Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Published in

Tư liệu

01/11/2020

Não luận 1 : Tương lai luận vi Việt tộc

Lê Hữu Khóa

 

Chuyển biến não bộ, chuyển hóa não trạng

Tạo não bộ chủ tri, xóa não trạng bị trị

naoluan1

Việt tộc : dũng tộc ? minh tộc ?

Việt sử đã có những xác chứng Việt tộc là một dũng tộc biết đánh thắng ngoại xâm để giữ nước, để bảo vệ tiền đồ tổ tiên. Việt sử đã có những minh chứng Việt tộc là một minh tộc có thông minh trong chiến lược quân sự để thắng quân xâm lược, có thông thạo trong sách lược ngoại giao giữ vẹn lãnh thổ, có thông thái để giữ gìn độc lập quốc gia. Đó là Việt sử, còn hiện nay trong thế kỷ XXI này, Việt tộc có còn là một dũng tộc không ? Việt tộc có còn là một minh tộc không ? Khi Đảng cộng sản Việt Nam độc quyền trong độc tài, độc trị trọng độc tôn bằng độc đảng toàn trị đã "hèn với giặc, ác với dân”, đã để Tàu tặc chiếm đất, biển, đảo. Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã cúi đầu-khom lưng trước Tàu họa khi chúng thao túng sinh hoạt chính trị, quyết định nhân sự cho Đảng cộng sản Việt Nam. Và cũng Đảng cộng sản Việt Nam đã khoanh tay-quỳ gối trước Tàu họan khi chúng thao túng kinh tế, tài chính từ sản suất tới tiêu thụ. Rồi cũng Đảng cộng sản Việt Nam đã nhắm mắt-xuôi chân trước Tàu nạn ngày ngày ô nhiễm môi trường, buôn ma túy, buôn người, buôn nội tạng… ngay trên đất Việt.

Từ giai đoạn hình thành Đảng cộng sản Việt Nam 1930, tới giai đoạn cướp chính quyền 1945, cho tới giai đoạn nội chiến Bắc-Nam 1954-1975, và từ 1975 tới gần một phần tư thế kỷ XXI này, hệ độc (độc đảng, độc trị, độc quyền, độc tại, độc tôn) đã cho ra đời một chế độ độc đảng toàn trị, với bạo quyền công an trị, tà quyền tham nhũng trị, ma quyền tham tiền trị, cực quyền ngu dân trị, cuồng quyền vô học trị. Với tất cả hậu quả cùng hậu nạn gần một thế kỷ mà dân tộc đã, đang, sẽ nhận lãnh qua nhiều thế hệ, dựng lên một hình ảnh một Việt tộc : "cúi đầu-khom lưng-khoanh tay-quỳ gối-nhắm mắt-xuôi chân". Thì Việt tộc có thật sự là một dũng tộc ? một minh tộc ? Các câu trả lời chủ quan theo bản năng hay cảm tính đều không có một giá trị thuyết phục nào, chỉ còn con đường khách quan hóa dữ kiện để xác minh hóa chứng từ qua học thuật. Một học thuật có cơ sở khoa học, sử dụng nghiên cứu cùng khảo sát, vận dụng điều tra cùng điền dã để tìm cho ra hiện trạng của Việt tộc, để thấy cho thấu tương lai của Việt tộc. Vận dụng tổng lực trong liên minh giữa các ngành khoa học nhân văn và xã hội đã nhận ra sự thật Việt trong Việt sử, thực trạng Việt trong hiện tại để thẩm cho thấm nhân phẩm Việt trong thăng trầm hiện nay, trong thử thách mai hậu.

Tiểu luận này đề nghị song lộ để thấy-thấu-thẩm-thấm tương lai nào nào đang chờ đợi Việt tộc : nội lộ ngay trong Việt sử để hiểu Việt tộc, và ngoại lộ dùng sử nhân loại ngoại Việt sử để nhận ra Việt tộc từ bên ngoài. Từ khoa học luận song lộ nội ngoại, tiểu luận này đề nghị năm tiền đề lý luận như năm định đề phương pháp luận để nhập nội vào Não luận này, nơi mà não bộ là trung tâm cấu trúc tri thức sẽ tổ chức và chi phối từ hành vi tới hành động, từ quyết đoán tới quyết định, từ tự tin tới tự chủ của cá nhân, của tập thể, của cộng đồng, của dân tộc :

* Khi một dân tộc ý thức được hiểm hoạ đang tới với mình, thì nếu dân tộc đó muốn sống còn thì phải vận dụng tri thức luận ngay trên thượng nguồn trước khi hành động để tìm ra giải pháp thoát hiểm, vượt thoát hiểm nạn để vượt thắng hiểm họa. Trong lịch sử của nhân loại, những dân tộc bị xóa tên trên bản đồ là những dân tộc khi có ý thức về hiểm nạn, không có nhận thức về hiểm họa đang tới với mình, và khi họa tới thì mọi sự đã muộn. Đây chính là hiện trạng của Việt tộc hiện nay, nếu Việt tộc không có tỉnh thức đầy đủ và đúng lúc thì hệ Tàu (Tàu tặc, Tàu họa, Tàu hoạn, Tàu nạn, Tàu tà) sẽ dẫn Việt tộc tới diệt vong. Mất bản sắc song hành cùng mất hệ văn (văn hóa, văn minh, văn hiến), mất đất nước cùng lúc mất giống nòi, vừa là nô lệ vừa cung phụng nội tạng cho giặc.

* Khi một dân tộc bị một ngoại xâm đe dọa xâm lược thì dân tộc đó sẽ có phản xạ đoàn kết để bảo vệ tổ quốc, nhất là trong quá khứ tổ tiên của dân tộc này đã thành công trong quá trình đoàn kết. Phản xạ đoàn kết chống ngoại xâm khi mang nội lực của tổ tiên sẽ dễ dàng biến thành sung lực trong các phản ứng tổ chức đoàn kết qua các mặt trận tập trung được nhiều thành phần trong xã hội. Khi có nội lực đoàn kết sung lực tập hợp thành mặt trận thì hùng lực phản hồi trước ngọai xâm bằng khí thế yêu đất nước, thương giống nòi, trọng dân tộc, khí thế này chính là mãnh lực của một dân tộc.

*Khi một dân tộc bị đứng trước thảm họa ngoại xâm, mất nước, mất nòi, mất mạng… thì nội lực đoàn kết biến thành nội lực tương trợ. Chính cái họa làm rõ cái thức ngay trong tri thức của các công dân có trách nhiệm với đất nước, có bổn phận với giống nòi, mà giờ đây các công dân này đã trở thành chủ thể với hệ sáng : có sáng kiến để bảo vệ đất nước, có sáng tạo để bảo trọng dân tộc, có sáng tác trong văn hóa và nghệ thuật cùng có sáng lập các phong trào, các tập thể, các cộng đồng để bảo trì giống nòi.

* Khi một dân tộc phải trực diện trước hiểm họa mất chủ quyền, từ đất nước tới giống nòi, từ văn hóa dân tộc tới mất tiền đồ của tổ tiên, thì dân tộc đó phải có chủ đoán về một niềm tin, dân tộc đó phải có chủ quyết về một lòng tin. Cụ thể là dân tộc đó phải có chủ động về một ý nguyện làm nên ý lực cho mình, với tên gọi là vững tin vì chính nghĩa. Chính ý nguyện bảo vệ đất nước được xác minh như một hành động hay, đẹp, tốt, lành ; và ý lực bảo vệ dân tộc được xác chứng như một ý muốn cao, sâu, xa, rộng cho một nhân vị vì nhân phẩm làm nên sức mạnh biết giữ nước của dân tộc đó.

Khi bốn mệnh đề trên : nhận thức hiểm họa xâm lược, nội lực đoàn kết, sung lực tập hợp, vững tin vì chính nghĩa thì khi đó công dân của dân tộc này đã thực sự là các chủ thể nắm sự thật của hiểm họa, thấy chân lý của tổ tiên, nên các chủ thể này sẽ thấu lẽ phải của giống nòi, để nghị-thảo luận-quyết định-hành động với não luận, tức là với trí thức luận trong thế liên hoàn của các hệ :

- Thức (kiến thức-tri thức-trí thức-ý thức-nhận thức-tỉnh thức).

- Tự (tự tin-tự chủ-tự trọng-tự do)

- Thông (thông minh-thông thái-thông thạo)

- Đa (đa nguyên-đa tài-đa trí-đa tri-đa dũng-đa năng-đa hiệu)

- Sáng (sáng kiến-sáng tác-sáng tạo)

- Nhân (nhân lộ-nhân đạo-nhân bản-nhân văn-nhân vị-nhân tính -nhân lý-nhân tâm-nhân từ-nhân nghĩa-nhân phẩm)

Hãy vào Não luận như đặt bước vào nhân lộ văn minh vì Việt tộc, biết quý cơ đồ của tổ tiên, biết trọng cơ ngơi của dân tộc, bằng cách thực hiện cho bằng được : công cuộc chuyển hóa não bộ tích cực trong tuyệt đối trong từng cá nhân, từng công dân như đang đặt chân vào quá trình cứu dân, cứu nòi, cứu nước như cứu chính mình, như cứu mọi con dân của Việt tộc.

naoluan2

Tạo não bộ chủ tri bằng tương lai luận nhận thức

Sáng tạo một não bộ của chủ thể có làm chủ tri thức để dựng kiến thức, xây ý thức tạo nhận thức ; từ đó tìm tới một cuộc sống văn minh, một cuộc đời với đầy đủ văn hóa, với các thế hệ mai hậu được sống trọn vẹn với văn hiến của tổ tiên. Kịch bản này hiện nay không có trong con tính của chế độ độc đảng toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam lấy bạo quyền công an trị để nuôi tà quyền tham nhũng trị, lấy ma quyền tham tiền trị để nuôi cực quyền ngu dân trị, lấy cuồng quyền vô học trị để vô hậu hóa cả một dân tộc trước họa ngoại xâm của hệ Tàu (Tàu tặc, Tàu họa, Tàu hoạn, Tàu nạn, Tàu tà).

Tạo một não bộ chủ tri là chấp nhận thử thách một cách sáng suốt để đi tìm một thể chế có thượng nguồn lẫn hạ nguồn dựa trên hệ nhân (nhân đạo - nhân bản - nhân văn - nhân vị - nhân tính - nhân lý - nhân tâm - nhân từ - nhân nghĩa - nhân phẩm. Tạo một não bộ chủ tri là chấp nhận thứ thách một cách tỉnh táo để nhận ra hệ đa (đa tài, đa trí, đa tri, đa dũng, đa năng, đa hiệu) cùng lúc thấy nội chất của đa nguyên để thấu nội tại của đa đảng. Không rơi vào đa nguyên một cách máy móc, không mất nhiều thời gian với đa đảng như các quốc gia vừa có dân chủ đã lẫn lộn tự do dân chủ với phản xạ tự do. Từ đây, bọn cơ hội có dịp trà trộn vào sinh hoạt chính trị cũng như đời sống xã hội để biến thiện chí đóng góp của công dân yêu dân chủ, quý nhân quyền thành tạp chất để gây hỗn loạn xã hội, để bè đảng trục lợi trong quyền lực.

Tạo một não bộ chủ tri là chấp nhận thử thách một cách chỉnh lý để nhận ra hệ thông (thông minh, thông thái, thông thạo),trong đó tiền đề của dân chủ, và định đề của tự do luôn là không gian để hiền tài của dân tộc lèo lái vận mệnh của đất nước bằng tiến bộ của khoa học kỹ thuật, bằng văn minh của giáo dục, bằng sự thăng hoa của truyền thông trong bối cảnh mới của toàn cầu hóa, có cơ đồ của cộng hòa (tự do, công bằng, bác ái), có cơ sở của dân chủ (đa nguyên vì nhân quyền). Các chủ thể của hệ thông (thông minh, thông thái, thông thạo) chính là nội thể của hệ minh (minh quân, minh chủ, minh chúa, minh sư) nhận trách nhiệm thăng hoa dân tộc trên nhân lộ tiến bộ và văn minh, cùng lực bảo đảm từ an ninh xã hội tới an ninh quốc phòng, trong đó trật tự xã hội là gốc, rễ, cội, nguồn của phát triển kinh tế thương mại, tiến bộ khoa học kỹ thuật, với nền giáo dục quốc gia tiên tiến biết dựa lên kinh nghiệm thành công của các quốc gia yêu dân chủ, quý nhân quyền, trọng tiền đồ tổ tiên. Và cụ thể là đã có nhiều quốc gia tự Tây Âu tới Bắc Mỹ, và nhất là các láng giềng cùng nôi tam giáo đồng nguyên với Việt Nam đã thành công : Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapour.

Tạo một não bộ chủ tri biết tiết kiệm thời gian, biết học hỏi tri thức tha nhân đã thành công xuất sắc, đang ở tuyên đầu của toàn cầu hóa từ khoa học tới văn hóa, từ kỹ thuật tới giáo dục. Não bộ chủ tri này bơi ngược giòng mọi chế độ độc đảng toàn trị, đi ngược chiều mọi có chế độc tài đảng trị, vì não bộ này hành động bằng tham gia, hành tác bằng tham dự không chấp nhận bị khuất phục để bị thuần hóa. Một não bộ chủ tri biết chọn lựa tự do để đấu tranh vì công bằng để thăng hoa bác ái, trong chọn lựa một công dân có quyền đeo đuổi một đam mê và một chế độ chính trị thông minh có chủ tri là chế độ có định chế và cơ chế để công dân này thực hiện được đam mê, ước mơ, hoài bảo của mình. Rộng hơn nữa, một công dân có quyền đeo đuổi nhiều đam mê để đa nguyên hóa chính tương lai của mình, trong đó có đam mê phụng sự khoa học, có ước mơ được hành động trong thiện nguyện, có hoài bảo vừa đóng góp cho đất nước và dân tộc, lại vừa tham gia vào các tiến trình văn minh của nhân loại.

Tạo một não bộ chủ tri cho chính mình vì mình và vì tha nhân, trong đó có các giá trị tâm linh song hành cùng lý tưởng vì một nhân loại trong nhân sinh với đầy đủ nhân phẩm. Tạo một não bộ chủ tri không hề là hành động ích kỷ để vụ lợi, vị kỷ để vụ quyền, mà là tạo một nhận thức trong đó lý tưởng làm hay, đẹp, tốt, lành nhân bản là một nhận thức mở, luôn luôn mở để tiếp đón các giá trị thiêng liêng làm cao, sâu, xa, rộng nhân quyền. Tạo một não bộ chủ tri cụ thể là tạo một não bộ luôn ở tuổi thanh niên (dù hiện nay ta đang ở bất cứ tuổi nào trong thực tế) để có đầy đủ nhận thức mà chọn lựa những chân trời sáng, một tương lai sạch, một nhân kiếp đẹp. Tạo một não bộ chủ tri là tạo một tư duy có đường đi nước bước trong tự do, một tự do luôn có dự án tốt trước mắt mà không bị một bạo quyền độc đảng toàn trị nào vùi dập, một tự chủ luôn có phương án lành trước mặt mà không sợ một tà quyền tham nhũng nào nào lũng đoạn. Tạo một não bộ chủ tri là tạo một não bộ có chủ kiến trong cơ chế chính trị, có chủ đoán trong sinh hoạt xã hội, có chủ quyết trong sản

xuất vì kinh tế tích cực biết tham gia thiết thực vào nhân quyền từ vật chất tới giáo dục. Tại đây, tạo một não bộ chủ tri là quá trình sáng tạo rồi tạo dựng qua năm giai đoạn :

- Chống tha hóa tự nhân cách tới nhân phẩm, dù nó tới từ bất công, hủ lậu, hay từ bạo quyền độc đảng hoặc tà quyền toàn trị…

- Tự tôn trọng như tự tính biết đấu tranh vì tự do của mình và tự do của tha nhân, tự tôn trọng mình như tự tôn trọng các lý tưởng chính đáng, các hoài bảo chỉnh lý, các ước mơ có giá trị của nhân bản…

- Ý thức biết tự tồn tại trong cô độc để bảo vệ các giá trị đạo đức, một ý thức tự biết phấn đấu trong cô đơn để bảo vệ các giá trị thiêng liêng, cùng lúc biết tiếp, đón, nhận các giá trị cùng sự trợ lực của tha nhân, của cộng động, của xã hội để cùng đồng bào, đồng loại vươn tới các giá trị phổ quát.

- Nhận thức đặc thù mình là một cá nhân độc nhất, và sẽ đóng góp cho tương lai của chính mình cũng như cho dân tộc và nhân loại những thành quả tới từ đặc tính của mình, như sản phẩm đặc sắc tới từ tự giác của chính mình.

- Tỉnh thức là mình có thể hành động không giống như đã đi trước rồi bắt mình làm theo, tỉnh thức sâu sắc hơn nữa là mình có thể hành tác ngoài các ước lệ mà kẻ quyền cao chức rộng, quen thói cả vú lấp miệng em bắt mình làm theo ý kẻ ấy.

naoluan3 (2)

Xóa não trạng bị trị bằng tương lai học nhận thức

Chuyển hóa não bộ, để thay đời đổi kiếp theo hướng thăng hoa, tìm nhân lộ văn minh mà đi tới nhận nhân phẩm. Chuyển biến não trạng để cởi bỏ mọi phản ứng khuất phục của những con người bị bạo quyền thuần hóa, sống trong sợ sệt với phản xạ cúi đầu-khom lưng-khoanh tay-quỳ gối, chấp nhận bất công như cam chịu một nhân kiếp không nhân phẩm. Chuyển biến não trạng như quyết tâm rũ, cởi, buông, bỏ những cái xấu, tồi, tục, dở, để tiếp, đón, nhận, cầm kết quả của chuyển hóa não bộ, đang mang tới cho mỗi người những cái hay, đẹp, tốt, lành để dựng lại nhân phẩm. Và chuyển hóa não bộ, luôn dựng trên một quá trình của hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận) trên những dữ kiện được xác chứng, những chứng từ được xác minh, đây là quá trình khách quan hóa từ dữ kiện tới chứng từ trên lộ trình đi tìm sự thật và chân lý.

Tương lai học sử dụng, vận dụng, tận dụng những dữ kiện được xác chứng, những chứng từ được xác minh, để xây dựng dự kiến trên dữ kiện, dự báo trên chứng từ, từ đó đưa ra những kịch bản, những đề án giúp nhân sinh nhận ra tương lai gần, tương lai xa trên cơ sở của hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức) cụ thể là giúp nhân sinh tỉnh thức ! Tương lai học không làm chuyện tiên tri đoán liều, với tri đoán mò, ngược lại tương lai học dựa trên sự vận hành của : khoa học luận trong tương quan giữa hằng số, hàm số, ẩn số trong lý luận và lập luận của khoa học nhân văn và xã hội :

- Hằng số của dữ kiện và chứng từ được lập đi lập lại thường trực trong sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội, đời sống xã hội, được và bị chính trị, kinh tế, văn hóa giáo dục… tác động thường xuyên.

- Hàm số của dữ kiện và chứng từ được xuất hiện qua mật độ, cường độ, với sự vận hành của xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa giáo dục… tác động thường trực.

- Ẩn số trong các phương trình xã hội, kinh tế, văn hóa giáo dục…mà không quên chính trị, quân sự, ngoại giao, với các hành vi được che giấu, các hành động bị lấp liếm, các hành tác cất kín nơi mà quyền lực và quyền lợi là một để ẩn kín các toan tính của kẻ nắm quyền.

- Phương pháp luận trong tương quan giữa bối cảnh, hoàn cảnh, thực cảnh trong phân tích và giải thích của khoa học nhân văn và xã hội :

- Bối cảnh xã hội được cấu trúc bằng các môi trường giáo dục, văn hóa, với vai trò chủ đạo của các sinh hoạt kinh tế, thương mại, nơi mà đời sống xã hội được định chế chính trị và cơ chế hành chính định hình qua quan hệ xã hội. Ngay trong bối cảnh xã hội đã có sự phân cấp các thành phần xã hội, rồi sự phân từng xã hội sẽ để lộ ra sự giàu nghèo, với các thành phần nào được ưu đãi, thành phần nào bị ngược đãi.

- Hoàn cảnh xã hội tùy thuộc vào sự vận hành thành công hay thất bại của cơ chế chính trị, tổ chức kinh tế, hệ thống giáo dục, sinh hoạt văn hóa… Ngay trong hoàn cảnh đã có sự hiện diện của bất công, của bất bình đẳng nếu cơ sở của cộng hòa (tự do, công bằng, bác ái) không song hành cùng định chế dân chủ (tự do đầu phiếu trong tổ chức đa nguyên).

- Thực cảnh xã hội chỉ ra mặt nổi lẫn mặt chìm của một tổ chức xã hội trong đó giai cấp hoặc thành phần thống trị có những đặc quyền, đặc lợi, đặc ân đi trên lưng dân tộc, đi trên vai xã hội, kẻ cả đi trên đầu luật pháp. Tái sản xuất công khai hay lén lút các thực cảnh để tái tạo các đặc quyền, đặc lợi, đặc ân, là trực tiếp tái sản xuất bất bình đẳng, cụ thể là tái sản xuất bất công, rõ ràng hơn là tái tạo bạo quyền, tà quyền, ma quyền đi ngược lại tiến bộ của đất nước, văn minh của dân tộc.

Khoa học luận trong tương quan giữa hằng số, hàm số, ẩn số trong lý luận và lập luận được phối hợp với phương pháp luận trong tương quan giữa bối cảnh, hoàn cảnh, thực cảnh trong phân tích và giải thích, thì sự xuất hiện của tương lai luận nhân tri với các định đề có chỗ dựa là các kết luận đã được khách quan hóa trong học thuật, nghiên cứu, khảo sát, điều tra, điền dã của các chuyên ngành khoa học xã hội nhân văn. Các định đề của tương lai luận nhân tri sẽ là nền cho các định luận của tương lai học nhân trí, tuân thủ các kết quả có cội rể của :

- Khoa học lịch sử, nơi mà mọi dữ kiện của nhân sinh đều được định vị chính xác qua không gian và thời gian.

- Khoa học bối cảnh, trong sự phối hợp để phối kiểm toàn diện trên sự tương quan giữa bối cảnh, hoàn cảnh và thực cảnh.

- Khoa học so sánh, các dữ kiện của nhân sinh đều có thể so sánh được trên căn bản của lịch sử và bối cảnh, trên cơ sở của định lượng và định chất, ngay cả trên quan hệ giữa văn hóa, văn minh, văn hiến giữa các sắc tộc, dân tộc.

- Khoa học tổng quan, khi các dữ kiện của nhân sinh đã được so sánh thì phân tích cùng giải thích tổng quan sẽ được vận hành để vừa thấy được các trường hợp cụ thể, riêng rẽ, cùng lúc nhận ra các khuynh hướng từ đa số tới thiểu số để rút ra những kết luận tổng quát.

Khi bốn hành tác khoa học này được vận hành thì từ định đề tới định luận, phân tích và giải thích sẽ đưa ra các kết quả để định giải các chủ đề của tương lai học.

Lê Hữu Khóa

(01/11/2020)

---------------------


lhk0 Lê Hữu Khóa

Giáo sư Đại học Lille

Giám đốc Anthropol-Asie

Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á

Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCOLiên Hiệp Quốc

Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa Paris

Thành viên hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Đông Nam Á

Hội viên danh dự ban Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới.

Các công trình nghiên cứu việt nam học của giáo sư Lê Hữu Khóa, bạn đọc có thể đọc và tải qua Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-trang thầy Khóa.

Quay lại trang chủ

Additional Info

  • Author: Lê Hữu Khóa
Read 123 times

Viết bình luận

Phải xác tín nội dung bài viết đáp ứng tất cả những yêu cầu của thông tin được đánh dấu bằng ký hiệu (*)