trị) tìm mọi cách để kiểm duyệt mọi sinh hoạt thông minh của tự do. Trong đó, tự do của khoa học xã hội và nhân văn, từ học thuật tới nghiên cứu, từ điều tra tới điền dả, để công bố các kết quả, từ đó giúp nhân dân nhận ra được thực chất của một chính quyền, trong đó chính trị học, kinh tế học, triết học, xã hội học... chính là những chỉ báo sắc nhọn để nhận ra một chính quyền, một thể chế có thông minh hay không ? Tại các quốc gia văn minh và tiến bộ, khoa học xã hội và nhân văn đóng vai trò khai thị-khai sáng-khai trí cho dân chúng, cho xã hội. Thảm kịch hiện nay của Việt Nam, là chính quyền độc đã làm bao chuyện độc hại ngoài chuyện diệt dân chủ, tự do, đa nguyên, nó đã diệt tiềm năng, tiềm lực của khoa học xã hội và nhân văn, ngay trong trứng nước ! Nó đã bóp chết học thuật như bóp ngộp sức thông minh sắc nhọn của tri thức !

Lực của quyền vì lợi ích của dân tộc

Nếu chính quyền bảo đảm các định chế xã hội, được ghi trong hiến pháp, bảo hành luôn tất cả cơ chế trong xã hội, tự hành chính tới giáo dục, bảo trì từ ngân sách tới xuất khẩu, từ văn hóa tới luân lý... Chính quyền bảo đảm, bảo trì, bảo hành dường như tất cả mọi sinh hoạt xã hội : thì cũng chính là chính quyền làm sản sinh ra các vấn đề xã hội mới. Và, nếu không giải quyết các vấn đề xã hội mới, thì chính chúng sẽ sinh đẻ ra các khó khăn xã hội mới, nếu khó khăn xã hội mới này không được giải quyết nhanh chóng, chính chúng sẽ tạo ra các tệ nạn xã hội mới, và nếu các tệ nạn xã hội này không được xử lý toàn bộ, chính chúng sẽ sinh bừa không những các bất công xã hội mới, kể cả các bạo động xã hội mới. Một chính quyền chính thống luôn dụng lực của quyền vì lợi ích cho tập thể, cho cộng đồng, cho dân tộc.

Đối nhân xử thế là biết ơn và mang ơn

Chính quyền (không) bỏ gốc trong một dân tộc biết thờ tổ tiên là một chính quyền biết quý trọng người tuổi trọng, vì họ là cầu nối giữa đạo lý tổ tiên và các thế hệ sinh sau đẻ muộn, họ nối tầm nhìn của kẻ xưa để nối tầm tay của thế giới khuất mặt và thể giới có mặt. Vậy mà, các người lớn tuổi không được bảo vệ, không được chăm sóc, không được tôn trọng như bao đời nay trong lịch sử của Việt tộc. Một số không nhỏ bị gia đình bỏ rơi, bị xã hội xem rẻ, bị chính quyền quên trong chính nhiệm vụ của chính quyền là phải bảo vệ những kẻ già yếu. Hãy tạm gạt qua câu "kính lão đắc thọ", biến chuyện nâng người lớn tuổi để tìm đường sống lâu trong lúc nhiều tuổi, mà hãy chỉ đối xử bình thường của kẻ biết ơn-mang ơn, không cần phải trả ơn, chỉ cần thành kính với họ trong gia đoạn lão-bịnh-tử. Có không ít các người tuổi trọng mà không được quý trọng, chịu cảnh "tứ cố vô thân", ngày ngày "đầu đường, xó chợ", lang thang "cù bất, cù bơ", thấp bé như "bụi đời", lẻ loi như "oan hồn", thậm chí phải "ăn mày, ăn xin" để "sống vất vưởng qua ngày". Nếu một chính quyền mà để người dân tuổi trọng trong tình trạng như vậy thì chính quyền này có tội với họ, phải lảnh tội trước tổ tiên, phải chịu tội trước luân lý "thờ cha, kính mẹ" theo nghĩa rộng nhất và thật nhất !

Phụ nữ : nạn nhân của chính các chủ nhân chính quyền !

Chính quyền như một tập thể nhân tri sống động có quyền lực trên một lãnh thổ, nhưng phải thực thi quyền lực đó qua các giá trị của nhân tính ; mà nhân tính Việt chính là nhân nghĩa Việt (bầu ơi thương lấy bí cùng), chính là nhân bản Việt (một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ), chính là nhân đạo Việt (máu chảy, ruột mềm), chính là nhân văn Việt (máu chảy tới đâu, ruột đau tới đó). Tại đây, một chính quyền có nhân tri Việt phải hướng dẫn xã hội, phải dẫn dắt người trưởng thành, phải giáo dục thanh thiếu niên, phải giáo dưỡng thiếu nhi (chỉ trong hai từ) : có hậu ! Vì "ăn ở có hậu" mới có lối ra để thoát vô cảm ! Có nẻo đi vượt vô nhân ! Có đường để tránh vô hậu ! Chính quyền (không) phân nửa là một chính quyền không quên một nửa bộ phận của dân tộc là : phụ nữ ! Thói quen "trọng nam khinh nữ" đã thô bỉ trong đấu tranh hiện nay của thế giới cho nam nữ bình quyền, tại Việt Nam nó lại càng bỉ ổi hơn trong thực tế xã hội nơi mà phụ nữ Việt còn bị hà hiếp (nạn nhân của hiếp đáp), có lúc bị cưỡng hiếp (nạn nhân của hiếp dâm), lúc thì ngoài xã hội, thậm chí có lúc là nạn nhân của chính các chủ nhân chính quyền ! Chuyện chính ở đây là vai trò bươn chải, gánh vác gia đình phụ nữ Việt, biết vùng dậy để thành công trong doanh trường, thành doanh nhân cáng đáng gia đình, doanh nghiệp, mà vẫn bị chèn ép ngay trên chính trường, vắng mặt trong lãnh đạo chính trị, với một thiểu số quá ít để làm theo đổi tình hình hiện nay để bảo vệ phụ nữ.

Tội của chính quyền hiện nay

Một tình hình với một số không nhỏ nam giới hưởng thụ trong nhàn rỗi, từ nhậu nhẹt qua chơi bời, từ trác táng qua tha hóa, tiêu rỗi thời gian qua tiêu thụ bừa bãi trong một quá trình hèn nhục hóa nhân cách nam giới, một chính quyền mà nhắm mắt, quay lưng với các tệ nạn nam giới là một chính quyền có tội với dân tộc. Tội của chính quyền hiện nay càng nhiều, càng sâu, khi họ để phụ nữ Việt phải đi làm nô tỳ, nô bộc, thậm chí "làm gái" trong nhiều nước láng giềng, mà số phận thua kẻ "đi ở đợ". Trong khi mọi người Việt đều biết không ai thấy những phụ nữ các nước láng giềng trên đất nước Việt, một chế độ mà để bao nhiêu trăm ngàn phụ nữ đi "làm vợ lẽ", "làm điếm", kể cả trẻ con. Vậy mà, trên mạng xã hội, cư dân mạng đều thấy bức ảnh một phụ nữ, ăn mặc hở hang, nhưng cầm trên tay biểu ngữ "bán thân không bán nước" ! Đây không những là sự thật về chính quyền hiện nay trong đó có một số không nhỏ lãnh đạo đang trong quy trình bán nước, mà biểu ngữ này còn nói lên một sự thật luân lý sâu xa hơn là phụ nữ phải bán thân thì : nhân cách-tư cách-phong cách của họ còn liêm chính-liêm khiết-liêm sỉ hơn bọn bán nước.

Chính quyền (không) chém ngọn

Chính quyền (không) chém ngọn là chính quyền biết bảo vệ : lộc, chồi, hoa, ngọn của cuộc sống, đó chính là trẻ thơ ! Chính là tương lai đang hiển hiện trước mặt chính quyền đang cầm quyền, phải giáo dục-giáo dưỡng chúng bằng giáo lý của nhân loại, của tổ tiên, trao truyền được nhân tri, nhân trí cho một nhân loại chưa trưởng thành đang chờ đón nhân nghĩa, nhân bản, nhân văn. Chính quyền (không) chém ngọn là chính quyền không chấp nhận cảnh trẻ con phải ăn "cơm thiu, cháo hẩm", "ăn lá để no bụng" như một bầy trẻ có động thái thú tính trong giờ cơm tại các trường học vùng sâu-vùng xa, ngày ngày bẩn thỉu, rách rưới, cảm cúm, thất thểu, vượt suối, vượt đèo để đi học trong hiểm nạn. Chính quyền (không) chém ngọn không thể để một số thầy giáo, cô giáo bạo động ngay trong lớp học, đánh đập các học sinh trước mắt bạn bè của chúng ; không trả bài được thì bị nhục mạ bằng những lời lẽ thô tục. Làm sao có thể dạy được học sinh yêu người, yêu đời bằng bạo lực. Chúng còn bị bạo hành bởi cha mẹ ngay trong gia đình, vùi dập chính các con mình bằng những cực hình mà chính họ thấy xảy ra ngoài đường, trong các đồn công an, trong phim ảnh, trong truyền hình...

Chính quyền (không) xóa não

Chính quyền (không) xóa não là chính quyền biết trọng chất xám, nâng niu tri thức, quý trọng trí thức, vì quý yêu kiến thức, biết dụng không những khoa học kỹ thuật, mà khai thác sáng suốt các nghiên cứu, điều tra, điền dã của khoa học xã hội và nhân văn, nắm chắc các kết quả của học thuật để hiểu sâu nhân tình, hiểu rộng nhân loại, hiểu cao nhân thế, luôn đưa nhân tri vào nhân trí để nâng nhân bản. Chính quyền (không) xóa não, là chính quyền biết khai thác sử học, để tra đúng sử liệu, tìm trúng sử luận, để hiểu sử tính của một dân tộc, sử địa của một đất nước, và không lập lại sai lầm của quá khứ, biết ưu điểm, trọng điểm của tổ tiên nhưng cũng thấu luôn yếu điểm, nhược điểm, khuyết điểm, kể cả khuyết tật của họ. Hiểu thấu lịch sử để làm khá hơn, tốt hơn, hay hơn, cùng lúc đặt Việt sử, vào sử quốc tế để so sánh từ đồng sử đến dị sử giữa người và ta, trong đó so sánh sắt se với láng giềng cùng nôi tam giáo đồng nguyên với ta. Đó là Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, cùng văn hóa với ta tại sao họ thành công làm chủ, còn ta thất bại (trong thảm hại) làm công, làm thợ cho họ thậm chí lao động trong vai nô tỳ, nô bộc cho họ ?

Thượng nguồn của bất bình đẳng

Chính quyền (không) xóa não là chính quyền biết đưa kiến thức của khoa học xã hội và nhân văn làm tri thức cho xã hội hiện tại, có kiến thức xã hội học rồi thì biết sáng lập ra nhân khẩu học để có các chỉ số, chỉ báo, chỉ tiêu trong định chất và định lượng từ sinh suất tới tử suất, từ tuổi thành hôn tới tuổi thọ của các cá nhân, của một dân tộc. Khi đã vững về kinh tế học thì biết sáng tạo ra kinh tế học xã hội để chuẩn đoán rồi để giới hạn ngay trên thượng nguồn của câu chuyện bất bình đẳng (con vua thì được làm vua, con quan thì được làm quan) qua cải tổ giáo dục, chuyện bất công (cá lớn nuốt cá bé) để bảo quản được đạo đức của cha ông. Chính quyền (không) xóa não là chính quyền biết đưa các khám phá của khoa học xã hội và nhân văn vào ngay trong công tác xã hội, từ thấu hiểu các nhu cầu xã hội tới xử lý các đòi hỏi xã hội, chính tri thức của các nghành này tạo điều kiện cho chính sách đúng hơn, lãnh đạo khôn ra, đây là chỉ báo để định nghĩa sự thông minh trong chính trị. Chính quyền (không) xóa não là chính quyền biết khiêm tốn trước tri thức, luôn muốn học hỏi ; khiêm nhường với trí thức, luôn nhận các tư vấn đúng, các cố vấn giỏi ; luôn khiêm cung trước "điều hay, lẽ phải" của tổ tiên, xem chuyện cứu nước-giữ nước hơn chính sinh mạng của mình, nếu không nghĩ và không làm như vậy thì đừng lãnh đạo chính trị !

Chính quyền (không) xé lẻ

Chính quyền (không) xé lẻ là chính quyền dùng quyền lực của trí tuệ dân tộc, tài nguyên đất nước để chế tác ra hợp lực trong đó giáo dục phục vụ nhân tri và nhân trí, kinh tế phục vụ cho nhân sinh, văn hóa phục vụ cho nhân văn, đạo lý phục vụ cho nhân cách, lấy nhân nghĩa làm nhân bản. Ý nghĩa của hợp lực có trong kinh nghiệm dựng nước và giữ nước của tổ tiên qua thuật ngữ : cả nước-toàn dân. Biến hợp lực thành tổng lực, chính quyền (không) xé lẻ là chính quyền dùng quyền lực của định chế và cơ chế để làm ra tổng lực, không xé lẻ để hưởng riêng, không xé lẻ để cộng sức. Không lòn lách qua lách luật, tránh luật, thậm chí xé luật để tham nhũng-tham ôtham quyềnlộng quyền. Bọn xé lẻ để đi đêm với đối phương, để xé lẻ để đi lén với kẻ thù không thể dung thân trong một chính quyền sạch ! Chính quyền (không) xé lẻ vì tư lợi của lãnh đạo, vì tranh quyền giữa các nhóm lợi ích, thanh trừng nhau trong bạo lực như các mafia, chỉ biết trộm, cắp, cướp, giựt với hành vi "ăn tươi, nuốt trọn", vừa vơ vét, vừa tính chuyện "cao bay, xa chạy" khi đất nước lâm nguy. Chính quyền (không) xé lẻ không quên cập nhật hóa các giá trị tâm linh của tổ tiên ; biết duy trì và trao truyền mọi giá trị luân lý và đạo lý qua giáo dục ; biết bảo quản rồi bảo hành mọi di sản vật thể và phi vật thể vì nhân dân, và vì nhân loại. Biết phổ biến hóa các khả năng, các tài năng của từng thành phần xã hội, các tiềm năng và tiềm lực của từng vùng miền, để "vốn liếng hóa"phương trình hợp lực-tổng lực trong các hành động cụ thể của lãnh đạo : lấy vốn cũ để tạo vốn mới !

Chính quyền (không) vùi tri

Tri thức để lãnh đạo chính trị không chỉ tới tự kiến thức khoa học, nó hằng ngày khai trí cho lãnh đạo nếu các lãnh đạo muốn khai minh qua khai thị khi trực diện với dân chúng với xã hội, chuyện chính của tri luôn là có chịu học, chịu hiểu, chịu thấu để chịu đổi, chịu thay, chịu chuyển hóa hay không thôi ! Tri thức về dân chúng với cuộc sống ngày càng nheo nhóc của họ, không biết các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam có ý thức, có nhận thực để chuyển thành tâm thức hay không, khi xuất hiện một tâm lý mới của số đông dân ngày càng bị cái nghèo khó, bị cuộc sống hằng ngày truy bức quá đổi sinh ra tâm lý : "sợ tết !". Tại sao lại sợ tết một thời điểm vừa thiêng liêng, vừa thảnh thơi, phải vui vì là dịp rất vui của cả nước ? Lý do chính vẩn là tài chính, kính tế, vật chất : "không có tiền ăn tết", "không đủ tiền nghĩ tết", "tết đến còn làm buồn hơn", "chỉ mong cho tết qua mau"... Tâm trạng này phải đánh thức tâm thức của lãnh đạo, họ phải thực sự phản tỉnh để thấy hiện trạng quần chúng : Tết làm gì cho khổ ! Việt tộc luôn biết "vui tết", thế mà các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam có thấy là trong lúc họ nhận quà cáp "ngập mặt", thì có các gia đình chỉ đủ sống nhưng mấy đêm "ba ngày tết" lẳng lặng tặng : "quà tết", "ẩm thực tết", "bánh trái tết"... đi cùng đường cuối phố, để phân phát cho các người dân không nhà, nằm la liệt thảm buồn giữa tết, đó là tình đồng bào trong một xã hội mà đạo đức dân tộc đang bị xuống dốc thảm hại, một xã hội bị một chính quyền bỏ rơi, bỏ đi, bỏ mặc !

Chính quyền (không) xiết tuệ

Chính quyền (không) siết tuệ, nơi mà tuệ giác của dân tộc chính là trí tuệ của lãnh đạo ! Tuệ giác hiện nay của nhân dân nằm ngay trong nỗi khổ niềm đau của họ, vì hơn hết họ hiểu sự cùng quẩn của dân đen, sự oan ức của dân đen : tại sao trong dịp tết này, 2018, có hàng trăm dân oan vẫn ra Hà Nội, dù biết các cơ quan lãnh đạo đã đóng cửa nghĩ tết ! Lãnh đạo đừng lẻo lưỡi "phục vụ dân", hãy thật sự phục vụ nhân dân, bằng cách chống bất công, chống bạo quyền, hãy bảo vệ dân bằng tuệ giác của công bằng. Trí tuệ của lãnh đạo bắt đầu bằng trực diện để trực quan : các cơ quan có những toà nhà đắt tiền, rộng lớn, cũng từ tiền thuế của dân mà ra ; chính các cơ quan đó, từ địa điểm của các hội tới các địa danh của của chính quyền, thì tất cả cửa nẻo đóng im ỉm ngay cả ngày hành chính bình thường, nơi mà chung quanh dân oan đứng, ngồi, nằm la liệt, họ đang : đi ăn xin công lý đấy ! Họ trực tuyến để trực diện với một chính quyền vô tuệ trước công pháp đấy ! Vì họ có kinh nghiệm với một chính quyền đi bắt cóc các nhà vận động dân chủ, tuyên bố xử họ công khai nhưng chặn dân đi dự ngay trước cổng toà, bỏ tù các nhà vận động dân chủ nhưng khi thả họ ra thì không có chứng thư giam giữ và phóng thích, cùng lúc chối leo lẻo trước quốc tế là Việt Nam không có tù nhân lương tâm. Một chính quyền bắt cóc dân-xử đóng cửa tòa-nhốt bừa bãi-thả thô tục đó là một chính quyền trí tuệ nhúng chàm.

Trí tuệ lãnh đạo trong đạo lý lãnh đạo : "đồng cam cộng khổ" với dân

Trí tuệ của lãnh đạo nằm ngay trong đạo lý của lãnh đạo : "đồng cam cộng khổ"với dân, nằm giữa đạo đức của lãnh đạo : "chia cơm xẻ áo" với dân ! Ngược lại cứ để nhân dân tự cứu đói nhau ; mặc thanh niên đi bảo vệ môi trường, môi sinh giữa khu Sơn Trà có động vật trong sổ đỏ, hàng ngày bị đe dọa bởi bọn tướng tá tham quan phá rừng để xây : biệt thự, dinh thự, biệt phủ, nhân cách bọn này không phải lãnh đạo, vì tư cách của chúng thua xa súc vật. Tuệ giác của lãnh đạo rất dễ thấy (nếu lãnh đạo muốn thấy, muốn thấu) qua chính bạo quyền, cho phép công an bạo động với thanh thiếu niên, khi cô bé Cát Linh bị công an bắt, đánh đập, tra hỏi và khi mở cặp của cô học sinh này ra thì thấy toàn : hiến pháp ! Chính bọn công an vô tri, vô giác không sao hiểu nổi có một cô học sinh để dành tiền đi mua hiến pháp để tặng cho bạn bè, cho dân chúng, giúp họ hiểu công pháp, công lý hơn để họ tự bảo vệ họ, vì chính quyền không bảo vệ họ, mà ngược lại hằng ngày hiếp đáp họ.

quyenluc11

Thực quyền : nhân dân có quyền

Thực quyền, không có công thức cũng không có mô hình, nên không có định nghĩa để áp dụng vào thực tế, nếu áp dụng quyền lực một cách máy móc thô bạo vào thực trạng của xã hội thì nó sẽ tạo ra phản quyền, như phản lực để chống lại áp chế, khống chế, để chống lại áp đặt dưới nhiều mức độ, dưới nhiều trình độ, qua trực diện hay phản diện với quyền lực. Thực quyền luôn được quyết định qua 3T (trí năng-tài năng-khả năng) của lãnh đạo, trong đó trí năng mang thực lực của 3L (lý luận-lập luận-giãi luận) được vận dụng trong thực tế qua các chính sách. Tại đây, tài năng của lãnh đạo làm rõ một 3T trọng tâm khác (tri thức-ý thức-nhận thực) của quần chúng, tạo ra khả năng của lãnh đạo trong 3K (khai trí-khai lý-khai minh) cho nhân dân, để nhân dân ủng hộ cụ thể các chính sách của lãnh đạo. Thực quyền luôn được hỗ trợ bởi 3N gốc rễ (nhân bản-nhân văn-nhân tính) trong giá trị 3V (văn hóa-văn minh-văn hiến) của một dân tộc, trong đó lãnh đạo phải biết vận dụng lý trí của một 3N của lý trí (nhân lý-nhân tri-nhân trí) luôn có mặt chỗ trung tâm trong các chính sách của lãnh đạo. Từ đó nhân dân sẽ thấy rõ 3N cốt lõi (nhân nghĩa-nhân đạo-nhân phẩm) có mặt từ lý thuyết luận tới phương pháp luận của lảnh đạo, mà nhân dân có quyền kiểm định qua kết quả và hậu quả của các chính sách này.

Thực quyền : thực chủ trong dân chủ

Thực quyền luôn nằm trong khung của 3 cảnh (bối cảnh-hoàn cảnh-thực cảnh) của một đất nước, của một dân tộc, có nền là 3 tình (tình hình-tình trạng-tình huống) của thời đại và thời cuộc. Trong đó, tình hình toàn cầu hóa hiện nay đang tạo các quyền lực mới tới từ khoa học kỹ thuật sinh ra một 3 tin mới (tin tức-thông tin-truyền thông) qua internet, qua mạng xã hội, đây vừa là thực quyền và vừa là thực chủ để khai mào dân chủ. Từ đây, tạo được tình trạng đa thông tin trong đa quyền lực, sinh ra những tình huống sinh động cho đa nguyên, linh động cho nhân quyền. Chính ba hùng lực của dân chủ-nhân quyền-đa nguyên tạo ra 3 lực (sung lực-nội lực-trí lực) cho nhân dân qua mạng xã hội. Thực quyền sẽ biến độc quyền của 3 độc (độc tài-độc đoán-độc đảng) thành lỗi thời vì nó chỉ là "ma bùn" trong tà quyền, chỉ là "ma xó" trong bạo quyền, chỉ vì độc tôn đã vào "ma đạo" của độc hại, ngược lại nhân loại đang theo đa, để có đa (thực) quyền, để tạo ra đa lý, đa trí, đa tri, đa tài, đa năng, đa hiệu... Thực quyền theo các tiêu chí trên làm nên được chính trị tỉnh-lãnh đạo thức, nếu các lãnh đạo hiện nay không hiểu các tiêu chí này thì nên : buông quyền ! rời quyền ! bỏ quyền !

Quyền để quyết

quyền để quyết : quyết đoán để quyết định. Quyết đoán bằng năng lực biết chủ động để khách quan hóa các kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức trong tỉnh táo để sáng suốt khi xây dựng quyết tâm, hoàn toàn ngược lại với độc đoán không nhận kiến thức để loại bỏ tư vấn, không nhận tri thức để trừ khử đối thoại. Quyết đoán mở mọi cửa trước khi quyết, ngược lại với độc đoán đóng mọi cửa trước và sau khi quyết. Quyết đoán để đi về phía chân trời có mặt trời, trái hẳn với độc đoán, đã quyết trong cực đoan, với hành vi quá khích, nên "cắm đầu, cắm cổ" đi mà không tỉnh táo tìm phương hướng, đi mà không sáng suốt cùng với các kẻ đồng hành khác. Quyết đoán trong quyết định là kết quả tích cực của hạ nguồn sau khi điều tra cơ bản đã kết luận tính khả thi của chính sách dựa trên tính thực thi của chương trình. Quá trình này trái ngược hẳn với phản xa tùy tiện và dễ dãi của "đồng tâm nhất trí", với "toàn thể giơ tay biểu hiện sự đồng tình", trong sự vô tri của lệ thuộc, tới từ vô minh vắng kiến thức sinh ra vô thức, luôn tìm cách khử ý thức. Quyết đoán bằng quyết định để làm chính trị là nhận trọn vẹn vai trò chủ thể, làm lãnh đạo là nhận toàn diện vai trò chủ thể, vì định nghĩa của chủ thể là : tác nhân nhận trách nhiệm trước cộng đồng, nhận bổn phận trước tập thể qua tự do để xây dựng tự chủ cho chính mình, từ đó lấy sáng kiến để sáng tạo, dùng kết quả tích cực của sáng tạo của cá nhân mình để phục vụ cộng đồng, để thăng hoa tập thể.

Quyền để hành

Quyết đoán để quyết định tôn trọng quy trình thông minh của dân chủ : đề nghị-đối thoại-quyết định-hành động trong đó lý luận qua dữ kiện thắng các hành vi cực đoan, lập luận bằng chứng từ vượt các thái độ quá khích, giải luận với minh chứng lấp các phản xạ bảo thụ, diễn luận dựa tri thức xóa các thói quen thủ cựu. Những kẻ lãnh đạo "sống lâu lên lão làng" nhờ "cúi đầu, khoanh tay, quỳ gối" thì nên xem lại và nên rút lui sớm. Những kẻ "ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau" dùng manh xảo "gà què ăn tựa cối xay" lại càng nên rời các ghế lãnh đạo càng sớm càng đỡ khổ dân. Nhất là bọn "cố đấm ăn xôi" trong manh trá "thượng đội hạ đạp", thì đừng cho chúng một chỗ đứng, chỗ ngồi nào cả trong lãnh đạo. Quyền để hành để hành động qua chính sách, để hành xử theo đạo lý thương nước- yêu dân, theo luân lý vì dân-vì nước, trong đạo đức giữ nước-dựng nước, chớ không phải để lập ra độc đảng để độc tôn, độc tài, độc quyền, để sinh ra chuyên quyền để bám quyền, tham quyền, lạm quyền. Quyền để hành có lý trí của biết thời để giữ thế, đưa quyền lực vào thực tiễn, chống lại tính sơ cứng của mọi ý thức hệ, với mục tiêu là làm thay đổi các quy luật cứng, các tiêu chí cằn, các chỉ tiêu bất di bất dịch không tạo được phát triển, không giải quyết được chuyện "cơm no, áo ấm", trong hoài bão "trong ấm, ngoài êm", với ý nguyện "dân giàu nước mạnh".

Chính trị tỉnh – lãnh đạo thức

Quyền để hành để thay đổi nhân sinh quan hạn hẹp của nhân tình mù quáng theo nhân thế, để thế vào đó là nhân tình phải có nhân tính, dựa vào nhân tri để nâng nhân trí, từ đó có nhân văn, nhân bản qua nhân đạo và nhân nghĩa. Nhân vừa là thượng nguồn của quyền, vừa là hạ nguồn của hành, cũng vừa là cầu nối để liên kết giữa quyềnhành. Hệ nhân phải có mặt trong mọi tư duy, sinh hoạt, đời sống chính trị của lãnh đạo. Quyền để hành để chuyển đổi thế giới quan của nhân dân, giúp dân chúng thấy được nhân dân trong nhân loại, trong tương quan sống còn giữa dân tộc và thế giới, trong đó chính trị tỉnh-lãnh đạo thức làm được chuyện giải luận thương đồng bào thì phải thương đồng loại cùng trong hệ nhân với mình, biết đồng hội-đồng thuyền trong nhân chủng, thấu đồng cam-đồng khổ để bảo vệ nhân loài. Quyền để hành để chuyển hóa vũ trụ quan của xã hội, trong đó môi trường là môi sinh, làm được chuyện môi giới để nhân dân dụng nhân lý-nhân tri-nhân trí bảo vệ 3S (chất sống-sự sống-quyền sống) của mọi sinh vật, trong đó con người biết chăm sóc, cứu vớt động vật, thực vật như chăm lo, cứu rỗi chính nhân loại trong vũ trụ quan nhân bản mà nhân dân nhận diện được trong mọi chính sách của chính quyền.

Quyền lực để nâng dân

Quyền nâng dân là một thực tế trong các nước văn minh tức là các quốc gia hiện nay có nhân quyền nhờ dân chủ, thực tế này có được là nhờ chính thể của họ có chính quyền dùng quyền lực để nâng nhân dân của họ lên về mọi mặt, nhất là về nhân trinhân trí. Đây là mối lo, "mất ăn mất ngủ", của các chế độ độc tài hay độc đảng đang chứng kiến rất rõ mối quan hệ gắn bó giữa nhân quyền qua dân chủnhân tri qua nhân trí. Quyền nâng dân không những nâng mực sống của nhân dân, mà hùng lực của nó tại quốc gia hiện nay có nhân quyền, dân chủ tức là có văn minh là chuyển hóa các cá nhân, trước hết thành các cá thể phải được chính quyền tôn trọng, để thực sự có vị, có thế, có lực của chủ thể. Định nghĩa của chủ thể là quyền giành tự do cho mình để lấy sáng kiến trong sinh hoạt xã hội. Trong đó sinh hoạt chính trị qua tuyển cử, đầu phiếu luôn làm tăng sức sáng tạo của chủ thể để càng ngày càng có nhiều tự do hơn, chính đây là sự khác biệt sâu xa giữa hai hệ : hệ độc (độc tài, độc đảng, độc quyền, độc tôn) và hệ đa (đa nguyên, đa trí, đa tài, đa năng, đa hiệu). Chính sự khác biệt sâu xa giữa hai hệ này đã biến thành sự mâu thuẫn, rồi trở thành xung đột, để xung kích lẫn nhau trong quan niệm cũng như trong chuyện thực thi quyền lực. Hệ độc thì tìm cách loại, tiêu, hủy, diệt sáng kiến và sáng tạo ; còn hệ đa nâng, cõng, đở, đấy sáng kiến và sáng tạo của cá nhân, không còn là những cá thể lẻ loi, mà thực sự là chủ thể có vị, có thế, có lực trong sinh hoạt xã hội cũng như trong sinh hoạt chính trị.

Quyền nâng dân là quyền đảm bảo sáng kiến của chủ thể

Quyền nâng dân là quyền nâng sáng kiến của cá nhân để cá nhân có cơ hội mà nâng tập thể, cộng đồng, dân tộc, là quyền nâng sáng tạo của chủ thể qua phát minh dùng thông minh của mình để đóng góp trực tiếp vào nguyện vọng "cơm no, áo ấm" cho dân tộc. Sức mạnh của chủ thể hiện diện luôn trong ý nguyện "nước giàu, dân mạnh", vì chính các chủ thể được chính quyền tạo điều kiện thuận lợi từ giáo dục tới xã hội để dễ dàng vào quy trình của khám phá, tạo ra các phát minh để đẩy mạnh phát triển, thực sự đóng góp vào chuyện "thay đời, đổi kiếp" của dân tộc theo hướng thăng hoa. Quyền nâng dân cụ thể là để đảm bảo sáng kiến của chủ thể biết dụng tự do của mình để sáng tạo, từ đó nhận trách nhiệm trực tiếp với đất nước, từ đó nhận bổn phận tức khắc với dân tộc. Đây là nhiệm vụ của chính quyền, là "thiên vụ" của kẻ lãnh đạo, và nếu muốn lãnh đạo mà không có một ý niệm gì về chuyện dùng quyền lực của mình để nâng dân tộc mình lên thì đừng lãnh đạo ! Thì đừng chiếm chỗ người khác, nhất là khi họ là những chủ thể chính thống !

Quyền đẩy lòng tin dân chủ

Quyền đẩy lòng tin dân chủ khi mà lãnh đạo chính trị có quyền lực trong tay, chính là lòng tin vào nhân phẩm, nhân đạo, nhân nghĩa, làm nên nhân bản, nhân văn để bảo vệ nhân tình, nhân sinh bằng nhân trinhân trí. Chính lòng tin này bảo đảm tuổi thọ cho một chính quyền, tuổi trọng cho một chế độ, tuổi dày cho chính trị tỉnh-lãnh đạo thức. Thức vì thông minh để hiểu thấu được cái cao, sâu, xa, rộng của lòng tin, cái hay, đẹp, tốt, lành, của dân chủ. Quyền đẩy lòng tin dân chủ là một chỉ báo để nhận định chế độ độc (độc đảng, độc quyền, độc trị, độc tài, độc trị) hiện nay của Đảng cộng sản Việt Nam đang áp đặt lên số phận của Việt tộc là quái thai đối với hệ luận chính trị tỉnh-lãnh đạo thức. Cụ thể là hành vi "đảng cử, dân bầu", để dân chỉ có thể bầu cho đảng viên, với đại đa số dân biểu quốc hội đều là đảng viên, cùng lúc tổ chức mọi định chế và cơ chế từ hàng dọc tới hàng ngang đều là đảng viên, chia quyền lẫn nhau để chia chác với nhau qua độc quyền-lạm quyền-tham quyền, rồi đi thi thẳng vào hệ ma đạo tham quyền-tham nhũng-tham ô. Nội chất quái thai sinh ra các ung thư liên đới, trước nhất là ung thư này ăn mòn chất xám trong hệ của hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức,nhận thức), sau đó là ăn nạo hệ sáng (sáng kiến, sáng tạo), để cuối cùng là nạo rỗng hệ phát (phát minh, phát tiển). Quái thai loạn trí song hành cùng nhiều ung thư loạn tuệ : số phận của Việt tộc thật bi đát ! Nhưng số kiếp Việt tộc có thật đáng bi quan hay không ?

Quyền để bảo vệ nhân quyền

Quyền đẩy lòng tin dân chủ để lập lại lòng tin dân tộc với chính trị, chính giới, qua chính tri, chính lý mà phải bắt đầu bằng sự xuất hiện của một người, một nhóm ngay trong nội bộ của Đảng cộng sản Việt Nam đại diện cho luân lý chính trị của tổ tiên, mà Việt tộc xếp vào hệ minh (minh đạo, minh vương, minh quân, minh chúa, minh chủ, minh sư...) để sáng tạo ra hoặc sáng tạo lại hệ đa (đa tri, đa trí, đa tài, đa năng, đa hiệu...) qua đa nguyên. Và, nhờ nó rút ra các nọc độc quá độc hại của hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn). Không có dân chủ nếu không có đa nguyên, trước hết là để bảo vệ nhân quyền qua hệ nhân (nhân phẩm, nhân đạo, nhân nghĩa, nhân bản, nhân văn, nhân tri, nhân trí). Không có dân chủ thi cũng đừng mong có công bằng để chống bất công, lại cũng đừng chờ có công pháp để bảo đảm tự do bác ái ! Quyền đẩy lòng tin dân chủ được thể hiện qua thành tâm của chính trị tỉnh-lãnh đạo thức, xem mỗi cá nhân Việt là một chủ thể Việt được tham gia trực tiếp vào vấn đề Việt, trước mắt là chủ quyền Việt trong đó có toàn vẹn lãnh thổ Việt với ít nhất ba đòi hỏi Việt : "cơm no, áo ấm", "trong ấm ngoài yên", "dân giàu nước mạnh", ba đòi hỏi rất tối thiểu trong thông minh Việt, vì Việt tộc không vô minh !

Quyền tạo chủ thể

Quyền tạo chủ thể, là thử thách mà cũng là quyết tâm của các lãnh đạo các quốc gia văn minh hiện nay nhờ có dân chủ để bảo vệ nhân quyền, đây chính là liêm sỉ của kẻ lãnh đạo có lương tâm trong chính trị, thấy rõ qua lương tri các chính sách liêm chính, trong đó cá nhân, không những là cá thể phải được tôn trọng, mà chịnh trị tỉnh-lãnh đạo thức phải giúp họ chuyển hóa thành chủ thể. Và, cá tính của chủ thể là yêu dân chủ vì quý nhân quyền, trọng công bằng vì yêu bác ái, nâng niu tự do để sáng tạo trong tất cả sinh hoạt của xã hội, lấy phương hướng "nước giàu, dân mạnh" của dân tộc để định hướng "nhân loại thái hòa" cho thế giới. Chính quyền do Đảng cộng sản Việt Nam dẫn dắt chưa hề có hành động chính trị này, vì ngày ngày họ luôn tìm cách tiêu diệt tất cả các sáng kiến về phương trình chuyển tiếp cá nhân-cá thể-chủ thể. Chính quyền của Đảng cộng sản Việt Nam là chính quyền bị xếp vào "hạng tồi" trong bảng xếp hạng các chính quyền bảo vệ các chủ thể dân chủ. Quyền tạo chủ thểthông minh lãnh đạo chính trị, nếu muốn có tuổi thọ cao trong chính trường, có tuổi trọng trong chính giới, có tuổi dày trong chính kiến, chính thông minh lãnh đạo chính trị này là năng lực chuyển một xã hội quần chúng bị tuyên truyền "đưa đường dẫn lối" trở thành xã hội chủ thể với các cá nhân cá tính tham gia vào việc "ích nước, lợi dân".

Quyền yêu luật

Quyết tâm chuyển hóa một xã hội quần chúng qua một xã hội chủ thể mà mọi người dân đều có bổn phận và quyền lợi trực tiếp, có trách nhiệm và tư quyền tức khắc, dựa vào hiến pháp, phát luật, định chế, cơ chế... để chủ thể hóa cá nhân. Chính quyền do Đảng cộng sản Việt Nam dắt díu chưa hề có lập luận chính trị này, vì giờ họ luôn tìm mọi cách truy diệt tất cả các sáng tạo về quy trình chuyển tiếp chủ thể hóa cá nhân, với thực tâm cá nhân hóa các hành động dân chủ. Chính quyền của Đảng cộng sản Việt Nam là chính quyền bị xếp vào "hạng bét" trong bảng xếp hạng các chính quyền bảo vệ các hành động dân chủ. Quyền yêu luật là nền của nhân quyền, gốc của dân chủ, rễ của công bằng, cội của công lý, và các chính quyền liêm khiết phải dùng quyền lực của mình để thực hiện được lòng tin vào luật của nhân dân, từ đó tạo ra hiến pháp, công pháp, có liêm chính trong sinh hoạt xã hội, có liêm minh trong hành động chính trị, để có liêm sỉ trong mọi chính sách của lãnh đạo. Hãy bắt đầu bằng cách tôn trọng luật từ chính các lãnh đạo để có giáo lý trong mọi hành tác lãnh đạo, vì mỗi sinh hoạt xã hội đều có nguồn máy tổ chức đặc trưng, có quy luật vận động và vận hành đặc thù. Tại đây, tất cả mọi sinh hoạt xã hội đều phải được pháp luật định vị qua "sân chơi, trò chơi, luật chơi" mà mọi thành viên của cộng đồng sinh hoạt đó công nhận và thừa nhận. Không có chuyện độc đảng để độc quyền, độc quyền để chuyên quyền, chuyên quyền để bám quyền, bám quyền để lạm quyền, từ đó lách luật, không lách luật được thì tráo luật, không tráo luật được thì xé luật.

Quyền yêu luật quyền chủ thể hóa cá thể

Đó là quá trình phạm luật, thường xuyên và thường trực của Đảng cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đảng này, ngày càng khinh luật từ các năm qua, trắng trợn nhập nội vào tham nhũng, tham ô để vơ vét trong không gian bất chấp luật ! Quyền yêu luật trong phương trình nhân quyền-dân chủ-công bằng-công pháp, từ lãnh đạo chính trị cầm đầu chính quyền cho tới thường dân chính là cột xương sống của đạo lý dân tộc, luân lý xã hội, đạo đức chính trị, vì sao ? Vì tất cả các khúc mắc, các khó khăn, các ngõ cụt của một đất nước, nếu không giải quyết thỏa đáng bằng đạo lý dân tộc, luân lý xã hội, đạo đức chính trị, thì sẽ được xử lý qua pháp luật. Chính pháp luật là tác nhân chính để minh bạch hóa, liêm khiết hóa, trong sạch hóa mọi chính sách, chính thể trong sinh hoạt và hành động chính trị. Đó là cách lý giải trực luận để giải quyết dứt khoát nhiều khổ nạn của Việt tộc hiện nay, nơi mà bất công ngày ngày đào sâu, đạo rộng các hệ lụy bất bình đẳng trong xã hội Việt bây giờ. Quyền yêu luậtquyền chủ thể hóa cá thể song hành cùng tự do hóa chủ thể trong khung chung của luật pháp hóa xã hội, từ chính quyền tới dân chúng, từ lãnh đạo tới mọi cá nhân trong xã hội ; trong đó luật pháp hóa xã hội phải song đôi với luật pháp hóa chính quyền, nơi đây mọi lãnh đạo phải nhận, phải chịu, phải tuân luật pháp trong quy luật công bằng được bảo trì bởi công pháp là được bảo vệ mà cũng được xét xử qua luật pháp.

Quyền nhận thức sử tính

Quyền nhận thức sử tính của chính trị tỉnh-lãnh đạo thức là nhận thức lịch sử qua sử học, có nghiên cứu, có điều tra, có kiểm định, có sát quyết để sử liệu phải có đủ dữ kiện kiểm chứng thực được, để được thừa nhận là chứng từ để thành sử kiện, trong đó lãnh đạo sáng suốt nhờ tỉnh táo tìm ra được sử luận để hiểu được sử Việt, nhờ nắm được sử tính một cách khách quan. Trong sử này, có công trạng của các vì khai quốc công thần, nhưng cũng có bọn "sâu dân, mọc nước", chúng bán nước vì tư lợi, Việt tộc đã xếp chúng vào loại : "cõng rắn cắn gà nhà", "mang voi dày mả tổ", cha ông ta có công "dựng nước, giữ nước", riêng bọn này "bán nước như chơi", để dân tộc bị lâm vào nạn vong quốc "một sớm một chiều" cũng "như chơi" ! Quyền nhận thức sử tínhminh quyền của lãnh đạo, vì biết số kẻ "bán nước, buôn dân" không phải là hằng số mà là biến số tùy thuộc không những vào lòng yêu nước của mỗi con dân, nhất là của mỗi lãnh đạo, mà còn tùy thuộc vào 3C (bối cảnh-hoàn cảnh-thực cảnh) tạo ra tâm cảnh giữa quyền tư lợi trong đó hệ của đạo đức (luân lý, đạo lý) trong giáo dục, hệ này phải được giáo dưỡng qua một hệ khác của lý trí (lý luận, lập luận, diễn luận, giải luận) để làm tròn bổn phận của kẻ lãnh đạo, vì "quốc thái, dân an" trong việc giữ toàn vẹn lãnh thổ, giữ trọn vẹn cơ đồ của tổ tiên.

Quyền nhận thức sử kiện

Nếu chúng ta yêu quý, tôn vinh Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung... đã xử lý trọn vẹn hai hệ lý trên ; của đạo đức của lý trí, thì chúng ta cũng phải hiểu thật rõ, thật đúng, thật sâu về "bọn bán nước" qua 3T (tâm địa-tâm tà-tâm lý) của chúng, như Kiều Công Tiễn, Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, mà không quên Hoàng Văn Hoan, ủy viên Bộ Chính trị của Đảng cộng sản Việt Nam... nơi mà tướng Trương Quang Long thố lộ là "bọn bán nước" hiện nay trong bộ máy lãnh đạo là "từ trăm này sinh ra trăm kia !", chúng ngày càng nhiều hay ngày càng ít thì là hoàn toàn tùy thuộc vào khả năng của lãnh đạo hiện nay. Quyền nhận thức sử tínhtrí quyền của lãnh đạo, luôn dựa trên kinh nghiệm của cha ông để "lột mặt nạ bọn bán nước buôn dân", dụng sử tính để hiểu sử xưa trong thông minh lãnh đạo để nắm sử nay, biết chuyển hóa thành chính quyền hiện đại để sử nay phải hay, đẹp, tốt, lành hơn sử xưa. Đó chính là sử luận để thấu hiểu sâu, xa, cao, rộng được sử Việt. Chính quyền hiện đại kiến thức sử tính, ý thức sử nay, có tri thức sử luận là chính quyền biết phối hợp tất cả ngành khoa học, từ khoa học kỹ thuật, thông tin, truyền thông cho tới khoa học xã hội và nhân văn, không những để hình sự hóa bọn bán nước mà còn tỉnh táo và sáng suốt để giúp các con dân không rơi vào vực thẳm bán nước, làm bụi đời rỗng nhân phẩm, làm oan hồn trống nhân nghĩa !

Quyền chủ hóa nhân quyền

Quyền chủ hóa nhân quyền là lằn ranh phân chia làm ra mức phân định giữa một chính quyền vì văn minh của xã hội, vì phát triển của đất nước, vì đạo lý của dân tộc, luôn ngược lại với loại chính quyền lấy độc quyền để lạm quyền, lấy độc tài để diệt đa tài của nhân dân. Chính nhân quyền khi được tôn trọng sẽ có các cá nhân trở thành chủ thể lấy tự do của mình để sáng tạo ra các phát minh "ích nước, lợi dân", sẽ có các tập thể lấy tự chủ của mình để chế tác ra các sáng kiến mới vì "dân giàu, nước mạnh", sẽ có các cộng đồng lấy tự giác của mình để bảo trì các giá trị, các di sản, các đạo lý của tổ tiên qua "cha truyền, con nối" theo nghĩa đẹp. Quyền chủ hóa nhân quyền, khi nhân tình được nhân tính nâng lên, khi nhân thế được nhân tri đẩy lên, khi nhân loại được nhân lý đề cao, thì chính nhân quyền này sẽ có nhân bản, nhân văn, tạo ra ý thức tập thể, sinh ra nhận thức cộng đồng, giúp chế tác ra tâm thức cá nhân, biết tôn trọng công lợi để bảo vệ tư lợi. Từ đây, lãnh đạo chính trị sẽ làm cầu nối để nhân quyền gặp được chủ quyền (cho dân, vì dân), trong đó nhân dân có quyền kiểm tra, giám sát, phê chuẩn các kết quả qua hiệu quảhậu quả của các chính sách, trực tiếp sử dụng chủ quyền của mình trong pháp luật để đầu phiếu, để tuyển cử, tạo ra tranh cử, để có được lãnh đạo thực tài và liêm chính trong sạch.

Quyền của lý trí chủ hóa nhân quyền

Quyền chủ hóa nhân quyền để văn minh hóa xã hội, văn hiến hóa dân tộc, mà cụ thể là có chính sách minh bạch để kẻ xấu không lấy được danh nghĩa của tôn giáo để "buôn thần, bán thánh", biến chuyện "xây chùa, lập miếu" thành chuyện làm thương mại, trong đó bọn "buôn chùa, bán Phật", được thu tiền trắng trợn qua xảo thuật : mua lộc, mua sớ... Chúng lại còn tổ chức với bọn tham những trong chính quyền địa phương để lập các trạm thu phí gần chùa ngay trên núi, trên đồi, đối với các con tin mê tín, dị đoan của chúng, thí thân đến các nơi này để thiêu tiền sẵn sàng thiêu thân để thiêu đạo, trực tiếp cho bọn ma giáo nhưng lại mặc áo cà sa bỏ túi bạc tỷ hàng tuần, hàng tháng. Quyền chủ hóa nhân quyền lý trí, biết tách nếp sống văn minh ra khỏi thói quen mê tín, tách lý tính ra khỏi cuồng tín, chuyện tách ra để trực diện đấu tranh với cái xấu, tồi, tục, dở của ngu dân, lý trí này bắt buộc phải có trong tư duy của người lãnh đạo. Họ phải biết bảo vệ vốn liếng của tổ tiên mình, qua sự thật của lịch sử, qua chân lý của niềm tin, qua các giá trị đạo lý làm nên lẽ phải, để dân tộc được khai sáng và thực sự làm chủ lòng tin của mình, như làm chủ số phận của họ. Từ đó, biết khai thác sức mạnh của mình không để cái ma đạo của mê tín, dị đoan quyết định số kiếp họ.

Quyền dân chủ hóa nhân tính

Quyền chủ hóa nhân quyền là vinh dự của các kẻ lãnh đạo biết trao, biết tặng, biết dâng lên cho tổ quốc mình, cho dân tộc mình quyền làm chủ chữ nhân qua chữ lý ! Quyền dân chủ hóa nhân tính trong nhân tình để nhân thế sống có nhân bản, đối xử với nhau có nhân văn, xử thế với nhau có nhân nghĩa, khi đó nhân tính này chắc chắn sẽ được bảo đảm không những bởi nhân đạonhân từ, mà còn được bảo hành bởi nhân lý, nhân tri, nhân trí. Cả hệ nhân này nằm gọn trong luật nhân quả chính trị, khi nhân của lãnh đạo sẽ sinh ra quả của chính sách, tạo ra hệ quả để nhân dân thấu rõ được các lãnh đạo có biết "ăn ở có hậu" hay không, vì "ăn ở không có hậu" sẽ bị "triệt hậu", sẽ thành "vô hậu", sẽ bị "người đời rủa trong truyền kiếp" ! Quyền dân chủ hóa nhân tính không phải chỉ là một tên gọi, một quyết tâm, một chính sách nhất thời, nó chính là nhân học nằm giữa trung tâm của chính trị học ; nơi mà lý thuyết luận nhân tâm của nó chính là phương pháp luận nhân trí của nó ; nơi mà khoa học luận nhân lý của nó chính là tri thức luận nhân nghĩa của nó. Nó không lý thuyết, nó chẳng mơ hồ, nó thoát mông lung, nó thắng xảo thuật trong hành động chính trị : vì nó là nó ! Vì nhân tính biết mình là ai ? Vì nhân tínhnhân tính.

Thông minh nhờ nhân lý của nhân tính

Nên nó không bao giờ sợ nhân thế, nó còn có sung lực làm nên nhân bản, có tiềm lực làm ra nhân văn, có mãnh lực tạo ra nhân từ. Vì nhân tính hiển hiện khuyên, dìu, dẫn, dắt, để nhân tình biết sống chung trong nhân loại. Quyền dân chủ hóa nhân tính chống nghèo đói vì hạnh phúc "đủ ăn, đủ mặc" ; chống chiến tranh vì "quốc thái, dân an" ; chống thế chiến vì "nhân loại thái hòa" có trong , trong ngôn, trong từ của lãnh đạo các quốc gia văn minh vì dân chủ, khôn ngoan vì nhân quyền, thông minh nhờ nhân lý của nhân tính, mà chúng ta được nghe hàng ngày, hàng tháng, hàng năm trên diễn đàn của Liên Hiệp Quốc. Trong những lúc đó các lãnh đạo của các chế độ độc tài, độc đảng, độc quyền, độc tôn lấy tham quyền để đẻ ra quái thai tham quan, sinh ra bao ung thư tham nhũng, bao hoạn bịnh tham ô, thì chúng ta thấy chúng cúi đầu, lặng thinh... để nghe và... để nhục ! Các loại lãnh đạo này đừng tiếp tục "nhục nước, nhục dân" của họ trên chính trường quốc tế nữa.

quyenluc12

Việt gốc

Muốn biết mình có phải là lãnh đạo chính trị Việt gốc hay không ? (theo nội dung yêu nước thương nòi, với ý nghĩa thiêng liêng nhất của định nghĩa "đồng bào", chớ không phải chỉ cần có quốc tịch Việt hay tổ tiên Việt là đủ), thì phải tự khẳng định rằng ít nhất ba việc mình chính là con dân của một dân tộc. Không bao giờ khuất phục bất cứ ngoại xâm nào, tới từ bất cứ phương trời nào, dù chúng có to nhất, có giầu nhất. Không bao giờ chịu phận mất nước, làm thân nô lệ, dù phải trả những giá rất đắt để giữ độc lập. Nhận quyết tâm độc lập dân tộc như tiếp cùng lúc hai hệ vấn đề : một là bản sắc Việt tính bất di bất dịch, hai là về nhân phẩm Việt lực của mình. Ba khẳng định chính kiến chính là ba xác nhận chính trị để kẻ lãnh đạo trước hết biết mình là ai ? Sau đó để biết mình sẽ lãnh đạo một dân tộc nào ? Một dân tộc kiên cường, chớ không phải một dân tộc cúi đầu, khoanh tay, quỳ gối. Như vậy, những kẻ không có, hoặc không muốn có ba chính kiến này thì đừng lãnh đạo chính trị, vì họ sẽ nhận thất bại và chóng chầy sẽ bị kết án là phản dân, hại nước !

Việt chính

Việt chính, ngược hẳn với Việt gian,chính đạo nhờ có chính nghĩa, có chính tâm song hành cùng chính lý, có chính khí nên có chính ngôn, trước sau như một, tuyệt đối trung thành với tổ quốc, muốn làm lãnh đạo thì sẵn sàng hy sinh vì dân tộc, chết vì nước. Chắc chắn không phải là loại lãnh đạo, vừa vơ vét, vừa có thẻ xanh, có quốc tịch ngoại quốc, để khi Tàu tặc tới, vật đổi sao dời trong thời cuộc lại bỏ chạy qua phương Tây, rồi lẩn lút như đám ma bùn, ma xó. Vật đổi sao dời trong đời người là có thật, vật đổi sao dời lại càng đúng trong chính giới với "nắng sớm, mưa chiều", "sớm nở, tối tàn" ; trong đó nếu có bọn xấu thì chuyện "lừa thày, phản bạn" đối với chúng là chuyện "cơm bữa" ! Chúng đang là đám tham quan hiện nay đang làm giàu nhờ tham nhũng. Chúng sẵn sàng lúc chúng mượn giọng lưỡi cách mạng, để mạt sát các người yêu nước, các kẻ thương dân, không là bè đảng với chúng, chúng thóa mạ họ là : Việt gian. Hãy dùng định nghĩa Việt chính để lật trần ngược ngữ Việt gian, cùng lúc lột mặt nạ bọn Việt gian hiện đại đang nghênh ngang trong vai trò lãnh đạo chính trị, đó là bọn luồn từ phương trình xoay quyền lực qua quyền lợi qua phương trình chuyển công lợi qua tư lợi, bằng cách khai thác tận tủy phương trình tham quan-tham quyền-tham ô-tham nhũng, biến không ít một bộ phận dân tộc thành dân đen, dân oan !

Việt rễ

Rễ làm cội chắc, gốc vững, khi Trần Hưng Đạo bên giường bịnh vào giờ trăn trối mà Trần Anh Tông vẫn luôn lo lắng bọn quân Nguyên dù thua thảm bại ba lần trên đất nước Việt dưới triều Trần, nhưng vẫn không bỏ mộng xâm lược của chúng ; Hưng Đạo vương chỉ khuyên : nếu có dân là có"rễ sâu, gốc chắc" thì không có gì phải lo ! Bài học "rễ sâu, gốc chắc" này, Trần tướng quân dặn dò cho nhiều đời sau phải hiểu là dân tộc và lãnh đạo : một lòng trong quyết tâm, quyết chí, để quyết đoán và quyết định trước mọi thử thách, mọi thăng trầm đang đe dọa Việt tộc. Dân chúng và chính trị một lòng thì làm được chuyện "dời non, lấp bể", cụ thể là "châu chấu đá xe" được lập đi lập lại nhiều lần trong Việt sử : nhỏ nhưng thắng được lớn, không sợ cường quốc và không sợ cường bạo, chỉ sợ là không có chính nghĩa. Sử liệu giờ đã thành sử luận, không hiểu được sử luận này thì đừng lãnh đạo chính trị ! "Rễ sâu, gốc chắc" từ chuyện cả nước một lòng có thượng nguồn là niềm tin, như đất nuôi rễ, như nền giữ gốc, tin vào chính, có chính nghĩa sẽ có chính tâm, có chính tâm sẽ có chính lý, có chính lý sẽ có chính ngôn, có chính ngôn sẽ có chính khí, tạo nên sung lực để vận động khí thế của dân tộc, trong chiến tranh cũng như trong phát triển. Niềm tin hiện nay rõ ràng là không có, bề trên lãnh đạo độc quyền nên độc đoán, độc đảng nên độc tài, từ lộng quyền tới tham quyền, thì làm gì có chuyện một lòng, trong thực cảnh dân chúng một bộ phận lớn đang thành dân đen.

Việt hiền

Lãnh đạo biến quyền lực thành quyền lợi, cướp đất, đoạt nhà, biến một bộ phận không nhỏ dân tộc thành dân oan. Chuyện một lòng hiện nay là chuyện hão, chuyện mất lòng mới là chuyện thật. Mất lòng tin mất niềm tin, và mất luôn cả thông tin chân thật bởi một chế độ chỉ biết tuyên truyền một chiều, sợ đa tin như sợ đa luận ! Sợ chính luận như sợ chính nghĩa ! Không tạo được "rễ sâu, gốc chắc", vì không có ý thức chính trị về chuyện một lòng, vì không có tri thức lãnh đạo về chuyện niềm tin, thì đừng lãnh đạo chính trị, lãnh đạo thì chỉ làm khổ dân, chỉ làm tăng lượng dân đendân oan trong dân tộc như hiện nay. Hiền minh, chọn hiền triết để lãnh đạo, chọn minh triết để quản lý, tạo ra chính sách không qua định kiến và chỉ đạo không bằng tà kiến. Có chính kiến (chính thống trong liêm chính), nhưng cũng có luôn trung dung để tránh cực đoan, có trung đạo để không sa vào quá khích. Hiền minh có chính lý trong trung dung, có chính tâm trong trung đạo, loại được cực đoan, xóa được quá khích, nên tiếp nhận thực tế trong tỉnh táo, chọn ra đường lối đúng trong sáng suốt, luôn linh hoạt trong các biến đổi của tình hình. Biết chọn trung dung đa của đa chiều (ngã tư, ngã sáu, ngã bẩy...) chứ không ngu dại mà chọn độc của độc đạo, vì quá khích của độc đảng sinh ra cực đoan của độc quyền, dẫn tới thui chột của độc tài, và chóng chầy sẽ rơi vào : ngõ cụt !

Quyền lực hiền minh : vừa hiền ngoan vừa thông minh

Hiền minh, hiền ngoan nhưng luôn có thông minh, luôn hiểu sự thật qua nhiều nguồn, thấu chân lý qua nhiều gốc, nhận lẽ phải qua nhiều rễ, tiếp đón cuộc sống qua đa tri của đa trí, nên không tự sát trên độc lộ của độc đảng vì độc thân. Hiểu thực tại sâu xa của cuộc đời nhờ nắm được thực cảnh tức khắc bây giờ và ở đây, không bị ý thức hệ viển vông làm lầm đường lạc lối, luôn lấy thực tại-thực cảnh để hiểu thực tế, không bị ý thức hệ tung hỏa mù, không bị độc thị đầu độc độc não. Hiền minh trong chính trị không phải là thái độ sinh hoạt hiền lành, phong cách làm việc ngoan ngoãn, mà cụ thể là sự tinh khôi trong khi dụng phương trình 3T (thực tại-thực cảnh-thực tế) để chống lại vô tri, vô minh, vô tri của 3Đ (độc tàiđộc thị đầu độc độc não). Lãnh đạo hiền minh thì nắm chắc 3 thực (thực tại-thực cảnh-thực tế) nhờ có 3 thức (tri thức-ý thức-nhận thức). Hiền minh, không giả vờ thong dong, không đóng kịch ung dung, mà sáng suốt trong thư thái, tỉnh táo trong thư thả, nên khoan thai trong lãnh đạo vì nắm mỗi tay một phương trình : 3 thực (thực tại-thực cảnh-thực tế) song đôi cùng 3 thức (tri thức-ý thức-nhận thức).

Việt tri

Tri, nơi mà tri thức làm ra chính tri, nơi mà hiểu thấu có được nhờ hiểu đúng dữ kiện và hiểu trúng kiến thức, không có thái độ "ba phải", không có hành vi "chung chung", chắc chắn sẽ không có chuyện hiểu giả-giảng giả-dạy giả trong giáo dục chính trị cũng như trong truyền đạt khi lãnh đạo. Cái giả giết cái thực, truy diệt cả lẽ phải, thủ tiêu luôn niềm tin ; câu chuyện một bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo Phùng Xuân Nhạ, đạo văn là chuyện giết chết kiến thức, truy diệt cả giáo lý, thủ tiêu luôn đạo đức ; một chuyện chỉ có thể xẩy ra trong một đất nước bị áp chế và bưng bít bởi độc đảng sinh ra quái thai độc quyền-chuyên quyền-tham quyền, đẻ ra loại ung thư thâm tối mua quyền bán chức, giữa các lực lượng tham quyền để tham nhũng. Tri, có vai vóc của phân tích tổng quát, có tầm vóc của giải thích toàn bộ, chống cục bộ, nó chống lại chuyện lấy cây che rừng, lấy tay che mặt trời, lấy vải thưa che mắt thánh, trong lãnh đạo chính trị phải hiểu thánh đây chính là dân ! Phân tích tổng quát để có nhận định tổng quan, nơi mà quyết định chính trị để làm ra chính sách luôn là một lý luận tổng thể, nơi mà tổng cộng tri thức tới từ tổng công (tổng cộng của công mọi vốn liếng, tiềm lực, tài nguyên...) của dân tộc. Hiểu và thực phương trình 4T (tổng quát-tổng quan-tổng thể-tổng cộng) chính là tài trí của kẻ lãnh đạo.

Việt đẹp

Tri, có phân chia để phân tích, có phân tách ra để phân loại, nhưng không rơi vào cục bộ để bị rơi vào chia rẽ, chia năm sẻ bẩy sẽ diệt đoàn kết, chia bè sẻ phái thì sẽ giết tương trợ. Minh tri để minh trí, lấy cái công để điều chế cái riêng, luôn chống lại cái phiến diện, nhất là chống lại chuyện lấy riêng rẻ của tư lợi để điều hành cái tổng thể của đất nước, đây chính là lỗi lầm lịch sử của Đảng cộng sản Việt Nam. Khi họ đã chọn tư quyền chỉ cứu đảng mà không cứu nước, họ đã rơi vào cái bẫy của Hội nghị Thành Đô, 1990, nơi mà Đảng cộng sản Trung Quốc chính là : kẻ cầm cần câu, kẻ móc lưỡi câu, kẻ đưa mồi câu, để Đảng cộng sản Việt Nam là cá đã cắn câu, để rồi một ngày nào đó Việt tộc sẽ như : cá nằm trên thớt ! Việt đẹp là một đất nước đẹp từ địa lý tới cảnh quan, là một dân tộc đẹp từ tâm hồn đau khổ vì chiến tranh tới đạo lý yêu hòa bình, nhưng không chấp nhận xâm lăng, không cúi đầu trước ngoại bang dù là cường quốc. Cái đẹp này người ta thấy trong lịch sử rồi nhận ra được trong văn hóa, để nhận rõ hơn văn minh Việt chính là nhân phẩm Việt, tạo nên bản sắc Việt : luôn bất khuất để giữ độc lập, không khuất phục trước mọi bạo quyền. Đây là chuyện phải rõ trong mọi tư duy bình thường cho mọi lãnh đạo chính trị.

quyenluc0

Những loại lãnh đạo vô luận vì vô tri

Nhân dân Việt "rùng mình" khi nghe thủ tướng chính phủ Nguyễn Xuân Phúc ví đất nước Việt như một cô gái đẹp, với các từ ngữ của hình thể, không có lý luận nên chẳng có lập luận, tới từ một thủ tướng vô tri trong lập ngữ và vô minh lập ngôn. Chưa xong, dân Việt lại "rởn óc" khi nghe có một phó chủ tịch quốc hội, tiếp tục ví đất nước Việt như một cô gái đẹp, với các động từ (rờ, sờ, mó...) loại thô ngữ tục ngôn, tà lý với lời tồi, vô giác với hồn thiêng sông núi vì vô tri với tiền đồ tổ tiên của Việt tộc : thật là từ sỉ nhục qua điếm nhục ! Những loại lãnh đạo này, vô luận vì vô tri đã lăng nhục đất nước Việt ! Những loại lãnh đạo này vô minh, vô tri, vô giác, họ đã quên là tổ tiên dạy con cháu mỗi lần miệng ra lời, trước đó phải uốn lưỡi nhiều lần ; chúng không hề biết uốn lưỡi với mỹ ngữ, mà chỉ biết cong lưỡi để thô ngữ, tục ngôn. Nếu không được giáo dục về đạo lý hay, đẹp, tốt, lành, vì không được giáo dưỡng đàng hoàng từ gia đình tới học đường, vì không được giáo huấn tử tế từ học đường tới xã hội ; thì phải biết tự giáo dục, không khó, rất dễ, họ chỉ cần nghe thật kỹ ca từ các ca khúc tự tình dân tộc của Phạm Duy (Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời).

Nghe thật rõ các ca từ về của đất nước Việt của Trịnh Công Sơn :

Rừng núi dang tay nối lại biển xa

Tay đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà...

Bàn tay ta nắm nối trọn một vòng Việt Nam...

Biển xanh sống gấm nối liền một vòng tử sinh...

(Nối vòng tay lớn)

Nếu không hiểu hồn thiêng sông núi do tổ tiên để lại thì đừng lãnh đạo !

Hóa giải để hòa giải

Hóa giải để hòa giải đã có nhiều lần trong Việt sử, từ minh quân tới minh chúa, từ Trần Nhân Tông qua nhiều nguồn xung đột nội chính, trước đại họa xâm lăng của Nguyên Mông, cho tới Quang Trung khi đã tống quân Thanh ra khỏi bờ cõi, lấy lại Thăng Long với những năm tháng dài chia rẽ thâm sâu của nội chiến Trịnh-Nguyễn. Đây là sự thông minh của kẻ lãnh đạo luôn lấy khối đại đoàn kết dân tộc làm nên sức mạnh cho chính lãnh đạo. Hóa giải để hòa giải có bài học đầu tiên trong lãnh đạo qua đúc kết của thi hào Nguyễn Du : "phải dung kẻ dưới mới là lượng trên", mà trong tình hình của hơn 40 năm qua, từ khi hòa bình được lập lại, có thống nhất đất nước, 1975, vậy mà các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không biết chuyển câu trên thành phương châm mới : phải hòa giải với kẻ bại để hóa giải mọi hậu quả của chiến tranh, để tạo được hòa hợp dân tộc. Hóa giải để hòa giải luôn là cử chỉ đầu tiên đưa tay-dang tay-nối tay của kẻ thắng trước kẻ bại, không cần bắt đầu bằng xin lỗi, tha tội, mà qua thực tế của đất nước, bằng những hành động cụ thể của mọi người, mọi phía, cùng nhau xây dựng lại quê hương, cùng nhau đưa dân tộc đi lên, đẩy giống nòi thăng hoa với thế giới văn minh.

Việt chung

Hóa giải để hòa giải trong phương châm đa chiều để có đa trí, cùng lúc đa tri để tạo ra đa hiệu, dựa trên đa tài để có đa năng, lấy cái đa để xa cái độc hại của độc quyền qua độc đảng, đây chính là hành động thông minh của lãnh đạo chính trị, biết biến tiềm lực của mọi nơi thành hiệu lực tổng hợp từ mọi phía, tạo ra hiệu quả thống hợp từ mọi tiềm năng của mọi người, mọi tập thể, mọi cộng đồng. Hóa giải để hòa giải có rễ trong hóa, trong hòa, trong hợp, trong đó hóa giải không những mọi hiềm khích mà luôn cả mọi oan khiên, hòa lấy hòa bình trước mắt chế tác ra thái bình bền vững ; hợp biến tổng hợp mọi tiềm năng để tạo ra thống hợp mọi hiệu năng, làm nên thành công của phương trình mà tất cả lãnh đạo đều phải biết : phương trình 3H (hóa-hòa-hợp). Ngày ngày sống cạnh nhau thì chưa chắc là sống chung, vì đã chung thì không có riêng, vì chungchia sẻ, chính ngữ pháp cộng sản, cũng từ đó mà ra, nhưng trong thực tế nó chỉ là một khẩu lịnh để tuyên truyền, để đưa đẩy quần chúng, dùng loại ý thức hệ để vận động cộng đồng, rồi dìu dắt quần chúng vào độc đạo của độc đảng, trong đó chuyện lãnh đạo "đánh lận con đen" sẽ bộc lộ rất rõ dưới ánh sáng của sự thật-chân lý-lẽ phải.

Việt tri

Cộng đồng tương trợ hữu cơ, nơi mà dân tộc là một cộng đồng khắng khít qua đoàn kết chặt chẽ để chế tác ra tương trợ sống trong một xã hội hữu cơ, không máy móc một cách thẳng thừng, trắng trợn kiểu "tiền trao cháo múc", lại còn được thô lỗ hóa qua đám từ của một xã hội loạn lạc luân lý như hiện nay : "ăn bánh trả tiền". Ngược lại hoàn toàn, cộng đồng tương trợ hữu cơ mang nội lực "một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ", có nội công "máu chảy, ruột mềm", có nội hành liên đới "bầu ơi thương lấy bí cùng". Đây là một đạo lý hữu cơ, không coi nhân dân là công cụ, không xem quần chúng là dụng cụ, mà là các chủ thể sống vì nhau, vì biết liên đới nhau, biết bảo vệ nhau, nơi mà trái tim đau, thì não cũng đau theo, nơi mà phổi khó thở thì tim cũng không dễ sống. Cộng đồng tương trợ hữu cơ luôn là bài học đôi cho tất cả các lãnh đạo của các nước văn minh, tiên tiến, nơi mà luân lý cộng đồng, đạo lý tương trợ, đạo đức hữu cơ luôn mang theo hiệu quả sản xuất, hiệu năng quản lý, hiệu suất cho chính sách. Tương trợ để tăng hiệu quả chính là thông minh của chính giới. Cộng đồng tương trợ hữu cơ đưa nhân thế vào nhân tính, đưa nhân tình vào nhân tính, nơi đây các phản xạ ích kỷ, tư lợi, cá nhân chủ nghĩa không bao giờ có được tầm vóc quốc gia, có vai vóc cộng đồng, có gân cốt của lãnh đạo cao minh vì biết lấy nhân nghĩa làm nhân tri.

Cộng đồng tương trợ hữu cơ

Cộng đồng tương trợ hữu cơ đang "dở sống, dở chết" trong xã hội Việt tộc do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo đang bị trật hướng, ngược chiều, với các nội tạng không có thực chất tương trợ hữu cơ, nơi đây mà não bộ lãnh đạo đang bị ung thư óc vì chuyên quyền-bạo quyền-tham quyền, sinh ra cùng với ung thư máu lây lan toàn cơ thể tham quyền-tham ô-tham nhũng, ngày ngày hủy diệt các kháng tố "thương người như thể thương thân" đưa tính mạng của Việt tộc tới nan bịnh, trọng bịnh, bạo bịnh... Cộng đồng tương trợ hữu cơ sẽ có, nếu các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam biết chế tác, biết gầy dựng (như mọi lãnh đạo chính trị thông minh của các quốc gia văn minh đã thực hiện được) được ba định đề biến nó thành một chính sách hoàn chỉnh với ý chí chính trị kiên cường : dụng tự do để chế tác công bằng, dùng công bằng để gầy dựng bác ái. Nếu bác ái là tình thương đồng loại, nhất là tình thương dành cho đồng bào, thì chắc chắc bác ái là tiềm năng, động cơ, sung lực cho tương trợ.

Việt tâm

Hiện hữu tâm linh-tri thức, là sự có mặt qua các giá trị tâm linh dựa trên một hệ thống tri thức vừa hợp lý vừa trọn vẹn, nơi mà nhân đạonhân tri là một tổng thể để đưa nhân tình vào quỹ đạo nhân nghĩa, đây là thử thách tinh thần lớn nhất của sinh hoạt chính trị, và nếu làm được thì sẽ là thành công đạo lý lớn nhất của kẻ lãnh đạo. Hiện nay, các diễn biến trong quyền lực chính trị thì ai cũng thấy là đang diễn biến hoàn toàn ngược lại, với các lãnh đạo đang thanh toán nhau qua ân oán giang hồ, đang thanh trừng nhau bằng luật rừng, theo phản xạ vô tri thắng làm vua, thua làm giặc, không có đạo đức sẽ không có hậu đây là chân lý khách quan và lịch sử của đạo đức học làm nền cho mọi hành động chính trị. Chính cái bề trên không những bất tín-bội thề với dân tộc trong phương trình tự do-ấm no-hạnh phúc, mà lại lấy bạo quyền để chuyên quyền đã làm cho các giá trị tinh thần của dân tộc đã bị sa vào bùn bẩn, từ đó các thước đo luân lý cộng đồng, các khuôn mẫu đạo lý tập thể bị suy kiệt tới cùng tận, để trong xã hội hiện nay cái bạo động của cường quyền công an đánh giết quần chúng, làm chất xúc tác xấu cho chuyện phát triển bạo hành trong học đường, trong gia đình, bạo giới của nam đối với nữ.

Công bằng và công lý để công nhận cái đúng của bình đẳng

Công lý không tự nhiên mà có, không phải trên trời rơi xuống, công lý tới tự thâm tâm của con người yêu quý và mến trọng công lý : tâm lý vì công lý có trước hiện thực của công lý. Một tâm lý muốn tôn vinh công lý qua công bằng. Công bằng từ lao động tới quyền lợi, từ bổn phận tới trách nhiệm, từ phân phối tới phân chia của cải và công sức trong sinh hoạt xã hội. Trong xã hội công lý dựa trên công bằng này sinh ra lý thuyết luận công lý có mặt trong luật họctriết học, trong đó công pháp học không tách rời đạo đức học, để khẳng định thái độ chống lại các cá nhân lợi dụng cộng đồng, bóc lột tập thể, qua ăn bám, ăn lừa, ăn hại. Nếu chúng ta không dứt khoát trên quan điểm này thì chính các lực lượng ký sinh trùng sẽ tạo ra các bất công mới, làm trì trệ mọi thăng tiến của kinh tế, làm ngưng trệ mọi tiến hóa của xã hội. Nhưng nếu quý yêu công lý, mến trọng công bằng thì phải nhận ý tưởng giờ đã thành lý luận trong xã hội học chính trị : công bằng-và-công lý-để-công nhận cái đúng của bình đẳng. Cái đúng này công nhận "làm nhiều, ăn nhiều", "làm nhiều, lương nhiều", "làm nhiều, lợi nhiều". Tức là chính thức công nhận việc "thức khuya dậy sớm", "một nắng hai sương", "dãi nắng dầm mưa" là phần thưởng xứng đáng trong thành công trong nghề nghiệp, trong thành đạt trong kinh tế, thành tựu trong xã hội.

Công cụ chống tham quan, công dụng chống tham quyền

Tất cả các thành công-thành đạt-thành tựu này chính là thành quả của một cá nhân, của một gia đình, của một tập thể, của một cộng đồng, của một dân tộc, của một sắc tộc, của một văn hóa phải được hợp lý hóa để được chính thức hóa, phải được công lý hóa để được cơ chế hóa qua pháp luật. Vì đây là công bằng của công bằng. Trong tình hình hiện nay của Việt tộc, cái đúng của thành công-thành đạt-thành tựu-thành quả sẽ là công cụ chống tham quan, có công dụng chống tham quyền, phải thành công luật để chống tham nhũng, phải là công pháp để chống tham ô. Vì bọn tham quan-tham quyền-tham nhũng-tham ô trong xã hội Việt Nam hiện nay chúng vừa "ăn không ngồi rồi", vừa "ăn trên ngồi trốc", bản chất của chúng là : "cướp ngày là quan", chúng không hề thiết tha tới "lao động sớm chiều", không hề biết hệ vấn đề thành công-thành đạt-thành tựu-thành quả là chuyện "mồ hôi nước mắt" của kẻ lao động. Chúng chỉ biết trộm-cắp-cướp-giật, vơ vét để nuốt chửng tiền của nhân dân, tài nguyên của đất nước, sinh lực của đồng bào. Khi chúng ta tâm niệm câu của tổ tiên trong cái đúng của thành công-thành đạt-thành tựu-thành quả : "có làm thì mới có ăn", thì bọn tham quan-tham quyền- tham nhũng-tham ô hiện nay -như ma bùn, ma xó- chúng làm ngược lại "không làm nhưng vẫn có ăn", đây không phải là lỗi, mà là tội trước công lý, trước công pháp !

Cái đúng phải từ ý thức đúng để có hành động đúng

nguyên tắc chung để phân chia, trong đó chia đều, chia ngang hàng chưa chắc là công bằng, mà phải có pháp của luật, có đạo của lý, cái tốt trước hết phải là cái đúng, từ công tâm tới công trạng, từ công bằng tới công lý. Cái đúng phải từ ý thức đúng để có hành động đúng, từ đạo lý đúng tới luân lý đúng, mô phạm đúng để có mô hình đúng, để tạo ra cơ chế đúng trong một xã hội đúng. Một xã hội đúng là một xã hội tạo được sự hợp tác giữa các cá nhân, cùng lúc giới hạn được sự xung đột, tới từ vị kỷ, có từ tư lợi của các cá nhân đó. Cơ sở của cái đúng tạo ra được công bằng, được công lý công nhận là hợp pháp, vì vừa hợp lý, vì vừa đúng luật. Cái đúng không phải chính trị hóa cái tốt, nó càng không phải thần học hóa cái lành của các tôn giáo, nó cũng không phải là cái trúng của toán học. Mà nó tới từ thỏa hiệp qua thỏa thuận của một cộng đồng có ý thức từ ý niệm tới thực hiện hệ vấn đề công bằng trong những lãnh vực rộng nhất, sâu nhất trong các sinh hoạt xã hội. Cái đúng của công bằng phải được thể nghiệm, thực nghiệm, thực hiện trong đối thoại của đa nguyên để luôn tạo ra đa năng, đa hiệu, đa tài để bảo đảm. Như vậy, sẽ không có cái đúng trong một xã hội độc tài, độc quyền, độc trị tức là độc đảng, vì không có cái đúng nào chịu nằm yên thụ động trong một mô hình ý thức hệ, như nằm ngủ ngu dại trong một nhà tù tuyên truyền chính trị một chiều.

Công pháp dựa trên công lý

Vì cá nhân ngày càng nhiều nhu cầu, tập thể ngày càng nhiều đòi hỏi, xã hội ngày càng nhiều dự phóng. Cầu tạo ra cung, mà nhu cầu con người thì có rồi lại muốn có thêm, có thêm rồi lại muốn có nhiều hơn. Cho nên, cái đúng đa dạng cần cái đa lực, đa chiều, đa dạng của đa nguyên. Cái đúng của chia đều, chia đồng theo phản xạ dễ dãi và vô trách nhiệm "cá mè một lứa" không hề là cái đúng được định vị bởi quyền lợi cá nhân, bởi tư lợi. Nhưng cái đúng của tư lợi phải được dựa vào một cái lý đúng, hoặc nhiều cái đúng, để làm tiền đề cho công bằng phải luôn dựa vào một cái lý công bằng đúng, hoặc nhiều cái công bằng đúng, trong đó nhu cầu mới sẽ sinh ra cái lý mới để tạo ra một loại công bằng mới. Công pháp phải có nền dựa trên công lý, công lý phải có gốc trong công bằng. Công bằng có công hành trong chia đều để tránh bất công, nhưng cũng phải giữ thế thăng bằng, trong đó côngquả phải được phân định rõ ràng, công nào của nấy phải được tôn trọng để tránh bất công. Cụ thể tránh ăn bám, tránh ăn nhờ, tránh ăn xin, để tránh chính thức hóa, tránh công pháp hóa chuyện biếng nhát, làm cho kẻ biếng lười được hưởng công lao của kẻ lao công. Chống lại chuyện sống thản nhiên trong kiếp ký sinh trùng, bắt xã hội phục dịch mình, bó nhân quần phục vụ nhu cầu riêng tư của mình.

Muốn đúng trong nhân loại thì phải trúng trong nhân sinh

Từ công lao qua công lý luôn là nỗi thao thức của nhân tri, luôn là nỗi đau đáu của nhân trí, để có được một xã hội mà không ai bỏ rơi ai, nhưng phải là một xã hội có công pháp, không ai được bóc lột ai ! Như vậy công bằng phải đi tìm chỗ dựa là công tâm. Mặc dù công bằng đã từ phạm trù của luân lý đã vào sâu trong phạm trù của công pháp, mà triết học chính trị đã biến nó thành hải đăng của công pháp để tìm đường đi đúng cho nhân loại. Nhưng muốn trúngđúng thì không được quên tính trong công tâm ! Nhưng muốn đúng trong nhân loại thì phải trúng trong nhân sinh. Trong lý thuyết luận về công lý, Rawls đề nghị lấy cái trúng (về lượng lẫn phẩm) để làm chỗ dựa cho cái đúng, khi đã có cái trúng đẩy cái đúng, thì lúc đó mới có thể nói tới cái lành (đúng về quyền lợi, trúng về trách nhiệm). Chính cái lành làm sáng cái tốt qua đạo lý lấy đoàn kết để tạo ra tương trợ, lấy cả hai đoàn kết để và tương trợ để loại đi cái ích kỷ ; bỏ vị kỷ để nhận vị tha, từ giáo dục tới tổ chức cơ chế, từ phân phối của cải trong xã hội tới tổ chức từ thiện trong sinh hoạt xã hội. Cụ thể là đưa công bằng vào công lý, đẩy công lý vào công pháp, trao công pháp để nhận công tâm trong tất cả quan hệ xã hội.

Công quyền qua tam quyền phân lập

Công bằng qua công lý để đến công quyền, chúng ta phải trở lại định nghĩa của đạo lý giữ cho bằng được những cái hay, đẹp, tốt, lành để tạo ra luân lý biến mô phạm thành mô hình của trách nhiệmbổn phận giữa cá nhân, gia đình, tập thể, cộng đồng, dân tộc, xã hội, nhân loại. Công bằng qua công lý trong đó mọi quyền lợi của cá nhân, cũng như trách nhiệmbổn phận của cá nhân đó đối với gia đình, tập thể, cộng đồng, dân tộc, xã hội, nhân loại phải được cụ thể hóa qua luật pháp, hợp thức hóa qua hành chính, công khai hóa qua cơ chế, trong đó pháp quyền bảo vệ luật pháp, bảo trì hành chính, bảo hành cơ chế, để định vị công quyền. Công quyền qua tam quyền phân lập, trong đó tư pháp đại diện cho công bằng qua công lý, không bị hành pháp khống chế, không bị lập pháp thao túng. Trong khi đó với chế độ độc đảng, tạo ra độc tài đã nô lệ hóa tư pháp, sinh ra độc trị, đã vô hiệu hóa phương trình công bằng- công lý, luôn là gốc, rễ, cội, nguồn cho một cơ chế pháp quyền, được xây dựng trên công quyền. Công quyền qua cơ chế pháp quyền luôn là chỗ dựa và cũng là sức bật của công bằng qua công lý ; chính nhờ các cơ chế pháp quyềncông bằng qua công lý đã trở thành công bằng bằng công lý, trong đó cơ chế được luật pháp bảo trợ biến công bằng bằng công lý thành giá trị cốt lõi trong quan hệ giữa người và người luôn cần bảo vệ.

Giá trị của công lý, giá trị của luân lý

Giá trị này luôn là giá trị đôi : giá trị của công lý (có nền là luật pháp), và là giá trị của luân lý (có cội là đạo lý), chính giá trị này biến mong muốn của nhân sinh thành ý nguyện của nhân tính, tạo ra ước nguyền của các thế hệ, và làm cầu nối giữa hiện tại và tương lai, vì cuộc sống thật sự đáng sống khi nó có công bằng, nhân tình thật sự đáng tin khi nó có công lý. Nhưng đạo lý của hay, đẹp, tốt, lành phải hợp lý để trở thành hợp pháp không những phải qua công lý mà còn phải qua các cơ chế pháp quyền của công quyền. Bi kịch của Việt tộc hiện nay, dưới quyền chỉ đạo của của Đảng cộng sản Việt Nam qua độc đảng-độc tài-độc quyền-độc trị là vở hài kịch của tư pháp -như một loại công quyền giả, mạo danh- đang làm lao nô cho Đảng cộng sản Việt Nam, trong một xã hội mà lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam vừa được ra luật cùng lúc được lách luật, vừa được đổi luật cùng lúc vừa được xé luật ! Công bằng luôn được tính toán qua công lợi, mà công lợi không thể thuyết phục được, nếu không định vị đúng thế nào là tư lợi (như quyền lợi của cá nhân trong xã hội). Ở đây, nguyên tắc phân chia quyền lợi qua công bằng được bảo trợ bởi công lý, phân phối tư lợi qua luật pháp được công nhận bởi công quyền.

Hành động của công lý là bảo vệ kẻ tếu, kẻ kém

i đúng của ý thức muốn được xã hội hóa của cá nhân biết đạo lý lẫn luật pháp để tự điều chế hành động của mình, để các hành động đúng (luật) có từ ý thức đúng (lý). Khi cá nhân mong muốn sống chung với xã hội thì cá nhân đó biết sử dụng quyền tự do của mình để giới hạn chính quyền tự do đó, để nhận bổn phận và trách nhiệm trước cộng đồng. Nguyên tắc công bằng trong xã hội phải là nguyên tắc công bằng trước các dịp may, cơ may có được do cơ chế xã hội tạo ra cho các thành phần xã hội rất khác nhau ngay trên thượng nguồn : trong giáo dục, trong đào tạo, trong huấn luyện. Từ đây, chúng ta không quên việc tôn trọng các nguyên tắc xã hội về sự khác biệt (giới tính, sắc tộc, văn minh, kinh tế...) giữa các thành phần rất khác nhau trong xã hội ngày càng lớn, ngày càng rộng, ngày càng nhiều về lượng lẫn chất, trong đó nguyên tắc của công bằng phải là hành động của công lý là bảo vệ kẻ yếu, kẻ kém, không để họ là nạn nhân của thảm kịch "cá lớn nuốt cá bé", của cái vô cảm trong xã hội Việt Nam hiện nay là "khôn nhờ, dại chịu", để sinh ra cái vô tình "ai chết, mặc ai". Như vậy, nếu có lời trong ngân sách thì nên nghĩ đến kẻ yếu, nếu muốn có lợi trong chính sách thì nên nghĩ đến kẻ kém, công lợi ngược lại với thâm ý "ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau", mà nó là tâm cảnh của chuyện "bầu ơi thương lấy bí cùng",nhân cảnh của "một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ".

Công giáo : công sức giáo dục

Công giáocông sức giáo dục, dù là thủ công hay trí thức, trong quy luật "trường nào trò nấy", phải thấy được là công giáo luôn dựa vào sự hiểu biết về cái đúng, và từ cái đúng đó khai phá qua phát minh cái hay, đẹp, tốt, lành cho cộng đồng, qua những bậc thang giá trị về công giáo, từ sáng kiến tới sáng tạo, được tập thể định vị trong đó vai trò của giáo dục cốt lõi. Mỗi xã hội có nhận định, có đáng giá riêng các bậc thang giá trị về công giáo luôn mang tính đặc thù riêng của mình ; có xã hội chăm lo công giáo để tạo tiền đề cho công trạng trong khoa học, kỹ thuật ; cũng có xã hội chăm lo công giáo nhưng lại hướng công trạng về sáng tạo nghệ thuật. Nhưng các xã hội thật sự chăm lo công giáo, luôn chăm lo chu đáo từ y tế tới nhân sinh, từ sáng kiến để tích cực hóa cơ chế xã hội tới sáng tạo để thăng hoa các phát minh. Giáo dục luôn là thượng nguồn để định vị những bậc thang giá trị về công lao, bi kịch trầm kha của Việt tộc hiện nay (như một ung thư tập thể) mang tính bạo bịnh liên thế hệ từ khi Đảng cộng sản Việt Nam quản lý giáo dục sau 1975, đó là hậu quả (giờ đã thành hậu nạn cho kiếp sau) học giả-thi giả-bằng giả. Từ đó kéo theo một hệ thống giáo dục tư nằm ngoài, nằm nghiêng, nằm ngược mọi bậc thang giá trị về công giáo. Không biết giá trị về giáo dục thì sẽ không có giá trị về đạo lý, luân lý, đạo đức. Hiện nay, hệ vấn đề hàng hóa hóa giáo dục đã dẫn tới tiền bạc hóa bằng cấp, khi đã tín dụng hóa kiến thức giáo dục thì sẽ buôn lậu hóa các cơ sở giáo dục, trong khi liêm sỉ giáo dục là phải giữ trách nhiệm giáo dưỡng tri thức, có bổn phận giáo hành trí thức.

Chính trị công minh, chính sách công bằng, chính giới công tâm

Bất bình đẳng có thể tới từ các nguyên nhân thuộc về cá nhân, một kẻ nghèo có thể vì do biếng lười, nếu đúng như vậy thì là lỗi của kẻ đó. Nhưng nếu một người nghèo, đến khổ cực, vì các cơ chế từ kinh tế tới giáo dục, từ hành chính tới chính trị không tạo điều kiện thuận lợi, mà ngược lại còn gây bao trở ngại để người này không được tiến thân, không được thoát khỏi kiếp nghèo, không ra khỏi cùng quẩn thì đây không phải lỗi của người đó. Mà đây là lỗi –và tội- của chính quyền, của chính phủ tạo ra rào cản để người này không thoát và không thắng kiếp cơ cực của mình. Tôn giáo lẫn tướng số, dị đoan lẫn định kiến không đóng được một vai trò gì tích cực trong chuyện "chống đói, giảm nghèo" này, mà chỉ có chính trị công minh, dựa trên chính sách công bằng, với chính giới công tâm mới xử lý được hệ vấn để bất bình đẳng, để tạo lại công bằng trong xã hội. Trong đó vai trò chính quyền là tiên quyết, từ giáo dục tới tổ chức kinh tế, từ đào tạo tới quản lý, từ giáo dưỡng đạo lý dân tộc tới giáo hành luân lý quần chúng. Vài trò đầu tiên của một chính quyền, chức năng ưu tiên của một chính phủ là sử dụng lại nguyên tắc phân phối đầu tiên do thị trường quyết định để lập ra các chính sách phân phối lại cho đại chúng, trong đó tái tạo lại thế quân bình giữa giầu nghèo, tái lập lại thế thăng bằng giữa ít củanhiều của, trong đó "kẻ có của, người có công" luôn được công lý bảo trợ, luôn được pháp luật bảo vệ.

Năng động tính của công bằng

Sự sáng suốt trong phân tích, sự tỉnh táo trong diễn luận, hướng chúng ta về một định đề chung là luôn luôn có bất bình đẳng trong mọi xã hội, nhưng trên hệ bất bình đẳng vai trò của chính quyền, chức năng của chính phủ là phải tạo điều kiện để quân bình lại, để có thăng bằng trong xã hội, từ thăng bằng tiến tới công bằng cho đại đa số quần chúng : đại chúng. Tạo điều kiện để quân bình lại cho đại đa số chưa phải là công bằng. Vì, công bằng là phạm trù có thể định lượng được, tức là cân, đo, đong, đếm được qua các đơn vị của toán học, được dùng để đo đạt lương bổng, tài chính, kinh tế... Ngược lại, tạo điều kiện để quân bình lại là phạm trù của luân lý, dùng luân lý để tạo công bằng, thì đây lại không thuộc vấn đề định lượng, tức là không cân, đo, đong, đếm được. Thí dụ tạo điều kiện thuận hơn cho kẻ tàn tật được dễ dàng hơn trong các cuộc thi tuyển ; tạo điều kiện thuận hơn cho người lớn tuổi được dễ dàng hơn trong di chuyển với vé giá thấp ; tạo điều kiện thuận hơn cho phụ nữ được dễ dàng hơn trong ngành nghề trước đây thuộc về nam giới với các ưu tiên khi tuyển dụng... Tạo điều kiện để quân bình lại tạo ra tiền lệ rồi tiền đề phục vụ cho năng động tính của công bằng ; và đây là thực chất của các xã hội văn minh, thật sự lo cho dân chúng, cho quần chúng, cho đại chúng ; vì không thể có một xã hội văn minh, nếu xã hội đó không tạo tiền lệtiền đề giúp kẻ yếu, đỡ người kém.

Bất công sẽ tạo ra bất bình đẳng ngày càng sâu, ngày càng rộng

Tạo điều kiện để quân bình lại là tìm mọi cách để kẻ có ít được có nhiều hơn so với kẻ đã có nhiều rồi, để khoảng cách giữa ítnhiều không phải là khoảng cách của bất công không vượt qua được. Có thể vượt qua bất công bằng cách tranh đấu chống bất bình đẳng bằng liên minh giữa năng động tính của công bằng và nguyên tắc tạo điều kiện để quân bình lại cho đại đa số. Chính bất công sẽ tạo ra bất bình đẳng ngày càng sâu, ngày càng rộng ; không chóng thì chầy sẽ sinh ra : mâu thuẫn quyền lợi trong cộng đồng, xung đột tư quyền trong tập thể, giành giật ưu đãi bất chính trong xã hội. Đây chính là thảm kịch của Việt tộc hiện nay, dưới chế đô độc quyền tham quyền của Đảng cộng sản Việt Nam, trong khi dân chúng ngày càng nghèo cực, ngày càng nheo nhóc, một bộ phận không nhỏ đã thành dân đen ; nếu mất nhà, mất đất thì thành dân oan. Cùng lúc, thì tầng lớp lãnh đạo tham ô, cán bộ tham nhũng, thì ngày càng giầu, ngày càng lắm bạc nhiều tiền, ngày càng "nhà cao cửa rộng". Chính Đảng cộng sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm trước vận số của Việt tộc trong thảm kịch "dầu sôi, lửa bỏng" sẽ diễn ra trong những ngày tháng tới !

Thực hiện công lý

Công bằng luyện tâm-luyện lý để chế tác ra công lý, mà công lý chính thống nhất, liêm chính nhất là công lý tôn trọng cái đúng để tạo tác ra cái hay, đẹp, tốt, lành cho xã hội, cho dân tộc, trong đó thượng nguồn của mọi lý luận là : tự do, trong đó tự do cá nhân phải luôn được tôn trọng và tôn vinh, nhất là tự do được thành công-thành tựu-thành đạt trong giáo dục, trong xã hội, qua trường đời. Nếu không có lý luận về tự do này thì sẽ không có cái đúng, và cũng sẽ không có luôn công bằngcông lý. Nhưng nguyên tắc tự do cá nhân chỉ đúng khi nguyên tắc về cơ may để tạo nghiệp phải đồng đều cho mọi cá nhân. Cụ thể là nguyên tắc về cơ may để tạo nghiệp, có lý luận để đòi hỏi : mỗi cá nhân đều phải được những tiền đề thuận lợi để thực hiện quyền tự do của mình. Chuyện này càng đúng trong giáo dục hiện nay, cha mẹ lầm than trong lao động mà không đủ tiền đóng học phí cho con cái ; trong khi đó con cái của bọn tham quan thì được làm quan tham, mà không cần chi trả gì cả ! Như vậy, nguyên tắc về cơ may để tạo nghiệp chính là đòi hỏi quyền bình đẳng trước mọi dịp may, mọi cơ hội, mọi bối cảnh, mọi thời cuộc.... và nếu có cùng một điều kiện xã hội, giáo dục thì sẽ có cùng một cơ may thành công-thành tựu-thành đạt trong xã hội, trong giáo dục, sau đó là nhận được thành quả trong nghề nghiệp, trong kinh tế. Đó mới là thể hiện công bằng ! Đó mới là thực hiện công lý !

Đạo lý công lý

Hãy cùng nhau khẳng định -không nhượng bộ và không thỏa thuận- là chuyện "con vua thì được làm vua" là bất công ! Hệ "thái tử đảng", con lãnh đạo được làm lãnh đạo, như chuyện tự nối ngôi nhau, để tham quyền tạo ra tham quan, tham ô sinh ra tham nhũng chính là bất công của tất cả bất công ! Vì chính chúng là bọn "sâu dân, mọt nước" ! Chính chúng đang tiêu diệt các nguyên tắc tự do, chính chúng đang tận diệt các nguyên tắc về cơ may để tạo ra nghiệp hay, đẹp, tốt, lành của bao nguyên khí, của bao tiềm năng của Việt tộc ! Kẻ vô tri, nhìn mà không thấy, thấy mà không hiểu, nên không có lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận trước các thực tế của cuộc sống, trước các thực tại của cuộc đời, sống trong xã hội của mình nhưng thực sự là đui, điếc rồi câm, nín trước các bất bình đẳng tới từ tà quyền, bất công tới từ bạo quyền. Không thấy dân đen trong nghèo khổ, không thấy dân oan bị cướp đất, cướp nhà thì sẽ không sao hiểu được các phong trào dân quyền dẫn tới các cao trào nhân quyền ; tự chủ sẽ dẫn tới dân chủ của các tầng lớp bị áp bức này, ngày đang lớn mạnh. Kẻ vô tri sẽ không thấy và không hiểu sự vận hành của nhân loại đi tìm nhân đạo, nhân thế đi tìm nhân nghĩa, nhân tình đi tìm nhân tính, nhân tri đi tìm nhân trí. Vô tri luôn đi ngược hướng nhân tri. Nếu vô tri vô trí thì chỉ là lỗi nhẹ, còn nếu vô tri vì vô liêm sỉ, chỉ thấy mình mà không thấy người, lấy vị kỷ để vùi dập vị tha, thì lỗi nhẹ giờ đã sang lỗi nặng. Nếu vô tri vì ích kỷ sẵn sàng biến của người thành của ta, thì lỗi giờ đây đã bước qua tội, nếu là tội thì sẽ bị đạo lý xử nghiêm khắc, công lý xử nghiêm minh.

Trí lực để vận não

Tuổi trẻ hãy dụng toàn diện đạo lýcông lý như đã nhận diện ra hai ngọn hải đăng trong sương mù dân tộc hiện nay, để đứng phía các nạn nhân của bất bình đẳng, của bất công : hãy đứng hẳn về phía nước mắt ! Cũng các nhà nghiên cứu này ngạc nhiên về thái độ sống của nhiều bạn trẻ Việt, tới gặp trong hâm mộ rồi quy phục trước các nhà kinh doanh Trung Quốc đã thành công, lắm tiền nhiều của. Nhưng các bạn trẻ này không tự đặt ra các câu hỏi để tìm câu trả lời cho chính mình là các đại gia Tàu này, mà phần lớn là trọc phú, đã bóc lột đồng bào họ như thế nào để được giàu như vây ? Và sau này, nếu đất nước Việt bị Tàu xâm chiếm, đô hộ, đồng hóa, thì các đại gia Tàu trọc phú này, sẽ bóc lột Việt tộc của các bạn gấp bao nhiêu lần để giầu thêm ? Qua các thành phố, qua các nẻo đường của đất nước Việt : ai cũng ngạc nhiên là số lượng đông các thanh niên ngồi tán gẫu nhiều giờ liền trong ngày tại các quán cà phê, mà không thấy học tập, không thấy lao động, bao giờ thì đất nước Việt sẽ giàu mạnh ? Chỉ là công dân Việt bình thường, ai cùng vừa thắc mắc, vừa buồn khi nhìn các thanh niên đầy ngập các quán nhậu, lời ra tiếng vào dẫn tới ăn tục nói phét, vô tri khi tự khen nhau về "tửu lượng", vô minh khi miệt thị phụ nữ, vô giác khi tiêu xài tiền của người thân... Tự thiêu hủy thể lực, còn đâu tâm lực để bảo vệ đất nước khi Tàu tặc đang đe dọa quê hương qua môi trường, đang hủy diệt đồng bào mình qua thực phẩm, rồi còn đâu trí lực để vận não làm chuyện phát triển đất nước, vắt óc để bảo vệ tiền đồ của tổ tiên !

quyenluc14

Quyền lực chính trị

Hành tác chính trị là động tác đưa vào hành động chính trị, vào không gian và thời gian của sinh hoạt chính trị được điều hành bởi quyền lực chính trị (nắm chính quyền, lập chính phủ, dựng chính sách), nơi mà hiệu quả của hành tác chính trị được nhận định và đánh giá qua hiệu quả chính trị khi một cá nhân lãnh tụ, hay một tập thể lãnh đạo có quyền lực trong tay. Định nghĩa chính trị học này dùng quyền lực để nhận diện ra hành tác chính trị thật ra chưa đủ và chưa đúng, vì sau kinh nghiệm dân chủ đa nguyên của nhân loại trong hai thế kỷ qua, tại đây chính đa nguyên dựa trên đa đảng liên tục sáng tạo ra đa trí, đa tài, đa năng, đa hiệu… bó buộc chính giới và chính khách phải nới rộng ra định nghĩa này. Từ đây, định nghĩa về hành tác chính trị phải được bổ sung thêm bởi hai định nghĩa khác : một của triết học chính trị phân tích quyền lực chính trị qua nguyên tắc của công bằng, nơi mà công bằng là chỗ dựa cho công lý để điều chế mọi hành tác chính trị. Hai là xã hội học chính trị, đặt tự do của hành tác chính trị vào nội hàm của công bằng, để tạo ra hiệu quả, cụ thể là dùng công bằng để chế tác ra bác ái, trong đó kẻ có quyền lực là kẻ thực sử dụng được bác ái để tạo đoàn kết, để dựng tương trợ, đặt bác ái đúng nhân vị tức là cùng hàng, cùng lứa, cùng đôi với công bằngtự do để bảo đảm một cặp đôi khác là : cộng hòadân chủ, trong đa nguyênnhân quyền.

Tự do chính trị

Tự do chính trị là một phạm trù gây ngộ nhận nhiều nhất trong không gian chính trị, khi ta nghiên cứu về chính trị, chính giới, chính khách khi có chính quyền trong tay, vì bản thân sự hiểu biết chủ quan về tự do là một con dao hai lưỡi ; và các thể chế độc đảng, các chế độ độc tài luôn dùng cách hiểu tự do chính trị tà đạo nhất để lập bạo quyền : có chính quyền là có quyền lực, thì muốn làm gì thì làm ! Gây ra những hậu quả không sao lường được, mà trên thượng nguồn là cách hiểu sai lệch về tự do, vì phạm trù tự do là một phạm trù không có quy phạm, cụ thể là không có mô thức tuyệt đối của đạo lý để kiểm soát nó, không có mô hình phổ quát của luân lý để kềm chế nó. Nên trong không gian lãnh đạo chính trị dựa trên đa nguyên của dân chủ thì tự do là nơi mà các quy luật khách quan phải tuân theo các quy phạm cần thiết để quản lý tự do trong chính trị bằng tri thức đúng về quyền lực, tức là phải tôn trọng công bằng, phải tôn vinh công lý. Trong không gian chính trị này, ta phải phân biệt có nhiều không gian của tự do, các tự do này rất bất bình đẳng trong sinh hoạt xã hội, thí dụ như trong các quốc gia dân chủ giàu mạnh, nhưng trên thực tế không gian của một tỷ phú luôn rộng hơn không gian của một công dân đang thất nghiệp.

Tổ chức chính trị

Tổ chức chính trị qua đảng phái hay qua cá nhân là một tổ chức mang theo hệ tự : lấy tự do làm nên tự chủ, để tự quyết trong hành động mà tự tin, nơi mà quyết đoán sẽ làm nên quyết sách, tạo ra chính sách qua hành động chính trị khi có quyền lực trong tay, tất cả hành động này đều phải dựa trên : công lý có nguồn cội là công bằng. Chính đây là thảm kịch đôi của Việt tộc, từ khi bị Đảng cộng sản Việt Nam cai trị, thảm kịch thứ nhất là lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam không hề tôn trọng sự thật đa chiều, đa dạng của truyền thống, văn hóa, xã hội… của Việt tộc mà chỉ đi theo độc lộ đầy độc hại của một ý thức hệ vô sản, có rễ là vô thần nên vô tri ngay trong hệ độc (độc đảng, độc tôn, độc trị, độc quyền, độc tài). Đảng cộng sản Việt Nam không hề chú trọng việc xây dựng thêm bịnh viện, thêm trường học nơi mà y tế và giáo dục là hằng số của mọi chính quyền liêm chính ; mà ngược lại họ tập trung xây dựng bộ máy tà quyền công an dựa trên bạo quyền độc đảng, cùng lúc thần thánh hóa các lãnh đạo của họ đã lừa đảo dân tộc bằng quỷ quyền, giờ lại được có các tượng đài nghìn tỷ, trong một xã hội ngày càng nhiều dân oan, ngày càng lắm dân đen. Thảm kịch thứ nhì, vì không biết về sự thật đa chiều, đa dạng của của Việt tộc, nên Đảng cộng sản Việt Nam đã lầm đường lạc lối khi tổ chức tuyên truyền một chiều kiểu xóa não, nhồi sọ, gạt đi các giá trị đạo đức của tổ tiên, các đạo lý của dân tộc.

Uy lực chính trị

Uy lực chính trị không nằm trong bạo quyền lãnh đạo, không ở trong tà quyền tham quan, trong ma quyền "sân sau", ngày ngày thao túng quyền lực độc đảng như hiện nay, mà nó là uy lực tới từ tiềm lực biết của lãnh đạo chính trị văn-minh-vì-thông-minh, luôn biết củng cố sung lực tự trị của xã hội, để tạo ra sinh lực cho xã hội dân sự giúp chính quyền nhận ra điều hay lẽ phải, để tránh chuyện lầm đường lạc lối trong chính sách. Uy lực chính trị của một chính quyền tạo ra hùng lực cho công bằng luôn có mặt, luôn được bảo vệ, ai cũng như ai, không có kỳ thị, không có phân biệt đối xử, để chính công bằng chế tác được tự do, nơi mà mọi công dân được quyền thành công như nhau trong xã hội, từ học đường tới nghề nghiệp, từ kinh tế tới văn hóa… Nếu cái uy làm ra cái lực, vì cái uy tới từ cái thiện của công bằng, cái đúng của công lý, và cái uy chỉ tồn tại khi nó tạo được cái ơn qua hành động chính trị, khi mà kẻ mang ơn thấy mình được thăng hoa ngay trong nhân vị công dân của mình : thành công trong học đường, thành tài trong nghề nghiệp, thành đạt trong kinh tế, thành tựu trong xã hội. Điều này, hoàn toàn ngược lại với lối tuyên truyền vô minh của Đảng cộng sản Việt Nam đang bóc lột dân tộc tới tận xương tủy, với bao triệu dân đen, và dân oan, nhưng cùng lúc lại tuyên truyền là "nhân dân phải mang ơn Đảng".

Công lý chính trị

Công lý chính trị dựa trên công bằng, được lãnh đạo chính trị tôn trọng trong mọi hành động chính trị, và chính các lãnh đạo này phải luôn liêm chính trong nghiêm minh để nhận ra là công lý chính trị luôn song hành cùng công bằng xã hội. Tại đây, công lý là hệ mở nó chống bế môn tỏa cảng, nó chống ngăn sông cấm chợ, ranh giới giữa quốc nội và quốc ngoại không còn là rào cản, mà phải là một luồng lưu thông năng động. Khi láng giềng có công lý chính trị hay, đẹp, tốt, lành hơn ta thì ta phải học, phải theo để làm tốt hơn, để ứng dụng hiệu quả vào xã hội của ta ; còn ngược lại nếu chính quyền dùng luật để cấm, ngăn, chặn, phạt là bất minh. Thí dụ rõ nhất là truyền thông mạng xã hội chính là lõi của công lý truyền thông, và khi Đảng cộng sản Việt Nam ra luật an ninh mạng để răn, đe, doạ, nạt dân chúng thì đây là một hành động chính trị bất chính, vì nó không tôn trọng công lý trong thông tin và truyền thông. Công bằng xã hội phải là nguyên tắc trung tâm cho mọi hành động vì công lý chính trị, cụ thể là không dùng quan niệm công bằng xã hội để tạo ra phân biệt đối xử, với lý do là vì muốn bảo vệ công bằng trong xã hội của mình, nên đặt các luật đẩy người ngoại quốc, di dân, nhập cư xuống thấp hơn dân mình, không được có các quyền lợi của dân bản xứ. Chính sự phân biệt đối xử công dân hàng đầu-di dân hàng sau đang tạo ra bất bình đẳng xã hội mà hậu quả xấu sẽ tới với qua xung đột xã hội.

Công lợi chính trị

Công lợi chính trị là phạm trù của quyền lực chính trị quản lý công sản của quốc gia, tài sản của dân tộc, và luôn đặt công sản và tài sản này lên trên mọi tư lợi của giai cấp, nhất là giai cấp thống trị. Vì khi đặt quyền lợi của giai cấp thống trị lên trên quyền lợi của quốc gia và dân tộc thì sẽ trực tiếp tạo ra bất bình đẳng, tức khắc tạo ra bất công ; chính bất bình đẳng và bất công là gốc rễ cội nguồn của mọi xung đột xã hội, dẫn tới bạo động ngay trong xã hội. Đây lại là thảm họa mà Đảng cộng sản Việt Nam đang trấn, áp, đè, đặt lên vai, lên lưng, lên đầu Việt tộc khi độc đảng được độc quyền qua đặc lợi ; khi độc tài dùng độc trị để có đặc ân, của một thiểu số bất chính dẫm lên mọi ý thức về công sản quốc gia. Sự bất chính này sẽ nhân đôi khi bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham quan, ma quyền "sân sau" dùng hệ tham (tham quyền, tham ô, tham nhũng) để làm giàu, đã giàu rồi lại muốn giàu hơn, đã có nhiều rồi lại muốn có nhiều hơn. Và cuối cùng, khi đã có đặc quyền, đặc ân, đặc lợi thì sự bất chính sẽ tăng lên gấp ba, rồi gấp bội, vì tà quyền này sẽ bám cho bằng được qua hệ độc (độc đảng, độc tài, độc trị, độc tôn) để có độc quyềntrục lợi cho tư lợi, chúng chặn các tiến bộ xã hội, chúng ngăn thăng tiến giáo dục, chúng nghiền cấp tiến kinh tế, chúng sẵn sàng lấp công bằng, để vùi công lý.

Đạo lý chính trị

Đạo lý chính trị là hành trình của chính giớichính khách dùng chính quyền để thực thi các chính sách, để đi tìm các điều hay, đẹp, tốt, lành cho quốc gia, cùng lúc bảo vệ văn hóa, bảo đảm văn minh, bảo tồn văn hiến cho dân tộc. Trên con đường đạo lý chính trị chính trị này, lịch sử chính trị thế giới vạch rõ cho ta một chân lý là chính quyền của trong các thể chế độc tài qua độc đảng là chính quyền của giai cấp thống trị, nhưng thực chất là của các nhóm lợi ích chóp bu có tổ chức như những tập đoàn tội phạm (kiểu mafia), tức là khi chúng không lấy, giành, đoạt, chiếm được thì chúng sẽ trộm, cắp, cướp, giật. Loại chính quyền này hoàn toàn khác với chính quyền của đa số quần chúng qua đầu phiếu trong các cơ chế dân chủ, lấy cải tổ xã hội thay cách mạng sắt máu, lấy cải cách xã hội để xóa đói giảm nghèo, qua các chính sách lấy công bằng của công pháp để giới hạn bất bình đẳng trong xã hội ; lấy công lý qua công luật để ngăn chặn bất công trong xã hội. Nhân loại cũng đã đi và đã có kinh nghiệm qua các con đường từ tập thể hóa tới quốc hữu hóa các phương tiện sản suất để giới hạn, để ngăn chặn chuyện người bóc lột người, để ngăn bất bình đẳng, để chặn bất công. Nhưng con đường này có giới hạn của nó, mà hiện nay các quốc gia càng dân chủ, các dân tộc càng văn minh thì phải tìm thêm các con đường mới, nơi mà nhân vị được bảo đảm bởi nhân quyền trong công bằng và tự do, mà không quên bác ái.

Quyền lực biết đấu tranh vì an sinh xã hội

Có một chân lý là khi một cá nhân, một tập thể, một đảng phái : có quyền rồi thì sẽ lạm quyền. Sự thật chính trị nắm quyền rồi lạm quyền, chân lý chính trị lạm quyền vì tham quyền tạo ra ung thư chính trị qua phương trình có quyền-lạm quyền-nắm quyền-tham quyền. Loại hoạn bịnh chính trị này bất chấp lẽ phải của luân lý chính trị, bất kể đạo đức chính trị làm nên nhân đức của một chính thể, vì vậy nên đạo lý chính trị phải bảo đảm hằng ngày vai trò trọng tài để cai quản và canh giữ chính quyền. Vì mọi công dân liêm chính đều có quyền nghi ngờ và nghi ngại loại hoạn bịnh chính trị : có quyền-lạm quyền-nắm quyền-tham quyền này ! Một lý luận gia cốt lõi của chủ thuyết tam quyền phân lập là : khi đã có tam quyền phân lập thì chưa chắc có đầy đủ dân chủ, mà phải tìm ra cho bằng được một quy định chính trị trong đó có cái thông minh : quyền biết ngăn chặn quyền ! Nếu định nghĩa hành động chính trị là loại hành động tranh giành quyền lực để bảo vệ quyền lợi của mình, thì loại hành động chính trị này vô cùng thấp hèn trong tà kiếp của nó so với định nghĩa hành động chính trị là đấu tranh vì an sinh xã hội, vì công bằng xã hội.

Quyền lực biết đấu tranh vì công bằng xã hội

Nếu định nghĩa hành động chính trị là loại hành động đấu tranh giai cấp để bảo vệ và duy trì đặc quyền, đặc lợi, đặc ân của giai cấp thống trị, giờ đã thành bè phái, bè đảng. Bè, phái, nhóm, "tiểu triều"… giờ đã trở thành những tập đoàn tội phạm cầm quyền và tham quyền để trộm, cắp, cướp, giật thì loại hành động chính trị này vô cùng đốn mạt cho dân tộc, mạt vận cho giống nòi. Loại hành động chính trị này đúng là nhơ phận trong nhớp kiếp so với hành động chính trị dấn thân để chăm lo cho toàn xã hội, cho tất cả tầng lớp xã hội, cho mọi thành phần xã hội. Nếu hành động chính trị là đấu tranh vì an sinh xã hội, vì công bằng xã hội dựa trên các nguyên tắc của công lý, thì chính công lý đó phải bảo vệ dân chủ và nhân quyền. Nguyên tắc của công lý này phải đi từ dưới lên trên là trước hết và trước mắt là bảo vệ người nghèo, người yếu, người thất thế, người lỡ vận, người không biết tự bảo vệ mình… Muốn hành động chính trị liêm chính thực sự đấu tranh cho công bằng và công lý, hãy bắt đầu bảo vệ cho bằng được những thân phận "con sâu, cái kiến", những kiếp người "thấp cổ bé họng", những nhân sinh "ít hơi, ngắn tiếng"…

Đạo lý (hay, đẹp, tốt, lành) xác nhận luân lý (trách nhiệm với đồng bào, bổn phận với đất nước)

Khi hành tác chính trị biết đặt công bằng trên tự do, thì ý thức của công bằng đã chế tác ra nhận thức là nếu chúng ta để tự do cá nhân vào trung tâm của xã hội, vào lõi của cộng đồng, thì chính tự do cá nhân sẽ tạo ra tự do cạnh tranh, mà kết quả là có kẻ thắng người bại, làm nên hệ lụy của của bất công là kẻ thắng đi trên lưng, trên vai, trên đầu người bại, từ đây sẽ sinh ra hằng số của bất bình đẳng ! Vì thế, chúng ta phải đẩy lý luận của chúng ta đi xa hơn nữa để cẩn trọng hơn khi chúng ta "đánh đồng một khối" theo kiểu "cá mè một lứa"tự do-công bằng-bác ái là những thể loại ngang hàng nhau, vì trong thực tế thì ba hệ luận này có thể kình chống nhau, đối chọi nhau, xung đột nhau để bất bình đẳng làm tăng thêm sự màu mỡ cho mảnh đất của bất công. Tự do của một cá nhân không phải là tự do của một xã hội. Nhất là trong xã hội Việt Nam hiện nay, ta thấy có những cá nhân đã thành công trong nghề nghiệp, thành đạt trong kinh tế, thành tựu trong xã hội bằng con đường tự do kinh doanh của họ. Nếu một thiểu số quá ít thành công nhờ tự do hành nghề của mình trong một xã hội công an trị, cùng nơi với nạn nhân của bất công là hàng triệu triệu dân đen, dân oan, dân lành sống trong khốn cùng cơ cực thì xã hội đó không có tự do. Đạo lý (hay, đẹp, tốt, lành) xác nhận luân lý (trách nhiệm với đồng bào, bổn phận với đất nước).

Công tâm chính trị chặn quyền lực, ngăn quyền lợi

Xác chứng đạo đức của tổ tiên của Việt tộc là : thương người như thể thương thân, bầu ơi thương lấy bí cùng, một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ… Nên giữa tự do của một thiểu số quá nhỏ lấn lướt để lấn át tự do của toàn xã hội, thì tôi xin đứng về phía tự do của toàn xã hội. Những kẻ vô tâm vì công tâm biệt tăm, nhân tâm biệt tích đừng quên là cuộc đời này có thực cảnh là nắng sớm mưa chiều, trong hoạt cảnh vật đổi sao dời, mang tới bao thảm cảnh lên voi xuống chó… Vì bất cứ ai sống trong xã hội công an trị hiện nay, đều có thể một sớm một chiều trở thành những người vô gia cư, cụ thể là nạn nhân của bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền chỉ biết luật rừng của bản năng trộm, cắp, cướp, giật để sinh nhai, rồi sinh tồn bằng "sinh sự" ! Khi ta phạm trù hóa để ba định nghĩa đến đúng ba định đề, rồi ngự đúng ba định luận là bạo quyền lãnh đạo, dùng bạo lực để bạo hành dân tộc, giống nòi như một phản xạ của một chế độ công an trị, thì phản xạ này đã là hằng số, nó nói lên bản chất của độc đảng trong chuyên chính, độc tài để độc trị. Tà quyền tham quan, dùng tham quyền để tham ô, vì tham tiền nên tham nhũng, bòn rút tài nguyên đất nước, rút tỉa sinh lực dân tộc, lấy chuyện cướp ngày là quan để lách luật, trốn luật, thậm chí xé luật, để chống lưng cho bọn sân sau của nó trong bóng đêm của mua chức bán quyền, sâu mọt hóa mọi đạo đức của Việt tộc. Ma quyền tham tiền, là bọn con buôn không có đạo lý, không biết luân lý, nên chẳng màng gì tới đạo đức.

Dân chủ và nhân quyền : đồng hội đồng thuyền

Trong nội chất của cộng hòa làm nên dân chủ : tự do-công bằng-bác ái, thì ưu tiên nằm ở đâu ? Để biết mình phải làm gì trong mọi chính sách. Tự do có không gian riêng của nó, không gian tự do của kẻ bị phá nhà để cướp đất, giờ thành kẻ vô gia cư, đầu đường xó chợ trong cảnh màn trời chiếu đất rồi sống nay chết mai là con số không ! Nó ngược hoàn toàn với các quan chức tha hồ vơ vét trong tham ô, đang cầm quyền mà đã có nhà cao, cửa rộng bên phương Tây tư bản với thẻ cư trú để dễ bề cao bay xa chạy khi vận nước trong tay Tàu tặc, Tàu họa, Tàu hoạn, Tàu nạn, Tàu tà… Công bằng xã hội ưu tiên hơn tự do của quyền lợi cá nhân hay đảng phái. An sinh xã hội vận dụng bác ái để tận dụng công bằng, thì người giàu chấp nhận và được tạo điều kiện để giúp đỡ, hỗ trợ, trợ lực, nâng đỡ người nghèo. Tự do-công bằng-bác ái thì luôn đồng hội đồng thuyền trong đấu tranh dân chủ vì nhân quyền, nhưng trong hành tác chính trị của công tâm, thì chưa chắc ăn cùng mâm, ngồi cùng chiếu.

Lê Hữu Khóa

(17/05/2021)

Quay lại trang chủ

Additional Info

  • Author: Lê Hữu Khóa
Read 451 times

Viết bình luận

Phải xác tín nội dung bài viết đáp ứng tất cả những yêu cầu của thông tin được đánh dấu bằng ký hiệu (*)