Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Published in

Diễn đàn

14/12/2022

"Đối tác chiến lược toàn diện" giữa Việt Nam và Úc

Phan Minh

Những kỳ vọng về quan hệ "Đối tác chiến lược toàn diện" giữa Việt Nam và Úc

Việt Nam và Úc sẽ kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm tới. Trang mạng Nhật The Diplomat ngày 12/12/2022 đăng bài viết nói về mối quan hệ song phương của hai nước, trong bối cảnh chủ tịch Quốc hội Việt Nam Vương Đình Huệ vừa hoàn thành chuyến công du Úc vào tuần trước. RFI xin trích dịch.

vietuc1

Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Bùi Thanh Sơn (phải) tiếp đồng nhiệm Úc Penny Wong tại Hà Nội, Việt Nam ngày 27/06/2022. AP

Tuần trước, chủ tịch Quốc hội Việt Nam Vương Đình Huệ đã có chuyến thăm thủ đô Canberra và hội đàm với một số quan chức cấp cao của Úc, trong đó có thủ tướng Anthony Albanese. Ông Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị và là người đứng thứ 4 trong "tứ trụ" quyền lực nhất của Đảng cộng sản Việt Nam, là nhà lãnh đạo cấp cao đầu tiên của Việt Nam đến thăm Úc trong 4 năm qua. Chuyến thăm của ông Huệ nhằm đặt bước đệm tiếp theo hướng tới việc thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện khi hai quốc gia kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm tới. 

"Đối tác chiến lược toàn diện" là cấp độ cao hơn "đối tác chiến lược" mà Úc thiết lập với Việt Nam vào năm 2018, nhân kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Ý tưởng nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược lần đầu tiên được cựu thủ tướng Úc Scott Morrison đề xuất vào tháng 01/2021, trong cuộc điện đàm với người đồng nhiệm Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc, giờ đây là chủ tịch nước. 4 tháng sau, ông Morrison lặp lại đề xuất này trong cuộc điện đàm đầu tiên với thủ tướng Việt Nam mới đắc cử Phạm Minh Chính. Khi ông Morrison gặp riêng ông Chính bên lề hội nghị COP26 ở Glasgow vào tháng 11 năm đó, ông gọi quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước là "năng động". 

Các nhà ngoại giao Việt Nam coi quan hệ đối tác chiến lược toàn diện phản ánh mức độ tin cậy chính trị và chiến lược, và Ngoại trưởng Úc Penny Wong gần đây cho biết quan hệ đối tác Việt Nam-Úc là "dựa trên sự tin cậy" và "mối quan hệ giữa Úc và Việt Nam rất sâu sắc". Quan hệ Việt Nam – Úc ngày càng được đánh dấu bằng sự hội tụ của các lợi ích cốt lõi và chiến lược. 

Trên nhiều phương diện, Úc nổi bật là "nước đầu tiên" và "duy nhất" trong nhiều động thái tích cực liên quan đến Việt Nam. Úc là một trong những quốc gia phương Tây đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam (1973) trước khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc. Úc là một trong những nước phương Tây duy nhất ủng hộ Việt Nam trở thành thành viên của Liên Hiệp Quốc (1977). Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc vào năm 1975, cơ quan ngoại giao Úc tại Hà Nội trở thành cầu nối liên lạc duy nhất giữa Việt Nam và các quốc gia phương Tây khác không có đại diện ngoại giao tại Hà Nội. 

Năm 1994, Paul Keating trở thành thủ tướng Úc đầu tiên và là người đứng đầu chính phủ phương Tây thứ 2 thăm Việt Nam thống nhất sau chiến tranh (1994). Úc viện trợ cho Việt Nam xây dựng cây cầu đầu tiên bắc qua sông Mekong ở miền Nam. Khi Việt Nam bắt đầu chương trình Đổi Mới về cải cách kinh tế, Úc là một trong 5 quốc gia đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam. ANZ là ngân hàng đầu tiên đến từ quốc gia nói tiếng Anh, mở chi nhánh và cung cấp dịch vụ ATM đầu tiên tại Việt Nam. Phillips Fox của Úc là công ty luật nước ngoài đầu tiên được cấp giấy phép hoạt động tại Hà Nội và đi tiên phong trong việc xuất bản quyển "Pháp luật Việt Nam về đầu tư nước ngoài" bằng tiếng Anh. RMIT được trao giấy phép trở thành trường đại học nước ngoài đầu tiên được thành lập tại Việt Nam và đại học Swinburne là một trong những trường đại học nước ngoài đầu tiên được phép thực hiện các chương trình đào tạo tại Việt Nam vào những năm 1990. Úc là quốc gia phương Tây đầu tiên đón chủ tịch Quốc hội Việt Nam vào năm 1990 và tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1995. 

Các cuộc thảo luận về việc nâng cấp mối quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện dường như đã bị chậm lại trong những tháng gần đây, do hai quốc gia phải vật lộn với Covid-19 và cuộc bầu cử liên bang của Úc vào tháng 5. 

Cuộc bầu cử đã đưa đảng Lao Động Úc lên nắm quyền. Không giống như chính phủ Morrison, chính phủ Anthony Albanese dường như có một đường lối ngoại giao nhẹ nhàng, yên tĩnh và thận trọng hơn. Trong những tháng đầu tiên sau khi ông nhậm chức, cụm từ "quan hệ đối tác chiến lược toàn diện" đã không được nhắc đến trước công chúng để mô tả tương lai của quan hệ đối tác Úc – Việt Nam trước chuyến thăm của ông Huệ. Tuy nhiên, mọi thứ trở nên rõ ràng hơn trong chuyến thăm tuần trước. 

Mục tiêu thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện đã được lặp lại trong các cuộc gặp giữa ông Huệ và các quan chức Úc khác, bao gồm ông Albanese, bà Wong, toàn quyền David Hurley, bộ trưởng Quốc Phòng Richard Marles và lãnh đạo phe đối lập Peter Dutton. Đại sứ Việt Nam tại Úc, ông Nguyễn Tất Thành nhận xét, quan hệ Việt Nam – Úc đã đạt đến độ chín muồi để bước sang một giai đoạn mới về mức độ tin cậy, bao hàm việc thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. 

Bà Wong thì nói cụ thể hơn, như được trích dẫn trên các phương tiện truyền thông Việt Nam rằng "việc thảo luận về khả năng nâng cấp mối quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện nhân dịp kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước sẽ là một bước tiến, một bước đột phá và là thành tựu quan trọng". 

Câu hỏi hiện nay là quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Úc và Việt Nam sẽ bao hàm những gì ? 

Vào tháng 9, ông Thành, đại sứ Việt Nam đã tóm tắt mối quan hệ song phương hiện nay bao gồm 3 cột trụ chủ chốt và 8 chủ đề quan trọng. 3 cột trụ chủ chốt là hợp tác kinh tế, hợp tác quốc phòng, an ninh và đổi mới sáng tạo. 8 chủ đề quan trọng là giáo dục và đào tạo, năng lượng và tài nguyên, nông-lâm-hải sản, công nghiệp chế tạo, du lịch, khoa học – công nghệ, kinh tế số và dịch vụ. 

Trong khi đó, ông Huệ, trong một bài phát biểu trước Viện Chính Sách Úc – Việt Nam vào tuần trước, đã nhấn mạnh đến 3 ưu tiên chính sau : tăng cường hợp tác kinh tế – thương mại ; thúc đẩy hơn nữa hợp tác chiến lược, an ninh và quốc phòng ; xây dựng các nền tảng về hợp tác chiến lược trong việc chia sẻ kiến thức, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo, đặc biệt chú trọng đến hợp tác trong lĩnh vực năng lượng xanh và công nghệ. Ông Huệ cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác giữa các địa phương và giao lưu giữa người dân, coi đây là những chủ đề thiết yếu của quan hệ Việt Nam – Úc. 

Hiển nhiên là mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện sẽ bao trùm tất cả các lĩnh vực nêu trên, hướng tới việc củng cố và mở rộng phạm vi hợp tác. Nhìn chung, quan hệ đối tác chiến lược toàn diện có thể được xây dựng trên 5 vế chính sau : tin cậy và hợp tác chính trị ; tăng cường hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư và nông nghiệp ; hợp tác quốc phòng, tình báo và an ninh ; giáo dục, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo ; giao lưu giữa người dân. 

Cho đến nay, việc thực hiện 5 vế nói trên đã có những bước tiến đầy ấn tượng, nhưng từng lĩnh vực vẫn còn những thiếu sót, nên chưa đáp ứng được tiêu chuẩn chiến lược của quan hệ đối tác. Hãy lấy hợp tác kinh tế và quốc phòng, hai trong số các lĩnh vực hợp tác chiến lược quan trọng nhất làm ví dụ. 

Về kinh tế và thương mại, hai nước đã ký kết bản Chiến Lược Tăng Cường Hợp Tác Kinh Tế Việt-Úc vào năm 2021, giúp nâng kim ngạch thương mại hai chiều lên gần 14 tỷ đô la trong 10 tháng đầu năm 2022, tăng 33% so với cùng kỳ vào năm 2021, đưa Úc và Việt Nam lần lượt trở thành đối tác thương mại lớn thứ 7 và thứ 10 của nhau. Tuy nhiên, hiện chưa có cơ chế tập hợp các quan chức cấp cao của cả hai bên để thảo luận và tìm cách tháo gỡ những nút thắt và thách thức trong bộ máy quan liêu và văn hóa kinh doanh khiến cho hợp tác song phương không tiến xa hơn được nữa. Theo dự kiến, một cuộc đối thoại cấp bộ trưởng thương mại sẽ được tổ chức vào năm tới và sẽ cần phải được duy trì. 

Trong lĩnh vực hợp tác quốc phòng và an ninh, Việt Nam và Úc đã ký Bản Ghi Nhớ Hợp Tác về Quốc Phòng vào năm 2010, được thay thế bằng Tuyên Bố Tầm Nhìn Chung về Tăng Cường Hợp Tác Quốc Phòng năm 2018. Hai bên đã thiết lập và duy trì hội nghị bộ trưởng Quốc Phòng thường niên, đối thoại Chính Sách Quốc phòng cấp thứ trưởng, tham vấn hợp tác quân sự và đối thoại Chiến Lược Ngoại Giao và Quốc Phòng hàng năm. Tuy nhiên, sự hợp tác cho đến nay vẫn chưa bao gồm việc đào tạo nhân sự, quân y, an ninh hàng hải... 

Hai bên hiện đang nghiên cứu khả năng hợp tác trong các lĩnh vực công nghiệp quốc phòng và an ninh mạng. Chính sách quốc phòng của Việt Nam loại trừ việc thành lập bất kỳ liên minh quân sự nào, nhưng điều này không hạn chế sự hợp tác nhằm tăng cường khả năng tự vệ của quốc gia. Việt Nam và Úc đều là quốc gia có biển và coi an ninh hàng hải là an ninh quốc gia.

Để đối phó với những thách thức chiến lược ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương, mà cả hai bên đều nhất trí là cần phải dựa trên luật lệ thay vì cưỡng bức, hợp tác quốc phòng Việt-Úc trong khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược toàn diện nên bao gồm các cuộc diễn tập quân sự, tuần tra hàng hải chung, chia sẻ thông tin tình báo. Bên cạnh các cuộc đối thoại hiện tại, có lẽ hai bên nên nghiên cứu khả năng kết hợp và nâng cấp các cơ chế này thành Hội nghị Bộ trưởng 2+2 thường niên do các bộ trưởng Ngoại Giao và Quốc Phòng cùng đăng cai và chủ trì. 

Cả Việt Nam và Úc đều bày tỏ mong muốn nâng quan hệ lên mức "Đối tác chiến lược toàn diện". Điều này có thể sẽ thành hiện thực vào năm tới khi hai nước kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên, điều quan trọng là tên của quan hệ đối tác cần phải phù hợp với thực chất, trong trường hợp quan hệ giữa Hà Nội và Canberra đạt đến "tầm cao mới" mà cả hai nước đều mong muốn.

Phan Minh

Nguồn : RFI, 14/12/2022

Quay lại trang chủ

Additional Info

  • Author: Phan Minh
Read 168 times

Viết bình luận

Phải xác tín nội dung bài viết đáp ứng tất cả những yêu cầu của thông tin được đánh dấu bằng ký hiệu (*)