Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Published in

Tư liệu

31/01/2020

Nhân 2 : Nhân của dân chủ, Dân của đa nguyên

Lê Hữu Khóa

Phần 4

Luận

"Quyền lực vận hành và

luân chuyển qua các quan hệ xã hội"

R.Boudon

politique4

Thực luận

Nhân dân không bắt các lãnh đạo hiện nay của Đảng cộng sản Việt Nam đi học lại, để xóa các hậu quả về tụt hậu kinh tế, tệ nạn xã hội, đồi trụy luân lý, suy kiệt chất xám... chúng ta chỉ yêu cầu các lãnh đạo này trở lại ngay tức khắc các bài học mà tổ tiên đã để lại cho con cháu, các bài học này rất dễ hiểu nên rất dễ học, dễ học nên rất dễ trao truyền, dễ trao truyền nên rất dễ đối thoại, dễ đối thoại nên rất có đồng thuận, đồng tâm :

Có thực mới vực được đạo, với thực của sự thực để nuôi chân lýlẽ phải và với thực như thực phẩm để nuôi dân, nuôi con cháu, với liên minh chặt chẽ của sự thực qua chính ngôn của lãnh đạo, với chân lý phục vụ cho công lý, với lẽ phải làm nền cho đạo lý hay, đẹp, tốt, lành.

Có chính sách đúng, với chính trị cao, được chỉ đạo bởi lãnh đạo giỏi, theo đúng bài học của tổ tiên : có tích mới dịch nên tuồng, dựa trên năng lực lãnh đạo (khôn cậy, khéo nhờ, khó chịu), lấy tự chủ để làm chủ (khôn làm cột cái, dại làm cột con), có định hướng chủ lực, biết thời hiểu thế, nắm kế thấu mưu, làm lớn thắng to, để sớm thăng hoa dân tộc (khôn làm lẻ, khéo làm mùa).

Trước mắt là loại ra cho bằng được bọn "sâu dân, mọt nước", hãy xếp loại chúng :

  • bọn cơ hội trên tài nguyên đất nước (thừa gió bẻ măng).
  • bọn đầu cơ trên tiềm năng dân tộc (thừa nước đục thả câu).
  • bọn đầu nậu trên tiền của nhân dân (mượn đầu heo nấu cháo).
  • bọn trục lợi túi tham không đáy (bắt cá hai tay).

Trước hiểm họa xâm lược của Tàu tặc, làm lãnh đạo phải nghiệm ngày đêm về hệ mất mà Việt ngữ đã rất rành mạch trong ngữ vựng, ngữ văn, ngữ pháp :

  • mất mát là thiệt thòi về tiềm năng, bị hao tổn tiềm lực...
  • mất thân là mất mạng, chết trong thất bại…
  • mất đời là mất cuộc sống, mất xã hội, mất văn hóa…
  • mất hết là mất tất cả, không còn gì cho hiện tại lẫn tương lai…
  • mất trọn là mất tất cả, kể cả gia đình, quyến thuộc, thống tộc, dân tộc…
  • mất trắng là mất tất cả, kể cả gốc, rễ, cội, nguồn…

Mất phải được liên tục suy nghĩ-suy tư-suy ngẫm bởi lãnh đạo, từ mức độ tới cường độ của quốc nạn sắp tới : vong quốc !

Cởi... bỏ

Trong tầm vóc toàn cầu với nhiều triệu môn sinh, thiền sư Thích Nhất Hạnh được các nhân vật lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, 2006-2007, hỏi ý kiến về tình hình cũng như về tương lai của dân tộc, của đất nước, thiền sư chỉ khuyên gẫy gọn một câu một câu là :"nên cởi bỏ ý thức hệ cộng sản cùng lúc giải thể Đảng cộng sản Việt Nam càng sớm càng hay !", các chủ thể trẻ mong muốn đóng góp với dân tộc, với đất nước trong vai trò lãnh đạo nên suy nghĩ thêm về lời khuyên này.

"Cởi bỏ ý thức hệ cộng sản cùng lúc giải thể Đảng cộng sản Việt Nam !" trước hết là khẳng định khả năng cởi bỏ cái độc hại của cái độc đảng, để cởi bỏ cái độc đoán tới từ cái độc quyền, để cởi bỏ cái độc tôn tới từ cái độc trị. Độc đảng luôn độc hại, vì nó làm mù quáng hóa kẻ lãnh đạo, tạo ra vô minh để đưa lãnh đạo tới vô tri, cuối cùng là vô giác trước nỗi khổ của dân tộc, niềm đau của giống nòi, với cái độc chỉ thấy nó mà không thấy nhân tình chung quanh để có nhân tính trong kiếp làm người !

Cởi bỏ, là sung lực của Phật giáo, nó không hề thụ động vì ươn hèn, quay lưng tránh bổn phận, tháo chạy bỏ trách nhiệm, ngược lại nó mang sự thông minh của giác ngộ, giúp kẻ đã mù, câm, điếctham, sân, si đã mang ma đạo vào nhân trí để gây đổ vỡ cho nhân tri phải cải tà quy chính.

Kéo dài độc đảng là kéo dài sự mê chấp trong tư duy để tiếp tục cái mê cung trong hành động chính trị quên đất nước, xua dân tộc để chạy theo phương hướng chuyên chính để chuyên quyền, một lộ trình vô định của vô tri. Cởi bỏ hệ mê (mê muội, mê si, mê chấp, mê cung) chính là sự sáng suốt trong lãnh đạo chính trị. Cởi bỏ cái để tìm cái giác để có cái ngộ là thử thách -chính thức và chính thống- của tập thể lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay nếu họ còn thiết tha với tiền đồ của Việt tộc !

Cởi... mở

Cởi mở trong lãnh đạo chính trị, không dựa trên một cá tính của một cá nhân lãnh đạo với phong thái thoải mái, không dựa trên tâm lý của một cá thể lãnh đạo với hành vi vui vẻ, mà nó chính là giáo dục chính trị sẽ biến thành phản xạ tích cực khi lãnh đạo. Cởi mở trong lãnh đạo chính trị là khả năng đón tiếp kiến thức mới, kinh nghiệm lành, phương án tốt, tư vấn hay, trong tư thế luôn luôn mong muốn học hỏi, biết nghe để biết đón, biết tiếp để biết nhận, biết nhận vì biết trao !

Cởi mở trong lãnh đạo chính trị vừa là nền trong đạo lý chính trị, luôn gần dân, không xa rời quần chúng, vừa là cầu nối để dân chúng được trao đổi về chính sách với lãnh đạo, được đối thoại với chính quyền, được thảo luận với chính phủ. Không mỵ dân, cũng không đạo đức giả, mà dựa vào khả năng lãnh đạo với lý luận về chính sách, với lập luận về đường lối luôn có giáo khoa chính trị, khi gặp nhân dân. Mở lý trí lãnh đạo để nhân dân có thể nói, tiếp, nghe, nhận chính kiến của mình mà không có chuyện "ăn trên, ngồi trốc" để áp đặt chuyện "cả vú lấp miệng em".

Cởi mở để tạo quan hệ với quần chúng, với nhân dân, và làm cho quan hệ này vững, bền một cách thường trực, một quan hệ không hề "vô thưởng, vô phạt", mà là một quan hệ ngày càng cao, sâu, xa, rộng, và luôn dựa trên chính giáo của hai bên, có nền là đạo lý hay, đẹp, tốt, lành của một dân tộc, với lộ trình hai chiều "trên nói dưới nghe""dưới nói trên nghe".

Khi xã hội học chính trị và khoa học chính trị đã cùng chia sẻ phân tích với tâm lý học là lãnh đạo cũng là người (là phàm nhân trước khi thành vĩ nhân nếu có thành quả lỗi lạc vì dân tộc), cũng luôn cần hai nhu cầu : cởi mở để có quan hệ giữa người và người, cởi mở để có sự thỏa mãn trong quan hệ xã hội. Nếu là lãnh đạo mà không có quan hệ với quần chúng bên ngoài thì rất đáng sợ ! Đây có thể là loại tâm thần lạc vào chính giới !

Chính có lãnh đạo chính trị hiện nay đang xa rời nhân dân, mặc cho dân đen lầm lũi, mặc cho dân oan lang thang, mà nên làm ngược lại để có tâm niệm chính trị : làm lãnh đạo không phải chỉ tạo ra của cải cho dân, mà còn phải tạo ra quan hệ bền, chắc, vững, lâu với dân !

Từ bất công tới oan khiên

Bất bình đẳng có mặt trong xã hội, nó tới từ nhiều nguyên do, nhưng không phải bất bình đẳng nào cũng mang tới bất công. Bất bình đẳng là hệ vấn đề của xã hội, bất công là phạm trù có trong xã hội, nhưng được phân giải qua hệ của công pháp, nền móng của pháp luật. Một trong những thất bại lớn của lãnh đạo chính trị là không giải quyết được bất công, mà lại còn gây ra oan khiên, ở đây bất công trở nên oan ức không chấp nhận được, biến nạn nhân của oan án thành kiếp oan khiên, đến chết cũng không yên, thành oan hồn giữa cõi dương của người sống. Nếu bị oan vì chính sách, thì chính kẻ lãnh đạo phải được mang ra xử thật công minh, đưa ra phân xử thật công bằng, không có chuyện đặc quyền dành cho lãnh đạo, không có chuyện làm lãnh đạo thì thoát được tòa án. Pháp luật sinh ra để xử mọi vụ án, và không chừa bất cứ lãnh đạo ở cấp nào trong chính quyền, cấp cao nào trong đảng !

Thử thách hàng đầu của lãnh đạo chính trị là dùng cái thực để làm nên cái tốt, ngày ngày xóa cái nghèo để tránh cái khổ cho dân. Để nhìn thấy được cái khổ trong cõi người thì không khó ! Tại đây, cái khổ được nhận diện qua sự sống còn, ngược lại sống thường là sống bình thường, bình an trong thoải mái, sống mà không phải đấu tranh từng ngày, từng giờ. Trong khi đó sống còn là phải đấu tranh để sống, muốn sống phải tranh sống, sống mà như "dở chết, dở sống", sống lay lất, cụ thể trước mắt chúng ta là trường hợp của dân đen, dân oan, nơi mà oan khiên xuất hiện rõ ràng trong cuộc sống, trong xã hội, nếu làm lãnh đạo mà nhắm mắt, không xử lý, không giải quyết thì không những đã có lỗi mà còn mang tội nữa !

Sống còn mang ba chỉ báo xã hội học : sống trong lo âu (ăn bữa sáng lo bữa tối), sống như nạn nhân (trên dao, dưới búa), sống trong sự đe dọa (sống nay, chết mai), khi ba chỉ báo này đã rõ không những trong dân đen, dân oan, mà ngày ngày gia tăng trong thường dân, cho đến dân thường cũng phải "mất ăn, mất ngủ". Trong đó trẻ con trên miền cao miền xa "ăn lá để sống", kẻ già trong thành thị "bới rác để sinh nhai" thì lãnh đạo chính trị đã bị thất bại nặng nề. Thất bại này thảm hại, vì nó sinh ra oan khiên. Tại đây, oan khiên đã biến thành chỉ báo khách quan của khoa học chính trị : bắt lãnh đạo phải thay đổi triệt để chính sách quản lý xã hội, và nếu thấy không thực hiện nổi cải cách tuyệt đối chống oan khiên, thì phải từ chức ngay để : cứu oan cho dân tộc !

Tùy thời tạo thế

Tùy thời tạo thế, được con cháu thấy rõ trong các chiến tích trong quân sự của cha ông (Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyển Trãi, Quang Trung…) qua các thành tích quản lý của tổ tiên (Lý, Trần, Lê…), trong đó lấy quy luật của thời gian (thời điểm, thời khắc, thời kỳ…) để lập nên thế (thế trận, thế tiến công, thế phản công…), hệ vấn đề này không những đúng trong quân sự mà cả trong tổ chức và quản lý.

Linh động thích ứng để linh động tìm lối đi, "thời bắt thế, theo thời phải thế" mang tính linh hoạt của hành động trước thời thế, thuận lợi hay bất lợi của nhân cảnh. Lý lịch của các lãnh tụ tài giỏi làm xuất hiện một ẩn số khác có lúc đi ngược với thời thế, đó là ý chí ; tại đây tiềm ẩn một ẩn số khác là năng lực của lãnh đạo là quá trình giải bày ý chí qua đề nghị-đàm phán-quyết định, khi thuyết phục các lãnh đạo khác. Tại đây, sự chuẩn bị kỹ lưỡng các phương án vừa đối phó, vừa đối trọng ngay trên thượng nguồn để dàn xếp chu đáo nội bộ trong đó có chuyện phải cân đối phương trình thời thế-ý chí, để duy tâm không "trùm phủ" lên duy lý. Muốn thành công thì lý trí lãnh tụ phải nhận được sự đồng tình của tất cả hoặc của đa số không những của các thành viên lãnh đạo, mà luôn cả các liên minh trong nội bộ ; từ đó ý chí cá nhân sẽ hình thành ra lý trí của tập thể.

Câu chuyện thượng nguồn để chuyển hóa thời thế-ý chí qua thực lực của ý chí-lý trí là quá trình vừa giải thích, vừa phạm trù hóa ý chí dựa trên tính hiệu quả, có cơ sở của điều tra sơ khởi, thực địa, làm sáng mối tương quan giữa sáng kiến của ý chítình huống tới từ thời thế. Trên thực tế lãnh đạo, phải nên phân biệt : ý chí thường thì dựa trên mô hình, còn hiệu quả thường dựa vào sự biến đổi của tình hình.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các lãnh đạo vừa có quá nhiều tin tức, dữ kiện, chứng từ luôn đa diện, đa chiều, để lấy những quyết định đúng (của chính trị tỉnh-lãnh đạo thức), cùng lúc có các chuyên nghành, với cái chuyên gia để có được những chỉ báo để dự đoán được những chỉ tiêu.

Kẻ lãnh đạo tài giỏi phải biết ít nhất các tiêu chuẩn chọn lựa tư vấn, càng rộng thì càng sâu, càng xa thì càng cao, không "yếu vía" sợ chuyện "lắm thầy nhiều ma", nếu kẻ lãnh đạo đó có bản lĩnh của lý luận, nội công của lập luận, tấm vóc của giải luận để nhận ra năng lực của các cố vấn, qua ít nhất ba khả năng phân tích và phân loại tình hình của họ :

  1. 1.Tính đa phương của bối cảnh.
  2. 2.Tính đa dạng của tình huống.
  3. 3.Tính biến động của thới thế.

Tùy kế lập mưu

Tùy kế lập mưu, khai thác thuận thời mẫn kế, nhưng cùng lúc tìm ra kế phải lập được mưu, trong chính trị cũng như trong ngoại giao, và kinh tế, thương mại cũng không nằm ngoài sự vận hành của mưu lược, khác chiến lược nhận định trên toàn bộ mang tính dài hạn, và chiến thuật có tìm hiệu quả trước mắt mang tính cụ thể của một tình huống. Mưu lược thì ngược lại được sử dụng song song với tính dài hạn của chiến lược, với tính ngắn hạn của chiến thuật, như đòn bẫy-cạm bẫy của tác giả tìm ra mưu lược đó, đòn bẫy cho chính mình được nhanh hơn, rộng hơn, cao hơn, dài hơn, ngược lại là cạm bẫy cho đối phương.

Tùy kế lập mưu nhận định mưu lược như là dàn phóng, dàn nhúng cho ta ; có lúc là giăng bẫy để đối thủ rơi vào vì thiếu cẩn trọng, vì chủ quan, vì vô minh trước địa dư, vì vô tri trước sự thông minh của ta… Và nếu làm được cả hai việc : đòn bẫy cạm bẫy trên một trận địa thì càng hay. Thí dụ không hề thiếu trong lịch sử chống ngoại xâm của Việt tộc, mà chỉ trong khung kinh nghiệm quân sự trên sông Bạch Đằng, cũng có thể giải thích trọn lý-đủ luận qua các chiến tích của Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo.

Tùy kế lập mưu quan trọng ngay trên thượng nguồn của kẻ sáng chế ra nó, và theo tri thức luận của khoa học chính trị, thì kẻ lãnh đạo chịu và nhận sự chi phối ít nhất ba yếu tố :

  • Mô hình hóa ý muốn-ý định-ý đồ của tác giả để đưa tính toán lý thuyết và thực hành cụ thể.
  • Đồ án hóa các phương trình để biến mọi ẩn số thành hằng số để đưa vào chương trình hành động
  • Hợp lý hóa ý chí của mình rồi biến chúng thành chỉ tiêu để thành công khi thực hiện mô hình và đồ án của mình.

Tùy kế lập mưu luôn theo quy luật nhân-thời-địa-thế, nhưng đây chỉ là nhận định ban đầu để phân tích tổng quát, kẻ lãnh đạo lập phương án hành động cụ thể phải suy nghiệm chính xác sự khác biệt (mà cũng là khoảng cách) giữa ý chí ở dạng mô hình lý thuyết và thực hành linh động trên một thực tế nhất định, trong đó có sự tôn trọng sức thông minh của đối phương, đối thủ, chỉ để tránh "thảm bại vì khinh địch".

Tùy kế lập mưu là sáng tạo của trí tuệ dũng lược, dựa trên sáng kiến của tuệ giác sáng suốt có gốc rễ của tài năng "biết nhìn xa trông rộng", đây chính là tiêu chí để chọn lãnh đạo tối cao, nếu không có "cốt cách" này thì đừng giành làm lãnh tụ !

Nội lý diễn biến thực tế

Nội lý diễn biến thực tế nhận định thực tế không theo mô hình mà theo quy luật biến đổi thường trực của nhân thế ; luôn được nhận ra từ tình huống, khi tình huống làm xoay chuyển môi trường hiện tại tạo ra thực trạng của xã hội, bất lợi hoặc thuận lợi cho dân tộc, cho đất nước ; làm lãnh đạo chính trị là nhận định, phân tích để điều tiết hoặc khai phá các thực trạng này.

Nội lý diễn biến thực tế được nhận diện qua biến đổi của thời thế, mở lối cho chính sách hoặc đóng cửa mọi sáng kiến ; làm lãnh đạo chính trị là thấy được, nhận ra nội lý diễn biến của tình hình, sẽ quyết định đúng hiệu quả của một chính sách, và nếu quyết định sai sẽ gây ra hậu quả cho xã hội, cho dân tộc.

Nội lý diễn biến thực tế, khi được lãnh đạo chính trị đánh giá qua nội lý diễn biến của tình hình, thì kẻ lãnh đạo giỏi biết khai thác tiềm năng xấu hoặc tốt của thực trạng ; còn kẻ lãnh đạo tài thì biết khai triển vốn có sẵn để kiếm lời trong thời thế mới ; riêng kẻ lãnh đạo lớn thì biết tìm cho ra các nội lực mới, các đồng minh mới, các liên minh mới, để củng cố thời-thế-vị của đất nước vì dân tộc.

Nội lý diễn biến thực tế trong tư duy của lãnh đạo chính trị chấp nhận chuyện "nắng sớm chiều mưa" trong so sánh lực lượng, bất lợi hay thuận lợi cho mình ; công nhận luôn chuyện "sớm nở, tối tàn" trong các liên minh giữa các đồng minh, bên này hay bên kia ; sẵn sàng đón nhận luôn chuyện "vật đổi, sao dời" không những giữa bạnthù, mà cả về chuyện bất biến giữa chung thủy và phản bội ngay trong nội bộ, làm được tất cả các chuyện này thì xem như "đắc đạo" trong quản lý phương trình lãnh đạo : nội lý diễn biến thực tế-nội lý biến thiên nhân tâm.

Nội lý diễn biến thực tế, khi đã làm sáng tỏ nội lý biến thiên nhân tâm, thì kẻ lãnh đạo giỏi biết khai thác tính hiệu năng cho nội lực của chính mình ; còn kẻ lãnh đạo tài thì biết khai triển tính hiệu quả cho nội công của chính mình trong thời thế mới ; và kẻ lãnh đạo lớn thì biết tìm tổng hợp của cả tính hiệu năng lẫn tính hiệu quả để hiệu lực hóa chế tác ra một tổng lực mới với kết quả hay, đẹp, tốt, lành nhất cho đất nước, cho dân tộc.

Nội lý diễn biến thực tế tạo ra nội lý biến đổi liên tục, hướng dẫn các kẻ lãnh đạo, giỏi, tài, lớn không bị :

  • nhốt tù trong mô hình chính trị của chính mình, thí dụ đau thương của cải cách ruộng đất (1954-1960), của tết Mậu Thân (1968).
  • còng tay trong phương án chính trị của chính mình, thí dụ bi thảm của cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn (1954-1975).

Các kinh nghiệm đau đớn này bắt Việt tộc phải trả những giá quá đắt !

Nhập lý vào thể lực môi trường

Nhập lý vào thể lực môi trường, có bước đầu tiên trong nhập lý vào nội lực của bối cảnh, trong đó bối cảnh của thực tế làm chuyển đối hệ ý (ý muốn-ý định-ý đồ), lãnh đạo chính trị tài ba sẽ chuyển hóa linh động hệ luận (lý luận, lập luận, giãi luận, diễn luận) của mình theo bối cảnh để biến bối cảnh thành thực lực của mình.

Nhập lý vào thể lực môi trường, có bước thứ hai là mô hình đôi, trong đó mô hình cứng mang ý chí của chính sách, mô hình mềm đưa thực tế của môi trường, của bối cảnh để làm tăng hiệu lực cho vốn đầu tư, trong đó sự phối hợp nhuần nhuyễn mô hình đôi (cứng và mềm) là khả năng và ý chí của lãnh đạo vừa biết cõng chính sách qua trở ngại, trở lực, vừa biết buông lỏng khi mô hình bóp ngộp thực lực trong thực tế. Nhập lý vào thể lực môi trường, có bước thứ ba là chiến lược đôi khi gặp nước chảy xiết, thì biết chọn nơi để làm đập nước để giữ nước, biết chọn chỗ thông nước để cho thoát nước ; trên cùng một dòng nước : hai chiến lược này không hề mâu thuẫn nhau, được xử theo lý luận đôi trong thông minh linh động để giải quyết.

Nhập lý vào thể lực môi trường, có bước thứ tư là nắm hai tay, tay phải là chính sách của hệ lý (lý trí, lẽ, luận), tay trái là chuyển biến khôn lường của hệ thực (thực tế-thực cảnh-thực tại). Nắm hai tay để giữ cả hai, sự liên kết phải-trái, vừa tạo ra tính nội kết, bảo đảm sự tương tác linh hoạt của cả hai, không tách biệt nên không sợ mâu thuẫn, không có xung đột nên không có bùng nổ, đe dọa tính thực tiễn của chính sách. Nhập lý vào thể lực môi trường, có bước thứ năm là tính hiệu quả đôi, lấy chính sách để kích thích tình hình phát triển theo hệ sáng (sáng tỏ-sáng kiến-sáng tạo) với hiệu quả có trong sự đồng tình và ủng hộ của tập thể, cộng đồng làm nên khối đại đoàn kết cho dân tộc. Song hành cùng với hệ khai (khai thị-khai minh-khai trí) để phục vụ cho khai thác mọi tiềm năng, tiềm lực, của môi trường qua hành động chính trị cụ thể. Nhập lý vào thể lực môi trường có bước thứ sáu là biến tình hình thực tế thành lực đẩy làm xoay chuyển môi trường ban đầu theo quỹ đạo của chính sách lãnh đạo trong đó hệ thực (thực tế-thực cảnh-thực tại) giờ đã nhận sự chi phối của hệ khai (khai thị-khai minh-khai trí), tạo ra thực tế mới : nhập lý vào sung lực khai phá qua hệ sáng (sáng tỏ-sáng kiến-sáng tạo), từ đây lãnh đạo mới thực sự có chiến-lược-thật-trong-tình-hình-thật.

Lý mục đích của luận phương tiện

Lý mục đích của luận phương tiện, không liên quan gì tới loại khẩu lệnh "lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện", sống sượng trong diễn luận, mù quáng trong giãi luận, loại khẩu lệnh này sẽ không có một cứu cánh nào có nhân lý, nhân tri, nhân nhân, nếu phương tiện của nó không tôn trọng nhân bản, nhân bản, nhân tính. Ngược lại, lý mục đích của luận phương tiện luôn được diễn biến trên quá trình nhận thức của hệ lương (lương thiện-lương tâm-lương tri), không ép ý đồ chính trị của lãnh đạo qua một ý thức hệ vô tri, vô cảm, vô nhân.

Lý mục đích của luận phương tiện, có thượng nguồn của nhân bản, nhân bản, nhân tính, sẽ hướng để tránh được các khuyết tật sinh ra trong tư duy trong lãnh đạo chính trị là :

  • Mô hình hóa một cách cứng ngắt các đồ án.
  • Kế hoạch hóa một cách thô thiển khi triển khai các phương án.
  • Duy tâm hóa một cách thiển cận các quá trình sử dụng phương tiện…

Lý mục đích của luận phương tiện, cũng có công cụ, kỹ thuật, đầu tư của phương tiện trong hạ nguồn để giữ cái lý trí của lý mục đích và cái hợp lý của luận phương tiện để đạt được :

  • Tính hợp lý của 3Đ (đề nghị-đối thoại-đàm phán)
  • Tính thực tế của 3S (sáng lý-sáng kiến-sáng tạo)
  • Tính khả thi của 3K (khai minh-khai trí-khai phá)

Lý mục đích của luận phương tiện luôn có sự phối hợp chặt chẽ của phương trình lý trí mục đích-hợp lý phương tiện, dựng lên tư duy hành luận của lãnh đạo trong hành động lãnh đạo qua 3B :

  • Bảo đảm khối đoàn kết dân tộc.
  • Bảo trì vốn liếng xã hội.
  • Bảo quản tiền đồ tổ tiên.

Lý mục đích của luận phương tiện luôn thường xuyên đánh giá để tìm hiểu thực chất để có thực lực trên 3T :

  • Tiềm năng thuận lợi của bối cảnh thực tại.
  • Tiềm lực của các liên minh mới xuất hiện trong thực cảnh.
  • Khả năng khai thác các đồng minh mới trong thực tế.

Lý mục đích của nhân trí, luận phương tiệnluận của nhân bản, không biết, không thấu, không hiểu thì tốt nhất là : đừng nên lãnh đạo !

Luận tạo lực trong thuận lý

Luận tạo lực trong thuận lý, luận mang của lý trí ra chống lại chuyện triển khai những phương án trước khi nắm tình hình, trước khi điều tra cơ bản, trước khi nghiên cứu thực địa để nắm 3T thứ nhất (thực trạng-thực cảnh-thực tế), của lý trí dụng để thấy rõ các trở ngại, các chướng ngại của 3T này.

Luận tạo lực trong thuận lý bắt đầu bằng chuẩn đoán theo các chỉ báo khách quan để đánh giá một 3T thứ hai (thực tại-thực lực-thực tiển), nơi mà lý thuyết xơ cứng sẽ lùi lại để các hành động cụ thể mang nội chất tích cực là hiểu vấn đề đêt vượt khó khăn, lấy sáng kiến để thoát các ngõ cụt, lấy sáng tạo để biến vượt thoát thành vượt thắng.

Luận tạo lực trong thuận lý sẽ cho xuất hiện một 3T thứ ba (thích ứng-thích nghi-thích hợp), trong đó nhập nội với 3T (thực trạng-thực cảnh-thực tế) để không bị bỏ rơi bởi hiện tại của bây giờở đây. Kế tiếp là thích nghi theo lời dạy của tổ tiên : "tùy cơ ứng biến" nhưng cùng lúc phải sáng tạo ra các thuận lý mới để xoay chuyển tình thế, cụ thể là chuyển hóa các so sánh lực lượng, biến bất lợi thành thuận lợi. Chính khả năng lãnh đạo biết sáng tạo ra các thuận lý mới, để đưa thích ứng thích nghi vào quy trình của thích hợp, hỗ trợ bởi các thuận lý mới, để không bi quan chịu đựng cảnh "thời bắt thế theo thời phải thế" ; từ đây biết biến vượt thoát thành vượt thắng để không mang theo tính thất thế tạo ra chủ bại của "qua sông thì phải lụy đò".

Luận tạo lực trong thuận lý, là tạo ra khả năng hội nhập của lãnh đạo trong phương trình 3N (nội chất-nội lực-nội công), trong đó nội chất chính là lý trí bảo vệ chuyện hay, đẹp, tốt, lành trong một chính sách sáng suốt, vì lãnh đạo có nội lực của 3L (lý luận-lập luận-giãi luận), để biến nó thành nội công của lãnh đạo. Nội công này sẽ làm nên bản lĩnh chính trị, tầm vóc của chính sách, nơi đây cũng là nơi để suy nghiệm bài học lãnh đạo của tổ tiên "so ra mới biết ngắn dài" để phân định hai loại lãnh đạo : hữu tài hay bất tài.

Luận tạo lực trong thuận lý, không hề là chuyện lý thuyết mơ hồ, tạo ra mờ ảo trong hành động chính trị, mà là khả năng quản lý và tổ chức 3L (sung lực-hùng lực-mảnh lực). Tại đây, sung lực tới từ tiềm năng của đất nước, tiềm lực của dân tộc để tạo ra hùng lực trong xã hội với nhân dân đã hiểu rõ 3T (tự tin-tự chủ-tự cường) chế tác ra mãnh lực chống ngoại xâm để bảo vệ bờ cõi, tạo nên sức bật trong việc xây dựng cho bằng được chuyện "dân giàu, nước mạnh".

Luận tạo lực trong thuận lý, chế tác ra tổng lực của "thuận lý luận", có thượng nguồn của lý trí, có trung nguồn của chỉ đạo linh động, có hạ nguồn trong tổng hợp 3T+3L+3N, để làm nên thành công của lãnh đạo. Và, kẻ lãnh đạo giỏi, người lãnh đạo tài phải biết vận hành trong mọi hành tác chính trị.

******************

Phần 5

Chính

"Quyền lực không sợ sự thực,

quyền lực chỉ sợ các phong trào xã hội dựa trên sự thật"

G. Deleuse

politique5

Chính quyền độc đã làm bao chuyện độc hại ngoài chuyện diệt dân chủ, tự do, đa nguyên, nó đã diệt tiềm năng, tiềm lực của khoa học xã hội và nhân văn, ngay trong trứng nước ! Nó đã bóp chết học thuật như bóp ngộp sức thông minh sắc nhọn của tri thức !

Chính quyền (không) độc

Chính quyền là quyền lực cao nhất và trùm phủ toàn sinh hoạt xã hội, có vai trò trị an song hành cùng quốc phòng, dụng giáo dục để bảo vệ đạo đức và lấy đạo đức để thi hành công lý qua pháp luật. Nhưng một chính quyền thông minh và sáng suốt không nằm ngoài hệ nhân : lấy nhân tính để dìu nhân tình, lấy nhân tri để dắt nhân thế, lấy nhân trí để dẫn nhân loại, đưa tất cả vào nhân đạo, để sống có nhân bản, đối xử có nhân văn, quan hệ có nhân nghĩa. Ước mơ mà Platon đặt tên là cộng đồng lý tưởng.

Chính quyền bảo đảm các định chế xã hội, được ghi trong hiến pháp, bảo hành luôn tất cả cơ chế trong xã hội, tự hành chính tới giáo dục, bảo trì từ ngân sách tới xuất khẩu, từ văn hóa tới luân lý... Chính quyền bảo đảm, bảo trì, bảo hành dường như tất cả mọi sinh hoạt xã hội, và xã hội học chính trị đặt ngược lại vấn đề : vậy ai sẽ bảo đảm, bảo trì, bảo hành chính quyền ? Trong các quốc gia có dân chủ, chính đầu phiếu qua bầu cử sẽ quyết định câu trả lời qua các chương trình, chính sách cả các đảng phái trên nguyên tắc của đa nguyên quyền chọn lựa lãnh đạo là tự do của người dân, chính đây là câu trả lời thông minh mà hiện nay không có câu trả lời nào thông minh hơn.

Tại một nước không chấp nhận dân chủ, chối gạt đầu phiếu liêm chính, xua mất bầu cử trong sạch, tìm cách tiêu diệt mọi mầm mống của hệ đa (đa nguyên, đa tài, đa năng, đa hiệu, đa diện...) thì cùng lúc chính quyền độc này (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc tôn, độc trị) tìm mọi cách để kiểm duyệt mọi sinh hoạt thông minh của tự do. Trong đó, tự do của khoa học xã hội và nhân văn, từ học thuật tới nghiên cứu, từ điều tra tới điền dả, để công bố các kết quả, từ đó giúp nhân dân nhận ra được thực chất của một chính quyền, trong đó chính trị học, kinh tế học, triết học, xã hội học... chính là những chỉ báo sắc nhọn để nhận ra một chính quyền, một thể chế có thông minh hay không ? Tại các quốc gia văn minh và tiến bộ, khoa học xã hội và nhân văn đóng vai trò khai thị-khai sáng-khai trí cho dân chúng, cho xã hội.

Thảm kịch hiện nay của Việt Nam, là chính quyền độc đã làm bao chuyện độc hại ngoài chuyện diệt dân chủ, tự do, đa nguyên, nó đã diệt tiềm năng, tiềm lực của khoa học xã hội và nhân văn, ngay trong trứng nước ! Nó đã bóp chết học thuật như bóp ngộp sức thông minh sắc nhọn của tri thức !

Chính quyền (không) gian

Nếu chính quyền bảo đảm các định chế xã hội, được ghi trong hiến pháp, bảo hành luôn tất cả cơ chế trong xã hội, tự hành chính tới giáo dục, bảo trì từ ngân sách tới xuất khẩu, từ văn hóa tới luân lý... Chính quyền bảo đảm, bảo trì, bảo hành dường như tất cả mọi sinh hoạt xã hội : thì cũng chính là chính quyền làm sản sinh ra các vấn đề xã hội mới. Và, nếu không giải quyết các vấn đề xã hội mới, thì chính chúng sẽ sinh đẻ ra các khó khăn xã hội mới, nếu khó khăn xã hội mới này không được giải quyết nhanh chóng, chính chúng sẽ tạo ra các tệ nạn xã hội mới, và nếu các tệ nạn xã hội này không được xử lý toàn bộ, chính chúng sẽ sinh bừa không những các bất công xã hội mới, kể cả các bạo động xã hội mới. Hegel định nghĩa một chính quyền chính thống luôn dụng lực của quyền vì lợi ích cho tập thể cho cộng đồng, cho dân tộc.

Tại sao lại xẩy ra chuyện một học trò chỉ mới 11 tuổi hỏi một bộ trưởng Bộ Giáo dục : "Tại sao chính quyền lại để nền giáo dục nước nhà hiện nay toe toét như vậy ?", ông bộ trưởng này đi, ông mới tới : Phùng Xuân Nhạ, giới học thuật điều tra ra ông "đạo văn", ông "biển lận" công trình của người khác, ông có chức giáo sư qua "mua quyền bán chức", để thành bộ trưởng gian vi giả (học giả-thi giả-bằng giả). Chỉ một năm 2017, Hội đồng chức danh giáo sư do ông này làm chủ tịch đã bầu qua con đường nghề lận-nghiệp gian-nghệ giả của ông hơn 1000 giáo sư và phó giáo sư, mà các tiêu chuẩn khoa học của một số không ít là rất mơ hồ vì mờ ảo. Giới đại học không biết họ có học lực hay không ? Có học vị học hàm lúc nào ? Tại sao họ hiện nay có học vị giáo sư trong khi họ không có quá trình giảng dạy trong đại học, không có công trình khoa học để công bố với giới học thuật quốc gia và quốc tế ? Trong số đó có bà bộ trưởng Bộ Y tế : Nguyễn Kim Tiến, không có quá trình giảng dạy, không có công trình khoa học, lại có lối quản lý "chết người" qua chuyện buôn thuốc chống ung thư giả. Việt tộc sẽ đi về đâu với các tác nhân chính quyền kiểu này ? Cái toe toét được nêu trong câu hỏi của một học trò chỉ mới 11 tuổi chỉ là hạ nguồn của tệ nạn do chính cơ chế gây ra, nhưng nếu muốn biết sự thật là phải đi trở ngược lên thượng nguồn của một định chế mà trong đó các chủ nhân chính quyền tự ý gian, dối, lừa, bịp bằng chính các xảo thuật, thủ đoạn nhớp nhúa : ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng "tổ chức (tự) phong" mình là tiến sĩ, song đó là giáo sư của một ngành không có trong bảng liệt kê của khoa học : ngành tổ chức đảng ! Cũng như chủ tịch nước Trần Đại Quang, cũng "tổ chức (tự) phong" mình là tiến sĩ, kế đó là giáo sư của một ngành không có trong bảng liệt kê của khoa học : khoa học an ninh (khoa học công an). Đây là chuyện đang làm trò cười trong giới học thuật chính thống, từ quốc gia ra quốc tế, mà kẻ làm học thuật tại ngoại quốc, hằng ngày thấy các đồng nghiệp phương Tây của mình mang ra làm trò cười cho chính giới trong các chính quyền của các nước dân chủ, đa nguyên, thì tự thấy đây chính là : quốc nhục !

Chính quyền (không) lận

Chính quyền Việt Nam hiện nay, mang thực chất của cường quyền, để lại từ khi có chuyên chính-chuyên quyền-lạm quyền, tức là từ khi có độc quyền của Đảng cộng sản Việt Nam, loại chính quyền nầy cho tự phép họ gian lận "nói một đằng, làm một nẻo", cùng với phản xạ "cả vú lấp miệng em". Nó hoàn toàn trái ngược lại với định nghĩa bình thường của chính quyền, mà theo tổ của ngành xã hội học Durkheim : "chính quyền đưa thực thể của tư duy vào hành động cụ thể trong thực tế xã hội, qua công cụ hợp lý của chính sách, để điều hành các định chế, các cơ chế vì lợi ích của toàn thể".

Vơ vét tiền của của đồng bào mình, đưa của cải -cắp và cướp- ra ngoài, không qua Trung Quốc cũng cộng sản như họ, mà qua phương Tây, cùng lúc đưa con cái du học và mua nhà về hướng Bắc Mỹ và Tây Âu, tìm cách "hạ cánh an toàn". Một loại tiếng lóng ôm quyền rất thô tục dựa trên cái vô đạo đức của các chủ nhân chính quyền (từ Bộ Chính trị tới Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam) giữ ghế ở trên để ăn cướp), cùng các tác nhân chính quyền (từ chính phủ tới các cấp của chính quyền địa phương) giữ chỗ ở dưới để ăn cắp. Tầm thường hóa chuyện trộm, cắp, cướp, giựt qua độc quyền-tham quyền-lộng quyền, loại chính quyền đó mang trong bản chất lãnh đạo của họ, mang trong tư duy lãnh đạo của họ : bạo quyền !

Trong đây có một bi kịch đang được ẩn giấu, đó chính là thực thể chính quyền Việt Nam nằm trong tay bạo quyền của Đảng cộng sản Việt Nam, từ đây tạo ra một quốc nạn đang chờ đón Việt tộc ! Ma quyền Tầu tặc đang trùm phủ lên tà quyền quốc nội. Vì Đảng cộng sản Trung Quốc-Đảng cộng sản Trung Quốc đang trùm phủ lên số phận của Đảng cộng sản Việt Nam, vì các chủ nhân chính quyền cùng các tác nhân chính quyền muốn giữ Đảng cộng sản Việt Nam để tiếp tục vơ vét thì phải dựa vào sự bao che của Đảng cộng sản Trung Quốc, mà Đảng cộng sản Trung Quốc thì không bao giờ rời bỏ ma đạo của họ là xâm lược-xâm lấn-xâm chiếm-xâm lăng đất nước Việt ! "Đi với ma mặc áo giấy" là bài học cẩn trọng mà tổ tiên để lại, và trong tình hình "chỉ mành treo chuông" hiện nay của kiếp Việt là chúng ta đang bị truy đuổi-truy lùng-truy quét-truy hại không phải bởi một con ma mà ít nhất là hai con ma : ma quyền Tầu tặc tà quyền quốc nội.

Chính quyền (không) bỏ gốc

Chính quyền (không) bỏ gốc trong một dân tộc biết thờ tổ tiên là một chính quyền biết quý trọng người tuổi trọng, vì họ là cầu nối giữa đạo lý tổ tiên và các thế hệ sinh sau đẻ muộn, họ nối tầm nhìn của kẻ xưa để nối tầm tay của thế giới khuất mặt và thể giới có mặt. Vậy mà, các người lớn tuổi không được bảo vệ, không được chăm sóc, không được tôn trọng như bao đời nay trong lịch sử của Việt tộc. Một số không nhỏ bị gia đình bỏ rơi, bị xã hội xem rẻ, bị chính quyền quên trong chính nhiệm vụ của chính quyền là phải bảo vệ những kẻ già yếu. Hãy tạm gạt qua câu "kính lão đắc thọ", biến chuyện nâng người lớn tuổi để tìm đường sống lâu trong lúc nhiều tuổi, mà hãy chỉ đối xử bình thường của kẻ biết ơn-mang ơn, không cần phải trả ơn, chỉ cần thành kính với họ trong gia đoạn lão-bịnh-tử.

Có không ít các người tuổi trọng mà không được quý trọng, chịu cảnh "tứ cố vô thân", ngày ngày "đầu đường, xó chợ", lang thang "cù bất, cù bơ", thấp bé như "bụi đời", lẻ loi như "oan hồn", thậm chí phải "ăn mày, ăn xin" để "sống vất vưởng qua ngày". Nếu một chính quyền mà để người dân tuổi trọng trong tình trạng như vậy thì chính quyền này có tội với họ, phải lãnh tội trước tổ tiên, phải chịu tội trước luân lý "thờ cha, kính mẹ" theo nghĩa rộng nhất và thật nhất !

Weber định nghĩa : "chính quyền như một tập thể nhân tri sống động có quyền lực trên một lãnh thổ, nhưng phải thực thi quyền lực đó qua các giá trị của nhân tính".nhân tính Việt chính là nhân nghĩa Việt (bầu ơi thương lấy bí cùng), chính là nhân bản Việt (một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ), chính là nhân đạo Việt (máu chảy, ruột mềm), chính là nhân văn Việt (máu chảy tới đâu, ruột đau tới đó). Tại đây, một chính quyền có nhân tri Việt phải hướng dẫn xã hội, phải dẫn dắt người trưởng thành, phải giáo dục thanh thiếu niên, phải giáo dưỡng thiếu nhi (chỉ trong hai từ) : có hậu ! Vì "ăn ở có hậu" mới có lối ra để thoát vô cảm ! Có nẻo đi vượt vô nhân ! Có đường để tránh vô hậu !

Chính quyền (không) phân nửa

Chính quyền (không) phân nửa là một chính quyền không quên một nửa bộ phận của dân tộc là : phụ nữ ! Thói quen "trọng nam khinh nữ" đã thô bỉ trong đấu tranh hiện nay của thế giới cho nam nữ bình quyền, tại Việt Nam nó lại càng bỉ ổi hơn trong thực tế xã hội nơi mà phụ nữ Việt còn bị hà hiếp (nạn nhân của hiếp đáp), có lúc bị cưỡng hiếp (nạn nhân của hiếp dâm), lúc thì ngoài xã hội, thậm chí có lúc là nạn nhân của chính các chủ nhân chính quyền ! Bi kịch mà cũng là hài kịch của Việt tộc, bi đát hơn thảm kịch, dài lâu sinh ra hoạn kịch, nơi mà tuyên truyền ngu dân bắt cả nước học tập theo gương đạo đức của Hồ Chí Minh, thì chính nhân vật này, được kể qua nhiều hồi ký của các kẻ thân cận với ông, từ Trần Đĩnh tới Nguyễn Thư Hiên... là một kẻ lận dâm với nhiều phụ nữ, mà nạn nhân đã bị mất mạng : bà Nông Thị Xuân, sau khi bị rơi vào tay của Trần Quốc Hoàn, bị ám sát, rồi trá hình qua một tai nạn, mà Đảng cộng sản Việt Nam vẫn còn bưng bít. Không ai trong chúng ta buộc tội sinh hoạt dục tính bình thường giữa nữ và nam, nhưng một chính quyền trong sạch phải kết tội thủ phạm khi dục tính đã thành thú tính, sẵn sàng đổi qua sát tính gây tử thương cho đồng loại !

Chuyện chính ở đây là vai trò bưng chải, gánh vác gia đình phụ nữ Việt, biết vùng dậy để thành công trong doanh trường, thành doanh nhân cáng đáng gia đình, doanh nghiệp, mà vẫn bị chèn ép ngay trên chính trường, vắng mặt trong lãnh đạo chính trị, với một thiểu số quá ít để làm theo đổi tình hình hiện nay : để bảo vệ phụ nữ. Một tình hình với một số không nhỏ nam giới hưởng thụ trong nhàn rỗi, từ nhậu nhẹt qua chơi bời, từ trác táng qua tha hóa, tiêu rỗi thời gian qua tiêu thụ bừa bãi trong một quá trình hèn nhục hóa nhân cách nam giới, một chính quyền mà nhắm mắt, quay lưng với các tệ nạn nam giới là một chính quyền có tội với dân tộc.

Tội của chính quyền hiện nay càng nhiều, càng sâu, khi họ để phụ nữ Việt phải đi làm nô tỳ, nô bộc, thậm chí "làm gái" trong nhiều nước láng giềng, mà số phận thua kẻ "đi ở đợ". Trong khi mọi người Việt đều biết không ai thấy những phụ nữ các nước láng giềng trên đất nước Việt, một chế độ mà để bao nhiêu trăm ngàn phụ nữ đi "làm vợ lẽ", "làm điếm", kẻ cả trẻ con. Vậy mà, trên mạng xã hội, cư dân mạng đều thấy bức ảnh một phụ nữ, ăn mặc hở hang, nhưng cầm trên tay biểu ngữ "bán thân không bán nước" ! Đây không những là sự thật về chính quyền hiện nay trong đó có một số không nhỏ lãnh đạo đang trong quy trình bán nước, mà biểu ngữ này còn nói lên một sự thật luân lý sâu xa hơn là phụ nữ phải bán thân thì : nhân cách-tư cách-phong cách của họ còn liêm chính-liêm khiết-liêm sỉ hơn bọn bán nước !

Chính quyền (không) chém ngọn

Chính quyền (không) chém ngọn là chính quyền biết bảo vệ : lộc, chồi, hoa, ngọn của cuộc sống, đó chính là trẻ thơ ! Chính là tương lai đang hiển hiện trước mặt chính quyền đang cầm quyền, phải giáo dục-giáo dưỡng chúng bằng giáo lý của nhân loại, của tổ tiên, trao truyền được nhân tri, nhân trí cho một nhân loại chưa trưởng thành đang chờ đón nhân nghĩa, nhân bản, nhân văn.

Chính quyền (không) chém ngọn là chính quyền không chấp nhận cảnh trẻ con phải ăn "cơm thiu, cháo hẩm", "ăn lá để no bụng" như một bầy trẻ có động thái thú tính trong giờ cơm tại các trường học vùng sâu-vùng xa, ngày ngày bẩn thỉu, rách rưới, cảm cúm, thất thểu, vượt suối, vượt đèo để đi học trong hiểm nạn.

Chính quyền (không) chém ngọn không thể để một số thầy giáo, cô giáo bạo động ngay trong lớp học, đánh đập các học sinh trước mắt bạn bè của chúng ; không trả bài được thì bị nhục mạ bằng những lời lẽ thô tục. Làm sao có thể dạy được học sinh yêu người, yêu đời bằng bạo lực. Chúng còn bị bạo hành bởi cha mẹ ngay trong gia đình, vùi dập chính các con mình bằng những cực hình mà chính họ thấy xảy ra ngoài đường, trong các đồn công an, trong phim ảnh, trong truyền hình...

Chính quyền (không) chém ngọn, là chính quyền có quyết tâm giới hạn tối đa nạn tự tử của thanh thiếu niên, mà bầy giờ một số em lại cho môi trường học đường để tự vận ; trong một xã hội với nhiều trẻ bị tâm thần mà không được chính quyền qua y tế chăm lo chữa trị, chăm sóc qua điều trị, để sau này sẽ thành loại người lớn nguy hiểm cho gia đình, hàng xóm, tập thể, cộng đồng.

Chính quyền (không) chém ngọn phải dứt khoát trừng trị và xóa cho sạch nạn "ấu dâm" đang lan tràn, đày đọa trẻ con suốt kiếp phải mang số phận địa ngục trần gian trước thế giới người lớn. Không có gì khó để trừng trị, cô lập, vô hiệu hóa các tội phạm này ; các chính quyền văn minh có nhiều phương sách hữu hiệu : cô lập trong các trung tâm điều trị, dùng y học hóa chất ngăn sinh lý tội phạm, dùng phân tâm học hỗ trợ bởi tâm thần học, tận dụng giáo dục tâm lý học từ trong gia đình tới học đường, từ hội đoàn tới pháp luật.

Câu hỏi của Chí Phèo : "Ai cho ta làm người lương thiện ?" mà một trong các câu trả lời đã có sẵn trong một chính quyền liêm minh, với một hệ thống giáo dục liêm chính, tạo điều kiện cho thầy cô liêm sỉ với giáo khoa-giáo trình-giáo án liêm khiết để giáo dưỡng trẻ thơ thành người lương thiện !

Chính quyền (không) xóa não

Chính quyền (không) xóa não là chính quyền biết trọng chất xám, nâng niu tri thức, quý trọng trí thức, vì quý yêu kiến thức, biết dụng không những khoa học kỹ thuật, mà khai thác sáng suốt các nghiên cứu, điều tra, điền dả của khoa học xã hội và nhân văn, nắm chắc các kết quả của học thuật để hiểu sâu nhân tình, hiểu rộng nhân loại, hiểu cao nhân thế, luôn đưa nhân tri vào nhân trí để nâng nhân bản.

Chính quyền (không) xóa não, là chính quyền biết khai thác sử học, để tra đúng sử liệu, tìm trúng sử luận, để hiểu sử tính của một dân tộc, sử địa của một đất nước, và không lập lại sai lầm của quá khứ, biết ưu điểm, trọng điểm của tổ tiên nhưng cũng thấu luôn yếu điểm, nhược điểm, khuyết điểm, kể cả khuyết tật của họ. Hiểu thấu lịch sử để làm khá hơn, tốt hơn, hay hơn, cùng lúc đặt Việt sử, vào sử quốc tế để so sánh từ đồng sử đến dị sử giữa người và ta, trong đó so sánh sắt se với láng giềng cùng nôi tam giáo đồng nguyên với ta. Đó là Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, cùng văn hóa với ta tại sao họ thành công làm chủ, còn ta thất bại (trong thảm hại) làm công, làm thợ cho họ thậm chí lao động trong vai nô tỳ, nô bộc cho họ ?

Chính quyền (không) xóa não là chính quyền biết đưa kiến thức của khoa học xã hội và nhân văn làm tri thức cho xã hội hiện tại, có kiến thức xã hội học rồi thì biết sáng lập ra nhân khẩu học để có các chỉ số, chỉ báo, chỉ tiêu trong định chất và định lượng từ sinh suất tới tử suất, từ tuổi thành hôn tới tuổi thọ của các cá nhân, của một dân tộc. Khi đã vững về kinh tế học thì biết sáng tạo ra kinh tế học xã hội để chuẩn đoán rồi để giới hạn ngay trên thượng nguồn chuyện bất bình đẳng (con vua thì được làm vua, con quan thì được làm quan) qua cải tổ giáo dục, chuyện bất công (cá lớn nuốt cá bé) để bảo quản được đạo đức của cha ông.

Chính quyền (không) xóa não là chính quyền biết đưa các khám phá của khoa học xã hội và nhân văn vào ngay trong công tác xã hội, từ thấu hiểu các nhu cầu xã hội tới xử lý các đòi hỏi xã hội, chính tri thức của các nghành này tạo điều kiện cho chính sách đúng hơn, lãnh đạo khôn ra, đây là chỉ báo để định nghĩa sự thông minh trong chính trị. Một chính quyền không liều lĩnh thiêu binh, qua một cuộc bạo chiến mang tên gọi là tổng tiến công tết Mậu Thân, năm 1968 làm thiệt mạng hàng trăm ngàn sinh linh, một cuộc nội chiến (1954-1975) làm mất mạng nhiều triệu động bào, để sau bao năm hòa bình rồi mà Việt tộc cứ tìm đường ra đi, ra nước ngoài như để tự cứu mình và người thân, bỏ lại con người Việt ngày càng sa sút, từ nhân phẩm tới nhân cách !

Chính quyền (không) xóa não là chính quyền biết khiêm tốn trước tri thức, luôn muốn học hỏi ; khiêm nhường với trí thức, luôn nhận các tư vấn đúng, các cố vấn giỏi ; luôn khiêm cung trước "điều hay, lẽ phải" của tổ tiên, xem chuyện cứu nước-giữ nước hơn chính sinh mạng của mình, nếu không nghĩ và không làm như vậy thì đừng lãnh đạo chính trị !

Chính quyền (không) xé lẻ

Chính quyền (không) xé lẻ là chính quyền dùng quyền lực của trí tuệ dân tộc, tài nguyên đất nước để chế tác ra hợp lực trong đó giáo dục phục vụ nhân tri và nhân trí, kinh tế phục vụ cho nhân sinh, văn hóa phục vụ cho nhân văn, đạo lý phục vụ cho nhân cách, lấy nhân nghĩa làm nhân bản. Ý nghĩa của hợp lực có trong kinh nghiệm dựng nước và giữ nước của tổ tiên qua thuật ngữ : cả nước-toàn dân. Đây chính là thành công của một chính quyền biến hợp lực thành tổng lực.

Chính quyền (không) xé lẻ là chính quyền dùng quyền lực của định chế và cơ chế để làm ra tổng lực cho cả một dân tộc, cho cả một đất nước, không xé lẻ để hưởng riêng, không xé lẻ để cộng sức. Không lòn lách qua lách luật, tránh luật, thậm chí xé luật để tham nhũng-tham ôtham quyềnlộng quyền. Bọn xé lẻ để đi đêm với đối phương, để xé lẻ để đi lén với kẻ thù không thể dung thân trong một chính quyền sạch !

Chính quyền (không) xé lẻ vì tư lợi của lãnh đạo, vì tranh quyền giữa các nhóm lợi ích, thanh trừng nhau trong bạo lực như các mafia, chỉ biết trộm, cắp, cướp, giựt với hành vi "ăn tươi, nuốt trọn", trong cách hành xử "thắng làm vua, thua làm giặc", thắng rồi thì "ăn trên, ngồi trốc", vừa vơ vét, vừa tính chuyện "cao bay, xa chạy" khi đất nước lâm nguy.

Chính quyền (không) xé lẻhợp lực thành tổng lực trong cộng củacộng sức, mà không quên cập nhật hóa các giá trị tâm linh của tổ tiên ; biết duy trì và trao truyền mọi giá trị luân lý và đạo lý qua giáo dục ; biết bảo quản rồi bảo hành mọi di sản vật thể và phi vật thể vì nhân dân, và vì nhân loại. Biết phổ biến hóa các khả năng, các tài năng của từng thành phần xã hội, các tiềm năng và tiềm lực của từng vùng miền, để "vốn liếng hóa" phương trình hợp lực-tổng lực trong các hành động cụ thể của lãnh đạo : lấy vốn cũ để tạo vốn mới !

Chính quyền (không) vùi tri

Tri thức để lãnh đạo chính trị không chỉ tới tự kiến thức khoa học, nó hằng ngày khai trí cho lãnh đạo nếu các lãnh đạo muốn khai minh qua khai thị khi trực diện với dân chúng với xã hội, chuyện chính của tri luôn là có chịu học, chịu hiểu, chịu thấu để chịu đổi, chịu thay, chịu chuyển hóa hay không thôi ! Tri thức về dân chúng với cuộc sống ngày càng nheo nhóc của họ, không biết các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam có ý thức, có nhận thực để chuyển thành tâm thứ hay không, khi xuất hiện một tâm lý mới của số đông dân ngày càng bị cái nghèo khó, bị cuộc sống hằng ngày truy bức quá đổi sinh ra tâm lý : "sợ tết !". Tại sao lại sợ tết một thời điểm vừa thiêng liêng, vừa thảnh thơi, phải vui vì là dịp rất vui của cả nước ? lý do chính vẫn là tài chính, kính tế, vật chất : "không có tiền ăn tết", "không đủ tiền nghĩ tết", "tết đến còn làm buồn hơn", "chỉ mong cho tết qua mau"... Tâm trạng này phải đánh thức tâm thức của lãnh đạo, họ phải thực sự phản tỉnh để thấy hiện trạng quần chúng : Tết làm gì cho khổ !

Việt tộc luôn biết "vui tết", thế mà các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam có thấy là trong lúc họ nhận quà cáp "ngập mặt", thì có các gia đình chỉ đủ sống nhưng mấy đêm "ba ngày tết" lẳng lặng tặng : "quà tết", "ẩm thực tết", "bánh trái tết"... đi cùng đường cuối phố, để phân phát cho các người dân không nhà, nằm la liệt thảm buồn giữa tết, đó là tình đồng bào trong một xã hội mà đạo đức dân tộc đang bị xuống dốc thảm hại, một xã hội bị một chính quyền bỏ rơi, bỏ đi, bỏ mặc ! Việt tộc không thiếu tình đồng bào, đối với các con dân biết đùm bọc nhau, các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam có thấy là trong lúc họ vui chơi, chè chén trong dịp tết thì có bao thanh niên vào các xóm nghèo, lên tận vùng cao, vùng xa, vùng sâu để trao tặng quà tết cho các đồng bào trắng tay, trong túng thiếu : "không dám nghĩ tới tết". Nếu các lãnh đạo mà vui hưởng triệt để tết, nhờ bổng lộc qua quà cáp, thì chắc chắn là vô tri, khi bao đồng bào họ cúi đầu trong cảnh thiếu hụt-thiếu thốn : thiếu đói !

Việt tộc hiện nay thấy ngấy lên tới cổ, mỗi lần nghe các mỹ từ : an sinh xã hội, khi quà tặng của các đoàn từ thiện muốn trao tận tay cho các đồng bào nghèo các vùng cao, vùng xa, vùng sâu đã bị chính quyền địa phương với lực lượng công an của họ chặn ngay trước làng, trước thôn, trước cổng ; một đất nước mà làm một cử chỉ bình thường của thiện nguyện cũng bị chặn, cắp, cướp, giật ! Việt tộc hiện nay ngày càng thấy kiểu xảo ngôn : an sinh xã hội trở nên lố bịch với cảnh đồng bào nằm la liệt trong các bịnh viện, nơi mà các dịch vụ làm tiền bất chính trùm phủ lên họ, khi người nhà mang thức ăn được nấu kỹ lưỡng, vậy mà người bịnh không được hưởng, mà phải mua thức ăn của các dịch vụ làm tiền bất chính này, vì "lý do y tế"mà xuất xứ các thực phẩm này không biết từ đâu tới, có độc tố hay không ? Có an toàn hay không ? Chữ tri là hải đăng cho chữ nhân ! Phải thấy chữ tri trong nỗi khổ niềm đau của đồng bào để không vùi tri lãnh đạo !

Chính quyền (không) xiết tuệ

Chính quyền (không) xiết tuệ, nơi mà tuệ giác của dân tộc chính là trí tuệ của lãnh đạo ! Tuệ giác hiện nay của nhân dân nằm ngay trong nỗi khổ niềm đau của họ, vì hơn hết họ hiểu sự cùng quẩn của dân đen, sự oan ức của dân đen : tại sao trong dịp tết này, 2018, có hàng trăm dân oan vẫn ra Hà Nội, dù biết các cơ quan lãnh đạo đã đóng cửa nghĩ tết ! Họ nằm lăn lóc đường Ngô Thì Nhậm, Hà Đông, với khí trời mùa đông miền Bắc, tại sao vậy ? Tại vì họ không còn đất, còn nhà, họ mất hết, họ tới thủ đô để kêu oan, để đòi công lý, mà lãnh đạo chính quyền phải trả lại công lý cho họ, đừng lẻo miệng là "đầy tớ của dân" nữa !

Lãnh đạo đừng lẻo lưỡi "phục vụ dân", hãy thật sự phục vụ nhân dân, bằng cách chống bất công, chống bạo quyền, hãy bảo vệ dân bằng tuệ giác của công bằng. Trí tuệ của lãnh đạo bắt đầu bằng trực diện để trực quan : các cơ quan có những tòa nhà đắt tiền, rộng lớn, cũng từ tiền thuế của dân mà ra ; chính các cơ quan đó, từ địa điểm của các hội tới các địa danh của của chính quyền, thì tất cả cửa nẻo đóng im ỉm ngay cả ngày hành chính bình thường, nơi mà chung quanh dân oan đứng, ngồi, nằm la liệt, họ đang : đi ăn xin công lý đấy ! Họ trực tuyến để trực diện với một chính quyền vô tuệ trước công pháp đấy ! Vì họ có kinh nghiệm với một chính quyền đi bắt cóc các nhà vận động dân chủ, tuyên bố xử họ công khai nhưng chặn dân đi dự ngay trước cổng toà, bỏ tù các nhà vận động dân chủ nhưng khi thả họ ra thì không có chứng thư giam giữ và phóng thích, cùng lúc chối leo lẻo trước quốc tế là Việt Nam không có tù nhân lương tâm. Một chính quyền bắt cóc dân-xử đóng cửa tòa-nhốt bừa bãi-thả thô tục đó là một chính quyền trí tuệ nhúng chàm.

Trí tuệ của lãnh đạo nằm ngay trong đạo lý của lãnh đạo : "đồng cam cộng khổ"với dân, nằm giữa đạo đức của lãnh đạo : "chia cơm xẻ áo" với dân ! Ngược lại cứ để nhân dân tự cứu đói nhau ; mặc thanh niên đi bảo vệ môi trường, môi sinh giữa khu Sơn Trà có động vật trong sổ đỏ, hàng ngày bị đe dọa bởi bọn tướng tá tham quan phá rừng để xây : biệt thự, dinh thự, biệt phủ, nhân cách bọn này không phải lãnh đạo, vì tư cách của chúng thua xa súc vật.Tuệ giác của lãnh đạo rất dễ thấy (nếu lãnh đạo muốn thấy, muốn thấu) qua chính bạo quyền, cho phép công an bạo động với thanh thiếu niên, khi bắt cô bé Cát Linh bị công an bắt, đánh đập, tra hỏi và khi mở cặp của cô học sinh này ra thì thấy toàn : hiến pháp ! Chính bọn công an vô tri, vô giác không sao hiểu nổi có một cô học sinh để dành tiền đi mua hiến pháp để tặng cho bạn bè, cho dân chúng, giúp họ hiểu công pháp, công lý hơn để họ tự bảo vệ họ, vì chính quyền không bảo vệ họ, mà ngược lại hằng ngày hiếp đáp họ.

******************

Phần 6

Thức

"Lịch sử là ác mộng, tôi sống để thức suốt…".

J. Joyce

politique6

Lãnh đạo mà vô thức thì sẽ đưa Việt tộc vào lộ trình vô định hướng vô minh !

Thức

Thức là hệ đào tạo chính trị tất yếu : lấy kiến thức để xây dựng tri thức, nhận trí thức để tạo ý thức, đón nhận thức để có tỉnh thức. Không thạo hệ dây chuyền : kiến thức-tri thức-trí thức-ý thức-nhận thức-tỉnh thức thì đừng lãnh đạo, lãnh đạo mà vô thức, thì dẫn tới vô minh, để rơi vào bẫy vô tri, chóng chầy sẽ rơi vào vô giác, gây họa cho dân tộc, tạo nạn cho giống nòi. Thức là hệ lãnh đạo chính trị vừa tỉnh để có tỉnh táo, vừa động để hành động đúng lúc hợp thời, đúng thế. Hãy xem lại quá trình đào tạo lãnh đạo tại các nước văn minh, nếu không nói là tân tiến, ở đó có kiến thức trước quần chúng để gầy dựng tri thức sớm làm nền cho mọi chính sách, tránh hẳn chuyện "sai một ly đi một dặm". Trong đó mọi chuẩn bị trên thượng nguồn phải có một hệ trí thức chỉnh chu làm gốc cho ý thức chu toàn, để không xẩy ra chuyện "sai con toán bán con trâu". Để khi hành động, thì được vũ trang bằng nhận thức chính xác về dữ kiện để có tỉnh thức sáng suốt, "người khôn chưa đắn đã đo, chưa ra tới biển đã dò nông sâu", trước khi nhập cuộc và biết chống chỏi trước mọi thử thách !

Một trong những thất bại to lớn của Đảng cộng sản Việt Nam, gây bao hậu nạn cho Việt tộc, là Đảng cộng sản Việt Nam không tin, không muốn, không đón, không trọng hệ thức (kiến thức-tri thức-trí thức-ý thức-nhận thức-tỉnh thức) trong lãnh đạo chính trị. Hệ thức để khai thị, khai sáng, khai tri, khai trí, mà các nước láng giềng cùng tam giáo đồng nguyên với Việt Nam đã thành công : Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc. Hệ thức luôn được mài thật sắc, dũa thật nhọn qua hệ học, học cho đến nơi, đến chốn để lấy sáng kiến trong thao tác, để thăng hoa qua sáng tạo trên mọi lãnh vực của tri thức, từ khoa học, kỹ thuật tới văn hóa, nghệ thuật...

Vấn nạn thì phải nhận ra hậu nạn : Đảng cộng sản Việt Nam đã tha hóa hệ giáo (giáo dục-giáo khoa-giáo án-giáo trình) đang đi ngược lại quy trình kiên cường giáo dưỡng để bền chí học tập, để xảy ra bao hiện trạng học giả-thi giả bằng giả. Lãnh đạo mà vô thức thì sẽ đưa Việt tộc vào lộ trình vô định hướng vô minh !

Lương

Lương hệ lụy nếu lãnh đạo chính trị vô tâm, là hệ thiện nếu những kẻ lãnh đạo chú tâm. Lương là hệ trình của lương thiện-lương tâm-lương tri, không có lương mà đòi lãnh đạo, thì không chóng thì chầy cũng thành kẻ bất lương ; từ sâu dân mọt nước sẽ tới buôn nước, bán dân.

Lương luôn hệ kiến thức đôi : kiến thức liêm chính về luân lý làm nền kiến thức sáng suốt về quản lý, trong đó bọn tham quan không có chỗ đứng để tham nhũng, không có chỗ ngồi để tham ô. Bọn này không sao hiểu được phương trình lương thiện-lương tâm-lương tri là một lý luận thông minh, một lập luận thông thái để kẻ cầm cương, nẩy mực sẽ là kẻ chủ động đưa giống nòi tới quốc thái, dân an. Vì với tư duy ích kỷ tối đa làm quan để vơ vét, làm lãnh đạo cào, nạo của cải nhân dân, nên chúng đã bị ung thư ngay trong não bộ và luôn nghĩ phương trình lương thiện-lương tâm-lương tri chỉ dành cho những ai ngây thơ, thật thà, thậm chí là ngu dại.

Lương thiện, lấy cái trong làm cái sáng, lấy cái thẳng làm cái ngay, công nào của nấy, ngược lại với bọn tham quan làm quan để tham nhũng, sẽ bị lột mặt nạ vì là bọn cướp ngày là quan (cắp của công-cướp của tư), giữa công và tư chúng chỉ thấy chúng, chuyện ai chết mặc ai trong phản xạ của chúng, chuyện cao chạy, xa bay khi đất nước bị ngoại xâm có trong vô tâm nên sống vô thức của chúng.

Lương tâm, lấy tâm nói thương, lấy thương làm thiện, biết nỗi khổ niềm đau của đồng bào nên có lương trong công, có tâm trong việc, nhất là việc nước, việc vì dân. Lương tâm của kẻ lãnh đạo có công tâm, biết công bằng (cả lý lẫn tình), công lý song hành cùng công pháp, luôn được giáo dưỡng qua nhân đạo trước mọi cảnh thương tâm của đồng bào, đồng loại.

Lương tri, tri thức của lương tâm, kiến thức của lương thiện, tỉnh táo trong lãnh đạo vì thương nước, trọng dân ; sáng suốt trong quản lý vì ăn ở có hậu với các thế hệ mai sau. Chuyện lạ là từ lối tuyên truyền một chiều nghe ra rả bao năm nay "học tập theo gương đạo đức của Hồ Chí Minh" cho tới cả một chiều dài lịch sử của Đảng cộng sản Việt Nam đã gần một thế kỷ : phương trình lương thiện-lương tâm-lương tri chưa bao giờ là chủ đề thảo luận của các lãnh đạo luôn dành độc quyền lãnh đạo đất nước này !

Sạch... trong

Sạch trong đào tạo lãnh đạo nơi mà học lực bảo trì cho học vị, bảo hành cho học hàm ; học trong nghĩa học tập trong tu thân, học hành trong tự rèn luyện, sạch ngược lại với bẩn, với hai loại ô nhiễm trong chính giới : bất tài, vô chí luồn lách qua cửa ngõ tham quan, tham nhũng.

Sạch trong quy trình gầy dựng chính sách, tại đây các thủ đoạn tham ô, tham nhũng bị chặn ngay thượng nguồn, nơi đây kẻ lãnh đạo đi từng bước từ chính sách tới quyết định, từ quyết định tới hành động, từ hành động tới thành quả, lấy cần mẫn để làm rõ bổn phận, lấy chí công để nhận trách nhiệm, lấy hy sinh để thao tác mọi hành vi lãnh đạo. Không hề có chuyện chia chác với nhau để trục lợi riêng.

Sạch trong tiến hành qua cơ chế, từ chỉ đạo qua hành chính, từ quản lý tổng quan tới hành động lãnh đạo cụ thể thường nhật, nơi đây cơ chế sạch để liêm chính hóa mọi thủ tục, để trong sạch hóa mọi tổ chức từ nhân lực tới đầu tư vào cơ sở hạ tầng, nơi mà kết quả là hiệu quả lãnh đạo, không có chuyện tránh, né, lách, xé luật để đầu cơ, không có chuyện rút ruột vốn, tài nguyên, vật liệu để làm giầu riêng.

Sạch trong hành động chính trị thấy rất rõ trong phong cách lãnh đạo thanh bạch, chấp nhận thanh đạm vì dân tộc, nhận luôn cả thanh bần để tròn nhiệm vụ, để tròn nghĩa vụ với đất nước, lấy đồng lương nuôi cuộc sống cá nhân. Chuyện biệt dinh, biệt phủ là chuyện của bọn đầu cơ chính trị, đầu nậu chính sách, không hề là chuyện của kẻ lãnh đạo liêm sỉ, không hề là hành động lãnh đạo liêm chính.

Sạch... sáng

Sạch để trong chính trị, để sáng lãnh đạo ; sạch từ thượng nguồn trong quá trình đào tạo các cá thể lãnh đạo, sạch trong quy trình gầy dựng chính sách.

Sạch trong đánh giá thành quả và hậu quả phải rõ ngay từ đầu : thấy chuyện hay cho dân tộc, chuyện tốt cho giống nòi, chuyện lành cho xã hội, chuyện đẹp cho đất nước thì đầu tư, thì lập chính sách, thì hành động, trọn vẹn chí công vô tư. Thấy chuyện xấu cho dân tộc, chuyện tồi cho giống nòi, chuyện tục cho xã hội, chuyện dở cho đất nước, thì đừng đầu tư, thì đừng lập chính sách, thì đừng hành động, đánh giá thành quả và hậu quả là chuyện cân, đo, đong, đếm, hoàn toàn duy lý qua lý luận và lập luận có kiểm soát của tập thể, có đối thoại với cộng đồng, có sự đàm phán của nhiều chính kiến đóng vai trò khách quan hóa lãnh đạo chính trị.

Sạch từ đầu đến cuối để tách ra khỏi loại ngụy biện "đánh chuột tránh vỡ bình", mà ta chỉ thấy bạo động với đạo đức giả luôn đi đôi với thanh trừng nội bộ, một loại chính trị rừng, không trong và không sạch. Sạch để tránh loại xảo biện "đưa củi vào lò", một loại bạo hành chính trị luôn đi đôi với thanh lọc bè phái, của bạo lực "mạnh được, yếu thua", của loại bạo quyền "thắng làm vua, thua làm giặc".

Não... bộ

Não bộ dân tộc tùy thuộc phần lớn vào não trạng quần chúng, kết quả của hiện trạng xã hội, thực trạng của đất nước, trong đó bối cảnh chính trị, hoàn cảnh kinh tế, thực cảnh giáo dục, điều khiển từ tư duy tới phản xạ, từ phản ứng tới phản tỉnh của đại chúng đang sống và chia sẻ cùng một văn hóa, đây chính là mức độ văn minh, trình độ văn hiến của một giống nòi, chính đây là bổn phận và trách nhiệm của tất cả những ai muốn lãnh đạo chính trị có não bộ liêm khiết.

Độc đảng sinh đôi với độc tài, độc tôn song hành với độc trị, độc quyền chúng thân với độc đoán, tạo ra tuyên truyền một chiều, sinh ra tư duy ao tù ngay trong tư tưởng, ngay trong não trạng. Trong đó tự do không có dung thân, dân chủ không có chỗ đứng, nhân quyền không có chỗ dựa, từ đây sinh sản ra các loại não bộ lạ lùng, dị kỳ, quái gở mà kẻ lãnh đạo chính trị tỉnh táo, sáng suốt, phải phân tích tới tận gốc, rễ, cội, nguồn.

Những kẻ lãnh đạo chính trị có ý thức vì có tâm thức (thao thức với tiền đồ Việt tộc) phải chịu trách nhiệm về các loại quần chúng sau đây (vì họ chỉ là hậu quả của một loại giáo dục tha hóa một chiều này) :

Vô tri trước nỗi khổ niềm đau của đồng loại : "một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ".

Vô minh trước nỗi khó nghiệp quẩn của đồng bào : "máu chảy, ruột mềm".

Vô giác trước cảnh "ăn bờ, ở bụi" của dân đen, dân oan : "sống nay, chết mai" !

Vô tri, vô minh, vô giác trong xã hội, theo giáo lý của tổ tiên Việt tộc và cũng theo phân tích của chính trị học, của xã hội học, chắc chắn là tới từ bề trên : từ các lãnh đạo chính trị !

Não... trạng

Tại sao lại có một loại quần chúng thờ ơ với hiện trạng dân đen, dân oan, bị tước đoạt mọi quyền sống, quyền làm người, bụi đời ngay trên quê hương, làm oan hồn ngay trong xã hội mà họ đang sống ; trong khi đó loại quần chúng này lại lập tập hợp qua mạng xã hội để ủng hộ, lại còn xin : "ở tù thay cho Đinh La Thăng", một loại tham quan sống nhờ tham nhũng, cùng "cá mè một lứa" như bọn lãnh đạo mang tên này ra xử ! Tại sao lại có loại não trạng này của loại quần chúng này giữa Việt tộc ?

Tại sao lại có một loại quần chúng lãnh đạm với công cuộc đấu tranh liêm chính vì nhân quyền, liêm sỉ vì dân chủ của nhiều thành phần trong xã hội dân sự đang trực diện hằng ngày chống bất công, vì công bằng xã hội ; cùng lúc họ tham gia kịch liệt một cách lạ lẫm vào chuyện đời tư của các đại gia (thật ra chỉ là loại trọc phú, nhiều tiền bạc nhưng thiếu tri thức), của các giai nhân (thật ra chỉ có hình thể mà não bộ thì trống vắng) hai loại người này qua báo chí qua thể loại chuyện giật gân, mà họ không hề thắc mắc về đạo đức "một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ", về luân lý "máu chảy, ruột mềm". Tại sao lại có loại não trạng này của loại quần chúng này giữa Việt tộc ?

Tại sao lại có một loại quần chúng quay lưng với một cuộc ô nhiễm tàn khốc tại miền Trung do Formosa gây ra, với hàng triệu đồng bào đang "dở chết, dở sống" tại các vùng biển đang chịu thảm họa môi trường này, ngay trên đất nước-đất sống của cả một giống nòi ; cùng lúc đó họ sôi nổi bàn tán về tiêu thụ, tận hưởng qua nhậu nhẹt hoang phí,với bao thanh niên suốt ngày la cà trong các quán cà phê, để thời gian trôi qua với bao chuyện ngẫu, mà không có tư duy biết tôn trọng tiền đồ của tổ tiên, không biết tự trọng trước nhân phẩm cá nhân mình, ngày ngày bị tha hóa, giờ giờ bị biến phẩm ; tại sao lại có loại não trạng này của loại quần chúng này giữa Việt tộc ?

Nếu muốn lãnh đạo chính trị mà không có các câu trả lời, để có các quyết sách hướng thiện, thăng đức quần chúng thì đừng lãnh đạo nữa !

Dính thân-dính đảng

Dính thân là thực trạng của vài trường hợp mà y khoa thông báo cho chúng ta qua các trường hợp sinh đôi hiếm hoi : hai đứa trẻ ra đời cùng một lúc, có phần lớn các nội tạng nhưng chỉ có một cột xương sống, hai cá thể nhưng phải chia cùng cuộc đời, cùng kiếp sống. Khi y khoa quyết định muốn cứu cả hai thì phải tách ra, để hai là hai, chớ không phải hai là một, tách ra để mỗi kẻ có kiếp riêng, có đời riêng, nếu không tách được thì đứa này có thể là họa của đứa kia. Cụ thể là đứa mạnh luôn làm khổ đứa yếu, đứa mạnh luôn lấy sức mạnh để khống chế, để áp đặt, để bạo hành, để bó buộc đứa yếu bắt làm theo ý muốn, ý định, ý đồ của đứa mạnh.

Dính đảng lại là chuyện có thật trong chuyện chung đời-cộng kiếp giữa hai đảng anh-em : đứa mạnh làm anh là Đảng cộng sản Trung Quốc-Đảng cộng sản Trung Quốc, đứa yếu làm em là Đảng cộng sản Việt Nam-Đảng cộng sản Việt Nam, từ khi hai đảng này ra đời, từ khi hai đảng này chọn quỹ đạo chuyên chính để thống trị qua cái độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc tôn), chọn chuyện ăn đời-ở kiếp với nhau, nhưng trên thực tế thì đây là chuyện vừa cưỡng hôn, vừa cưỡng thân. Một đại họa cho Việt tộc, mà muốn sống còn trong vai em-thế yếu thì phải tìm mọi cách để tách ra, thoát ra, càng sớm càng hay.

Đảng cộng sản Trung Quốc luôn can thiệp, luôn xen vào nội bộ, phân hóa các lãnh đạo, và trên thực tế là tổ chức nhân lực lãnh đạo cho Đảng cộng sản Việt Nam, đứa mạnh-đàn anh luôn tìm cách ở trên cao để chi phối, để quyết định số kiếp đứa yếu-đàn em, bằng những thủ đoạn xấu, tồi, tục, thấp ; bằng các xảo thuật độc, ác, thâm, hiểm. Lúc "chơi ngang" dùng ma đạo để cắt đôi đất nước Việt ngay hiệp định Genève 1954 ; lúc "chơi đểu" cướp biển, cướp đảo của Việt Nam ; chưa kể bao lần "chơi ngược" qua các chiều bài cố vấn quân sự kiểu "biển người" coi sinh mạng Việt như cỏ rác, và nhiều lần "chơi ác" đưa đẩy lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam vào con đường giết dân, qua cải cách ruộng đất. Hiện nay, thì bao vây kinh tế Việt, từ nhập khẩu hàng tàu tới gây ô nhiễm môi trường, hủy diệt môi sinh, giăng bẫy chính trị, tổ chức nội gián, giáo dưỡng bọn phản phúc buôn dân, bán nước, giết hại các lãnh đạo chân chính mưu cầu độc lập, tự chủ cho Việt tộc.

Hãy kết luận : dính thân mà yếu thì chỉ có chết ! Dính đảng mà hèn thì chỉ dẫn đến vong quốc, diệt nòi. Hãy quyết định không dính nữa ! Hãy quyết đoán là tách ra ! tách để sống, tách để giữ nhân phẩm, tách vì có nhân cách, tách một cách dứt khoát để Việt là Việt !

Chuyên... ngược

Đối với chính giới của các nước văn minh và đối với các chuyên gia về Việt Nam, thì lãnh đạo chính trị độc đảng, từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam, chỉ là một lực lượng luôn hiểu ngược nội hàm, nội chất, nội lực của từ chuyên.

Ngữ văn chuyên trong đào tạo lãnh đạo và quản lý trong các quốc gia văn minh có thượng nguồn qua ngữ pháp là chuyên ngành qua học lực quyết định học hàm và học vị của một lãnh đạo, từ đó có chuyên môn sắc nhọn trên một lãnh vực và được đồng nghiệp, đồng môn, đồng đảng công nhận là chuyên gia, được chấp nhận là chuyên nghiệp, tự rèn luyện tới điêu luyện.

Hệ chuyên ngành-chuyên môn-chuyên gia-chuyên nghiệp chính là hệ huấn luyện lãnh đạo hiện đại và ổn định, không qua hệ chuyên này mà muốn khơi khơi lãnh đạo thì rất đáng ngờ, vậy mà hệ chuyên không hề là ưu tiên trong phân công nhân sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.

Đảng cộng sản Việt Nam sinh ra trong nôi đấu tranh bằng bạo lực của giai cấp-bất chấp dân tộc, nên không chuyên nghiệpchuyên ngược, qua ngữ văn chuyên, bị thô bạo hóa qua ngữ pháp chuyên chính, để vào quỹ đạo bạo lực của chuyên quyền, mà quá trình tham quyền cố vị giờ đã sinh ra thảm họa mua quyền bán chức trong mọi tầng lớp lãnh đạo. Ngày ngày chuyện chuyên ngược sinh ra bao quái thai : quan hệ-tiền tệ-hậu duệ để truy diệt trí tuệ của chuyên.

Cái chuyên xuôi của hệ chuyên ngành-chuyên môn-chuyên gia-chuyên nghiệp bị gạt bỏ, tiêu hủy, loại trừ, và Đảng cộng sản Việt Nam đã chọn chuyên ngược qua chuyên chính để chuyên quyền : đây là tử lộ trước toàn cầu hóa hiện nay ! Tại đây chỉ có cái khôn xuôi mới có đất sống ! Còn cái ngu ngược thì sẽ chết "bất đắc kỳ tử" !

Chống... nô

Một lực lượng lãnh đạo có tư duy liêm chính, có chính sách liêm sỉ luôn là một lực lượng có quyết tâm chính trị, có quyết đoán chính sách, có quyết định hành động chống lại : nô (nô lệ, nô bộc, nô tỳ...), mà trước mắt là lao nô đang trùm phủ chúng ta.

Một lực lượng lãnh đạo có bản lĩnh chính trị, luôn lấy nhân cách tổ tiên đã chống ngoại xâm để chống lại kiếp phải làm nô lệ, dù là đã bị đô hộ hằng nghìn năm, dù phải can đảm lấy thân, dù phải quả cảm lấy mạng của chính mình để làm cho bằng được chuyện "Châu chấu đá xe", dù chúng là bất cứ loại thiên triều nào ! Dù chúng có mãnh lực quân sự tới đâu đi nữa, kể có bọn hung hãn nhất là Nguyên Mông, đã bị đời Trần của ta làm cho quỵ sụp tới ba lần.

là kiếp ngược lại với hai loại kiếp người, trong sáng vì trong sạch :

  • Kiếp tự : tự do để có tự quyết, có tự lập để có tự chủ, lấy tự lực tạo ra tự cường.
  • Kiếp chủ : chủ động để hành động, chủ tri của ý thức để tạo ra chủ lực cho tương lai, lấy chủ trí để thực thi chủ quyết.

Thấy người phải nghĩ tới ta, cụ thể là các nước láng giềng cùng nôi văn hóa tam giáo đồng nguyên với Việt tộc đã làm được chuyện hai kiếp (tựchủ) này : Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc... Đây không hề là chuyện xa vời, viển vông, mà là chuyện quyết tâm trong chính trị, quyết chí trong lãnh đạo.

Trước mắt, là hãy tháo hai tròng lao nô đang nô lệ hóa bao thế hệ của Việt tộc :

  • Chống lại chính sách xuất khẩu lao động trá hình hiện nay, mà thực trạng là làm lao nô, với lương bổng của nô lệ, làm kiếp gái bán thân cho các nước láng giềng với kiếp nô tỳ vô cùng đốn mạt !
  • Chống lại chính sách mở cửa cho các doanh nghiệp ngoại quốc, nhất là các nước láng giềng sử dụng lao động Việt với lương rẻ, điều kiện lao động tồi, bảo hiểm lao động hèn ngay trên đất nước Việt đang bị ô nhục hóa !

Nếu các lãnh đạo hiện nay không làm ngay được chuyện này thì nên từ chức ngay, càng sớm càng tốt, để các kẻ có năng lực làm, để thế hệ sau có tiềm năng thực hiện xáo kiếp này, vì không có ai là kẻ lãnh đạo tối cần, vì không có ai là lãnh tụ tối thượng cả, vì như ông bà ta đã dặn dò con cháu : "vắng mợ, chợ vẫn đông" !

Sinh ly

Dân tộc Việt là một, văn hóa Việt là một, ngôn ngữ Việt là một : đây là một cơ may, một vốn vững, vì là một nội công để giữ vững độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của tổ tiên. Nhưng những kẻ lãnh đạo phải vận não nhìn thấu lịch sử Việt để thấy là có mầm sinh ly trong chiều dài lịch sử của Việt tộc, chỉ để ngăn mầm sinh ly này đe dọa khối đại đoàn kết cả nước.

Trong lịch-huyền-sử lập quốc, Lạc Long Quân và Âu Cơ, khi có trăm con, thì năm mươi phải lên núi, năm mươi phải xuống biển, đây là một cuộc sinh ly. Sinh ly có thật trong lịch sử Việt, hằn sâu trong tâm não Việt với hằng thế kỷ Trịnh-Nguyễn phân tranh, chia cắt đất nước, chia lìa dân tộc. Sinh ly hiển hiện ngay trong sử cận hiện đại với cuộc chiến Bắc-Nam, qua giọng lưỡi ý thức hệ, nhưng thật ra chỉ là một cuộc sinh ly trong huynh đệ tương tàn qua ba mươi năm tan nát đất nước. Lại thêm hơn bốn mươi năm hòa bình mà kẻ thắng không đủ bản lãnh để hòa hợp, hòa giải dân tộc, để sinh ly tiếp diễn với hàng triệu đồng bào thí thân vượt biển tìm tự do cho tới hàng triệu đồng bào sẽ gởi nắm xương tàn nơi xứ lạ quê người.

Tại sao sinh ly như một hằng số trong văn học, trong thi ca Việt, với bao tác giả, từ Nguyễn Anh Khanh tới Thâm Tâm : Tống biệt hành. Sinh ly có luôn trong tâm trạng của một thanh niên đã theo Việt Minh, đầy phân vân trước khi lại về thành, giữa lòng cuộc kháng chiến chống Pháp : "Lòng tôi sao vẫn còn biên giới ?" (Phạm Duy, Bên cầu biên giới).

Các kẻ muốn lãnh đạo chính trị phải có bản lĩnh và nội công để nhìn thấu được ẩn số sinh ly có trong tổng thể của dân tộc, vì hằng số sinh ly có lắm lần trong lịch sử dân tộc. Biết ẩn số, hiểu hằng số để không cho chúng xuất hiện một lần nữa trong tương lai, trong các thế hệ mai sau, đây là luân lý chính trị dẫn dắt chính sách chính trị.

Lê Hữu Khóa

(25/01/2020)

-------------

suthat4  Lê Hữu Khóa

Giáo sư Đại học Lille, Giám đốc Anthropol-Asie,Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam ÁCố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCO–Liên Hiệp Quốc,Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa Paris.

Thành viên hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Đông Nam Á, Hội viên danh dự ban Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới.

Các công trình nghiên cứu việt nam học của giáo sưLê Hữu Khóa, bạn đọc có thể đọc và tải qua Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-trang thầy Khóa. 

Quay lại trang chủ

Additional Info

  • Author: Lê Hữu Khóa
Read 432 times

Viết bình luận

Phải xác tín nội dung bài viết đáp ứng tất cả những yêu cầu của thông tin được đánh dấu bằng ký hiệu (*)