Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

lundi, 12 avril 2021 22:59

Giải luận 4 : Niềm tin

Niềm tin

 

niemtin1

 

Tâm hồn… Niềm tin… Linh thiêng

Chúng ta là chủ mảnh đất tâm hồn của chúng ta. Chúng ta phải vừa là kẻ canh tác, vừa là kẻ canh gác mảnh đất hồn để gặt cho bằng được mùa màng tâm. Vì chung quanh ta bạo quyền độc đảng sẽ gửi công an, cảnh sát tới tấn công mảnh đất này giữa đêm, giữa giấc ngủ... Tất cả hãy thức, không ngủ để giữ đất... giữ hồn... giữ tâm... giữ đời... giữ người. Chúng ta là chủ ngôi nhà linh hồn của chúng ta. Chúng ta phải vừa là kẻ gác nhà, vừa là kẻ canh cổng ngôi nhà linh này để giữ cho bằng được bàn thờ thiêng của tổ tiên. Vì chung quanh tà quyền tham ô sẽ gửi côn đồ, du côn, lưu manh của xã hội đen tới đốt nhà, phá bàn thờ tổ tiên giữa ban ngày, ban nhật. Tất cả hãy sẵn sàng giữ cổng... giữ nhà… giữ cho bằng được bàn thờ tổ tiên Việt. Mảnh đất tâm hồn của chúng ta là địa phận bất diệt của niềm tin... Ngôi nhà linh hồn của chúng ta là địa nhân bất hoại của tâm linh...

Nước mắt

Từ khi được sinh ra cho tới chết, tôi chỉ là : giọt nước mắt !

Giọt nước mắt tôi suốt kiếp cứ đi tìm những giọt nước mắt khác ướt nỗi khổ niềm đau, ẩm nổi niềm nạn nhân.

Những giọt nước mắt khi gặp nhau như suối nguồn cúi đầu theo rạch, sông buồn oằn thân ra biển. Giọt nước mắt tôi không bật thành tiếng khóc vì tôi không phải là nạn nhận, tôi chỉ nghẹn vì nạn nhân, nghẹn nên không sao nấc thành tiếng khóc. Có khi giọt nước mắt tôi muốn gần với tiếng cười, với nhân diện của tôi miệng cười méo xệch, khi tôi gẩn kề với các nạn nhân, tôi van họ : "sống vui để vui sống nhé !".

Ngữ

Tôi muốn là thi sĩ của một quốc ngữ ấu thơ thương người, yêu đời, không bao giờ kêu gào chém giết để huynh đệ phải tương tàn.

Tôi muốn là văn sĩ của một ngoại ngữ âu lo khuyên người, van đời, không bao giờ để tha nhân thế chiến cùng tha nhân.

Tôi muốn là luận sĩ của một đồng ngữ chăm lo người, nâng niu đời, với ái ngữ chung lưng đấu cật với mỹ ngôn để dìu nhân tâm tới gặp nhân từ mà tâm giao trong đắc khí.

Hình như

Hình như nếu chúng ta đào xới sâu trong mây, chúng ta sẽ thấy bao nấm mồ vô danh dân mình đã chết oan uổng vì bạo quyền.

Hình như nếu chúng ta cào bới sâu trong gió, chúng ta sẽ nghe được bao tiếng nức nở của đồng bào mình giờ đã là oan hồn đang ôm nhau khóc suốt ngày đêm.

Hình như nếu chúng ta nạo suốt sâu vào bụng trời, chúng ta sẽ thấy tổ tiên Việt đang ngồi đấy đợi chúng ta để chỉ hỏi ta một câu : "Bao giờ các con vùng dậy, đứng lên để lật sập bạo quyền ?".

niemtin2

Cấm tiếng Việt

Bạo quyền độc đảng toàn trị cấm tôi đọc tiếng Việt, vì chúng giành độc quyền để điếm nhục hóa tiếng Việt.

Tà quyền độc đảng hoạn trị cấm tôi viết tiếng Việt, vì chúng muốn độc tài để trần truồng hóa tiếng Việt.

Ma quyền độc đảng cuồng trị cấm tôi hiểu tiếng Việt, vì chúng giành độc tôn để ghẻ lạnh hóa tiếng Việt.

Nhưng tôi vẫn lẳng lặng viết di chúc ngày đêm bằng tiếng Việt vì tổ tiên Việt của tôi.

Niềm tin vào sự sống

Khi chúng ta phải đối mặt chạm trán với cái ác trực tiếp hay gian tiếp đe dọa sự sống, hãm hại mạng sống của chúng ta ; thì câu trả lời có trong chân trời của niềm tin. Niềm tin có trong mỗi chúng ta, đó chính là giá trị tinh thần và tâm linh cao quý nhất, tên của nó là : niềm tin vào sự sống. Bảo vệ bằng được sự sống, bằng cách đứng về phía sự sống, mà vạch mặt chỉ tên cái phản diện của nó là cái chết, đứa con chính tông của cái ác. Niềm tin vào sự sống không hề là loại niềm tin đơn lẻ của cá nhân, đơn độc của một thành phần trong xã hội, đơn côi của người trí thức có kiến thức lý thuyết về cái ác. Mà niềm tin này vượt cá nhân, mạnh hơn cá thể vì nó hướng sự sống về phía quan hệ giữa và người, niềm tin này cô độc trong não bộ của người, nó ra ngoài bằng khả năng đấu tranh để sống còn, tìm mọi cách gạt bỏ sự đe dọa của cái chết. Cụ thể là đấu tranh để được sống chung và sống cùng với tha nhân, với đồng loại, nó có từ phản xạ cảm nhận của đứa trẻ thơ luôn tìm mẹ để được nuôi nấng, rồi để được bảo vệ trước mọi cái ác có thể ập tới khi nó chưa đủ lông, đủ cánh để tự bảo vệ.

Nhận tha nhân để chống toàn trị

Tha nhân là kẻ khác đang đối diện với ta, và chỉ qua khuôn mặt của tha nhân ta khám phá từ nhân sinh tới nhân tính, tự nhân tâm tới nhân nghĩa, từ nhân tri tới nhân phẩm. Chỉ có khuôn mặt của tha nhân ta cũng khám phá luôn từ niềm vui tới nỗi khổ trong nhân thế. Khuôn mặt của tha nhân không phải là chuyện lý thuyết của triết học, mà nó nói lên nội tâm của mỗi chúng ta. Như vậy, ta sẽ thấy kiếp của ta trên khuôn mặt của tha nhân, những kẻ sống quanh ta, sống chung với ta trong cùng điều kiện làm người với ta, vừa tổng thể nhất, vừa vô biên nhất. Chúng ta cứ tưởng chúng ta sống trong một tổng thể đã được xã hội xếp đặt và xếp gọn, đã được lịch sử xếp lớp và xếp hạng, trong kiếp này hay trong kiếp khác, chính vì hiểu sai như vậy nên chủ nghĩa toàn trị mới có cơ ngơi phát triển, mới đưa kiếp ta vào khung, vào rọ, vào hầm, vào chiến tuyến, vào địa đạo, vào tù rạc. Vô biên (infini) thì ngược lại, không lãnh thổ, nên không biên giới, đó chính là tự do của chúng ta, một tự do đầy bí mật, giúp ta khám phá ra công bằng rồi bác ái, đưa ta từ nhân quyền qua dân chủ.

Sáng kiếp

Sống trong cuộc sống để lấy mọi tinh hoa của chất sống, vì trong chất sống (vừa là danh từ đời sống, vừa là động từ sống) có mọi thực tế, thực tiễn để làm thực nghiệm cho nhân sinh, nhân tri, nhân trí, phạm trù sống sẽ sinh động, chủ động, náo động hơn phạm trù chủ thể trong triết học phương Tây, lấy cái tôi ra để lập nhân sinh quan tưởng rộng nhưng thật sự là hẹp, lấy cái tôi ra để xây vũ trụ quan tưởng là cao, nhưng càng cao thì càng đụng tới thượng đế, rồi phải lấy thượng đế, tức là tôn giáo ra để làm đường đi nẻo về cho cái tôi, đây là một loại ngõ cụt. Vậy muốn đổi kiếp phải biết biệt kiếp, đi ra ngoài, cách cho xa, ở giữa để sống cho sáng kiếp.

Thể lực của niềm tin

Sự thật dưới quyền lực, có ba lối đi, mỗi lối đi đưa ra một lý luận rất khác nhau để đi tìm sự thật. Lối đi thứ nhất có niềm tin tuyệt đối vào thượng đế cha đẻ của muôn loài, nhưng không phải vì vậy mà không biết làm giàu một cách khách quan trên minh lộ đi tìm sự thật, nơi mà sự thật được tìm ra bởi thiện ý như là một ý chí muốn nhập nội vào sự thật để hiểu tới nơi tới chốn sự thật. Tại đây, khi ý chí dựa vào thiện ý đã trở thành ý lực thì ý lực này chính là thể lực của niềm tin, và cái tin này cũng là bước đầu của trí tuệ, giúp ta khởi hành trên lộ trình đi tìm ra cái lý để hiểu cái thật. Cả hai cái tin, cái lý sẽ tìm ra cái thật, nơi mà cái tin chọn cái lý để tạo nền tảng cho cái đón để cái thật được tới.

niemtin3

Sự thật ngoài khuôn niềm tin

Các thực trang của xã hội mà con người đang sống, phải đặt sự thật vào giữa tri thức và quyền lực, và sự thật luôn bị chi phối bởi hai cực này, vì sự thật không vô tư và không vô điều kiện, vì cả hai tri thức và quyền lực đều không vô điều kiện. Chúng ta phải biết chống lại quá trình của niềm tin khi nó đi tìm sự thật, vì sự thật nằm giữa kiến thức và lòng tin, thì người ta tưởng là người ta nắm được sự thật, nhưng thật ra là người ta bắt sự thật phải vào khuôn của niềm tin. Mà trên nguyên tắc khách quan của khoa học thì niềm tin phải theo sự thật, chớ không phải ngược lại là sự thật phải theo niềm tin.

Phải nói thật và phải thật khi nói

Sự xuất hiện của sự thật, bó buộc một chủ thể có lương tri vì có lương tâm trong hành động và có lương thiện trong lý luận, đưa chủ thể đó về hướng phải nói thật và phải thật khi nói, mặc dù có thể bị xử bởi bạo quyền lãnh đạo, bị ám hại bởi tà quyền tham quan, bị trừng phạt bởi ma quyền tham tiền. Khi nói thật để bảo vệ sự thật như chân lý để đi tìm lẽ phải, thì sự thật chính là tiền đề của đạo lý biết sống bằng hay, đẹp, tốt, lành, của luân lý làm nên điều hay lẽ phải trong trách nhiệm và bổn phận của một công dân.

Cá thể thực sự thành chủ thể

Tự tin xây lên tự do là trụ cột của hệ cá (cá nhân, cá thể, cá tính), tại đây tự do nâng hệ tới hệ chủ (chủ động, chủ đạo, chủ quyền) để cá thể thực sự thành chủ thể, sống có trách nhiệm với tập thể, hành động có bổn phận với cộng đồng, tiến thân trong đạo đức với xã hội. Và chủ thể đó không ngừng có sáng kiến với dân tộc, có sáng tạo vì đất nước, chính tự do là định chất của mọi định nghĩa về chủ thể sáng tạo trong mọi xã hội có văn minh, quý dân chủ, trọng nhân quyền. Cụ thể là khi chúng ta giảng trong các đại học công lập hoặc dân lập tại Việt Nam, thì cuối giảng đường là đám công an văn hóa ngồi chực, canh, núp, rình, để nghe ta nói gì với sinh viên và đồng nghiệp những điều gì mà còn về báo cáo với bạo quyền độc đảng công an trị.

Tự tin làm nên niềm tin

Chính tự tin làm nên niềm tin vì tự do sẽ giúp ta chuyển hóa não trạng để thay đổi giáo khoa vì sự thật khoa học biết làm nên lẽ phải trong đạo lý. Ta phải giảng như bơi ngược chiều để chống lại cái não trạng vô minh của tuyên truyền trị, vì ta muốn trao gởi những thông điệp của chân lý khoa học khách quan, để não bộ của sinh viên, của đồng nghiệp được mới, để não trạng của họ được sạch hóa. Để thầy trò cùng nhau đi từ kiến thức tới tri thức để đối kháng lại với ngu dân trị của bạo quyền vô tri. Cũng để đi tiếp thêm một bước nữa từ ý thức tới nhận thức để chống đối vô minh trị của cực quyền, vô tri trị của cuồng quyền, chóng chầy sẽ dẫn dân tộc và giống nòi tới vô học trị, đây chính là vực thẳm của vô hậu trị. Lõi tự tin làm nên lực tự do, nếu muốn vừa vững, vừa bền thì liên minh tự tin-tự do phải dựa vào không gian của hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức).

Tự tin để nắm lấy tự do

Tự tin để nắm lấy tự do chính là nguồn của hệ sáng (sáng kiến, sáng lập, sáng tạo) trong đó tự do sáng tạo của cá nhân là dàn phóng cho tự do tập thể, là dàn nhún cho tự do cộng đồng, để đưa xã hội vào quỹ đạo trong cá nhân sẽ là động cơ của dân tộc, là động lực của đất nước. Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam độc đảng trong vô minh, độc quyền trong vô tri, độc tài trong vô học, rồi độc tôn trong vô hậu, thì làm sao có chủ trương về hệ sáng (sáng kiến, sáng lập, sáng tạo) như các lãnh đạo của các quốc gia láng giềng : Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapour, cũng cùng nôi tam giáo đồng nguyên với Việt Nam

Tự tin là rễ của tự do

Tự tin là rễ của tự do, khi tự tin là phải ngẩng đầu mà không cúi đầu nữa, phải thẳng lưng mà không khom lưng nữa, là phải cứng cườm tay mà không khoanh tay nữa, mà phải đứng lên để đi tới và không chấp nhận quỳ gối nữa. Tự tin đứng dậy để đi về phía nhân vị mà nhận nhân phẩm, thì tự tin là nội lực làm thay đổi não trạng nô lệ, nô bộc, nô dịch ; có tự tin vùng lên mà chặt xiềng, mới có não bộ tự do để giải phóng chính nhân kiếp của mình, mà đi về phía chân trời của nhân quyền, để nhân bản được thăng hoa.

Tự tin đứng lên chặt xiềng

Không có tự do sẽ không có nhân quyềndân chủ, cụ thể là sẽ không có công bằngbác ái để có tam quyền phân lập : lập pháp, hành pháp, tư pháp, không có tự do sẽ không có một xã hội dân sự văn minh. Tự tin đứng lên chặt xiềng để chế tác ra tự do biết tự giải phóng chính nhân kiếp của mình, thì tự tin được vận hành trong ý nguyện của hệ công (công bằng, công lý, công pháp) trong đó công tâm không hề rời đạo lý và luân lý để tự do cá nhân không bị bóp, xiết, ngăn, chặn bởi bạo quyền độc đảng, tà quyền tham nhũng, ma quyền tham tiền, quỷ quyền ngu dân trị… Không nên ngừng ở quan niệm tự tin chỉ là rễ của tự do, mà hãy đi thêm bước nữa để thấy tự tin là nội lực để tự do có hùng lực mà đòi hỏi công bằng, mà đấu tranh vì công lý. Nơi đây, tự tin chính là nội công tự biết sạch hóa não bộ, trong lành hóa não trạng để đi tới mà tiếp nhận những vùng ánh sáng mới của tri thức, nơi mà tự do mở ra hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức), hợp lưu của ý thức, nhận thức, tâm thức. Tự tin đi tìm tự do chính là nội lực làm thăng hoa cá nhân, làm thăng tiến tập thể, không có tự do thì tập thể chỉ là khuôn khép, cộng đồng chỉ là khung kín, và xã hội chỉ là nhà tù không quản giáo.

niemtin4

Có tự do để tự chọn cho mình một chân trời

Tự tin vào một nhân lộ văn minh luôn biết lấy tự do của cá nhân, của tập thể, của cộng đồng, của nhân loại làm mấu chốt cho hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận) để làm cao, sâu, xa, rộng hệ nhân (nhân tri, nhân trí, nhân văn). Tự tin khi mình trực diện đấu tranh chống hệ tham (tham quan, tham quyền, tham chức, tham ô, tham nhũng, tham tiền) khi dân tộc đã bị tước đi quyền tự do bầu cử để chọn người tài phục vụ đất nước, tự do biểu tình trước vô số các bất công trong xã hội hiện nay. Tự tin vào tự do là trụ cột của cộng hòa có công bằng và bác ái, sẽ đưa tự tin tới gặp dân chủ, để khám phá thêm hai định luận làm nên hai đạo đức cho nhân sinh, đó là đa nguyên vì nhân quyền. Khi có tự do để tự chọn cho mình một tương lai, một chân trời không có tham quan bất tài, không có tham nhũng vô nhân, làm quỵ kiệt mọi tiềm năng phát triển của Việt tộc. Từ đây một tự tin mới sẽ ra đời, đó là sự tự tin diệt bọn "sâu dân, mọt nước", đám "phản dân hại nước","buôn dân bán nước","mại quốc cầu vinh" đang lúc nhúc như sâu, như mọt trong mạng lưới quan hệ-tiền tệ-hậu duệ-đồ đệ, đã và đang ngày ngày điếm nhục hoa trí tuệ, ô uế hóa mọi nguyên khí của quốc gia.

Tự tin vì tự do

Tự tin vào tự do là vốn liếng, mà cũng là kháng thể để chống hệ độc (độc đảng, độc tài, độc tôn, độc trị) đang truy diệt nội công Việt tộc, đang vùi lấp nội lực trí thức, đang thủ tiêu sung lực thanh niên, đang bóp nghẹt mãnh lực của toàn dân trên nhân lộ tiến bộ vì văn minh... Một hệ độc rất độc đoán trong độc hại đang giết lần, giết mòn mọi sinh lực xã hội, đang thiêu hủy tiền đồ của tổ tiên. Hãy xác chứng tự tin vì tự do để vĩnh viễn gạt hệ độc đang trù ếm tương lai của giống nòi này ! Một công hai việc, hãy tự tin vào nhân vị chính là sung lực để chống hệ xâm (xâm lấn, xâm lược, xâm chiếm) của bọn Tàu tặc, đám lãnh đạo Bắc Kinh, với ý đồ muôn thuở xâm lăng để đồng hóa Việt tộc. Hãy tự tin để bảo trì chủ quyền, tự tin để bảo đảm độc lập, tự tin để bảo quản đất nước. Có tự tin để chuẩn bị thật tỉnh táo trong sáng suốt trước bọn Tàu tặc chỉ biết luật rừng của kẻ mạnh là trộm, cắp, cướp, giật.

Tự tin tạo sáng kiến

Khi có tự tin tạo sáng kiến vì tập thể, cộng đồng, dân tộc, thì sẽ có tự do sáng tạo để kích thích văn hóa mở cửa để đón các văn hóa khác, thôi thúc văn minh của dân tộc hội nhập vào văn minh của thế giới, đón chào các văn hiến của láng giềng gần xa, cùng nhau xây dựng một nhân văn đáng sống cho nhân loại. Đây là ý chí làm sáng não bộ đang thụ động để làm sạch não trạng đang tiêu cực, sau bao năm, qua bao thế hệ phải nhận lãnh bao tà nạn của ngu dân trị bằng tuyên truyền trị của độc đảng u mê trong độc tài nhưng lại bất tài trong quản lý đất nước, thậm chí đã đưa dân tộc ngày càng xa nhân lộ của tiến bộ vì văn minh.

Tự tin để làm người

Tự tin vào hệ nhân (nhân loại, nhân sinh, nhân tình) với tự do của nhân tri, nhân trí, nhân văn đưa tới những chân trời của nhân đạo, nhân bản, nhân tính, trong đó nhân quyền hỗ trợ cho nhân nghĩa có chỗ đứng xứng đáng trong nhân cách của mỗi cá nhân. Tự tin để làm người một cách liêm sỉ nhất, tự tin để làm chủ cuộc đời mình một cách liêm minh nhất. Hệ liêm (liêm khiết, liêm chính, liêm minh, liêm sỉ) đã thật sự vắng bóng tới biệt dạng từ khi Đảng cộng sản Việt Nam cướp được chính quyền để độc quyền cho tới nay 2020, khi Đảng cộng sản Việt Nam kỷ niệm 90 năm thành lập của họ, thì quá trình độc trị của họ chỉ cho thấy họ là những lãnh đạo không hề biết quản trị đất nước.

Tự chủ vì nhân trí để chống bọn bất tài, bất tín, bất chính, bất lương

Tự chủ vì nhân trí với quyền bảo vệ đồng bào và đồng loại trước độc tài, độc quyền, độc tôn, độc trị, độc đảng đã là gốc, rễ, cội, nguồn của bất tài, bất tín, bất chính, bất lương. Tự chủ vì nhân trí với quyền tự đa năng hóa trong các sinh hoạt chính trị và xã hội, dựa trên đa tài, đa hiệu, đa tri của tha nhân, dựa trên đa nguyên, đa lý, đa đảng vì nhân quyền và dân chủ. Tự chủ vì nhân trí biết bảo vệ môi sinh, trong đó có quyền bảo toàn môi trường sống, như bảo vệ để chính cuộc sống của mình. Chống ô nhiễm môi trường cùng lúc chống ngay trên cấu trúc của các tà quyền, các công nghiệp ngày ngày gây thảm họa môi sinh, đe dọa cả nguồn sống lẫn sự sống của bao thế hệ, với hậu quả khủng khiếp của tập đoàn âm binh khai thác bốc xít tại Tây Nguyên, của Formosa tại Hà Tĩnh, với bao nhà máy nhiệt điện than, bao năm qua đã cấu kết với bọn lãnh đạo âm binh từ trung ương đến địa phương của Đảng cộng sản Việt Nam.

Quyền chọn lựa, quyền quyết định, quyền phán đoán

Tự trọng vừa là quyền chọn lựa, vừa là quyền quyết định để có quyền phán đoán, phán đoán lịch sử để hiểu sử tính, để thấu sử luận để không lặp lại sai lầm về sử quan trong tương lai, phán đoán các chính quyền độc đảng làm chỗ dựa cho độc tài, độc trị, độc tôn, để chọn lựa và quyết định cuộc sống theo hướng đa tài dựa trên đa trí, đa năng, đa hiệu, có cơ sở trong đa nguyên để bảo đảm dân chủ nhân quyền của chúng ta. Từ đây tự trọng vì nhân phẩm còn là quyền hành động, hành động để tha nhân phải tôn trọng nhân phẩm của chúng ta, vì tự trọng vì nhân phẩm biết đi tìm lẽ phải, từ đạo lý qua đạo đức, từ luân lý qua giáo dục, từ kinh nghiệm qua trải nghiệm, mà kẻ đòi tự do cho lẽ phải phải trả giá cho sự liêm chính của mình, mỗi hành vi liêm sỉ, mỗi hành động liêm minh, mỗi hành tác liêm khiết đều có cái giá của nó. Chính lẽ phải đưa công bằng vào công lý, giao pháp lý cho pháp luật.

Tự chủ công nhận công lý

Tự chủ vì nhân trí có thể được cảm nhận bằng cảm xúc, nhưng được tồn tại bằng lý luận, được bền vững qua công pháp, nơi mà pháp luật phải công nhận nhân quyền chính là quyền tự do xóa bất công, khử bạo quyền, loại độc quyền. Với tự chủ công nhận công lý phải được phổ quát qua phong trào, qua đấu tranh, qua hội đoàn, qua xã hội, qua định chế, qua cơ chế... Tự do là năng lực định nghĩa lại trách nhiệm để trách nhiệm có những định đề về công lý phải mới hơn để đúng hơn trong không gian quyền hạn của trách nhiệm chính trị, trong đó trách nhiệm hàng đầu là lãnh đạo phải liêm chính, phải liêm khiết, phải liêm sỉ khi thi hành nhiệm vụ và trách nhiệm.

niemtin5

Phương trình công bằng – công lý – pháp lý – pháp luật

Chính phương trình công bằng-công lý-pháp lý-pháp luật là phương pháp luận hỗ trợ cho định nghĩa về tự trọng vì nhân phẩm. Chúng ta được quyền "rợn người tới lợm giọng" trước bọn quan chức lãnh đạo cao cấp hiện nay của Đảng cộng sản Việt Nam, viết sách rao giảng để rao lận các luận điệu chống tự chuyển biến tư tưởng, để kiên định với ý thức hệ xã hội chủ nghĩa. Nhưng chính chúng là bọn sâu dân mọt nước, đã vơ vét bao tiền của, vàng bạc, đã có quốc tịch ngoại, nhà cửa tại phương Tây, và khi bị lột mặt nạ, trước tòa án thì chúng khóc lóc với não bộ sâu mọt, với não trạng sâu rụt, để nhân dân phải thấy rõ âm dạng sâu mọt của chúng.

Hướng đi lên ngày mai

Tự trọng vì nhân phẩm đón nhận kinh nghiệm tới từ cuộc sống, biến kinh nghiệm thành kiến thức, rồi đưa đạo lý vào tri thức để có ý thức về cuộc đời, có nhận thức giữa sự sống và cái chết, từ đó chọn sự sống trong cái sống đúng rồi biến nó thành cái sống cho đáng. Tự trọng vì nhân phẩm chấp nhận thử thách tới từ các khó khăn mà ta gặp ngay trong cuộc sống, giải quyết các khó khăn, bằng lòng tự trọng của chính mình, tự chọn lựa cách giải quyết tới quyết định các phương tiện để vượt thoát (và vượt thắng) các khó khăn. Tự trọng vì nhân phẩm chấp nhận thăng trầm, chấp nhận nghèo khổ nhưng luôn phấn đấu để vươn lên, tiết kiệm để lập vốn, cáng đáng trong cần lao để phát triển, để làm cho bằng được chuyện thay đời đổi kiếp theo hướng đi lên ngày mai phải đẹp hơn, hay hơn, tốt hơn, lành hơn hôm nay.

Bất tuân dân sự !

Tự trọng vì nhân phẩm có thế đứng và thế đi, có hành động và hành tác trong qua nội hàm của chủ thể luôn có ý thức, một ý thức tới từ tha nhân, tới từ lịch sự, tới từ xã hội, tới từ dạo lý… Một ý thức về kinh nghiệm trong thực tế và biết chống lại tất cả phản xạ vô điều kiện của loại não bộ ích kỷ, của kiểu não trạng thụ động trong đời sống xã hội, trong sinh hoạt xã hội, trong quan hệ xã hội. Những phản xạ khuất phục trước bạo quyền độc đảng toàn trị là nhắm mắt-cúi đầu-khom lưng-khoanh tay-quỳ gối đều đáng chê, đáng khinh, đáng ghét, đáng bỏ, kể cả chuyện loại bỏ não trạng máy móc hóa ngôn ngữ : thưa, bẩm, dạ, vâng trước các tầng lớp lãnh đạo đang bóc lột, đang bòn rút, đang tha hóa đạo đức xã hội, đang đi trên lưng, trên vai, trên đầu nhân dân. Tự trọng vì nhân phẩm là nền, móng, cột, trụ cho bất tuân dân sự, trong các quốc gia có văn minh dân chủ, có văn hiến nhân quyền, cụ thể là biết tự chuyển hóa não bộ, tự chuyển biến não trạng nếu cuộc đời bị đe dọa, nếu cuộc sống bị tha hóa.

Chuyện sống chung là chuyện mong muốn

Tự trọng vì nhân phẩm luôn được cụ thể hóa qua ba nội hàm, gầy dựng lên nội chất, đúc kết ra nội dung của tự do : ý thức hiện hữu (có mặt trong cuộc sống, lấy tự do để định hướng nhân sinh quan). Với ý thức chủ thể (có mặt giữa cuộc đời, lấy tự do để định vị thế giới quan) ; cùng ý thức lý tưởng (có mặt trong thế sự với lý tưởng của đạo lý hay, đẹp, tốt, lành) cho mình, cho mọi người ; để chuyện sống chung trong xã hội là chuyện mong muốn, chớ không phải là chuyện cam chịu. Tự trọng vì nhân phẩm trao tặng cho ta một uy quyền biết rời bỏ những bữa tiệc trà dư tửu hậu của bọn trọc phú, chỉ biết ăn tục nói phét, tự điếm nhục hóa lời ăn tiếng nói của chúng, làm ta "rợn óc tới lợm giọng". Vì bên đường, ngoài phố thì dân lành bị phá nhà, cướp đất, giờ đã thành dân oan trong cảnh màn trời chiếu đất, đang lầm than cùng dân đen trong cảnh đầu đường xó chợ. Tự trọng vì nhân phẩm có ngay trong nhân dạng với ý lực của nhân cách là không nhượng bộ những điều xấu, tồi, tục, dở có gốc, rễ, cội, nguồn của đặc quyền ác, đặc ân độc, đặc lợi hiểm

Chốn âm phủ của quan hệ-hậu duệ-tiền tệ-đồ đệ

Tự trọng vì nhân phẩm có ngay trong chuyện chuyển hóa não bộ, chuyển biến não trạng với nhận thức ra là mỗi công dân đều được đổi vị trí xã hội của mình trong cuộc sống, trong xã hội, cùng lúc đổi luôn số kiếp của tập thể, số phận của cộng đồng theo hướng tiến bộ vì văn minh, trước một hệ thống ý thức hệ dựa vào bạo quyền độc đảng toàn trị. Tự trọng vì nhân phẩm có mặt trong đấu tranh vì công bằng xã hội, chống lại chuyện"con vua thì được làm vua", với bi hài kịch "thái tử đảng" đẻ ra từ những quái thai vô tài bất tướng từ các "hạt giống đỏ", được tái sản xuất theo kiểu cha truyền con nối. Theo thể loại "con quan thì được làm quan", gây một thảm kịch cho cả dân tộc :"cả họ làm quan", rồi cho ra đời một quái vật ma hình quỷ tướng trong thể loại dây mơ rễ má chốn âm phủ là quan hệ-hậu duệ-tiền tệ-đồ đệ, ngày đêm rình rập để tiêu diệt mọi trí tuệ, mọi tuệ giác tới từ các nguyên khí chân chính của quốc gia, của Việt tộc.

Thay đời đổ kiếp theo hướng thiện

Tự do vì nhân quyền là sự phối hợp giữa tự tin của tư duy và độc lập lý luận, không thờ ơ trước bất công, mà chọn lựa hành động để thay đổi thực tế không được chính nghĩa của tự do chấp nhận nữa. Tự do vì nhân quyền là thử thách chống lại sự thờ ơ, lãnh đạm, vô cảm, có thể tới từ thái độ biếng lười của tư duy, chưa được trang bị ý chí làm thay đổi tình hình do bạo quyền làm ra. Tự do vì nhân quyền vừa là quyền hạn, vừa là khả năng của ta, để ảnh hưởng thẳng tới cuộc sống, nên tự do chỉ tùy thuộc ta ngay trong tính khả thi muốn thay đời đổi kiếp theo hướng thiện. Tự do vì nhân quyền đi theo cái đúng, để làm nên cái tốt, đó là khả năng của tự do chế tác ra các quy định mới thuận lợi cho công bằng và bác ái trong không gian chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục. Tự do vì nhân quyền có không gian của đạo lý và luân lý, có khung đạo đức của xã hội, trong lòng tin trước pháp lý của pháp luật vì công lý của công bằng. Tự do vì nhân quyền chỉ của một người, một nhóm, một bè, một phái, một đảng là loại tự do sớm nở tối tàn trước nhân lý, chỉ là loại tự do sống nay chết mai trước nhân phẩm.

niemtin6

Chung-sống-để-sống-chung

Đồng bào, như một sự khởi hành cùng nhau, cùng lúc của trăm con cùng mẹ, cùng cha, biết chung sống để sống chung, dù trong cuộc sống có sinh ly, đó là lúc 50 con phải lên phía rừng, 50 con kia đi về phía biển. Câu chuyện chung-sống-để-sống-chung trên quê mẹ đất cha có nội công của sống-vui-để-vui-sống. Không một ai coi hai chữ đồng bào là một loại nhà tù, nhà giam, mà ngược lại, hai chữ đồng bào là sự xuất hiện liên kết của hai phạm trù ngày càng xích lại gần nhau hơn : chung và vui, để làm nên chung-vui. Nhưng chúng ta cũng có những con dân Việt bực, giận, trách, than về dân Việt (dân mình ngu, dân mình dại, dân mình khờ, dân mình không khôn, dân mình không thông minh), tại đây cũng có ít nhất hai loại người. Loại thứ nhất bực, giận, trách, than về dân Việt nhưng không bao giờ bỏ, gạt, xóa, đuổi đồng bào, giận mà thương, trách đồng bào mà nước mắt cứ rơi, buồn nhưng không bỏ. Loại thứ nhì bực, giận, trách, than về dân Việt với giọng điệu khinh mạt, với lời lẽ phỉ báng, họ sẵn sàng bỏ, gạt, xóa, đuổi đồng bào, xé lẻ để chơi riêng, tách ra để dễ chuồn khi đồng bào bị lâm nạn, loại này không phải là đồng bào. Vì chính chúng không xem dân tộc là đồng bào, vì chính chúng đã vô tâm nên vô thức, chúng đã vong quốc nên vong thân từ lâu rồi !

Đòi hỏi công bằng bằng công lý, tự do bằng dân chủ, bác ái bằng nhân quyền

Khi kết hợp chính trị học tri thức, xã hội học quyền lực, sử học về phong trào xã hội, tâm lý học quần chúng thì chỉ cần từ 5% tới 10% dân chúng xuống đường đòi hỏi công bằng bằng công lý, tự do bằng dân chủ, bác ái bằng nhân quyền. Thì dân chúng sẽ trở thành quần chúng, sẻ tạo được phong trào xã hội, để trực diện với bạo quyền độc đảng toàn trị. Và khi một phong trào xã hội có quần chúng từ 5% tới 10% bền với thời gian vì sự thật vị nhân sinh, vì chân lý vị nhân phẩm để bảo vệ lẽ phải vị nhân quyền của mình thì không một bạo quyền độc đảng toàn trị có thể sống thọ được !

Phía nước mắt !

Xó chợ, tôi thấy một thương phế binh, của quân đội miền Nam hay của bộ đội miền Bắc ? Lê lết, rũ gục rồi bật khóc giữa trưa dưới nắng thiêu, bụng rỗng không một hạt cơm, tôi nhìn nước mắt đó, tôi sẽ chọn đứng về phía nước mắt ! Giữa chợ, tôi thấy một dân lành, một bà mẹ đang đếm những tờ giấy bạc không đủ bữa cơm trưa, lắc đầu, vì biết là ngày hôm nay sẽ không nuôi được đứa con, nước mắt bà mẹ buồn rơi, tôi chọn rõ là mình đứng về phía nước mắt ! Trong chợ, tôi nhìn được một dân đen, một công nhân trẻ, da đen đủi, đầu tắt mặt tối, một nắng hai sương, vừa đưa cơm vào miệng, vừa khóc với tâm sự là tháng này không đủ tiền để gởi về quê nuôi vợ con, vì đại dịch Vũ Hán mà đã mất ngày lao động, tôi nhận ra là mình đang đứng về phía nước mắt ! Cạnh chợ, tôi ngồi bên một gia đình dân oan, bị phá nhà cướp đất, màn trời chiếu đất, đầu đường xó chợ… đang mong có được bữa trưa, con cái khóc to, cha mẹ khóc thầm, tôi biết rồi là mình đã đứng về phía nước mắt ! Bên chợ, một đứa bé bị ung thư máu trong một ngôi nhà không bóng người, chung quanh em không có ai, em đói, em thì thầm rồi em khóc một mình, tôi biết rồi là mình đã đi cùng nước mắt !

Lý lịch của tự do

Muốn xóa tuyên truyền trị thì nhân lý phải ngẩng đầu. Muốn khử ngu dân trị thì nhân tri phải mở mắt. Muốn tẩy vô học trị thì nhân trí phải tự đánh thức não. Muốn cởi bỏ cái vốn vô học, thì nhân tính cứ đi về phía ánh sáng của sự thật. Muốn vứt bỏ cái vô học, thì nhân bản cứ đi về phía chân trời của chân lý. Muốn rứt bỏ cái vô hậu, thì nhân tâm cứ đi về phía nhân dạng của lẽ phải. Khai thị kiến thức khoa học để thoát vô minh. Khai thác tri thức tự do để thắng vô tri. Khai phá ý thức công bằng để vượt vô giác. Khai phóng nhận thức bác ái để loại vô cảm. Khai quật trí thức dân chủ để bứng vô tâm. Khai minh tâm thức nhân phẩm để khử vô học. Khai sáng tỉnh thức nhân quyền để rời vô hậu… Con người chỉ thấy được lương tri của mình khi con người trực diện trước bất công để đấu tranh vì công bằng. Con người chỉ nhận được nhân phẩm của mình khi con người trực diện chống bạo quyền để bảo vệ tự do cho đồng loại. Con người đánh đổi nhân vị của chính mình để đi tìm hùng vị của nhân quyền dù chỉ bằng lời nói của nhân tính, dù chỉ bằng chữ viết của nhân lý... Con người thách đố với nhân kiếp để đi tìm tự do dù chỉ biết tên tự do mà chưa gặp mặt tự do, chính con người phải tự họa chân dung rồi phải tự viết lý lịch của tự do là : tự do !

Có duyên, hợp duyên, thuận duyên, nhiều duyên…

Nhờ duyên ta biết quê mình nơi đây, ngạn ngữ Việt qua giáo lý Việt vừa có nét duyên dáng của nhân dạng, vừa có chiều sâu nhân nghĩa, cả chiều cao của nhân phẩm, nên câu này vừa là ngạn ngữ vừa là một thi từ mà thi ca của nhân loại phải biết trân quý nó. Riêng trong Việt ngữ, mỗi lần người Việt nhắc tới chữ duyên, là nhân diện tự sáng lên, vì mắt, miệng đều vui lên : có duyên, hợp duyên, thuận duyên, nhiều duyên… Ngược lại, khi ta buồn mà thốt lên : không duyên, hết duyên, cạn duyên… khi phải chia tay với một người, một nơi, một chốn, một thời điểm, thì ngay trong nỗi buồn chính từ duyên biết an ủi, làm cho ta bớt buồn, hết buồn… đây là phép lạ của phạm trù duyên, luôn có chỗ đứng trung tâm trong trong giáo lý, văn hóa Việt.

Trợ duyên để trợ lực

Dường như mỗi người Việt sống, suy nghĩ, vui, buồn cùng chữ duyên, nó cứ theo ta mãi cho đến khi ta rời cõi đời này, nó trợ duyên để trợ lực cho chúng ta vượt thoát các thử thách của nhân sinh, vượt thắng các thăng trầm của nhân thế. Phạm trù duyên không hề rơi vào mê tín dị đoan của ngu dân, nó không mang thói tiền trao cháo múc của loại thất đức, nó chẳng đeo khuyết tật tiền nào của nấy của kẻ không có nhân tâm. Nó kỵ loại người chỉ có một toan tính là nồi nào úp vung nấy, để thực hiện tính toán môn đăng hộ đối ; nó kỵ tư duy ích kỷ vì nó khinh ý đồ vị kỷ. Một ý muốn toan tính chỉ dựa trên một ý định tư lợi, mà nếu chỉ thấy tư lợi thì không bao giờ gặp duyên, để có duyên, để hưởng duyên. Nếu chỉ thấy tư lợi, nếu chỉ sống bằng vụ lợi, quan hệ chỉ vì quyền lợi để trục lợi thì Tấm sẽ không thành người yêu của hoàng tử được, thì Thủy Tinh sẽ không lấy được công chúa, thì người rừng Thạch Sanh không sao có được người vợ quý phái, sang trọng được…

Nằm tù vị kỷ

Khôn quá hóa dại, những kẻ tính toán bằng ích kỷ, toan tính bằng vị kỷ thì dại dột trong duyên, dại khờ trong ngộ, nên họ dại suốt trong hạnh, dại dài dài, dại suốt đời, dại suốt kiếp. Những kẻ ích kỷ trong vị kỷ này là những người vô cùng bất hạnh trong nhân sinh, vì họ đi ngang nhân thế mà không thấy được nhân tâm làm nên nhân nghiã ! Vì cái ích kỷ làm nên cái vị kỷ chính là nhà tù của họ ! Bi kịch của họ là họ đang nằm tù mà họ cứ tưởng họ nằm trong biệt thự, biệt phủ, biệt dinh, đó là âm kiếp của bọn tham quan trong chế độ độc đảng toàn trị hiện nay, chúng ngày đêm vơ vét, sống nhờ tham ô, sống bám tham nhũng.

Ân tuệ

Ân huệ nằm sâu trong ân tuệ, có tuệ giác dắt dìu tri giác, đưa đón lý trí để trí tuệ của mình được giáo dục rồi giáo dưỡng bởi những người thầy, những người bạn, những đồng nghiệp, luôn biết đại diện cho chân lý sống lâu mới biết lòng người có nhân. Vậy mà mỗi lần sống sót qua thử thách, sống còn qua thăng trầm, chữ ân hiện rõ trong não trạng của ta. Chữ ân âm thầm theo ta cả đời, có trong vũ trụ, có trong thiên nhiên, vì có trong ân tình với đầy đủ tiếng người, vì khi ân huệ đủ, ân tình đầy, thì ân nghĩa vừa ngập, vừa nặng, Chữ ân biến hai thành một, đã là một thì sẽ không bao giờ bị chia hai ; vì một là chung, vì một là chia, hiểu chung-để-chia, để thấu chia-để-chung, hiểu quy luật của tình yêu vì đã thấu được quy định của ân.

Lý trí, trí tuệ, tuệ giác

Đồng bào, chỉ có hai từ nhưng ngày ngày trở nên sắc nhọn trong tâm khảm mọi con dân Việt, trước hiểm họa mất nước sẽ bị Tàu tặc đô hộ và đồng hóa, qua liên minh giữa nội xâm độc tài tà quyền bán nước và ngoại xâm quỷ quyền Tàu tà cướp nước. Đồng bào, nội hàm sắc bén sẽ chẻ đôi sự mang trá của ý đồ cõng rắn cắn gà nhà, sự gian manh của mưu đồ dắt voi về dày mả tổ. Tại đây để lộ trong cuộc sống Việt, hai loại người Việt : một loại phục tùng, một loại bất tuân. Loại người Việt phục tùng cúi đầu trước bạo quyền như đã cúi đầu trước thảm họa phản dân hại nước ; khoanh tay trước tà quyền như đã khoanh tay trước bi nạn buôn dân bán nước ; quỳ gối trước ma quyền như đã quỳ gối trước hoạn cảnh buôn tông bán tổ. Phục tùng để cam chịu trong hèn dạng, để gánh chịu rồi trong nhục kiếp, để rồi tả tơi trước âm binh, trước diệt vong. Loại người Việt bất tuân bằng lý trí của công lý, với trí tuệ của công bằng, qua tuệ giác của tự do, cả ba : lý trí, trí tuệ, tuệ giác xuất thân để bác ái, vị tha, từ bi giữa đồng bào xuất hiện. Nên bất tuân chỉ để dẹp bạo quyền, đuổi tà quyền, triệt ma quyền, nên bất tuân không hề là chuyện nổi loạn vô trách nhiệm, không hề là chuyện nổi giận vắng bổn phận. Trách nhiệm và bổn phận của bất tuân có mặt trong tự do-công bằng-bác ái, cũng chính là nội chất làm nên nội hàm đồng bào.

Đồng bào : cuộc sống thiêng

Hai chữ đồng bào, chỉ có hai từ nhưng biết làm nên cuộc sống thiêng mang tinh thuần để giữ trong lành, lấy tinh chất để bảo tồn trong sáng, cùng lúc bảo vệ luôn cuộc sống thường-nhưng-thật, thật trong giáo lý tổ tiên, thật trong đạo lý dân tộc, thật trong luân lý giống nòi. Cuộc sống thiêng của gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau, hoàn toàn nghịch lý, nghịch luận, nghịch chiều, nghịch lối với cuộc sống thường nếu chỉ biết cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối trước bạo quyền độc tài, tà quyền tham nhũng, ma quyền tham tiền, thì nó phải chấp nhận mọi hậu nạn cõng rắn cắn gà nhà của loài buôn dân bán nước, vì cuộc sống thường này đã bị nắm đầu xỏ mũi bởi tạp chất của âm binh. Từ đây nội hàm đồng bào sẽ tự tan biến ! Thật đáng sợ khi vô tình biến cuộc sống bình thường nhục thành ra cuộc sống tầm thường hèn !

niemtin7

Xóa giải

Đồng bào là hiện thể sinh động vì là rễ của cội tâm linh Việt tộc, hai chữ Đồng bào khẳng định một nội hàm, một giá trị, một tư tưởng hoàn toàn nghịch chiều, nghịch hướng để luôn luôn nghịch lý, nghịch luận với đồng hóa. Vì đồng hóa là ý đồ tới từ ý muốn thâm, độc, ác, hiểm của ngoại xâm để làm xấu, tồi, tục, dở từ nội dung tới nội chất thực thể đồng bào. Mưu ma chước quỷ của đồng hóa luôn đi trên tà lộ của ma đạo tha hóa : Tha hóa để đồng hóa ! Tha hóa với sự thông đồng của nội xâm : bạo quyền độc đảng phản dân hại nước, tà quyền buôn dân bán nước, ma quyền buôn tông bán tổ. Từ đây, con dân Việt phải biết hóa giải ý đồ đồng hóa bằng cách xóa giải ý định tha hóa Việt tộc của ngoại xâm Tàu tặc. Mà quá trình hóa giải để xóa giải có trong phương trình của hệ sáng : lấy sáng kiến phải cứu nước để tự cứu mình, biến thành sáng lập ra các phong trào đấu tranh để giữ nước, để giữ giống nòi mà chống đồng hóa. Tận dụng liên kết giữa sáng kiến sáng lập để cho ra đời những sáng tạo ngay trong xã hội dân sự bằng tri thức mới : lấy nhân quyền làm văn hiến, lấy dân chủ làm văn minh, lấy đa nguyên để chế tác ra văn hóa đa dũng, đa trí, đa tài, đa năng, đa hiệu… Khi hệ sáng (sáng kiến, sáng lập, sáng tạo) kết hợp cùng hệ văn (văn hiến-văn minh-văn hóa) mới này sẽ biến đồng bào thành đồng sáng trong công cuộc cứu nước để giữ nước.

Hệ sạch chống hê bẩn

Chính hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức, tỉnh thức) là gốc, rễ, cội, nguồn để phân tích và giải thích sự ra đời hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri) ; hệ tự (tự do, tự trọng, tự chủ, tự tin) ; hệ thông (thông minh, thông thạo, thông thái) ; hệ sáng (sáng kiến, sáng chế, sáng tạo) ; hệ chuyên (chuyên cần, chuyên môn, chuyên nghiệp) ; hệ tinh (tinh lực, tinh thông, tinh hoa). Tất cả hệ trên đã, đang, sẽ bị truy, diệt, khử, trừ bằng hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn) của Đảng cộng sản Việt Nam, chính là cha sinh mẹ đẻ của hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền ; hệ bất (bất tài, bất lực, bất tín, bất lương) ; hệ gian (gian dối, gian trá, gian xảo, gian manh) ; hệ vô (vô minh, vô tri, vô giác, vô cảm).

Cuộc đấu tranh vì nhân quyền

Nhân quyền là phạm trù lý luận của nhân sinh đi tìm nhân phẩm, nên phạm trù này chỉ được chấp nhận nếu nhân loại xem nhân quyền là phổ quát từ nhân lý tới nhân tính, từ đạo đức tới luật pháp. Nhưng khi nhân loại xem nhân quyền là phổ quát từ nhân đạo tới nhân luật, thì nhân loại phải chấp nhận một hệ luận về nhân tri là : một chính quyền tôn trọng nhân quyền có thể chỉ trích, phê bình, buộc tội một chính quyền không tôn trọng nhân quyền bằng công pháp quốc tế, mà không bị buộc tội lại là xen vào nội bộ của một quốc gia. Đây chính là thử thách lớn của cuộc đấu tranh vì nhân quyền, vì tất cả các chính quyền dường như đều đồng ý về tuyên ngôn phổ quát về nhân quyền, nhưng không phải tất cả đều tuân thủ tuyên ngôn này. Chuyện này đã kéo dài từ ba thế kỷ qua, và hiện nay trong thế kỷ XXI này, các chính quyền độc tài, độc đảng luôn lẩn tránh nhân quyền để lén lút hoặc công khai vi phạm nhân quyền, trong đó có Đảng cộng sản Việt Nam đang đứng hàng đầu cùng Trung Quốc, Triều Tiên, Cuba và vài quốc gia châu Phi là những chế độ độc đảng để độc tài, là những tập đoàn tội phạm xâm phạm và đàn áp nhân quyền.

Nhân chất quyết nhân định

Khi xét nhân chất, khi soi nhân lệ, khi hiểu nhân nhiệm, khi thấu nhân biệt, để thấm nhân luận, rồi nhận ra nhân quyết, chúng ta đã thấy được các không gian của nhân tri trong chân trời của nhân quyền, luôn có hai nhân lực, không. Trả lời có mặt để bảo vệ nhân phẩm, như mục đích của nhân quyền. Trả lời không chấp nhận bạo quyền độc tài, khi nó phản nhân quyền. Nhân định được hiểu như nhận định để quyết định đường đi nẻo về của nhân quyền ; từ đây nhân định được hiểu như phân định để giải định các chân trời của nhân phẩm mà nhân quyền phải bảo vệ nhân quyền là hùng lực có mặt trong tư duy dân chủ như một động cơ tạo ra các hành động xã hội, dân tộc, cộng đồng, tập thể để tổ chức lại xã xã hội, dân tộc, cộng đồng, tập thể đi theo hướng thăng hoa vì nhân vị, nhân bản… Nhân quyền là hùng lực có mặt trong tư duy đa nguyên như một khả năng tạo ra các hành động của đảng phái, của hội đoàn, của công đoàn, của xã hội dân sự, theo hướng tiến bộ vì nhân tri, nhân trí. Nhân tố xã hội song hành cùng nhân tố chính trị là hai động cơ chủ lực của nhân quyền, vượt lên mọi con toán ích kỷ của tự lợi, vượt lên mọi con tính quyền lực vì quyền lợi ; tại đây nhân quyền sẽ là nền cho các quá trình nhận thức của xã hội, trong đó con người không còn vô điều kiện với các đạo giáo, tự đặt nhân quyền luôn thấp hơn, luôn phải tuân thủ quyền năng của thượng đế. Nền cho các công trình xây dựng xã hội, trong đó các chế độ chính trị được tổ chức theo hướng tôn trọng nhân vị, nhân bản, nhân tri, nhân trí…

Ý tưởng - ý muốn - ý lực vì lao động

Giữa hai thế chiến, tại Âu châu con người đã ý thức được cái nguy hại của tổng động viên lao động chỉ phục vụ cho chiến tranh, nên qua hiệp ước Versailles, nhân loại đã cho ra đời Tổ chức quốc tế lao động (Organisation internationale du travail), nhân đạo hóa lao động bằng nhân phẩm biết phục vụ hòa bình và tìm mọi cách ngăn chặn chiến tranh, và tiếp tục cho ra đời Liên hội các quốc gia (Société des nations), là tiền thân của Liên Hiệp Quốc (Nations-unies) sau Đệ Nhị thế chiến. Sự ra đời của các cơ quan quốc tế : Tổ chức quốc tế lao động, Liên hội các quốc gia, Liên Hiệp Quốc làm nền tảng cho sự xuất hiện các công pháp quốc tế vừa để bảo vệ nhân loại chống chiến tranh, vừa để ngăn chặn các bất công tới từ sự bóc lột lao động của cá lớn nuốt cá bé. Và chính công pháp quốc tế đã trợ lực cho luật lao động, để luật xã hội có mặt trong an sinh xã hội, với bảo hiểm xã hội, dịch vụ công cộng, luôn được củng cố và hoàn thiện qua các đấu tranh của xã hội dân sự.

Ý lực trong lao động

Trong tuyên ngôn của Tổ chức quốc tế lao động, người ta nhận được các điều kiện lao động bảo vệ được nhân phẩm, bằng các định đề nơi mà nội dung của nhân tính được bảo đảm bằng nhân lý trong lao động : con người lao động với sự chủ động đóng góp được sức lao động của riêng mình, đó chính là thành quả lao động tới từ tự nguyện lao động. Con người lao động với nhân phẩm, nhân tính, nhân lý nên con người không phải là thú vật hoặc máy móc phải khuất phục chỉ để tuân lệnh chủ nhân. Con người lao động với tự chủ, bằng tự do của tư duy "muốn làm được việc" bằng lao động của mình, từ thủ công tới trí thức, với sự tính toán của phương án, với ý muốn biến lao động thành quả do mình định đoạt. Con người có ý tưởng lao động dựa trên ý muốn có thành quả lao động, làm nên ý lực của hiệu năng và hiệu quả lao động. Chính hệ luận ý tưởng đầu tiên làm nên ý muốn để thành ý lực ngay trong lao động, đã làm nên sự khác biệt tòan diện giữa điều kiện làm người trong lao động và điều kiện của súc vật hoặc máy móc. Con người vận dụng liên minh ý tưởng-ý muốn-ý lực trong chính điều kiện làm người trong lao động của mình để bảo vệ nhân phẩm, nhân tính, nhân lý trong tổ chức lao động, để trực diện chống lại sự tha hóa nhân vịnhân bản trong lao động.

Giá trị biểu tượng của hoài vọng

Khi chúng ta nêu được các yếu tố trên đã làm nên mệnh đề : thế nào là lao động đúng với điều kiện làm người đúng, hoàn toàn khác biệt với súc vật và máy móc ; thì cùng lúc chúng ta cũng phải công nhận là mỗi con người đều mang hai bản chất cũng rất khác nhau. Bản chất thứ nhất của bản năng : đói ăn khát uống lao động để nuôi thân ; và bản chất thứ nhì của bản thể : lấy ước mơ làm lý tưởng, với các giá trị biểu tượng trong đó con người lao động để thỏa mãn hoài vọng, để thực hiện hoài bão của mình với các giá trị của luân lý, của nghệ thuật, của khoa học… Chính bản thể với các giá trị biểu tượng của hoài vọng, của hoài bão sẽ làm nên sáng tạo trong lao động, nâng cao hiệu suất lao động, làm rộng hiệu năng lao động, không những để tăng trưởng sản xuất mà còn để thăng hoa nhân kiếp ngay trong lao động.

Chủ thể lao động bằng sáng tạo

Sáng tạo trong lao động làm nên chủ thể lao động bằng sáng tạo, không lặp đi lặp lại một cách máy móc hành tác lao động, mà ý thức trong lao động có công cuộc thay đời đổi kiếp, vì trong sáng tạo lao động có thể làm được chuyện dời non lấp bể ; mà không trao thân gởi phận cho chuyện vật đổi sao dời mà mình không có một quyết định, một quyết đoán gì hết ! Khi ta học làm người tức là ta học dung hòa giữa hai bản chất để rồi sau đó chọn ưu tiên một trên hai bản chất : bản năng hay bản thể. Tại đây, lao động chính là môi trường học tập để thỏa mãn bản năng, cùng lúc để thăng hoa bản thể, vì vậy lao động từ môi trường lao tác đã biến thành ngôi trường học tập để mỗi chúng ta xây dựng hiện tại, gầy dựng tương lai bằng nhân đạo làm nên nhân phẩm bằng rành nghề, thạo nghề, giỏi nghề để thấy và thấu chuyện nhất nghệ tinh, nhất thân vinh. Từ môi trường đến ngôi trường của không gian lao động, chúng ta sẽ khám phá ra ít nhất hai hệ vấn đề mới : khám phá thế giới mà ta đang sống (đang ăn ở và đang sáng tạo), cùng lúc khám phá ra chính chúng ta, có hay không "thiên năng" để xây dựng năng khiếu cá nhân, để gầy dựng tài năng, mà thành công trong huấn nghiệp, thành đạt trong chuyên nghiệp, thành tài trong sự nghiệp.

Lao động có lương tri

Trong thế kỷ mới này, người lao động Việt hiện nay vẫn chưa có : công đoàn độc lập, xã hội dân sự thực sự, để cả hai cùng nhau xây dựng : bảo hiểm xã hội lương thiện, dịch vụ công cộng có lương tâm, luật xã hội có lương tri, từ đó bảo đảm một an sinh xã hội chân chính. Chỉ vì chính quyền độc đảng hiện nay không những độc tài nhưng bất tài, mà chính quyền độc đảng này lại dùng độc trị để nuôi nấng độc tham, dụng tham nhũng để cướp bóc lao động vừa qua tổ chức lao động bất nhân, vừa qua chế độ thuế má thất đức. Nên chính quyền độc đảng này không hề có một tri thức tối thiểu nào về lao động có lương tri. Ngày ngày, người lao động Việt hiện nay đang bị các xí nghiệp, doanh nghiệp ngoại quốc bóc lột với lương bổng thấp, điều kiện lao động tồi, và nếu đòi hỏi thì bị đuổi việc, nếu biểu tình, xuống đường để đấu tranh thì bị công an đàn áp thẳng tay bằng quyền lệnh độc đảng của công an trị. Từ đối xử thậm tệ với đồng bào lao động cho tới chuyện thí mạng chính đồng bào mình, chính là hiện thân của một độc đảng "hèn với giặc, ác với dân".

Lao động tận dụng từ nhân tri tới nhân trí

Lao động có lương tri bắt đầu bằng quyết tâm chấm dứt lối lập luận công nhân trong nhà máy là loại người máy là việc như công cụ, như phụ tùng trong sự vận hành của nhà máy vừa đóng vai chính, vừa đóng vai chủ. Từ đó, nó bứng tư tưởng có trong nhân lý, nó tháo tư duy có trong nhân tính, để tha hóa nhân phẩm bằng cách bắt buộc nhân bản phải cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối trước toan tính của lợi nhuận, trước tính toán của hiệu năng. Nội dung của lao động có lương tri mang những nội chất sau : lao động có lương tri là lao động vận dụng nhân lý, nhân tính bằng nhân tri, nhân trí để bảo vệ nhân phẩm, nơi mà lao động phục vụ nhân bản chứ không phải ngược lại. Lao động có lương tri là lao động tận dụng từ nhân tri tới nhân trí bằng khoa học, bằng kỹ thuật đã tạo nên những tiến bộ, văn minh cho nhân loại ; chính khoa học, kỹ thuật là lực lượng lao động song hành cùng nhân sinh để phục vụ nhân sinh chớ không phải ngược lại. Lao động có lương tri là lao động chống các hoang tưởng tới từ một loại ý thức hệ nơi mà hứa hẹn là hứa hão để lừa bịp bằng man trá : "Làm theo nhu cầu, hưởng theo tiêu thụ" ; mà quên đi tiền đề của thành tựu lao động luôn là cần lao, cần cù trong lao động và chăm chỉ trong công việc, mà tổ tiên Việt làm rõ bằng các định đề : "thức khuya dậy sớm", "một nắng hai mưa", "ăn bữa sáng lo bữa tối"…

Lao động với tri thức của lương tâm

Lao động có lương tri là lao động chống các chỉ tiêu tới tự ý chí chủ nghĩa, chủ quan hàm hồ lấy số lượng toán để quyết định số phận người, lấy định lượng bị mù lòa về tăng trưởng để vùi dập định chất nơi mà tài năng được nhận ra bằng thành quả lao động, nơi mà sáng tạo biết thăng hoa lao động. Lao động có lương tri là lao động chống lại các lý thuyết tuyệt đối vị khoa học, chống lại các chủ thuyết toàn thần quá khích, mượn tôn giáo để bóc lột lao động, nên nó chống luôn các lãnh đạo dùng ma đạo của độc tôn khoa học, lạm dụng tà đạo của độc quyền tôn giáo. Lao động có lương tri là làm việc với tri thức của lương tâm, nơi mà hiệu quả lao động phục vụ cho nhân vị, hiệu năng lao động phục vụ cho nhân bản, thành quả lao động phục vụ cho nhân phẩm, thành tựu lao động phục vụ cho nhân văn, trong đó nhân sinh, nhân loại được bảo vệ bởi nhân tính, nhân lý biết dựa vào nhân tri luôn tỉnh táo để có sáng suốt bằng nhân đạo của nhân trí.

Lao động bằng lương tri

Từ lao động có lương tri tới lao động bằng lương tri là sự trưởng thành toàn diện của hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri), nơi mà lương thiện là gốc, rễ, cội, nguồn của lương tâm chế tác ra lương tri chính là sự hiểu biết của con người bằng tổng lực của nhân tính, nhân lý, nhân tri, nhân trí, biết làm nên nhân vị, nhân văn, nhân bản để bảo đảm và bảo trì nhân phẩm, nhân đạo, nhân tâm. Hãy lý luận trên nội dung để tìm ra lập luận về nội chất của lao động bằng lương tri. Lao động này vận dụng nhân tính, nhân lý, nhân tri, nhân trí để hiểu nhân loại, nhân thế, nhân sinh không lao động trong đơn lẻ mà lao động trên một môi trường, lao tác trên một môi sinh, tại đây một nhân sinh quan đứng đắn phải là một thế giới quan tử tế với môi trường và môi sinh. Cụ thể là không để quê hương gấm vóc của tổ tiên Việt tộc thành bãi rác ô nhiễm của Tàu hoạn, bằng hóa chất độc, thực phẩm bẩn của Tàu nạn, nhiệt điện than của Tàu họa, để sau này lại có thể là bãi tha ma của Tàu dịch. Lao động bằng lương tri vận dụng sáng tạo lao động để thành quả lao động không chỉ là sản phẩm phục vụ nhân loại, nhân thế, nhân sinh, mà còn là tác phẩm của môt nhân sinh quan đứng đắn hợp lực một thế giới quan tử tế để có một vũ trụ quan liêm chính biết tôn trọng muôn loài nơi mà mọi sinh vật có chỗ đứng ghế ngồi của sinh linh, tức là linh thiêng bằng linh hồn của sự sống.

Nhân sinh quan đứng đắn – thế giới quan tử tế - vũ trụ quan liêm chính

Liên minh giữa nhân sinh quan đứng đắn, thế giới quan tử tếvũ trụ quan liêm chính chính là bản lĩnh của một nhân loại văn minh, chính là tầm vóc của một nhân sinh "ăn ở có hậu" với tiền đồ tổ tiên, với các thế hệ mai hậu, ngay trong mọi hành tác lao động mang hệ thức (ý thức, kiến thức, tri thức, trí thức, nhận thức, tỉnh thức) để làm nên lao động bằng lương tri. Từ lao động có lương tri tới lao động bằng lương tri là sự thông minh toàn lý về nhận thức biết làm ra sản phẩm, lại biết làm nên tác phẩm bằng sáng tạo ngay trong lao động, và liên hợp giữa sản phẩm tác phẩm, có trong sự thông thạo làm ra sản phẩm, song lứa để song hành cùng sự thông thái làm ra tác phẩm. Nên lao động có lương tri luôn có chỗ dựa làm nền của hệ thông (thông minh, thông thạo, thông thái), nơi mà lao động thủ công và lao động trí thức luôn bổ sung để hỗ trợ cho nhau.

Công lý lao động

Phạm trù công lý lao động để giải quyết không những công bằng phải có mặt trong xã hội, mà phải hiện diện ngay trong lao động. Tập-hợp bạo quyền, tà quyền, ma quyền với địa thế ngồi mát ăn bát vàng, với tư thế ăn cỗ đi trước lội nước đi sau ; từ mượn gió độc đảng mà bẻ măng trong thiên nhiên, cướp tài nguyên, với tục thế cốc mò cò ăn, chính là bất công của bất công, nên công lý bảo vệ nhân vị vì nhân phẩm trong lao động phải xuất hiện bằng công pháp biết làm ra công luật để xét và xử bọn cướp ngày là quan này. Từ thảm cảnh của Việt Nam hiện nay, hãy phải nhìn rộng ra những tai họa trong suốt quá trình công nghiệp hóa của ba thế kỷ qua. Biến tổ chức lao động thành tổ chức xã hội, nơi mà con người luôn là công cụ của tổ chức chính trị với hệ ý (ý định, ý muốn, ý đồ) làm nên ý lực biến nhân lực thành công cụ mà không tôn trọng nhân phẩm của kẻ lao động. Đưa chủ thuyết Tylors nơi mà con người là công cụ của nhà máy vào ý đồ của Lenin là biến nhân lực của nguồn máy độc đảng thành công trường để áp đặt lên toàn xã hội với một kỷ luật quân sự toàn trị bất nhân thất đức.

Những học thuyết lầm đường lạc lối

Chúng ta cũng không được quên những lầm đường lạc lối của chính các lý thuyết gia, các tư tưởng gia chính là các tác giả lớn trong hệ thống học thuật của khoa học xã hội và nhân văn khi họ nghiên cứu về quan hệ giữa con người, xã hội, và lao động. Tổ sư của xã hội học cận đại là Durkheim đề nghị khi nghiên cứu về quan hệ con người-xã hội-lao động, thì hãy xem con người là một vật thể (chose). Tổ sư của xã hội học đương đại là Bourdieu đề nghị khi nghiên cứu về quan hệ con người-xã hội-lao động, thì hãy xem con người là một phân tử (particule) trong một không gian nam châm. Tổ sư của nhân học cận đại và đương đại là Levi-Strausse đề nghị khi nghiên cứu về quan hệ con người-xã hội-lao động, thì hãy xem con người là côn trùng (insecte) trong một cấu trúc chung nơi mà cơ cấu quyết định cho số phận của cá nhân. Khuyết điểm của các luận thuyết này làm nên khuyết tật của các chủ thuyết mà họ đề ra, nơi mà các lý thuyết gia, các tư tưởng gia này không những mượn hình tượng của vật thể vô tri kiểu Durkheim, của vật thể vô giác kiểu Bourdieu, của tiểu sinh vật vô cảm kiểu Levi-Strausse để làm biểu tượng mà dựng lên hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận) không nhân lý cũng không nhân tính, không nhân bản cũng không nhân văn…

Tri thức lao động

Khuyết điểm thành khuyết tật ngay trong hệ thức (ý thức, kiến thức, tri thức, trí thức, nhận thức, tỉnh thức) của các trí thức này tác động thẳng lên nhân trí, luôn yêu cầu chúng ta phải cẩn thận trong tri thức để cẩn trọng trong nhân tri. Trong một thế chế thực sự dân chủ để bảo vệ nhân quyền, thì công lý lao động phải có mặt ngay trong công bằng lao động qua tổ chức trong lao động bằng hệ thức (ý thức, kiến thức, tri thức, trí thức, nhận thức, tỉnh thức). Hành tác trong lao động bằng hệ tự (tự do, tự trọng, tự chủ, tự tin). Phân công trong lao động bằng hệ chuyên (chuyên khoa, chuyên ngành, chuyên môn, chuyên nghiệp). Thành quả trong lao động bằng hệ sáng (sáng kiến, sáng chế, sáng lập, sáng tạo). Nhưng tri thức lao động làm nên thành quả lao động có hiệu quả kinh tế, được hỗ trợ bởi khoa học kỹ thuật, trong đó sáng tạo lao động có mặt trong thị trường qua cungcầu, ở ngoài phạm vi quyền lực của chính quyền và chính quyền chỉ có vai trò làm trọng tài khi bất công trong lao động xuất hiện. Khi chính quyền trở thành trọng tài thì chính quyền này phải được bảo chứng bởi luật lao động, được trợ lực bởi luật xã hội với các tiền đề : thành quả lao động không phải là hàng hóa với giá cả nhất định ; vai trò con người trong lao động không phải hàng hóa để trả giá, để mặc cả ; thị trường lao động không thuần túy là thị trường hàng hóa.

Công lý lao động trước quyền lực của lượng

Công lý lao động trong điều kiện công nghiệp cơ giới hóa không còn là công lý lao động trong điều kiện công nghệ truyền thông hiện nay với khả năng vi tính biết có phản ứng phản hồi để thích ứng môi trường, bối cảnh, hiện trạng của xã hội. Kỷ nguyên công nghệ truyền thông có khả năng vi tính có phản ứng, biết phản hồi để thích ứng với nhiều hoàn cảnh, từ chứng khoán tới đầu tư, từ sản suất tới tiêu dùng bắt buộc chúng ta phải linh động trong chuyển luận về công lý lao động… Tại đây công lý lao động trong bối cảnh công nghệ truyền thông, cũng vẫn bị điều khiển bởi quyền lực của lượng, nơi mà số lượng đẩy lui chất lượng, để chất phải lùi để nhường chỗ cho lượng. Nơi mà chỉ tiêu sản xuất quyết định cường độ lao động, tất cả phải phục tùng định lượng trong hiệu quả và kết quả lao động. Chính sức ép của sản lượng, áp đặp lên hiệu quả, hiệu năng của lao động đã cho xuất hiện những hiện tượng trầm cảm, tự tử, với tầng số tai nạn lao động cao, theo cùng với những hậu quả về tâm lý, những hậu nạn về nhân phẩm. Chính tại đây, công lý lao động phải tiếp tục những phương án, phương pháp mới để bảo đảm lao động có nhân tính, để bảo hộ người lao động không là nạn nhân của tổ chức lao động, phân công lao động luôn dựa trên sản lượng lao động. Công lý lao động phải biết tương đối hóa sản lượng, để vào thực chất của phẩm, để biết nhận ra tác phẩm của sáng tạo lao động, tự đó biết được hoài bão của nhân phẩm, hoài vọng của nhân tri, nơi mà nhân trí đã vượt thoát số lượng, để vượt

Nhận diện các giá trị tâm linh

Nếu các giá trị tâm linh sắc về trí tuệ, nhọn về lý trí, thì các giá trị phải là kết quả của một quá trình lập luận cao về tư tưởng, sâu về triết học, tức là rộng về nhân tri, và hề không dính dáng gì tới các chuyện mê tin dị đoan mà học thuật không kiểm chứng được, kinh nghiệm không thí nghiệm trọn vẹn được. Nhưng khi nghiên cứu về các giá trị tâm linh biết củng cố nhân lý, biết phục vụ nhân trí, biết thuyết phục nhân loại tinh anh hơn, giúp nhân sinh tỉnh táo hơn, dìu nhân thế và dắt nhân tình theo các tri thức mà sự sáng suốt của nhân trí giữ vững được các giá trị của nhân đạo, các giá trị tâm linh rất khác các sự thật của khoa học, các chân lý của triết học, các lẽ phải của luân lý tuyệt đối. Các giá trị tâm linh chọn đường đi nẻo về cho riêng nó, tại đây phải hiểu cách định vị (như các chỉ báo) của các giá trị tâm linh, để lần tìm ra cách định nghĩa các các giá trị này. Chiều sâu của các giá trị tâm linh là chiều cao của linh hồn, một chiều cao biết nâng nhân tri cụ thể là biết yêu theo chiều cao của hướng thiện những gia trị bị xem là tầm thường trong cuộc sống, tại đây minh triết cùng đạo đức biết nhập nội để chế tác ra các giá trị tâm linh ; làm được chuyện mà Platon đặt tên là sự bất tử của linh hồn. Chiều sâu của các giá trị tâm linh luôn bắt đầu bằng sự đánh giá tỉnh táo, sự phân tích sáng suốt, luôn bình tĩnh chọn con đường để thực hiện cái tốt, nó mang theo nguyện vọng làm nên ý chí biến cái tốt thành hiện thực và chiều cao của các giá trị tâm linh là ý chí muốn làm tốt cái tốt.

Chiều sâu của các giá trị tâm linh

Chiều sâu của các giá trị tâm linh, không phải là chuyện của lý trí tuyệt đối, càng không phải là chuyện lý trí suông, nó chính là sự cẩn trọng không những là khẳng định các lý trí tốt, mà nó phải trở thành các triết lý của cuộc sống được quyền sống còn, nên nó không cực đoan quyết định, và không bao giờ quá khích trong hành động. Các giá trị tâm linh cũng không phải là chuyện khoa học chính xác, mà là chuyện triết đúng lúc, lý đúng cảnh, luận đúng thời, lấy bối cảnh để hiểu nhân sinh, lấy hoàn cảnh để tìm đáp số, lấy tâm cảnh để tư duy, nên nó tìm cách giải quyết ít nạn nhân nhất, cách trả lời ít đổ vỡ nhất, nó tìm cái hợp lý thấu tình để có lối ra, mà không ai phải là nạn nhân cho thời cuộc. Aristote gọi tên nó là thế giới của sự thông minh làm nên sự thông thái, và lắm lúc nó không lệ thuộc vào thế giới thông suốt sự thật của khoa học. Chiều sâu của các giá trị tâm linh chỉ thật sự là giá trị khi nó là sự cẩn trọng trong sáng suốt và là khẳng định của sự can đảm, cẩn trọng ngược với liều lĩnh, can đảm trái với hèn nhát. Các giá trị không bao giờ "liều mạng" để "tử vì đạo""xem rẻ mạng người", nó cũng không hề "ba phải" để "lòn lách" mà làm "nhục kiếp người", nó cẩn trọng cho nhân sinh và nó can đảm bằng chính bản thân nó, nên nó ngược lại hoàn toàn với sự "né tránh" để tồn tại, "lẩn trốn" để "thoát thân", vì nó dụng chân lý, biết dùng sự thật để tạo lối thoát cho những ai "lầm đường lạc lối" sa lầy trong "mê lộ" đang đi tới "tử lộ" mà cứ tưởng đang đi trên "sinh lộ".

Chiều cao của các giá trị tâm linh

Chiều cao của các giá trị tâm linh mang tính tiên tri mà nhân sinh kiểm chứng được, đó là tầm vóc của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cứu cùng lúc nhà Mạc và nhà Nguyễn ra khỏi vũng lầy của vua Lê, chúa Trịnh. Chiều cao của các giá trị tâm linh khi được chứng thực bởi sự cẩn trọng và sự can đảm, chính là sự thông minh linh động biết thích ứng trong biện chứng vì biết giữ trígiữ tâm. Chiều cao của các giá trị tâm linh có trong ý nguyện muốn cái tốt có mặt trong cuộc sống để chống lại cái xấu có cha sinh mẹ đẻ là cái ác ; nhưng các giá trị tâm linh luôn mang theo sự cẩn trọng không những trong định nghĩa thế nào là tốt mà còn bắt con người phải rõ ràng từ cứu cánh tới phương tiện, luôn phải cẩn trọng hơn nữa khi chọn lựa phương tiện, khi đã có cứu cánh tốt rồi. Plotin tin rằng chiều cao của các giá trị tâm linh làm nên đạo đức của ý nguyện muốn làm tốt cuộc sống từ cứu cánh tới phương tiện, từ thượng nguồn của tư duy tới hạ nguồn của hành động. Chiều cao của các giá trị tâm linh khi lấy sự cẩn trọng làm giá trị cho đạo đức, thì nó trở nên sinh động khi phối hợp sự cẩn trọng luôn song hành trong các giá trị của luân lý về bổn phận và trách nhiệm. Các giá trị tâm linh luôn biết điều phối sự cẩn trọng như sức mạnh của tư duy biết cái nào là cái tốt cho mình và cho người khác, nó mang trọn vẹn một quá trình suy ngẫm, nó mang toàn bộ các kết quả tâm định trí định để làm nên thiền định trong tỉnh táo và sáng suốt, đó là vòng tròn khôn ngoan biết chứa cả hai, vừa cẩn trọng, vừa đạo đức.

Chiều rộng của các giá trị tâm linh

Chiều rộng của các giá trị tâm linh biết dựa vào ý muốn đi tìm tri thức để hiểu sự vận hành của nhân tri, nó luôn song hành cùng với ý nguyện của nhân sinh muốn tồn tại bằng nhân phẩm trong nhân thế, mặc dù nhân loại đang đầy dẫy các xáo trộn, các hỗn loạn của nhân tình. Weber đề nghị muốn có các giá trị này nhân tri phải thấy sự quan hệ chặt chẽ giữa đạo lý của ý chí đạo lý của trách nhiệm, khi cả hai có mặt để phối hợp nhuần nhuyễn với nhau, thì chính cái trí của cái tri sẽ giúp cuộc sống thấy ra cái sinh của cái , cụ thể là quyền năng của nhân trí sản sinh được các giải đáp lối thoát mới cho nhân lý, để nhân tri nhận ra lối thoát mới cho nhân thế. Chiều rộng tâm linh Việt không những là chiều cao của nội dung lý trí, mà còn là chiều rộng của tư tưởng Việt mang văn hiến riêng của Việt tộc. Chiều rộng tâm linh Việt không những là chiều cao của trí tuệ, mà còn là chiều rộng của lịch sử Việt mang văn minh riêng của Việt tộc. Chiều rộng tâm linh Việt không những là chiều cao của nhân phẩm Việt, mà còn là chiều dài của bản sắc Việt luôn biết mở cửa để song hành cùng văn hóa Việt. Cao, sâu, rộng, dài có độ bền của đạo lý đã được thử thách, có độ vững của đạo đức đã biết vượt qua thăng trầm ; đạo lý bền biết đi trên lưng cái cực đoan để vượt thoát cái vô minh, đạo đức vững biết đi trên vai cái quá khích để vượt thắng cái vô tri.

Hiện thực tâm linh Việt : đồng cam cộng khổ

Câu chuyện tâm linh không hề là câu chuyện lý thuyết, vì trong đời sống hằng ngày, mọi người có thể nghe được câu "thấy thương quá" tới tự lời nói thật bình thường của những người có lòng vị tha, muốn chia sẻ tức khắc nỗi khổ niềm đau với tha nhân. Câu chuyện tâm linh không hề là câu chuyện trừu tượng, vì trong sinh hoạt hằng ngày, mọi người có thể nghe được câu "nghe mà thương" tới từ một câu nói ngắn gọn của những người có lòng bao dung, muốn chia sẻ tức thì sự đồng cam cộng khổ với đồng loại. Câu chuyện tâm linh không hề là câu chuyện viễn vông, vì trong quan hệ hằng ngày, mọi người có thể thấu được câu "càng nhìn càng thương" tới từ một phản xạ nhanh nhẹn trong sáng suốt của những người có lòng rộng lượng, muốn chia sẻ tức thời chuyện đồng hội đồng thuyền với đồng bào mình. Đạo Phật biết mang hiện thực này đến để chia sẻ với Việt tôc về vô lượng tâm qua các Tâm kinh : "nhìn đời bằng mắt thương" để làm sáng lên lòng vị tha, lòng bao dung, lòng rộng lượng của Việt tộc.

Tuệ giác tâm linh Việt

Câu chuyện tâm linh không quan hệ gì tới câu từ tâm linh bị lạm dụng trong ngôn ngữ hiện nay bị mê hoặc bởi mê tín về cõi âm nào đó mà nhiều thành phần xã hội hiện nay đang bị lôi kéo, để bọn đầu cơ mê tín trục lợi ngay trên mê lộ của họ. Tuệ giác của tâm linh kết hợp thuần thạo sự thật, chân lý, lẽ phải để tạo ra cái đẹp của đạo đức, cái hay của đạo lý, cái tốt của luân lý, từ đó tuệ giác tâm linh luôn ngược hướng, trái chiều với mê tín, vì nó mang sự tỉnh táo của lý trí, sự sáng suốt của trí tuệ, có liên minh cứng cáp là minh triết trong lý luận, có minh luận trong hành động. Tuệ giác của tâm linh thấy đường đi nẻo về của nhân tính, nhận ra nhân vị nhờ nhân bản, hiểu rõ nhân tri nhờ nhân từ, thấu sâu nhân đạo nhờ nhân nghĩa. Mê tín bị mê hoặc trong mê lộ còn đang mò mẫm dưới chân đồi, thì tuệ giác của tâm linh đã tới đỉnh núi với nhân cách thư thả của nhân tri thư thái để nhận diện mọi chân trời mà không bị một trở lực nào vùi, lấp, che, choáng được.

Nội công tâm linh Việt

Nơi đây, nội công tâm linh mang tính thiêng liêng với các giá trị đạo đức tối cao bắt con người lầm đường lạc lối phải suy nghĩ lại, phải cân, đo, đong, đếm lại từ hành vi tới hành động của mình để tìm lại con đường hay, đẹp, tốt, lành của đạo lý. Nội công tâm linh không phải là chuyện thể lực thuần túy, mà là chuyện của trí lực biết bao dung, là chuyện của tâm lực biết dung thứ : phải dung kẻ dưới mới là lượng trên (Nguyễn Du).

Bản lĩnh tâm linh Việt

Có tầm vóc, có nội công sẽ có bản lĩnh, nhưng các giá trị tâm linh không cần bản lĩnh của xảo thuật để thành công, cũng không cần bản lĩnh của mưu lược để thoát hiểm, nên không cần luôn bản lĩnh của mưu trí để tồn tại trong tính toán. Các giá trị tâm linh được sống ngay trong ánh sáng của chuyện con người yêu cái đẹp, thích cái hay, quý cái tốt, trọng cái lành, nó vượt lên nên vượt xa chuyện tính toán để lời lỗ, để hơn thua, để đọ tài, để thi sức. Bản lĩnh của các giá trị tâm linh tự tin nên tự tại, tự trọng nên tự do trước mọi mưu kế, mưu đồ, nó đi trên mọi cái đầu của vị kỷ, nó đi xa hơn mọi con tính ích kỷ, vì nó đại trí nên nó thoải mái trên đại lộ của mọi nhân lộ.

Tầm vóc tâm linh Việt

Trong khu vực của tam giáo đồng nguyên, khi đánh giá về các loại chiến thắng trên mọi mặt trận từ chính trị tới quân sự, từ văn hóa tới giáo dục, từ luân lý tới đạo đức… người xưa xếp loại từ thấp lên cao : thắng nhỏ là thắng mà phải dùng : lực ; cao hơn là chiến thắng khi biết dụng : trí, cao hơn nữa là dùng : đức, và cao hơn cả là thắng là nhờ : đạo ! Đây là toàn thắng. Đạo của nhân đạo tới từ chính nghĩa có lý luận làm nên chính đạo, mang giá trị của nhân đức, có nhân trí của nhân tính, có nhân lý của nhân vị, có nhân văn của nhân bản, tầm vóc của tâm linh chắc chắn là ở đỉnh cao giữa đức đạo. Thắng được đối phương với sự khâm phục của đối phương, với tầm vóc giúp đối phương cùng thắng với ta, từ đó đối phương không còn là đối thủ, nên không bao giờ trở thành tử thù với ta. Mà ngược lại, chính đối phương tìm tới ta, tiếp nhân sinh quan vị tha của ta, nhận thế giới quan rộng lượng, đón vũ trụ quan khoan dung của ta ; đây mới là toàn thắng qua đạo ! Thắng vinh quang, thắng bền vững vì biết "cải tử hoàn đồng" cái xấu, tồi, tục, dở giúp nó hóa thân vào cái hay, đẹp, tốt, lành. Hãy nhận ra tầm vóc của Nguyễn Trãi : lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo, để thấy tầm vóc tâm linh Việt tộc.

Cấu trúc tâm linh Việt

Nếu đi từ trên xuống dưới, bắt đầu bằng đạo, đi tiếp tới đức, qua nẻo của trí, cùng lúc tránh xa lực (bạo lực), mẹo (mưu kế) vì chúng quá thấp so với các yêu cầu của các giá trị tâm linh, nhưng tác giả sẽ đi trên hai con đường luôn cần sự có mặt của tâm linh để vấn nạn các khổ đau mà Việt tộc đã cam nhận trong lịch sử cận và hiện đại của mình. Cấu trúc lý luận của tiểu luận sẽ bắt đầu bằng tâm đạo để đi tìm chiều cao các giá trị tâm linh thừa kế của tổ tiên, nhận diện được sự đặc sắc của các kinh nghiệm tâm linh của Việt tộc, nhất là qua các kinh nghiệm của Thiền tông, từ đời Trần tới cõi tâm linh mà thiền sự Thích Nhất Hạnh đã trao truyền cho thế giới. Rồi đi tới tâm đức đã có từ lâu trong sáng tác thi ca của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… và tiếp tục trên con đường tâm trí qua nhiều tác giả, nơi mà tâm linh chính là trí lực của nhân lý. Theo chiều sâu lịch sử của Việt tộc, tiểu luận dừng lại trước các oan khiên của đất nước, để hiểu tâm cảnh qua hoàn cảnh của chiến tranh, tâm phận qua hậu quả của nội chiến huynh đệ tương tàn thế kỷ XX vừa qua, cuối cùng là đi sâu vào tâm nạn tới từ bạo quyền độc tài lập nên nhà tù cải tạo sau 1975, giờ đã tới tà quyền là "hèn với giặc, ác với dân" để cảm nhận bi nạn của Việt tộc. Tâm đạo, tâm đức, tâm trí trong các giá trị tâm linh là để giúp người vì quý người.

Tâm cảnh, tâm phận, tâm nạn trong các giá trị tâm linh để cứu người vì thương người.

Ngữ văn "trời" biết thao túng

Chuẩn định của Nho giáo : nhân, lễ, nghĩa, trí, tín cho phép quân tử "thay trời hành đạo", tại sao lại đặt chính nghĩa của quân tử vào "mệnh trời" ? Tại sao lại ghép lý tưởng của quân tử vào "ý trời" ? Trong khi đó nếu trời là một phạm trù mơ hồ của nhân tri, thì chắc gì thiên lý cao, sâu, xa, rộng hơn nhân lý ? Nếu nhân lý có rễ là nhân từ, có cội là nhân tâm, có gốc là nhân bản, có nguồn là nhân nghĩa, làm nên nhân tri, dựng lên nhân trí, thì tại sao người lại thua trời, rồi để trời quyết định mệnh, phần, số, phận của người. Chính vì không định vị được "mệnh trời", "ý trời" nói chung là thiên lý (lý của trời) nên ngữ pháp "thay trời hành đạo" luôn bị cái mông lung, cái mơ hồ, cái lang bạc của ngữ văn "trời" thao túng. Vì nó càng mông lung, mơ hồ, lang bạc nên nó dễ bị khai thác trong bất cẩn, lợi dụng qua bất minh, vì hiệp sĩ có thể "thay trời hành đạo", mà giới giang hồ ít đạo lý, thiếu luân lý, vắng đạo đức cũng có thể "thay trời hành đạo", để trở thành thảo khấu trộm, cắp, cướp, giựt, vì dám "mệnh danh là mệnh trời", cho nên nhóm Lương Sơn Bạc bên Tàu được gọi là anh hùng. Nhưng dứt khoát là các giá trị tâm linh không thể ai cũng lấy ra dùng, lấy ra khai thác theo ý riêng, tức làm ra luật rừng cho mình được.

Minh bạch trong "nhất tâm hành thiện"

Việt tộc hiện nay đang sống trong bi kịch dân oan. Bọn người khi xưa vỗ ngực là cách mạng, hô to "trả lại ruộng cho dân cày", chính chúng giờ đây đã biển lận ngay trong hiến pháp : "đất là sở hữu của toàn dân", "do chính phủ quản lý", dưới sự "lãnh đạo của Đảng", nên không có một công dân nào được có sở hữu riêng về bất động sản. Từ đó, bạo quyền độc đảng tha hồ chỉ giáo bọn đàn em là tà quyền tham quan cướp đất của dân để bán lại ma quyền buôn đất, bọn đầu cơ xây cất, biến công dân thành dân oan, màn trời chiếu đất, đầu đường xó chợ, bụi đời ngay trên mảnh đất của mình. "Thay trời hành đạo", không nói rõ chính nghĩa bền vững trong một lý tưởng bất biến, nên nó không mang một giá trị tâm linh nào cho kẻ tuyên bố về nó ; ngược lại đạo Phật sắc nhọn vì chính xác về các giá trị tâm linh, nên ngữ pháp "nhất tâm hành thiện" là một ngữ pháp rõ ràng, một ngữ văn minh bạch, nó chống lại cái mông lung, cái mơ hồ, cái lang bạc của "thay trời", vì nó biết khẳng định từ, bi, hỷ, xã ngay trong cái vô thường của vạn vật, nó xác thực nội công, bản lĩnh, tầm vóc lấy tình thương xóa bỏ mọi tham, sân, si. Đây là giá trị tâm linh đích thực !

Cái tôi thành cái ta để ra cái mình

Nhờ duyên ta biết quê mình nơi đây, một câu vừa ngạn ngữ, vừa dân ca của Việt tộc, dịu dàng và dễ thương như vậy nhưng dính dáng gì tới câu chuyện tâm linh ? Có thì can hệ gì tới các giá trị tâm linh trong văn hóa của Việt tộc ? Chắc là có chứ vì chỉ cần hai chữ đầu : nhờ duyên đã tạo ra cả một vũ trụ mới, được mở ra khi mọi điều kiện để tụ duyên đã có, để chuyện khởi duyên được bắt đầu, không cảm nhận hết chữ duyên, thì sẽ không đứng lâu trên không gian văn hóa Việt được, không sống dài trong thời gian văn minh Việt được, nhất là không ra vào thảnh thơi được trong cõi tâm linh văn hiến Việt được. Có duyên thì có mọi chuyện, từ tình yêu tới hạnh phúc, còn duyên thì không có gì cả, thậm chí còn bị coi là vô phúc nữa (vô phúc vì thiếu tơ duyên, vì vắng trần duyên). Riêng từ : nhờ, vừa là chỗ dựa cho hội duyên, vừa là sức bật cho xướng duyên, vì nhờ đây là kết quả của hợp duyên nơi mà mọi điều kiện thuận lợi đã có rồi, nơi mà tam cảnh (bối cảnh, hoàn cảnh, tâm cảnh) đã nhập một. Vì bối cảnh của gặp gỡ làm nên hoàn cảnh tạo ra thân thiết đang trở thành thân mật, để chế tác ra tâm cảnh của hai kẻ sẽ chung đời chia kiếp với nhau, vì mỗi bên đều sẵn sàng trao thân gởi phận cho nhau.

Biết dạy nhau đếm 1,2,3 bằng duyên, nợ, tình

Muốn theo chân chữ duyên để hiểu chữ đời và chữ người thì phải học chữ ngộ ! Mới gặp nhau là sơ ngộ, nhờ thuận duyên nên sẽ được tái ngộ, rồi dựa vào khởi duyên thì sẽ hưởng tao ngộ, và nếu biết dựa lên hợp duyên thì sẽ có hạnh ngộ, một hạnh phúc có trong tầm tay, bền bỉ với ta, nếu ta tin vào chữ duyên này. Vì theo sau chữ duyên là sáng tạo của số học tâm linh Việt : một duyên, hai nợ, ba tình, của một dân tộc biết dạy nhau đếm 1,2,3 bằng duyên, nợ, tình, đây không chỉ là số học, không chỉ dạy đếm, mà còn là một toán học tâm linh rất tế nhị và phức tạp, vì phải để cả đời ra mà học, mà hiểu, mà thấu. Chưa hết, câu chuyện nhờ duyên không những là câu chuyện nội chất của tâm linh làm nên giá trị tâm linh cho tất cả người Việt nào tin vào nó, mà còn là động cơ của một tình cảm luân lý : biến nhờ duyên thành quê mình. Nơi mà niềm tin vào duyên biến sự thật của duyên thành : đôi ta, lứa đôi… để khi hai kẻ yêu nhau lấy nhau, thành vợ thành chồng, thì họ gọi nhau bằng tuyệt từ linh diệu của Việt ngữ : mình ơi ! (người thương của mình cũng chính là thân thể của mình). Nếu không thấy được tầm vóc tâm linh của nhờ duyên, nếu không cảm nhận được bản lĩnh tâm linh của quê mình, thì là một thiệt thòi lớn lắm thay !

Cần huyền thoại để sống khác rồi sống cao

Việt tộc kể cho nhau nghe qua bao thế kỷ, không biết bao nhiêu là thế hệ chuyện thuở Việt tộc dựng nước, Lạc Long Quân và Âu Cơ có 100 trứng, thành 100 đứa con biết gọi nhau là đồng bào, cùng mẹ cha nên, cùng một bào thai mẹ. Rồi, Việt tộc kể cho nhau nghe bao chuyện khác, nào là Sơn Tinh, Thuỷ Tinh của một quê hương có núi trên đất, có nước ngoài khơi, nên Việt tộc gọi quê hương mình là Đất Nước… Huyền thoại thì không thuộc về phạm trù của khoa học chính xác, nhưng khoa học xã hội và nhân văn thì có ý kiến sắc sảo về ảnh hưởng tâm linh của huyền thoại, mặc dầu không xác chứng được tính toán học của huyền thoại. Đây là một hệ vấn đề thật hay trong khoa học xã hội và nhân văn, vì khi nghiên cứu về huyền thoại đã được trao truyền qua bao thế kỷ, qua bao thế hệ, thì huyền thoại đã trở thành huyền sử, như linh hồn của Việt tộc, như giá trị tâm linh của Việt sử. Các huyền sử đi lại thong dong trong thư thái của không gian và thời gian của lịch sử, bằng chứng là các huyền sử có mặt trong giáo khoa, giáo trình, giáo án của trường học, làm nên cột xương sống tâm linh cho giáo dục.

Sử nâng cao nhân phẩm

Những ai buộc tội huyền thoại của một dân tộc toàn là chuyện mê tín, dị đoan, thì chính họ sẽ lạc vào cõi vô minh trong vô thức, nên vô tri trong vô trí, chóng chày sẽ bị rơi vào hố vô giác rồi trở thành vô cảm trước các giá trị tâm linh, nơi có sự phối hợp diệu kỳ giữa huyền thoạilịch sử. Sự giao thoa diệu kỳ giữa huyền thoạilịch sử trong cấu trúc tạo chuyện làm nên chất huyền hoặc của huyền sử, mà nội dung là nâng cao nhân phẩm bằng chiều sâu của các giá trị tâm linh, nơi mà thiện sẽ thắng ác, nơi mà sự sống sẽ là sức thông minh của ánh sáng sủa đi tất cả bóng tối của cường quyền. Khi mà mọi bạo quyền tới từ tà quyền đều không có chỗ đứng trong nhân phẩm, con người sẽ không cho nó thổi độc chất vào nhân tri, không cho nó biến thành ma quyền với âm binh của nó để hoành hành nhân cách, hãm hại nhân thế. Trong phương trình huyền thoại-lịch sử, thì Việt tộc có Thạch Sanh một thân một mình chém chằng, một công hai việc, không những để cứu công chúa, biểu tượng của cái đẹp ; mà còn cứu dân tức là cứu người, cứu đồng loại của mình.

Các chuyện hay, đẹp, tốt, lành có mặt trong nhân đạo

Khi thế hệ đi trước có trách nhiệm phải trao truyền ít nhất ba giá trị giáo dục cốt lõi cho các thế hệ đi sau. Thứ nhất, là sự trao truyền sự thật của lịch sử, mà sự thật làm xuất hiện chân lý với sử liệu, sử chứng, không ai chối cãi được, song hành cùng các tang chứng, làm nên chứng tích luôn có mặt trong kỷ niệm, trong ký ức, tạo ra chất sống cho sử học. Chính sự thật làm nên chân lý giúp nhân sinh thấy ra lẽ phải. Thứ nhì, khi thấy ra lẽ phải thì các giá trị của đạo đức cùng lúc trên hai nhân lộ, con đường đầu tiên giúp nhân sinh nhận ra đạo lý của các chuyện hay, đẹp, tốt, lành có mặt trong nhân đạo. Con đường tiếp theo là khi có đạo lý rồi thì nhân sinh sẽ tìm ra luân lý khám phá ra bổn phận với xã hội, trách nhiệm với đồng loại. Từ đây, ranh giới giữa đạo lýluân lý sẽ bị xóa dần đi, để tạo nên sự hòa hợp mới, làm nên các giá trị tâm linh.Thứ ba, khi các giá trị tâm linh xuất hiện giữa cuộc sống, làm đẹp và làm cao cuộc đời, thì chỉ có nhừng kẻ vô minh vì vô tri, vô giác vì vô cảm mới buộc tội huyền thoại là mê tín, là mê muội. Ngược lại, chính huyền thoại khi xuất hiện như huyền sử nó giúp con người biết sống đẹp trước bạo quyền, biết sống hay trước tà quyền, biết sống tốt trước ma quyền, biết sống lành trước bọn âm binh đang đe dọa sự sống.

Sự vận hành toàn bộ của các giá trị tâm linh đi từ  cái tôi tới tha nhân

Hãy lập nên một phương trình mới cho nhân tâm biết bảo vệ nhân phẩm : (sự thật+chân lý = lẽ phải) + (đạo lý+luân lý = đạo đức) = các giá trị tâm linh. Và khi phương trình này hình thành thì ta được trao nhận một định nghĩa mới về : tự do, một định nghĩa đẹp vì đây là cùng có tự do với tha nhân, với đồng bào, với đồng loại, để cùng hưởng chung với mọi người, mọi loài. Ngược hẳn với loại định nghĩa thấp hèn về tự do qua cái ích kỷ chỉ cho một người, một phái, một đảng có trong não trạng của bạo quyền lãnh đạo, đã thành tà quyền hãm hại dân tộc, rồi sẽ thành ma quyền buôn dân, bán nước. Sự vận hành toàn bộ của các giá trị tâm linh đi từ cái tôi tới tha nhân, tâm linh là trao không để cùng hưởng chung, mà không hề đòi trả ân, trả oán, từ đây chúng ta có được một định nghĩa về các giá trị tâm linh, qua các chỉ báo rành mạch trong sinh hoạt xã hội, trong đời sống xã hội, trong quan hệ xã hội, vì tâm linh không thể tự định nghĩa, mà phải dựa trên sự phối hợp giữa : luân lý, đạo lý, đạo đức luôn đi đôi kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức ; công bằng, công lý có từ công tâm, công đức luôn chung đôi với lương tâm, lương thiện, lương tri.

Lòng biết trao thương để nâng mọi người, mọi loài theo chiều cao của nhân phẩm

Chính sự phối hợp này làm nên trí tuệ của các giá trị tâm linh, chế tác ra tuệ giác giúp mỗi chúng ta biến các giá trị tâm linh thành động thái, động tác, làm nên hành động tâm linh ngay giữa cõi nhân sinh. Hành động tâm linh vì yêu đờivì thương người, thương một lần trọn vẹn cho trọn kiếp, trọn vẹn vì đầy đủ, không giữ gì cả cho riêng cái tôi, để không mất gì cả cho cái chung làm nên cái ta. Các giá trị tâm linh có tự tin, nên không cần mê tín, có khi cũng không cần luôn tôn giáo, không cần cả khoa học, chúng chỉ cần lòng biết trao thương để nâng mọi người, mọi loài lên cao, theo chiều cao của nhân phẩm. Có hai phân tích về các giá trị tâm linh, giúp chúng ta tránh được hai loại lầm đường lạc lối. Chúng ta thận trọng trên các từ ngữ sau đây : cái thiêng trong mê tín làm nên cái tế là lấy sinh mạng người làm vật tế thần cho thần linh, mà mình không bao giờ gặp mặt, không được đối thoại trên chủ đề nhân phẩm, thì đây là cái bạo làm nên cái chết, nó không hề có rễ của đạo đức, có gốc của đạo lý, có cội của luân lý, có nguồn của lẽ phải. Ngược lại, tâm linh thì luôn muốn đưa con người theo chiều cao để biến cái ngườichất thánh. Cho nên, cái thiêng mà dựa trên cái tế thì nó đưa còn người vào bạo lộ ngụp lặn trong mê lộ, hoàn toàn trái lại chất thánh làm sáng lên nhân lộ, đang trở thành nhân đạo cho nhân phẩm.

Bi nạn cộng sản : sự thất bại của vật chất, sự thảm bại của duy vật

Khi chọn duy vật biện chứng để xây dựng duy vật sử quan, thì ông tổ K. Marx của chủ thuyết cộng sản không chỉ đưa ý muốn dùng biện chứng qua duy vật để giải mã sự vận hành của xã hội bằng kinh tế, mà còn dùng cơ sở vật chất trong kinh tế xã hội này để chế tác ra luận thuyết chỉ phân tích lịch sử bằng hạ tầng kiến trúc vật chất. Từ tổ tới các người tự xứng danh là cách mạng để xây dựng chủ nghĩa cộng sản, từ tây sang đông đã dùng chủ thuyết duy vật biện chứng để diệt các sinh hoạt tâm linh, mà họ đặt tên gọi là duy linh, duy tâm, cùng lúc tạo ra một hệ thống tuyền truyền một chiều xem các sinh hoạt của duy linh, duy tâm là khu vực của mê tín, dị đoan, hoang tưởng, nơi mà họ không ngại xài lại câu của ông tổ của họ : tôn giáo là thuốc phiện, ru ngủ dân tộc. Chính nhận định sai trái này của những người cộng sản đã gây ra những tổn thất, mất mát các giá trị tâm linh bị đốn quỵ ngay trong các chế độ cộng sản ; cụ thể là khi làm công dân trong những xã hội này thì họ không được giáo dục nên không được sống bằng các giá trị cao đẹp của tâm linh. Đây không phải là một thắng lợi của những người cộng sản mà là một thất bại tuyệt đối của họ !

Những nhân lộ mới làm phong phú nhân đạo sẵn có

Khi sự thảm bại đã rút đi phần hồn tâm linh để thay vào đó phần xác bản năng. Khi chiều cao của nhân phẩm không phải ở vật chất, nên chiều sâu của nhân tâm không nằm trong duy vật. Khi chối bỏ và hủy diệt đời sống tâm linh trong nhân sinh, thì những người cộng sản đã tự "què quặt hóa" chính họ, tự biến mình thành người ngọng, què, chột, điếc trước các giá trị tâm linh, những giá trị biết nêu lên những điều hay, đẹp, tốt, lành của đạo lý, biết gợi ra những điều cao, sâu, xa, rộng của đạo đức, được dùng để thương người hơn, để cứu người trong cơn hoạn nạn. Mỗi lần có chiến tranh, có thế chiến, là ta thấy cách ứng dụng các khám phá khoa học kỹ thuật mới đều có thể gây ra các thảm kịch mới cho nhân loại, từ vũ khí hạt nhân tới vũ khí hóa học… Nhưng cùng lúc chúng ta phải nhìn nhận tính hữu dụng của các khám phá khoa học kỹ thuật là không thể chối cãi được, nhất là qua quá trình xây dựng các tiện nghi cho nhân sinh, từ dâng nhân tri tới nâng nhân trí. Vì vậy, chính kiến của giá trị tâm linh phải có mặt để nhận định, phân tích, giải thích các làn sóng tới từ các khám phá khoa học kỹ thuật, vừa tạo ra các thảm họa cho nhân loại qua chiến tranh, cùng lúc lại trao cho ta không những tiện nghi mới trực tiếp nâng chất lượng cho đời sống hằng ngày ; cùng lúc trao cho chúng ta những nhân lộ mới làm phong phú nhân đạo sẵn có của chúng ta.

Nội lực của ký ức bảo vệ sự trao truyền kiến thức

Chính kiến của giá trị tâm linh trong lịch sử của nhân loại luôn dựa trên ba cột trụ chính của nhân tri : sự tính toán chỉnh lý làm nên nhân lý, nội lực của ký ức bảo vệ sự trao truyền kiến thức, tư duy lý luận làm nên sự sáng tạo. Toàn cầu hóa hiện nay với khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi hằng ngày ba cột trụ này, tại đây bản thân các giá trị tâm linh phải có lý luận mới về sự tính toán chỉnh lý làm nên nhân lý đang được-hoặc-bị các khám phá khoa học vừa đột phá, vừa tràn lan làm lung lay tận gốc rễ. Kế đó là nội lực của ký ức bảo vệ sự trao truyền kiến thức, nơi mà đợt sóng toàn cầu hóa đã làm lên trận đại hồng thủy về quản lý tư liệu, cai quản chứng từ, nơi mà khả năng lưu giữ của tin học truyền thông đã vượt lên khả năng của một cá nhân, của một quốc gia. Tại đây, internet tổ chức đời sống xã hội hằng ngày của chúng ta, Facebook làm thay đổi sinh hoạt thường nhật của mỗi chúng ta, Youtube đã biến hóa phương cách tiếp nhận truyền thông của chúng ta. Sau hết là tư duy lý luận làm nên sự sáng tạo, tại đây sức tưởng tượng của mỗi cá nhân phải quản lý vô lường các lượng tin tức tới từ công nghệ truyền thông, cùng lúc sự sáng tạo luôn được-hay-bị so sánh trong một môi trường toàn cầu hóa không biên giới, đã tạo ra việc xóa bỏ lãnh thổ giữa các quốc gia hay giữa các châu lục.

Trong cơn lốc xoáy !

Chính kiến của giá trị tâm linh trước một xã hội toàn cầu luôn bị biến động bởi các khám phá khoa học kỹ thuật thường trực, tại đây các lý luận về tâm linh có thể trở lại lịch sử của nhân loại để nhận định mạch lạc các khám phá của khoa học kỹ thuật, chính chúng cũng tạo ra các thảm họa mới cho nhân sinh, cùng lúc cũng chính chúng đã, đang, sẽ tạo ra các lý lẽ mới để phục vụ nhân lý. Chúng có làm xáo trộn đời sống xã hội, từ chuyện tạo ra nạn thất nghiệp tới chuyện tạo ra các thảm họa tàn phá mới khi ứng dụng các khám phá khoa học kỹ thuật để làm vũ khí rồi đưa ngay vào các cuộc chiến ; cùng lúc cũng chính chúng đã, đang, sẽ dâng nhân trí mới, tạo nhân tri mới, để chúng ta thăng hoa nhân phẩm. Đây là câu chuyện sâu xa về phương pháp tổ chức lại các giá trị tâm linh qua các lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận trước cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang song hành cùng cuộc cách mạng truyền thông ; bằng vận tốc của vũ bão của chúng mà chúng ta phải ý thức là đang ở trong cơn lốc xoáy ! Hãy trở lại lịch sử của nhân loại không phải chỉ vì muốn giữ ký ức, mà lần này là để phận định bằng nội lực của nhân lý, bằng bản lĩnh của nhân tri, bằng tầm vóc của nhân trí chuyện mất hay còn, lợi hay hại, thắng hay thua trước các biến động được tạo ra bởi các khám phám khoa học kỹ thuật.

Các biến động tới tận gốc rễ

Công nghệ truyền thông không những đã làm thay đổi sâu xa sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội, đời sống xã hội, mà còn tạo ra các biến động tới tận gốc rễ các sinh hoạt tập thể, các tri thức cộng đồng, sức sáng tạo của cá nhân, trong một loại xã hội đôi vừa thực, vừa ảo ; cùng lúc vừa phẳng, vừa rộng. Hãy nhớ lại khi con người tìm ra chữ viết, thì con người từ lo sợ đánh mất ký ức tập thể qua truyền khẩu, nhưng cùng lúc con người lại có được sử học đã quản lý không những ký ức mà cả về sự vận hành nhân tri của cả một dân tộc, của cả một văn hóa, của cả một nhân loại… Hãy nhớ lại khi con người có toán học lại cùng lúc có thêm các khoa học lý, hóa, sinh… đã giúp con người đi vào kỹ nghệ, nhưng tại đây mỗi lần công nghệ phát triển là mỗi lần thủ công lãnh nhận những thiệt hại.

Quá trình xây dựng xã hội dân sự

Chúng ta phải nhận thấy vai trò của khoa học kỹ thuật trong sự phát triển của nhân loại, từ sản suất tới tiêu thụ, tại đây con người đã được hưởng các tiện nghi mới, từ nhân sinh tới nhân trí. Chính hiện nay nơi mà thực tế của toàn cầu hóa truyền thông qua internet tới các ứng dụng của Google, Facebook, Youtube… đã làm xáo trộn không biết bao nhiêu trật tự bình thường tưởng cứ sẽ được trường tồn, đột nhiên bị lật, bị thay, bị quỵ, bị đổ, nhưng cùng lúc chính sự phát triển của các mạng xã hội qua internet đã đóng một vai trò rất thông minh vì rất đột phá trong quá trình xây dựng xã hội dân sự, để có chức năng tích cực trong việc bảo vệ nhân quyền và tìm kiếm dân chủ tại Việt Nam, nơi mà độc đảng đã tự cho phép nó độc quyền trong bạo quyền bất nhân (hèn với giặc, ác với dân), độc trị trong tà quyền thất đức (phản dân, hại nước). Hãy sữ dụng các khám phá của khoa học kỹ thuật để phục vụ cho nhân phẩm để nâng nhân quyền, hãy tận dụng các phương tiện truyền thông toàn cầu hóa để bảo vệ dân chủ để nâng dân quyền mà lật đổ độc đảng bạo quyền, độc trị tà quyền. Hãy nhận thấy trong các biến động từ khám phá khoa học kỹ thuật, thật sự có làm nên xáo trộn, trước mắt có làm nên các thiệt hại, tại đây chúng ta phải tìm ra các lý luận mới để làm mới các giá trị tâm linh, giúp ta nhìn xa trông rộng : kẻ thua hôm nay sẽ là kẻ thắng ngày mai !

Chiều cao nhân tâm

Các giá trị tâm linh đã vượt lên sự ngạc nhiên cần thiết của triết học trước các câu hỏi về cuộc đời để đi tìm các câu trả lời cho triết luận ; các giá trị tâm linh khi đã có các câu trả lời triết lý rồi, nhưng vẫn tiếp đi theo lòng tin của nhân tâm về hướng thiện để nâng cao tuệ giác cho nhân tính. Các giá trị tâm linh dùng nội lực tự tư duy của mình để nhân lý nhận ra nhân thế như một sự sống huyền diệu mà nhân tri phải bảo vệ, mà phương pháp bảo vệ nhân loại vừa phải sử dụng không những sự chính sát của nhân lý, cùng lúc phải vận dụng cả nhân tâm để chở che cho nhân vănnhân bản. Các giá trị tâm linh mang lực tổng hợp của nhân lýnhân tâm, nơi mà nhân lý đưa đường chỉ lối cho chúng ta, còn nhân tâm luôn tạo niềm tin cho nhân tính để vượt qua mọi thử thách của nhân thế, mọi thăng trầm của nhân tình. Các giá trị tâm linh luôn giữ nhân lý của chúng ta luôn ở dạng thức, từ kiến thức tới tri thức, từ ý thức tới nhận thức, để hiểu được tâm cảnh thức trong nhân tri, để khi nhân trí phải ngủ trở lại thì tự thấy là nhân loại sẽ bớt vô minh đi, bớt vô tri đi, bớt vô giác đi, bớt vô cảm đi. Các giá trị tâm linh giúp mỗi cá nhân tự biết quên mình để nhận ra nhân loại, biết giữ trí tuệ mở rộng để có tuệ giác rộng mở, giúp nhân tri nâng cao nhân lý, giúp nhân trí đưa nhân vị đi theo chiều cao, tại đây nhân bảnnhân văn không bao giờ tách rời nhân tâmnhân đạo.

Tình yêu muôn loài song đôi với tình thương đồng loại

Các giá trị tâm linh mở ra nhân lộ có hai nhân phẩm cùng song hành, nơi mà tình yêu muôn loài song đôi với tình thương đồng loại ; các giá trị tâm linh tạo các điều kiện tốt lành nhất của nhân đức để giúp nhân loại khi đi trên nhân lộ này sẽ gặp nhân từ, từ đó nhận ra giá trị bền chặt của nhân nghĩa. Các giá trị tâm linh luôn mang theo trí lực đi tìm con đường huyền diệu, có khi mượn huyền thoại đẹp để tạo niềm tin về sự sống, từ Sơn Tinh thắng Thủy Tinh tới Thạch Sanh thắng chằn, ở đây huyền thoại không còn là một sản phẩm của hoang tưởng tới từ mộng tưởng hoang đường, mà nó là niềm tin vào cái thiện, chính cái thiện làm nên cái mỹ, để nhân sinh giữ vững niềm tin, mà đi tiếp trên các nhân lộ mới của nhân sinh. Các giá trị tâm linh có thể chỉ là tiếng nói của tình thương giữa sa mạc không người, hay giữa xã hội đã mất nhân tính đang vô cảm trước nhân tâm, đang mất nhân tính giữa nhân thế, nhưng tiếng nói tình thương này dù đang ở giữa sa mạc, hay đang lạc lỏng giữa nhân tình đã mất nhân bản, thì kết quả tối thiểu vẫn rất tích cực, vì khi kẻ nói và nghe được lời hay ý đẹp của tiếng nói tình thương này thì đã tự biết cứu rỗi được mình rồi.

Nơi hội tụ của nhân tâm, nhân lý, nhân tri

Các giá trị tâm linh có khả năng nắm thời khắc trước mặt, ngay trong hiện tại, để vận dụng nhân lý, nhân tri, nhân trí của chính mình để suy nghĩ lại, suy tư lại, trầm tư lại, để được trở về thượng nguồn của tổ tiên, của tiền nhân, để hiểu tại sao trong thử thách của nhân sinh cũng như trong thăng trầm của nhân thế, người xưa luôn giữ được không những nhân tính, nhân tâm mà cả nhân từ, nhân nghĩa để có nhân đạo mà đi tiếp trên nhân lộ. Các giá trị tâm linh giúp ta thấy rõ cõi tâm linh không những là nơi hội tụ của nhân tâm, nhân lý nhân tri, và trong cõi tâm linh thì tam nhân này luôn được nâng niu bảo vệ để tạo nên nhân lộ đưa nhân sinh đi theo chiều cao, nơi mà nhân văn nhân bản sẽ thăng hoa cho nhân vị. Các giá trị tâm linh lấy nhân lý làm nền cho nhân sinh nhưng luôn giữ nhân tính để làm gốc cho nhân loại, để nhân tâm trở thành rễ sâu của nhân tình, từ đó nhân vị cứ theo hướng nhân thiện mà đi lên theo chiều cao. Các giá trị tâm linh tạo nên nhân lộ, tạo đường đi lên cho nhân tâm, tại đây nhân lý không phải là giá trị độc nhất cho nhân sinh, vì khi nhân lộ có nền vững của nhân tâm, thì nhân lộ đã trở thành nhân đạo để dẫn dắt nhân thế chọn hướng có nhân tri hay, đẹp, tốt, lành để để bồi đắp nhân tính.

Các giá trị tâm linh luôn là lực của sự thông minh

Các giá trị tâm linh không hề là một bộ óc được đặt trên một đống sách vở, mà là trí tuệ của nhân tri đi để hiểu nhân sinh, là tuệ giác soi rọi nhân thế để hiểu nhân loại, nên các giá trị tâm linh không hề trừu tượng vì không phải là lý thuyết suông. Vì chúng đã được trải nghiệm qua nhân thế bằng chính kinh nghiệm nhân tính của nó, vì chúng đã vượt thoát thăng trầm của nhân tình bằng chính bản lĩnh vượt thắng vô tri, vô minh, vô giác, vô cảm khi con người mất đi nhân đức, đang sa lầy trong bất nhân, thất đức. Các giá trị tâm linh luôn là lực của sự thông minh biết tháo gỡ cái khung chật hẹp bị đóng chỉ bằng cái lý của khoa học, vô tình hoặc cố ý ép uổng cái tâm đa dạng, đa phương, đa chiều. Lấy cái tâm để chế tác nhân tâm, để giúp cái lý tự đi tìm cái sống, nơi mà sự sống biết dựa vào cái tin, để tạo niềm tin như ánh sáng đưa con người ra khỏi đường hầm tối tăm mỗi lần con người lầm đường lạc lối. Thấu hiểu những nỗi buồn sâu lắng nhất nhưng ngày ngày hiển diện trong nhân tri ta, tháng năm làm thổn thức nhân tâm ta. Nơi đây ta đã làm cho tha nhân mất niềm tin vào ta ; nơi mà ta đã đánh mất niềm tin ngay trên nhân lộ của mình. Nỗi buồn trở thành nỗi đau thậm tệ khi ta đã đánh mất tiền đồ của tổ tiên, đánh mất lòng tin của dân tộc, đánh mất tương lai của hậu sinh, chỉ vì sự bất cẩn của ta trước bọn buôn dân, bán nước.

Các tù nhân lương tâm là ai ?

Tù nhân lương tâm, mang hệ lương (lương tâm, lương thiện, lương tri) đi tù, vào tù vì lương tâm của mình, như vậy bạo quyền của độc đảng toàn trị, tà quyền của cơ chế độc trị, ma quyền của công an trị như đang bỏ tù cả dân tộc, cả đồng bào khi chúng đẩy các tù nhân lương tâm vào vòng lao lý. Tù nhân lương tâm là tuyến đầu trong cuộc đấu tranh cho nhân quyn nhân phm. Tù nhân lương tâm là những đứa con tin yêu của Việt tộc bằng lương tri của mình : "Sng lâu mi biết lòng người có nhân !". Tù nhân lương tâm nhắc cho dân tộc, cho đồng bào là nhân quyn luôn có chỗ dựa trên hệ nhân nơi mà nhân phm là gốc của nhân tâm, nhân t, có rễ là nhân bn, nhân văn, có cội là nhân tính, nhân lý, làm nguồn cho nhân tri, nhân trí, tất cả cùng bồi đắp cho nhân v. Tù nhân lương tâm chấp nhận : tù đày, tra tấn, nhục hình, truy sát… để đưa cả hệ nhân này vào nhân đạo, để đi trọn con đường từ nhân ái tới tận nhân nghĩa, tù nhân lương tâm là những đứa con kiên cường của Việt tộc bằng quyết tâm của mình : "Đường mòn nhân nghĩa chẳng mòn !".

Tù nhân lương tâm mở cửa cho dân tộc thấy chân trời của nhân quyền

Họ đẩy cửa cho đồng bào thấy rạng đông của dân chủ, bằng chọn lựa của hệ đa : nhận đa đảng để đón đa tài, quý đa trí để dâng đa năng, trọng đa dũng để tạo đa hiệu. Tù nhân lương tâm xuất hiện rồi dùng nhân tính để xóa não bộ của bạo quyền độc đảng toàn trị, dùng nhân lý để tẩy não trạng của tà quyền cơ chế độc trị, dùng nhân bản để gỡ não hoạn của ma quyền công an trị. Tù nhân lương tâm đầy chính nghĩa là những đứa con ngoan dũng của Việt tộc : "Sống có nhân mười phn không khó". Tù nhân lương tâm bồng, ẵm, bế, cõng hệ đạo trong chính nhân kiếp của mình, để làm sáng lên đạo lý : Mt con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ của tổ tiên, để làm rõ ra đạo đức của Việt tộc : Bầu ơi thương lấy bí cùng. Chính đạo lý khi song hành cùng đạo đức làm nên luân lý qua bổn phận và trách nhiệm của Việt tộc khi gọi nhau là đồng bào, cùng tổ tiên, cùng huyết thống. Trên thượng nguồn lập quốc con dân Việt đã sinh ra cùng một bào thai thủa nào của cha Lạc Long Quân, của mẹ Âu Cơ, luôn thấy để thấu : "Máu chy rut mm". Tù nhân lương tâm là những đứa con đoan chính của Việt tộc qua dấn thân : "Máu chy tới đâu ruột đau tới đó".

Tù nhân lương tâm mang kiến thức của giống nòi

Tù nhân lương tâm vận dụng lý lun của sự thật để nhận ra chân lý, sử dụng lp lun của chân lý để tìm ra lẽ phải, tận dụng gii lun của lẽ phải để din lun chiều cao của lương tâm, chiều sâu của lương thiện, chiều rộng của lương tri. Hệ có nội công của lý lun để biết đường đi nẻo về của nhân đạo ; có bản lĩnh của lp lun để xây nền đắp gốc cho nhân v ; có tầm vóc để dựng tường, xây mái cho nhân bn. Tù nhân lương tâm là những đứa con tỉnh táo trong sáng suốt của Việt tộc : "Người khôn chưa đắn đã đo, chưa ra tới biển đã dò nông sâu". Tù nhân lương tâm mang kiến thc của giống nòi, của đất nước để phục vụ cho tri thc của dân tộc, của đồng bào ; dâng trí thc của mình để trao ý thc cho xã hội, cho quần chúng ; truyền nhn thc của mình để tạo ra tnh thc cho bao thế hệ mai hậu. Hệ thc (kiến thc, tri thc, trí thc, ý thc, nhn thc, tnh thc) chế tác ra hệ sáng : lấy sáng kiến để giống nòi được tiến hóa, lấy sáng to để dân tộc được thăng hoa, lấy sáng chế để xã hội được tiến bộ. Hệ thc song đôi cùng hệ sáng (sáng kiến vì dân chủ, sáng to vì nhân quyền, sáng chế vì đa nguyên) thì bạo quyền của độc đảng toàn trị sẽ bị thay, tà quyền của cơ chế độc trị sẽ phải lùi, ma quyền của công an trị sẽ tự diệt ! Tù nhân lương tâm là những đứa con thông minh của Việt tộc, có "điều hay, lphi" để "nhìn xa trông rng".

Sự công bằng giữa các chính kiến

Tù nhân lương tâm, theo định nghĩa quốc tế, là những công dân một sớm một chiều thành tù nhân, vì họ có chính kiến hoặc chống lại, hoặc khác biệt với ý thức hệ, với chế độ đang cầm quyền không tôn trọng tự do ngôn luận. Như vậy, ý thức hệ độc tôn để độc tài, chế độ độc trị để độc quyền, mà trong trường hợp của Việt Nam hiện nay là độc đảng để độc quyết chính là nguyên nhân cùng lúc là thủ phạm sinh ra, tạo ra, chế ra hiện tượng : nhân lương tâm ! Hiện tượng tù nhân lương tâm không có trong các quốc gia tôn trọng văn minh của dân chủ, quý trọng văn hiến của nhân quyền, như vậy hiện tượng này chỉ có trong hiện tình của một quốc gia như Việt Nam hiện nay là độc đảng-toàn tr, trong đó hoàn toàn không có tam quyn phân lp, để có một nền tư pháp biết lấy công pháp dựa trên công lý để giải luận rõ ràng về sự công bng giữa các chính kiến. Từ đây, mọi lý luận đều dẫn đến một lập luận là : bạo quyền độc đảng-toàn trị phải bỏ tù, mà không qua đối thoại để đối luận, thì bạo quyền này được nuôi dưỡng bởi : tà kiến ! Chính tà kiến tới từ tà quyn được giáo dưỡng bởi bạo quyền độc đảng-toàn trị đã vạch ra tà lcho thượng tầng lãnh đạo bằng ngc lđể dựng lên nhà tù, rồi đẩy các công dân yêu nước thương nòi, quý dân chủ, trọng nhân quyền vào vòng lao lý.

Chính nghĩa làm đẹp lương tâm

Khi lý luận, lập luận, giải luận xong thì cùng nhau tới một diễn luận là hiện tượng tù nhân lương tâm, có nguyên nhân của đấu tranh giữa hai thế lực chính kiến đúng chống tà kiến sai đang cầm quyền bằng cái ác ! Chính kiến hay chống tà kiến ti đang cầm quyền bằng cái độc ! Chính kiến đẹp chống tà kiến xu đang cầm quyền bằng cái dở ! Chính kiến tt chống tà kiến tc đang cầm quyền bằng cái bẩn ! Chính kiến hay chống tà kiến ti đang cầm quyền bằng cái hiểm ! Hiện tượng : tù nhân lương tâm luôn là cuộc đấu trí giữa : lương tâm chống lại bạo quyền lãnh đạo ; lương thiện chống lại tà quyền tham quan, lương tâm tri chống lại ma quyền tham quyền. Chính hệ lương (lương tâm, lương thiện, lương tri) làm nên định nghĩa, có định đề làm nền cho định luận của hiện tượng tù nhân lương tâm, tại đây tù nhân vì chính kiến của chính nghĩa đã làm đẹp cụm từ lương tâm, làm thăng hoa nhân cách của tù nhân, vì nhân chính là chủ thể của lương tri.

Tù nhân lương tâm : tù vì ý thức

Tù nhân lương tâm, bị một bạo quyền lãnh đạo mang tà lực của âm binh bỏ tù mình bởi mình có ý thức, thì đây là định nghĩa, định đề, định luận khác, cũng thật đẹp. Vì trong ngữ văn cũng như ngữ pháp cả hai ngữ vựng : lương tâm ý thc đều đẹp vì cả hai đại diện cho đạo lý đúng, hay, tốt, lành để đối diện rồi trực diện trước cái phản đạo lý xu, ti, tc, dđến từ cái phản luân lý thâm, độc, ác, him trong cuộc sống. Định nghĩa thế nào là tù nhân lương tâm cần cả hai gc, r, ci, ngun của hai hệ : hệ lương (lương tâm, lương thiện, lương tri), hệ thc (kiến thc, tri thc, trí thc, ý thc, nhn thc, tnh thc). Tại đây, kiến thc xuất hiện để xóa vô tri, tri thc có mặt để loại vô minh, trí thc hiện diện để bứng vô nghĩa, ý thc ra đời để gạt đi vô cảm, nhn thc đứng lên để vùi vô tâm, làm nên tnh thc từ lương tâm tới lương tri. Tại đây, chọn lựa của các đứa con tin yêu của Việt tộc, vừa cõng hệ lương (lương tâm, lương thiện, lương tri), vừa bồng hệ thc (kiến thc, tri thc, trí thc, ý thc, nhn thc, tnh thc) tạo nên một sung lực cho quần chúng, cho xã hội, sung lực đó chính là hùng lực của sự phn tnh.

Sự phản tỉnh là sự tỉnh giấc của đồng bào, của dân tộc

Sự phn tnh là khi tnh gic của đồng bào, của dân tộc đã qua ác mộng của tà lộ được tà quyền vẽ ra qua ngu dân bằng tuyên truyền, qua áp chế, khủng bố, trù dập của một chế độ lấy công an trị để gieo cái sợ, dùng cái sợ để truy hủy sung lực của tỉnh thức, để truy diệt hùng lực của sự phn tnh. Hãy lý luận tiếp để lập luận thêm là bạo quyền lãnh đạo không sợ sự thật, nó chỉ sợ sự thc tnh. Tà quyền tham quan không sợ chân lý, nó chỉ sợ sự phn tnh. Ma quyền tham quyền, không sợ lẽ phải, nó chỉ sợ sự tnh gic. Chính các tù nhân lương tâm đại diện cho cả ba : sự thc tnh trước bất công, sự phn tnh trước bất luân, sự tnh gic trước bất nhân. Quá trình của lương thiện vừa là vốn của nhân phẩm, vừa là động cơ cho đấu tranh vì công bằng và dân chủ, để mở rộng chân trời của lương tâm biết dấn thân vì đời, vì người, với lương tri của nhân bản để có nhân vị xứng đáng cho nhân vị trong một chế độ độc đảng toàn trị. Chính chị là nạn nhân của chính sách xuất khẩu lao động, một sách lược khốn kiếp của lãnh đạo độc tài đã và đang vùi lấp nhân phẩm Việt, khi con dân Việt một sớm một chiều trở thành : lao nô, nô tỳ cho các nước láng giềng.

Hằng số của phương trình lương thiện-lương tâm-lương tri

Tồi tệ như bọn lãnh đạo là tay chân của chúng là bọn làm môi giới, tha hồ vơ vét tiền hối lộ của các con dân Việt thất nghiệp đã túng quẫn tới đường cùng, lại phải chi tiền cho chúng mới được đi ra nước ngoài làm loại lao động rẻ tới tận cùng của mạt vận. Bọn lãnh đạo thì đầu cơ chính sách, bọn môi giới thì đầu nậu buôn người, chúng chính là loại ký sinh trùng bòn rút sinh lực đồng bào, một loại ký sinh đang nắm quyền, cầm quyền, và bám quyền để vơ vét cho tới ngày chúng bị mạt vận trong ma trận của chính chúng dựng lên. Hãy nhận diện các hằng số trong phương trình lương thiện-lương tâm-lương tri từ đấu tranh cho công bằng xã hội tới chủ thể đấu tranh toàn diện trên mọi bất công xã hội : đấu tranh để bảo vệ các nạn nhân trong chính sách xuất khẩu lao động mà thực chất là thực hiện một chế độ nô lệ mới mà ai cũng có thể là nạn nhân, mà thân thể hiện đang mang thương tật trên đoạn đường làm nô lệ này. Từ đây, một chủ thể Việt vừa tiếp tục đấu tranh chống chính sách xuất khẩu lao nô, cùng lúc ủng hộ các phòng trào bảo vệ môi trường, trực diện với bạo quyền để đấu tranh chống ô nhiễm do Formosa gây ra.

Bọn bạo quyền lãnh đạo xảo ngôn trong điểm lộ, cùng bọn tà quyền tư pháp gian nghiệp trong điểm phận

Đứng cạnh, đứng kề cùng dân oan chống bọn tà quyền tham quan, ma quyền tham đất, cả hai chúng chỉ biết tham tiền đang chủ trì ma sách nheo nhóc hóa Việt tộc. Phương trình lương thiện-lương tâm-lương tri đấu tranh cho công bằng xã hội, ở bất cứ nơi nào có bất công, đi tới đấu tranh vì tự do, vì nhân quyền và dĩ nhiên vì dân chủ. Hãy nhận diện các chỉ báo mà các tù nhân lương tâm phải trả giá trước bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tư pháp, ma quyền công an. Tù nhân lương tâm, có mặt trên hai trận tuyến đấu tranh cho xã hội, một tại công đoàn, hai trong phong trào bảo vệ môi trường sau đại nạn ô nhiễm miền Trung do Formosa gây ra. Đấu tranh trên hai mặt trận của xã hội dân sự, thì đối với bạo quyền lãnh đạo đã là đa lý, vì tà quyền độc đảng rất sợ các chủ thể đa lý, vì họ đa tài, đa năng, đa hiệu và nhất là đa trí trong công cuộc đấu tranh vì công bằng và tự do. Trong lao tù tại nhà tù với điều kiện lao lý khắc nghiệt, để hủy diệt thể lực, hành hạ tù nhân lương tâm bằng những bản án dài, hành sát tù nhân lương tâm bằng điều kiện lao lý của loại địa ngục trần gian, nơi mà nhân quyền là chướng ngại vật luân lý mà bọn bạo quyền lãnh đạo xảo ngôn trong điếm lộ, cùng bọn tà quyền tư pháp gian nghiệp trong điếm phận.

Cái ác cặp kè cùng cái độc và cái hiểm

Trong cái ác của bạo quyền, trong cái thâm của tà quyền, trong cái độc của ma quyền là sự vô tâm của chúng đã "sn xut" ra lương tri, khi chúng đưa những người lương thiện vào vòng lao lý, bị bắt, bị lãnh án tù bằng của các phiên tòa bất lương, vô nhân. Trong bán án kết tội, thì bọn quan tòa bất nhân của tòa án vô luân đã kết tội luôn có luận điệu : "chống đối những người đang thi hành công v !". Vu khống để vu cáo rồi vu họa lên kẻ lương thiện, đó là hành vi giờ đã thành phản xạ của tà quyền, mà sự thật có trong lương tâm của mỗi công dân Việt. Những năm tháng trong tù là cuộc tra tấn tàn bạo, dã man của những tên công an cai ngục, ngày ngày chúng đóng vai đồ tể để tra tấn bằng đòn thù trong ý đồ hành xác. Những đòn thù của tra tấn, luôn song hành bằng hành vi tồi tệ của âm binh âm giới nơi chỉ có cái ác xuất hiện ở dạng điếm nhục nhất. Những trận đòn chỉ để gây nội thương lâu dài, với các lời nhục mạ vô liêm sỉ, với những lời phỉ báng bất nhân nhất. Những ngày tháng trong tù đày là những ngày tháng bị tra tấn bằng đòn thù mà cũng là những ngày tháng bị lao động vất vả như một cực hình khác song hành cùng tra tấn. Bạo quyền không hề có tư duy để lý luận là khi tù đày song lứa cùng tra tấn rồi song đôi cùng lao động như nhục hình thì chính tại đây khi cái ác cặp kè cùng cái độc và cái hiểm.

Đánh thức lương tâm của quần chúng

Đánh thức lương tâm của quần chúng, trong xã hội, trong và ngoài nước mà bạo quyền lãnh đạo, tà quyền công an, ma quyền cai ngục không sao đoán hết được hậu quả một ngày kia sẽ tới với chúng ! Là biểu tượng của lương tâm trong một chế độ bất lương, đã khủng bố, truy lùng các chủ thể yêu tự do, trọng dân chủ, quý nhân quyền ; một chế độ đã biến xã hội là một nhà tù khổng lồ với bạo quyền lãnh đạo độc đảng có quyền sinh sát công dân Việt, ma quyền công an có quyền truy sát các chủ thể đấu tranh vì công bằng, tự do, dân chủ, nhân quyền. Đó chính là cuộc đời phải luôn dời chỗ ở, luôn tránh thoát các khủng bố, bắt bớ của bạo quyền và ma quyền này. Và trong điều kiện phải sống như vô hình ngay trên đất nước của mình đang bị quản thúc bởi âm binh công an. Chủ thể của lương tâm hoạt động không ngưng nghỉ từ báo chí tới mạng xã hội, đúng nghĩa chủ thể của trách nhiệm với đất nước, của bổn phận với đồng bào, còn phải là chủ thể của sáng tạo các đường lối đấu tranh, của tri thức nhìn xa trông rộng trước hiện tình của đất nước, với các tư duy sáng suốt mang lại những phương pháp cụ thể trong đấu tranh chính trị, xã hội, truyền thông nói lên chính nghĩa cốt lõi của mọi công dân yêu tự do, quý dân chủ, trọng nhân quyền.

Mẫu số chung giữa các tù nhân lương tâm

Hành động vì lương tâm và hành tác vì lương tri là biểu tượng của lòng khao khát công bằng, tự do, dân chủ cho Việt Nam. Cái thiếu công bằng, cái vắng tự do, cái mất dân chủ của Việt tộc hiện nay chính là cái bất hạnh dưới bạo quyền bất lương. Động cơ tranh đấu của các tù nhân lương tâm : nguyên nhân, lý do làm lên động lực của dấn thân vì đời, vì người. Phương pháp đấu tranh cụ thể trong môi trường xã hội cụ thể, địa phương hay toàn quốc, chính trị hay môi trường, luật pháp hay xã hội… Khi có phân tích về hai chỉ báo này, thì phân loi hóa phải giải thích tiếp sự tương đồng và khác biệt giữa các tù nhân lương tâm, trong đó đồng thuận trên các tiêu chí và phạm trù đấu tranh sẽ giúp chúng ta tìm tới mẫu số chung giữa các tù nhân lương tâm, đây chính là sự đồng thuận như một định đề giải luận để định vị về động cơ tranh đấu cũng như phương pháp đấu tranh của các tù nhân lương tâm : đồng thuận xã hội : đấu tranh cho tự do, công bằng, bác ái ; đồng thuận chính trị : đấu tranh cho dân chủ, đa nguyên, nhân quyền ; đồng thuận đạo lý : đấu tranh chống tham ô, tham nhũng, tham quyền ; đồng thuận giáo lý : đấu tranh cho giáo dục, giáo khoa, giáo án ; đồng thuận tín ngưỡng : đấu tranh vì tự do tôn giáo, tín ngưỡng, niềm tin ; đồng thuận cộng đồng : đấu tranh vì môi trường, môi sinh, thiên nhiên… Chính các đồng thuận này làm nên nội công đạo lý và luân lý các tù nhân lương tâm.

niemtin8

Tù nhân lương tâm : trách nhiệm với đất nước, bổn phận với đồng bào

Nội lực của lương thiện chính là sung lực của lương tâm, là hùng lực của lương trí. Các tù nhân lương tâm không xem ai là tthù, vì họ không xem ai là đối thcủa họ, họ không dùng con người làm đối phương, và trong nhận định cũng như trong định luận của họ thì : tthù của các tù nhân lương tâm là hành vi phản dân hại nước, buôn dân bán nước, mại quốc cầu vinh. Đối thcủa các tù nhân lương tâm là hành động của tà quyền tham quan vì tham quyền để tham nhũng. Đối phương của các tù nhân lương tâm là thái độ mang voi dày mt, rồi cõng rn cn gà nhà, trong bối cảnh thừa nước đục thcâu, với bất công của ma quyền là cốc mò cò ăn. Các tù nhân lương tâm thẳng lưng vì đạo lý hay, đẹp, tốt, lành, thẳng bước vì luân lý có trách nhiệm với đất nước, có bổn phận với đồng bào, nên họ không có tử thù !

Tù nhân lương tâm : vốn gốc của nhận thức

Đơn phương độc mã chống lại bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền, thì thường xuyên xem xét kỹ lưỡng vn tri thc có trong vn chính trcủa mỗi chủ thể, vn xã hi trong vn kinh nghim của mỗi cá thể. Các vốn sau đây được nhận ra trong lý lịch, trong hồ sơ, có ngay trong chân dung của các tù nhân lương tâm của Việt Nam : vốn lương thiện chống bất bình đẳng ; vốn lương tâm chống bất công ; vốn lương tri chống bất tài. Ba vốn này của hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri) vn ngun để vạch mặt chỉ tên bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền, nhưng nó chưa đủ để làm hành trang vững bền trong công cuộc đấu tranh trường kỳ. Vì bạo quyền sẽ dùng bạo lực, tà quyền sẽ dùng tà lực, ma quyền sẽ dùng ma lực không những qua tuyên truyền, tuyên giáo, mà bọn này còn biết dùng vu khống, vu cáo, vu họa để làm tổn thương thanh danh rồi tìm mọi cách để truy diệt các chủ thể của hệ lương này. Ở đây, xuất hiện một vn gc của hệ thc : lấy kiến thc chống tuyên truyền, lấy tri thc chống ngu dân, lấy trí thc chống độc tài, lấy ý thc chống độc tôn, lấy nhn thc chống độc quyền, lấy tnh thc chống độc trị.

Các tín hiệu, các chỉ báo để đưa ma quyền vào tử lộ !

Chính hệ thc (kiến thc, tri thc, trí thc, ý thc, nhn thc, tnh thc) giúp các chủ thể đấu tranh tiếp cận stht để chống bưng bít, chân lý để chống bịp bợm, l phi để chống man trá của bọn bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền, từ đây xuất hiện một vn ci của hệ thông ; sử dụng thông minh để xóa độc đoán của bạo quyền lãnh đạo ; vận dụng thông thái để xua độc hại của tà quyền tham quan ; tận dụng thông tho để loại độc tham của ma quyền tham tiền. Từ vn ci của hệ thông các chủ thể đấu tranh cho tự do, công bằng, bác ái bằng con đường của dân chủ, nhân quyền, đa nguyên, sẽ cho xuất hiện một vn rcủa hệ sáng. Dùng sáng kiến để lập hành trình đưa dân tộc, đất nước ra khỏi bạo quyền. Dùng sáng to để lập hành trang đưa đồng bào, đồng loại ra khỏi tà quyền. Dùng sáng lp ra các phong trào xã hội đưa nhân quần ra khỏi ma quyền. Tất cả những vốn vừa được liệt kê cũng chính là các tín hiệu, các chỉ báo để đưa ma quyền vào tử lộ !

Tỉnh thức rộng, nhận thư sau

Khi tổng hợp hai vốn làm nên nội công và bản lĩnh của các tù nhân lương tâm : vn tri thc có trong vn chính tr, vn xã hi trong vn kinh nghim. Ta nhận ra hai vốn này có ngun, gc, ci, r, đã hiện diện trong nội lực làm nên sung lực để dấn thân, rồi hùng lực trong đấu tranh của các tù nhân lương tâm : vn ngun của hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri) ; vn gc của hệ thc (kiến thc, tri thc, trí thc, ý thc, nhn thc) ; vn ci của hệ thông (thông minh, thông thái, thông tho) ; vn rcủa hệ sáng (sáng kiến, sáng to, sáng lp). Các phân tích này không hề trừu tượng, các giải thích trên không hề mơ hồ, chúng có trong lý lịch, hồ sơ làm nên chân dung của các tù nhân lương tâm. Ngay như những chủ thể không có học thức cao, nhưng họ có sự tỉnh thức rất rộng, nhờ có nhận thức rất sâu về bạo quyền độc đảng, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền.

Tù nhân lương tâm : đối trọng của độc trị ?

Khi ta đi tìm sự thật về dấn thân, chân lý về đấu tranh làm nên lẽ phải trong lương tri của các tù nhân lương tâm, ta thấy xuất hiện hệ đối : đi kháng, chống bạo quyền độc đảng, tà quyền độc tôn, ma quyền độc trị đang trùm phủ lên toàn xã hội, lên trọn số phận của Việt tộc. Rồi đi trng, chống bất công trong xã hội, bất tài trong quản lý, bất nhân trong đạo lý, đã tạo ra đói nghèo trong dân chúng, lầm than trong xã hội. Bằng Đối lc, chống tham quan đang tham quyền để tham ô qua tham nhũng, làm nên tà lộ từ sâu dân mọt nước tới buôn dân bán nước. Nhận Đối din, để trực diện mà chống mọi nguồn gốc của ngu dân, mà tội phạm là tuyên giáo nắm tuyên truyền, gây bao độc hại từ độc đoán của độc đảng. Đối đầu, để đấu trí chống bạo quyền là chống chế độ công an trị, chống tà quyền là chống bọn vi hiến và phạm pháp, tội phạm và tội đồ của Việt tộc.

Hệ hành của các tù nhân lương tâm

Hành trang, luôn mang theo bốn vốn : lương tri, nhận thức, thông thái, sáng tạo, để vừa đấu tranh trực diện, vừa đấu tranh lâu dài với bạo quyền độc đảng, tà quyền độc tôn, ma quyền độc trị. Hành trình, vừa có khó khăn qua la thvàng, gian nan thsc, vừa của thử thách bằng đầu sóng ngn gió, trong thăng trầm với sóng cao nhưng vững tay chèo. Thậm chí có ngục tù, tra tấn, có cả truy diệt, thủ tiêu. Hành vi, vừa có kiên cường của sng lâu mi biết lòng người có nhân, vừa có đạo lý của tổ tiên, của dân tộc trong sống có nhân mười phn không khó, nơi mà cái khó không bó được cái khôn của các tù nhân lương tâm. Hành động, từ đề nghị vì tự do để có công bằng và bác ái tới quyết định dấn thân vì dân chủ và nhân quyền trong đa nguyên : hành động của đạo lý. Hành tác, mang hành động của đạo lý hay, đẹp, tt, lành tới quần chúng và xã hội để đánh thức mọi người, đây là hành tác của bổn phận trước đồng bào, trách nhiệm trước đất nước để làm nên luân lý yêu nước thương nòi như quý nhân sinh, trọng nhân tâm. Tại đây, sự thật về dấn thân, chân lý về đấu tranh đã làm nên lẽ phải trong lương tri của các tù nhân lương tâm, thì s tht-chân lý-lphi đã được cõng, bồng, bế, ẵm bởi hệ hành của các tù nhân lương tâm !

Tù nhân lương tâm : công chúng của công bằng

Ai là tù nhân lương tâm ? Họ các công dân là những con người có mong cầu được sống trong một chế độ tốt biết bảo quản cho một xã hội tốt, một định chế tốt biết bảo hành một cuộc sống tốt. Chính tính từ tt đã làm nên định đề để định vị nhân quyền của con người là luôn muốn có một quan hệ tốt giữa họ và chính quyền. Và khi họ phải trực diện dùng tính mạng để dấn thân chống một chế độ xấu sản sinh ra một xã hội tồi, một định chế ác đã tạo ra một cuộc sống tục, thì họ có thể trở thành tù nhân lương tâm bất cứ lúc nào bởi bạo quyền cầm quyền. Nếu chính quyền xấu và ác đó bỏ tù họ, đẩy họ vào vòng lao lý thì chính quyền đó không những xu, ti, tc, dmà nó còn thâm, độc, ác, him đã dùng bạo lực để truy sát những cái hay, đẹp, tt, lành đã có trong tính lương thiện, làm nên lương tâm, dựng lên lương tri của họ.

Tù nhân lương tâm : lập quyền tự quyết

Quá trình nhn thc của một công dân trước bạo quyền độc đảng, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền đã liên minh với nhau thành một tổng thể để vơ vét tài nguyên đất nước, trấn lột tiền bạc của đồng bào. Tại đây, quá trình đấu tranh cũng được xây dựng như một tổng thể mà nhn thc là hạ nguồn, mà thượng nguồn là kiến thc tới từ thực trạng xấu của một xã hội đang bị đồi bại hóa bởi bạo quyền độc đảng. Khi kiến thức khi được xếp đặt thành tri thc để biết về một dân tộc đang bị âm binh hóa bởi tà quyền tham quan làm giàu bằng tham ô và tham nhũng. Sự xuất hiện của ý thc khi khám phá ra một ma quyền tham tiền khi tham đất thì phá nhà để cướp đất, biến dân lành thành dân oan, giờ đây đã định hình thành nhn thc. Mà nhn thc chính là sự tnh thc trước bất công của bạo quyền độc đảng, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền, đã làm nên sự cnh tnh trước các hiểm họa đang đe dọa một đất nước, một dân tộc, một tiền đồ, một đạo đức quốc gia. Họ muốn Việt tộc phải có quyền tự quyết, ra khỏi cái nhà tù vô hình đang trùm phủ lên số phận của cả một đất nước, đang vùi lấp ngay trên tương lai của của cả một dân tộc.

Tù nhân lương tâm : chống bạo quyền độc đảng

Thế nào là lương tâm ? Và ai là tù nhân lương tâm ? Hãy đi từ đời sng xã hi có công bằng hay đang chịu bất công, trong hiện trạng của Việt Nam, thì chính bạo quyền độc đảng là nguồn gốc của mọi bất công từ chính trị tới kinh tế, từ giáo dục tới nghề nghiệp, từ cá nhân tới tập thể, từ cộng đồng tới dân tộc. Tại đây, sự phân biệt trong đảng ngoài đảng, là nguồn cơn sâu xa của một hệ thống bất công và rất bất nhân. Rồi tới sinh hot xã hi, trong đó những kẻ được xem là trong đảng, tức là được Đảng cộng sản Việt Nam bảo hộ rồi bảo kê thì được vào "đúng quy trình" của tham quyn để thành tham quan, rồi lấy tham ô tham nhũng, và thảnh thơi trong tham tin trong vi hiến và phi pháp, mà công lý của pháp quyền luôn bị vùi dập. Để tới là quan hxã hi của thảm kịch Việt nay hiện nay là hối lộ để mua chc bán quyn của loài ký sinh trùng hút máu chính đồng bào của mình để vinh thân phì gia. Đa số này đã trở thành bọn sâu dân mọt nước, thừa nước đục (độc đảng) để thả câu mưu lợi vì tư lợi của chúng. Hiện nay đời sng xã hi đã và đang bị bạo động hóa bởi bạo quyền độc đảng với hành vi xu, ti, tc, d ; khi sinh hot xã hi đã và đang bị đồi trụy hóa bởi tà quyền tham quan với hành tác trm, cắp, cướp, git, khi quan hxã hi với đã và đang bị âm binh hóa bởi ma quyền.

Tù nhân lương tâm : thành người trong giáo dục

Các tù nhân lương tâm sẽ ngày càng nhiều nếu bạo quyền độc đảng còn cầm quyền, tà quyền tham quan còn giữ quyền, ma quyền tham tiền còn có quyền, khi chúng tiếp tục vùi dập nhân tâm, truy diệt nhân bản, ám sát nhân quyền. Các tù nhân lương tâm chính là công pháp vì công chúng để vch mt chtên bạo quyền độc đảng, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền đang trù ếm nhân phẩm của Việt tộc. Tại đây, lương tâm là gì ? Là những người đã thành người trong giáo dc : mọi công dân trong một nhà nước pháp quyền đều được hưởng thành công trong giáo dục, nơi mà kiến thức giúp sự trưởng thành về nhân cách luôn song hành cùng tri thức của khoa học nơi mà sự thật của khoa học làm nên chân lý của nhân sinh. Thảm trạng của Việt Nam hiện nay là cái giđã ngự trị để giết cái tht với hc gi-thi gi-điểm gi-bng gi. Khi sự bất công đã có mặt ngay trên thượng nguồn khi học làm người, tức là ngay tại học đường, với mua bng bán cp, chính nó đã đánh thức tính lương thiện, đã làm tỉnh thức lương tâm, để lương tri để một công dân đi vào cuộc dấn thân vì giáo dục, giáo lý, giáo luận.

Tù nhân lương tâm : bảo vệ thành quả của đồng bào

Các tù nhân lương tâm là ai ? Họ chính là những chủ thể đấu tranh đang chống lại bạo quyền, tà quyền, ma quyền đã trm, cặp, cướp git đi các thành qu của họ và của đồng bào họ thành tài trong nghnghip : mọi công dân khi rời trường lớp, rời một hệ thống giáo dục để làm người trưởng thành như một chủ thể có bổn phận với đồng bào, có trách nhiệm với tổ quốc, có lương tâm tốt để phục vụ tốt cho nghề nghiệp mà chính họ có tự do chọn lựa. Thảm họa của xã hội Việt hiện nay là mua chc bán quyn để vinh thân phì gia, nơi mà nht nghtinh nht thân vinh không chỗ đứng ghế ngồi, mà phải nhường chỗ cho hoạn bịnh của chế độ độc đảng giữ độc tài nhưng hoàn toàn bất tài trong quản lý, bằng ung thư do chính nó tạo ra : tin t-quan h-hu duđể diệt trí tucủa nghlẫn nghcủa tất cả ai yêu nghề, trọng nghệ để có một nghip tốt.

Tù nhân lương tâm : bảo vệ vốn liếng của đồng bào

Các tù nhân lương tâm là ai ? Họ chính là những chủ thể đấu tranh đang chống lại bạo quyền, tà quyền, ma quyền đã trm, cặp, cướp git đi các thành qu của họ và của đồng bào họ thành công trong kinh tế : mọi công dân trong một nhà nước pháp quyền biết bảo vệ nhân quyền đều phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để chuyện thành người trong học đường và thành công trong nghề nghiệp cụ thể trở nên thành công trong kinh tế, với đời sống vật chất vững, với vốn liếng tài chính bền. Sự bền vững của một cuộc sống kinh tế có thăng tiến là chỉ báo rành mạch của một xã hội có chính quyền liêm chính, có chính phủ liêm sỉ, vì có chính sách lãnh đạo liêm minh. Nơi đây, tà quyền tham quan không có chỗ đứng, tại đây ma quyền tham tiền không có ghế ngồi, mà chỗ đứng ghế ngồi của chúng là các tòa án của lương tâm mà từ chứng nhân tới với chứng từ được công bố bởi chính các tù nhân lương tâm đã là nạn nhân của chúng. Thành tu trong xã hi : mọi công dân trong một quốc gia có văn minh vì trọng dân chủ, một xã hội có văn hiến vì yêu nhân quyền khi đã thành người trong giáo dục, thành tài trong nghề nghiệp, thành công trong kinh tế sẽ được công nhận bằng thành tựu trong xã hội, nơi mà những chặn đường hay, đẹp, tốt, lành của một định chế sẽ tạo dựng được thành qucủa cả một đời người.

Tù nhân lương tâm : thấu đáo đạo lý tổ tiên Việt

Các tù nhân lương tâm là ai ? Là các chủ thể nhận bổn phận với dân tộc, lãnh trách nhiệm với tổ quốc để lập nên phương trình đôi để đấu tranh bạo quyền độc đảng, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền. Các tù nhân lương tâm bảo vệ phương trình thứ nhất của thượng nguồn nhân bn : lương thiện-lương tâm-lương tri, có trong nhân tính Việt, có trong nhân lý Việt. Các tù nhân lương tâm bảo vệp hương trình thứ nhì của hạ nguồn nhân v : công bng-công lý-công pháp, có trong nhân nghĩa Việt, có trong nhân tri Việt. Sự liên kết từ thượng nguồn tới hạ nguồn làm nên sự liên minh trong dấn thân, trong đấu tranh qua một phương trình đôi để khẳng định nội công, bản lĩnh và tầm vóc của các tù nhân lương tâm. Phương trình đầu tiên của hệ hành : lấy hành vi lương thiện làm nên sự tỉnh thức của lương tâm, lấy định vị của lương tâm làm nên ảnh hưởng của lương tri trong quần chúng, trong xã hội. Phương trình tiếp theo của hệ kháng : lấy đối kháng để trực diện với bạo quyền độc đảng phản dân chủ, với đối lun để đối đầu với tà quyền tham quan phản công bằng, với đối trng chống ma quyền tham tiền phản đạo đức dân tộc. Các tù nhân lương tâm là ai ? Họ là những công dân Việt đã hiểu, đã thấu đạo lý tổ tiên Việt : Cây ngay không schết đứng !

Tù nhân lương tâm : địa danh của nước mắt

Tù nhân lương tâm không phải là tù nhân hình sự, chẳng phải là tội nhân phạm pháp, họ ngược lại với tập đoàn tội phạm lãnh đạo, với bè lũ tà quyền đã bán lương tâm cho ma quyền tham tiền. Vì tù nhân lương tâm đã thực hiện được, đã thể hiện được một nhân lý lng trong nhân tính, một nhân trí lng trong nhân tri là họ đã : đứng về phía nước mt ! (nước mắt của nạn nhân). Một nhân sinh quan, một thế giới quan trung tâm ngay trong địa lý, địa dư, địa phận, địa danh của nước mt, một chuyện mà không sao bạo quyền, tà quyền, ma quyền làm được, vì chúng chính là tác giả và tác nhân rất bất nhân đã làm ra : nước mt ! Nhà tù của bạo quyền độc đảng đã dùng tà quyền tư pháp làm công cụ để hủy diệt một công dân chỉ muốn nói lên tiếng nói của công chúng, đòi công lý cho các nạn nhân của chế độ bạo tà này. Nguyên nhân sâu xa trên thượng nguồn là sự uất ức đã biến thành lòng quả cảm trước tội ác của bọn tà quyền lãnh đạo với chế độ âm binh toàn trị của chúng đang trùm phủ lên số phận của dân tộc.

Một thảm sử đang vây Việt tộc

Shc được xây dựng trên sliu mang skin trong không gian lịch sử với định điểm của thời gian. Trong trường hợp của Việt tộc luôn có Việt tính kiên cường để bảo vệ chủ quyền và độc lập, thì Việt tính được hiểu và được soi như một hằng số, thì đây là stính. Có khi hng sthun với sử tính lập đi lập lại qua kháng chiến chống kẻ thù xâm lược phương Bắc, có khi nó lại là hng số ngược của Việt tộc, đã nhiều lần mất nước vì bọn bán nước, vì chúng mi quc cu vinh. Việt tộc có Ngô Quyền đứng lên như bão tố, một sớm một chiều quét sạch một ngàn năm Bắc thuộc, nhưng Việt tộc cũng có những đứa con mi quc cu vinh, trước khi bán nước chúng là bọn sâu dân mọt nước bằng tham ô, tham nhũng, từ bòn rút tài nguyên của đất nước tới vơ vét tiền tài của dân tộc. Từ sâu dân mt nước, chúng dễ dàng sa lầy vào tà lộ của phn dân hại nước, chỉ đi thêm môt bước nữa là chúng buôn dân bán nước, mang voi vgiày mtđể rồi là cõng rn cn gà nhà, có mặt ở cấp cao nhất của tập đoàn lãnh đạo hiện nay, một bi sử đang chực Việt tộc, một thảm sử đang vây Việt tộc.

Hằng số thuận của lòng yêu nước

Hng sthun của lòng yêu nước có trong Việt tính kiên cường để bảo vệ chủ quyền và độc lập, luôn phải song hành và phải đề phòng, phải cảnh giác với hng số ngược là bọn mi quc cu vinh, sâu dân mọt nước, phn dân hại nước, buôn dân bán nước. Giữa hằng số thuận yêu nước và hằng số ngược phản quốc, chúng ta có hng shệ lương, với nền lương thiện biết dựng thẳng lên lương tâm với lương tri sắc nhọn để tố cáo tà quyền buôn dân, để tố cáo ma quyền bán nước. Việt sử không thiếu các chủ thể liêm chính như Chu Văn An, như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm... biết vch mt chtên bọn tham quan chỉ tham tiền mà quên đi tiền đồ của tổ tiên, cơ đồ của dân tộc. Hng shệ lương hiện đại chính là các tù nhân lương tâm hiện nay, tuệ giác của Việt tính, các đứa con tin yêu của Việt tộc, các hậu duệ chính thống từ tinh thần tới luân lý của Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm... Stính là sự thông minh tới từ nhân trí của con người biết, hiểu, thấu lịch sử và không muốn lặp lại các sai lầm của quá khứ, của đời xưa. Như vậy, sử tính là tính sáng tạo ra lịch sử trong hiện tại vì tương lai, nhất quyết không lập lại các sai sót, sai lạc, sai lầm đã có trong lịch sử thủa nào. Từ đây, trong nhân loại xuất hiện các chủ thể đấu tranh cho tự do, dấn thân vì công bằng, lấy nhân quyền để bảo vệ nhân phẩm, có trách nhiệm với nhân bản, có bổn phận với nhân đạo, dấn bước vì nhân tâm.

Nhận thức nhân quyền

Khi ta tổng kết được lịch sử của nhân quyền, ta sẽ nhận ra quá trình tiến bộ của nhận thức nhân quyền đi từ một quan niệm chính đáng về tiến bộ vì quyền làm người, trong đó nguyên tắc của nhân quyền là nền tảng cho mọi tổ chức xã hội muốn có văn minh của dân chủ, văn hiến của nhân quyền. Nhận thức nhân quyền đi từ tính phổ quát về quyền làm người tới quy luật bảo vệ tự do cá nhân như tự do căn bản nhất, để nhận ra bản chất của một tập thể, một cộng đồng, một chế độ về cách hành xử biết tôn trọng nhân quyền của của cá nhân này. Nhận thức nhân quyền đi từ tổ chức xã hội có công bằng được bảo vệ bằng công lý tới một chính quyền tôn trọng nhân quyền để trong một chế độ dân chủ với nhân sinh quan tử tế vì nhân quyền từ gia đình tới dân tộc, từ văn hóa tới giáo dục, từ kinh tế tới thương mại… để bảo đảm một thế giới quan đứng đắn từ quan hệ quốc tế tới hợp tác quốc tế, trong đó nhân quyền là nền tảng mà cũng là động cơ.

Lê Hữu Khóa

(12/04/2021)

---------------------

lhk0 Lê Hữu Khóa

Giáo sư Đại học Lille

Giám đốc Anthropol-Asie

Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á

Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCOLiên Hiệp Quốc

Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa Paris

Thành viên hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Đông Nam Á

Hội viên danh dự ban Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới.

Các công trình nghiên cứu việt nam học của giáo sư Lê Hữu Khóa, bạn đọc có thể đọc và tải qua Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-trang thầy Khóa.

Published in Diễn đàn
samedi, 03 avril 2021 00:25

Giải luận 3 : Xã hội

Xã hội

xahoi1

Đi

Cầm nắm đất giữa ruộng có sỏi cứng cùng rễ máu, còn nghe vang ầm tiếng bạo quyền gào thét : "cải cách... ruộng đất... đấu tố... mang địa chủ ra... giết hết đi !". Lặn sâu vào lòng biển quê hương còn nghe vang vang tiếng đồng bào vượt biên ôm nhau nức nở, cùng tiếng đe nẹt công an biên phòng : "phản động... vượt biên... lột hết đồ chúng ra... rồi vất xác chúng xuống biển !". Đặt bàn tay lên lòng đường không người còn nghe vang động tiếng đồng bào phẫn hận : "không đặc khu... không đặc khu..". lẫn cùng tiếng nghiến răng của công an : " lực lượng thù địch... siết cổ chúng nó... không cho chúng nó gào... cứ đánh... cứ đập chúng chết hết đi". Nắm lấy tim mình thấy máu cuồng sôi, còn nghe vang cuồng tim, gan, thận, ruột... đang muốn trào thân, xuống đường ngay, cùng tiếng thì thầm của tổ tiên : "các con cứ lên đường đi !".

Thảm nhân

Thảm bại của Đảng cộng sản Việt Nam đã làm nên thảm họa của Việt tộc là : Áp đặt bằng bạo quyền lên một Việt tộc đã cúi đầu. Đè nén bằng bạo lực lên một Việt tộc đã khom lưng. Còng siết bằng bạo hành lên một Việt tộc đã khoanh tay. Truy hảm bằng bạo động lên mộViệt tộc đã quỳ gối. Việt tộc hãy nhận lại nhân cách : đứng thẳng lên... duổi mạnh tay... gồng cứng lưng... ngẩng cao đầu... mà đi về hướng nhân phẩm !

xahoi2

Chân dung bất nhân

Muốn đi từ giải thích tới giải lý để giải luận về chân dung bất nhân được chế tác bằng chân dung quyền lực thì hãy trở lại gốc, rễ, cội, nguồn của lý lịch cá nhân để hiểu từng lộ trình của các cá nhân trước khi buôn dân bán nước thì số đông trong đám này chúng đã buôn bằng bán cấp. Nhất là đoạn cuối của đại học với học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả đang đầy dẫy từ hệ thống giáo dục tới cơ chế xã hội. Hít thở bằng tà quyền để có phản xạ trong điếm lộ, bọn buôn bằng bán cấp đã có sẵn những toan tính buôn với ý đồ buôn chức bán quyền. Trong chế độ độc đảng toàn trị hiện nay của Việt Nam, thì lộ trình để tới điểm hẹn của chúng là địa đạo âm binh của quan hệ-tiền tệ-hậu duệ, tại nơi đây chúng sẽ diệt cho bằng được trí tuệ để dễ buôn-dễ bán với nhau.

Một cơ chế xã hội bất nhân !

Một chế độ chính trị mà con người phải chạy tới tối tăm mặt mũi, thì chế độ chính trị đó bất nhân ! Một cơ chế xã hội mà con người phải chạy tới đầu tắt mặt tối, thì cơ chế xã hội đó thất đức ! Trong thảm trạng của dân tộc hiện nay, thì ta thấy có nhiều cách chạy, trong đó có kiểu chạy thô bỉ nhất là chuẩn bị cao bay xa chạy ra nước ngoài, qua phương Tây của các quan chức sau khi vơ vét bao tiền bạc của dân tộc, sau khi nạo vét bao tài nguyên của đất nước. Các quan chức này vừa là tham quan để tham tiền, vừa là trọc phú trong các biệt thự, biệt dinh, biệt phủ nhưng đã có thẻ xanh của Mỹ, quốc tịch ngoại của Âu châu. Chúng phè phởn với các đặc ân cùng như đặc lợi bằng độc đảng toàn trị qua công an trị ; một chế độ độc quyền trong bạo trị dung túng cho tham nhũng trị, mà tất cả đều là âm binh trong tham tiền trị, luôn chạy để mua quyền, luôn chạy để bán chức. Nhưng khôn quá hóa dại, vì tránh vỏ dưa sẽ gặp vỏ dừa, vì các quốc gia mà chúng toan tính để mò mẫm tới mà dung thân, chính là quốc gia có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền, với công lý rất công minh, công pháp rất công tâm. Các quốc gia này sẽ nhận ra chân dung thối nát để có lý lịch thối tha của chúng, cùng lúc giúp Việt tộc kiểm nghiệm lại hai bài học của tổ tiên Việt để lại cho con cháu Việt : Chạy trời không khỏi nắng, nắng trời của hệ công (công lý, công minh, công pháp, công tâm) biết làm nên công luật ; cùng là nắng trời của sự thật, của lẽ phải. Chạy đằng trời,lưới trời lồng lộng, trong nhân luật của chân lý nhân quả, ăn ở bất nhân thất đức thì chạy đâu cho thoát !

Sự thông minh tức thời

Có hai hiện tượng luận cứ quấn nhau : hiện tượng luận lý trí và hiện tượng luận trực quan. Nơi mà cái thấy mở màn cho cái hiểu, cái hiểu sẽ đưa ta tới cái nghiệm, nếu cái nghiệm hoàn chỉnh thì cái thức sẽ tới, thức tới thì một loạt chuyện nhân trí sẽ được thông : kiến thức đủ nội lực sẽ thành tri thức, khi tri thức đủ nội công sẽ thành ý thức, nơi mà nhân trí (rất thức) để mời đạo lý hay, đẹp, tốt, lành vào sống chung với nhân tri nhân tình, nhân sinh... Đây là câu chuyện lõi của nhân kiếp nhờ kiến thức mà trở thành thức kiếp, nơi mà nhân tri luôn mở rộng, dang rộng, đào sâu, bước dài hơn kiếp trước trên con đường nhân phẩm. Khi ta đang đi trên đường, không quên một người nào, nhưng khi ta được người lạ chào hỏi, thì thái độ của ta từ ngạc nhiên thoắt qua chào hỏi là : sự thông minh tức thời, mà chính thông minh này là chất keo sơn của nhân loại chưa bao giờ thấy nhau, chưa bao giờ sống chung với nhau nhưng có cùng một nhân tính. Đây không phải là chuyện "trước lạ sau quen", nó sâu hơn nhiều, nó là "còn lạ mà đã quen", vì còn ngạc nhiên mà đã muốn thân quen, thân mến, thân thiện… muốn thành người thân trong khi cái lạ còn rành rành trước mắt, cái lạ không phải là cái kỳ quái, nên nó không còn là rào cản, kẽm gai, ngăn lòng, chắn cảm. Vì trong trực quan có người nhận ra người, thông minh nhận ra thông minh.

Cá nhân luận của chủ thể

Cá nhân luận là nơi nhận diện các trách nhiệm cá nhân trong chọn lựa cũng như trong quyết định trước khi hành động. Hãy nhận ra cá nhân luận là tiền đề của xã hội dân chủ, vì nó biết chống lại các thái độ độc tài, các hành vi độc đoán, các hành động độc tôn. Cách hành xử cả vú lấp miệng em không có chỗ đứng, ghế ngồi trong cá nhân luận, cho nên các chế độ độc đảng-toàn trị đứng ngồi không yên rồi mất ăn mất ngủ với cá nhân luận. Vì nó biết cổ súy tính đa nguyên của các cá nhân, vì nó biết cổ vũ tính sáng tạo qua sáng kiến trong phương pháp giải quyết của cá nhân luận để chống lại các quy luật độc trị được độc tài phổ biến qua tuyên truyền. Cá nhân luận còn đi xa hơn khi nó phân tích quá trình thành lập các phong trào xã hội, tới từ các công đoàn tôn vinh dân chủ, các nghiệp đoàn tôn trọng nhân quyền để tạo ra các so sánh lực lượng mới, làm tiền đề cho cải cách thực sự đưa dân tộc thăng hoa. Cá nhân luận định nghĩa cá nhân không chỉ là một cá thể mà là một chủ thể có sáng kiến để có sáng tạo làm nên lực đẩy, dàn phóng cho chuyện thay đời đổi kiếp theo hướng tích cực. Cá nhân luận làm ra chủ thể có ý thức, không bao giờ vô cảm trước bổn phận với dân tộc, không bao giờ vô tâm trước trách nhiệm với đất nước.

Sự vận hành chuyển hóa thành phong trào

Văn học sẽ giúp triết học vận hành chuyển kiếp, trong việc khởi hành chuyển thay ngôn ngữ, giúp luôn tốc hành qua sáng tác, để thấy ở đây văn học có thần lực vạn năng làm thay, đổi, biến hóa ngôn ngữ mạnh dạn nhất. Sung lực của văn học qua sáng tác làm rõ tính đa diện của chủ thể, với nội lực của văn học làm rõ tính da dạng của sự thật. Nếu triết học và văn học phải dùng ngôn ngữ để thể hiện, để minh chứng, nhưng triết học và văn học, mỗi nơi nói lên chân lý, lẽ phải theo cách riêng của mình, thì cả hai phải cận nhau, vì cần nhau. Phản lại sự thông minh luôn muốn chuyển hóa ngôn ngữ là các chế độ độc (độc tài, độc đoán, độc quyền, độc trị, độc đảng) vì nó chỉ dùng tuyên truyền bằng ngôn ngữ một chiều nên không bao giờ muốn thay đổi ngôn ngữ, vì nó chỉ dụng nhồi sọ nên nó cần lập đi, lập lại, nên rất dị ứng với chuyện thay, đổi, chuyển, biến trong ngôn ngữ, làm mới ngôn ngữ. Như vậy nhân trí phải rút ra một kết luận cho nhân sinh là các chế độ độc tài các chế độ toàn trị, hai loại chế độ này không sợ các phạm trù của đạo đức (trung thành, chung thủy, can đảm…) mà chúng chỉ sợ và "mất ăn mất ngủ" vì sự vận hành chuyển hóa thành phong trào. Và mỗi lần có vận hành hình thành ra phong trào là có đổi, thay, hóa, chuyển kiếp người !

Cá nhân tốt – xã hội tốt - cơ chế tốt – quan hệ xã hội tốt

Cái tôi chỉ là một cái của thiên hạ, là cái ta chỉ là trong một phần tử của chúng sinh, mọi cái tôi khôn đều tới từ nhân tính, kiếp một người cũng là kiếp của mọi người. Nhưng, cái tôi khôn, cái ta ngoan thì phải thêm bốn chuyện nữa để sống chung với mọi người : biết ân cần với mọi người để biết tự tôn trọng mình, biết tìm xã hội tốt để sống nhưng cùng lúc phải đấu tranh để làm tốt các cơ chế của xã hội đó. Trong cuộc sống, hãy phân tích rõ nếu bạo quyền dùng bạo lực, thì tham vọng của quyền lực không sao kiểm soát nổi các bạo hành tới từ bạo lực, tóm tắt là không bạo quyền, bạo lực nào "nắm dao đằng chuôi" cả ! "Sống nay, chết mai" mà thôi ! Vì bạo quyền, bạo lực, bạo hành leo thang trong mù quáng, không kềm chế nổi tham vọng của chúng. Từ đây, hãy thấy cho thấu bốn hệ vấn đề khi nhân tính đòi hỏi nhân sinh phải nhân đạo : một cá nhân tốt được quyền đòi hỏi mình sống trong một xã hội tốt, trong những cơ chế tốt qua các quan hệ xã hội tốt. Như vậy, cá nhân muốn tốt phải có cấu trúc xã hội tốt, hệ thống xã hội tốt, và sinh hoạt xã hội tốt.

Bọn khống chế thao túng người

Nếu nhân tính thật là "cạn tàu ráo máng" với nhau, nhân sinh không có nhân tình vì "người với người coi nhau như sói" rồi ! Thậm chí còn tệ hơn sói, vì nhân thế là thực trạng "cá lớn nuốt cá bé", thì sao có nhân nghĩa được ! Trong một xã hội có ngàn nghề nghiệp, có trăm thành phần, nhưng chỉ có hai loại người, loại thứ nhất là loại khống chế kẻ khác, loại thứ hai là loại bị khống chế. Kẻ khống chế có quyền lực để bồi đắp quyền lợi chúng, kẻ bị khống chế là nạn nhân trực tiếp qua bóc lột, gián tiếp qua các định chế của kẻ khống chế. Chủ thuyết vốn xã hội là một mê hồn trận được chế tác ra bởi bọn khống chế để thao túng người, dùng vốn kinh tế để có vốn chính trị, dùng vốn chính trị để có vốn văn hóa, dùng vốn văn hóa để có vốn giáo dục, dùng vốn giáo dục để có vốn nghệ thuật... Ông bà ta rủa chúng là loại : "ăn tham, chết thối", ta phải hiểu ngược lại để nhìn thấu tâm địa của bọn khống chế này : "ăn tham, sống sướng". Chuyện này đang rất đúng trong chế độ độc tài, độc quyền, độc tôn, độc trị vì độc đảng trên quê hương Việt Nam !

xahoi3

Bảo vệ lý trí của sự thật

Niềm tin luôn tác động vào kiến thức nơi mà lòng tin có kiến thức riêng của nó, để định vị sự thật, cụ thể chúng ta không muốn tin những sự thật mới tới để làm phiền rồi lật đổ các niềm tin đã có trong ta. Nên sự thật có thể nằm im lìm trong quên lãng trong những gì mà ta không muốn hiểu, và sự thật có thể không nằm trong những gì mà ta muốn biết. Đây là chuyện thường tình của nhân gian, nên trong khoa học cũng có chuyện tranh giành quyền lực, như trong chính trị, trong tôn giáo cũng có chuyện tranh giành quyền lợi như trong kinh tế. Nếu ta muốn bảo vệ sự thật khách quan, để tới với chân lý của sự việc, chúng ta không bảo vệ sự thật một cách chung chung, mà bảo vệ trước hết là phải bảo vệ lý trí của sự thật làm nên chân lý cho mọi lẽ phải.

Sự thật với sự thành thật học để hiểu

Nếu ta có niềm tin sâu sắc về thượng đế đã chế tác ra muôn loài, thì ta cũng cso thể đề nghị là không có niềm tin nào vô điều kiện cả, ta hãy đến với sự thật với sự thành thật học để hiểu, có thiện chí để học, có công cụ của tri thức đúng để tìm ra kiến thức đúng về sự thật, thì sẽ hiểu mọi điều kiện cần thiết để nhìn, để thấy, để hiểu và để nhận ra sự thật. Khi ta biết tách chủ thể đi tìm sự thật và đối tượng đang ẩn chứa sự thật, thì từ đó chủ thể có thể tái tạo từ đầu tới cuối sự hình thành của đối tượng để thấy được sự thật, vì sự thật sẻ được mở ra cho ta nhận ra sự thật, sự thật dâng tới cuộc sống qua sự xuất hiện của sự vật.

Kẻ thống trị nắm quyền lực để thao túng tri thức

Chính sự xuất hiện của sự thật sẽ nói rõ sự xung đột đã có và sẽ tiếp diễn ngay trong sinh hoạt xã hội, nó đe dọa và nó thúc đẩy các lực lượng tốt trong xã hội liên kết để cung nhau liên minh chống lại các lực lượng xấu chỉ biết bám vào tư lợi của mình mà "thí mạng" các lực lượng khác. Và để sự thật được ngời sáng lên, được thấy rõ qua đời sống xã hội, sinh hoạt xã hội, nhất là quan hệ xã hội, khi chúng ta đi tìm sự thật trong một xã hội, đừng quên là trong xã hội đó luôn có hai loại người kẻ thống trịkẻ bị trị. Kẻ thống trị nắm không những quyền lực, mà còn thao túng luôn cả tri thức, bằng thủ đoạn của mình, qua chính quyền thuộc về mình, mà mục đích là kéo đài chế độ thống trị, nơi mà sân chơi, trò chơi, luật chơi được tổ chức rồi giật dây để khống chế rồi áp bức kẻ bị trị.

Kẻ thống trị là ký sinh trùng

Có kẻ ăn trên ngồi trốc làm giàu qua sự bóc lột những người cày sâu cuốc bẩm ; kẻ thống trị thì ngồi mát ăn bát vàng sống trên lưng những người lưng đội trời, mặt áp đất ; kẻ thống trị này đi trên vai những người một nắng hai sương bằng thói ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau ; kẻ thống trị này lại tự cho phép mình nằm chờ sung rụng lại còn dẫm lên đầu những người thức khuya dậy sớm qua siêu cao thuế nặng, đây chính là họa nạn của Việt tộc hiện nay. Sự thật của xã hội Việt hiện nay là kẻ thống trị vừa lợi dụng mọi phía, vừa bóc lột tới cùng kẻ bị trị. Kẻ thống trị quây quần với nhau để lập ra những tập đoàn quyền lực, tạo ra bất công tuyệt đối kẻ ăn ốc, người đổ vỏ như ta thấy qua thảm kịch của dân đen hiện nay lương bổng thấp ngày ngày sống với lạm pháp phi mã. Lực lượng thống trị chung quanh Đảng cộng sản Việt Nam sống bằng bạo quyền độc tài trung ương, bằng tà quyền tham quan địa phương, và ma quyền chung quanh các nhóm lợi ích, có sân sau, có ô dù, hít vào bằng biển thủ, thở ra bằng gian lận… tồn tại như các ký sinh trùng bòn rút tài nguyên của đất nước, tiền tài của dân tộc.

Sự thật xã hội ngoài văn bản

Đưa sự thật cho quần chúng trong xã hội, là để mọi người được sống đúng, không là nạn nhân của bất công, trong một xã hội mà bóc lột là vô nhân, mà tham nhũng là vô luân. Trên nguyên tắc của nhân quyền, con người được quyền sống trong một xã hội đáng sống hơn, không ai là dân đen, dân oan của ai cả ; và khi con người nhận ra sự thật này tức là con người đã biến nhận thức thành tỉnh thức. Ta phải cẩn trọng ngay trong tin tức, dữ kiện, chứng từ, vì sự thật luôn bị đánh tráo, đổi trắng thay đen, bị biến dạng khi ta đi tìm sự thật. Thí dụ khi ta đi tìm sự thật về giáo dục, chúng ta thường rơi vào các văn bản của Bộ Giáo dục, mỵ dân trên văn bản không phải thực tế hiện nay là hoàn tòan phản giáo dục với các bi nạn : bạo động, dâm loạn, hối lộ, tham nhũng… đây là sự thật của một bộ máy giáo dục bị lũng đoạn toàn bộ, nó ngược lại với văn bản đạo đức giả của Bộ Giáo dục.

Không gian kiến thức biết tự phòng vệ

Bạo quyền không thể chụp mũ, vu cáo một kiến thức toán trong một định đề toán vì tà quyền không thể chính trị hóa toán học được ; nhưng bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham nhũng có thể vu khống một sự thật của khoa học xã hội nhân văn, bằng cách chính trị hóa để lũng đoạn hóa các tri thức của khoa học xã hội nhân văn ; và khi khoa học xã hội nhân văn không bị bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham nhũng khai thác, thì nó lại bị tà quyền này giật dây, vu cáo, chụp mũ... Nên từ đây, khoa học xã hội nhân văn là những không gian kiến thức biết tự phòng vệ để chống lại bạo ngôn của bạo quyền lãnh đạo, xảo ngôn của tà quyền tuyên giáo, lộng ngôn của ma quyền truyền thông, âm binh muốn thống trị người hiền luôn có mặt trong cuộc sống vừa để tuyền truyền, vừa để đánh lạc hướng quần chúng và xã hội.

xahoi4

Lấy cái giết để dựng cái bạo qua cái diệt

Sự thật dưới bạo lực, như vụ án Đồng Tâm phải được giải thích như hiện tượng bạo động kiểu giết người có trong xã hội là buộc tội oan chỉ một người, bị quy chụp những tội mà họ không gây ra. Mang ba ngàn công an cùng cảnh sát để sát hại rồi mổ bụng phanh thây một cụ già hơn 80 tuổi, cụ Lê Đình Kình, rồi tuyên án tử hình hai người con trai của cụ, vừa để trả thù, vừa để trừng phạt, vừa để răn đe, vừa để lộ diện trước thanh thiên bạch nhật các ác của bạo quyền độc đảng toàn trị. Biến một lỗi nhỏ của một người, một nhóm thành tội đồ to để hành quyết nạn nhân, có thể là một người, có thể là một nhóm để làm vật tế thần, khi một bạo quyền dùng nạn oan, không có tội nhưng bị buộc tội oan, để lấy cái ác làm cái uy bằng cái giết. Chính các nạn nhân oan, không đáng tội chết nhưng bị xử oan để chết oan đây là khi ạo quyền đã mất phương hướng. Xã hội Việt đang lâm nặng vào quá trình nạn nhân oan, tại đây kẻ nghiên cứu không thấy được gì thêm về nạn nhân, mà nên quan sát kỹ vào hành dộng của một bạo quyền độc đngr toàn trị lấy cái giết để dựng cái bạo qua cái diệt.

Cái độc, cái ác, cái thâm, cái hiểm sợ sự thật

Cái độc là nền để làm động cơ hành động cho cái ác, chính sự hiện diện của lý trí báo thức cho ý thức biết là cái lành có trong cái nhân, để duy trì cuộc sống trong xây dựng, chống lại sự tàn phá của cái độc. Cái thâm là con tính của cái độc, để biến cái ác thành cái thực trong cuộc sống, tại đây ý thức hợp lực với lý trí để chế tác ra niềm tin để bảo vệ cho bằng được cuộc sống bằng cái hay mang tầm vóc của cái tốt, mang bản lĩnh của cái lành để tiếp tục bảo hành cuộc sống. Cái hiểm, là thủ đoạn của cái thâm, là gốc rễ của cái độc, là cội nguồn của thâm, nó luồn lách qua tà quyền, nó chui rúc để bám bạo quyền, nó thích bóng tối hơn ánh sáng, vì nó sợ sự thật, nó lo bị lột mặt nạ, nên bóng tối là nơi ẩn nấp của cái hiểm để nó thực hiện tội ác của nó.

Tội ác, tội trạng, tội phạm, tội nhân trốn ánh sáng của sự thật

Tội ác, không những mượn bóng tối để ẩn nấp, mà còn để che dấu tội trạng, để khỏa lấp tội phạm, dấu diếm tội nhân, mà còn để lẩn trốn ánh sáng của sự thật, chính sự thật sẽ đưa tội phạm ra trước ánh sáng : công lý ! Tội trạng, sẽ được xử bằng công lý, có cái lý của công bằng, có cái luận của công luật, có cái quyết của công pháp, nơi đây pháp luật thực thi cái luật, có cái nền của công tâm. Tội phạm, khi bị lên cán cân, một bên là đạo lý (hay, đẹp, tốt, lành) và một bên là luật pháp (công bằng, công lý, công pháp, công tâm), thì nguyên nhân, động cơ, hành động, hậu quả của tội ác, tội trạng, tội phạm sẽ vạch mặt, chỉ tên tội nhân. Tội nhân, bị vạch trần lý lịch qua bằng chứng của tội ác, qua tang chứng của tội trạng, qua minh chứng của tội phạm, nên luật pháp có đầy đủ luận chứng để luận tộikết tội thủ phạm của tội ác ; dù đó là một đảng, một chính quyền, một chính phủ, một bọn tham quan, một tập đoàn tội phạm, một nhóm sát nhân… dù chúng có sự hỗ trợ của một cường đảng như Tàu tặc, Tàu phỉ hiện nay.

Ý thức bằng nhân lý vì nhân phẩm

Tự chủ nhận kiến thức để gầy dựng tri thức, chế tác ý thức bằng nhân vì nhân phẩm, đó là tự chủ của kiến thức liêm chính đi tìm nhận thức đúng về cuộc sống với chọn lựa trong sạch. Nhưng quá trình minh bạch này đang bị tha hóa nặng nề vì các lãnh đạo bất tài có quyền lực qua độc tài dựa trên độc đảng của Đảng cộng sản Việt Nam. Nếu họ sáng suốt thì họ sẽ phải hiểu : phản biện để chống lại ngu dân chính là sự tự chủ của tri thức. Tất cả chỉ vì dân tộc bị lãnh đạo bởi một Đảng cộng sản Việt Nam rất sợ, rất ngại loại não trạng tự chủ vì nhân trí, với tự do chân chính của nó dựa trên thế kiềng ba chân : sự thực của nhân tri, chân lý của nhân phẩm, lẽ phải của nhân đạo, mà không sao ngu dân được qua tuyên truyền sống sượng. Tất cả cái giả tạo sẽ tạo ra một xã hội bị âm binh hóa, vừa tha hóa kiến thức, vừa đồi trụy hóa tri thức, mà lỗi lẫn tội tới từ các lãnh đạo bất tài nên bất tín, sẵn sàng bất chính ngay trong hệ thống bạo quyền độc đảng toàn trị của nó.

Tâm thức của trách nhiệm hai chiều

Tự do vì nhân quyền có đạo lý, tự tin có đạo đức, nếu tới từ phương trình công bằng-sự thật-lịch sử tạo dựng ra phương trình của tự do là ý thức-ý nghĩa-ý muốn, thì tự do không hề vô trật tự, không hề bừa bãi trong ngôn ngữ, không hề hỗn loạn trong hành động. Tự do vì nhân quyền có nhận thức rất minh bạch, vì nó có tâm thức của trách nhiệm hai chiều : có hàng dọc có đạo lý, luân lý làm nền đạo đức cho xã hội, và có hàng ngang vừa có ta, vừa có tha nhân sống chung cùng cơ chế dựa trên định chế có công lý biết trừ bạo quyền, biết diệt bất công, biết loại tham nhũng, từ đó chủ thể của tự do sẽ rất chuẩn mực để trả lời ba câu hỏi : Tự do vì nhân quyền biết tự hỏi : tôi là ai ? Trước trách nhiệm gì ? Trước hành động gì ? Biết đánh giá : cái này tốt hơn cái kia ! cái này cao hơn cái kia ! Hiểu phương trình dấn thân-trách nhiệm-hành động bằng nhân cách biết tự tôn trọng mình bằng nhân phẩm biết tự bảo vệ mình.

Dòng chảy của nhân tính

Tự do vì nhân quyền có mặt trong nhân sinh trường kỳ trong một xã hội có nhân quyền và dân chủ, để đi ngược lại các sinh hoạt chính trị luôn là đoản kỳ trong nhiệm kỳ. Tự do có mặt trong nhân sinh trường kỳ trong một xã hội không có nhân quyền và không có dân chủ, để đi ngược lại các ý định của bạo quyền, ý muốn của độc tài, ý đồ của tham nhũng.Tự do sống trong di động để chủ động, chống lại bị động vì thụ động của cúi đầu, khoanh tay, quỳ gối trong khuất phục, trong tủi nhục, trong cam chịu ; vì tự do trước hết là tự do đi lại ; đi lại để được sống trong dòng chảy của nhân tính, trong trào lưu của nhân phẩm, trong phong trào của nhân đạo.

Tự do lột mặt nạ độc tài

Tự do vì nhân quyền biết vượt khó khăn trong cuộc sống như vượt thắng chính mình, từ đó tự tin của tư duy làm sáng ra ba quá trình của tự do là phải trực diện để đấu tranh vì tự do. Tự do cần tự tin để đấu tranh, nhưng tự do cũng giúp tự tin phải tự giải phóng mình trước khi hành động vì tha nhân, vì đồng loại. Tự do đưa hiểu biết lịch sử vào tận điều kiện làm người hiện nay để trả lời câu hỏi là : ta đang có hay ta không có tự do ? Tự do lột mặt nạ độc tài để thấy rõ bản chất toàn trị của bạo quyền luôn muốn có độc quyền sinh sát trên tự do, bằng độc trị rất vô nhân vì rất vô lý. Tự do vì nhân quyền tạo nên một quá trình chuyển biến não bộ tiên tiến, chuyển hóa não trạng cấp tiến, thay đời đổi kiếp bằng cách vật sụp bạo quyền độc đảng toàn trị là đây !

Từ ý thức tự do tới hành động tự do

Tự do vì nhân quyền đi từ không đến có, khi con người tiếp nhận một chân lý bình đẳng qua quan niệm về bình đẳng với mọi người, để có công bằng trong xã hội, để yêu cầu công lý dùng pháp lý để bảo vệ quyền bình đẳng bằng pháp luật vừa công minh, vừa liêm chính. Tự do trực diện đấu tranh với mọi bạo quyền, mọi tà quyền, mọi cường quyền bằng chính liêm sỉ của mình, đây là định nghĩa nguồn của nhân cách. Đó là các đoạn đường của nó từ ý thức tự do tới hành động tự do, từ ý nghĩa của tự do tới kết quả đấu tranh vì tự do. Trong cuộc sống hằng ngày, tự do vì nhân quyền là sự hình thành một ý thức chống lại cuộc sống bị vô nghĩa hóa bởi bạo quyền với tự do đi tìm ý nghĩa cuộc sống bị khủng hoảng hóa bởi bất công, đồng hành cùng tự do bảo vệ niềm tin của nhân phẩm bị suy đồi hóa bởi tham nhũng.

Công bằng phải vừa là đạo đức, vừa là định chế

Tự do vì nhân quyền có đạo lý, tự tin có đạo đức, tôn trọng chọn lựa của cá nhân, của tập thể, của cộng đồng, của dân tộc, nếu chọn lựa đó có đạo lý của hay, đẹp, tốt, lành, có luân lý của trách nhiệm, và bổn phận trong hiện tại và trước tương lai, như vậy tự do luôn mang ba quá trình chuyển hóa não bộ để chuyển biến não trạng trước tương lai với tự do yêu cầu công bằng phải vừa là đạo đức, vừa là định chế. Tự do vì nhân quyền biết nói đầy đủ sự thật để tìm cách giải quyết các bất công, vì tự do vì nhân quyền là tự chọn lựa lịch sử cho chính mình trước áp lực của bạo quyền.

Chữ tâm, chữ nhân

Những đồng bào buôn thúng bán bưng là ai ? Là những đồng bào "thức khuya dậy sớm", là những người "đội nắng dầm mưa", là những đồng loại "một nắng hai sương", vậy mà vẫn "đầu tắt mặt tối". Chính những đồng bào này đang là dân lành, nhưng bất cứ lúc nào cũng có thể trở thành dân đen, và thảm họa là một sớm một chiều, bị phá nhà cướp đất, và trở thành dân oan, trong "màn trời chiếu đất", trong "đầu đường xó chợ". Còn bọn quan tham mới là ký sinh trùng, bọn lãnh đạo độc tài mới là ký sinh vật, bọn cầm quyền độc trị mới là ký sinh thể, chúng "ăn trên ngồi trốc", với nhân diện điếm đàng của Mã Giám Sinh : "mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao", với nhân dạng điếm chủ của Tú Bà : "đưa người cửa trước, đón người cửa sau", với nhân cách điếm hèn của Sở Khanh : "nói lời rồi lại nuốt lời như chơi". Chúng là bọn ký sinh trùng âm binh trong âm giới địa đạo ma bùn của chúng, chúng tham quyền để tham nhũng, tham ô để tham tiền, và khi bị ra tòa để nhận tội thì chúng mới lộ bản chất ký sinh trùng của chúng. Từ tướng trong quân đội tới tướng công an, từ bộ trưởng này tới ủy viên Trung ương kia, lạy van đảng trưởng của chúng là hãy tha tội cho chúng. Loại ký sinh này không biết tự trọng, vì không có được giáo dục với chữ tâm, không hề được giáo dưỡng về chữ nhân.

Đồng bạo, đồng tà, động ma

Đồng bào, như một sự thật có sâu trong tâm tưởng làm nền cho tâm trí Việt biết xuất lực về phía đồng sinh, nơi có đất nước trọn vẹn, nơi có dân tộc độc lập, nơi có văn hóa làm nên nhân văn Việt, có văn minh làm nên nhân trí Việt, có văn hiến làm nên nhân đạo Việt. Nhân Việt này được tôi luyện từ đồng bào tới đồng hương, từ đồng hội tới đồng thuyềnNhân Việt này của người Việt hiện nay rất ngỡ ngàng trước bạo quyền độc đảng phản dân hại nước, trước tà quyền tham nhũng buôn dân bán nước, trước ma quyền tham tiền buôn tông bán tổ. Chúng lẩn khuất trong liên minh âm binh của chúng để vơ vét tiền bạc của đồng bào, bòn rút tài nguyên của đất nước. Chúng lại vênh mặt trước đồng bào khi chúng khoe biệt dinh, biệt phủ của chúng với thẻ xanh, quốc tịch ngoại, sẵn sàng cao bay xa chạy khi đồng bào bị ngoại xâm tha hóa để đồng hóa. Bọn này không phải là đồng bào của chúng ta, chúng chỉ đồng bạo, đồng tà, đồng ma với nhau để đồng bẩn trong trộm, cắp, cướp, giật… Vì chúng đã đồng liệt, đồng bại ngay trong nhân cách Việt của chúng !

Gốc cộng hòa và nền dân chủ

Khi mong muốn đa nguyên thì mọi người thường nghĩ ngay tới đa đảng, nhưng đa đảng trong hỗn loạn định chế, trong bất an xã hội, thì đa đảng không triệu tập được sung lực của đa nguyên là tổng hợp được : đa tài, đa trí, đa dũng, đa năng, đa hiệu… Và khi xem xét lại các định chế tồn tại được với thời gian trong đa nguyên với kinh nghiệm của các quốc gia có văn minh dân chủ, có văn hiến nhân quyền, thì kinh nghiệm đa đảng chỉ là sự vận hành cụ thể của một đa nguyên bảo đảm được nhân bản (căn bản của nhân lý, nhân tri, nhân tính), luôn được bảo trì từ đạo lý tới luật pháp. Tại đây, đa nguyên nhân bản có gốc của cộng hòa (tự do, công bằng, bác ái) và nền của dân chủ (đa nguyên, bình đẳng, nhân quyền).

Thị trường đe dọa dân chủ

Không gian của thế kỷ XXI này, thì ta sẽ nhận ra uy quyền của thị trường, vì lợi nhuận, vì quyền lợi, có thể đe dọa dân chủ, lũng đoạn nhân quyền. Và thị trường có thể ở "thế thượng phong" khi thị trường được "hà hơi tiếp sức" bởi tự do cá nhân, với động cơ ích kỷ để biến quyền lợi thành tư lợi. Từ đây, các chủ thể đấu tranh vì dân chủ và nhân quyền phải luôn tỉnh táo để sáng suốt trong lý luận là hai mệnh đề văn minh nhất của nhân loại hiện nay là cộng hòa (tự do, công bằng, bác ái)dân chủ (đa nguyên, đa đảng, nhân quyền) luôn mong manh, luôn bị đe dọa, như nhân phẩm luôn bị truy hiếp bởi bạo quyền, tà quyền, ma quyền, cực quyền, cuồng quyền.

Tà quyền thì ăn nằm với xã hội đen

Xã hội đen, sinh sôi nẩy nở với bạo quyền độc đảng toàn trị, đã ăn cướp chia phần với một hệ thống công an trị, cùng lúc cặp kè với tà quyền tham nhũng trị, nơi mà bọn tham quan vì tham quyền và tham lam đã dựa vào côn đồ, du đảng để trộm, cắp, cướp, giựt đất đai, của cải của dân lành. Xã hội đen là loại ký sinh dựa trên bạo lực, nơi mà côn đồ, du đảng chỉ biết luật rừng của bạo động, chọn bạo hành làm phản xạ, dùng bạo lực để phản hồi. Nhưng đám âm binh này được nuôi dưỡng và giáo dưỡng trong một hệ thống bạo quyền độc đảng toàn trị, mà các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam vừa làm "ô dù", lại vừa "chống lưng" cho xã hội đen. Mà ngay trong bản chất các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam cũng chỉ là những thành phần bạo-quyết-trong-vô-tri, chỉ biết phản xạ bằng hệ bạo (bạo quyền, bạo lực, bạo động, bạo hành). Khi bọn cầm quyền có phản xạ bạo lực, lại ăn nằm với xã hội đen là bọn có phản ứng bằng bạo hành, thì xã hội dân sự phải lập cho bằng được liên hiệp giữa luật pháp, đạo lý, giáo dục cùng song hành với văn minh của dân chủ và văn hiến của nhân quyền. Và không quên công pháp quốc tế với các kinh nghiệm của các quốc gia tiên tiến đã trị được tham nhũng và xã hội đen bằng kiến thức rộng, tri thức sâu, nhận thức rộng của rất nhiều chuyên ngành trong khoa học xã hội và nhân văn.

xahoi5

Mua bằng bán cấp – mua quyền bán chức

Một thực tế xã hội của Việt Nam hiện nay bị điếm nhục hóa bởi bạo quyền độc đảng toàn trị đã trở thành tà quyền tham nhũng công an trị, thì học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả đã biến tri thức thật thành thiểu số trước trí thức giả, và chính loại trí thức giả này sẽ tạo ra kiến thức giả-tri thức giả-ý thức giả-nhận thức giả. Rồi bọn trí thức giả này sẽ đi tìm đặc quyền, đặc lợi, đặc ân của Đảng cộng sản Việt Nam từ bổng lộc tới tư lợi được ban phát và rơi rớt chung quanh Đảng cộng sản Việt Nam. Chúng quen thói mua quyền bán chức được tổ chức bởi hệ thống tà quyền độc đảng toàn trị, qua quá trình học vấn giả của mua bằng bán cấp tới mọi lứa tuổi trong xã hội, nơi mà tham nhũng để trục lợi là phản ứng tự nhiên đã biến thành phản xạ của toàn xã hội.

Không thể sống chung với bất công !

Những khám phá từ chân lý cây ngay không sợ chết đứng tới lẽ phải sống lâu mới biết lòng người có nhân là sự khám phá về một mãnh lực : nhân sinh không chấp nhận bất công, vì nhân tính công bằng làm nên nhân lý công tâm ! Thấy bất công thì phải đấu tranh, mà ngay bước đầu tiên của bất nhẫn là nói rõ để hét to, nói lớn để gào lên là : Không thế chấp nhận bất công ! Không thế sống chung với bất công ! Không thế nhượng bộ bất công ! Số người ủng hộ và bảo vệ tôi chống lại bạo quyền mờ-tà quyền nhăn-ma quyền cống phải được phân tích cho thật rõ và sâu chừng nào hay chừng ấy. Tại đây, tôi nhận ra có một nội lực trong mỗi con người của chúng ta để chống bất công, hãy biến nội lực này thành sung lực có sẵn, nằm chờ để khi bối cảnh thuận lợi thì nó sẽ thành hùng lực lật đổ bạo quyền, vùi dập tà quyền, chôn lấp ma quyền, để cuối cùng xuất hiện như mãnh lực để xây dựng lại nhân tâm cho nhân sinh, nhân từ cho nhân thế, nhân nghĩa cho nhân loại.

Nhân Việt

Cứ suy nghĩ mãi nhiều năm về hệ lực (nội lực, sung lực, hùng lực, mãnh lực) và vài năm gần đây tôi đã đưa nó vào hệ thống lý luận của tôi để giải thích và xử lý chuyện đời, chuyện người. Số là trong xã hội học chính trị khi song hành cùng xã hội học dân chủ xã hội học quyền lực thì chúng tôi khám phá ra là chỉ cần 5% dân số đứng lên chống bất công thì một xã hội có thể làm thay đổi một thể chế. Và chỉ cần 10% dân số đứng lên chống bạo quyền thì một quần chúng có thể làm thay đổi cả một chế độ độc tài toàn trị, một sớm một chiều biến nó thành mây khói. Hãy tin tưởng vào ngày Việt tộc đứng lên mà vùi bất công lẫn bạo quyền của công an trị, của tham nhũng trị, của tham tiền trị hiện nay, tôi thầm nghĩ ngày đó không xa ! Hãy vất bỏ các loại phân biệt tiêu cực là "nhân trí Việt thấp", các loại phân tích dễ dãi là "nhân tri Việt tồi", các loại phân định chớp nhoáng là "nhân bản Việt hèn", các loại phân giải cực đoan là "nhân tâm Việt tệ". Chỉ vì trong quá khứ, qua Việt sử : Việt tộc vừa là một minh tộc, vừa là một dũng tộc, biết lấy thông minh của chính mình để thắng mọi bạo quyền, biết lấy sự dũng cảm của chính mình để thắng mọi tà quyền, dù nó là nội xâm hay ngoại xâm !

Kiên nhẫn, kiên định, kiên trì, kiên cường

Trong công cuộc đấu tranh chống bất công, hãy nhận ra sự bất nhẫn của tập thể, của cộng đồng, của xã hội là một hùng lực, mà chớp nhoáng nó sẽ thành mãnh lực đập vỡ được thành lũy của bạo quyền, phủ lấp mọi chiến hào của tà quyền, cuốn trôi luôn mọi cống rãnh của ma quyền. Chuyện chính là phải biết chuyển hóa bất nhẫn thành kiên nhẫn để kiên định trong đấu tranh dài lâu với bạo quyền, với tà quyền, với ma quyền, mà tránh biến bất nhẫn thành phẫn nộ không kiềm chế được, cơn giận không quản lý được. Hệ kiên (kiên nhẫn, kiên định, kiên trì, kiên cường) vừa là nội công, vừa là bản lĩnh ; cụ thể vừa là gân cốt, vừa là tầm vóc của người đấu tranh chống bất công, bằng đường trường, bằng trường kỳ, bằng cuộc sống lẫn cuộc đời.

Bất chính trong sinh hoạt xã hội

Chạy, là động từ kể-để-tả sự vận dụng thể lực để làm nhanh theo một yêu cầu bức bách gì đó, chạy thì nhanh hơn đi, nên chạy là để xử lý tức khắc một việc mà ta muốn có kết quả nhanh. Chạy nhanh, có khi để rượt đuổi, có khi bị rượt đuổi. Chạy trong sáng suốt ngược chiều, nghịch lý với chạy trong hoảng sợ, với tâm trí rối loạn, với tâm thần bị thất thần. Chạy để ôm người thương, người yêu đối nghĩa, nghịch luận với chạy loạn, chạy giặc xa cái chết, để chạy về cõi sống. Nếu là chạy bộ như môn thể thao thường nhật, thì ta chạy trong thoải mái, vui vẻ, với chủ đích là tăng thể lực để trợ lực cho trí lực, trợ duyên cho tâm lực, nên ta chạy thong dong trong thư thái, thư thả để thong thả… Nhưng động từ chạy có một nội dung hoàn toàn khác, có khi bất chính trong sinh hoạt xã hội đầy tham nhũng, của một tổ chức xã hội dựa trên tham ô, với quan hệ xã hội của tham quyền như xã hội Việt hiện nay, đã bị trùm phủ bởi tham tiền trị. Đây là đứa con đích tôn của độc đảng toàn trị, từ đây động từ chạy mang một nội hàm mới, bất bình thường trong ngữ nghĩa như bị ép uổng để được "bình thường hóa" trong một xã hội đã bị lắm ung thư ngay trong nội tạng của nó, bởi lót tay, bôi trơn, bao bì, sân sau, ô dù, chống lưng… Động từ chạy giờ đây trong giao tế xã hội đã chuyển tải không những các thói hư tật xấu của đời sống xã hội, mà nó còn thiêu hủy tận gốc rễ đạo đức một tập thể, đạo lý một cộng đồng, luân lý một dân tộc. Động từ chạy cho ta thấy rõ quan hệ giữa người với người đã bị tha hóa, đã bị thối tha hóa.

Tà nạn

Ít ai ngờ là bất công có anh em cùng mẹ khác cha, hay cùng cha khác mẹ với lòng ganh tị, nơi mà tâm địa tỵ hiềm lẳng lặng gieo tẩm những toan tính thâm, độc, ác, hiểm để làm ra những hậu quả xấu, tồi, tục, dở trong quan hệ xã hội. Đây là loại tâm địa bùn, nơi ẩn náo của loại chó cắn trộm, thường là bọn âm binh chuyên nghề chém sau lưng, theo mô thức của các nạn nhân thời Nhân văn Giai phẩm để vạch mặt bọn bút nô, ký nô, văn nô đã hãm hại họ. Loại chuyên nghề chém sau lưng này bây giờ mọc như nấm độc trong chế độ độc đảng toàn trị hiện nay tại Việt Nam. Vì chúng được lảnh lương, nhận bổng lộc của Đảng cộng sản Việt Nam, mà "trăm này sinh ra trăm kia" để "ngàn này sinh ra ngàn kia", chúng là hàng trăm ngàn ; từ bút nô, ký nô, văn nô tới dư luận viên, với lương tháng tới từ tiền thuế của dân do "đảng ta, chính phủ ta" quản lý và phân phát lại cho chúng. Khi loài quái thai thâm, độc, ác, hiểm sinh đôi cùng xấu, tồi, tục, dở đồng xuất hiện như âm binh giữa nhân sinh thì sinh hoạt xã hội sẽ rơi vào họa nạn, quan hệ xã hội sẽ đi vào hoạn nạn, và đời sống xã hội lâm rơi vào tà nạn nhiệt lực của sự thực, hỏa lực của chân lý, thần lực của lẽ phải đã tạo ra quá trình "bùng cháy" có lớp lang thứ tự, chớ không hề là một cuộc "cháy rừng", hỗn loạn, vô trật tự, mà "bùng cháy" này.

xahoi6

Văn minh dân chủ và văn hiến nhân quyền tránh tà

Độc đảng thì tục thân trong bẩn dạng, chính là hoạn kiếp của kẻ gây bất công, vì ngay trong hình thể của nó chúng ta thấy lộ cái tục của bất nhân, cái thô của thất đức. Nhưng chứng nào tật nấy, vì tà quyền thì luôn vận dụng cái thối tha của tham nhũng quốc nội qua cái thối nát của chế độ độc đảng toàn trị hiện nay tại Việt Nam để giải thích lòng lương thiện của nhân quyền, tính liêm khiết của dân chủ, qua luật chơi sòng phẳng của tam quyền phân lập tại phương Tây. Họ mang một tâm bịnh khá nặng là lấy độc đảng thì độc tài nhưng bất tài để giải thích thực thể đa nguyên, mà không bao giờ họ giải thích được tại sao bản chất của đa nguyên là đa tài nên không muốn độc tài, vì văn minh dân chủ và văn hiến nhân quyền tại phương Tây, sợ đám âm binh sinh đôi độc tài-bất tài còn hơn sợ tà !

An sinh xã hội

Không có kiến thức xã hội sẽ không thể hiện được ý thức xã hội. Chính bộ ba bảo hiểm xã hội, dịch vụ công cộng, luật xã hội là tiền đề và là gốc rễ của mọi quan niệm và tri thức về an sinh xã hội. Không có an sinh xã hội thì sẽ không có nền móng để xây dựng một xã hội văn minh, một thể chế vì nhân quyền. Không có nhận thức an sinh xã hội chỉ vì không được giáo dục bằng giáo lý tập thể, bằng đạo lý cộng đồng của tổ tiên Việt có nền là tương thân tương trợ trong nhân lý nhìn xa trông rộng của ăn ở có hậu trong đối nhân xử thế. Đây chính là luân lý xã hội làm nền cho tổ chức xã hội, trợ lực cho bảo hiểm xã hội, dịch vụ công cộng, luật xã hội có chỗ đứng trung tâm trong các cơ chế xã hội văn minh. Nhưng chính h độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn) khi mở cửa cho hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền) thì sinh hoạt xã hội bị "bôi trơn hóa" ; quan hệ xã hội bị "sân sau hóa" ; đời sống xã hội bị "chống lưng hóa". Đây là thực tế xã hội hằng ngày bị thống trị bởi liên minh bạo quyền độc đảng công an trị-tà quyền tham quan trị-ma quyền tham tiền trị. Chính liên minh này đã tha hóa mọi chính sách, mọi tiến bộ tới từ an sinh xã hội, mọi văn minh tới từ bảo hiểm xã hội, dịch vụ công cộng, luật xã hội. Độc trị mà không biết quản trị chỉ là hiện thân của độc tài nhưng bất tài, đã lạc vào quỷ lộ của bất nhân thất đức, ngày ngày trôi dạt xa bờ văn minh của dân chủ, xa bến văn hiến của nhân quyền.

Xã hội dân sự

Xã hội dân sự, có hùng lực của dân chủ để bảo hành bộ ba bảo hiểm xã hội-dịch vụ công cộng-luật xã hội, có sung lực của nhân quyền để trợ lực cho an sinh xã hội, đó là định nghĩa của xã hội dân sự, bằng định chế của công bằng làm nên các cơ chế của công lý. Còn có cả định đề làm nên định luận của xã hội dân sự là công dân thực sự là chủ thể trong chính tư tưởng của họ để có chủ quyết khi bỏ phiếu cho các chính sách xã hội được đại diện bởi các đảng phái, các công đoàn, các hội đoàn, để chủ động qua đa nguyên chính là nơi hẹn của đa trí, đa tài, đa dũng, đa năng, đa hiệu… Hệ chủ (chủ thể, chủ quyết, chủ động) dựa trên tự do biết song hành cùng công bằng để chế tác bác ái chính là nội công làm nên bản lĩnh của xã hội dân sự. xã hội dân sự được vận hành và được củng cố bằng chính các thử thách trong khủng hoảng kinh tế, bằng chính các thăng trầm trong lạm phát tài chính, trong đó thiên tai và nhân tai đều được phân tích và giải quyết bằng công pháp dựa trên công lý. Cụ thể là bảo hiểm xã hội sẽ được bảo hiểm bởi chính quyền và chính phủ khi gặp các biến cố bất thường xảy ra ngay trong đời sống xã hội. Dịch vụ công cộng được bảo đảm ở mức nhất định trước các sự cố dị thường đang xảy ra ngay trong sinh hoạt xã hội. Luật xã hội được bảo hành trong quan hệ xã hội và được tuân thủ như là hằng số của luật pháp.

Bất tín rồi bất nhân trước xã hội

Khi Đảng cộng sản Việt Nam độc đảng trong độc quyền, độc trị trong độc tôn, luôn tìm cách hủy hại để huy diệt xã hội dân sự, mà cụ thể là tha hóa bộ ba : bảo hiểm xã hội-dịch vụ công cộng-luật xã hội để duy trì chế độ độc đảng toàn trị mà tha hồ vận dụng trong lạm phát rồi phạm pháp bằng tham quyền-lạm quyền-lộng quyền. Chính đây là thất bại xã hội không chối cãi được của Đảng cộng sản Việt Nam đã không có kiến thức lẫn nhận thức về giá trị của bảo hiểm xã hội, đạo lý của dịch vụ công cộng, công pháp của luật xã hội. Chính trên những giá trị, đạo lý, công pháp này đã làm nên văn minh của dân chủ và văn hiến của nhân quyền, tại đây mọi chính sách xã hội tới từ một độc đảng trong độc quyền cai trị mà không có lá phiếu của dân chủ, không có sự đồng thuận với dân tộc trên nền của nhân quyền đều mang lỗi bất tín, và một sớm một chiều trở thành bất nhân nếu nó không tận tâm phục vụ cho bảo hiểm xã hội, dịch vụ công cộng, luật xã hội tức là cho sự thăng hoa của an sinh xã hội.

Chính quyền và bất công, chính phủ của bất bình đẳng

Các khẩu hiệu tuyên truyền ngu dân hiện nay : "một chính quyền do dân và vì dân" của tà quyền đảng trị bằng ba trị : công an trị, tham nhũng trị, tham tiền trị chỉ là loại : "ăn không nói có" để tiếp tục "ăn tục nói phét". Tiêu chuẩn của một chính quyền do dân và vì dân rất rành mạch, vì rất minh bạch lấy quyết sách công bằng để diệt bất bình đẳng ; lấy quyết tâm công luật để khử bất công ; lấy chủ quyết công lý để bảo vệ luật pháp ; lấy chủ động luật pháp để bảo hành công bằng ; lấy chủ thể pháp quyền để bảo trị xã hội. Làm sao nhận diện được một chính quyền vì công bằng chống bất công ? Đó là một chính quyền luôn có ít nhất hai tri thức về hai kinh nghiệm bất công chính là khủng hoảng của bất bình đẳng, nhưng khủng hoảng này khó được nhận ra như khủng hoảng kinh tế tác động lên toàn xã hội. Ngược lại khủng hoảng từ bất công gây ra thì có số nhiều nghèo và số ít giàu, chính số ít này được sự ủng hộ qua các định chế của chính quyền dung thứ bất công. Chính quyền muốn dung thứ bất công luôn thì có ý đồ định chế hóa bằng luật lệ và hành chính sự bất bình đẳng trong xã hội, tại đây ngoài thù lao, lương bổng, thì chính quyền này còn cho phép giảm thuế hoặc miễn thuế qua đầu tư, sản suất, phân phối… nơi mà kẻ giầu luôn có những đặc lợi để tăng thêm lợi tức của mình mà vẫn tránh né được thuế.

Chính quyền có tri thức

Một chính quyền có tri thức và tránh được hai kinh nghiệm này, thì các chính sánh liêm chính chống bất công sẽ tới vận dụng thuế để tổ chức bảo hiểm xã hội, vận dụng thuế để tổ chức dịch vụ công cộng, vận dụng thuế để phục vụ an sinh xã hội. Sự kết hợp chặt chẽ giữa bảo hiểm xã hội, dịch vụ công cộng, an sinh xã hội được pháp lý hóa qua luật lao động, luật xã hội chính là sức mạnh của một chính quyền thực tâm chống bất công, vì chính quyền đó làm được các việc sau trợ cấp y tế khi người bị tai nạn lao động ; trợ cấp lợi tức khi người lao động bị sa thải ; trợ cấp xã hội khi người lao động về hưu… Chính quyền độc đảng hiện nay tại Việt Nam cũng dàn dựng những loại trợ cấp này nhưng"thực hiện dở chừng","quyết tâm dở hơi", với "kết quả dở mùa", cụ thể là trong thực tế thì bảo hiểm y tế tồi tệ, người dân vẫn phải hối lộ bịnh viện, bác sĩ, y tá để được phục vụ, không có tiền hoặc không biết hối lộ thì bị bỏ rơi. Người bị tai nạn lao động, bị tai nạn lao động mà tật nguyền thì thường bị bỏ rơi, gia đình phải thay thế xã hội để chăm lo Người bị xa thải, về hưu với trợ cấp tồi tệ không được định mức, định cấp theo chỉ số biến đổi tới từ lạm phát…

Chính quyền có tri thức đứng đắn về công bằng

Khi luật lao động, luật xã hội trực tiếp phục vụ cho bảo hiểm xã hội, dịch vụ công cộng, an sinh xã hội trong các quốc gia có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền, thì ta sẽ nhận ra đây không chỉ là phạm trù của tài chính, của hành chính… mà là cội rễ của văn minh biết "đối nhân xử thế" nơi mà mọi người được tôn trọng như nhau trong bảo hiểm xã hội. Mọi người được phục vụ như nhau trong dịch vụ công cộng. Mọi người được đối xử như nhau trước an sinh xã hội. Khi một chính quyền có tri thức đứng đắn về công bằng thì sẽ có những quyết sách tử tế để ngăn chặn sự phát triển của bất công, chính quyền đó lo cho toàn thể dân tộc, cho toàn bộ xã hội, chớ không chỉ chăm lo một tầng lớp, một thiểu số giàu có tự lợi tức tới quyền lợi. Những chính quyền bất lương trước bất công, bất nhân trước bất bình đẳng luôn gặp những trở lực mà bản thân nó không lường được nếu nó liên tục bất tín trước toàn dân. Đó là thực trạng của chính quyền độc đảng hiện nay, nó hoàn toàn bất lực trước mức độ ô nhiễm trong các thành phố lớn rất nguy hại cho sức khỏe của mọi công dân, không phân biệt kẻ giàu người nghèo.

Bất công xã hội, phân cực dân tộc

Chân dung diện mạo của các chủ mưu lấy bất công để làm giầu, ta nhận ra ngay lý lịch bất chính của bọn di dạng bất lương của bạo quyền độc đảng, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền, cực quyền độc trị, cuồng quyền độc tôn đang có mặt trong xã hội Việt hiện nay, chúng không quá 1% tức là không quá 1 triệu trong gần 100 triệu dân Việt, nhưng chúng có đặc cấp của bất công đặc quyền quyết định tài sản của dân tộc, tài nguyên của đất nước. Rồi đặc lợi để vơ vét từ tham ô tới tham nhũng, rồi đặc ân hưởng thụ tối đa tự quyền lực tới quyền lợi. Tổ tiên Việt đã nhận ra chúng đã mô thức hóa quỷ dạng trong tà kiếp của chúng : đặc quyền của cướp ngày là quan, đặc lợi của ngồi mát ăn bát vàng, đặc ân của ăn trên ngồi trốc Chúng lại mang những di tật đã vĩnh viễn làm nên khuyết tật của chúng, mà cụ Tiền Điền Nguyễn Du đã ghi nhận chân dung của chúng như Mã Giám Sinh : "Ghế trên ngồi tót sỗ sàng", như Sở Khanh : "Nói lời rồi lại nuốt lời như chơi". Gian dối trong đểu cáng, nên chúng chứa nhiều tà khí trong não trạng âm binh của chúng : "thừa nước đục thả câu", "thừa gió bẻ măng", chúng lại "nhớt thây dầy cốt" của loại "chờ sung rụng", theo kiểu "ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau", lại thích moi xương uống máu của loài thích "cốc mò cò xơi" để bóc lột đồng bào, đồng loại. Có lúc chúng là ký sinh trùng loại "nuôi ong tay áo, nuôi cáo dòm nhà", có lúc chúng là thành siêu vi khuẩn "sâu dân mọt nước" như có thể gây nên những đại dịch không sao lường hết trên nhân kiếp Việt tộc.

xahoi7

Phân hóa dân tộc

Bọn cướp ngày là quan chính là chủ mưu bất nhân, là thủ phạm thất đức gây ra ung thư đại tràng hiện nay trong xã hội Việt. Khi phối hợp phân tích định lượng song hành cùng định chất, thì ta có thể nhận ra đưa ra một chân dung dị kỳ của bất công xã hội chính là nguyên nhân tạo ra phân hóa ngay trong dân tộc. Tầng lớp giàu và ngày càng giàu, đang rời không gian của đất nước và bỏ lại nhân kiếp chung của một dân tộc, khi với tiền của vơ vét được từ tham ô tới tham nhũng, bọn này đã có thẻ xanh, quốc tịch ngoại cùng lúc đã chuyển tiền ra ngoài và đã có bất động sản tại phương Tây. Tầng lớp nghèo ngày càng nghèo rơi xuống đáy vực, rồi tụ lại ở tận cùng dưới đáy, nơi dân đen "nằm gai nếm mật" chung kiếp với dân oan "ăn chực nằm chờ", cả hai chịu nhục phận "đầu tắt mặt tối" ngay trong nhân kiếp của một dân tộc nạn nhân của bạo quyền công an trị. Kẻ giàu bất lương, người nghèo lương thiện, có cùng một lịch sử, cùng một văn hóa, vì cùng một dân tộc, một giống nòi nhưng đã không nhận ra nhau, đây đúng là ung thư ngay trong nội tạng của dân tộc, để độc tố trọc phú của loài "bây chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi", cứ tiếp tục bòn rút trên mồ hôi, nước mắt của đại đa số dân tộc.

Bất công tạo ra phân cực

Khi bất công tạo ra phân cực, thì liên minh của kinh tế học, chính trị học, triết học, xã hội học lại yêu cầu ta phải đi sâu vào sự phá hoại của bất công, nơi mà bọn chủ mưu bất nhân, là thủ phạm thất đức đang thủ tiêu công bằng xã hội cùng công ích xã hội ; công bằng xã hội cùng an sinh xã hội ; công bằng xã hội cùng bảo hiểm xã hội ; công bằng xã hội cùng dịch vụ xã hội ; công bằng xã hội cùng luật lao động và luật xã hội… Chính bất bình đẳng sinh ra bất công : bất bình đẳng về lợi tức sinh ra bất bình đẳng xã hội ; bất bình đẳng về thuế má sinh ra bất bình đẳng xã hội. Và một chính quyền có lương tâm vì dân, có lương tri vì xã hội thì chỉ cần hai chính sách : thu ngắn lại sự phân cực giàu nghèo để thu ngắn lại khoảng cách của bất bình đẳng. Và cân bằng lại tỷ số thuế má, nơi mà người giàu phải đóng thuế nhiều để chính phủ lo cho người nghèo là thượng nguồn của cuộc đấu tranh chống bất công.

Bảo hiểm xã hội – dịch vụ công cộng – luật xã hội

Từ thiếu vắng kiến thức về xã hội tới trống vắng kiến thức về chuyên môn, các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam tiếp thu rất chậm chạp các quy luật về tự do cạnh tranh trong kinh tế thị trường của các quốc gia có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền vì họ có truyền thống văn hóa về luật pháp xã hội. Các quốc gia này có đầy đủ luật để khử ba loại tư bản man rợ đang làm tan nát mọi khả năng đi về phía tiến bộ của xã hội Việt hiện nay, đó là : tư bản gia đình, tư bản thân hữu, tư bản tham nhũng. Từ trống vắng kiến thức về chuyên môn tới hoang vắng ý thức về tiến bộ xã hội nên Đảng cộng sản Việt Nam đủ kiến thức để bất chấp về ba quy luật xã hội đảm bảo sự vận hành bình thường của một xã hội văn minh từ hai thế kỷ qua bảo hiểm xã hội (sécurité sociale), đã được sáng tạo và lưu hành tại Anh quốc ; dịch vụ công cộng (service public), đã được sáng lập và thịnh hành tại Pháp quốc ; luật xã hội (droit social), đã được hình thành và luật hóa tại Đức quốc. Cả ba (bảo hiểm xã hội, dịch vụ công cộng, luật xã hội) mang đặc điểm của mỗi quốc gia, nhưng cả ba biết bổ sung cho nhau từ hợp tác quốc tế tới tư do cạnh tranh, luật pháp luôn có mặt để bảo vệ công bằng qua công lý bằng công pháp.

Công bằng - công lý - công pháp

Trong các quốc gia văn minh biết lấy ưu tiên xã hội làm kim chỉ nam cho mọi hành tác lao động và kinh tế. Chính liên minh giữa công bằng-công lý-công pháp là khuyết điểm đã làm nên khuyết tật không sao chữa được của các thể chế toàn trị độc đảng. Thất bại đã làm nên thảm bại của Đảng cộng sản Việt Nam, vì không nó đủ kiến thức để nhận ra là quản lý công bằng-công lý-công pháp chính là tiền đề mà cũng là động cơ để làm nên liên minh thịnh vượng-tiến bộ-văn minh. Những nhận định kèm theo những phân tích về tình hình xã hội, mà tình hình xã hội thì không bao giờ tuyệt đối khách quan, vì nó luôn bị chính quyền, nhất là chính quyền của hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn) chi phối, thao túng, giật dây. Vậy thực chất của tình hình xã hội Việt Nam hiện nay, bị tác động, bị phân hóa rồi bị hủ hóa bằng ba độc tố gây nên mọi độc hại trong đời sống xã hội, sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội : độc đảng có độc quyền bằng công an trị ; độc tài có độc trị bằng tham nhũng trị ; độc tôn chỉ có độc lộ của tham tiền trị.

Tạo thuận lợi tối đa cho công bằng

Trong tổ chức hiện đại của các xã hội có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền, các quốc gia phương Tây, người ta tìm nhiều cách để tạo ra các công ích xã hội : tạo thuận lợi tối đa cho công bằng ngay thượng nguồn với các điều kiện tốt lành cho thành công trong học đường, thành tài trong nghề nghiệp, thành đạt trong kinh tế để tạo ra thành tựu trong xã hội. Khi tạo điều kiện để thực hiện hệ thành (thành công, thành tài, thành đạt, thành tựu) thì kết quả cụ thể vẫn ở trong tay của cá nhân với đạo lý học tập chăm chỉ, đạo đức nghề nghiệp chuyên cần, chính cá nhân phải có trách nhiệm khôn nhờ dại chịu. Tạo thuận lợi tối đa cho công bằng để tạo cơ hội dựng nghiệp qua hệ thành (thành công, thành tài, thành đạt, thành tựu) đòi hỏi cá nhân phải tiếp nhận đầy đủ và nhuần nhuyễn ba giáo dục : giáo dục gia đình, giáo dục học đường, giáo dục xã hội để tạo ra hiệu quả học tập, hiệu năng lao động, cũng tại đây quá trình cá nhân hóa sẽ cho xuất hiện ít nhất hai loại người làm nên sự khác biệt sâu xa. Loại người thứ nhất biết thức khuya dậy sớm, lại biết một nắng hai sương, còn nhìn xa trông rộng một cách rất thực tiễn là ăn bữa sáng lo bữa tối, thì hoàn toàn khác với loại người thứ nhì chờ sung rụng, lại nhớt thây dầy cốt, trong ích kỷ ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau.

Hệ lụy bất công

Khi phân tích bất công để lập nên các chuyên luận mà giải thích công bằng, thì sự thật đầu tiên xuất hiện là phát triển kinh tế của một quốc gia không giải quyết vấn đề bất công, mà có khi còn ngược lại là tạo những bất công ngày càng nhiều, ngày càng sâu trong dân tộc. Chuyện này thì đã rất rõ trong hai thái cực đang phân hóa xã hội Việt đến cùng cực là tư bản đỏ, tư bản thân hữu, mang biệt danh là trọc phú, dựa vào quan hệ-tiền tệ-hậu duệ tha hồ trộm, cắp, cướp, giựt của dân lành, biến đại đa số của Việt tộc hiện nay là dân đen, với dân oan bị cướp đất đã lên hàng triệu ; nơi mà các chuyên gia đặt biệt hiệu cho chế độ độc đảng của Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay là một cường quốc của dân đendân oan. Hệ lụy bất công có nguồn máy, có sự vận hành riêng của nó, dựa loại chính quyền ký sinh trùng sống nhờ mưu thâm kế độc của tà quyền qua : sưu cao thuế nặng trên lao động, đánh hằng loạt những loại thuế bất chính, lên giá xăng dầu bằng thuế bảo vệ môi trường nhưng không công bố công khai số liệu và thống kê về cách sử dụng tiền thuế này vào bảo vệ môi trường gì ? Ở đâu ? Buôn gian bán lận chủ quyền, cướp đất của dân ngay trong Hiến pháp, mà danh chính ngôn thuận phải gọi là thiến pháp của Đảng cộng sản Việt Nam với tà ngữ ma ngôn : "đất là sở hữu của toàn dân, do nhà nước quản lý" để lập ra liên minh âm binh bạo quyền độc đảng-tà quyền tham quan-ma quyền tham tiền, rồi mở ra tà lộ của "quy hoạch" để tha hồ cướp bóc bằng "cưỡng chế".

Chân dung bất nhân, diện mạo thất đức

Khi đã là nạn nhân của bọn cướp ngày là quan, thì Việt tộc phải cẩn trọng trước liên minh âm binh bạo quyền độc đảng-tà quyền tham quan-ma quyền tham tiền này, vì chúng sẽ tiếp tục vơ vét tiếp trên tài nguyên, thiên nhiên của đất nước, trên xuất khẩu lao động Việt, trên đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, trên xuất khẩu nông sản và hải sản, trên ngoại tệ của Việt kiều… Bất công tại xã hội Việt hiện nay bị xem như là loại bất công với mức độ thậm tệ nhất, mà gốc, rễ, cội, nguồn của loại bất công này mang những hệ lụy sâu đậm tồi tệ chống lại nhân phẩm Việt. Bạo quyền độc đảng dùng công an trị để truy hiếp nhân tâm Việt, nhân từ Việt. Tà quyền tham quan dùng tham ô, tham nhũng để tiêu hủy nhân tính Việt, nhân lý Việt. Ma quyền tham tiền dùng tiền tệ và quan hệ để xóa trừ nhân nghĩa Việt, nhân đạo Việt. Cực quyền độc trị dùng khủng bố, đàn áp, sát hại… để vùi dập nhân tri Việt, nhân trí Việt. Cuồng quyền độc tôn dùng vu cáo, tù đày, lao lý để tẩy khử nhân vị Việt, nhân bản Việt. Khi nhận diện ra được bất công với chân dung bất nhândiện mạo thất đức của nó, thì vẫn chưa nhìn sâu trông rộng vào tâm địa của bạo quyền độc đảng, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền, cực quyền độc trị, cuồng quyền độc tôn. Mà tâm địa của loài âm binh này, thì hiện tượng luận đã dựa vào biệt danh cùng biệt hiệu của chúng để soi rọi hệ lương của chúng : lương tâm không có nên chúng mới : hèn với giặc, ác với dân ; lương thiện không có nên chúng mới : mưu hèn kế bẩn ; lương tri không có nên chúng mới : buôn dân bán nước.

Công bằng là cột trụ của dân chủ

Công bằng chính là cột trụ không những của dân chủ để bảo vệ nhân quyền, mà còn nền móng của tự do, vì không có công bằng thì tự do sẽ rơi vào vực thẳm của ích kỷ tự lợi, loại ai chết mặc ai, kiểu bây chết mặc bây, nên công bằng luôn sánh vai với và song hành với công ích xã hội. Ta không chỉ xem dân chủ chỉ là một thể chế, một chế độ, mà trước hết là một tổ chức văn minh cho xã hội, cho con người vì nó đứng vững trên công bằng để chống bất công. Quá trình chống bất công với mục đích và chỉ tiêu vì công bằng luôn là quá trình đấu tranh trong suốt mọi giai đoạn xây dựng dân chủ, một xã hội dù giàu tới đâu, dù nhiều tiền của vật chất tới đâu, mà để bất công tràn lan, thì chính xã hội đó đang thụt lùi trước nhân quyền, đang xa rời quỹ đạo văn minh và tiến bộ. Trường hợp của xã hội Việt hiện nay chính là thảm kịch tay ba : một xã hội đầy dẫy bất công, với tư bản đỏ là ma quyền liên minh với bạo quyền độc đảng để cướp đất, cướp của, biến dân lành một sớm một chiều thành dân oan, dân đen…

Vô loài trọc phú

Tâm trạng làm nên tâm lý, chỉ không đầy nửa thế kỷ, từ sau 1975 ngày hết chiến tranh mà cũng là ngày số phận dân tộc nằm trong tay của ít nhất ba loại quyền lực bất nhân thất đức của bạo quyền công an trị, tà quyền tham nhũng trị, ma quyền tham tiền trị. Không mất hồn sao được khi thấy bạo quyền công an trị biến những đồng bào yêu nước, trọng dân chủ, quý nhân quyền thành những tù nhân lương tâm, với những nhà tù đầy những đứa con tin yêu của Việt tộc. Tà quyền tham nhũng trị liên minh với xã hội đen, tức là bọn côn đồ, du đảng, lưu manh cùng đến cưỡng chế để cướp đất của dân lành, một sớm một chiều biến họ thành dân oan. Ma quyền tham tiền trị của bọn sân sau, dùng ô dù của bạo quyền và tham quyền chống lưng cho chúng để trộm, cắp, cướp, giật đất đai của dân để làm giầu, vô loài với tên gọi là trọc phú, sống trong biệt thự, biệt dinh, biệt phủ, đã đẩy dân oan vào thảm cảnh màn trời chiếu đất, với thảm trạng đầu đường xó chợ.

Âm binh tâm loạn

Bạo quyền công an trị, tà quyền tham nhũng trị, ma quyền tham tiền trị sống và đối xử với nhau trong quan hệ giết người cướp của, trong phản xạ của thanh toán để thanh trừng lẫn nhau, để thêm vào lý lịch âm binh của chúng hai tâm loạn sau cực quyền, một loại quyền lực của cực đoan, cực đoán làm nên độc đoán, một loại quyền lực tuyệt đối, chúng gọi nhau là đồng chí nhưng đối xử với nhau như tử thù trong không gian lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Chúng đạo đức giả với nhau bằng khẩu Phật tâm xà khi gặp nhau, nhưng sống với nhau thâm ý không đội trời chung với nhau. Cuồng quyền, một loại quyền lực của các hành tác tự cuồng giận tới cuồng điên sẵn sàng giết đồng bào, đồng loại, kể cả đồng chí lương thiện của chúng như vụ hành quyết xã Đồng Tâm, thôn Hoài để hành sát cụ Lê Đình Kình là đồng chí với hơn nửa thế kỷ tuổi đảng của chúng.

xahoi8

Nhận thức về cần lao

Loại ngữ pháp : tổng động viên trong quá trình chính trị hóa rồi quân sự hóa toàn bộ lực lượng lao động của một quốc gia dẫn tới chế độ toàn trị, trong đó từ cá nhân tới tập thể, từ cộng động tới quốc gia, không ai thoát được ý thức hệ toàn trị làm nên định chế toàn trị. Khi chế độ toàn trị, ý thức hệ toàn trị, định chế toàn trị đã có mặt trong xã hội, vì đã có chính quyền toàn trị bảo lãnh cho chúng bằng bạo lực, đây chính là thảm cảnh của số phận Việt tộc hiện nay, vì toàn trị luôn là độc trị trong độc hại vì nó chỉ biết độc lộ bằng độc quyền độc lợi của nó. Trên phân tích này, ta phải thấy sự thông minh của các minh quân, minh vương, minh chủ trong một hệ thống độc tài, họ biết được tổng động viên toàn lực trong một thời điểm lịch sử nhất định, trong khi chờ đợi dân chủ đa nguyên biết tôn trọng nhân quyền, thì họ đã thực hiện được tổng động viên vì thấy và thấu thực tế của thị trường toàn trị. Đó là trường hợp của các minh quân, minh vương, minh chủ này mà ta đã thấy trong thế kỷ XX vừa với kinh nghiệm của Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan, Singapour. Phạm trù của thị trường toàn trị luôn dựa lên kinh tế thị trường, nơi mà thức khuya dậy sớm trong cần lao phục vụ cho sản xuất, nơi mà một nắng hai sương trong lao động phục vụ cho xuất khẩu, nơi mà ăn bữa sáng lo bữa tối phục vụ cho tiết kiệm.

Cần lao vừa là đạo lý vừa là tri thức lấy đa trí phục vụ cho đa tài

Tất cả sung lực của cần cù trong lao động, chăm chỉ trong công việc, được đưa vào đúng đại lộ của tiềm năng sáng tạo, lấy sáng kiến lao động để thăng hoa sáng chế ra chất lượng của sản phẩm ngay trong cần lao. Cần lao vừa là đạo lý vừa là tri thức lấy đa trí phục vụ cho đa tài ; lao động giáo lý vừa là ý thức lấy đa năng phục vụ cho đa hiệu. Trong lịch sử của Đảng cộng sản Việt Nam, thì các lãnh đạo qua hơn nửa thế kỷ từ ngày thành lập đảng 1930 tới nay, họ không hề có ý thức về cần lao, nhận thức về lao động, vì ngay thượng nguồn họ không hề có kiến thức chính-quyền-hiểu-thị-trường. Tổng hệ luận (chiến trường là thị trường-chiến đấu bằng lao động-chiến thắng bằng cần lao) đã bị tiêu diệt ngay trong trứng nước trong hệ thống độc đảng của chế độ Việt Nam hiện nay, độc tài nhưng bất tài, độc trị nhưng không hề có tri thức quản trị, cộng vào đó là sự tung hoành cho tới tan hoang của hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền) làm tan vỡ ngay trên thượng nguồn mọi phương hướng và phương pháp để đưa Việt tộc tới tiến bộ và văn minh.

Hiệu quả thức khuya dậy sớm, hiệu năng một nắng hai sương, hiệu suất ăn bữa sáng lo bữa tối

Khi chủ tâm với ý đồ của bạo quyền, tà quyền, ma quyền, cực quyền, cuồng quyền là diệt cần lao Việt, đã có trong lao động biết hiệu quả của thức khuya dậy sớm, hiểu hiệu năng của một nắng hai sương, thấu được hiệu suất của ăn bữa sáng lo bữa tối, để nhận ra an cư lạc nghiệp trên nền của trong ấm ngoài êm. Hủy luôn thông minh Việt đã có trong bản lĩnh giữ nước Việt, có trong nội công lập quốc Việt, thắng bất cứ bạo quốc ngoại xâm nào có thâm ý chiếm đoạt đất Việt, đồng hóa Việt tộc. Diệt luôn sáng tạo Việt đã có trong thành công tại học đường, thành tài trong nghệ nghiệp, thành đạt trong kinh tế, thành tựu trong xã hội khi có được điều kiện hay, đẹp, tốt, lành để thành người. Chuyện này thấy rất rõ trong cuộc sống của Việt kiều tại phương Tây, khi có điều kiện như mọi người, thì sẽ thành danh không thua ai. Không kiêu căng tự phụ hơn người để rơi vào họa vô minh của khinh người ; cũng không mặc cảm tự ti để sa với nạn vô tri của nhục kiếp, luôn sáng suốt để bảo vệ nhân phẩm, nên phải luôn tỉnh táo để bảo vệ nhân quyền cho mình, cho đồng bào mình. Việt tộc phải liên kết hai hệ, hệ thông (thông minh, thông thạo, thông thái) song lứa cùng hệ sáng (sáng kiến, sáng lập, sáng tạo) để thay đổi nhân kiếp Việt hiện nay. Gạt bỏ đi môt hệ thống toàn trị độc đảng của quan giàu nước yếu, làm ra hệ lụy của nước nghèo dân khổ, để lập lại quy trình bình thường của nhân lýnhân tri theo hướng thăng hoa của nước giàu dân mạnh.

Ý đồ của tà tâm

Không gian tà quyền này là kết quả của trọn ý đồ của tà tâm được xếp đặt, được dàn dựng, được bày biện như một hệ thống vừa toàn diện, vừa ngặt nghèo để truy diệt hệ thức, luôn bị truy lùng và bóp nghẹn bởi bạo quyền dùng ngu dân để cai trị, nó ngăn chặn kiến thức, để cầm tù tri thức, nó sợ trí thức đánh thức không những ý thức về công bằng, tự do, nên nó mất ăn mất ngủ với nhận thức phải đấu tranh vì dân chủ để có tâm thức vì nhân quyền. Nó đứng ngồi không yên với sự phối hợp muôn hình vạn trạng của phương trình kiến thức-tri thức-trí thức-ý thức-nhận thức-tâm thức làm nên tỉnh thức cho một dân tộc, đưa cái tà lẫn cái ngu vào tử huyệt.

Hệ trí, là đối thủ trung tâm của các chế độ dùng ngu dân để thao túng xã hội, chính trí tuệ của dân tộc làm nên lý trí của dân chúng, chế tác ra dân trí để xây dựng nhân trí với thời gian, sẽ là nền móng cho một xã hội đi về phía phát triển, bước về hướng văn minh, phương trình linh hoạt của trí tuệ-lý trí-dân trí-nhân trí là dàn phóng để tạo nên sức bật của sự tỉnh giấc trong quần chúng, khao khát thoát khỏi kiếp nô lệ phản lý trí bằng ngu dân hóa.

Vận dụng ngu dân để bịt mắt, bịt tai, bịt miệng nhân dân

Hệ luận, là sự trưởng thành của của hệ thức, là bản lĩnh của hệ trí, dùng dữ kiện của sự thật để lý luận, dùng chứng từ của chân lý để lập luận, dùng luân lý của lẽ phải để giải luận, từ đó xây dựng nên diễn luận để tìm đường đi nước bước cho tương lai, trong đó luận được trợ lực bởi lý và trí. Phương trình vừa tri thức, vừa lý trí của hệ luận : lý luận-lập luận-giải luận-diễn luận trong giáo lý của tổ tiên Việt dạy con cháu là so ra mới biết ngắn dài, luôn đi trên vai, trên lưng, trên đầu mọi chế độ ngu dân hóa. Vì tà quyền dùng ngu dân để bịt mắt, bịt tai, bịt miệng nhân dân, nên nó tránh lý luận, né lập luận, trốn giải luận, lách diễn luận để dễ bề tuyên truyền một chiều, nhồi sọ một lượt, xóa não một lần, cho nên tà quyền sợ phân tích chi ly để giải thích cặn kẽ, sợ lý giải chỉnh chu để phê bình tận gốc. Hệ thông, lúc đầu là đối địch, lúc sau là thù địch của tà quyền dùng ngu dân để bưng bít sự thật, vùi lấp chân lý, bóp nghẹt lẽ phải ; tà quyền ngại các thành phần thông thái trong xã hội, tà quyền sợ các tầng lớp thông minh trong quần chúng, khi cả hai hùng lực thông thái  thông minh kết hợp lại được, thì dân tộc sẽ thông suốt mọi ý đồ của tà quyền, đó là ngày báo tử của một chế độ dùng ngu dân để thao túng dân tộc.

xahoi9

Lương tâm là cội rễ của đạo đức

Hệ lương, trong đó lương tâm là rễ của đạo đức, và lương tri là cội của đạo lý, khi mà lương tri đã trở thành tri thức của lương tâm, thì nó đã là nguồn sống của luân lý lương thiện, chống ngu dân vì ngu dân là xảo trá, chống tà quyền vì tà quyền diệt nhân tri lẫn nhân trí, hủy nhân lý lẫn nhân tính. Phương trình lương tâm-lương tri-lương thiện chính là phương trình đạo đức-đạo lý-luân lý của một dân tộc, của một xã hội được thừa hưởng những giá trị tâm linh cao đẹp của tổ tiên. Tà quyền không có giáo dục của lương tâm, nên sẽ không thấu hiểu là lương tri là sự thông minh chớ không phải sự dại khờ để dễ bị ngu dân hóa, nên không biết lương thiện là sự thông thái chớ không phải sự ngây ngô để dễ bị thui chột hóa. Hệ giáo, nơi mà hệ thống giáo dục dựa vào giáo lý vững để có giáo khoa hay, giáo trình tốt, giáo án lành, làm nên sung lực của giáo dưỡng sâu, biến một cá nhân lành thành một công dân tốt, thành một chủ thể cao có sáng tạo trong xã hội để thăng hoa cho chính mình, cùng lúc đưa dân tộc vào hướng của văn minh, biến văn hóa của tổ tiên thành văn hiến cho nhân loại. Tà quyền khi thao túng, giật dây quần chúng qua ngu dân đã biến một xã hội mang khuyết điểm thiếu tri thức thành một xã hội mang khuyết tật ngay trong nhân tri, nơi mà dân tộc bị tật nguyền ngay trong nhân trí.

Câm điếc hóa nhân quyền

Chính tà quyền luôn biến giáo dục thật - giáo lý thật -giáo khoa thật - giáo trình thật - giáo án thật - giáo dưỡng thật thành quái thai mà xã hội Việt, dân tộc Việt đang phải gánh chịu với học giả-thi giả-bằng giả, với cử nhân giả, cao học giả, tiến sĩ giả, chui rúc trong ngu dân, mà không dám lộ đầu trực diện trong học thuật thật-nghiên cứu thật-phát minh thật để có tư duy thật-tư tưởng thật. Hệ nhân, chính tà quyền dùng ngu dân để thui chột hóa nhân tính trong nhân tình, để què quặt hóa nhân lý trong nhân thế, để câm điếc hóa nhân quyền trong nhân sinh. Nhưng cũng chính tà quyền sẽ tự khai tử nó, cùng lúc đào mồ chôn chủ nghĩa ngu dân hóa do nó chế tạo ra để vùi dập dân tộc của nó, khi nhân đạo sẽ mở đường cho nhân tri đi tìm nhân trí. Vì tà quyền là loại khôn quá hoá dạimiệng lanh nhưng đầu khờ, khi dùng cả vú lấp miệng em, vì muốn ăn trên ngồi trốc, mà không đủ nhân từ tới từ nhân nghĩa mà tổ tiên đã dạy cho con cháu : sống có nhân mười phần không khó. Tà quyền không bao giờ có tuổi thọ cao vì nó không có thời gian để hiểu : sống lâu mới biết lòng người có nhân.

Ngăn chặn nhận thức đê xiết ngộp tâm thức

Hãy phân biệt hai quá trình ngu dân khác nhau bị khai thác bởi tà quyền : ngu dân qua ngu dốt, cụ thể là cấm học hoặc không cho đi học bình thường, đàng hoàng, tử tế, mà chuyện học thuật vì chuyện thức khuya mới biết đêm dài, phải có giáo dục, giáo khoa, giáo trình, giáo án trong cái đau đáu và đằng đẳng của giáo dưỡng, mà tà quyền không bao giờ dùng thời gian để học tập mà chỉ dùng thời gian để gian lận, xảo trá, ngụy biện, vo tròn bóp méo từ kiến thức tới tri thức, diệt trí thức để hủy ý thức, ngăn chặn nhận thức để xiết ngộp tâm thức, nhờ vậy nên quá trình ngu dân hóa của nó mới tồn tại được. Ngu dân qua mê thức, tà quyền chặn thông tin để què quặt hóa tin tức, ngăn truyền thông để thui chột hóa chứng từ, cấm kiến thức để diệt tri thức. Tà quyền chém sự thật để sự thật không toàn vẹn, tà quyền chặt chân lý để chân lý không nguyên hình, tà quyền đốn lẽ phải để lẽ phải bị khuyết tướng. Tà quyền vùi thực tế để lấp thực trạng. Đưa không đủ tin tức, giao không đúng thông tin, trao không trọn truyền thông nên phương trình sự thật-chân lý-lẽ phải luôn bị tà quyền làm đui, què, câm, điếc để thế vào đó một phương trình ngược lại gian dối-xảo trá-lừa bịp, nó chính là một loại quái thai xa lạ với nhân tính.

Rứt kiếp ngu dân, dứt kiếp nạn nhân

Thượng nguồn của mọi cuộc cách mạng thật sự tích cực, làm thay đời đổi kiếp của nhân loại vì nhân phẩm, đưa nhân sinh vào hướng nhân tính, đưa nhân tình vào phía nhân trí, luôn bắt đầu bằng cách lột mặt nạ tà quyền trong ý đồ tổ chức chế độ ngu dân hóa của nó, từ đó đưa vào lý trí của nạn nhân bị ngu dân hóa ba phân tích chủ lực để nạn nhân rứt kiếp ngu dân, dứt kiếp nạn nhân, để đối diện với tà quyền : phân tích khách quan (chống chủ quan) qua các dữ kiện của quá trình ngu dân hóa ; phân tích trung tính (chống quá khích) qua các chứng từ của ngu dân hóa ; phân tích khoa học (chống tuyên truyền) qua các hậu quả ngu dân hóa. Chính ba phân tích này sẽ tạo tiền đề cho ba tư duy mới, từ đó sinh ra hành động tích cực để thoát kiếp làm nạn nhân trong một chế độ ngu dân. Đó là ý thức biết mình là nạn nhân của một ý đồ thâm độc là ngu dân, đã cướp đi không những nhân trí mà cả nhân lý làm người bình thường. Đó là nhận thức mình bị thao túng, giật dây bởi một tà quyền dùng chế độ ngu dân qua tuyên truyền một chiều để chỉ phục vụ tư lợi của nó, không những cướp mất nhân tri, mà còn đoạt luôn nhân phẩm của mình. Đó là tâm thức bằng ý nguyện để biến thành ý lực phải thoát kiếp ngu muội, phải vượt số phận nạn nhân của ngu dân, để bền bỉ đòi hỏi nhân cách, bền chí đấu tranh vì nhân tính, vượt thoát ngu dân để vượt thắng tà quyền.

Lấy vô tri để giết tri thức

Một chế độ ngu dân hóa luôn được tổ chức ngay trong trứng nước của nó bằng các hệ bất chính liên kết nhau qua các chính sách từ giáo dục tới văn hóa, từ xã hội tới truyền thông, từ chính trị tới ngoại giao, từ công an tới quân đội. Trong không gian chuyên chính để chuyên quyền, độc tài để độc quyền hệ độc, lấy độc đảng để thâu tóm mọi quyền lực, các từ ngữ dân chủ tập trung chỉ là xảo ngữ không có nội dung dân chủ và không có có nội chất dân bầu. Độc đảng sinh ra độc tài, lấy độc quyền để độc trị, cho ra đời một quái thai độc hại là độc tôn, tức là nó chỉ thấy nó, không thấy ai khác, mà ai muốn làm khác sẽ bị nó truy, muốn ngược nó sẽ bị nó hại, muốn chống nó sẽ bị nó giếtChính vì độc quyền trong tà quyền, nên nó phải dùng ngu dân để che lấp chính quyền chân chính, chính thể chân thực, chính pháp công minh. Hệ độc song hành cùng hệ tà, nơi mà tà quyền tới từ tà tâm, một loại âm binh đội nhân dạng để đưa nhân cách vào tà đạo, nhân phẩm vào tà thuật, lấy vô minh để diệt kiến thức, lấy vô tri để giết tri thức, lấy vô giác để vùi tuệ giác, từ đó lấy ngu dân để chế tác ra quái thai vô cảm. Chính cái vô cảm của ai chết mặc ai để đẻ ra quái thai của luân lý trong cái vô tình bây chết mặc bây, và triết học luân lý khi phối hợp cùng chính trị học đã phân tích được cái ác luôn đi đôi với cái ngu.

Bóc lột sinh lực dân tộc

Tà quyền dùng cái ác để cai trị trong ngu dân, rồi dùng cái ngu là kết quả của nó để biến cái ngu thành cái ác. Tà quyền dùng ngu dân để điều kiện hóa các nạn nhân của nó rồi biến các nạn nhân này cũng ác như nó để truy diệt đồng loại, đồng bào của chính mình. Hệ bạo, khi độc và tà nhập làm một làm ra hệ bạo (bạo quyền, bạo động, bạo hành) sẽ tới để củng cố chế độ ngu dân trị, được bảo kê bởi bạo quyền của độc đảng, hỗ trợ cho bạo động qua đàn áp, khủng bố, bắt bớ, ám hại, thủ tiêu, song hành cùng bạo hành của cả một hệ thống công an trị. Không có một chế độ ngu dân hóa nào không qua hệ bạo này trong lịch sử của nhân loại, gieo rắt sự sợ hãi đi cùng với tra tấn dã man, gây tâm lý hoảng hốt qua trấn áp kiểu man tính, thí mạng nhân dân như thí mồi cho dã thú. Hệ tham (tham quan, tham ô, tham nhũng) nơi mà tà quyền dùng bạo lực để ôm giữ tư lợi của bọn lãnh đạo qua quyền lợi làm nên động cơ mờ ám cho quyền lực để tổ chức một chế độ ngu dân hóa. Từ đó bòn rút tài nguyên đất nước, bóc lột sinh lực dân tộc, cùng lúc hủy mọi sức đề kháng tạo nên phản đối trong quần chúng, phản kháng trong xã hội. Để qua đó tham quan lộng quyền trong tham ô, rồi tiếp tục tham quyền để tham nhũng. Muốn giữ kiếp sâu dân mọt nước thì phải biến nhân kiếp thành kiếp tằm ăn dâu, suốt ngày đêm tham quyền để gặm nhấm và vơ vét cho tới cạn kiệt tiền của và sinh lực của dân tộc.

Lấy dối trá để diệt sự thật

Hệ xảo, nơi mà tà quyền đi sâu vào tà đạo của hệ xảo (xảo quyệt, xảo thuật, xảo ngôn), từ hệ thống giáo dục tới cơ cấu xã hội đều bị điều chế bởi các chính sách xảo quyệt, lấy dối trá để diệt sự thật, dùng xảo thuật của cơ chế, của hành chính, của quyền lực để giết chân lý, dùng xảo ngôn để hủy lẽ phải. Hệ xảo (xảo quyệt, xảo thuật, xảo ngôn) là thượng nguồn của mọi chính sách ngu dân hóa, là guồng máy để điều động các âm binh của nó, từ công an tới quân đội, từ định chế tới hành chính, là phản xạ hằng ngày của chính quyền khai thác tà quyền để bạo quyền vì tham quyền. Hệ bất, luôn là hệ đôi (vì chúng là quái thai sinh đôi), trong đó hệ bất (bất tài, bất tín, bất lực) thứ nhất luôn song hành cùng hệ bất (bất lương, bất chính, bất trung) thứ hai, để giật dây quần chúng cùng bạo quyền làm cách mạng. Nhưng khi cách mạng thành công thì một sớm một chiều bất chính với đất nước, bất trung với dân tộc, và bất lương trước tiền đồ tổ tiên, đang hằng ngày bị Tàu tặc gây ra bao Tàu nạn, với bao hệ lụy Tàu họa. Và ngày qua ngày, tà quyền lộ ra sự bất tài trong quản lýsự bất tín xem thường niềm tin nên sẵn sàng vứt bỏ lòng tin của nhân dânvà sự bất lực trong các chính sách phát triển đất nước, đưa dân tộc ra khỏi nghèo nàn lạc hậu.

Một dân tộc bị khổ sai hóa tri thức

Tác động của các chính sách ngu dân hóa lên cộng đồng, tập thể, cá nhân từ não trạng tới ngữ pháp, từ hành vi tới ngữ văn, từ truyền thông xã hội tới đối thoại thường nhật, qua đó ngu dân đeo đẳng trên tư duy của các nạn nhân hai thái độ sống trái ngược nhau : tự ti và tự kiêu, nơi mà mặc cảm song hành một cách lạ lùng với sự tự mãn. Câu chuyện người Việt lao động giỏi, học giỏi, nói chung là tự thấy mình giỏi hơn người, hơn nhân loại trung bình, đây là câu chuyện tự tuyên truyền, tự ngu dân để tự ngộ độc tư duy của chính mình bằng một loại tự kiêu không đủ hùng lực để khách quan hóa nó thành công thức để thuyết phục người khác, trong một đất nước mà lãnh đạo không có được một sáng kiến để phát triển đưa dân tộc ra khỏi nghèo nàn lạc hậu, như các quốc gia láng giềng có cùng một nôi văn hiến tam giáo đồng nguyên như Việt Nam : Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan. Một dân tộc bị khổ sai hóa tri thức bởi bạo quyền độc tài không có một sáng chế gì để vượt thoát và vượt thắng nhục kiếp của mình. Một xã hội bị âm binh hóa bởi tà quyền công an trị, không có cơ hội sáng tạo từ khoa học, kỹ thuật tới sáng tác nghệ thuật, từ kinh tế, thương mại tới văn hóa, giáo dục. Không có hệ sáng (sáng kiến, sáng chế, sáng tạo) mà tự vỗ ngực để tự khen mình là giỏi hơn thiên hạ thì đúng là đối tượng của phân tâm học để được phân tâm trong dạng "tự mãn để tự diệt".

Dẹp xóa cái vô lý của tự ti hoặc tự kiêu

Nếu Việt tộc vì sống hằng ngày bằng một hệ thống giáo dục hiện nay học giả-thi giả-bằng giả, mà mỗi kỳ thi đều có trường hợp nâng điểm qua hối lộ kiểu kỳ thi trung học của tỉnh Hà Giang, thì tự kiêu là giỏi thì đúng là "ngu hóa điên". Riêng tự ti là một dân tộc hiện nay phải làm lao nô ngay trên đất nước mình cho các doanh nghiệp, công nghiệp ngoại quốc, nhất là cho Tàu hoạn đang lũng đoạn kinh tế, đang ô nhiễm môi trường của đất nước, rồi phải vong thân trong lưu vong của xuất khẩu lao động để làm nô tỳ, nô bộc cho các nước láng giềng, thì hay biến tự ti thành khởi điểm để đi tìm tự do bằng cách dẹp tà quyền ! Rồi dùng tự do đó biến thành tự tin để thay đời đổi kiếp theo hướng thăng hoa của tự chủ trong sáng kiến để tự lập trong sáng tạo. Muốn dẹp xóa cái vô lý của tự ti hoặc tự kiêu thì chỉ có cách là dùng hệ sáng (sáng kiến, sáng chế, sáng tạo) để lập ra phương trình tự do-tự tin-tự chủ-tự lập, từ đó chôn vùi luôn kiếp nạn nhân của một chế độ ngu dân hóa.

Tuệ giác khử ngu dân

Hãy phân tích hậu thân qua các hậu nạn của chính sách ngu dân : ngu dân hóa để còng tay kiến thức rồi lao lý hóa kiến thức, ngu dân hóa để siết não tri thức rồi nô lệ hóa tri thức, ngu dân hóa để vắt óc ý thức rồi khổ sai hóa ý thức.Từ đây, ngu dân hóa để cầm tù nhận thức rồi hình sự hóa nhận thức, ngu dân hóa để vùi dập tâm thức rồi lưu vong hóa tâm thức, ngu dân hóa để truy diệt tỉnh thức rồi vong thân hóa tỉnh thức. Một chế độ liêm chính, một chính quyền liêm sỉ phải có hệ thức (kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức, tâm thứctỉnh thức) này, nếu không có hệ thức thì chỉ là tà quyền với tà thuật thấp hèn của các chính sách ngu dân hóa. Con người có được văn minh của dân chủ, xây dựng trên văn hiến của nhân quyền, tại đây mỗi cá nhân là một chủ thể của hệ tự (dùng tự do tới từ tự giác làm nên tự tin nâng cao tự trọng để bền vững trong tự chủ), đây là điều mà các tà quyền dùng chế độ ngu dân hóa để cai trị, luôn mất ăn mất ngủ và tìm mọi cách để truy diệt tự do.

Chủ thể biết tự giải phóng

Chủ thể biết tự giải phóng mình bằng nhân lý của công bằng, nhân tri của công lý, nhân trí của công pháp để bảo vệ nhân phẩm của mình. Một nhân phẩm luôn biết dựa trên hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức để luôn tỉnh thức), đây là quá trình học hỏi để tự chủ trong tự tin, phải đấu tranh để có tự do vì biết tự trọng, với quyền tự quyết để loại, trừ, khử, bỏ mọi ý đồ ngu dân tới từ tà quyền. Ngay trong tri thức đã có cội nguồn của tư duy, giúp chủ thể muốn tự giải phóng mình phải suy nghĩ về điều kiện làm người của mình để tổ chức lại tuệ giác, rồi biến nó thành lý trí trong đấu tranh vì nhân quyền. Chính sự hoàn chỉnh của tri thức trực diện để chống chế độ ngu dân hóa, để loại mọi hậu quả và hệ lụy của ngu dân đang làm cho nhân tình đui, què, câm, điếc giữa nhân sinh. Chính quan hệ song hành giữa thế giới bên ngoài và tư tưởng bên trong của mỗi cá nhân làm nên tư duy, luôn mang theo một động cơ là ý định đi tìm tri thức làm nên ý muốn nhìn về phía các chân trời của tương lai luôn rộng hơn, cao hơn, tốt hơn số kiếp ngu dân mà mình đang gánh chịu. Khi thấu hiểu hiện tượng thì con người tìm hiểu thêm về 5 hiểu biết khác để có ít nhất 5 nhận thức : hiểu sự cố đang diễn biến qua hiện tượng ; hiểu quy luật đã tổ chức ra sự cố ; hiểu kỹ thuật cũ đã làm ra quy luật cũ ; học kỹ thuật mới để điều chỉnh quy luật cũ ; hiểu sự vận hành quá trình của quy luật cũ để chế tác ra chủ thể mới với kiến thức mới, từ đó tự giải phóng, tự phát triển, tự thay đời đổi kiếp. 

xahoi10

Chủ thể nhận trách nhiệm với số kiếp

Chính chủ thể có trách nhiệm với số kiếp của mình, có bổn phận với tha nhân, cùng là đồng loại với mình, nên chủ thể không sao chấp nhận được mình phải chịu làm nạn nhân cho một quá trình ngu dân hóa. Chủ thể mang tuệ giác để chống ngu dân vì biết dùng tri giác để chế tác ra trí tuệ, để có ý thức làm chủ cuộc đời của mình trong nhận thức phải đấu tranh để thoát kiếp ngu dân, trong tâm thức gầy dụng nên kiếp người vừa thực, vừa khôn để chống ngu, chống xuẩn. Chủ thể khi được định nghĩa sống-để-thấy, rồi thấy-để-thay, thay cái tồi để có cái hay, để có điều kiện làm người tốt nhất. Từ đây, chủ thể đang xây dựng ý thức làm người cho chính mình để cùng đấu tranh với tha nhân ; để gầy dựng nên ý thức nhân quyền trong nhân loại. Đây là cuộc hành trình trong khám phá đôi : khám phá tri thức để khám phá sự cố, để được làm người với nhân phẩm ; và khám phá cặp đôi này sẽ sinh ra khám phá bộ ba trong cuộc sống : khám phá bên ngoài để khám phá bên trong ; khám phá tha nhân để khám phá chính mình ; khám phá tha nhân bên ngoài để nuôi tư duy bên trong cho chính mình. Từ đây thay đổi não trạng để xua đuổi kiếp nạn nhân vì ngu dân tổ chức bởi tà quyền.

Chính sách ngu dân hóa của tà quyền : bóng tối của ma xó

Ngu dân chỉ là ý đồ hạn hẹp trong cái ngu của tà ý, ngược lại với ý muốn tự làm mình khá hơn, tốt hơn, giỏi hơn, hay hơn, đây chính là sung lực làm nên hùng lực của ý định đi về phía hay, đẹp, tốt, lành của đạo lýTại đây tính khoa học, tính khách quan, tính vô tự lợi của kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức để tỉnh thức luôn đứng về phía ánh sáng, từ chứng minh tới chứng thực. Còn các chính sách ngu dân hóa của tà quyền thì phải lẫn lách trong bóng tối như ma xó, phải chui rút trong bùn nhơ như ma bùn, vì chúng sợ ánh sáng của sự thật làm nên chân lý để tạo dựng ra lẽ phải ! Chất thực của kiến thức có từ-thấy-qua-tin trong sự thật vô trương bất tín (không thấy thì không tin), cho nên các hệ thống tuyên truyền ngu dân hóa luôn chôn giấu cái thực của trí, làm nên sức mạnh liên đới giữa sự thật và lý trí, và tà quyền khi tổ chức chế độ ngu dân, thường rất sợ sự liên minh sự thật-lý trí này, qua câu ông bà đã dặn con cái : "biết thì thưa thốt. Tà quyền vô tri nên ngụy ngôn để nhồi sọ dân chúng, xảo ngôn để xóa não quần chúng.

Tà quyền rất lo vì rất sợ hệ

Quá trình thực trí loại ngu dân là quá trình truyền đạt kiến thức thật để có tri thức thật, trong cái chỉnh lý của lý trí, trong cái hợp lý của trí tuệ, khi mà tri thức đã giúp tạo nên ý thức, thì nó đi vào lý trí để biến thành nhận thức, và nó sẽ đi ra như tâm thức để trở thành hành động đấu tranh cụ thể. Khi kiến thức đã kiến trúc hóa được tri thức, thì tri thức có khả năng biểu quyết để phán quyết !

Đây là một nỗi lo khác của tà quyền dùng ngu dân hóa để cai trị, nó ngày đêm mất ăn mất ngủ vì nó sợ bị ý thức sẽ vén màn cho ánh sáng của nhận thức vào để lột mặt nạ tà quyền đã che giấu để bưng bít, đã dối trá để lừa đảo. Hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức, tâm thức) chính là nơi sinh ra đạo lý của hay, đẹp, tốt, lành cho nhân lý, để làm nên luân lý của trách nhiệm và bổn phận cho nhân đạo, trong đó cá nhân và tha nhân cùng sống, cùng chia nhau từ quyền lợi tới trọng trách phải bảo vệ nhân tính. Tà quyền ăn gởi sống nhờ qua chế độ ngu dân hóa của nó. tà quyền là luôn biến quyền lực của nó thành quyền lợi để có tư lợi trong tham ô và tham nhũng. Chính tại đây tà quyền rất lo vì rất sợ hệ lý (lý luận làm ra lập luận, giải luận làm nên diễn luận), tà quyền lo và sợ vì khi nó rơi vào hệ  này thì nhân dân sẽ thấy hệ bất (bất tài, bất chính, bất tín, bất trung) của nó. Nó sẽ bị lộ nguyên hình dối, xạo, dóc, láo để trộm, cắp, cướp, giựt qua chế độ ngu dân hóa của nó.

Nổi lên đòi dân chủ, nổi dậy vì nhân quyền

Ngu dân ngày đêm truy diệt nhân tri, nên nó luôn tìm cách thủ tiêu sự thông minh để ám sát sự sáng tạo, tà quyền luôn biến dân tộc thành lao nô chớ không muốn dân chúng trở thành chủ thể để phát minh, phát triển cho đất nước. Đây là thảm kịch của Việt tộc hiện nay dưới tà quyền của Đảng cộng sản Việt Nam, nơi mà quần chúng thành lao nô ngay trên quê hương mình cho nhiều xí nghiệp, doanh nghiệp của Tàu tặc, nơi mà xuất khẩu lao động để làm nô lệ, nô tỳ cho các nước láng giềng gần xa. Nếu thật sự Việt tộc có văn hiến vì có văn minh trong thông minh và sáng tạo, thì chắc chắn sẽ nổi lên đòi dân chủ, để sau nổi dậy vì nhân quyền, vì nhân phẩm Việt tộc, một nhân phẩm không bao giờ chịu khuất phục bởi bạo quyền của ngoại xâm hay nội xâm. Chính kiến thức xóa ngu dân để chống độc quyền của độc tài, chính công lý loại bạo quyền để chống tham nhũng qua tham quyền, chính lý luận dứt bỏ độc đảng để chống độc trị, chính sáng kiến qua sáng tạo sẽ bứt hết ngu dân ra khỏi xã hội, để giải phóng nhân tình hiện nay ra khỏi tuyên truyền một chiều kiểu lưỡi gỗ.

Tà quyền : bóp chết sự thật, chôn sống chân lý, xiết ngộp lẽ phải

Muốn bảo trì tư lợi bất chính thì tà quyền phải tiếp tục chế độ ngu dân, cùng lúc kiểm soát đời sống xã hội, canh giữ sinh hoạt xã hội, rình rập các quan hệ xã hội và sẵn sàng đàn áp, bắt bớ, giam giữ, khủng bố, ám hại chính nhân dân của nó qua tà cách bóp méo tin tức, thao túng thông tin, giật dây truyền thông, để bóp chết sự thật, chôn sống chân lý, xiết ngộp lẽ phải. Tà quyền dàn dựng cơ chế ngu dân, qua định chế lừa dân, để có tư pháp giả với pháp luật ngoa, để lập án xử dân, từ đó vo tròn bóp méo mọi dữ kiện, mọi chứng từ, lấy giả làm thật, lấy sai thay đúng, trong đó tuyên truyền đã thành bản năng để nói dối, nói dóc, nói xạo, nói điêu. Tà quyền sống trong tà đạo vì tư lợi và vì tiện lợi, nơi mà tư lợi có được qua tư quyền hóa chính quyền, tiện lợi vì ăn gian nói dối trong xảo trá dễ hơn phải chăm chỉ học hành trong ngày đêm đèn sách ; vì ăn điêu nói ngoa để lừa đảo dễ hơn tu tâm dưỡng tính ; vì ăn trên ngồi trốc qua gian lận dễ hơn ăn bữa sáng lo bữa tối trong lương thiện. Ở đây tà quyền dùng hành chính để có quyền lực, khư khư giữ con dấu để được ký tên vào các quyết định trong các ngân sách cho các sinh hoạt khoa học, từ đó "kiếm chác"bằng cơ chế qua hành chính. Nơi mà kẻ bất tài nhiều hơn người có chân tài. Nơi mà bi hài kịch bất tài quyết định số phận và số phần cho chân tài.

Nạn nhân bị khổ sai hóa trong địa lý dân oan

Đó là những nơi mà công dân Việt bị cướp đất, có tổ chức bởi các quan thầy đang lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam, dùng không những công an mà cả côn đồ, lưu manh, trộm cướp của xã hội đen để khủng bố qua bạo lực, đuổi họ ra khỏi mảnh đất của họ và của tổ tiên họ, rồi bán lại cho bọn đầu nậu đất đai, để chúng lập ra các khu chung cư, giải trí, du lịch… với giá gấp hàng ngàn, hàng triệu giá bồi thường cho dân oan. Từ lãnh đạo tới công an, từ côn đồ cùng bọn đầu nậu đất, tất cả bọn chúng đều là âm binh, vì chúng dùng tà quyền trong ma đạo để trộm, cắp, cướp, giật ; nếu bọn âm binh này còn thì kiếp khổ sai của dân oan sẽ còn, và ngày ngày càng nhiều, càng tăng lên ; vì lòng tham của âm binh không có đáy. Chúng dùng độc đảng để độc quyền trong quyết định, độc tài trong chính sách, độc trị trong các công trình qua đó chúng tha hồ mà vơ vét. Nước mắt và tiếng gào thét của dân oan sẽ còn đầy, còn đẫm, sẽ còn làm vang dội với kiếp sống vô định không nhà, màn trời chiếu đất, khổ sai trong nay đây mai đó, sống kiếp khổ ngục trong bụi đời, nửa sống, nửa chết như oan hồn.

Nạn nhân bị khổ sai hóa của ô nhiễm môi trường

Đây là loại khổ sai mới chưa có trong lịch sử xã hội Việt, nơi mà người dân là nạn nhân trực tiếp từ môi trường tới môi sinh, mà không có điều kiện của công lý để đối kháng, cũng không có cơ hội để di dân đi nơi khác để sinh sống, để làm lại cuộc đời. Hiện trạng môi trường đúng là quốc nạn mà Đảng cộng sản Việt Nam trực tiếp chịu trách nhiệm, vì Đảng cộng sản Việt Nam là tác nhân khi ký kết cho Tàu tặc vào lãnh thổ Việt để gây ra đại nạn môi trường. Từ bốc-xít Tây Nguyên tới Vũng Áng của Hà Tĩnh do Formosa gây ra. Hiện nay, lãnh thổ Việt ngày ngày gánh chịu loại khổ sai hóa của ô nhiễm môi trường, với các nhà máy than điện kiểu Vĩnh Tân, tại Bình Thuận, tác động như hiểm họa vừa trên sinh hoạt sinh nhai của nhiều ngành nghề, vừa trên sức khỏe của quần chúng, trong sự thờ ơ, phủi tay, vô trách nhiệm của chính quyền và chính phủ hiện nay.

Nạn nhân bị khổ sai hóa của tha hóa giáo dục

i mà trường học từ mẫu giáo các cháu đã bị bạo hành, qua trung học nơi mà học sinh bị sĩ nhục, tới đại học với một nền giáo dục gian lận học giả-thi giả-bằng giả. Cùng lúc phụ huynh phải chịu vô vàn các hy sinh về học phí lẫn các lớp học thêm, mà thực chất là các nơi làm tiền trắng trợn, cùng một loạt các chi phí khác, đưa đến chuyện khổ sai hóa triền miên trong tài chính của phụ huynh và của học sinh, với một tương lai bất định qua bất nghiệp vì thất nghiệp. Có cử nhân, cao học lại phải lái xe ôm, phải phục vụ tay chân cho các nhà hàng, phải cúi đầu cam nhận làm những việc không dính líu gì đến các ngành nghề mà mình được đào tạo, cúi đầu nhận chuyện sai nghề, như lạc sâu vào nhục nghiệp.

Nạn nhân bị khổ sai hóa của đồi bại y tế

Tại đây, bịnh viện là địa ngục trần gian, con bịnh bị xem rẻ như các con thú đã bị thương không được chăm sóc, một giường bịnh mà nhiều người nằm, nằm la liệt luôn cả dưới đất, với bao dịch vụ không quan hệ gì tới y tế, gây tốn kém cho chi phí một gia đình, một sào huyệt của tham nhũng ở mọi cấp từ bác sĩ tới y tá, từ nhân viên phục vụ tới nhân viên canh gác. Nạn nhân bị khổ sai hóa trong quá trình "nuôi bịnh", và không hề được thật sự "chữa bịnh", với thuốc giả mà giá cao, qua tổ chức và mạng lưới của chính gia đình bà bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Kim Tiến. Nạn nhân bị khổ sai hóa trong hiện trạng đã nghèo, thì giờ đây ngày ngày càng nghèo hơn, vì không có cơ hội được bác sĩ giỏi, được uống thuốc đúng, có điều kiện chữa trị ổn định, chỉ một người mang bịnh để cả gia đình phải nuôi bịnh tới tán gia bại sản.

Nạn nhân bị khổ sai hóa của điêu tàn nông nghiệp

Qua tà thuật của Tàu tặc, với sự bất lực của chính quyền và bất tài của chính phủ hiện nay, để Tàu họa thao túng nông thôn Việt, giật dây giá nông phẩm, o ép nông nghiệp Việt với sản xuất quốc nội bị mất giá và bỏ đi, với nông dân bị lái buôn Tàu nạn ép giá rồi tự ý hủy bỏ hợp đồng, đưa sinh hoạt nông nghiệp từ bấp bênh tới hấp hối. Cùng lúc hệ Tầu tặc-Tàu họa-Tàu nạn này đã từ cưỡng bức dòng chảy tới bức tử triều lượng sông Mê-Kông, từ một vựa lúa phì nhiêu nuôi cả nước Việt giờ thành một vùng hạn, nửa chết nửa sống, với bao đập thủy điện của Tàu ngay trên thượng nguồn. Nạn nhân khổ sai hóa của điêu tàn nông nghiệp, trong đó nông dân phải bó tay, phải chịu trận từ nhiều năm qua và trong nhiều năm nữa, nếu không có một chính sách với quyết tâm cứu cho bằng được đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa của Việt tộc, thì cả nước sẽ bị đe dọa về lương thực.

Nạn nhân bị khổ sai hóa của đại nạn giao thông

Trùm phủ lên toàn sinh hoạt xã hội, mỗi lần người công dân phải di chuyển trên đường phố, trên các trục lộ, từ quốc lộ tới các ngõ ngách ; nơi mà tai nạn có thể tới với cả người đi bộ trên lề đường, bị các xe leo hẳn lên lề với vận tốc cao gây thương tích, có khi dẫn đến tử nạn. Một quốc gia với con số thống kê hơn 10000 tử vong hàng năm vì giao thông, hơn cả một số quốc gia đang có chiến tranh. Kể cả các trục giao thông đường sắt với các hệ thống thiết bị an toàn vô hiệu lực, thường xuyên gây ra thảm họa cho hàng trăm nạn nhân, trên các tuyến đường không bao giờ được chính phủ đầu tư đúng mức, với các công trình luôn bị "rút ruột" từ vật liệu tới xây dựng, bị "đội vốn" từ dự án tới thực hiện. Nơi mà chính phủ từ chối nhận bổn phận và trách nhiệm để bảo đảm an toàn tính mạng của người dân, nơi mà quá trình nạn nhân khổ sai hóa của đại nạn giao thông không hề là một quốc sách để chính quyền quan tâm.

Nạn nhân bị khổ sai hóa của chế độ công an trị

Bao trùm lên đời sống xã hội, sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội, nơi mà công an và cảnh sát chà đạp vừa nhân quyền, vừa pháp luật, trắng trợn bắt công dân Việt phải chịu hối lộ như mãi lộ trên đường phố, nơi mà khi công an tự cho phép chúng dùng bạo lực để bạo hành, vì chúng được bảo kê, được bao che bởi bạo quyền của Đảng cộng sản Việt Nam. Nơi mà có các đồn công an mang một thống kê loại "khát máu" độc nhất trên thế giới là có hơn 1000 nạn nhân tử vong hằng năm trong các đồn công an. Nạn nhân khổ sai hóa của chế độ công an trị là những nạn nhân có thể bị khủng bố, bắt cóc, ám hại, bỏ tù, tra tấn bất cứ lúc nào mà không có một luật pháp nào tại chỗ có thể bảo vệ họ. Đó là số phận của các đứa con tin yêu của Việt tộc, quý nhân quyền, yêu dân chủ, trọng công bằng, kính tổ quốc trước họa Tàu tặc, trong một thể chế vô nhân, không nhân tính vì không biết nhân đạo, không nhân tri vì không có nhân lý, không nhân từ vì không hề được giáo dưỡng để tôn quý nhân nghĩa.

xahoi11

Nạn nhân bị khổ sai hóa của độc tài qua độc đảng

Nơi mà Đảng cộng sản Việt Nam áp đặt độc tôn bằng áp chế độc trị qua áp bức của bạo quyền độc đảng, nơi mà dân tộc Việt không được quản lý mà bị cai trị, nơi mà tổ quốc Việt không được bảo vệ mà bị buôn, bị bán, nơi mà tiền đồ tổ tiên đang cam chịu số phận bọt bèo sống nay, chết mai trước Tàu tặc. Nạn nhân khổ sai hóa của độc tài qua độc đảng mà dân tộc phải nhận hàng loạt cái tròng trên cổ mình tới từ ngoại bang : bắt đầu bằng một ý thức hệ giai cấp ngoại lai, một sớm một chiều biến quan hệ thống tộc thành kẻ thù giai cấp trong cuộc thảm sát cải cách ruộng đất với ngàn vạn nạn nhân tử vong trên đất Bắc, 1954-1956. Nạn nhân khổ sai hóa của độc tài qua độc đảng, phải nhận hàng loạt cái chết chóc với số nhiều triệu trên cả ba miền, để biến chiến tranh lạnh của các cường quốc thành chiến tranh nóng, chiến tranh lửa, chiến tranh máu, ngay trên đất nước Việt, với thảm trạng của huynh đệ tương tàn. Với một Đảng cộng sản Việt Nam luôn giao số phận của nó cho ngoại bang, trong chiến tranh cho khối cộng sản quốc tế, hiện nay cho đảng cộng sản Trung Quốc, bất chấp số kiếp dân tộc, số phận đất nước, số phần tiền đồ tổ tiên. Chúng đưa đẩy các số kiếp, số phận, số phần này vào hướng vô định trong vô tri, vô phương vì vô minh cho ngoại bang, chỉ để cứu đảng, chớ không hề để cứu nước.

Nạn nhân bị khổ sai hóa và Tàu tặc-Tàu họa-Tàu nạn

Đã nô lệ hóa được Đảng cộng sản Việt Nam, đã thuần hóa được các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nên chúng sẽ khổ sai hóa Việt tộc không những bằng bạo lực quân sự, xảo thuật chính trị, ma thuật ngoại giao, mà Tàu tặc-Tàu họa-Tàu nạn sẽ gieo trên lưng của Việt tộc các hiểm họa của ô nhiễm môi trường và môi sinh với các công nghệ bẩn, biến lãnh thổ Việt là bãi rác của Tàu. Tàu tặc-Tàu họa-Tàu nạn sẽ đạp trên vai Việt tộc qua thao túng kinh tế, giật dây thương mại, lũng đoạn xuất khẩu bằng cách dội ngập tràn các hàng hóa của Tàu qua nhập khẩu các đồ dùng, vật dụng, thực phẩm độc hại để dần mòn truy diệt Việt tộc. Tàu tặc-Tàu họa-Tàu nạn sẽ dẫm trên đầu chính quyền, chính phủ của chế độ "hèn với giặc, ác với dân" chỉ vì Đảng cộng sản Việt Nam đã bị chúng siết cổ bắt cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối từ bao năm nay, chịu thuần hóa của Tàu tặc.

Thực cảnh lao lý

Chính các công dân là kẻ định nghĩa xã hội và quốc gia nơi mà họ đang sống chớ không phải chính quyền hay chính phủ ; và nếu công dân tự nhận là mình đang bị khổ sai hóa bởi một chế độ, một định chế, một chính quyền, thì chúng ta phải đi từ khái niệm khổ sai của tội phạm học để đi tới một phạm trù rộng hơn xã hội học thực nghiệm, để hiểu tại sao các công nhân của một quốc gia lại tự nhận đang bị quy chế khổ sai không nhà tù, không trong vòng lao lý nhưng hằng ngày phải sống thực cảnh lao lý. Ngày ngày sống cảnh trên đe dưới búa, cá nằm trên thớt, cá chậu chim lồng trong tăm tối, trong quyền sinh sát của một chế độ công an trị, được quyền khát máusát nhân, trong sự bảo kê của một bạo quyền bất chấp đạo lý và công lý. Các chỉ báo sau đây của xã hội học hiện đại, để định vị rồi định luận các quá trình khổ sai hóa trong quần chúng, nơi mà xã hội sống hằng ngày của họ bị hệ chế (áp chế, cưỡng chế, ức chế) qua hệ bạo (bạo quyền dùng bạo lực để bạo hành) nơi mà xã hội lẫn dân tộc đều là nạn nhân.

Nguyên tắc kín của khổ sai hóa

Khổ sai hóa một xã hội có quá trình dựa trên nguyên tắc kín trong đó sự thật về khổ sai luôn bị giấu kín (cấm nói, chặn họng, bịt mắt kiểu luật an ninh mạng) qua kiểm duyệt mà bạo quyền luôn cấm điều tra, nghiên cứu, điền dã về quá trình này. Vì sự thật của các kết quả điều tra, nghiên cứu, điền dả trong khoa học xã hội và nhân văn sẽ lột được mặt nạ của tà quyền, và các kết quả đó sẽ là tiền đề cho các cuộc đấu tranh đòi hệ công (công bằng, công lý, công pháp). Tất cả các bạo quyền đều lo sợ, đều mất ăn mất ngủ về các chân lý của khoa học xã hội và nhân văn, vì nó đủ khoa học tính để "lật tẩy" tà quyền đang khổ sai hóa dân tộc của nó. Chính bạo quyền luôn kèm kẹp, luôn bóp nghẹt sự phát triển và sức giãi luận liêm chính của khoa học xã hội và nhân văn, và cũng chính bạo quyền thay thế vào đó bọn văn nô, bồi bút, điếm báo… để tráo lận và bôi nhọ các điều tra, nghiên cứu, điền dả nghiêm túc trong khoa học xã hội và nhân văn, bằng tuyền truyền, qua nhồi sọ, để xóa não… tức là xóa sự thật biết nói lên chân lý để đi tới lẽ phải.

Sự bóc lột triền miên

Khổ sai hóa một xã hội mang thực chất của sự bóc lột triền miên, vừa thường trực, vừa lâu dài, nơi mà nạn nhân mang kiếp nô lệ mà không được đặt tên là nô lệ, kẻ thống trị không đặt tên và không gọi đúng tên để tiếp tục bóc lột bền bỉ, tận xương tủy kẻ bị khổ sai không tên, để chúng yên tâm mà vơ vét qua bòn rút, trong một xã hội mà luật pháp không làm ra để bảo vệ dân, mà để bao che cho bạo quyền thống trị. Những xảo ngữ của tà quyền còn biết đặt tên ngược lại : tòa án nhân dân, ủy ban nhân dân, hội đồng nhân dân, quân đội nhân dân, công an nhân dân, nơi mà chính nhân dân không bao giờ muốn tới, và mỗi lần tới đều bị tới với tư cách tội phạm, tội nhân. Khổ sai hóa một xã hội luôn kèm theo một quá trình ngầm là diệt cá tính của cá nhân biết đòi hỏi công bằng, tự do, dân chủ. Diệt cá tính tức là diệt chủ thể, cụ thể là diệt sự thông minh và sức sáng tạo của chủ thể, tìm mọi cách vây siết cá tính, không cho cá nhân phát triển cá tính tức là bản lĩnh, nội công, tầm vóc của mình để tự giải phóng mình, để tự thay đời đổi kiếp của mình. Ma thuật của tà quyền dùng bạo quyền để ngăn chặn cá nhân, tập thể, cộng đồng rời bỏ kiếp xấu, tồi, thấp, hèn để tìm tới một kiếp khác hay, đẹp, tốt, lành hơn.

Bị nô lệ hóa trong khổ sai giữa trời

Khổ sai hóa một xã hội là cuộc đổi chát bỉ ổ về luân lý cộng đồng, thô bỉ về đạo lý dân tộc, khi tà quyền dùng bạo quyền để tổ chức cường quyền bằng cách lấy kết quả bóc lột đa số quần chúng, để chia sẻ qua bổng lộc, qua tham nhũng cho một thiểu số trong nguồn máy của chính quyền của nó, và ngoài nguồn máy như bọn thầu đất, buôn công trình, lãnh đạo ngân hàng… qua các tổ chức "sân sau", qua sử dụng quyền-tiền, để "chống lưng" cho nhau. Cuộc đổi chát này luôn dựa trên ý đồ nô lệ hóa quần chúng để khổ sai hóa một xã hội, nơi mà tà quyền thao túng để vơ vét, kiềm kẹp để truy bức bằng cách gạt hẳn tam quyền phân lập, nó luôn nắm hành pháp, nó siết lập pháp và nó giật dây tư pháp. Khổ sai hóa một xã hội nơi mà các nạn nhân bị nô lệ hóa trong khổ sai giữa trời, giữa đất không nhà tù, nhưng chính các nạn nhân sẽ tường trình trong tự thuật, sẽ hồi ký hóa các án khổ sai không tên mà họ phải lãnh chịu, để nói lên sự thật qua đấu tranh và cũng qua tâm sự, trong đó một số kiếp khổ sai luôn kéo theo một tập thể lúc thì gia đình, thân tộc, lúc thì làng xóm, đồng nghiệp… Chính quá trình tự thuật như trần tình, sẽ làm lộ tà diện của tà quyền, bạo lực của bạo quyền, trong đó tà quyền vùng vẫy trong tà đạo, vừa lộng hành trong âm địa, nhưng cũng vừa ngoi ngóp trong sợ hãi ngày nó bị lôi ra pháp luật để công pháp trị nó bằng công lý của nhân tri.

Canh giữ và trừng trị

Khổ sai hóa một xã hội tới từ một bạo quyền thường qua hai xảo thuật : canh giữtrừng trị, canh giữ nạn nhân bắt họ phải nhận khổ sai trong kiếp nô lệ không nhà tù, và trừng trị họ khi họ làm khác : xé rào, phá lưới, chặt xiềng… để đòi hỏi tự do chính đáng của họ qua đấu tranh. Ngoài hai xảo thuật trên, tà quyền không ngần ngại dùng vu khống, vu cáo để chụp mũ, vu oan giá họa các nạn nhân. Và, bạo quyền cũng sẵn sàng dùng khủng bố, bắt bớ, tra tấn, kể cả ám sát và thủ tiêu các chủ thể đấu tranh vì nhân quyền cho công bằng và công lý. Khổ sai hóa một xã hội tới từ sự ngăn chặn toàn diện của tà quyền trong quá trình hình thành một xã hội hiện đại trong đó tự do của công dân sẽ làm nên tự chủ của nhân quyền, tạo ra tự tin cho chủ thể đấu tranh chống khổ sai hóa, chống nô lệ hóa, chống bần cùng hóa, từ đó thiết lập ra hệ công (công bằng, công lý, công pháp) đó là điều mà tà quyền không bao giờ muốn, vì đó là hồi chuông báo tử cho hệ độc (độc tài, độc trị, độc tôn) qua độc đảng.

Bất tuân dân sự vì sự thật, chân lý, lẽ phải

Khổ sai hóa một xã hội là thực thể bị áp đặt bởi tà quyền luôn tìm mọi cách để ngăn chặn bất tuân dân sự dựa trên tự do nói lên : sự thật, chân lý, lẽ phải, tức là khả năng lột mặt nạ tà quyền vì nó là tác giả và thủ phạm tạo ra một chế độ khổ sai hóa xã hội, để nô lệ hóa quần chúng, bần cùng hóa dân tộc. Bất tuân dân sự luôn là bước đầu trong đấu tranh chống tà quyền, nơi mà chủ trương bất bạo động là sự thông minh chỉ dùng hệ luận (lý luận, lập luận, giãi luận, diễn luận) để lập nên hệ đối (đối kháng bằng đối thoại, đối trọng bằng đối chất). Chính tà quyền tạo ra một xã hội bị khổ sai hóa luôn "lo ra""đứng ngồi không yên" vì sức sáng tạo "muôn hình vạn trạng" của bất tuân dân sự, tức là sức mạnh dân tộc đủ lực đốn tận gốc, rễ, cội của tà quyền, chỉ biết dùng tà thuật của nó là bạo lực. Chính tà quyền sẽ nhận ra bạo động của bạo lực làm nên diện mạo của bạo quyền chỉ là : cái xác không hồn ! Một loại khôn nhà dại chợ cấp điếm nhục của kiếp cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối theo kiểu hèn với giặc ác với dân.

Tà quyền bình thường hóa chuyện phi nhân

Khổ sai hóa một xã hội là sự dàn dựng của tà quyền, vừa bóc lột nạn nhân của nó qua nô lệ hóa quần chúng, bần cùng hóa dân tộc, vừa được bày biện qua diện mạo đạo đức giả của nó là đặt nạn nhân đã bị khổ sai ngay trong xã hội họ đang sống vào thế phạm pháp, vào chỗ phạm tội, một loại bị can không tiền án, cần được "xét xử" để được "xét tra" bởi tà quyền. Đây là xảo thuật của tà quyền, luôn dùng tòa án do nó tổ chức để buộc tội hoặc siết án các nạn nhân của nó. Nhưng cùng lúc tà quyền rất sợ các dữ kiện tạo ra chứng từ với chứng nhân nói lên sự thật trước tòa án, các chứng thư làm nên chân lý, các hành động chân chính làm nên lẽ phải. Tà quyền thích thú khi tổ chức các tòa án với bọn quan tòa là âm binh tay sai của nó, nhưng nó lại rất hèn hạ khi cấm các nạn nhân đưa ra ánh sáng mọi hành vi chống công lý, mọi hành động phản đạo lý, mọi hành tác diệt dân chủ của nó.

xahoi0

Tà quyền sinh âm binh

Khổ sai hóa một xã hội là sự dối trá của tà quyền, luôn răn đe quần chúng qua bạo lực của công an, cảnh sát, rồi bắt dân chúng xem đó là chuyện bình thường vì an ninh. Tà quyền bình thường hóa chuyện phi nhân của nó khi nó áp chế rồi cưỡng chế bằng công an trị, cùng lúc tuyên truyền chuyện bắt bớ, tra tấn, tù ngục là lẽ thường, là chuyện thường, để giữ an ninh. Tà quyền không bao giờ dám nói thật, nói thẳng là nhân loại đã một sớm một chiều loại hẳn ra các chế độ nô lệ, các chế độ khổ sai bằng nhân tínhnhân tri, nhân đạonhân trí, nhân nghĩanhân lý, nhân tâmnhân từ, vì chính hệ nhân này có thể dẹp tà quyền là thủ phạm của khổ sai hóa dân tộc trong chớp mắt, khi một dân tộc biết nhận nhân phẩm để giữ nhân cách của mình. Âm binh sống bám tà quyền trong bóng tối. Âm binh được điều khiển bởi âm tướng, được trợ lực bởi âm tá, chúng có mặt trong chính quyền, biến chất chính quyền của chung thành bạo quyền của chúng. Âm binh làm tay sai cho âm tướng, âm tá mang bộ mặt của chính phủ, cơ chế, định chế... để tham nhũng, tham ô, tham lợi.

Âm binh cờ gian bạc lận

Một xã hội bị âm binh hóa ngay trong các cơ cấu, đường dây, mạng lưới của tham nhũng luôn được điều khiển bởi mạng nhện của tà quyền. Âm binh cờ gian bạc lận, hàng loạt các tướng công an tổ chức đánh bạc lận qua mạng truyền thông, tạo không gian bất hợp pháp trong quá trình xoay tiền, chuyển tiền, rửa tiền bất chính của chúng. Loại âm binh này khai thác ít nhất ba góc khuất của xã hội. Chúng đại diện cho an ninh để bảo vệ xã hội, và chúng dùng danh nghĩa này để tổ chức cờ gian bạc lận ngay trong sào huyệt của chúng là các nơi đại diện cho quyền lực của một chế độ (Bộ Công an, Bộ Quốc phòng...) mà quần chúng và xã hội không sao tưởng tượng được. Chỗ giấu diếm chuyện bất chính ở cấp cao thường là nơi được quyền lực che chở, kẻ tổ chức âm quyền này tự cho phép mình đứng cao hơn cả chính phủ và pháp luật để làm chuyện phạm pháp.Chủ mưu để tổ chức đường dây và mạng lưới đánh bạc siêu quốc gia với kỹ thuật cao của truyền thông chính là các lãnh đạo cấp cao nhất trong chính quyền, mà Bộ Công an là nơi chứa nhiều âm tướng, âm tá, âm binh.

Âm binh của thuốc gian thuốc giả

Âm binh thuốc gian thuốc giả, qua Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến vừa chủ mưu, vừa tổ chức cho mạng lưới hậu duệ tín cẩn của mình có được các hợp đồng béo bổ nhất, với nhẫn tâm bán thuốc ung thư giả cho các bịnh nhân. Chính bà bộ trưởng này được bao che, được bảo kê, được "chống lưng" ở cấp cao nhất (âm binh vương ?) qua một hệ thống buôn lậu thuốc quốc tế rồi độc quyền và lạm quyền của một bộ trưởng luôn được bao che bởi bè phái của nó ở cấp cao nhất, cho phép nó có độc quyền trong quá trình chọn đối tác từ nhập khẩu thuốc cho tới các khâu phân phối thuốc trong các bịnh viện.Chính quyền hạn của một bộ trưởng tác động trực tiếp tới quá trình quyết định liều lượng thuốc cho tới quyết định giá thuốc trên thị trường, trong đó độc quyền phân phối tạo tiền đề cho độc quyền sản xuất trong gian lận. Các tổ chức độc lập trong y khoa và y tế vẫn bị phủ nhận bởi chế độ độc đảng của Việt Nam hiện nay ; trong khi đó các hội đồng đạo lý y khoa, đạo đức y tế tại các quốc gia có dân chủ hiện nay trên thế giới có chỗ đứng độc lập, ngoài chính quyền và không bị chính phủ chi phối. Các hội đồng này có ảnh hưởng lớn tới các giới chuyên môn trong y tế, có ảnh hưởng cao trong chính sách an sinh và an toàn y tế của chính phủ, có ảnh hưởng sâu trong xã hội dân sự, có ảnh hưởng mạnh tới các cơ quan truyền thông.

Âm binh buôn đất bán biển

Âm binh buôn đất bán biển, trong thảm họa Formosa gây khốn đốn cho nhiều triệu ngư dân miền Trung, một thảm họa môi trường và một truy diệt môi sinh chưa từng có trên đất nước ta, mà hậu quả mai hậu không sao lường hết được, thì loại âm binh lãnh đạo này cho phép bọn âm binh Tàu luyện thép bằng độc chất được quyền sử dụng đất và khai thác công nghiệp trong 90 năm ; khi nghiên cứu sâu và kỹ về loại âm binh buôn đất bán biển này chúng ta phải thấy ít nhất ba âm phủ địa của chúng. Chúng cam tâm nhận bồi thường chỉ 500 triệu đô la của bọn âm binh Formosa cho một thảm họa không thể dung thứ được, tạo ra bao cảnh chia lìa trong các gia đình ngư dân, mà giờ đây họ phải bỏ quê hương mình để đi làm lao nô cho các nước láng giềng, vì không sao sống được trong một vùng biển chết. Chúng vẫn bao che cho Võ Kim Cự là lãnh đạo địa phương đã ký cho Formosa trong 90 năm với nhiều đặc lợi, hắn và đàn anh trung ương của hắn có trách nhiệm trực tiếp tại về các hậu quả, các hệ lụy của quá trình ô nhiễm hủy diệt môi trường tại đây. Chuyện chống tham nhũng hiện nay của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ có nội chất là thanh trừng lẫn nhau giữa các lực lượng âm binh đang dùng tà quyền của chúng để có độc quyền trong chính quyền. Nó không hề có luân lý của công bằng, đạo lý của công pháp để được đặt tên là một chiến dịch chống tham nhũng.

Âm binh buôn đất bán nhà

Âm binh buôn đất bán nhà, có mặt không những trong chính quyền độc đảng, trong chính phủ qua Bộ Tài nguyên Môi trường mà qua các công trình quy hoạch địa phương, vùng miền, thành phố, tại đây âm binh khai thác một âm luật (đất không phải của dân mà dân chỉ có quyền sử dụng đất do đảng lãnh đạo, chính phủ quản lý, từ quy hoạch đất tới cưỡng chế). Chính chúng là thủ phạm làm ra cảnh màn trời chiếu đất của bao triệu dân oan hiện nay, chúng là âm binh đúng nghĩa nhất khi chúng dùng tà quyền lẫn bạo lực để cướp đất của dân. Chúng không chừa thủ đoạn nào, kể cả phối hợp đàn áp công an cùng với khủng bố dân lành của các băng đảng, côn đồ, du đảng... Khi nghiên cứu, điều tra, điền dã về loại âm binh này chúng ta phải thấy ít nhất ba liên minh trong âm thổ của chúng : Bọn đầu cơ trung ương có mặt trong chính phủ luôn, có luôn mạng lưới đàn em tại địa phương, chính bọn này là tham quan địa chủ, chia chát thẳng với đàn anh trung ương để trộm, cắp, cướp, giựt đất của dân, chúng bao che cho nhau qua bạo quyền của độc đảng, mà trong đảng thì các nhóm lợi ích chỉ là các mafia, với cách tổ chức lén lút kiểu âm binh vô dạng. Bọn anh em âm binh với nhau trong đảng và trong chính quyền thông đồng với các công ty trách nhiệm xây cất, đây là bọn chủ thầu, một loại âm binh chỉ có một động cơ là tiền và không hề có một luân lý cộng đồng, một đạo lý dân tộc. Chúng chính là âm binh trọc phú, có tiền mà không có lương tri, đừng mong chờ chúng có lương tâm với đồng bào.

Âm binh rút ruột nạo đường

Âm binh rút ruột nạo đường, chúng có mặt trong các bộ xây dựng, giao thông, vận tải, chúng có luôn liên minh của chúng thông đồng với nhau để ăn chia với chúng qua các công trình xây dựng cầu đường, các cơ sở hạ tầng... Chưa hết chúng còn cấu kết với nhau qua các trạm thu phí, mà chúng không ngượng khi đổi tên là trạm thu giá (ngữ pháp của loại âm binh mãi lộ) gây bao khốn đốn trên mọi trục giao thông trong cả nước. Chúng chính là loại âm binh độn thổ để vơ vét, chúng trộm, cắp, cướp, giật ngay từ thượng nguồn bằng mọi cách mà âm ngữ của chúng dùng là rút ruột, nạo ruột, vắt ruột, tức là ăn cắp, biển thủ, gian lận ngay trên vật liệu xây dựng. Chúng có trách nhiệm trong các nguyên nhân của bao tai nạn giao thông, hơn chục ngàn đồng bào tử vong hằng năm. Hãy đi từ hệ thống dọc của lãnh đạo tới quan hệ hàng ngang giữa chính quyền và các công ty xây dựng, để thấy tham nhũng đã bòn rút xương tủy của đất nước, dân tộc như thế nào. Chất lượng từ vật liệu xây cất tới kỹ thuật xây cất không hề lấy tiêu chuẩn quốc tế, tức là tôn trọng an toàn tính mạng của người dân trong giao thông, mà luôn bị rút ruột, nạo ruột, vắt ruột nhiều lần và qua nhiều giai đoạn. Trong thống kê về tử xuất giao thông của Việt Nam hiện nay là cao nhất của thế giới, một phần có lỗi và tội của chúng.

Âm binh đầu nậu sự cố

Âm binh đầu nậu sự cố, chúng có mặt trong mọi phương án từ giải trí tới nghệ thuật, từ điện ảnh tới sân khấu, từ lễ hội tới văn nghệ quần chúng, tự festival này tới festival kia. Chúng nằm ngay trong chính phủ trung ương và chính quyền địa phương, và mỗi khi có ngân sách cho các sự cố : giải trí, nghệ thuật, điện ảnh, sân khấu, lễ hội, văn nghệ quần chúng... là chúng "ăn chặn" ngay thượng nguồn từ o ép giá tới biển lận các chi phí, từ đó các đạo diễn, diễn viên, ca sĩ, kịch sĩ, kỹ thuật viên... chỉ còn nhận được khoảng 50%, tức là chúng đã lấy và bỏ vào túi của chúng 50% rồi. Còn nếu ai mà không nhận điều kiện tham nhũng qua kiểu âm binh đầu nậu này, thì chúng sẵn sàng tìm người khác, ban khác, nhóm khác chấp nhận điều kiện của chúng. Khi nghiên cứu, điều tra, điền dã về loại âm binh đầu nậu này, ta nên nhận diện ít nhất ba hành vi gian lận của chúng. Chúng có sẵn các mạng lưới các nhân vật, các nhóm, các đoàn trong danh sách của chúng sẵn sàng cam chịu các điều kiện tham ô, hối lộ, mãi lộ của chúng. Chúng có mạng lưới các bộ trưởng, các lãnh đạo đảng ủy, các trách nhiệm của các ủy ban nhân dân sẵn sàng "nhắm mắt, làm ngơ" để chia chát với chúng qua thói đầu nậu chặn tiền ngân sách của chúng. Chúng có mạng lưới như mạng nhện ngay trong các nghệ sĩ, các nhà đạo diễn, các nhà sáng tạo sự cố... bị chúng buộc phải làm theo yêu cầu của chúng, dù rất cẩu thả trong nghệ thuật, dù rất buông thả trong kỹ thuật.

Âm binh buôn bằng ban cấp

Âm binh buôn bằng bán cấp, đang thiêu hủy từng ngày, từng năm nền giáo dục với học giả-thi giả-bằng giả, ngay giáo chức cho tới các cấp lãnh đạo của bộ máy độc đảng hiện nay. Giả vì có học vịhọc hàm mà không có học lực, chạy chọt qua hối lộ và tham nhũng để có chức phó giáo sư, giáo sư đại học mà chưa hề có công trình nghiên cứu cá nhân, chưa hề công tác trong một viện nghiên cứu, thậm chí chưa hề có quá trình giảng dạy. Bọn âm binh này xem bằng cấp là tờ giấy như có tiền mua vé vào cửa để tiếp tục chuyển việc gian lận buôn bằng bán cấp qua chuyện xảo trá mua chức bán quyền sau đó, chính chúng cũng công nhận chúng là tiến sĩ giấy, giáo sư giả... Hãy vận dụng ba tiêu chuẩn để lột mặt nạ bọn âm binh vô tri thức này. Dùng hệ chuyên qua đào tạo : chuyên gia phải có chuyên môn, có gốc của một chuyên ngành, có rễ của chuyên khoa là nơi đào tạo ra chuyên gia, nơi mà chuyên gia nhận học vị rồi học hàm để xác chứng học lực của chuyên gia đó. Dùng hệ chuyên qua trao đổi : một chuyên gia phải có trao đổi, đối thoại, phản biện qua hệ hội (hội thảo, hội luận, hội nghị), qua đó chuyên môn chuyên ngành, chuyên khoa của một chuyên gia được tập thể, cộng đồng khoa học dùng hệ kiểm (kiểm tra, kiểm soát, kiểm định) để làm rõ về giá trị của công trình nghiên cứu, về chất lượng khoa học của chuyên gia đó.

Đồ hình tri thức để nhận diện âm binh

Giải luận hệ lụy qua nhận định thực tế trong phân tích thực tại dựa trên các kết quả thượng nguồn của nghiên cứu thực tế, điều tra thực tiễn, điền dã thực địa, để kiểm định bản chất tà quyền của hiện tượng tham nhũng, với các chỉ báo để nhận diện các loại âm binh. Tà quyền và tham nhũng luôn thay trắng đổi đen, tráo trở để gian lận, nên nó sẵn sàng tuyên bố với những luận điệu trái ngược nhau, xoay theo chiều gió âm của chúng, quyền lịnh qua các tuyên bố mâu thuẫn để chạy tội. Tà quyền luôn đồng hội đồng thuyền với tham nhũng qua phương trình âm của chúng : giấu-che-vùi-lấp tất cả các hành vi, hành động phạm pháp của chúng. Tà quyền ăn nằm với tham nhũng qua các mạng lưới trong bóng tối, trong đó có sự hiện diện của băng đảng, côn đồ, du đảng, xã hội đen... Tà quyền chung chạ với tham nhũng để tìm mọi cách khống chế quyền lực chính trị, thao túng được kinh tế, rồi đe dọa và mua chuộc cả tư pháp. Tà quyền chia chát với tham nhũng luôn dùng hai con đường chính trị qua : quyền lực và kinh tế, mà qua đó nó chỉ chú trọng tài chính khi vơ vét. Tà quyền sinh đôi với tham nhũng và khi chúng bị truy tố ra pháp luật thì lời khai của chúng luôn dính tới quyền lực trong chính quyền hoặc trong chính phủ, nơi mà quyền lợi chính là tư lợi của kẻ nắm quyền lực.

Tà quyền trong tà thuật từ khủng bố tới chụp mũ

Dùng đồ hình tri thức để nhận diện âm binh qua tà quyền và tham nhũng, để hiểu cơ cấu, quy trình, tức là sự vận hành của bọn âm binh này, để hiểu biết về sự vận hành này trong nguồn máy của chúng, cụ thể là khi có hội lộ, thì ta có ba nhân tố : kẻ tham nhũng nhận hối lộ, kẻ trao hối lộthỏa thuận hối lộ vừa là cầu nối, vừa là hợp đồng lậu của cơ cấu tham nhũng : tà quyền và tham nhũng luôn dùng lập luận "có qua có lại", rồi phát biểu thêm "hai bên cùng có lợi", nhưng trong bóng tối chúng sẵn sàng "ném đá dấu tay""ngậm máu phun người" đối với các nạn nhân của chúng, thí dụ cụ thể là dân oan, mà ta thấy đã lên nhiều triệu trong xã hội Việt hiện nay, vừa bị chúng cướp đất, vừa bị công an và côn đồ đánh đập, lại còn bị bỏ tù vì tội "phá rối an ninh" do chính chúng đặt ra. Tà quyền và tham nhũng luôn tự tin trong ảo tưởng là chúng đứng ngoài, và đứng trên luật pháp, vì chúng biết : lách luật, né luật, xé luật... nhưng khi chúng chuyển tiền ra ngoại quốc, trong các nước dân chủ, thì chúng sẽ bị vạch mặt chỉ tên, chúng là nạn nhân của chính chúng, tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa. Tà quyền và tham nhũng còn đi tự bắt cóc (vụ Trịnh Xuân Thanh) tới ám sát (các tướng, tá công an và quân đội bị thủ tiêu), chúng có tà thuật từ khủng bố tới chụp mũ các kẻ chân chính đấu tranh cho công bằng, dân chủ và nhân quyền.

Âm ngữ của âm binh

Tà quyền và tham nhũng còn liên minh được các lực lượng có sinh hoạt đối kháng nhau trên hành chính và cơ chế : công an lo cho trật tự xã hội thì đi đêm với du đảng, côn đồ, lưu manh, xã hội đen ; quân đội phải lo cho an ninh quốc phòng thì lén lút với bọn đầu cơ bất động sản... Tà quyền và tham nhũng luôn tự tin vào đường dây và mạng lưới mà chúng gọi tên là "sân sau""cửa sau" để "chống lưng""đỡ lưng", đây là âm ngữ của âm binh, khi khoe khoang về "hậu đài" của chúng, giờ đã là thuật ngữ được chấp nhận và tràn lan đang ô uế xã hội Việt, và được xem là một cái vốn xã hội bất chính nhưng đầy quyền lực đen của âm binh. Tà quyền và tham nhũng giữa chúng với nhau thì có "giá rẻ" và không có kiểm tra, đây là thượng nguồn của bọn lãnh đạo âm tướng với bọn thầu đất âm tài, ngược lại giá mà nạn nhân của chúng phải trả sẽ thật cao : dân oan mất đất và kẻ mua nhà mới với giá thật đắt đỏ. Âm ngữ của âm binh là : "bôi trơn" để nhận ra quá trình tham ô qua hối lộ là mua chuộc bất chính để giật dây nạn nhân, rồi thao túng họ trong một quá trình từ bất hợp pháp tới phạm pháp.

Mạng nhện là cái bẫy nhện

Tà quyền và tham nhũng không những chống luật pháp, mà còn tiêu diệt tài nguyên của đất nước, chống tài lực của đồng bào ; không những bòn rút tới kiệt quệ sinh lực của quốc gia mà còn thiêu hủy luôn khả năng và tiềm năng phát triển của quốc gia đó. Đây là một tội ác vô hình, vì khó thấy, nhưng là một tội ác trầm trọng phải xử theo tội hình sự cấp quốc gia. Tà quyền và tham nhũng tổ chức theo mạng lưới để cấu kết lén lút với nhau, nhưng mạng lưới này là mạng nhện được đặt giữa xã hội như một cái bẫy nhện để bẫy các con mồi chính là nạn nhân của hối lộ, tham ô, trong đó có dân đen, dân oan không được chính quyền bảo vệ, và không có dân chủ để bảo an, không có nhân quyền để bảo chứng. Tà quyền và tham nhũng luôn đứng ngoài nhưng đứng cạnh cái bẫy kiểu mạng nhện này, chúng là loại âm binh đói mồi vì lòng tham không đáy của chúng. Giữa chúng với nhau chúng luôn dùng 2 loại âm luật giang hồ : luật im miệng đi đôi với luật yên lặng, còn đối với nạn nhân của chúng thì chúng có hai loại vũ khí : điêu ngoa khi giới thiệu tà quyền của chúng và bí mật khi giăng bẫy tham nhũng của chúng.

xahoi12

Tham nhũng trắng, tham nhũng xám, tham nhũng đen

Tà quyền và tham nhũng đi đêm để thao túng xã hội, giật dây quần chúng, suy kiệt tài nguyên đất nước, xói mòn nguyên khí của dân tộc, thì chúng bất chấp đạo lý yêu nước, luân lý tổ tiên, trong bối cảnh hiện nay là đảng nát như tương, nước nát như cám. Tà quyền và tham nhũng khi chung chạ với nhau thì luôn dìm, luôn trấn để làm ngộp, làm nín quá trình song hành phạm pháp và tội phạm của chúng. Khi bắt được một thủ phạm, thì đồng phạm luôn tìm cách thủ tiêu thủ phạm này để thủ tiêu nhân chứng trước luật pháp, cho nên tà quyền và tham nhũng sẵn sàng ám sát và ám hại đồng bọn của chúng. Đầu môi chót lưỡi "đồng chí" chỉ để làm trò hề cho chúng. Tà quyền và tham nhũng dùng hệ ám (ám sát, ám hại) qua các thủ đoạn đầy ám chướng, đây là một trong các bản chất chính gốc của âm binh, khi bị ánh sáng của công pháp soi tới. Có ba loại tham nhũng khác nhau : tham nhũng trắng, "khi chấp nhận được thì cho phép", như tặng quà bánh, hoa... trong quan hệ xã hội, nghề nghiệp, cơ chế... Tham nhũng xám, dùng tiền để mua quyền, thì luật pháp phải có mặt để xét xử. Tham nhũng đen, dùng tiền và dùng quyền để gây tác hại, có hậu nạn cho quốc gia, dân tộc, qua các phương án, kế hoạch, công trình trong công vụ thì phải xử theo hình sự, vì là tội phạm, có khả năng gây ra tội ác.

Âm binh luôn tha hóa quyền lực để tha hóa pháp luật

Khi mà âm binh đã có mạng lưới thành mạng nhện để gài bẫy xã hội, quốc gia, dân tộc, mà nạn nhân luôn là những kẻ "bé cổ, ngắn họng", tức là dân đen, dân oan, là dân chúng không có nhân quyền, vì không có chế độ dân chủ để bảo vệ họ, thì đây là loại âm binh luôn tha hóa quyền lực để tha hóa pháp luật. Ta biết tiền điều khiển người, và tiền điều khiển cả thời gian lẫn không gian xã hội, kẻ chi tiền để hối lộ luôn nghĩ là mình khôn lanh khi tiết kiệm được thời gian, và kẻ tham nhũng khi làm tiền rồi thu tiền luôn khai thác triệt để loại ảo tưởng khôn lanh này để trục lợi. Tại đây, bọn âm binh này làm hao tổn năng lượng và công sức cho xã hội, mà thực tế này không hề được xem xét tới trong con tính của bọn tham nhũng. Trong cách nói nhân gian : "có tiền mua tiên cũng được", thì kẻ chấp nhận loại thực tế này là kẻ không có đạo lý dân tộc, không có luân lý cộng đồng, không có đạo đức xã hội, vì đây là loại ngữ pháp đã bị âm binh hóa rồi.

Tà diện của tham nhũng

Tham nhũng luôn lộ bộ mặt : sành đờisành ăn chơi, sành luậtsành quen biết, sành trò lách luật và trò thoát luật. Tham nhũng có cặp song hành : đạo đức giả đi cùng bạo động, phạm pháp đi cùng lạm quyền, đe dọa đi cùng khủng bố. Tham nhũng có mặt trong nguồn máy lãnh đạo. trong cơ chế của chính quyền ; trong quen biết an ninh (cảnh sát và công an). Tham nhũng đa tà diện : độc quyền quyết định và đa quyền trong quen biết (dùng quan hệ) ; độc trị để cả quyết và lạm quyền trong hành động (dùng hậu duệ) ; độc tôn để điều khiển và phạm pháp để trục lợi (dùng tiền tệ). Tham nhũng luôn tìm có nhiều chức năng để tăng khách hàng đến tìm tham nhũng, chúng vừa là bộ trưởng, vừa là dân biểu ; vừa là đảng ủy, vừa là ủy ban nhân dân... Nhiều chức năng để có nhiều quyền, quen được nhiều bao thầu, để gặp được nhiều đối tượng và đối tác trong quan hệ tham nhũng. Nhiều chức năng để qua được các cửa của nhiều cơ chế, để gặp nhiều khách hàng, để có được nhiều nguồn hối lộ. Tham nhũng luôn tạo ba đồng hành trong bóng tối : đồng hội đi đêm để đồng chí phạm pháp ; đồng hội chia lợi để đồng chí giấu lời, đồng hội che chở nhau để đồng chí giấu tội nhau.

Yêu công lý để chống tham nhũng

Chống tham nhũng phải có luật pháp đúng trong nghiêm minh, để nghiêm túc lúc thi hành luật, chưa đủ ! Xã hội phải có ngữ vựng đúng, ngữ văn đúng để có ngữ pháp đúng ; luật pháp đúng luôn song hành cùng ngôn ngữ đúng ! Đây là đường đi nẻo về của công lý làm ra pháp luật, một tình yêu của các công dân vô vụ lợi dùng luật pháp để chống chống tà quyền và tham nhũng, nếu cần thì làm mới luật theo hướng công bằng-công lý-công pháp. Như vậy xã hội học phải hiểu để thấu bản lĩnh và nội công của hệ công (công bằng-công lý-công pháp) mang sung lực để tạo ra chủ thể công dân vô vụ lợi, để nhận diện ra bất bình đẳng tạo ra bất công trong xã hội. Nếu tự "vỗ ngực" là yêu công lý mà nhắm mắt, khoanh tay, cúi đầu, quỳ gối để "làm ngơ" trước bất công vì sợ bạo lực của tà quyền và tham nhũng, quay lưng-bỏ mặc dân chúng là nạn nhân của bạo quyền thì chắc chắn không phải là kẻ yêu công lý !

Công dân công pháp

Muốn chống tham nhũng với vai trò công dân thì công dân phải tích cực dùng luật pháp, công dân còn là chủ thể dùng sáng tạo làm mới luật pháp ; để trở thành công dân công pháp dùng nhân quyền vì dân chủ mà tạo ra các mặt trận chống tham nhũng. Bằng luật pháp, bằng đạo đức, bằng dân chủ, bằng quyết tâm chống bạo quyền, chống tà quyền, bằng tự do trực diện vừa để hưởng tự do, vừa để tuyên bố tự do của chính mình. Chế tác ra các diễn đàn chống tham nhũng. Tạo không gian công chúng nói thẳng để nói đúng, có cảnh giác, có tố cáo. Tạo không gian quần chúng nói đúng về hậu quả vật chất, kinh tế, tài chính do tham nhũng gây ra. Tạo không gian cộng đồng nói trúng về hậu quả trực tiếp xúc phạm tới đạo đức, đạo lý, luân lý. Vận dụng tối đa các mạng truyền thông lợi ích tập thể trong định nghĩa đúng thế nào là lợi ích tập thể để chống tham nhũng, để chế tác ra chủ thể công dân trực tiếp để chống tham nhũng, để đấu tranh cho độc lập tư pháp để chống tham nhũng. Qua quá trình này, xã hội dân sự phải cho ra đời càng sớm càng hay : những công dân báo động (lanceurs d’alerme) mỗi lần tham nhũng xuất hiện, ló mặt. Tại Bắc Mỹ, trong đó Canada đã cơ chế hóa và pháp lý hóa để bảo vệ các công dân báo động này. Chỉ khi nào có tư pháp thực sự dân chủ mới chống được tham nhũng của tà quyền, trong đó công pháp có công bằng qua công lý tuyệt đối thì phải xử lãnh đạo tham nhũng như xử thường dân phạm tội. Hãy suy nghĩ vì vĩnh hằng của chân lý, vì trường cửu của đạo lý ! Vì tà quyền và tham nhũng luôn phản lại chân lý và đạo lý.

Tàu tặc : kẻ xâm lược

Kẻ xâm lược luôn tìm cách thủ tiêu quá trình tự do hóa của các nạn nhân, khi họ đi tìm con đường nhân cách hóa cuộc đời của họ, đó chính là quá trình tự lập hóa, tự chủ hóa, xác nhận quyền làm người cùng lúc bản sắc văn hóa và văn minh của mình, đây là quá trình rất minh bạch đòi hỏi được đối xử công bằng, tức là ngang hàng nhau, không ai được "đè đầu ai". Đây là chuyện làm kẻ xâm lược "ngày đêm lo lắng", đừng nghĩ rằng nó "ăn trên ngồi trốc" rồi "vinh thân phì gia", mà phải lý luận là nó cũng phải mất thời gian, năng lượng, tâm trí để nghĩ sâu thêm về sự can đảm dẫn tới cái bất khuất của kẻ bị trị ; nhất là Việt tộc đã có thông minh, kinh nghiệm, trí tuệ trong việc diệt ngoại xâm. Kẻ xâm lược rất ngại nạn nhân của nó đi tìm các nguồn bảo kê khác để thay đổi quan hệ giữa người và người, nơi mà công bằng trong quan hệ được công lý bảo đảm qua pháp luật. Kẻ khống chế rất lo lắng nạn nhân của nó phát huy tính thông minh dẫn tới chủ động đi tìm các đối tác mới công bằng hơn với họ hơn trong cái thông minh được xem là văn minh nhất hiện nay là cái thông minh biết tôn trọng lẫn nhau. Kẻ xâm lược suồng sã trong các hệ xâm, khống, bạo, tà... mà cũng là nhà tù trong quá trình vô đạo lý vì vô giáo dục của nó, nên nó rất "bồn chồn", có khi như "mất hồn", trước các đồng minh mới của nạn nhân thông minh, biết khai thác nhân trí của nhân loại, bảo vệ nạn nhân vì tôn trọng nạn nhân trong nhân quyền.

Không ai muốn sống chung với kẻ xâm lược

Kẻ xâm lược không những phải "lo ra" trước các đồng minh mới văn minh hơn nó của nạn nhân, mà nó "càng sống càng lo" trước công pháp quốc tế ngày càng công bằng, không chấp nhận mãi cảnh "cá lớn nuốt cá bé", chỉ vì quy luật man rợ này không phải là pháp luật công minh. Công pháp quốc tế văn minh hiện nay yêu quý dân chủ, trân trọng nhân quyền. Đây chính là lối thoát của Việt Nam hiện nay, trên con đường tìm tới sự thông minh tôn trọng lẫn nhau từ trong ra ngoài không gian của Liên Hiệp Quốc. Kẻ xâm lược biết rất rõ, hiểu rất kỹ là "không ai muốn sống chung với nó" để bị nó "đè đầu, đè cổ", cụ thể là ai cũng muốn "xa Tàu", "tránh Tàu" (mà ông bà ta có khi nói nhanh là như "tránh tà"), còn ta trong lịch sự ngoại giao thì phải nói cho rõ là muốn : "thoát Trung". Kẻ xâm lược thấu rất rành cái khác biệt giữa các đạo lý của mỗi dân tộc, tạo nên không những nhân sinh quan, mà cả thế giới quanvũ trụ quan của mỗi nền văn hóa, của mỗi gốc giáo dục cộng đồng. Đây là câu chuyện rất cụ thể giữa Tàu và Ta, vì hai đạo lý sống của hai dân tộc rất khác nhau, đối với Tàu là "bình thiên hạ" nhưng thực chất là "nuốt thiên hạ" ; còn đạo lý tổ tiên ta là phải"biết người biết ta" để biết "ăn ở có hậu" hiểu được thế nào là"thương người như thể thương thân".

Lòng yêu nước : nỗi lo của kẻ xâm lược

Kẻ xâm lược nghĩ rất sâu về lòng yêu đất nước, tình yêu quê hương của nạn nhân, ngay cả trong tâm tư của các lãnh đạo đã có lần "lầm đường, lạc lối" trong ma đạo mà tạm thời cam tâm "bán nước", nhưng họ có thế trở về với dân tộc họ, đồng bào họ bất cứ lúc nào. Kẻ xâm lược thường "bất an","ăn ngủ thất thường" vì hệ nổi (nổi lên, nổi loạn, nổi dậy) của dân tộc đang là nạn nhân trực tiếp của chúng, hệ nổi luôn kéo theo hệ bật (bật lên, bật mồi, bật lửa) với tinh thần bất khuất không để mất quê hương và không muốn làm nô lệ. Đây là hằng số trong bản sắc Việt yêu độc lập dân tộc như yêu chính nhân phẩm của mình. Kẻ xâm lược thường "ngày đêm lo lắng" về biến chuyển của thế giới trong toàn cầu hóa hiện nay, lấy công bằng làm công pháp, lấy nhân trí làm nhân lý, không để chuyện "có tiền mua tiên cũng được" đè lấp nhân phẩm, nhân tri. Bon tham nhũng sẵn sàng bán nước cứ tưởng cái gì trên đời này cũng có thể mua được bằng tiền, thì chúng sẽ thấy chuyện nhãn tiền là cầm tiền tham ô trên tay rồi mà "vẫn nuốt không trôi", vì công lý của công pháp rất hiện hành !

xahoi13

Khuyết tật của kẻ xâm lược

Kẻ xâm lược luôn tìm "thuốc an thần" trước các làn sóng tôn vinh dân chủ để bảo vệ nhân quyền, luôn dựa trên hệ đa (đa tài, đa năng, đa hiều, đa trí)gốc, rễ, cội, nguồn trong đa nguyên đang đi mạnh tới để kết liễu tính xâm lược mọi rợ của nó, và truy diệt nó ngay trên đất Trung Hoa của nó với dân tộc Hoa có thông minh, vì là con cháu của Mạnh Tử : "biết đục thủng thuyền khi kẻ lãnh đạo cầm lái bạo ngược và độc ác !". Kẻ xâm lược luôn dùng xảo thuật khống chế giấu sự thật về nó : không cho nạn nhân biết hết sự thật về khuyết điểm, khuyết tật của mình, nó tránh nói câu "nhân bất thập toàn", nó tránh tuyệt đối nói "Thưa ông ! Tôi ở bụi này", nó tránh trong tuyệt mật về sự thật "lòng tham không đáy" của nó. Nó lo lắng là nạn nhân của nó đã là kẻ "đi guốc trong bụng của nó", vì cũng khôn lanh như nó. Kẻ xâm lược luôn sống với tâm lý đi tra hỏi trong đối thoại, hạch hỏi trong đàm phán, tra khảo trong đàm đạo với nạn nhân về hệ thuần (thuần phục, thuần hóa, thuần tuân) của nạn nhân, cùng lúc biết rất rõ là nạn nhận không bao giờ muốn rơi vào hệ độc (độc chủ, độc tôn, độc quyền) để chịu làm nô lệ vĩnh viễn.

Hành tác cực trị của kẻ xâm lược

Khi nghiên cứu để phân tích tâm lý kẻ khống chế, cụ thể là về nỗi lo, nỗi sợ của kẻ xâm lược, thì không thể không tìm hiểu về tà dạng của bọn bán nước để thấu rõ tại sao lại có "cặp bài trùng cướp nước-bán nước". Hãy nhập nội vào không gian và thời gian của loại"cặp bài trùng cướp nước-bán nước"này qua hành tác thống trị trong đó kẻ xâm lược có ba loại vốn chính để biến thành chục, thành trăm loại vốn khống chế khác, để ức chế nạn nhân của chúng vốn nổi : kinh tế, tài chính, vật chất ; vốn áp đảo : chính trị, ngoại giao, quân đội ; vốn lan tỏa : văn hóa, xã hội, giáo dục. Đừng quên hành tác kiềm hãm qua áp chế để áp đảo : áp đặt từ trên cao ép xuống, trùm phủ toàn bộ đời sống xã hội, bao lấp mọi quan hệ xã hội. Cũng không quên hành tác bất bình đẳng dùng khống chế để xâm lược : kẻ khống chế từ chối quan hệ ngang hàng để tránh đối thoại trực diện, kẻ khống chế áp chế quan hệ vừa cao, vừa chéo để kiểm tra nạn nhân, kẻ khống chế áp đặt quan hệ qua sức mạnh đơn phương của nó.

Các chỉ bảo để nhận diện bọn bán nước

Chúng sợ Tàu và mở cửa cho Tàu vào đất Việt như chốn không người. Chúng sợ Tàu và luôn tổ chức các đặc quyền, đặc lợi, đặc khu cho Tàu. Chúng theo Tàu và giấu mặt nhưng luôn tạo ra các chính sách nhượng bộ Tàu. Chúng theo Tàu và luôn qua lại với Tàu để ký các hợp tác lấy Tàu làm chủ, cho Tàu đóng vai chính trong kịch bản của thỏa ước.Chúng cần Tàu để được yên và tạo điều kiện cho chúng tự tham quyền qua tham nhũng. Chúng cần Tàu để ủng hộ chúng trong các cuộc thanh trừng nội bộ, để diệt những ai chống chúng và chống Tàu. Chúng tuân lịnh Tàu để "vinh thân phì gia" để được yên thân trong cuộc đời "sâu dân mọt nước" của chúng. Chúng tuân lịnh Tàu để giữ tất cả các ưu đãi, ưu tiên, để chúng được ưu hậu, bỏ chạy theo chủ Tầu, khi Việt tộc nổi lên lật đổ chúng. Chúng đi nước đôi : có tiền của nhờ Tàu và nhờ tham quyền-tham ô-tham nhũng. Chúng chạy nước đôi : chuyển tiền của ra ngoại quốc, rồi đưa gia đình và con cái ra trước nước ngoài, để dễ nhanh "cao bay xa chạy" khi Việt tộc vùng lên lấy lại độc lập cho nhân phẩm của họ.

xahoi14

Đạo lý Việt và bản sắc Việt là nhân phẩm Việt

Đạo lý hay, đẹp, tốt, lành là đúng nhưng phải hiểu tâm địa của Tầu để cái đúng trở thành cái thông minh : ta muốn "dĩ hòa vi quý" nhưng không muốn "dĩ hòa vi nhục" ; ta mong "một điều nhịn chín điều lành" nhưng ta cũng biết "đánh trận đầu cho xác xơ ngạc, đánh trận sau cho tan tác chim muông". Ta hiểu"tránh voi có xấu mặt nào" nhưng ta cũng biết tát vào mặt voi khi nó đe dọa dân tộc ta ; chọc thủng mắt nó khi nó hăm he dòm ngó để xâm lâng đất nước ta ; chặt chân nó khi nó tính chuyện dày xéo quê cha đất tổ của ta. Chúng ta biết "ngoại giao kiểu đu dây", nhưng chúng ta không cho Tàu đu dây trên đầu chúng ta ; còn bọn suốt ngày "cúi đầu đu dây" mà câm họng khi nó chiếm biển đảo của ta, im miệng khi nó lấy đất của ta ngay biên giới phía Bắc, chúng đừng lãnh đạo nữa, vì chúng còn thì còn các mật nghị Thành Đô khác sẽ ra đời. Tàu ngày ngày giết ngư dân ta, mà ĐSCVN lại "ngụy ngôn" là : tầu lạ, kẻ lạ… Thật khốn kiếp cho Việt tộc ! Chúng ta hãy sẵn sàng đạp cho té bất cứ ai đang đu dây trên đầu Việt tộc. Thấy tới nơi để hiểu tới chốn Tàu nạn-Tàu họa-Tàu hoại để biết phải làm gì : mỗi chuyện trên đời đều có cái giá của nó, mà cái vô giá là toàn vẹn lãnh thổ luôn song hành cùng độc lập dân tộc, trong đó nhân Việt nhân tính Việt, nhân phẩm Việt, còn cái giá vô danh giá là cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối : đó là cái giá của điếm nhục hóa.

Lê Hữu Khóa

(03/04/2021)

---------------------

lhk0 Lê Hữu Khóa

Giáo sư Đại học Lille

Giám đốc Anthropol-Asie

Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á

Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCOLiên Hiệp Quốc

Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa Paris

Thành viên hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Đông Nam Á

Hội viên danh dự ban Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới.

Các công trình nghiên cứu việt nam học của giáo sư Lê Hữu Khóa, bạn đọc có thể đọc và tải qua Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-trang thầy Khóa.

Published in Tư liệu
mardi, 23 mars 2021 18:16

Giải luận 2 : Đất nước

Đất nước

datnuoc1

Chính trị thật

Hãy làm rõ một định đềcó độc đảng thì không có chính trị, có độc tài thì không có chính giới, có độc trị thì không có chính trường, có độc tôn thì không có chính kiến. Ta xin dùng định đề này để xác nhận lần nữa là các lãnh đạo hiện nay của Đảng cộng sản Việt Nam không phải là chính trị gia, đây là định đề mà tôi đã viết qua sách và bài, đã phân tích và giải thích trong các giảng đường đại học quốc nội cũng như quốc tế. Trong bài này tôi dùng hệ chính (chính trị, chính giới, chính trường) qua hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức) biết dựa trên hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri) để giải luận thảm kịch của Việt Nam hiện nay, và khi không có ba hệ này, thì Việt tộc chỉ bị cai trị, mà xã hội Việt sẽ không có các chính trị gia Việt để quản trị văn hóa Việt, giáo dục Việt, kinh tế Việt… vì chính trị chi phối không những đời sống xã hội, sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội, mà chính trị quyết định toàn bộ thân phận của một dân tộc, toàn thể số kiếp của một quốc gia.

datnuoc2

Văn minh của dân chủ, văn hiến của nhân quyền

Nếu toàn cầu hóa tạo thuận lợi cho tự do hợp tác, tự do liên minh giúp nhân loại đi dễ dàng vào hướng hòa bình cùng chung sống không chiến tranh. Nhưng một chính quyền mới có ý thức dân chủ, có nhận thức nhân quyền, thì phải luôn tỉnh thức là chiến tranh vẫn còn, và có thể ngày càng nhiều, với những loại mâu thuẫn mới, xung đột mới gây ra những đại nạn mới, những hiểm họa mới. Với các nguồn cơn tới từ xung đột giữa các quốc gia, với gốc rễ tới từ mâu thuẫn giữa những tôn giáo, mà ta còn phải thấy-cho-thấu là chiến tranh sẽ tới với các lực lượng đạo giáo có chủ thuyết quá khích, cực đoan. Chúng gây ra chiến tranh với tên gọi là thánh chiến, nhưng tâm địa của chúng là quân sự xã hội, công an hóa cộng đồng, với ý đồ là hủy diệt những giá trị phổ quát của nhân loại, đó là văn minh của dân chủ và văn hiến của nhân quyền.

Cộng hòa & Dân chủ

Bọn cực đoan, sẵn sàng quá khích bằng bạo lực để xây dựng một loại bạo quyền mới, trong đó không có nam nữ bình quyền, xã hội bình đẳng mà chúng chỉ muốn thực thi một loại tà quyền mới, nơi mà nhân tính bị vét sạch, nhân lý bị nạo rổng, không còn để bảo vệ nhân phẩm. Nhưng làm sao thoát được các hiểm họa chiến tranh tới từ các lực lượng cực đoan có ý đồ xây dựng cực quyền bằng các loại ý thức hệ quá khích ? Câu trả lời vẫn ở trong nội lực làm nên bản lĩnh cùng tầm vóc của Cộng hòa với các định đề phổ quát : tự do, công bằng, bác ái. Và của Dân chủ với các định luận phổ thông : đa nguyên, bình đẳng, nhân quyền.

Quốc sách bảo vệ, quốc sách đào tạo

Quốc sách dài hạn bảo vệ các thế hệ mai hậu có xã hội biết giáo dục dân chúng phải đầu tư cho tuổi trẻ, chính là vốn liếng và sức sống của một dân tộc. Tạo nguyên khí quốc gia bằng cách đào tạo nhân tài như những chủ thể yêu dân tộc, quý giống nòi, thương đất nước, nhưng sẵn sàng đi xa để học rộng, đi nhiều đàng để học nhiều sàng khôn. Quốc sách dài hạn đào tạo nhân tài, bằng cuộc chuyển biến toàn diện não bộ để thay đổi não trạng của loại đi du học để kiếm bằng tìm chức, tránh luôn loại đi tha phương chỉ để vinh thân phì gia, mà biến thành quốc sách học mọi người khôn để đủ khôn rồi mau khôn rồi thực sự trưởng thành thật khôn. Tức là khôn đúng và không khôn lỏi, mà ta đã mắt thấy tai nghe qua kinh nghiệm của không những của Tây Âu rồi Bắc Mỹ, mà không quên Bắc Âu (Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan), và lại càng chú tâm học kỹ hiểu sâu kinh nghiệm của các láng giềng cùng nôi tam giáo đồng nguyên với ta như : Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapour.

Quốc sách toàn quốc, quốc sách quốc tế

Quốc sách dài hạn về hợp tác toàn quốc với tất cả thành phần trong xã hội với chủ thuyết hợp tác dài lâu thông minh hơn cạnh tranh ngắn hạn. Lập ra liên minh toàn giữa những địa phương vì môi trường, dựng lên những liên hiệp với các vùng cao, vùng xa vì môi sinh. Từ đó đưa khoa học môi trường cùng các kỹ thuật vận dụng năng lượng sách, tái tạo được như năng lượng mặt trời thành một mạng lưới hoàn chỉnh, rồi lần lượt trong quyết tâm loại các công nghiệp bẩn, các nguyên nhân ô nhiễm ra khỏi đất nước. Quốc sách dài hạn về hợp tác quốc tế trên bình diện ở mức rộng nhất, thứ nhất là loại ý thức hệ viễn vông, thứ hai là không chỉ thấy thương mại và kinh tế, thứ ba là nhận ra tính đa dạng, đa thể của kẻ xa người gần mà lâu dài là học văn minh của họ để làm giàu cho văn hóa của chính mình, và cụ thể nhất là đưa được những thành quả văn hiến của họ vào nền tảng giáo dục của mình. Luôn lấy hợp tác như chủ sách quốc gia để tìm bạn mới, ngày càng xa về địa dư và luôn có sáng kiến mới về hợp tác với bạn cũ đang gần mình.

datnuoc3

Ý thức xa bằng tri thức rộng

Ý thức xa là tri thức rộng là thấy sóng to gió lớn để thấu vị thế đầu sóng ngọn gió, nhưng vẫn vững tay chèo, thông minh trong thử thách, thông thái trong thăng trầm, đây là kinh nghiệm dày dạn của các quốc gia yêu văn minh dân chủ, quý văn hiến nhân quyền. Giữa nội chiến Nam Bắc của Hoa Kỳ, các chính khách sáng suốt đã gặp nhau và viết lên được Hiến pháp của đất nước này, như khẳng định những giá trị vĩnh hằng của nhân loại vì nhân phẩm. Giữa nội loạn trong đảo điên của đầu thế kỷ XX, các chính khách tỉnh táo của Pháp quốc đã viết được văn bản cho Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, làm nền tảng cho văn minh vì nhân phẩm. Giữa thế chiến thứ hai làm nhân loại điêu đứng, các chính khách của Âu châu đã hợp tác với các chính khách của Hoa Kỳ để lập ra đồ hình vì nhân vị của nhân loại là thành lập LIên Hiệp Quốc ra đời và tồn tại vì hòa bình cho nhân loại.

Nhân quyền biết bảo vệ nhân phẩm

Chúng ta chuyển hóa não trạng, chuyển biến não trạng theo hai hướng của phạm trù đạo, chúng ta đã có ít nhất định hướng để thăng hoa trong nhân kiếp bằng đạo đức hay, đẹp, tốt, lành của tổ tiên Việt đã để lại cho chúng ta từ tiền đồ tới giáo dục, có trong văn minh Việt làm nên văn hiến Việt. Bằng đạo lý cao, sâu, xa, rộng của cả một nhân loại biết yêu đa nguyên, quý dân chủ, trọng nhân quyền, đã có mặt và sẽ giúp chúng ta nếu chúng ta muốn học hỏi về nhân quyền biết bảo vệ nhân phẩm.

datnuoc4

Chủ thể sáng tạo

Trong thế kỷ có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền, thì một chính quyền khi thực hiện được cơm no áo mặc cho dân, chỉ là bước đầu trên con đường đi tìm nhân phẩm. Và con đường này sẽ dài và nếu có các lãnh đạo tinh anh, thì nhân lộ này sẽ vô cùng sáng lạn khi chính quyền thực sự thông minh đi vào hệ sáng (sáng kiến, sáng tác, sáng chế, sáng lập, sáng tạo). Tại đây mỗi công dân được giáo dục và giáo dưỡng như một chủ thể sáng tạo không những có bổn phận với dân tộc, có trách nhiệm với đất nước, và luôn vận dụng hệ sáng để phục vụ đồng bào và đồng loại.

Tính toán trong toan tính của các cường quốc

Phải thấy cho thấu là có rất nhiều tính toán trong toàn cầu hóa hiện nay, giữa các cường quốc, giữa các châu lục đã có văn minh dân chủ, gữa các quốc gia đã có văn hiến nhân quyền, họ đang tính toán gì ? Họ đang toan tính gì ? Tại đây khi nhận các chức năng cùng nhiệm vụ của các tư vấn quốc tế, để nhận ra nơi "quần hùng kiếm hội quốc tế" là nơi quyết định nhiều chuyện về mệnh số của nhiều quốc gia mà trong đó chính các lãnh đạo của các quốc gia này cũng không biết. Cụ thể là có nhiều quyết sách quốc tế từ kinh tế tới thương mại, từ chính trị tới quân sự, từ giáo dục tới văn hóa mà các quần thể chính sách quốc tế trong và ngoài Liên Hiệp Quốc luôn ở thế thựợng phong để áp đặt lên mệnh số cô lẻ của các quốc gia nhỏ bé chỉ biết đóng cửa để thực thi bạo quyền độc đảng toàn trị.

Dự phòng, dự phóng

Biến đổi khí hậu với quá trình tăng nhiệt độ trong bao năm qua sẽ tiếp tục tác động vào sinh hoạt của con người, khi thiên tai truy bức môi trường, truy hiếp con người, từ hạn hán tới bão lụt, từ ô nhiễm không khí tới nhiễm độc nguồn nước… ngày càng bất ngờ hơn, ngày càng dữ dội hơn, tất cả sẽ tác động lên trực tiếp và thấm đậm lên quan hệ giữa chính quyền và nhân dân. Các chính quyền đứng không vững trước các tai họa tới từ các thiên tai là những chính quyền không biết dự phòng, vì không có dự phóng. Cụ thể là các chính quyền này đang nằm trong tay của các lãnh đạo vô minh trước các chỉ báo của khoa học, vô tri trước các báo động của các khám phá mới nhất của khoa học về các dữ kiện về môi trường, về các dữ liệu được cập nhật thường xuyên. Đó là thực trạng hiện nay của chính quyền độc đảng toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam, nơi mà vô tri trị, vô minh trị sẽ làm ra vô học trị, để rồi sẽ dẫn dắt tới : vô hậu trị, nơi mà thảm bại của Đảng cộng sản Việt Nam làm nên thảm họa ngay trên dòng sinh mệnh của Việt tộc.

An imprisoned idea

Não bộ kín cổng cao tường, não trạng bế môn tỏa cảng

Thiên tai vừa bất ngờ hơn, vừa thường xuyên hơn, lại đặt trong bối cảnh của toàn cầu hóa từ khoa học, kỹ thuật tới kinh tế, thương mại, có kẻ thua người thắng, với quy luật mạnh được yếu thua, cho sinh ra quan hệ bạo hành của loại cá lớn nuốt cá bé. Từ đây, phản xạ co cụm vào bản sắc quốc gia với loại não bộ kín cổng cao tường, tạo ra phản ứng của não trạng bế môn tỏa cảng, để rồi sinh ra hành động phản kháng thụ động trong tiêu cực của ngăn sông cấm chợ. Đây chính là chỉ báo của sự thiếu tự tin, sự mất niềm tin, trống sự vận não, vắng sự vắt não, từ đây sẽ sinh ra các hành vi tiêu cực. Từ kỳ thị chủng tộc tới phân biệt đối xử giữa các sắc tộc, rồi sau đó là giữa các thành phần xã hội, và sau cùng là nội loạn xã hội, với phản xạ phòng ngự tạo ra bạo động, với phản xạ đề kháng tạo ra bạo hành. Các chính quyền không biết dự phòng, và không có dự phóng. Cụ thể là không có sự trợ lực của các dự án cho tương lai với các dữ kiện, dữ liệu khách quan của mọi ngành khoa học sẽ lúng túng rồi sa vào ngõ cụt mà tự sụp đổ.

Việt Nam, quê hương gấm vóc

Khi chế độ độc đảng toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam bị bứng đi, thì chính quyền trọng đa nguyên, yêu dân chủ, quý nhân quyền, cùng lúc phải trong môi sinh, cụ thể là có một quốc sách với quyết tâm trọn vẹn lấy lại sự thật và biểu tượng : Việt Nam, quê hương gấm vóc. Một sự thật và một biểu tượng đã bị mất từ khi Đảng cộng sản Việt Nam cầm quyền và đã ô uế hóa môi trường, đồi bại hóa môi sinh, biến đất Việt thành bãi rác của Tàu nạn, với các hiểm nạn của khai thác bốc xít tại Tây Nguyên, nhà máy thép Formosa tại Hà Tĩnh, tới mạng lưới nhiệt điện than trùm phủ lên cả nước, gây hiểm họa môi trường từ không khí tới đất, nước, biển. Lập lại tên gọi Việt Nam, quê hương gấm vóc với các kinh nghiệm thành công về môi trường của nhiều quốc gia, trong đó không những có kinh nghiệm của các quốc gia từ Tây Âu tới Bắc Mỹ, mà nhất là các quốc gia láng giềng ngày tại Á châu trọng đa nguyên, yêu dân chủ, quý nhân quyền, biết bảo vệ môi trường, biết bảo trọng môi sinh. Và ta không quên sự thành công của Costa-Rica, quý tài nguyên, trọng thiên nhiên, yêu môi trường, đã biến môi sinh thành sức mạnh của chính mình không những về du lịch mà cả về quan niệm đạo đức trước mỗi sinh vật, một quan niệm nâng nhân trí và nhân tri.

Đa tri thông minh, đa nguyên thiết thực

Một đa tri thông minh là một đa nguyên được thiết thực hóa ngay trong bối cảnh hiện nay với thực trạng toàn cầu hóa, nơi mà biên giới và lãnh thổ giữa các quốc gia đã được rộng mở. Một đa tri sáng suốt là một đa tri được truyền thông hóa cấp vĩ mô toàn cầu nơi mà tự do thông tin cùng khoa học truyền thông biết trực tiếp chuyển tải tin tức thì mọi khám phá khoa học, mọi ứng dụng kỹ thuật để tiến bộ có mặt trong đời sống hàng ngày vì nhân sinh. Từ thực tế này, các giá trị và nội dung của đa tri phải được vận hành trong bối cảnh toàn cầu hóa với các khám phá hằng ngày của mọi chuyên ngành khoa học, nơi mà mạng xã hội trực tiếp tham dự rồi tham gia vào sinh hoạt đa nguyên.

Đa tri luận

Thực trạng toàn cầu hóa hiện nay, đòi hỏi đa tri luận phải thích ứng với thế giới hóa, tại đây một quốc gia đã có một chính thể đa nguyên và muốn bền trong dân chủ, muốn vững trong nhân quyền thì phải nắm được các quy luật của kinh tế luận toàn cầu. Rời bỏ phản ứng kinh tế trước mắt, sản xuất tức khắc, tiêu thụ tức thì. Buông đi phản xạ kinh tế bản năng, làm ngay ăn chóng, làm đâu ăn đó. Loại ra hành tác kinh tế sống còn, mai làm mai ăn, không nhìn xa trong rộng.

Tự chủ trong chủ quyết

Tự chủ trong chủ quyết, từ quyết tâm tới quyết đoán, vì công lý của công bằng, để tự chủ bảo vệ được cái lý đúng, đúng từ định nghĩa tới diễn đạt, để tự chủ bảo vệ được cái đức tốt, tốt từ định đề tới áp dụng trong giáo dục, để tự chủ bảo vệ được cái luật minh, trong nghĩa công minh trong công pháp. Vĩnh viễn dứt bỏ cái tồi bại của các tòa án âm binh hiện nay của Đảng cộng sản Việt Nam, với các "án bỏ túi", với đám thẩm phán chỉ cúi đầu theo lệnh của bạo quyền độc đảng, có hậu đài là tà quyền thanh nhũng, ma quyền tham tiền. Với các thẩm phán chính là những tội đồ của dân tộc, với các án oan, với biến nạn nhân thành "kẻ giết người", như vụ án Đồng Tâm năm 2020 ; mà trên cả nước thì bạo quyền độc đảng toàn trị đã biến hằng triệu đồng bào chúng từ dân lành một sớm một chiều thành dân oan.

datnuoc6

Sạch

Khi chữ sạch là gốc, rễ, cội, nền cho mọi quốc sách để nhận trở lại quốc hiệu Việt Nam, quê hương gấm vóc, thì phải sạch từ trên xuống dưới, định chế sạch với lãnh đạo sạch, nơi mà tà quyền trong phản xạ quan hệ-hậu duệ-tiền tệ không có chỗ đứng trong một chế độ mới trọng đa nguyên vì trọng đa tài, yêu dân chủ để bảo vệ cộng hòa, quý nhân quyền để giữ nhân phẩm. Trong chế độ mới này, "luật chơi dân chủ-sân chơi nhân quyền-trò chơi đa nguyên" không có ghế ngồi cho sinh hoạt bạo quyền độc đảng toàn trị, chỉ biết thanh trừng giữa các đồng chí bằng các thủ đoạn man rợ. Độc đảng để độc quyền hoàn toàn ngược lại với tiến bộ nhân trí và văn minh nhân tri với tinh thần tôn trọng lẫn nhau để cùng hợp tác, mà tạo sức bật cho dân tộc, tạo dàn phóng cho các thế hệ mai hậu. Sạch trong du lịch để sạch thực phẩm, sạch dịch vụ, sạch nhân cách khi phục vụ khách du lịch quốc nội và quốc tế. Sạch trong não bộ biết "ăn ở có hậu" với đồng loại và nhân loại để có não trạng sống mà "biết người biết ta", không buôn gian bán lận. Sạch trong ăn hiền ở lành với đồng bào cũng như với đồng loại, với thân bằng quyến thuộc cũng như với tha nhân người xa kẻ lạ.

Nhân sinh quan sạch, thế giới quan sạch, vũ trụ quan sạch

Trạng từ sạch không hề là một ngữ vựng suông, mà là một thượng tầng kiến trúc sạch từ định chế tới cơ chế, có "sân chơi", "trò chơi", "luật chơi" rành mạch của tam quyền phân lập, có lập pháp biết giữ sạch, có hành pháp biết làm sạch, có tư pháp biết xử sạch. Cũng là một hạ tầng kiến trúc sạch, từ kinh tế tới lao động, có sinh hoạt xã hội biết tự giữ sạch, có quan hệ xã hội biết tự dọn sạch, có đời sống xã hội biết tự lau sạch. Từ bạo quyền công an trị tới tà quyền tham nhũng trị bị quét sạch, từ ma quyền tham tiền trị tới quỷ quyền ngu dân trị bị xua sạch.

Sạch là thuật ngữ làm nên tổng tri để tạo điều kiện cho xuất hiện một nhân sinh quan sạch có chỗ dựa của nhân phẩm, nơi con người đi nhận ra nhân bản sạch làm nên nhân văn đẹp, nơi nhân lý sạch làm nên nhân tính tốt, nơi nhân tâm sạch làm nên nhân từ cao. Một thế giới quan sạch có chỗ dựa của nhân quyền nơi con người đi nhận ra nhân trí sạch làm nên nhân tri đẹp, nơi nhân nghĩa sạch làm nên nhân đạo lành, nơi nhân lộ sạch làm nên nhân vị cao. Một vũ trụ quan sạch có chỗ dựa của nhân sinh quan biết yêu thiên nhiên, quý môi trường, trọng môi sinh, nơi con người đã nhận ra một thế giới quan sạch tha nhân có đường đi nẻo về trên hành tinh này, nơi đồng bào và đồng loại chỗ đứng, ghế ngồi cùng quyền tự do đi lại trong sự tôn trọng lẫn nhau bằng cách giữ sạch những nơi mình sống và những nơi người khác đang sống.

Câu chuyện có học-có hậu

Hãy phân tích rõ vai trò và chức năng của trí tuệ ; chính là hiện thân của có học-có hậu khi trí tuệ được trợ lực bởi lý trí biết giải thích để nhận ra sự thật ; vì trí tuệ được trợ duyên bởi tuệ giác biết giải luận để nhận ra lẽ phải. Câu chuyện có học-có hậu chính là con đường sống của Việt tộc, đây là chân trời của tất cả thế hệ tương lai. Hậu quả cùng hệ quả qua các hệ lụy của hằng số vô học được toan tính bởi hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc tôn, độc trị) mang khuyết tật của vốn vô học, lấy bất nhân thất đức của ăn tươi nuốt sống mà nuốt trọn cái ăn hiền ở lành biết làm nên cái ăn ở có hậu trong giáo lý Việt. Hậu quả cùng hệ quả qua các hệ lụy của hằng số vô hậu đã và đang ngăn chặn con đường phát triển kinh tế vì một xã hội tiến bộ, biết thăng hoa một dân tộc trong một đời sống văn minh, đã bị hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền) của tập đoàn lãnh đạo độc đảng toàn trị, mà bản chất là một tập đoàn tội phạm đã bứng đi cội đạo lý Việt ăn ở có nhân mười phần không khó ; đã bị bứt đi rễ giáo lý Việt đường mòn nhân nghĩa chẳng mòn.

Biến hệ ngu thành chính sách

Vô minh, có thượng nguồn của hệ ngu (ngu si, ngu đần, ngu dại) ngay trong não trạng của một cá nhân mang vào sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội, đời sống xã hội, tổ chức xã hội bằng hệ hành (hành vi, hành động, hành tác) của mình. Bi nạn của một dân tộc, của một đất nước tới từ những các cá nhân lãnh đạo biến hệ ngu này thành chính sách, tên gọi của nó là : ngu dân, đây là loại hệ lụy của một chế độ chính trị áp đặt lên một giống nòi, một xã hội, lên luôn tất cả các chân trời tương lai của nhiều thế hệ mai hậu. Một cá nhân lãnh đạo vô minh khi tạo ra một đảng cầm quyền vô minh, thì sẽ dựng lên một chế độ độc đảng vô minh, sẽ tạo ra một định chế toàn trị vô minh, sẽ xây lên một hệ thống chuyên chính vô minh. Tất cả hệ lụy này sẽ thủ tiêu không những nhân tri, nhân trí mà nó hủy diệt nhân tính, nhân lý của dân tộc đó, mà không quên thanh trừng luôn nhân bảnnhân văn của dân tộc đó.

Mất trọn nhân tri

Vô tri, vì không hiểu nên không biết một chuyện cơ bản trong nhân sinh là phải học, học mới biết, học đây là học thật, học để hiểu, hiểu để phân tích sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội, đời sống xã hội, tổ chức xã hội. Hiểu để giải thích tới nơi tới chốn từ hiệu quả tới hậu quả, từ hệ lụy tới hệ luận về chính sách, chế độ, định chế, hệ thống… Nơi nào vô tri ngự trị thì nơi đó, xã hội đó, dân tộc đó sẽ mất trọn nhân tri, nhân trí, nhân tính, nhân lý, nhân bản, nhân văn. Khi vô tri được xem là một thực trạng không nắm hiểu biết tới từ một thực tế bất tri vì không có hiểu biết, chính nó sẽ tạo ra thất tri tức là không có sự hiểu biết có căn bản, có căn cơ, có căn cứ. Khi mất nguồn cội căn bản này thì sẽ tiếp tục đánh mất mọi hiểu biết tiếp theo, sau này. Vì quy luật của sự hiểu biết là tiến trình thăng hoa, từ dưới lên trên, từ thấp lên cao, từ dễ tới khó, có hiểu biết căn bản ban đầu sẽ có căn cơ hiểu biết thêm các chuyện khác khó hơn, phức tạp hơn. Như vậy, câu chuyện học để hiểu, là câu chuyện học thật để hiểu thật, học từ gốc, rễ, cội, nguồn để cá nhân được hiểu tới nơi tới chốn về cành, lá, chồi, nhụy, lộc, hoa, trái… Câu chuyện học thật để hiểu thật hoàn toàn ngược lại với chuyện mua bằng bán cấp trong chế độ vô minh với cơ chế vô tri hiện nay với học giả-thi gia-điểm giả-bằng giả, từ lãnh đạo tới cán bộ.

datnuoc7

Vô nhân trong vô quốc

Vô học-vô hậu có thể trở thành vô nhân trong vô quốc, nếu là hậu quả hiện tiền, rồi thành hệ quả của một đất nước bị xâm lược, một dân tộc bị đồng hóa, một giống nòi sẽ bị "bụi đời hóa" ngay trên quê hương của mình thì đây không phải là vô hậu thì còn là gì nữa ? Tại đây, phải vạch mặt chỉ tên một hệ thống giáo dục độc đảng toàn trị chỉ biết tuyên truyền ngu dân để phục vụ chuyên chính vô học, để phục dịch chuyên chính vô hậu. Vạch mặt chỉ tên các tội phạm chính là các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, lập lý lịch vô học để họa chân dung vô hậu rồi chú giảng rành mạch chúng là những tội đồ của giáo lý, là những tội phạm của giáo dục, là những tội nhân của giáo khoa, với giáo trình ngu dân để kéo dài trong truyền kiếp vô học, với giáo án tuyền truyền để dẫn đến ngõ cụt của một nhân kiếp vô hậu.

Chống cực quyền trong lãnh đạo

Khi một hệ thống giáo dục tôn trọng dân chủ, tôn vinh nhân quyền, thì thiếu niên từ trung học phổ thông được học để phân giải mà phân biệt : chống độc tài trong cơ chế chính trị để chống cực quyền trong lãnh đạo ; chống độc tôn trong cơ chế tôn giáo để chống cuồng quyền trong giáo hội ; chống độc quyền trong cơ chế xã hội để chống lạm quyền trong đời sống xã hội, quan hệ xã hội, sinh hoạt xã hội. Giải luận để chống lại hệ độc (độc tài, độc quyền, độc trị) từ độc đảng trong tổ chức chính trị tới độc tôn trong tổ chức tôn giáo bằng lý luận : Khi một độc tài muốn độc quyền, thì chính quyền sẽ trở thành bạo quyền.

Khi một đa nguyên muốn đa quyền, thì nó sẽ tự biết đa hòa, đa bình.

Cơ ngơi của nhân quyền

Chống độc quyền bằng đa quyền, chống bạo quyền bằng đa nguyên được xây dựng ngay trên thượng nguồn bằng tự do ngôn luận song hành cùng tự do thảo luận, đây là cơ bản của dân chủ mà cũng là cơ ngơi của nhân quyền, đã có trong cơ chế của dân chủ hy lạp trước công nguyên, đã được vận dụng từ nhiều thế kỷ tại Âu châu và Bắc Mỹ, Không bị một bạo quyền lãnh đạo nào có thể vu cáo các công dân là những lực lượng thù địch, khi các các công dân này sử dụng quyền tự do ngôn luận của mình. Không bị một tà quyền lãnh đạo nào vu khống là những đối tượng chống phá chính quyền, khi các công dân này sử dụng quyền tự do thảo luận của mình. Đã thực sự là công dân thì không sợ một ma quyền lãnh đạo nào vu oan mình là những cá nhân hay tập thể chống người đang thi hành công vụ, khi các công dân sử dụng quyền tự do trao luận của mình. Không sợ một điếm quyền lãnh đạo nào dùng luật an ninh mạng để vu họa là những cá nhân hay tập thể làm mất an ninh trật tự xã hội, khi các công dân này sử dụng quyền tự do truyền thông của mình.

datnuoc8

Giang sơn gấm vóc

Đồng bào cũng là gốc, cội của mọi câu hỏi mà ta đặt ra cho ta, cho đồng bào, cho đất nước trước vận mệnh chỉ mành treo chuông hiện nay. Khi chúng ta mở cửa ra khỏi nhà mà mọi con dân Việt phải hít thở một bầu không khí bị ô nhiễm nặng nhiệt điện than của Tàu họa. Khi chúng ta đi chợ, làm bếp, ăn uống với thực phẩm bẩn, hóa chất độc của Tàu hoạn. Khi chúng ta thấy quê hương Việt không còn là giang sơn gấm vóc mà là một bãi rác kinh hoàng từ Tây Nguyên tới Vũng Áng, từ núi rừng tới bờ biển của Tàu nạn. Khi chúng ta thức giấc nửa đêm để nhận ra là biển đảo Việt đang bị chiếm giữ bởi Tàu tặc. Chính vận mệnh chỉ mành treo chuông hiện nay trước Tàu tà (Tàu họa, Tàu hoạn, Tàu nạn, Tàu tặc) phải đánh thức tâm thức đồng bào.

Đất mẹ quê cha

Đồng bào, không phải là một vật thể ở ngoài tôi để tôi mổ xẻ phân tích rồi phân loại như mọi vật thể vô tri hoặc hữu tri mà tôi thấy chung quanh tôi. Đồng bào, cũng không phải là một hiện thể ở trong tôi như các nội tạng của thân thể tôi để y khoa có thể soi rọi mà chữa bệnh rồi trị bệnh cho tôi. Đồng bào, là biểu tượng có từ rễ của rễ, gốc của gốc, cội của cội, nguồn của nguồn, để giải thích mọi hiện thể máu, xương, gân, cốt của riêng tôi mà khoa học không chuẩn đoán được nòi của nòi, giống của giống, tông của tông, tích của tích đã có mặt ngay trong thượng nguồn của thựơng nguồn từ khi cha sinh mẹ đẻ ra tôi. Đồng bào, là hai từ mà tôi sẽ không cảm nhận được như một vật thể ở ngoài tôi, mà tôi phải cảm nhận được sự vận hành của nó ngay trong tôi bằng tình cảm yêu nước thương nòi của tôi, để tôi phải cảm nhận được nhịp hành tác của nó ngay trong tôi về ý nghĩa đất mẹ quê cha của tôi. Đồng bào chính là sự tận dụng tối đa dường như tuyệt đối của nội lực đồng thai, sung lực đồng mẹ, hùng lực đồng cha, mãnh lực đồng tộc để Việt tộc luôn tồn tại mà không tồn vong !

Chủ động giữ nước, chủ quyết giữ nòi

Đồng bào, chỉ hai chữ nhưng vừa sâu, vừa cao trong mỗi chúng ta không để cuộc đời này bị các bọn buôn dân bán nước xé tan nát đất nước ta, làm tan tác giống nòi ta. Chủ động giữ nước, chủ quyết giữ nòi, làm nên chủ thể có tâm thức trong một nhân dạng tỉnh thức, để nắm chính vận mạng của mình ngay trong hiện tại, để luôn sáng suốt mà chuẩn bị cho mọi thử thách trong tương lai : đây là tâm nguyện của phạm trù đồng bào tạo nên tâm thức giúp các con dân Việt gần nhau hơn chỉ cần biết một giá trị : đồng bào. Chữ hai chữ đồng bào mà mọi người Việt được trang bị đầy đủ và mạnh mẽ một liên minh với hùng lực vô song : tâm tưởng-tâm trí-tâm khảm-tâm thức-tâm nguyện.

Đất nước như nền mẹ, nền cha

Đất nước, như nền mẹ, nền cha làm nên nền đất, nền nước, nền rừng, nền biển của Việt tộc, nơi mà giống nòi Việt làm nên dân tộc Việt đứng vững, đứng bền trên đó để nhận ra sự thật của hoàn cảnh đất nước, họan cảnh dân tộc, thảm cảnh giống nòi hiện nay trước họa ngoại xâm tới từ Tàu tặc. Hãy đứng chắc, đứng mạnh trên đất nước này để nhận diện ra các dị diện nội xâm : quỷ quyền độc tài trong phản dân hại nước, tà quyền độc trị trong buôn dân bán nước, ma quyền độc tôn trong buôn tông bán tổ. Hãy đứng cao, đứng rộng để nhận ra các quái dạng của chúng ; chúng là ma trơi sống nhố nhăng trong biệt phủ, biệt dinh của chúng ; chúng là ma xó sống với túi đầy tiền của đồng bào, với thẻ xanh, quốc tịch ngoại, chuẩn bị luồn chạy khi đất nước vang bước ngoại xâm ; chúng là ma bùn sống chui, sáng làm công an, trưa đánh bạc lận, tối tụ họp với côn đồ, với lưu manh, với du đảng, với xã hội đen chờ khuya khoắt để tự họp rồi toan tính như âm binh trong bóng tối.

Môi trường bị đốn, nhân đạo bị chặt

Hãy có ý thức được bằng kiến thức : không có môi trường thiên nhiên nuôi nấng con người thì làm gì có văn hóa. Với nhận thức bằng tri thức là không có môi sinh thiên nhiên nuôi dưỡng con người thì không có một văn hóa nào có thể tồn tại được. Cặp đối nghịch thủa nào văn hóa-thiên nhiên, nơi mà văn hóa có lãnh thổ riêng, thiên nhiên có lãnh thổ riêng, lãnh thổ với biên giới rành mạch, giờ đã thành cặp đôi song hành, đồng hội đồng thuyền : văn hóa bảo vệ thiên nhiên, để thiên nhiên tiếp tục nuôi con người có văn hóa ! Mọi định nghĩa về văn hóa mà môi trường bị xóa, môi sinh bị khử, đều là những định nghĩa mang những khuyết điểm về kiến thức, tạo ra khuyết tật về tri thức, nơi mà nhân đạo cần có môi trường và nhân phm cần có môi sinh. Khi ta đứng trước và thấy các cánh rừng từ Sa Pa tới Nha Trang bị đốn, bị nạo, thì ta thấy bị tổn thương từ nhân lý tới nhân tính. Không có nhân lý sinh tồn nào của con người mà không có môi trường, không có nhân tính nào tồn tại với con người không có môi sinh. Tàn phá rừng để mưa kéo bùn về vùi lấp con người, nhà cửa, sông ngòi… Chính nhân lý với nhân tính tạo ra nhân tđối với thiên nhiên, như là sự thông minh biết bảo vệ môi trường như bảo vệ sự sống của chính mình.

datnuoc9

Khu thải bùn đỏ tại nhà máy sản xuất alumina Tân Rai. (Ảnh : boxit.vinacomin.vn)   

Đất nước này đã bị tổn thương ?

Khi ta đứng trên các vùng có khai thác quặng mỏ trên Tây Nguyên - như hàng loạt các quả bom hóa chất trộn với bùn ô nhiễm sẵn sàng lăn xuống các bình nguyên bên dưới, thì ta thấy bị tổn thương từ nhân tri tới nhân trí. Tại sao bạo quyền lãnh đạo vô tri đã để Tàu ha tàn phá môi trường tới mức tàn mạt hóa chính nhân cách của họ, tại sao tà quyền tham nhũng lại để Tàu hon tàn phá môi sinh tới độ đốn mạt hóa chính nhân diện của chúng. Khi ta đứng trên nhìn xuống khu khai thác thép của Formosa- một vùng biệt cấm Việt tộc đi lại ngay trên đất Việt- đã một sớm một chiều giết gọn, hủy sạch môi sinh của một không gian rộng của biển Việt tại miền Trung. Ta thấy bị tổn thương từ nhân bn tới nhân vcủa cả một dân tộc, với độc đảng toàn trị đã mở cửa cho công nghiệp độc vào xóa trắng sức sống của môi sinh, nơi có hằng triệu đồng bào đang sinh sống nhờ môi trường biển.

Đát nước này với các làng ung thư

Phải giải thích được thảm trạng đã trở thành thảm họa cho Việt tộc : các thành phố bị ngập lụt sau mỗi trận mưa tới từ các quy hoạch vô tri, vô minh, vô giác, hoàn toàn vắng bóng kiến thức làm nên tri thức, ý thức dựng nên nhận thức là : không được hủy sông ngòi, không được diệt các dòng chảy, và khi nước không thoát được thì nước sẽ hại, sẽ giết người. Các nhà máy thủy điện sau các trận xả lũ đã giết dân và súc vật, thì chúng cũng để lại trong thiên nhiên, trong đồng ruộng, trong canh tác một bãi tha ma của ô nhiễm, với các tổn hại đi cùng với các tổn phí khi con người muốn để tái tạo lại môi trường ban đầu. Các nhà máy nhiệt điện ngày ngày để khói và tro bay trong không khí đã tồn đọng lại trong buồng phổi, trong nội tạng của con dân Việt. Hậu nạn là sự xuất hiện của các làng ung thư, các thống kê hằng năm về số người bị ung thư tại Việt Nam tăng cao kinh hoàng. Nguyên nhân chính là biến thiên nhiên thành tro, biến môi trường thành khói, để rồi tất cả thành chất độc, làm ra cht chết hủy diệt hằng ngày Việt tộc. Nhân cách con người khai thác thiên nhiên chính là cách sng và chết con người trên trái đất này : có hu hay không có hu ! Mà có hu thì sng, không có hu thì phi là chết ! Và chết trong đớn hèn và tủi nhục, vì đã sống không xứng đáng với chính môi trường đã nuôi nấng mình.

datnuoc10

Môi trường - môi sinh : tính liên kết

Ta gặp ít nhất 3 loại lịch sử về môi trường rất khác nhau : lịch sử hình thành trái đất có đơn vị tính toán hằng trăm triệu năm, lịch sử con người trên trái đất có đơn vị tính toán triệu năm, lịch sử của công nghệ hóa tác động trên môi trường có đơn vị tính toán trăm năm. Khi các chuyên gia khoa học khác nhau khảo xác về môi sinh, họ sẽ gặp ít nhất 3 loại địa lý môi sinh khác nhau : địa lý môi sinh không có con người, ở dạng nguyên thủy, địa lý môi sinh có mặt con người ; sống chung với thiên nhiên, địa lý môi sinh có con người là yếu tố quyết định sự sống còn của môi sinh. Khi các công trình khoa học khác nhau đi sâu vào điều tra về môi trường và môi sinh, thì các công trình này gặp ít nhất 3 loại nhận định làm nên định đề nghiên cứu môi trường và môi sinh. Trái đất là một thực thể sống, trong môi trường có môi sinh, trong môi sinh có đa sinh vật cùng chung sống trên không gian chung là trái đất. Thực thể sống này đa đạng chung sống trong một tổ chức phức tạp, tính đa dạng này làm nên sự phong phú của môi trường, sự phong phú này tạo ra sức mạnh tự sinh sôi nảy nở của các sinh vật sống cùng một không gian kín là trái đất. Trái đất là một hệ thống liên kết,từ sinh vật này tới sinh vật kia đều có sự liên kết dựa trên tính hỗ tương, bổ sung cho nhau để sống còn. Chính sự liên kết này làm nên liên minh giữa các sinh vật để sống chung, tạo một hệ thống liên kết sống dựa vào nhau. Trái đất là một tổng thế, vừa là thực thể sống, vừa là hệ thống liên kết trong đó con người là một phần tử trong một tổng hợp phức tạp, đa dạng, phong phú.

Quyền-tiền dễ truy hủy môi trường

Phần tử con người đã đi những chặn đường từ cá thể tùy thuộc vào thiên nhiên tới chủ thể chế ngự, quản lý, khai thác, tiêu huỷ các môi trường và môi sinh trong thiên nhiên. Chính chủ thể này, vừa sử dụng vừa khám phá môi trường ; vừa tận dụng vừa có ý thức qua quá trình khai thác rồi tiêu hủy thiên nhiên, để từ đó có nhận thức là số phận của con người hoàn toàn tùy thuộc vào số kiếp của thiên nhiên, trong đó môi trường và môi sinh phải được bảo vệ bởi chính con người đang sống trên đó. Trên chủ đề môi trường và môi sinh trước thảm trạng ô nhiễm là sự thất bại toàn bộ của Đảng cộng sản Việt Nam khi nó độc quyền lãnh đạo đất nước qua bạo quyền, qua tà quyền tham quan, qua ma quyền tham nhũng vì tham tiền. Chính Đảng cộng sản Việt Nam đã gây ra bao hậu quả, bao hệ lụy khi để tình trạng hiện nay đất nước là môi trường mà môi sinh bị hủy diệt từ vi mô tới vĩ mô. Một đất nước bị bẩn bởi công nghiệp bẩn từ luyện kim tới khai thác tài nguyên, từ thủy điện tới nhiệt điện… mà thảm nạn là ung thư hóa không những môi trường và môi sinh mà cả con người, trong đó các thế hệ tương lai phải trả những giá vô cùng đắt về bi nạn của quy luật lấy quyền-tiền để truy hủy môi trường, truy diệt môi sinh. Một quốc sách sáng suốt về môi trường, tỉnh táo về môi sinh, để từ đó chế tác ra sức thông minh trong lãnh đạo, biết cứu không những thiên nhiên và tài nguyên, mà cả con người cùng đạo lý làm người là quý môi trường, trọng môi sinh.

Ăn tàn diệt tận, cả môi trường lẫn môi sinh

Đã có trong giáo lý của tổ tiên Việt : đối với môi trường thì phải biết uống nước nhớ nguồn, đối với môi sinh thì không được ăn tươi nuốt sống, và đối với cả hai (môi trường và môi sinh) thì phải biết bảo vệ nguồn cội như bảo vệ chính sinh mạng của mình : cây có cội, nước có nguồn. Đối với môi trường thì phải biết ăn cây nào rào cây nấy, đối với môi sinh thì không được ăn tàn diệt tận, và đối với cả hai (môi trường và môi sinh) thì phải ăn ở có hậu, nếu muốn ăn đời ở kiếp trên quê hương, trên đất nước của mình. Sự vắng mặt tuyệt đối và toàn diện của một quốc sách sáng suốt về môi trường, tỉnh táo về môi sinh để từ đó chế tác ra sức thông minh trong lãnh đạo (mà ta có thể so sánh với sự thành công hiện nay của Costa Rica) đã nói lên sự thảm bại bi đát của Đảng cộng sản Việt Nam : không có kiến thức tri thức sâu rộng nên không có ý thức nhận thức sâu xa về môi trường và môi sinh, không có đạo lý đạo đức hay đẹp nên không có giáo lý giáo dục tốt lành về môi trường và môi sinh. không có kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức lại không có đạo lý, đạo đức, giáo lý, giáo dục, nên không có hệ thông (thông minh, thông thái, thông thạo) để có hệ sáng (sáng kiến, sáng lập, sáng tạo) cho các quốc sách về môi trường và môi sinh.

Môi trường : một món hàng

Môi trường tại Việt Nam đã trở thành một món hàng làm ra tiền, ra rất nhiều tiền, để làm giàu một cách nhanh nhất và bất chính nhất của các quan chức trong chế độ độc đảng toàn trị này. Hỏa hoạn tại nhà sản xuất bóng đèn Rạng Đông, với ô nhiễm do lượng thủy ngân lan tràn trong không khí, và khi gặp mưa thì đọng tụ lại trên đất, thấm qua lòng nước, mà mọi thực vật đang sống trong chu vi của nhà máy này đều là nạn nhân. Cách xử lý có trách nhiệm của Xã là khuyên dân nên bảo phòng ô nhiễm, đã bị bọn có chức quyền cấp Quận và thành phố Hà Nội khiển trách là : báo động sai lầm gây hoang mang. Trong khi đó thanh tra của Bộ Môi trường đã có kết luận là ô nhiễm thủy ngân có mặt và đang gây tác hại lên môi trường. Như vậy, trước các tai nạn môi trường thì thái độ vô trách nhiệm vì vô tri hay vì vô cảm của các cấp lãnh đạo Quận và Thành phố đã là phản xạ của loài âm binh sống trong bóng tối của tà quyền tham quyền và ma quyền tham tiền, mà bất chấp số phận của người dân và môi trường ngay tại khu xẩy ra hỏa hoạn với ô nhiễm thủy ngân. Mọi cuộc đấu tranh vì môi trường để minh bạch hóa sự có mặt của ô nhiễm có thể đe dọa tới mạng sống của con người, sự sống còn của môi sinh, sự trong sạch của môi trường đều phải bắt đầu ngay trên thượng ngun của thượng tng kiến trúc chính trị, nơi mà thượng cp lãnh đạo không hề quyết định và chỉ đạo với ưu tiên đôi : con người và môi trường, mà chỉ là thượng tôn độc đảng để độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn…

datnuoc11

Vô giác với môi trường, vô cảm với môi sinh

Sự cẩn trọng trước lòng tham hin ti của con người khi nó muốn khai thác triệt để thiên nhiên, nạo vét tài nguyên, truy hủy môi trường, xóa diệt môi sinh. Hãy định nghĩa để định luận về lòng tham hin ti, từ ăn tươinuốt sng bằng nghiến rng, nuốt đất với thái độ ăn cháo đá bát khi tài nguyên của thiên nhiên bị cạn kiệt, với hành vi bây chết mc bây với những hậu quả của ô nhiễm. Tương lai của nhân loi không hề là sự nối dài tự nhiên một cách máy móc từ hiện tại tới tương lai, từ hôm nay tới ngày mai. Tương lai của nhân sinh là chân trời trong đó có kết quả của lương tri hoặc hậu quả của vô tri, với những hiệu quả của nhân bản hoặc với hệ lụy của vô minh. Vì vô giác với môi trường, vô cảm với môi sinh, khai thác bừa bãi, vô tội vạ, vơ vét tài nguyên cho tới khi của môi trường gục ngã, môi sinh đuối quỵ, thì chân trời sẽ xám tối rồi đen nghịt để đưa con người vào thẳng cõi chết ! Chết trong vô tri, vô minh, vô giác, vô cảm là một cái chết xu, ti, tc, d, tới từ cái tội thâm, độc, ác, him với môi trường và môi sinh. Ssng làm nên sc sng nhờ môi trường sạch với môi sinh lành kết tụ ra nhân tính với ít nhất ba kết luận : Trái đất trong tương lai (rất gần) là dsng hay khó sng. Cụ thể là sống được hay không sống được, mà câu trả lời là thái độ của nhân loại đối xử ra sao với môi trường sống của mình.

Từ vô tri thức tới vô trách nhiệm

Nếu trong thế kỷ qua nhân lý giúp nhân loi đã lột mặt nạ bạo hành của thực dân, bạo động của đế quốc trên môi trường, thì chính quyền và lãnh đạo chính trị hiện nay phải quyết đoán trong quyết sách bảo vệ đất-nước. Tiền đồ của tổ tiên, tương lai của các thế hệ mai sau không ngừng ở con người, mà phải mở rộng, mở sâu, mở cao ra quan niệm về Vit tc không những là dân tc Vit mà còn là môi trường Vit luôn song hành, song đôi, song lứa, đồng hội đồng thuyền, cùng đồng bào Vit. Hãy phân tích và giải thích môi trường và môi sinh bằng những hthng ca quan h : quan hệ giữa con người và thiên nhiên, quan hệ giữa các sinh vật có mặt trên trái đất, quan hệ giữa con người và sinh vật cùng nhau tác động trên môi trường. Đây vừa là môi trường tri thức của nhân sinh, mà còn phải là môi trường về nhận thức qua giáo dục. Trước thảm cảnh môi trường bị tàn phá, môi sinh bị hủy diệt từ vô tri thức tới vô trách nhiệm của chính quyền do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, thì ngược lại tại các quốc gia có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền, họ đã đưa vào giáo dục, giáo khoa, giáo trình những hthng ca quan hgiữa con người và sinh thái. Bi kịch của độc đảng, qua độc tài nhưng bất tài, độc trmà không biết quản trị môi trường là đây. Sau gần nửa thế kỷ lấy độc quyn để tự độc tôn đã biến quê hương gấm vóc thành một bãi rác độc hại, ngày ngày ung thư hóa môi trường.

Vẫn sống được ? Khó sống được ? Không thể sống được ?

Trên các phân tích và giải thích về các hậu quả mà môi trường phải gánh chịu với sự khai thác, tiêu xài, phá hoại của con người : ô nhiễm môi trường chỉ là một phần tử của tổng thể về biến đổi môi trường trong đó có biến đổi khí hậu, với nhiệt độ tăng lên, từ đây nếu nóng thêm vài độ hay nóng thêm hằng chục độ thì trái đất sẽ ra sao ? Từ đây, con người phải trả lời là tăng bao nhiêu độ thì vẫn sống được ? Khó sống được ? không thể sống được ? Đây là câu hỏi về sự sống đang bị đe dọa bởi nhiệt độ tăng. Khủng hoảng môi trường, cũng là một ngữ pháp cần sự nghiêm túc trong lý luận, vì theo định nghĩa thì khủng hoảng là hậu quả xấu làm nên một chu trình tiêu cực, và khi các hậu quả xấu qua đi thì tình trạng ban đầu sẽ trở lại như lúc đầu. Như vậy phạm trù khủng hoảng môi trường đã sai ngay khi ta dùng nó, vì nhân loại đã vào một quy trình mới sau khi làm thiệt hại môi trường, và con người sẽ không còn có điều kiện để tái tạo lại môi trường khi nó chưa bị thiệt hại, chưa bị tàn hủy. Thay đổi kỹ thuật khai thác,cũng là một loại ngữ pháp mang nhiều nhược điểm, vì thay đổi kỹ thuật khai thác hoặc canh tác, tức là chỉ thay đổi cách vận dụng, sử dụng, tận dụng thiên nhiên, mà không hề làm thay đổi những gì đã mất trong môi trường, trong môi sinh, trong thiên nhiên. Như vậy, những sinh vật bị diệt chủng sẽ là những mất mát vĩnh viễn, không sao lấy lại được.

datnuoc12

Môi sinh đang quỵ gục

Vận dụng nhân tri để bảo vệ môi trường, dùng nhân trí để bảo quản thiên nhiên, thì nhân học môi sinh đã có một quá trình nhận thức về lịch sử khai thác tài nguyên thiên nhiên của con người với bao hậu quả và hệ lụy, trong đó có hai quy trình song song của nhân sinh từ hơn hai thế kỷ qua : Khi tiền tệ không những được sử dụng như công cụ trung gian trong các dịch vụ trao đổi trong kinh tế, thương mại, mà tiền tệ con là vốn gốc để định giá các sản phẩm, và nó đã được khai thác để trở thành vốn trung tâm để mua bán các tài nguyên có trong thiên nhiên. Khi công nghiệp mang hiệu năng của sự tiến bộ tới từ khoa học kỹ thuật, thì con người đã hiểu sai về môi trường và môi sinh là sự tiến bộ này sẽ không bao giờ ngừng, như khoa học kỹ thuật sẽ không bao giờ ngưng thăng tiến, cùng các tài nguyên được xem như là vô tận, không giới hạn. Hiện nay hai sai lầm này của con người đang bắt nhân loại phải trả những giá rất đắt, từ cạn kiệt tài nguyên tới ô nhiễm môi trường, đã gián tiếp hay trực tiếp nói lên sự thông minh rất giới hạn của con người trong lịch sử là : tài nguyên trong thiên nhiên là hữu hạn, mà không hề vô hạn. Môi trường khi bị khai thác triệt để, thì môi sinh bị hủy diệt. Cả hai nhận định trên đều mang lại một hậu quả chung là chính sinh mạng của con người đang bị đe dọa bởi môi trường ô nhiễm, và môi sinh đang quỵ gục.

Cùng một dòng sinh mệnh

Khi nguồn nước lẫn không khí, khi động vật và thực vật bị truy diệt ngay trong môi sinh của chúng bởi con người ; và phạm trù lý luận dit chng môi sinh (écocide) đã dần dần thành hiện thực, tại đây con người phải xem lại thật kỹ hai lãnh vực : chính trị kiến thức làm nên chính sách khoa học kỹ thuật phải biết tôn trọng hơn nữa môi sinh. Chính sách khoa học kỹ thuật làm nên hành động khai thác thiên nhiên để sử dụng tài nguyên phải biết bảo vệ hơn nữa môi trường. Từ đó sinh ra hai quan niệm mới trong nhân học môi sinh, và hai quan niệm mới này làm nên định đề là thiên nhiên và con người, môi sinh và nhân sinh có cùng mt dòng sinh mnh, chỉ một dòng, và không thể tách rời thành hai dòng được, với một thực tế mới : hin tại đôi của thiên nhiên và con người, đồng hội đồng thuyn, từ sinh sống tới sinh tồn, trong một không gian chung là trái đất ; tương lai đôi của môi sinh và nhân sinh, đồng cam cng kh, từ sống còn tới sống sót, cũng chỉ trong một không gian chung là trái đất. Hãy thận trọng hơn nữa về hai ngữ pháp : đồng hội đồng thuyền, đồng cam cng khgiữa các châu lục, có châu lục giàu từ tài nguyên tới khoa học, có châu lục khai thác môi trường của các quốc gia láng giềng, cùng lúc để lại các hậu quả kinh hoàng, các hệ lụy khủng khiếp cho các quốc gia láng giềng.

Bất công về sinh mệnh và số phận trước các hiểm họa về môi trường

Trung Quốc đã đối xử vô cùng bất nhân đối với Việt Nam khi khai thác các tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam, cùng lúc gây ô nhiễm môi trường một cách tồi tệ trên môi sinh Việt. Từ khai thác bauxite trên Tây Nguyên tới các nhà máy luyện thép, từ các nhà máy nhiệt điện ngay trên đất Việt với các công trình thủy điện ngay trên thượng nguồn sông Mê Kông trên lãnh thổ của Trung Quốc, hiện đang đe dọa sự sống còn của đồng bằng sông Cửu Long. Khi người ta nói bằng ngữ pháp đẹp : cùng mt dòng sinh mnh, với ngữ văn hay : đồng hội đồng thuyn, thì chính các chuyên gia về nhân học môi sinh thấy và thấu rất rõ là cùng mt dòng sinh mnh, nhưng khi gặp hóa chất độc, có kẻ chết trước, có người chết sau. Đồng hội đồng thuyn, nhưng kẻ giàu được ngồi hạng danh dự với bảo hiểm vững, có kẻ ngồi dưới thấp lòng thuyền không một bảo hiểm trong tay khi thuyền gặp giông bão. Cái bất bình đẳng về môi trường luôn song hành cùng cái bất bình đẳng trong sức mạnh kinh tế, tài chính, khoa học, kỹ thuật ; nên ngay khi có cùng mt dòng sinh mnh, mà vẫn có nhiều số phận khác nhau về tuổi thọ cũng như về bảo hiểm. Và khi đồng hội đồng thuyn, có kẻ giữ lái thuyền với chỗ thượng hạng, có người phải khoanh tay, mà giao số mệnh cho kẻ lái thuyền. Hãy đặt tên cho hai sự thật này : bất bình đẳng về kinh tế, tài chính, khoa học, kỹ thuật tạo ra bt công về sinh mệnh và số phận trước các hiểm họa về môi trường và môi sinh.

Từ dễ sống tới khó sống

Trong lịch sử của mình, con người không chỉ định cư trên trái đất, mà định cư bằng sinh hoạt khai thác thiên nhiên, tận dụng môi trường, rồi tư hữu hóa tài nguyên, đến chiếm đoạt môi sinh mà cách sử dụng chỉ theo ý thích, ý muốn, ý đồ của con người, mà không theo một quy luật phân chia hay chung chia với bất cứ sinh vật nào. Trên thực tế của môi trường hiện nay, con người khám phá ra là chính con người đã biến trái đất tự một môi trường dsinh sng thành một môi trường ngày càng khó sinh sng, với ô nhiễm từ không khí trên cao tới các nguồn nước sâu dưới đất. Từ dsng tới khó sng bởi chính các sinh hoạt của con người tự gây ra ô nhiễm, với tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, đây chính là sự thất bại vừa bất ngờ, vừa kinh hoàng của con người đã tự chặn con đường sống của mình. Để thấy cho thấu sự thất bại này, và tỉnh táo trong sáng suốt để đi tìm một lối ra, một lối thoát, để thoát chết bởi chính các tai họa do mình tạo ra ! Sự thật về chuyện ngày càng khó sống ta thấy rõ từng ngày, từng giờ : biến đổi khí hậu, với nhiệt độ tăng cùng các thảm họa hỏa hoạn. Biến đổi khí hậu, với nhiệt độ tăng cùng với lũ lụt, sạt lở… Biến đổi khí hậu, với nhiệt độ tăng cùng biến đổi môi sinh.

Không hề có sự tôn trọng hệ sinh thái nguyên thủy

Khi con người trở thành yếu tố có mãnh lực quyết định sự sống còn của thiên nhiên, tài nguyên, môi trường, thì cũng cùng lúc con người đưa các hóa chất mới cùng các sáng tạo sinh học mới vào đời sống con người, rồi tác động thẳng lên đời sống của các sinh vật khác không phải là con người, nhưng cùng chung chia với con người một môi sinh, đó là sự xuất hiện của : thuc trsinh trực tiếp thay đổi các kháng thể, tác động từ canh nông qua chăn nuôi, tự động vật tới thực vật… Hóa cht chng ry để bảo vệ canh tác, cùng lúc diệt nhiều sinh vật khác, biến truy diệt hệ đa sinh thái trong môi trường. OGM, dùng khoa học để đổi giống, biến chất các sinh vật, và các sinh vật mới lai giống này tạo ra các hậu quả mới cho các sinh vật đã sống từ lâu trong môi trường ban đầu. Chưa hết, cũng chính con người trên con đường từ sử dụng tới tận dụng thiên nhiên, từ vận dụng tới tư dụng môi sinh, đã đi ngày càng sâu vào tư-dng-vì-tư-li của riêng nó, khi con người biến rừng thành đất canh tác với sự tham gia của các công nghệ nặng. Rồi biến đất canh tác đa dạng biết tôn trọng hệ đa sinh thái thiên nhiên tới kinh tế. Có quốc gia vừa giàu có lại vừa tham lam, khai thác của thiên nhiên thành đất chỉ canh tác một loại hoa màu, mà chọn lựa hoa màu chỉ dựa vào lợi nhuận của kẻ đầu tư, không hề có sự tôn trọng hệ sinh thái nguyên thủy.

datnuoc13

Chiến trường xưa nay không còn bóng giặc

Từng đoàn xe xem rừng núi như nhà...

Tội ác trên môi trường, tội ác trên đồng loại

Lịch sử con người từ khi con người biết đi thật xa để tìm tài nguyên trong thiên nhiên tới khi xuất hiện chế độ thực dân có biệt tài là : khai phá, khai quật, khaithác các tài nguyên trong thiên nhiên cho đến khi cạn kiệt, bất chấp ô nhiễm, giúp chúng ta nhận ra một định đề là : những chế độ, những chính quyền, những lực lượng sinh hoạt và sinh sống qua qua trình truy cùng dit tn môi trường và môi sinh là những tội phạm làm một lúc hai tội ác : tội ác trên môi trường và môi sinh, với ô nhiễm từ khí tầng tới địa tầng ; tội ác trên đa số nhân loại đã mất môi trường và môi sinh để sinh sống. Loi ti ác đôi này, ngày ngày ta thấy rất rõ trên môi trường Việt, với bạo quyền độc đảng, tà quyền tham quan, ma quyền tham đất, dùng bạo luật với bạo hành của loài trm, cắp,cướp, git từ đất đai tới tài nguyên, và bất chấp môi sinh đang quỵ gục, môi trường đang hấp hối. Khi con người trở thành yếu tố có mãnh lực quyết định sự sống còn của thiên nhiên, tài nguyên, môi trường, môi sinh mà tên gọi khoa học của nó là anthropocène, thì ta cũng đừng quy chụp bừa bãi và chung chung là lỗi của con người ! Không đâu, đây là lỗi của các hthng, các chế độ chỉ biết khai thác môi trường để trục lợi, chỉ vì tư lợi của chúng ; và đa số con người trong nhân loại không phải là tác giả mà thường là nạn nhân của các hệ thống, các chế độ chỉ biếtbòn rút rồi vơ vét tài nguyên, chỉ biết mạo dạng lập thủy điện để lấy gỗ rừng, mặc cho lũ quét giết hại từ thiên nhiên tới đồng bào …

Tỉnh thức để tìm ra cách sống mới

Khi ta nêu tên chế độ và các hệ thống tham nhũng của nó, thì ta phải biết đào sâu hơn nữa trên phân tích để giải thích là từ thực dân tới cộng sản, chỉ cùng một ý đồ đã thành ý thc hlà kẻ cầm quyền lực là những kẻ trc li hóa thiên nhiên, vli hóa môi trường, tư lợi hóa môi sinh. Với ý thức thượng nguồn về các tai họa truy diệt môi trường, để có nhận thức hạ nguồn về chính dòng sinh mệnh của nhân loại còn hay mất môi trường. Từ đây, nhân loại phải vận dụng tối đa hệ thc : kiến thc tạo tri thc, ý thc sinh nhn thc, để phải tnh thc mà tìm ra một cách sng mi, tức là một cách quan hmi (trong, sạch, lành, mạnh) với môi trường và môi sinh : cách sng mi trong quan hmi với khả năng áp dụng và ứng dụng hệ thức trên không gian rộng nhất của nhân loại, qua thời gian dài nhất của nhân sinh, trong đó mọi cộng đồng, mọi sinh vật được hưởng đầy đủ hệ thc này để cùng nhau sinh tồn trên cùng một trái đất.

Sự vắng bóng các chính sách về môi trường

Cuối tháng Tám của năm 2019, Hà Nội vừa bị xếp hạng là thành phố hiện nay đang bị ô nhiễm nhất thế giới ; trước tin này người Việt sững sờ khám phá là thủ đô của Việt Nam đang ô nhiễm hơn cả những thành phố của Trung Quốc bị xếp hạng trên hàng đầu những thành phố ô nhiễm nhất bao năm qua. Người Việt vừa có thêm một kinh ngạc mới : không khí trùm phủ trên không gian Việt mang cái độc hại của ung thư cấp vĩ mô, từ cấp vùng đã dần lên cấp quốc gia, với một chính quyền độc tài nhưng hoàn toàn bất tài trong quản lý môi trường. Sự vắng bóng các chính sách về môi trường chắc chắn tới từ sự vắng mặt các tri thức về môi trường trong giới lãnh đạo hiện nay, nơi mà độc đảng lãnh đạo vẫn giữ độc quyền sử dụng, khai thác môi trường như khai thác các tài nguyên vô tri, các không gian vô giác, với sự vắng biệt các kiến thức căn bản về hệ sinh thái trên đất nước Việt. Muốn quản lý hệ sinh thái thì không chỉ cần các kiến thức về môi trường hc, mà còn cả các tri thức về nhân hc nữa ! Nếu nhân học nghiên cứu, phân tích, giải thích về sinh hoạt của con người trên môi trường, thì chính con người tác động trực tiếp và làm thay đổi môi trường bằng các sinh hoạt của con người. Tri thức đôi (môi trường học và nhân học) hiển nhiên hiện diện trong lập luận các chính sách về môi trường trong các quốc gia trọng môi sinh, quý nhân quyền, bằng sự sáng suốt của dân chủ.

Quan hệ giữa các sinh vật

Ngay trong ngữ pháp : quản lý môi trường, các chuyên gia cũng rất thận trọng, vì động tự quản lý, quản trị, là ngữ pháp đặt con người lên trên thiên nhiên, nên một liên minh thông minh giữa môi trường học và nhân học là đưa ra ngay trên thượng nguồn các định đề sáng suốt, mang đầy đủ nội lực của nhân tri : Con người muốn bảo vệ môi trường một cách thông minh thì con người phải biết sng chung với môi sinh trong thiên nhiên, nơi đây cụm từ sng chung với các sinh vật khác, từ động vật tới thực vật, mà con người không hề có một quyền sở hữu gì cả trên số phận các sinh vật này. Ngược lại phải tôn trọng từ tchtới tdo, từ ttn tới tsinh của mọi sinh vật trong môi sinh. Con người sẽ biết thích ng nếu biết sng chung của mọi sinh vật, cụm từ thích ứng của nhân sinh vào môi sinh, giúp con người nhận ra ít nhất ba loại quan hệ có trong môi sinh : quan hệ giữa con người và thiên nhiên, quan hệ giữa con người và các sinh vật trong thiên nhiên, quan hệ giữa các sinh vật, từ động vật tới thực vật có trong thiên nhiên. Con người sẽ biết chia scùng các sinh vật vì biết thích ng để sng chung với các sinh vật này, thì chính con người không thể tiếp tục xem thiên nhiên là kho dự trữ lương thực, và các sinh vật này sống trong thiên nhiên này khi gặp con người là bị giết để bị nuốt, bị nhai, bị ăn… mà chính con người phải tìm ra các quan hệ sng chung-thích ng-chia svới các sinh vật này không còn là mồi mà là các đối tác cùng nhau vừa bảo quản, vừa trông nom môi trường.

Môi trường của nhiều tổ chức xã hội

Khi liên minh giữa môi trường học và nhân học hình thành, thì câu chuyện môi trường vẫn chưa được giải quyết, trong ba cụm từ sng chung-thích ng-chia s, thì động từ làm nên động tác thích ng mang nhiều ẩn số, trong đó có hai ẩn số cần được mổ xẻ đúng. Tthích ng vi bn chất môi trường bằng chính nội lực, bản lĩnh, năng khiếu làm nên hiu quthích ng của mình qua từng sinh vật, tại đây thích ứng của một con ó với mọi môi trường từ trời cao tới vực thẳm hoàn toàn khác với một con rùa không có khả năng để bay, không có năng khiếu vượt vực thẳm như ó. Tthích ng vi mật độ trên môi trường, mà mật độ của các khu vực đông dân hơn 1000 người trong thành thị, không phải là mật độ 1 người trong rừng, nơi mà con người dễ gặp các sinh vật khác hơn là người gặp người. Từ hai nhận định trên, môi trường học đề nghị hai phạm trù lý luận : môi trường trao tng, tại đây môi trường là không gian trao tặng các nguồn thực phẩm, tài nguyên để các sinh vật sự dụng mà tồn tại, với điều kiện là các sinh vật nhận phải tham gia trọn vẹn để bảo vệ sự tồn tại vững cũng như sự tái sản suất bền của môi trường qua không gian và thời gian. Môi trường ca nhiu tchc xã hi của nhiều sinh vật khác nhau, tại đây tổ chức xã hội của con người, của động vật, của thực vật rất khác nhau về sinh hoạt, đời sống, quan hệ giữa các thành viên sống cùng một xã hội. chính cụm từ tchc xã hi trong môi trường là một chỉ báo khách quan để thấu hiểu các hậu quả của từng xã hội sinh vật lên môi trường.

datnuoc14

Môi trường què quặt của độc đảng và tham nhũng

Hai phạm trù phân tích này : môi trường trao tng môi trường ca nhiu tchc xã hi, cho ta thấy chính con người đã tạo ra các hậu quả trầm trọng trên không gian của môi trường với các hệ lụy qua thời gian trên môi sinh. Hãy trở lại với câu chuyện Hà Nội bị xếp hạng là thành phố hiện nay đang bị ô nhiễm nhất thế giới, để lấy ra ít nhất hai kết luận. Thứ nhất, môi trường trao tng không còn đủ lực để trao tặng, mà ngược lại nó mang những độc chất vừa tiêu diệt môi trường, vừa truy hủy mọi môi sinh từ con người tới thiên nhiên, từ động vật tới thực vật. Thứ nhì, môi trường ca nhiu tchc xã hi, nhưng trong tình hình của Việt Nam hiện nay nó đã trở thành một môi trường ca mt tchc xã hi có đầu sỏ là hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn), với đầu nậu là hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền). Tương lai Việt sẽ xám tối như thiên nhiên Việt hiện nay, khi môi trường không thể tự sinh, môi sinh không thể tự tồn, khi độc đảng giữ độc quyn độc tin.

Môi trường án treo, môi sinh tù treo

Phạm trù lý luận : môi trường án treo, môi sinh tù treo, tới tự nhận định các tai họa từ ô nhiễm tới hủy hoại môi trường, các họa nạn từ truy diệt tới xóa sổ các sinh vật có trong môi sinh. Từ đây, dẫn tới kết luận là con người không thể tái tạo lại môi trường nguyên thủy ban đầu của thiên nhiên, mà con người chỉ có tái tạo thiên nhiên theo hiểu biết giới hạn của con người. Thiên nhiên được con người tái tạo, không còn là thiên nhiên ban đầu, và nó sẽ không bao giờ trở lại nội dung, ý nghĩa, giá trị ban sơ của nó. Tư duy về một thiên nhiên bất di bất dịch, vừa vĩnh hằng vừa phổ quát, thực sự đã không còn, bao năm qua đã không đúng nữa. Hình ảnh thiên nhiên thủa nào là môi sinh của muôn loài, nơi mà các sinh vật sinh sôi nảy nở trong độc lập và tự chủ với các sinh hoạt con người, giờ đây đã hoàn toàn sai. Hãy tìm đến một định đề mới là không có một sinh vật nào hiện nay hoàn toàn độc lập và tự chủ trong môi sinh dưới sự khai thác thiên nhiên của con người trong bao thế kỷ qua. Hãy nhận ra một định luận mới là sinh hoạt khai phá rồi khai thác thiên nhiên một cách triệt để trong phong cách sinh sống và lao động của con người đã biến con người trở thành một chủ lực cột trụ trung tâm, ngày ngày làm thay đổi nội chấtcủa môi trường, như ta đã thấy qua thay đổi khí hậu tạo ra biến hóa rồi biến chất môi trường.

Vai trò chủ lực của con người

Nghịch lý càng sâu khi con người trở thành một chủ lực cột trụ trung tâm, ngày ngày thay đổi môi trường, bằng sinh hoạt của nó và chính các sinh hoạt này làm thay đổi khí hậu tới môi sinh, thì con người phải nhận định lại thế nào là một hệ sinh thái mới với vai trò chủ lực của con người. Từ đây, ra đời một nhận định mới, vừa cho môi trường học, vừa cho nhân học với các khám phá và ứng dụng của các ngành sinh học, sinh hóa các sinh vật mới đã, xuất hiện, từ thực vật tới động vật, nửa thuần giống, nửa nhân tạo. Sự xuất hiện các sinh vật mới, từ thực vật tới động vật, vừa lai giống, vừa lai chất, tạo ra các nhu cầu mới trong một quan hệ mới với môi trường. Như vậy lãnh thổ xuất hiện của các sinh vật mới không còn thuần giống mà lai giống đã và đang làm thay đổi môi trường. Mọi sự thay đổi về lãnh thổ hàm chứa một sự thay đổi mới trên biên giới giữa các sinh vật nguyên thủy được xem là nguyên chất, và các sinh vật không thuần chất vì đã lai giống. Đây là thay đổi lớn và sâu, vì con người không thể tiếp tục tư duy và lý luận : thiên nhiên giản dị vì thuần nhất trong một môi sinh thuần chất trong giản đơn. Thay đổi lớn và sâu tạo ra thay đổi rộng và xa trong mọi định nghĩa, định đề, định luận không chỉ cho nhân học mà cho tất cả các chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn.

Từ sinh sống tới sinh hoạt, từ sống còn tới sống sót

Câu chuyện về thay đổi từ lãnh thổ tới ranh giới giữa các sinh vật được xem là nguyên chất có trong nguyên thủy, và các sinh vật không thuần chất vì đã lai giống, cũng có giá trị cho các phân tích vĩ mô. Sự có mặt thường xuyên các sinh hoạt của con người sống nhờ rừng và tái tạo lại rừng với quan niệm của nhân sinh không nguyên sinh, không nguyên thủy. Nhưng cùng thời điểm này, chúng ta phải nhận thức thật sắc nhọn một loại hiểm họa khác.Trong mùa hạ cuối tháng 8 năm 2019, thảm nạn cháy nhà máy sản xuất bóng đèn Rạng Đông, tại Hà Nội với sức ô nhiễm độc hại của thủy ngân với số lượng cao. Thảm họa của một nhà máy bốc cháy ngay khu dân cư đã tạo ra ô nhiễm rộng lớn ngay trong môi trường của thủ đô, ô nhiễm độc hại không những không khí mà cả mọi sinh vật từ động vật tới thực vật, từ nguồn nước tới con người. Nơi mà hóa chất của thủy ngân đe dọa từ sức khỏe tới tính mạng mọi sinh vật, nơi mà môi trường một sớm một chiều trở thành độc hại với con người đang tiêu thụ cây trái đã bị thủy ngân nhiễm độc. Khi con người đã trở thành một chủ lực trung tâm ngày ngày làm thay đổi môi trường, thì chính con người phải trả lời cho rõ là con người mun tiếp tc hay không mun tiếp tc xem môi trường là đối tác có tầm quan trọng tuyệt đối từ sinh sống tới sinh hoạt, từ sống còn tới sống sót của con người trên trái đất này hay không ?

15datnuoc15

Đây là hình ảnh trong căn phòng ở một ngôi Chùa . Như chúng ta thấy căn phòng được thiết kế toàn bằng nguyên liệu gỗ quý, bao gồm cả chiếc bàn gỗ cổ thụ hàng trăm năm tuổi. 

Sống nhờ thiên nhiên nên tôn kính môi sinh, tôn trọng môi trường

Con người phải "chịu khó" mà trở lại các quan niệm của các cộng đồng sắc tộc nguyên thủy đã sống nhờ, sống dựa vào thiên nhiên và đã từ lâu xem mọi sinh vật, từ động vật tới thực vật, ngang hàng với con người, như con người. Xem mọi sinh vật ngang hàng với con người, như con người không hề là một bước lùi của nhân sinh, mà chính là sự thông minh của nhân tri luôn là chỗ dựa cho nhân loại. Ta thường xuyên gặp hai kinh nghiệm tri thức, như hai loại chủ thuyết luôn đối chọi, kình chống, xung đột nhau trong thế kỷ qua : chthuyết con người chủ đạo, khai phá rồi khống chế thiên nhiên, chủ động rồi chủ yếu trong vai trò khai thác thiên nhiên, chế ngự để quản lý môi trường, con người tự cho mình vị thế trên cao để điều chế môi sinh. Và chthuyết con người không chyếu, mà vai trò chủ yếu thuộc về thiên nhiên trong đó con người chỉ là một phận tử của hệ đa sinh thái và các sinh vật không con người, dù lớn dù nhỏ, đều có giá trị sống và quyền sống như nhau. Hai chủ thuyết này vẫn tồn tại trong thế kỷ này, một bên là con người được quyền tiếp tục khai thác thiên nhiên, một bên khuyên răn con người nên trở lại thái độ minh triết của các cộng đồng nguyên thủy là sống nhờ thiên nhiên nhưng tôn kính môi sinh, tôn trọng môi trường, không khai thác thiên nhiên đến kiệt quệ, quỵ gục.

Chung để chia và chia để chung

Tài nguyên trong thiên nhiên không vô hạn, và khi con người khai thác tài nguyên trong thiên nhiên, thì chính con người gây ít nhất hai hậu quả : ô nhiễm môi trường và truy diệt môi sinh, đây chính là nhược điểm chính của chthuyết con người chủ đạo. Thiên nhiên ban đầu thủa nguyên thủy không thể tái tạo lại được nữa, và nếu có thể tái tạo được, thì sinh hoạt để sinh sống của con người cũng sẽ tiếp tục làm cho môi trường thiên nhiên nguyên thủy này thay đổi, biến dạng, đây chính là các nhược điểm chính của chthuyết con người không chyếu. Sẽ không có một môi trường thiên nhiên nguyên thủy, cũng như sẽ không có một môi trường thiên nhiên không bóng người sống nhờ thiên nhiên. Trong lịch sử của thiên nhiên, cũng như trong lịch sử của con người, luôn có cùng một mu schung là con người sống trong môi trường thiên nhiên, và môi trường thiên nhiên thay đổi, biến hóa cùng con người, cả hai tạo ra một tổng thể chung để chia chia để chung.

Cái đẹp, cái hay, cái sạch

Trong môi trường thiên nhiên, có hai loại sinh vật : con người và các sinh vật không phải con người ; và con người khi vận dụng kiến thc tri thc của nó để đưa khoa học kỹ thuật vào thiên nhiên, thì chính con người phải có ý thc bảo vệ môi trường, phải có nhn thc bảo trì môi sinh. Khi con người có đầy đủ hệ thc (kiến thc, tri thc, ý thc, nhn thc) làm nên nhân tố quyết định sự sống còn và sống sót của môi trường thiên nhiên, thì chính con người phải có trách nhim bảo vệ môi trường, có bn phn bảo trì môi sinh. Hệ thc (kiến thc, tri thc, ý thc, nhn thc) này không đơn độc, cô lẻ, mà luôn có ít nhất ba chỗ dựa của nhân đạo : đạo lý bảo vệ cái đẹp của thiên nhiên ; đạo đức bảo quản cái hay của môi sinh ; luân lý bảo trì cái sch của môi trường. Cả ba : cái đẹp, cái hay, cái sch không phải là những danh từ suông, không phải là những tính từ buông, mà chính là tiêu chuẩn làm nên mô thức của con người để có đối xử đẹp thiên nhiên, có ng xhay với môi sinh, có hành xsch với môi trường để được sống còn, sống sót cùng lực bảo vệ được nhân phẩm của chính mình.

Trách nhiệm bảo vệ môi trường, bổn phận bảo trì môi sinh

Trong thảm trạng của môi trường Việt hiện nay ngày ngày và dần dần đưa Việt tộc vào một thảm họa môi trường, vào một thảm nạn môi sinh, công dân Việt phải là chủ thể Việt có trách nhiệm bảo vệ môi trường, có bổn phận bảo trì môi sinh, yêu cầu bạo quyền độc đảng hiện nay phải tôn trọng đạo lý bảo vệ cái đẹp của thiên nhiên ; tà quyền tham quan hiện nay phải tôn trọng đạo đức bảo quản cái hay của môi sinh ; ma quyền tham đất, tham tài nguyên phải tôn trọng luân lý bảo trì cái sch của môi trường. Nhân sinh luôn mang theo hai loại vấn đề đặc thù do chính con người tạo ra, mỗi vấn đề có nội dung riêng của nó, có giá trị riêng của nó, có hoàn cảnh riêng của nó, có khó khăn riêng của nó, đó là nhân sinh trong nhân lý và nhân sinh trong môi sinh.

datnuoc16

Rừng già Việt Nam bị tàn phá để các công ty kinh doanh hàng gỗ khai thác, buôn bán và phô trương về sự quý hiếm. Ảnh minh họa thớt gỗ dùng làm bàn họp

Nhân sinh trong môi sinh

Nhân sinh trong nhân lý mang ít nhất ba nội dung, cả ba nội dung này như ba hằng số trong nhân lý, tức là có mặt trong nhân tính, nhân tri, nhân vị của con người : quan niệm sở hữu, nơi mà quyền sở hữu không những có trong phản xạ của con người mà nó còn được hiến pháp, luật pháp bảo vệ như một quyền trung tâm trong nhân sinh. Quan niệm tư lợi, ở đây đòi hỏi quyền lợi của cá nhân, tập thể, cộng đồng, quốc gia luôn dẫn tới phạm trù tư lợi, chính định chế và cơ chế từ nhân quyền tới dân chủ, đều chấp nhận và công nhận cặp đôi quyền lợi-tư lợi này. Quan niệm cá nhân, tại đây cá nhân được quyền có cả hai : sở hữu tư lợi, cả hai đóng vai trò chủ động về sự ra đời của chủ nghĩa cá nhân, vừa làm nền tảng, vừa là động cơ của các định chế và cơ chế từ nhân quyền tới dân chủ. Nhân sinh trong môi sinh cũng có ít nhất ba vấn đề, ít nhiều được xem vừa là các hằng số, vừa là các ẩn số, chính đây là nghịch lý của nhân sinh, mà cho tới nay con người vẫn chưa tìm được câu trả lời thỏa đáng, chưa có cách giải quyết toàn lý. Con người khai thác tài nguyên rồi biến năng lượng để sử dụng, các tài nguyên thành năng lượng từ : củi, than cho tới các khoáng chất, mỏ quặng, dầu hỏa… các năng lượng này ngày càng cạn dần, mà chính con người hiện nay vẫn chưa chế tạo được năng lượng nhân tạo để sử dụng, mà không cậy nhờ vào môi trường thiên nhiên. Năng lượng mặt trời cũng như năng lượng gió hoàn toàn không đáp ứng được sức tiêu thụ hiện nay của con người.

Cấp số tăng con người, cấp số giảm thiên nhiên

Con người luôn tăng về dân số, mà đơn vị hiện nay là nhiều tỷ và cấp tăng số này sẽ không hề giảm về mức độ cũng như về mật độ, với không gian của môi trường luôn bị lấn át, truy ép. Cấp số tăng của con người là cộng và nhân, song hành cùng cấp số giảm của môi trường thiên nhiên là trừ và chia, với diện tích của thiên nhiên ngày càng bị thu hẹp và không gian nhân sinh ngày càng căng, càng rộng. Con người luôn tăng về tuổi thọ, tác động trực tiếp lên hiện cảnh đất chật người đông, và chỉ có con người tăng về tuổi thọ, và không có một sinh vật nào được có tuổi thọ dài để có mặt lâu và bền trên trái đất này. Bối cảnh đôi là người đang sống vẫn đông, và thế hệ mới sẽ xuất hiện cũng sẽ đông, sẽ nhiều, mà thực tế của dân số học (nhân khẩu học) của nhân sinh không hề tách biệt với hệ môi trường, và tại đây nhân sinh chính là sức ép trực tiếp, không ngừng nghỉ trên môi trường. Đã không còn đất trống, rừng hoang như chốn không người nữa, tức là không còn một nơi trú ẩn nào trên quả địa cầu này mà các sinh vật có thể tới đó để lẩn tránh sức ép của con người, vì con người đã thu gọn không gian của trái đất trong tầm kiểm soát bằng khoa học và kỹ thuật của nó. Đã không còn sự tăng trưởng bình yên, sự phát triển tự nhiên của các sinh vật, từ động vật tới thực vật, mà ngược lại có rất nhiều động vật và thực vật đã và đang bị diệt chủng, bị con người truy sát, hoặc bị tiêu diệt bởi biến đổi khí hậu với môi sinh luôn bị truy nã như chúng.

Nhân luật vì quyền sống của thiên nhiên

Đã không còn các sắc tộc sống tách biệt, các quốc gia sống biệt lập, các châu lục tách xa nhau, mà ngược lại với toàn cầu hóa hiện nay của giao thông, truyền thông, truyền tin… cùng sự khai thác tràn lan từ tài nguyên tới thiên nhiên trong bối cảnh của một thế giới tiêu thụ không ngừng nghỉ môi trường, thì nhân sinh đang đi từ gặm nhấm tới nuốt trọng môi sinh. Ta phải đi sâu, xa, rộng, cao lên với các khám phá mới của sinh học giúp con người có nhận thức mới là ranh giới giữa động vật và thực vật ngày càng bị thu ngắn lại, bị xóa mờ đi để con người nhận ra một không gian lớn hơn của các sinh vật. Những nhận thức mới về các sinh vật, có động vật và thực vật như là những sinh vật có cảm nhận, có cảm quan và có ý thức cùng nhận thức có thể dẫn tới cảm xúc. Chính con người phải thay đổi tư duy của chính mình, tức là thay đổi nhân sinh quan, thế giới quan, vũ trụ quan về các sinh vật. Các quốc gia văn minh, yêu dân chủ, trọng nhân quyền đã đi nhiều bước bằng những luật pháp bảo vệ môi trường bằng các nhận thức đã nêu ở trên, đây là cái thiếu trong luật pháp hiện nay của Việt Nam, bởi bạo quyền độc đảng vô cảm ? Bởi tà quyền tham quan vô tri ? Bởi ma quyền tham tiền vô giác ? Trước mắt, thì mọi công dân Việt với nhân cách của chủ thể bảo vệ môi trường Việt, bảo trì môi sinh Việt, bảo quản thiên nhiên Việt phải đòi hỏi sự ra đời của một bộ luật thật sự văn minh về môi trường, và đừng ngần ngại đặt tên cho nó là nhân luật vì quyền sống của thiên nhiên.

datnuoc17

datnuoc17bis

Rừng Trường Sơn Đông Tây (Lào và Campuchia) gần như còn nguyên vẹn, trong khi rừng Trường Sơn Đông đang trở thành trơ trụi. Ảnh minh họa Bản đồ vệ tinh khu vực 2.400 km2 tại tỉnh Kon Tum. Nguồn : Google Earth ; Đường biên giới chỉ để tham khảo.

PowerPoint-Präsentation

Phóng to khu vực 6 km2 rừng bị phá trụi chỉ còn ruộng đất đỏ. Nguồn : Google Earth , Đường biên giới chỉ để tham khảo. 

Vong quốc trong môi trường, vong thân trong môi sinh, vong hồn trong đất nước

Không cần rời thành phố, người dân cũng thấy và hiểu môi trường chung quanh mình đang bị tàn phá một cách thảm hại. Ngập lụt thường xuyên các đường phố trong các đô thị sau mỗi trận mưa to, mà lý do phá rừng là chủ yếu, cây rừng không còn để ngăn chặn hữu hiệu các trận

mưa. Ngập lụt thường xuyên các đường phố trong các đô thị mỗi trận mưa to, mà lý do ngăn hủy các dòng chảy của sông ngòi, dễ dàng làm ngập lụt cả thành phố. Khi rời thành phố, người dân đã thấy và nhận ra là môi trường chung quanh mình đang bị hủy diệt một cách tàn khốc. Những cánh rừng bị trọc đầu, trần thân, với sự khai thác vô tội vạ của con người, nơi mà kẻ có tiền đã mua chuộc bằng tham nhũng, để bóc trần tận xương tủy những cánh rừng nguyên sinh. Những bìa rừng với bộ áo xanh tươi bên ngoài, nhưng khi người ta vào sâu một chút trong rừng, thì cảnh trần trụi là sự rỗng nát của môi trường, tàn lụi của môi sinh, đã bị nạo vét một cách vô lương tri nhất. Khi trở lại thành phố, người dân cũng thấy được và thấu ra là môi trường chung quanh mình đang bị truy diệt một cách tồi tệ. Những biệt thự, biệt phủ của các tham quan, sống giầu sang như loại ký sinh trùng được béo bổ hóa qua tham ô, tham nhũng. Bọn sâu dân mọt nước này tự cho phép chúng trộm, cắp, cướp, giật các loại gỗ quý hiếm để xây biệt thự, biệt phủ của chúng.

Bọn sâu dân mọt nước để diệt rừng cướp gỗ

Những biệt thự, biệt phủ của các bọn tham quan sâu dân mọt nước này đã tạo ra diệt rừng cướp gỗ theo nghĩa bất nhân nhất trong nhân tính. Chúng ăn mọt ngay trên môi trường để có các loại gỗ quý hiếm để xây biệt thự, biệt phủ của chúng. Khi người thành phố nghe và thấy các cây quý hiếm khi chưa bị đốn đã được khắc tên các tham quan trên thân gỗ, người dân mới hiểu ra là ngay trong chuyện trộm, cắp, cướp, giật giữa đám tham quan, chúng có phản xạ ký sinh trùng loài ruồi nhặng lúc tranh, giành, sang, đoạt từng cây gỗ quý ngay trong rừng. Bọn tham quan sâu dân mọt nước này đã sâu rừng mọt gỗ theo nghĩa bỉ ổi nhất đối với môi trường qua hành động gặm, nhai, nuốt, nghiến từng sinh vật của môi trường thiên nhiên. Với lòng tham không đáy, chúng diệt môi trường ngay trên thượng nguồn của môi sinh. Chúng sẵn sàng thanh trừng, thủ tiêu, tàn sát nhau như người dân đã thấy chúng thanh toán nhau tại Yên Bái. Trong phản xạ ăn tàn phá tận của loài tham quan mục súc vô luân luôn có phản ứng phản rừng hại biển, nên chúng chỉ cần đi thêm một bước nữa là chúng sẽ phản dân hại nước, đi thêm hai bước nữa thì chúng sẽ buôn dân bán nước. Loài tham quan này hoàn toàn vô cảm trước Tàu tặc đã và đang cướp biển, đảo, đất của ta !

Loài tham quan tư hữu hóa những cái chết !

Vô giác trước cảnh Tàu họa, kiểu Formosa, đã hủy diệt cả một môi trường rộng lớn tại miền Trung của non nước Việt ! Chúng vô tri với Tàu hoạn đưa thực phẩm bẩn, hóa chất độc vừa giết con dân Việt, vừa diệt môi sinh Việt ! Chúng vô minh trước Tàu nạn với các nhà máy nhiệt điện theo mô thức của Tàu phỉ phế thải tro bay bừa bãi trên nhiều vùng của đất nước Việt ! Chúng vô luân nhắm mắt- cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối trước mô hình âm binh của Tàu tà là truy diệt từ con người tới môi trường, để hủy bại Việt tộc. Khi bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền kết cấu lại với nhau để thành loài âm binh ăn tàn môi trường, phá mạt môi sinh, thì chính chúng đã đốn mạt hóa nhân tính, nhân lý của chính chúng, vì nhân tri, nhân trí đã vắng bóng trong nhân phẩm của chúng. Mạt vận hóa nhân nghĩa, nhân từ của chính chúng, vì nhân văn, nhân bản đã biệt tăm trong nhân đạo của chúng. Nên loài tham quan này đừng mong có nhân vị trong nhân gian, nhân thế ! Chỉ vì nhân cách của loài tham quan truy cùng diệt tận môi trường và môi sinh là nhân cách chỉ biết sống với các sinh vật chết vì đã bị chúng giết, để chúng trưng bày ngay trong biệt phủ, biệt thự của chúng. Vì chúng chỉ thấy đẹp với các động vật và thực vật đã bị chúng giết chết, chúng sống để tư hữu hóa những cái chết !

Vong quốc ngay trong môi trường của Tổ tiên Việt

Nhân dạng của loài tham quan sâu rừng mọt gỗ đã ăn tận phá mạt trong phản xạ phản rừng hại biển chỉ biết tôn vinh cái chết do bị giết tới từ cái ác làm ra cái tội trời không dung đất không tha, qua tội ác hủy môi trường, tội phạm diệt môi sinh ! Chúng là bọn tội đồ với đất-và-nước của đồng-bào-Việt, vì chúng đã ăn rừng, cạp cây, giết thú trong thiên nhiên, nên chúng sẽ không có mồ xanh cỏ đẹp khi chúng xuống huyệt, chúng chỉ có mồ khô cỏ héo mà thôi ! Nhân diện của loài tham quan trộm, cắp, cướp, giật các loại gỗ quý hiếm để xây biệt thự, biệt phủ của chúng, với khuôn mặt có miệng lưỡi của âm binh chỉ biết gặm, nhai, nuốt, nghiến từng sinh vật trong môi trường thiên nhiên. Chúng có hàm răng của xấu, tồi, tục, dở của loại ăn tươi nuốt sống ! Chúng có mắt tham, mũi nhũng của thâm, độc, ác, hiểm của loài ăn cháo đá bát, nên chúng đã vong quốc ngay trong môi trường của tổ tiên Việt, chúng đã vong thân ngay trong môi sinh của dân tộc, nên chúng vong hồn ngay trong đất nước Việt.

Lê Hữu Khóa

(23/03/2021)

---------------------

lhk0 Lê Hữu Khóa

Giáo sư Đại học Lille

Giám đốc Anthropol-Asie

Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á

Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCOLiên Hiệp Quốc

Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa Paris

Thành viên hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Đông Nam Á

Hội viên danh dự ban Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới.

Các công trình nghiên cứu việt nam học của giáo sư Lê Hữu Khóa, bạn đọc có thể đọc và tải qua Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-trang thầy Khóa.

Published in Tư liệu
vendredi, 12 mars 2021 19:52

Giải luận 1 : Dân tộc

Dân tộc

giailuan01

Đồng điệu để đồng hành

Đồng bào, không chỉ là biểu tượng của huyền sử Việt, đã thành hằng sử Việt, mà là một quá trình linh diệu tự sinh con tới nuôi con, để con biết yêu nước thương nòi, để con biết công cha nghĩa mẹ. Đó là câu chuyện "Lên non mới biết non cao. Nuôi con mới biết công lao mẫu từ", trường khúc nuôi con của trường ca mẫu từ, đây chính là chuyện luân lý của gia phong làm nên giáo dục gia đình, vì đây là một giá trị tâm linh, với chiều cao đạo lý của nó. Hãy bắt đầu bằng chữ cao, cao như non, cao như tầm vóc của người mẹ không những chỉ là mẹ của các con, mà còn là một chủ thể của sự hy sinh, đại diện cho nhân loại có trăm con, nhưng luôn biết dấn thân để cáng đáng từng đứa con. Mẹ là nhân phẩm được tạo ra bởi nhân từ, mẹ là nhân nghĩa được tạo ra bởi nhân tâm. Chính giá trị tâm linh này là chỗ dựa cho luân lý trong giáo dục gia đình, có giáo khoa đồng bào cho xã hội, lập nên giáo trình đồng tộc cho cả một văn hóa, luôn có chỗ dựa là giáo án đồng tông. Mẹ cha khi đưa các đứa con vào đời nơi mà tâm linh và giáo dục là một. Giáo dục và tâm linh song hành và nhập nội vào nhau dễ dàng, vì đồng điệu để đồng hành trong đạo lý Việt tộc, quyện vào nhau như đồng đôi, đồng lứa, vì cùng đồng tâm trong đạo đức biết hy sinh cho các thế hệ mới, non, trẻ, mai, hậu...

Quyết đoán số phận

Để hiểu tại sao con người luôn muốn làm chủ số kiếp của chính mình, không cần đạo giáo để quyết định số phận mình, không cần đảng phái để quyết đoán số phần mình. Làm chủ hành động cá nhân mình để bảo đảm quyền tự do của mình, hành động qua tập thể để bảo vệ công bằng, hành động vào xã hội để bảo trì bác ái để sống có nhân phẩm với đồng loại. Các chế độ độc tài, độc quyền, độc tôn, độc trị, độc đảng, làm bọn lãnh đạo các chế độ này rất "cực thân", vì chúng phải rình rập để đàn áp, phải đe dọa để áp chế, phải tuyên truyền để lừa đảo, phải làm khổ xã hội để đày tha nhân, chúng tốn nhiều thì giờ và năng lượng vào những chuyện công an, quân đội, nhà tù… vu oan giá họa cho chúng sinh nên chúng không thể thông minh, vì chúng thời gian đâu để cải cách, để cải tổ, để sáng chế, để sáng tạo, để khai thác tiềm năng và tiềm lực của tha nhân và của xã hội. Hãy giải thích bằng sử học là bọn cầm quyền dùng các chế độ độc tài, độc quyền, độc tôn, độc trị, độc đảng bằng các trò mỵ dân qua chủ nghĩa cộng đồng, đạo đức giả qua chủ nghĩa tập thể, mà cộng đồng không sao tới được cộng sản, vì tất cả các chủ nghĩa cộng này đều thất bại, đều bị nhân sử gạt bỏ, vất đi.

Nhân học dân chủ

Nếu con người muốn làm chủ qua dân chủ, thì không những đã có sẵn lý thuyết, có sẵn sử học, có sẵn tư tưởng, có sẵn kinh nghiệm về dân chủ, thì trong nhân tính của nhân loại chắc chắn có sẵn nhân học dân chủ, loại nhân học thông minh hàng đầu, vì nó trao kiếp người lại cho người, không để tôn giáo hoặc dị đoan, đảng phái hoặc bè nhóm nào quản lý kiếp người này. Cho nên kiếp chủ kiếp là vậy. Chính chủ thuyết tự do cá nhân để bảo vệ quyền lợi cá nhân làm tăng trưởng các thỏa hiệp đa nguyên, thỏa thuận đa dạng, thỏa ước đa dụng, lấy đa tài làm ra đa trí, chống lại cái một chiều của độc tài, cái một khung của độc quyền, cái một lò của độc đảng làm ra cái một nhà tù chống lại cái muôn hình, muôn vẻ của nhân sinh. Gauchet tin vào chữ đa của thiên hạ, không muốn độc thoại, và sống rất trọn với đa nguyên, với dân chủ, có lần tôi định nghĩa : "Dân chủ là biết người biết ta để sống chung", thầy thêm ý kiến của thầy : "Dân chủ là nghe người để biết người, để biết ta, để sống chung, và để không bỏ rơi nhau !".

Kho tàng của sự cách biệt

Sự cách biệt làm nên khoảng cách giữa các dân tộc là kho tàng của học thuật, khoảng cách càng xa nhân tri càng rộng, khác biệt càng nhiều nhân trí càng sâu, chính cái đa dạng của khác biệt làm nên cái phong phú của nhân sinh, khác nhau để học nhau, để hỗ tương cho nhau, cách xa nhiều thì học được nhiều, cách biệt nhiều thì thu được nhiều. Từ đó, ta sẽ nhận ra các định kiến dựa vào cái bên trong của ta, ta thì văn minh, cái bên ngoài của thiên hạ là man di, thì định kiến này giờ đã thành tà kiến. Kho tàng của sự khác biệt giữa các văn hóa, giữa các kiến thức, giữa các thái cực… không những giúp ta tránh quá khích, xa thủ cựu, bỏ kỳ thị, lánh tà kiến, mà còn giúp ta thấy mọi chiều, hiểu mọi nơi, thấu mọi bề, làm ra cái thông minh sâu, dài, rộng, lớn. Sự thông minh biết người biết ta tạo cái thông minh của tự do, đó là tự do đi lại thoải mái giữa các nền văn hiến khác nhau, đây mới đúng là thông minh của thông minh.

Tự do giết tự do

Trong không gian lãnh đạo chính trị dựa trên đa nguyên của dân chủ thì tự do là nơi mà các quy luật khách quan phải tuân theo các quy phạm cần thiết để quản lý tự do trong chính trị bằng tri thức đúng về quyền lực, tức là phải tôn trọng công bằng, phải tôn vinh công lý. Trong không gian chính trị này, ta phải phân biệt có nhiều không gian của tự do, các tự do này rất bất bình đẳng trong sinh hoạt xã hội, thí dụ như trong các quốc gia dân chủ giàu mạnh, nhưng trên thực tế không gian của một tỷ phú luôn rộng hơn không gian của một công dân đang thất nghiệp. Tại Việt Nam hiện nay, ta thấy rõ qua bạo quyền độc đảng, tà quyền tham quan, ma quyền buôn đất thì tự do của một tên đầu nậu đất đai đã chia chát với các nhóm lợi ích trong chính quyền thì hoàn toàn rộng lớn và chúng "có tự do để giết tự do của dân chúng", để biến dân chúng thành dân oan.

Phương tiện của quyền lực

Tự do phải được nhận định và định nghĩa qua không gian cụ thể, nơi mà bọn bạo quyền, tham quan, ma đất dùng các phương tiện của quyền lực sẵn có trong tay chúng để hủy, diệt, loại, bỏ tự do của dân oan, vừa không có quen biết trong quyền lực, vừa không có các phương tiện pháp quyền để tự bảo vệ tự do của chính mình. Tự do của một con cáo đang lộng hành giết chóc các con cừu trong chuồng mà các nạn nhân không có lối thoát, thì đây không phải là tự do mà là sát hại ! Tự do của liên minh bạo quyền lãnh đạo-tà quyền tham quan-ma quyền trọc phú khi chúng tự do dùng phương châm ma đạo của chúng là : "có tiền mua tiên cũng được", thì đây không phải là tự do trong liêm sỉ mà là hành động âm binh sát hại đồng bào.

Biến con dân Việt thành lao nô, nô tỳ !

Hãy tỉnh táo để có sáng suốt khi đi tìm định nghĩa về tự do, từ chính trị tới xã hội, từ kinh tế tới văn hóa… khi ta đặt tự do trong quyền lực chính trị, của chính quyền độc đảng trong thực trạng tự do cạnh tranh qua bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, ta sẽ thấy, họ sẽ dùng tự do chính trị để tạo ra các bất công mới, mà ý đồ là để duy trì chế độ độc đảng. Thí dụ quá trình hội nhập vào kinh tế thị trường khi cho phép các doanh nghiệp ngoại quốc vào đầu tư tại Việt Nam với lực lượng lao động Việt dồi dào nhưng lương bổng thấp, bảo hiểm xã hội tồi, an sinh xã hội kém, luôn đi cùng với các chính sách xuất khẩu lao động, biến con dân Việt thành lao nô, nô tỳ cho các nước láng giềng.

giailuan04

 Lao động Việt Nam trước giờ đi xuất khẩu lao động giúp việc nhà tại Ả Rập Saudi

Chủ thuyết nạn nhân oan

Trạng thái tâm thần của những kẻ có quyền lực nhưng lại không có sự tín cẩn, lòng khâm phục của kẻ bị trị, nên bịnh tâm thần của kẻ cầm quyền xử những bản án thật nặng với các đứa con tin yêu của Việt tộc, chỉ dùng dân chủ để đòi nhân quyền mà phải nhận những bản án nhiều năm trong lao lý. Những bản án nặng để làm gương, để ra uy, để làm kẻ khác sợ mà không dám đấu tranh, cách giải luận này chưa đủ, còn thiếu sót, mà phải đưa vào giải thích của chúng ta chủ thuyết nạn nhân oan, để thấy rõ sự hận thù quá mức, sự oán giận quá đổi của kẻ cầm quyền, đang bất lực trước các trào lưu đấu tranh của xã hội dân sự mà họ không sao dẹp được. Nạn nhân oan luôn phải nhận những đòn thù, những án oan, những trừng phạt kiểu bị truy diệt để kẻ có quyền thỏa giận, thỏa tức, để thoát được chuyện "mất ăn mất ngủ" vì tha nhân đã nhìn ra sự bất chính của bạo quyền, sự bất lương của tà quyền.

Công an sát nhân

Sự thật Việt của số phận Việt hiện nay, đang diễn ra hằng ngày trước mắt chúng ta : một vài công an có thể đưa một người vô tội vào đồn công an và đánh đòn thù cho tới chết, để hôm sau báo với gia đình của nạn nhân này là nạn nhân đã tự tử, và không một tên công an sát nhân nào, bị điều tra để sau đó được phân xử công minh trước tòa án. Một xã hội cho phép "đòn thù" để tra tấn cho tới chết, mà lại được một độc đảng bạo quyền che lấp tội ác để che giấu tội phạm là một xã hội đang bị nạn nhân hóa. Một vài côn đồ, du đảng được công an sử dụng, được bọn ma quyền buôn đất trả tiền, có thể bắt cóc và tra tấn một dân oan đang bảo vệ mảnh đất của mình, mà bọn xã hội đen lại được công an bảo kê, được bọn ma đất trả tiền, thì dân chúng trong xã hội đó có thể đi thẳng từ vị thế dân oan tới nạn nhân oan, vô tội mà trở thành tử tội.

Tham nhũng lũng đoạn xã hội

Một nhóm lợi ích tham nhũng đang lũng đoạn xã hội, đang bị điều tra có thể thủ tiêu một đàn em có vài triệu chứng phản bội chúng, để vừa trả thù, vừa để trút giận vào kẻ thấp nhất trong nhóm để xả mọi dồn nén và bất chấp pháp luật hiện hành. Nên xã hội bạo động hiện nay là xã hội dùng nạn nhân oan để loạn hóa bộ máy công lý muốn dùng luật pháp để kềm chế tội phạm. Sự thật xuất hiện ngay trong cái bạo động xã hội, mà muốn định nghĩa sự bạo động, thì phải qua đường đi nẻo về của nó là sự xâm phạm từ tính mạng tới nhân phẩm của nạn nhân của nó. Khi ta nghiên cứu về sự bạo động, thì ta nghĩ là ta không phải là thủ phạm mà kẻ khác là thủ phạm.

giailuan05

Việc "ban" án tử cho Hồ Duy Hải không khác gì "góp phần" rút ngắn tuổi thọ của chế độ.

Ý thức đi tìm lý trí

Ý thức đi tìm lý trí khi đã từng là nạn nhân của bạo quyền độc đảng vô minh. Từ đây, có tâm thức đi tìm nhân tri khi đã từng gánh chịu bất công của tà quyền độc trị vô lương ; để có nhận thức phải đi tìm công bằng khi đã từng cam chịu bao bất đẳng tới từ sự phân biệt đối xử do ma quyền độc trị tham đặc lợi, thèm đặc ân sinh ra chỉ cho riêng chúng.Tự chủ này được triết học chính trị nhận diện qua quá trình sau đây : phải vượt thoát hệ bạo (bạo quyền, bạo lực, bạo động, bạo hành) ; rồi vượt khỏi hệ độc (độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn, độc đảng), để vượt thắng hệ tham (tham quyền, tham nhũng, tham ô, tam tiền). Tự chủ vì nhân trí còn được xã hội học đàm phán nhận diện qua : khả năng thay đổi hành vi khi biết chuyển hóa hành động trước bạo quyền ; tiềm năng thay đổi hiện tại để chuyển hóa tương lai theo hướng tích cực ; chuyển hóa não bộ để chuyển biến não trạng mà thắng bạo quyền độc đảng toàn trị.

Lý trí tự kiểm soát hành vi

Quá trình tự chủ vì nhân trí có lý trí tự kiểm soát hành vi, tự kiểm định hành động của mình qua trí tuệ và đạo lý, qua trí lực và luân lý. Tự chủ vì nhân trí có trong khả năng tự điều chế đam mê, cảm xúc, xúc động dẫn tới vô tri, thượng nguồn của vô trách nhiệm. Tự chủ vì nhân trí có sự sáng suốt tự cân bằng các sinh hoạt xã hội, cộng đồng, tập thể theo quy luật công bằng, dựa trên công lý, được trợ lực bởi công tâm. Tự chủ vì nhân trí của tự giáo dục, qua kiến thức, qua tri thức để có ý thức biết tự giáo dưỡng đạo lý, đạo đức, luân lý cho mình và cho người khác. Tự chủ vì nhân trí của nhân quyền biết tự bảo vệ mình trước bạo quyền, bạo động, bạo lực, là nguyên nhân của bất công, là nguồn gốc của khổ đau.

Tự chủ của tự sáng tạo để tự hành động

Tự chủ trong quá trình khai thác ý tưởng bên trong não bộ để biến tự do bên trong thành hành động bên ngoài xã hội. Đó là ý thức đi tìm hạnh phúc khi đã từng chịu đựng khổ đau tới từ bạo quyền ; ý muốn sống trong công bằng vì đã là nạn nhân của bất công ; ý định biến hiện tại xấu thành tương lai tốt ; ý lực đưa hành động tự do của mình vào ngay đời sống xã hội. Tự chủ trong quá trình tự sáng tạo để tự hành động : biết chống lại bạo quyền đang đe dọa, khống chế, đàn áp tự do bằng bạo lực, chuyển hóa não trạng ngay trong chính tri thức của tự do, không nhất thiết phải dùng bạo động để giành tự do, mà có thể xua đuổi, xóa bỏ các bạo lực chống lại tự do qua phương trình thông minh của đối thoại-đối chất-đối luận-đối trọng-đối kháng.

Hành tác tự chủ vì nhân phẩm

Biết chống lại bạo quyền phi nhân tính, vừa tha hóa, vừa đồi trụy, lại vừa vô luân, bằng hành tác tự chủ vì nhân phẩm : bằng tiếng nói, bằng trần tình, bằng biểu tình, bằng đề đạt, bằng đàm phán… để xác nhận nhân quyền, đó là quyền làm người với nhân tính, với nhân đạo. Biết chống lại bạo quyền bằng lý thuần chất của nhân phẩm, vừa dựa trên nhân lý, vừa dựa trên nhân trí, làm nên phương trình hợp lý-chỉnh lý-thuần lý để tự do sánh đôi với công bằng, để tự do bảo đảm được bác ái, trong một nhân tính không bao giờ chấp nhận bạo quyền, tà quyền, độc quyền, tham quyền, lạm quyền, cực quyền, cuồng quyền.

Tự chủ đến từ nhân lý

Chống lại bạo quyền bằng tự chủ của lý trí, bằng quyết tâm với các lý luận nhân lý : tự do trong công bằng và bác ái, luôn biết lấy tự do làm động lực cho văn minh của dân tôc. Chống lại bạo quyền bằng tự chủ đến từ nhân lý, có ngay trong nhân tính, xuất hiện từ nhận thức về nhân phẩm, ở ngoài các quy luật nhân quả chung chung của hoàn cảnh. Vì tự chủ đến từ tư duy của con người biết dựa trên nhân luận được hỗ trợ bởi đạo lý và đạo đức của nhân đạo, tức là không phải chờ mình phải là nạn nhân của bạo quyền rồi mới đấu tranh cho tự do của mình.

Tự chủ biết nội lực của luân lý

Tự chủ trong một không gian đạo đức của chung sống trong công bằng và bác ái trong đó tự chủ biết nội lực của luân lý chính là ý thức về trách nhiệm và bổn phận ; sung lực của đạo lý chính là ý thức về các hành tác hay, đẹp, tốt, lành ; hùng lực của đạo đức chính là ý thức về nhân phẩm để bảo vệ nhân tính. Hãy bắt đầu bằng trực quan của tri thức, tức là bằng thấy-hiểu-thấu-nhận, với tự chủ hiểu cái tốt để làm ra cái tốt cho mình và cho đồng bào, đồng loại. Với tự chủ phải thấu cái đức để tiếp nhận hệ luận (lý luận, lập luận, diễn luận, giải luận). Với tự chủ phải tiếp thâu cái lý để đón tiếp hệ thức (kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức, tỉnh thức).

Tự do vì nhân phẩm

Tự do vì nhân phẩm rất cụ thể vì tự do này biết đứng lên để tự tin đứng cạnh tất cả các nạn nhân của bất công, của độc tài, của tham nhũng... đứng về phía đồng bào và đồng loại đang khổ đau trong một chế độ lấy bạo quyền, dùng bạo lực để hằng ngày bạo hành đồng bào mình. Từ đây chuyển biến não bộ để chuyển hóa não trạng bằng cách nhận ra tự do đứng lên để tự tin đứng cạnh tất cả các phụ lão, các trẻ thơ, các người tàn tật, các phụ nữ… hằng ngày là nạn nhân của một chế độ bỏ quên không những an sinh xã hội mà cả an toàn xã hội để bảo vệ kẻ yếu thế, kẻ mang tàn tật… Tự do đứng cạnh tất cả các phong trào đấu tranh liêm chính vì dân chủ, vì nhân quyền để bảo vệ cá nhân, gia đình, tập thể, cộng đồng, dân tộc, ít nhất là bắt buộc bạo quyền phải tôn trọng các quyền đã được ghi trong hiến pháp.

Nhân cách bất khuất của dân tộc

Tự do đứng cạnh các tù nhân lương tâm hoàn toàn vô tội đang trong vòng lao lý vừa vô nhân đạo, vừa vô nhân tính của bạo quyền vừa đang vùi dập nhân cách bất khuất của dân tộc, đang tha hóa phẩm chất của Việt tộc. Phải khẳng định tự do vì nhân quyền bằng não bộ trong sáng, bằng não trạng tích cực để đứng cạnh tất cả dân đen trong cảnh đầu đường xó chợdân oan trong cảnh màn trời chiếu đất, mất đất, mất nhà nạn nhân của các lãnh đạo ma đất đã cấu kết với bạn các nhà thầu ma xây cất, đang khổ nhục hóa các nạn nhân này ngay trên mảnh đất của họ.

Tự do vì nhân quyền

Tự do đứng cạnh các phong trào yêu nước đang đấu tranh để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, từ biển đảo tới đất liền, từ môi trường tới môi sinh, đang bị tiêu hủy hằng ngày bởi Tàu họa, thông đồng với các lãnh đạo đang bán nước. Tự do vì nhân quyền để đứng cạnh cho đa nguyên mở cửa cho đa tài, đa năng, đa hiệu, để chống độc tài, độc trị, độc quyền qua độc đảng, từ đó tạo dựng lên khối đại đòan kết trong đa dạng tư duy, đa thể lý luận, có đa lực tiếp nhận văn minh của nhân loại. Tự do vì nhân quyền để cận kề với quyết tâm giải phóng chính mình qua hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức,ý thức,nhận thức) cùng lúc giải phóng gia đình, thân tộc, tập thể, cộng đồng, dân tộc mình ra khỏi nhà tù ngu dân của độc đảng.

Tự do ý thức, tự tin nhận thức

Tự do đẩy cửa, đạp tường, phá rào, đập tan nhà tù của một chế độ sống nhờ công an trị, đã cai trị rồi vùi dập lương tri của Việt tộc chỉ muốn sống là một dân tộc tốt. Tự do vì nhân quyền chính là tự do ý thức, tự tin nhận thức tức là mỗi lần chứng kiến thực trạng của độc đảng sinh ra độc quyền, để tham quyền đẻ ra tham nhũng trong toàn bộ lãnh đạo chối từ đối thoại để đối luận với trí thức là chúng ta thấy Nhân luận của chính chúng ta bị thiêu hủy. Tự do ý thức, tự tin nhận thức tức là mỗi lần chứng kiến bi kịch của cả dân tộc đang bị bần cùng hóa, cả một xã hội đang bị đồi trụy hóa, cả một đất nước đang bị đe dọa xâm lược bởi Tàu tặc là chúng ta thấy nhân quyền của chính chúng ta bị bức tử.

giailuan06

Ông Trần Ngọc Chinh, 1 trong 3 người chịu án oan giết người suốt gần 40 năm qua - Ảnh Trần Cường

Nội chất của nhân cách, bản chất của nhân vị

Một dân tộc muốn thành công thì phải có sáng kiến thường nhật, sáng tác thường xuyên, sáng tạo thường trực, thì phải biết thu ngắn thời gian nhậu nhẹt, tán gẫu, la cà trong các tiệm ăn tới các quán cà phê. Vì đây cũng là câu chuyện hiệu quả làm ra từ hiệu năng, tạo nên hiệu xuất tại các quốc gia có khoa học kỹ thuật tiên tiến đã làm nền cho văn minh dân chủ, cho văn hiến nhân quyền. Nếu bữa ăn trưa ê a quá dài, bữa ăn tối ú ớ không dứt, nếu trà dư tửu hậu triền miên dẫn tới ăn tục nói phét bất tận thì đừng nên nói về sáng kiến thường nhật, sáng tác thường xuyên, sáng tạo thường trực. Đừng la cà để tán gẫu là : "người Việt giỏi", "người Việt thông minh", "người Việt thành công"… Đừng nói liều để phải mang tiếng là nói dóc, nói xạo, nói điêu, nói ngoa… Vì không có người giỏi nếu người đó không biết "thức khuya dậy sớm", không có người thông minh nếu người đó không biết "dãi nắng dầm mưa", không có người người thành công nếu người đó không biết "một nắng hai sương". Một công hai việc, phải nói rõ hơn nữa là bọn tham quan để tham ô, bọn trọc phú nhờ tham nhũng, hai bọn này hoàn toàn không chỗ đứng, ghế ngồi cạnh các chủ thể biết "thức khuya dậy sớm", "dãi nắng dầm mưa", "một nắng hai sương" ! sáng kiến thường nhật, sáng tác thường xuyên, sáng tạo thường trực trong câu chuyện hiệu quả làm ra từ hiệu năng, tạo nên hiệu suất là câu chuyện vừa mang nội chất của nhân cách, vừa mang bản chất của nhân vị.

Tiến bộ trường kỳ nhân sinh

Khi quan sát các châu lục có kinh nghiệm dân chủ, khi so sánh giữa các quốc gia có thực thể dân chủ, thì các chuyên gia nhận ra một thành phần sống nhờ khai thác các trợ cấp xã hội, mà các chuyên gia gọi họ là "sống để xin", biến phản xạ "ngửa tay xin tiền" thành phản ứng thường trực là "cúi đầu đi xin". Khi các chủ thể dân chủ có chính quyền mới, có chính phủ mới với quyết sách mới tích cực tham gia vì tiến bộ trường kỳ nhân sinh thì phải có một giáo dục cấp tiến, trong một giáo khoa dấn thân có giáo trình đạo đức với giáo án chỉnh lý mà giáo huấn rồi giáo dưỡng đám người "sống để xin", "ngửa tay xin tiền", "cúi đầu đi xin" ra khỏi nhân kiếp "ăn bám" của chính họ.

Sự chuyển hóa tự nhiên

Sự chuyển hóa tự nhiên, nơi mà tất cả sinh vật, đều được hoặc chịu sự chuyển hóa tự nhiên, hàng ngày, tất cả đều phải chịu sự chuyển hóa qua thời gian và không gian. Chân lý của định đề sinh, lão, bịnh, tử khi được hiểu đúng rồi, thì mỗi chủ thể phải thấy cho thấu là cuộc đời của mình rất ngắn ngủi, và ta phải làm gì cho cuộc sống của mình có ý nghĩa, để có một nhân sinh đầy giá trị. Một câu hỏi được thi sĩ Vũ Hoàng Chương mô hình hóa bằng thi luận : "Ta làm chi đời ta ?", đây là thượng nguồn của quy trình sáng tác, sáng chế, sáng lập, cụ thể là đang sinh sống tức là đang sáng chế, tức là đang chủ động chuyển hóa.

Sự phản chuyển hóa của quá khứ

Sự phản chuyển hóa của quá khứ, không ai thay đổi được quá khứ, ký ức, lịch sử, vì ta không thể thay đổi những gì đã xẩy ra : bạo quyền công an trị đã giết người, tà quyền tham nhũng trị đã cướp của, ma quyền tham tiền trị đã phá nhà, cướp đất… biến dân chúng, dân lành thành dân đen, dân oan… Chúng ta không thay đổi được quá khứ của chế độ vô học trị đã ngu dân hóa dân tộc, của ý thức hệ bạo lực trị đã gây bao lầm than cho Việt tộc. Nhưng chúng ta phải học bài học của lịch sử để tái tạo lịch sử tương lai bằng cách nhân tính hóa lịch sử, là làm ngược lại, cụ thể thay bạo quyền bằng nhân quyền, thay ngu dân trị bằng tri thức trị.

Sự chuyển hóa tất yếu

Sự chuyển hóa tất yếu, khi mà chúng ta phải bắt buộc thay đổi để tồn tại, bó buộc chuyển đổi để sinh tồn trong thử thách bịnh tật, thiên tai, trong thăng trầm của nghèo đói, lạc hậu. Trước tất yếu bịnh tật, thiên tai, nghèo đói, lạc hậu, khoa học lẫn kỹ thuật vẫn cung cấp cho nhân sinh một cuộc sống ngày càng nhiều tiện nghi, y khoa vẫn bảo vệ ngày càng tốt hơn sức khỏe của nhân sinh, liên tục làm tăng tuổi thọ của nhân loại

Sự chuyển hóa tích cực

Sự chuyển hóa tích cực, khi con người nhận ra nếu không chuyển hóa tức thì sẽ bị tai ương hủy diệt, nếu không chuyển biến tức khắc thì sẽ bị bất công nuốt chửng. Lấy sáng kiến để tạo sáng tác, sáng chế, sáng lập chống lại tai ương của dịch bịnh, chống lại bạo hành của bạo quyền. Sự chuyển hóa tích cực chống lại loại triền dốc đi xuống của nhân sinh, đang lao vào vực thẳm, nếu không tỉnh thức thì chắc chắn là thiệt mạng. Sự chuyển hóa tích cực đóng dấu hay, đẹp, tốt, lành cho nhân sinh, mang dấu ấn cao, sâu, xa, rộng cho nhân quyền. Nó hoàn toàn ngược lại với sự chuyển hóa tiêu cực đã xấu, tồi, tục, dở rồi, giờ lại lao mình như con thiêu thân để thành quỷ, ma, tà trong thâm, độc, ác, hiểm. Và trong bạo quyền độc đảng toàn trị hiện nay, Việt tộc đang trên triền dốc đi xuống của xấu, tồi, tục, dở, và đang lao thân vào vực thẳm của thâm, độc, ác, hiểm của loại tà quyền buôn dân bán nước.

Sự chuyển hóa cùng tha nhân

Sự chuyển hóa cùng tha nhân, nếu chuyển hóa chỉ một thân thì không sao xoay chuyển được tình hình, nếu chuyển hóa chỉ một mình thì không sao xoay dời được thời cuộc. Khi cùng chuyển hóa với tha nhân thì chính sự hợp tác với tha nhân làm nên cái chung trong đồng cam cộng khổ và cái chung này sẽ là cái chia trong đồng hội đồng thuyền với tha nhân, nơi mà đoàn kết và tương trợ sẽ tạo được thành công.

Sự chuyển hóa được tuyển chọn

Sự chuyển hóa được tuyển chọn, nếu chuyển hóa là tự nhiên, là tất yếu, là hiển nhiên, thì khi cá nhân định vị mình như chủ thể đang làm chủ cuộc đời của chính mình. Chủ thể này phải chọn lựa những quyết định, phải tuyển chọn những hành động, phải tuyển dụng những hành tác hợp với sự thật, chân lý, lẽ phải bằng nhân bản, nhân tri và nhân quyền. Từ đó, chuẩn bị một tương lai ít xấu, tồi, tục, dở, và luôn mong cầu được tiếp cận với nhân phẩm hay, đẹp, tốt, lành. Mà nhân phẩm hay, đẹp, tốt, lành đã có ở thượng nguồn, đó chính là lý tưởng, là hoài bão, là dự phóng về một nhân vị cao, sâu, xa, rộng.

Sự chuyển hóa sâu rộng vì nhân sinh

Sự chuyển hóa sâu rộng vì nhân sinh, nơi mà các chủ thể đại diện cho văn minh dân chủ, văn hiến nhân quyền luôn có mặt trong các lĩnh vực khác nhau từ khoa học tới kỹ thuật, từ chính trị tới kinh tế, từ văn hóa tới giáo dục. Đó là những chủ thể nhìn xa trông rộng, dám nghĩ và dám làm vì mục đích cao cả là phục vụ nhân quyền vì nhân phẩm. Các chủ thể này tổng hợp được công việc chuyên môn của mình để chế tác ra những nhân sinh quan, để chế tạo ra những thế giới quan, để hành tác bằng những vũ trụ quan đứng đắn biết bảo vệ từ môi trường tới môi sinh. Không những biết tự thay đổi cuộc đời của họ mình mà chuyển hóa cả nhân loại theo hướng chuyển hóa sâu rộng qua nhiều thế hệ, qua nhiều thế kỷ.

Sự chuyển hóa để tìm ra chính mình

Sự chuyển hóa để tìm ra chính mình, khi vào quyết tâm chuyển hóa não bộ, khi vào quyết đoán thay đổi não trạng, trên nhân lộ đi tìm văn minh vì nhân phẩm, thì các chủ thể sẽ tự nhận ra mình. Nhận ra chính mình với ý nguyện sống sao cho có ý nghĩa, làm nên ý lực sống sao cho có trí lực, để đưa cuộc đời của chính mình cùng với tha nhân để vào nhân lộ văn minh. Một nhân lộ có đồng bào, đồng loại cùng với mình, tất cả nhận ra nội công của nhân quyền, bản lĩnh của nhân bản, tầm vóc của nhân vị.

giailuan07

Công an Hà Nội đàn áp biểu tình – Linh mục, giáo dân bị đánh trọng thương

Sự chuyển hóa biết giữ gìn tiền đồ

Sự chuyển hóa biết giữ gìn tiền đồ, trong đó có vốn liếng của dân tộc, có di sản của tổ tiên, có tài nguyên của đất nước không những phải được bảo trì mà phải vận dụng sự chuyển hóa tích cực để bảo quản cho bằng được những gì mình đã có, đang có. Từ đó cái mình sẽ có sẽ bồi đắp, bồi bổ, bồi dưỡng cho những gì mình đã có, đang có. Một chính quyền tới từ sự thông minh của đa nguyên, tới từ sự thông thạo của dân chủ, tới từ sự thông thái của nhân quyền là một tập hợp của các chủ thể biết tiến tới tương lai, biết đi tới chân trời, cùng lúc biết cõng, bống, bế, ẵm một cách nâng niu và trân quý cơ ngơi của tổ tiên, dân tộc, đất nước.

Sự chuyển hóa cùng các giá trị phổ quát và vĩnh hằng

Sự chuyển hóa cùng các giá trị phổ quát và vĩnh hằng, qua nhân sinh quan cùng thế giới quan của những chủ thể biết tôn trọng các giá trị thiêng liêng của nhân loại, các giá trị tâm linh của dân tộc các giá trị đạo đức của nhân phẩm, mà ta phải giữ cho bằng được các giá trị này trong suốt quá trình chuyển hóa dù phải qua bao thử thách, bao thăng trầm, bao trầm luân. Hãy hiểu tới cùng các cuộc biến thiên, làm thay trời đổi đất, để thấy cho thấu là qua vật đổi sao dời các giá trị nhân bản làm nên nhân vị vẫn luôn tồn tại và được vun đắp ngày càng phong phú hơn.

Sự chuyển hóa theo ước nguyện ban đầu

Sự chuyển hóa theo ước nguyện ban đầu, với thủa ban đầu của một hoài bão đẹp, một lý tưởng cao, một mong cầu đất nước thanh bình với một dân tộc được sống trong một nhân loại thái hòa. Ước nguyện thủa ban đầu là ước nguyện triền miên của một nhân sinh quan không ích kỷ đóng cửa để thụ lợi, không vị kỷ đóng kín để tư lợi, mà hành động vì đồng bào, hành tác vì đồng loại. Biết hợp tác với tha nhân để làm rộng nhân thế, làm cao nhân bản, làm sâu nhân tâm. Sinh và sống với não bộ luôn ở tuổi thanh niên dù hiện nay đã qua tuổi thanh niên, đã quá tuổi thanh xuân nhưng luôn trẻ trung từ tư duy tới hành động bằng những dự phóng cho tương lai, bằng những dự án cho các thế hệ mai hệ. Trẻ trong não bộ để không già trong não trạng, đây là thử thách thông minh cho một chính quyền sáng tạo, mong muốn có một chính thể yêu đa nguyên, quý dân chủ, trọng nhân quyền với não bộ của sáng tác, sáng chế, sáng lập.

Một nhân bản có chỗ đứng trong sự thật

Một chính quyền mới với các chủ thể Việt tộc quý văn minh dân chủ, trọng văn hiến nhân quyền phải tuyệt đối xa lánh để loại bỏ các thể loại tư duy man trá, ngôn ngữ gian xảo, để tự bảo vệ nhân bản của mình, một nhân bản có chỗ đứng trong sự thật, có chỗ ngồi trong chân lý, có chỗ dựa chính là lẽ phải. Một chính quyền mới quý văn minh dân chủ, trọng văn hiến nhân quyền với các chủ thể lãnh đạo là những đứa con tin yêu của Việt tộc biết nhìn xa trông rộng của người thông minh :

"Người khôn chưa đắn đã đo

Chưa ra tới biển đã dò nông sâu"

thấy các biến động lớn đang tới với đồng bào, đồng loại, nhận ra các tai biến lớn sẽ tới với dân tộc, với nhân loại. Cụ thể là nợ công đang chồng chất lên lưng, lên vai, lên đầu của các dân Việt, gây ra bởi một bạo quyền độc đảng toàn trị, độc tài nhưng bất tài trong quá trình phát triển đất nước, độc trị nhưng không biết quản trị các giai đoạn tiến bộ của nhân loại.

Người

Người là người ta trong cái người của mẫu số chung là nhân, nhân của nhân lý trong nhân tính, nhân tình trong nhân tâm, nhân ái trong nhân từ. Biết người biết ta trong nhân tri, nhưng cũng biết đi thêm bước nữa là thương người như thể thương thân của nhân trí, biết ăn đời ở kiếp với nhân đạo, biết trao thân gởi phận với nhân phẩm trong nhân loại có chung để chia, có chia vì biết chung. Hiểu được tha nhân, nên thương được tha nhân, biết suy bụng ta ra bụng người thì cũng phải biết hiểu ngược lại để khôn ra là suy bụng người để hiểu người, thông cảm với người, để yêu thương người hơn. Vì không sống với người thì sống với ai, nên từ chối giết, truy, diệt, hủy, người như để bảo vệ nhân phẩm của chính mình.

Chung

Chung, không phải là tặng trong mù quáng, trao trong vô điều kiện, biếu trong phản xạ một chiều, mà chung trong chia, biết chia tiếp tục được sống trong chung. Để mọi bên đều sống, được hưởng, lao động trong hợp tác, sản xuất trong tinh thần tập thể có đồng đội, cùng đồng lòng vì tương lai. Cái chung tạo nên đội, nên đoàn, nên tổng lực của một nhân loại biết hợp tác để hợp sức, không cạnh tranh trong thô thiển, không tranh giành trong hoạn lộ, không so sánh lực lượng để đe nẹt nhau, mà biết cùng nhau nhìn về một chân trời, để cùng nhận ra mọi ánh sáng hay, đẹp, tốt, lành cho nhân quyền, mọi hào quang cao, sâu, xa, rộng cho nhân phẩm.

Chia

Chia, mà không ngừng ở chia ăn chia uống, hoặc chia lời chia lợi, mà chia theo chiều cao của tri thức, mà cụ thể là chia kiến thức để cùng nhau có chung một ý thức, có cùng nhau một sức mạnh của nhận thức trước các thăng trầm của nhân sinh. Chia tri thức rồi chia kiến thức, chia ý thức rồi chia nhận thức, để cùng nhau chia giáo dục, chia văn minh. Trẻ học già, nhưng già cũng phải học trẻ, nhất là về các kiến thức mới về tin tức, về truyền thông, về vi tính, về các khoa học và kỹ thuật mới ra đời. Đây là quá trình cùng giáo dục nhau, với tên gọi là giáo dục song đôi, có hai chiều, có xuyên thế hệ, để không ai bỏ ai, không có chuyện thế hệ này loại ra thế hệ kia.

Đạo

Đạo của đạo lý trong nhân bản hay, nhân vị đẹp, nhân tâm tốt, nhân đạo lành, chớ không phải đạo của đạo giáo, mà đạo ở đây là đạo đức, của nhân đức làm nên nhân từ để chế tác ra nhân tâm. Khi nhân sinh biết ăn hiền ở lành, khi nhân gian biết ăn ở có hậu, thì đạo lý sẽ là chủ trì trong chủ đạo mà làm nên luân lý, nơi mà cá nhân biết mình còn là công dân có bổn phận với đồng bào, đồng loại, có trách nhiệm với đất nước, với trái đất từ môi trường tới môi sinh. Từ đây, công dân sẽ trở thành chủ thể làm việc với sáng chế, hợp tác với sáng kiến và hành động với sáng tạo để thăng hoa nhân sinh, nhân loại.

Chủ-thể-làm-chủ

Phải hành động đúng vì nhân vị, để được tha nhân có cư xử đúng mà tôn trọng chúng ta. Các quốc gia láng giềng lại cùng nôi tam giáo đồng nguyên với Việt Nam như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapour, họ đào tạo những chủ-thể-làm-chủ từ khoa học tới kinh tế, từ ngoại giao tới thương mại, nên họ không hề bị khinh, coi rẻ như các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã biến Việt tộc thành tôi đòi cho thiên hạ, tự điếm nhục hóa dân tộc mình chỉ vì tham quyền trong vô học, nên vô hậu trong vô tri.

Đi tới vì nhân vị

Các chủ thể lãnh đạo tương lai vì Việt tộc, biết quản lý đất nước, biết bảo vệ dòng nòi trong tiến bộ đa nguyên, trong văn minh dân chủ, trong văn hiến nhân quyền, phải chuyển hóa não bộ ngay bây giờ, phải chuyển biến não trạng ngay tức khắc tất cả vì Việt tộc. Cụ thể là bỏ não trạng cúi đầu-khom lưng-khoanh tay-quỳ gối trong kiếp bị trị, mà phải mở sáng mắt, rồi đứng thẳng lên, mà đi tới để nhận một não bộ mới, não bộ của một minh tộc, não trạng của một dũng tộc ! Sống không cúi đầu-khom lưng-khoanh tay-quỳ gối, cho tới khi lìa đời, nhìn quan tài, nhận mộ phần mà biết thẳng đầu-thẳng lưng-thẳng tay- thẳng gối, luôn đi tới vì nhân vị, để bảo vệ nhân phẩm !

giailuan08

Vụ công an Phú Yên đánh chết người : "Dù có phải đối mặt với đe dọa thường xuyên thì tôi không sợ, vì tôi đang đấu tranh bảo vệ cho công lý". Luật sư Võ An Đôn 

Thay đổi não bộ để tìm được dân tộc

Ta sẽ không thay đổi được dân tộc, dòng nòi, đất nước, nếu ta không tự thay đổi chính não bộ của ta bằng nhân lộ văn minh vì nhân phẩm, luôn tìm cách đi về hướng chân trời hay, đẹp, tốt, lành, có sự thật làm nền cho lẽ phải. Loại bỏ ý thức hệ, rũ bỏ tuyên truyền, và chỉ đi theo ánh sáng văn minh của nhân loại vì nhân quyền. Ta sẽ không thay đổi được tha nhân, đồng loại, thế giới, nếu ta không tự chuyển biến chính não bộ của ta bằng nhân lộ văn minh vì nhân tri vì tiến bộ nhân sinh, vì phát triển nhân trí. Nhận hành trình cao, sâu, xa, rộng của kiến thức để luôn tỉnh thức học người mà vì ta, với ý nguyện của công bằng cùng ý lực của tự do, để loại bỏ bất bình đẳng, khử bỏ bất công. Ta sẽ không thay đổi được gia đình, cộng đồng, tập thể, nếu ta không tự chuyển biến chính não bộ của ta bằng cách trừ hoạn bịnh chế độ độc tôn kiểu "con quan thì được làm quan" để bứng ra khỏi não trạng tồi tệ trong tăm tối của loại phản xạ quan hệ-tiền tệ-hậu duệ-đồ đệ ; đã tận diệt bao trí tuệ của dân tộc.

Chuyên chính vô học

Từ ý đồ độc quyền làm nên con tính độc lợi chế tác ra quá trình tư lợi, tiểu luận đề nghị giải luận quá trình này vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả tới từ một quá trình chưa bao giờ được phân giải tới nơi tới chốn, đó là vốn vô học của một tập đoàn lãnh đạo từ ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam 1930, tới ngày cướp được chính quyền 1945, qua giai đoạn 1954 sử dụng chuyên chính vô sản với bản chất của chuyên chính vô học, bất chấp thảm họa nội chiến của hàng triệu triệu sinh linh trong huynh đệ tương tàn, cho tới ngày cướp trọn được chính quyền trên cả nước 1975. Chiến thắng tới từ vốn vô học của loài cố đấm ăn xôi, thuộc loại vua thua thằng liều, được sự hỗ trợ của hai cường quốc chuyên chính vô sản là Liên Sô và Trung Cộng, có cùng bản chất chuyên chính vô học-vô hậu của loại trộm, cắp, cướp, giật bằng con tính bất nhân mạnh được yếu thua, với con toán thất đức sự thật chỉ mặt qua nòng súng, kiểu Mao Trạch Đông.

Vô học hóa cả một dân tộc

Vô học hóa cả một dân tộc dựa trên vốn vô học của lãnh đạo từ tuyên truyền ngu dân tới tới giáo dục ngu dân ; vô học hóa từ định chế làm nên luật pháp tới cơ chế trong sự vận hành của một xã hội. Nơi mà quần chúng liêm chính, dân chúng liêm khiết, nhân sĩ liêm minh hoàn toàn không có chỗ đứng ghế ngồi, nơi mà hiền tài là nguyên khí của quốc gia đã bị đào tận gốc bới tận rễ, để nhường chỗ cho hằng số vô học-vô hậu : quan hệ-tiền tệ-hậu duệ-đồ đệ, hằng số này có chủ thầu là vô minh, có đầu nậu là vô tri, có đầu cơ là vô trí để truy, hủy, diệt, triệt trí tuệ.

Tuyên truyền ngu dân

Khi tuyên truyền ngu dân từ tận dụng tới lạm dụng một hệ thống giáo dục quốc gia để lập nên một quá trình giáo lý, giáo luận, giáo khoa của đánh lận con đen, để tạo ra một quy trình giáo khoa, giáo trình, giáo án thay trắng đổi đen, tuyên truyền ngu dân bằng tuyên giáo độc ngôn, khi nó muốn thay thế giáo lý của đạo đức thì tuyên truyền trị, ngu dân trị, vô học trị phải "dở trò" : cả vú lấp miệng em, cụ thể là nó chống lại các tri thức phản biện bằng lý trí, trong khi đó chúng ta biết là các học sinh từ tiểu học tới trung học tại các quốc gia có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền được học kỹ lưỡng và rõ ràng về tri thức phản biện, cần thiết để công dân phải biết tự bảo vệ công bằng và công lý trước bạo quyền và bạo lực.

Đa trí hơn độc trí

Muốn tuyên truyền ngu dân thì phải cố đấm ăn xôi, cụ thể là nó chống lại tri thức phê bình bằng trí tuệ, trong khi đó chúng ta biết là các học sinh từ tiểu học tới trung học tại các quốc gia có phát triển giáo dục, có tiến bộ khoa học được học rành mạch và minh bạch về tri thức phê bình, cần thiết để công dân phải biết tự bảo đảm công luật và công pháp trước lạm quyền và lộng quyền. Não trạng của tuyên truyền trị là vụng chèo khéo chống, cụ thể là nó chống lại tri thức đa nguyên bằng tuệ giác, cụ thể là đa tài hơn độc tài, đa trí hơn độc trí, đa lực hơn độc lực, đa năng hơn độc năng, đa hiệu hơn độc hiệu. Đa là dụng cái này để bổ sung, bổ túc cho cái kia, vì đa lực làm nên tổng lực, vì đa trí chắc chắn là khôn hơn độc tôn ! Nên đa đảng năng động trong thông minh, chủ động trong thông thái hơn độc đảng.

Vô giác

Hãy bắt đầu từ định vị tới định nghĩa về vô giác từ vô tri giác tới vô cảm giác luôn mang theo khuyết tật vô tự giác của nó. Một kẻ vô giác thì không những vô minh từ lý trí tới trí tuệ, mà còn vô tri từ cảm xúc tới cảm động ; vô giác là thượng nguồn của vô tình, vô tâm với tha nhân, với đồng loại. Nơi mà sự thông cảm để chia sẻ nỗi khổ niềm đau với đồng bào, đồng loại hoàn toàn vắng mặt từ tư duy tới hành vi. Vô giác biệt dạng trong tâm khảm, vì nó đã biệt tăm trong tâm trí. Khi vô giác xuất hiện trong sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội, đời sống xã hội, tổ chức xã hội thì nhân nghĩa, nhân đạo, nhân tâm, nhân từ không hề có chỗ đứng ghế ngồi gì trong não trạng của kẻ vô giác. Câu chuyện vô tự giác có cha sinh mẹ đẻ là vô tri giácvô cảm giác, là câu chuyện sinh cùng năm đẻ cùng tháng với hệ lụy vô học-vô hậu, mà vô học không phải là chuyện đi học để lấy bằng cấp, mà là chuyện được giáo dục tử tế và được giáo dưỡng đàng hoàng bằng giáo lý. Cụ thể là kẻ thoát được vô học thì chọn khôn không chọn ngu (Kẻ ngu cởi truồng, người khôn mất mặt) ; cụ thể là kẻ thoát được vô học thì chọn thanh không chọn hèn

(Thân em như giếng giữa đàng

Người thanh rửa mặt, kẻ hèn rửa chân).

Như vậy câu chuyện vô học-vô hậu không hề là chuyện học vị hay học hàm, mà là chuyện học lực qua giáo dục của đạo lý hay, đẹp, tốt, lành, vì biết dựa trên giáo lý khôn-để-thanh, vì chỉ có ngu mới hèn, mới thô, mới tục mà thôi.

Vô cảm

Hãy nhận rõ vô cảm, cảm xúc biệt tăm, cảm động biệt tích trước bi cảnh của tha nhân, trước thảm cảnh của đồng loại, với thái độ thờ ơ trước các bất công, với hành vi hững hờ trước các hậu quả do bạo quyền, tà quyền, ma quyền gây ra ngay trong đạo lý tổ tiên, ngay trong luân lý dân tộc, ngay trong giáo lý của đạo đức. Nếu vô cảm tới từ vô minh, nó sẽ truy diệt nhân tri, nhân trí ; nếu vô cảm tới từ vô tri, nó sẽ thủ tiêu nhân tính, nhân lý ; nếu vô cảm tới từ vô giác nó sẽ thanh trừng nhân bản, nhân văn, mà không quên thanh toán luôn nhân nghĩa, nhân đạo, nhân tâm, nhân từ. Vô cảm đang tràn lan trong xã hội hiện nay, với sự thờ ơ trước bạo quyền độc đảng công an trị, sự hững hờ trước tà quyền tham nhũng trị, sự dửng dung trước ma quyền tham tiền trị. Nơi mà sự ích kỷ luôn đi tìm tư lợi trong ma lộ ai chết mặc ai ; nơi mà tư lợi đã thành khuyết tật chỉ biết vụ lợi của điếm tật bây chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi. Tại đây, đã tạo ra một tâm nạn tập thể gây ra bao họa nạn cho toàn một xã hội ; nơi mà dân tộc của xã hội đó đang tự "ghẻ lạnh hóa" từ nhân vị, nhân đạo tới nhân nghĩa, nhân tâm của chính mình.

Người yếu vía

Loại người yếu vía không phải là loại người xấu, họ chỉ là loại người mau sợ dễ lo, họ không những run sợ trước bạo quyền, tà quyền, ma quyền, mà họ còn lo sợ cho kẻ đang đấu tranh chống bất công. Nhưng khi họ giải thích tại sao họ sợ, thì ta thấy họ không mấy liêm chính, đối với bạo quyền, tà quyền, ma quyền thì họ chọn cách sống cho qua ngày bằng cách tự an ủi : "Tránh voi chẳng xấu mặt nào", và họ càng thiếu liêm sỉ khi nhìn các chủ thể đấu tranh chống với bạo quyền, tà quyền, ma quyền bằng một cách nhìn phiến diện : Vua thua thằng liều. Họ nhìn sai lạc kẻ dấn thân rồi họ tự giải thích là : "chơi liều vì muốn chơi nổi". Đây là cách nói ngày càng phổ biến trong một xã hội Việt hiện nay, từ vô cảm tới vô trách nhiệm với đồng bào, với đất nước, với tổ tiên, họ thiếu liêm sỉ mà họ không biết, nhìn và buông lời bất lương : "chơi liều vì muốn chơi nổi" khi họ nhắc tới các chủ thể đấu tranh vì dân chủ, đa nguyên, nhân quyền, các tù nhân lương tâm, những đứa con tin yêu của Việt tộc đang trong vòng lao lý.

Đồng mệnh

Chữ đồng (đồng bào, đồng hương, đồng hội, đồng thuyền, đồng tộc, đồng cam) sinh đôi cùng chữ đồng kia (đồng tộc, đồng kiếp, đồng nguồn, đồng cội, đồng hành), kết quả làm nên kết luận của đồng sinh làm nên từ trong thử thách và thăng trầm của đồng thăng, đồng thụt. Nơi có hiệu quả cùng hậu quả của đồng sinh, đồng tử. Nơi có hệ quả cùng hệ lụy của đồng hơi, đồng sức. Một chữ đồng sinh ra hai chữ đồng, giờ hai lại sinh ra ba chữ đồng : đồng thăng, đồng thụt, đồng sinh, đồng tử, đồng hơi, đồng sức chế tác ra thêm một đồng (sự) nghiệp, vì đồng hệ vì cùng đồng (sinh) mệnh !

Tôi đứng về phía nước mắt !

Tôi đứng về phía nước mắt ! Đây là chất liệu làm nên nhân cách. Trong nước mắt các nạn nhân của bạo quyền, tà quyền, ma quyền, tôi thấy có nước mắt của cả nhân loại, tôi thấy có nước mắt của cả nhân sinh với ngày cười đêm khóc, tôi thấy có nước mắt của cả nhân gian thường xuyên dở khóc, dở cười trước bao bất công đang trùm phủ lên nhân kiếp của Việt tộc. Trong nước mắt các nạn nhân là dân lành, dân đen, dân oan đã có nước mắt của tôi, khi tôi nhìn một thương phế binh lê lết bán vé số dưới nắng trưa, các bà mẹ đầu tắt mặt tối luôn hoảng hốt ngay trong não trạng ăn bữa sáng lo bữa tối cho cả gia đình…

giailuan09

Chuyện khóc

Chuyện khóc không những là chuyện buồn của nhân thế, mà còn là chuyện nhân kiếp của nhân loại, mà chuyện khóc lẻ loi một mình, là khóc trong cô đơn, nước mắt của cô lẻ là nhân phận cô độc tới cùng cực trước bất công, mà không có ai để tâm sự, không kẻ đối diện để tâm đầu. Một nhân loại mà nhiều cá thể phải khóc lẻ loi một mình, thì nhân loại đó chẳng có gì để hãnh diện. Một Việt tộc có quá nhiều đồng bào phải khóc lẻ loi một mình, thì bạo quyền độc đảng toàn trị, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền thì chẳng có gì để tự hào. Một chế độ đáng tự hào khi nó có : thể chế, định chế, cơ chế biết tự trọng bằng nhân nghĩa của nó, mà tự hào về nhân văn luôn song hành với tự do vì nhân quyền, tự chủ vì nhân bản, tự tin vì nhân tâm, tự quyết bằng nhân phẩm. Hệ tự (tự hào, tự do, tự chủ, tự tin, tự trọng, tự quyết) không hề rời hệ nhân (nhân quyền, nhân bản, nhân văn, nhân tâm, nhân phẩm, nhân nghĩa, nhân đạo, nhân từ, nhân tri, nhân trí, nhân tính, nhân lý). Chỉ với hai hệ này, chúng ta đã có đầy đủ lý do và chứng cớ để loại mọi bạo quyền toàn trị, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền ra khỏi nhân loại của chúng ta.

Nước mắt của những nạn nhân

Không hãnh diện suông, không tự hào rởm, mà hãy nhìn kỹ vào nước mắt của các nạn nhân đang gặp hoạn nạn vì bất công để nhận ra nhân tính, câu chuyện nhân kiếp luôn có lõi của nhân tính, nếu đánh mất nhân tính thì sẽ mất từ nhân cách tới nhân dạng. Nên sư tổ Rousseau cứ căn dặn : "Con người ơi hãy giữ nhân tính". Câu chuyện từ nhân cách tới nhân dạng làm nên phong cách, làm nên chỗ đứng ghế ngồi cho tư cách, nên tôi tin rằng bạo quyền, tà quyền, ma quyền khi chúng không có từ nhân cách tới nhân dạng, thì làm sao chúng có được phong cách làm nên tư cách của chúng. Khi tôi chọn : Tôi đứng về phía nước mắt ! là tôi đang đi tìm từ nhân cách tới nhân dạng, để bảo vệ từ phong cách tới tư cách của tôi.

giailuan10

Không hãnh diện suông, không tự hào rởm, mà hãy nhìn kỹ vào nước mắt của các nạn nhân đang gặp hoạn nạn vì bất công để nhận ra nhân tính, câu chuyện nhân kiếp luôn có lõi của nhân tính.

Đồng bổn phận, đồng trách nhiệm

Nghị lực của hệ đồng (đồng thai, đồng nòi, đồng tổ, đồng tông), vì đồng quá khứ nên dễ đồng tương lai, làm nên nguồn lực của đồng tâm, sẽ chế tác ra chủ lực của chủ thể Việt biết đồng lực nhận bổn phận đồng bào, lãnh trách nhiệm đồng tổ, biết đồng (sáng) tạo để có đồng (quyết) sách mà vùi nội xâm để dẹp ngoại xâm. Câu chuyện đồng bào giờ đây đã thành câu chuyện đồng bổn phận, đồng trách nhiệm, đồng sáng tạo mà chuyện hay, đẹp, tốt, lành nhất là đồng lực để có đồng chủ thể để đồng thực hiện câu chuyện bảo vệ dòng nòi, bảo quản quê hương, bảo trì dân tộc, "bảo hành đồng bào". Dựng nghị lực-xây nguồn lực-tạo chủ lực rồi biến thành thực lực đồng thai để dũng quyết cho hệ đồng bào.

Sử tích làm nên sử luận

Đồng bào : thượng nguồn sâu xa của Việt tộc, nơi mà mọi con dân Việt ra đời cùng một bào thai của Mẹ Việt, nó mang ý nghĩa làm nên chính nghĩa của một dòng nòi biết giữ đất nơi mình sinh ra, biết giữ nước để thấu cho tới tận xương tủy là uống nước thì phải nhớ nguồn. Huyền thoại làm nên huyền tích, nhưng câu chuyện sinh ra trong cùng một bào thai lại cũng là câu chuyện sử tích làm nên sử luận, trong đó sử kiện mang dấu ấn của một dòng nòi biết lấy lý luận đồng thai để lập luận đồng nòi, biết thấu giải luận đồng tổ để diễn luận đồng tông.

Đạo lý dòng nòi

Đồng bào, như cùng một mẹ nguồn mà những đứa con là dòng nước trong, không vẩn đục, luân lưu chảy xuống hạ nguồn như để lớn khôn, trưởng thành rồi thành tiên tổ cho bao thế hệ sau, khi đó suối nguồn đã thành sông lớn. Khi con cháu sống trong nhân sinh với nhiều dòng chảy khác, có khi gặp các dòng nước đen đục, rồi bị đen bẩn, bị hoen ố, như bị nạn xâm lăng, như bị họa xâm lược ngay trên chính dòng chảy của mình. Nước trong trên thượng nguồn giờ lại bị hoen nhục dưới hạ nguồn bởi nhiễm ô ngoại giới, đạo lý của dòng nòi bị loãng, đạo đức của tiên tổ bị đục, luân lý của cha ông bị bùn hóa, thì chỉ có sự hy sinh trong ý nguyện trong sạch hóa dòng nước trong thượng nguồn thủa nào. Đúng ! chỉ có sự hy sinh biết rửa bẩn thành trong, đục ngầu thành thanh khiết, một sự hy sinh tự trong sạch hóa, vừa biết đường đi nẻo về thượng nguồn, vừa biết đi tới, chảy tiếp trong dòng luân lưu của lương tri trong suốt, vượt thắng đục nội xâm, vượt thoát bẩn ngoại xâm.

Hệ vong

Đồng bào là một hệ chỉnh và chuẩn của đồng huyết, đồng nòi, đồng tông, đồng tộc, đồng tích… nó đối nghịch để đối kháng với hệ vong chính là thảm họa cho Việt tộc : vong quốc thì sẽ vong thân, mà vong thân thì sẽ vong hồn, mà thân phận vong hồn chính là số kiếp của oan hồn. Việt tộc không để mất nước, mất đất, mất biển, mất đảo chính là đang vong hồn tiếp tục nuôi dưỡng rễ đồng bào, gốc đồng nòi, cội đồng tông, nguồn đồng nòi. Rễ, gốc, cội, nguồn này chỉ sinh ra cây đẹp, trái ngon, vì quen nước, quen cái, quen tự biển, rừng, núi, đồi tới quen nết, quen tục, quen quê, quen duyên : thắm tông ta biết tích mình nơi đây !

Vượt thắng thăng trầm

Đồng bào sẽ cùng nhau đồng hành xuyên qua lịch sử, vượt thử thách của thời gian để khẳng định một không gian ngay trên quê cha, đất mẹ, khẳng định là quyết đoán vượt thoát thử thách để vượt thắng thăng trầm. Quyết đoán trong quyết tâm để đồng bào không là huyền tích của một huyền thoại mà là sử lý của sử luận Việt tộc cùng mẹ, cùng cha, cùng bào thai. Hãy vượt qua khó khăn bằng bước vững mạnh của tỉnh táo biết giữ đất ; hãy vượt qua gian nan bằng bước chắc nịch của sáng suốt biết giữ biển. Quyết đoán trong quyết tâm để quyết định xóa nội xâm của bạo quyền độc đảng chìm trong độc hại, của tà quyền tham quan đắm trong tham ô, của ma quyền tham tiền đuối trong tham nhũng. Quyết đoán, quyết tâm, để quyết liệt trong quyết luận không lùi, cũng không rơi bẫy của Tàu tặc, Tàu tà, Tàu họa, Tàu nạn, Tàu hoạn đang đe dọa đạo-nghĩa-sinh-tồn-đồng-bào của chúng ta.

Ý thức đồng bào

Đồng bào, như lãnh thổ bất diệt của ký ức, một ký ức đã khắc tâm ghi cốt trong sử luận của Việt tộc, ký ức này không chỉ là trí nhớ mà nó đã trở thành và đã trưởng thành như ý thức tập thể, ý thức cộng đồng, ý thức quốc gia, tên của nó là : ý thức đồng bào ! Một ý thức đồng bào có mặt thường xuyên để xuất hiện thường trực trong thực thể của Việt tộc, vì ký ức này vừa được khách quan hóa qua lịch sử, văn hóa, giáo lý… của Việt tộc, vừa được chủ quan hóa trong mọi hành động yêu nước của tôi, mọi hành tác thương nòi của tôi. Chính ký ức đồng bào dầy sung lực ý thức đồng bào đã giúp mọi công dân Việt, đã giúp tôi thành chủ thể luôn chủ động trong mọi hành động bảo vệ bờ cõi của tổ tiên, luôn chủ quyết trong mọi hành tác vạch mặt chỉ tên bọn phản dân hại nước. Lột mặt nạ bọn buôn dân bán nước, đây là thượng nguồn của hành trì ý thức đồng bào, mà phương trình ký ức-ý thức-đồng bào đã được vận hành để trở thành chủ thể-chủ quyết-chủ động là phải bảo vệ dòng nòi trong hạ nguồn nơi mà mọi con dân Việt đều có chung một dòng sinh mệnh, với nội dung : đồng mệnh !

Nhận thức đồng bào

Đồng bào, nếu hai từ này có giá trị của một tâm thức đã làm nên đạo lý đồng chốn trong đồng hội đồng thuyền, thì từ đạo lý sâu lắng của tư duy mỗi con dân Việt là sự có mặt của một nhận thức đồng bào. Từ đây xuất hiện một phép mầu nhận thức đồng bào luôn có thể vận dụng để sử dụng tức thì trong tức khắc là chúng ta phải luôn dùng : ái ngữ, hoà ngôn với mọi đồng bào của mình. Tại sao tôi lại "dám" đặt tên là : phép mầu nhận thức đồng bào, vì đây là chính là thái độ văn minh đã song đôi cùng lứa với hành tác thông minh, để hiểu và sống theo đạo lý Việt : "Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau". Gần gũi nhau qua ái ngữ, hoà ngôn đã hội tụ đạo lý Việt, luân lý Việt, đạo đức Việt vào chung một chân trời thông minh của văn minh đồng bào. Từ đây, mọi người Việt sống với nhận thức đồng bào, nhận thức này không hề ở sau lưng chúng ta, nó ở trước mặt chúng ta, nó chính là chân trời đồng bào cho mọi chúng ta đi tới.

Nội thức đồng bào

Đồng bào là kết quả của phương trình ký ức-lý trí-niềm tin, nơi mà ký ức là không gian của sử luận, lý trí là không gian của tri thức, và niềm tin là phải tin để hiểu. Ký ức không còn phải là trí nhớ mà là sự vận hành của tâm linh nơi Việt tộc đã sốngđã tinđã có về nội thức đồng bào. Chính nội thức đồng bào của Việt tộc đã được dân tộc hóa không ngưng nghỉ, để ký ức đồng bào thành hằng số của lập quốc, để giữ dòng nòi, giữ đất nước. Phương trình ký ức-lý trí-niềm tin, là tổng thể mà cũng là thuần thể của một không gian mà ta không thể tách, không thể chia, không thể bẻ, không thể xé, không thể lột ký ức ra khỏi lý trí, để phân lý trí ra khỏi niềm tin. Bạo quyền độc đảng phản dân hại nước, tà quyền tham nhũng buôn dân bán nước, ma quyền tham tiền buôn thần bán thánh, chính là bọn âm binh lòn lách trong thực thể đồng bào, nhưng chính chúng đã đánh mất từ lâu rồi nội thức đồng bào của phương trình ký ức-lý trí-niềm tin.

giailuan11

Cái đẹp sơ nguyên

Đồng bào, chính là cái đẹp sơ nguyên làm nên mọi cái đẹp hiện hữu của đồng tổ, đồng đất, đồng nước, đồng quê. Từ đây, liên đới giữa đồng dòng, đồng nòi, đồng tông, đồng tộc đồng tổ, đồng đất, đồng nước, đồng quê sẽ làm nên sức mạnh xóa tan mọi thăng trầm, cho người Việt bớt khổ, cho đời Việt bớt buồn, mở lối cho thăng trầm phải qua đi, cho trầm luân không còn ám kiếp Việt nữa. Đồng bào đích thị là định luận của các giá trị tâm linh Việt, có mặt như một hùng lực để xóa đi nỗi khổ niềm đau của nhân kiếp Việt. Tiếng thương đồng bào trong từ miệng chúng ta sẽ dẫn chúng ta đến một đồng lộ để từ đó tiếng thương đồng bào sẽ là tiếng thương muôn loài, tiếng thương yêu người, có tiếng thương người như thương thân… thương người như thương mình…

Nhân dạng đồng bào

Đồng bào, hai chữ mà một nghĩa trợ duyên để trợ lực Việt tộc thoát khổ nạn trong ngục tù của bạo quyền, qua ý thức đồng bào giờ đã thành trí tuệ vì nhân lý, giờ đã là nhận thức của tuệ giác vì nhân tính, đây là chuyện hằng ngày hiện nay của lương tâm Việt tộc, đang trong vòng lao lý bất nhân của liên minh âm binh giữa bạo quyền độc đảng, tà quyền độc tài, ma quyền độc tôn. Mỗi khi thực thể đồng bào bị vật vã, khi sinh mệnh Việt tộc rơi trong cuồng quyền, thì sự xuất hiện của huyền lực đồng bào vực dậy chiều cao của nhân phẩm, để đánh thức chiều sâu của nhân tâm, để khơi ra chiều rộng của nhân từ, và nối theo chiều dài của nhân đạo để Việt tộc nhận ra nhân dạng đồng bào. Sức mạnh tâm linh trong đồng chuỗi làm nên động lực của đồng bào : vực dậy-đánh thức-khơi ra-nối theo để tái tạo sức sống cho Việt tộc.

Tơ duyên đồng thai – Trần duyên đồng nghén

Đồng bào, có thượng nguồn là đồng duyên : "Nhờ duyên ta biết quê mình nơi đây". Một câu vừa ngạn ngữ, vừa dân ca của Việt tộc, mang sung lực biến cái tôi thành cái ta để ra cái mình (quê mình). Hai chữ đầu : nhờ duyên đã tạo ra cả một vũ trụ mới, được mở ra khi mọi điều kiện tốt lành đã có để tụ duyên trước khi thành đồng bào của nhau, có quê mẹ đất cha để khởi duyên, để một duyên-hai nợ-ba tình được khơi mào. Không cảm nhận hết hai chữ đồng duyên, thì sẽ không đứng bền trên không gian văn hóa Việt được, không sống dài trong thời gian văn minh Việt được, nhất là không ra vào thảnh thơi được trong cõi tâm linh văn hiến Việt được. Có duyên thì có mọi chuyện, từ đồng cha tới đồng mẹ, còn duyên thì không có gì cả, thậm chí còn bị coi là vô phúc nữa : vô phúc vì thiếu tơ duyên đồng thai, vô phúc vì vắng trần duyên đồng nghén. Riêng từ : nhờ, vừa là chỗ dựa cho hội duyên đồng lứa, vừa là sức bật cho xướng duyên đồng nòi, vì nhờ đây là kết quả của hợp duyên đồng tông ; nơi mà mọi điều kiện thuận lợi đã có để đồng tích, nơi mà tam cảnh (bối cảnh, hoàn cảnh, tâm cảnh) đã nhập làm một để thành : thuận duyên đồng bào

Tâm lực đồng nòi – Trí lực đồng tông – Thể lực đồng tộc

Đồng bào, làm nên định nghĩa đồng thai mang tâm linh có tầm vóc của nhân từ cha, có nội công của nhân nghĩa mẹ làm nên nhân đạo con, để các thế hệ mai sau nhận ra nhân văn trong luân lý đồng bào, với nhân bản trong giáo lý đồng tông, cùng nhân vị trong đạo đức đồng tộc và cứ thế làm người với chiều cao tâm linh đồng nòi. Từ chối sống bằng bản năng "đói ăn, khát uống" của ma lực ; chối từ sống bằng thú tính "ăn tươi, nuốt sống" của bạo lực, để chống được tà tính vong thân mang tà lực vong quốc. Giáo lý đồng bào, trước khi con dân Việt tiếp nhận giáo dục trong học đường và kiến thức ngoài xã hội, đó là các giá trị tâm linh của hệ đồng : đồng mẹ, đồng cha, đồng nghén, đồng thai, đồng nòi, đồng tông, đồng tích… Các giá trị này không hiển hiện ra hằng ngày trước mắt ta, mà là một nội công của tâm lực đồng nòi làm nên trí lực đồng tông, vực dậy thể lực đồng tộc để cứu nước, để giữ nước.

Huyền sử tâm linh, hằng sử đạo lý

Hai chữ Đồng bào, mang một sức mạnh luôn cao hơn một thực thể mà ta va, chạm, rờ, mó được. Đồng bào có một sức mạnh vừa huyền sử vừa tâm linh, vừa hằng sử vừa đạo lý, vì hai chữ đồng bào là tầm nhìn của một dòng nòi làm nên tầm vóc của dân tộc. Tầm nhìn cao làm tầm vóc lớn theo, tầm nhìn càng xa tạo tầm vóc càng rộng, tầm nhìn càng sâu dựng tầm vóc càng hướng thượng : đồng thượng là đồng nhìn về một hướng cao, sâu, xa, rộng, để làm đẹp cho nhân dạng của mình, cho nhân dạng của đồng loại đang đồng tộc, đồng tông với mình. Tầm nhìn cao làm nên đời sống cao, tầm nhìn cao này hoàn toàn nghịch lý với các tầm nhìn ích kỷ, vị kỷ, ai chết mặc ai… Tầm nhìn cao này lại càng nghịch lý và nghịch luận với các tầm nhìn của tà quyền phản dân hại nước của loại cõng rắn cắn gà nhà ; của ma quyền buôn dân bán nước của loài mang voi về dày mả tổ… Đồng thượng trị vì bằng tầm nhìn cao với đời sống cao, nó nghịch chiều nghịch hướng với tầm nhìn tà với đời sống ma.

Dân tộc và nhân quyền

Khi nghiên cứu tính đa văn hóa, đa văn minh, đa văn hiến giữa các sắc tộc, các dân tộc, các châu lục… tôi nhận ra các kinh nghiệm khác nhau, đưa tới các định đề rất khác nhau, rồi từ đó có những định luận khác biệt nhau, nên xin đề nghị các giải luận sau : tính phổ quát nhân quyền bằng tổng thể, tại đây nhân quyền là một phạm trù có sức mạnh tổng hợp được mọi sức mạnh khác nhau như tự do, công bằng, bác ái công nhận, vượt lên sự khác biệt văn hóa, văn minh, văn hiến giữa các sắc tộc, các dân tộc, các châu lục. Muốn quản trị được một tổng thể thì bản thân nhân quyền phải có tổng lực, với vị thế ở trên cao với sức hút của nó vừa tạo được hội tụ cho mọi khác biệt, vừa nâng cao mức độ nhận thức về nhân phẩm, chính là điểm đến của nhân quyền. Tính phổ quát nhân quyền bằng tiến bộ, trong đó nhân loại không chỉ hưởng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật, mà còn có các tiến bộ về tư tưởng, triết học cùng các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Ta cũng không quên các tiến bộ của văn minh trong đó mỗi lần có sự hoàn thiện hóa về đạo lý, mỗi lần có sự hoàn chỉnh hóa về đạo đức, là mỗi lần giá trị nhân quyền được thăng hoa thêm.

Nhân quyền và đấu tranh

Tính phổ quát nhân quyền bằng đấu tranh, nơi mà tiến bộ của nhân quyền là kết quả tích cực qua đấu tranh giữa các quyền lợi đối kháng nhau trong xã hội, và sự xuất hiện của các lập luận về nhân quyền luôn là sự hiện diện để bảo vệ không những của tự do, công bằng, bác ái, mà cả về dân chủ và đa nguyên. Mỗi lần nhân loại tiếp nhận được kết quả tích cực qua đấu tranh trên nền tảng của công lý, thì công luật cùng công pháp sẽ ra đời để pháp luật hóa công lý mới được mọi người công nhận. Tính phổ quát nhân quyền bằng hội nhập, nơi mà hội là cơ sở của hòa, có hòa hợp để hòa giải, mà không qua xung đột, đấu tranh, ngược lại dựa trên các thỏa ước xã hội biết dung hòa để điều chế sự khác biệt về quyền lợi giữa các giai tầng khác nhau trong xã hội, tính riêng biệt về tư lợi của mỗi cá nhân, mà không có kình chống, không có đàn áp, không có sát phạt, khi mọi thành phần xã hội, mọi cá thể đều là công dân cùng nhau công nhận các công lý chung để bảo vệ nhân quyền.

Sáng tạo sạch tách quan hệ đỏ

Sự khác biệt có ngay trong vai trò chủ thể của tư bản phương Tây biết chủ đoán để chủ động trong đầu tư. Sự thành công của tư bản phương Tây dựa trên kinh tế tri thức để có công nghiệp sáng tạo, rồi biến công nghệ truyền thông thành công cụ và phương tiện cho toàn cầu hóa từ trao đổi dịch vụ tới trao đổi thông tin. Họ thăng hoa để vinh danh cùng lúc với kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ, thông tin… biến câu chuyện thứ nhất có tự do rồi thành câu chuyện thứ nhì rất thông minh vì rất sáng tạo là ngày ngày phải có tự do hơn. Nên họ thấy tư bản gia đình, tư bản thân hữu, tư bản tham nhũng dựa vào độc đảng nắm độc quyền kiểu Việt Nam hiện nay chỉ thành công trên bất động sản, bằng chính quyền cướp ngày là quan sinh đẻ ra ma quyền bất động sản trộm, cắp, cướp, giật đất đai của nhân dân. Một sớm một chiều giầu có, nhưng cũng một sớm một chiều biến dân lành của dân tộc mình thành dân oan, nên đồng nghề tư bản, nhưng không hề đồng thuyền trong đồng đầu tư, không hề đồng hội trong thành quả lao động. Vì vậy tư bản phương Tây xem tư bản đỏ của Việt Nam hiện nay chỉ là loại man rợ buôn gian bán lận. Thành công vì đồng lõa với bạo quyền độc đảng, thành tựu nhờ đồng mưu với tà quyền tham quan, thành tiền nhờ đồng môn qua ma quyền tham nhũng. Bọn tư bản đỏ này không hề thành tài nhờ chính tri thức sáng tạo của chúng như các lực lượng tư bản của kinh tế tri thức của công nghiệp sáng tạo.

Giáo dục dân chủ

Ngay trên thường nguồn của dân chủ từ khi các lý thuyết gia đã phạm trù hóa định chế của nó để sinh hoạt dân chủ được vinh danh và thăng hoa trong xã hội, thì ta đã thấy vai trò của giáo dục. Chính giáo dục giúp cá nhân cởi bỏ được ích kỷ vụ lợi để nhận ra công ích tập thể. Giáo dục giúp cá thể yêu nước thương dân qua yêu quý lợi ích tập thể. Giáo dục giúp công nhân cởi bỏ được ích kỷ vụ lợi để nhận ra lợi ích chính trị là bảo đảm, bảo trì công ích tập thể. Giáo dục giúp công nhân làm rõ hoài bảo của nhân sinh muốn bảo vệ nhân phẩm của mình trong không gian chung của tập thể mà không quên không gian riêng của cá thể. Giáo dục giúp công nhân yêu nước thương dân bằng yêu luật trọng pháp trong đó công bằng là nền của công lý, công lý là mái nóc của công pháp.

giailuan12

Có những người không may hằng đêm phải lấy vỉa hè làm chỗ ngả lưng

Quyền lợi nhập vào quyền lực để thí đi đạo lý của công bằng

Giáo dục về dân chủ phải đa dạng như sinh hoạt của nhân sinh, tại đây giáo dục về thể chế dân chủ qua định chế và qua cơ chế khác với giáo dục về sinh hoạt dân chủ qua đời sống kinh tế và quan hệ thương mại. Khi tách biệt được hai nội chất rất khác nhau của chúng, các chuyên gia về sinh hoạt dân chủ yêu cầu các chính quyền dân cử phải bảo vệ dân chủ, mà đạo lý đầu tiên là không để quyền lợi nhập vào quyền lực. Cụ thể các chính quyền này không thể để những chủ nhân giàu đã nắm sức mạnh kinh tế, giờ lại nắm chính quyền. Những chủ thầu giàu trong thương mại, giờ lại nắm chính quyền. Những chủ đầu tư trong tài chính, giờ lại lại nắm chính quyền. Vì khi quyền lợi đã nhập nội vào quyền lực, thì nó thí đi đạo lý của công bằng, thải đi đạo đức của giáo dục, có hai tư tưởng gia về sinh hoạt dân chủ đã phân tích sâu vào quá trình giáo dục về dân chủ.

Cái giáo của dân chủ

Cẩn trọng với cái giàu, và cái nhiều vì khi nó có mặt nó sẽ hủy cái tốt, diệt cái lành, cụ thể là xóa cái đức của dân chủ. Rồi phải cẩn trọng trước các lợi ích của cá thể bất chấp công ích xã hội, vì có sự xung đột giữa những cái ít, và cái nhỏ làm nên cái xấu, tạo ra cái tồi, để rồi diệt đi cái giáo của dân chủ. Khi công nhận là có lòng tham không đáy của kẻ giàu, cùng lúc cũng thừa nhận là có cái tham không lường được của kẻ nghèo, thì giáo dục về dân chủ đi thêm một bước nữa để làm sáng tỏ một sức mạnh kinh tế có trong sinh hoạt dân chủ, đó là tự do thương mại : nếu tự do thương mại là tự do trao đổi hàng hóa giữa các dân tộc, giữa các quốc gia, giữa các vùng miền, giữa các châu lục… thì động cơ của tự do thương mại rất tốt lành cho quan hệ quốc nội và quốc ngoại, cho quan hệ quốc tế, cho quan hệ liên vùng, liên châu lục. Nhưng nếu tự do thương mại là tự do mua gian bán lậu, lại dựa trên sự bóc lột của kẻ giàu là chủ trên lưng, trên đầu kẻ nghèo là thợ với điều kiện lao động tồi, với lương bổng tục, thì phải kết án và đặc biệt cảnh giác về loại thương mại này, vì chính nó sẽ lén lút diệt dân chủ bằng bóng đêm bất công của nó.

Chủ thể vì công bằng

Nếu định nghĩa chủ thể là cá thế có chủ quyết về tự do của mình, có chủ định về số phận của mình, bằng sự chủ động có nhận thức về bổn phận và trách nhiệm của mình trước cộng đồng, tập thể, dân tộc, nhân loại, tôn trọng môi trường, trân trọng môi sinh ; thì chủ thể vì công bằng là loại chủ thể nào ? Đó là chủ thể trên ít nhất ba nhận thức : chủ thể kinh tế, có tự trọng trước lao động ; chủ thể chính trị, có tự chủ trước thể chế ; chủ thể pháp lý,tự tin trước công lý. Khi nhận ra được định nghĩa cùng định luận của chủ thể, ta sẽ nhận rõ được hành động và hành tác của chủ thể trước công bằng, mà công bằng căn bản và phổ quát là công bằng xã hội, nơi mà chủ thể biết sống chung trong quan hệ xã hội với tha nhân mà không là nạn nhân hay thủ phạm của bất bình đẳng gây ra bất công trong quan hệ này. Chủ thể biết sống cùng trong đời sống xã hội với tha nhân mà không là nạn nhân hay thủ phạm của bóc lột gây ra tha hóa trong đời sống này. Chủ thể biết sống với sinh hoạt xã hội với tha nhân mà không là nạn nhân hay thủ phạm của bất nhân gây ra thất đức trong sinh hoạt này. Như vậy, sẽ không có công bằng xã hội thực sự nếu không có các công dân chính là chủ thể của hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức, tỉnh thức) trên nền tảng của cộng hòa với tự do, công bằng, bác ái và dân chủ với đa nguyênnhân quyền.

Chủ thể văn minh vì nhân quyền

Khi phạm trù nhân quyền dùng luật pháp để bảo vệ quyền lợi của cá nhân, mà chính cá nhân này chỉ thấy tư lợi trong đời sống của nó, mà không thấy quyền làm người, tức là nhân quyền luôn cao, sâu, xa, rộng hơn tự lợi của cá nhân. Từ đây, cá nhân trong quá trình nhân trọng phải trở thành chủ thể đôi chủ thể luật pháp vì nhân quyền, nơi mà xã hội tôn trọng nhân quyền bằng công pháp có thể xử và phạt cá nhân khi tư lợi của cá nhân này đe dọa và gây thiệt hại cho xã hội. Và chủ thể văn minh vì nhân quyền, đưa cá nhân vào quỹ đạo biết tôn trọng luật pháp, cùng lúc vượt lên phạm trù thuần túy của luật pháp, ngay trong quan hệ xã hội, mà không cần sự hiện diện của luật pháp, trong đó cách đối nhân tử tế trong xử thế đàng hoàng, với sự thông minh đứng đắn biết tôn trọng lẫn nhau. Sự hình thành chủ thể đôi này (chủ thể của luật pháp, chủ thể của văn minh) chính là sung lực của nhân quyền không chỉ biết dựa trên luật pháp, mà còn vận dụng thường xuyên cách hành xử văn minh trong thông minh vì biết tôn trọng lẫn nhau trong cuộc sống chung.

Chủ thể và ý thức

Khi nhân quyền đưa cá nhân có bản lĩnh của chủ thể, thì chủ thể này có chủ quyết trong hành tác bảo vệ quyền lợi của mình bằng cách tiếp cận không những qua lao động mà còn qua kinh tế, trong đó cá nhân công nhận sự có mặt của thị trường, mà cũng là nơi mà tự do cạnh tranh hiện hữu. Có chủ động trong hành tác bảo vệ quyền lợi của nhân quyền, khi nhân quyền bảo vệ chủ quyền theo nghĩa chính đáng vì cá nhân, mà cũng theo nghĩa rộng mở nhất vì tập thể, vì cộng đồng, vì nhân loại. Chủ thể có trợ lực của nhân quyền là chủ thể của ý thức vì chủ thể là thành viên của xã hội với đầy đủ điều kiện của kiến thức tri thức, về chế độ chính trị mà chủ thể đó hằng ngày sinh sống để chủ động từ nhận thức tới tỉnh thức trước bất bình đẳng, bất công mà mình và đồng loại phải gánh chịu. Chủ thể là thành viên của xã hội nhưng không công nhận thân phận nạn nhân trong xã hội đó, cụ thể là không chấp nhận bị xiềng xích bởi chế độ chính trị, ngày ngày vùi lấp quyền làm người của mình, không những bằng bạo quyền công an trị, mà cả bằng tà quyền tham nhũng trị, có đồng minh là ma quyền tham tiền trị.

Nhân chủ là giá trị của nhân quyền

Nhân quyền với chủ thể chính là công dân sống trong cùng một xã hội, nơi mà nhân quyền không thể chỉ định nghĩa bằng tự do cá nhân, mà phải bằng một phạm trù rộng hơn : sống chung vì muốn chung sống, tại đây chúng ta có đề nghị sống chung chỉ thực hiện được với những thành viên được tham khảo, được phát biểu, được quyết định chung với nhau về cách chung sống, nơi mà mọi thành viên này có cùng một ý thức thượng nguồn là ý thức có chung một công bằng, như nhau. Sống chung qua thời gian nơi mà hiện tại được hưởng những tài sản của tổ tiên để lại để làm vững mạnh hơn hiện tại của một cộng đồng, khi mọi thành viên cùng nhau chia sẻ chung một số phận ; tại đây chủ thể quản lý tài sản của quá khứ vì muốn sống chung đã trở thành chủ thể quản lý số phận chung trong tương lai. Nhân chủ là giá trị của nhân quyền được hiểu theo nghĩa chung (sống chung để chung sống) không hề tùy thuộc vào nghĩa riêng (sống riêng để riêng sống).

Chủ thể dân chủ đấu tranh vì nhân quyền

Câu chuyện về nhân quyền là tự truyện về mức độ làm nên trình độ : khi ta có bác ái với lòng trắc ẩn chia ngọt sẻ bùi với tha nhân, chia sẻ niềm đau nỗi khổ với đồng bào, với đồng loại thì chữ nhân của nhân loại sẽ có được tầm vóc cao, kích thước rộng, nội công mạnh, bản lĩnh lớn hơn hẳn ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu… Vì kẻ chỉ biết ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu thì có thể làm người nhưng chưa chắc đã được làm nhân, nhân đây có gốc rễ, cội, nguồn của nhân tâm, nhân từ, nhân đạo, nhân nghĩa, nhân bản làm nên sung lực trong lý luận rồi hùng lực ngay trong đấu tranh vì nhân quyền. Tại đây, nhân quyền vừa là hành động của hiện tại, vừa là hoài bão của tương lai ; vừa là quy trình đấu tranh hằng ngày, vừa là chân trời trước mắt, nhân quyền là động lực để đấu tranh, mà nhân quyền cũng là tuệ giác ngay trong lao lý khi họ bị độc tài phản dân quyền tù đày, tra tấn, hành hạ. Bạo quyền khi sợ không lùi bước trước luân lý của nhân quyền, nhưng nó luôn tránh né phải trực diện để đối thoại về tuệ giác của nhân quyền, vì nhân quyền vừa là trí tuệ của nhân trí, vừa là giác ngộ của nhân bản. Nhân quyền chưa là một sự thật mà chúng ta đã cầm trong tay, nhưng nhân quyền là tri thức để ta nhìn ra chân trời của nhân phẩm, cùng lúc nhân quyền là dàn phóng đưa ta tới chân trời đó, một chân trời vừa đúng cho nhân bản, vừa đẹp cho nhân văn. Bạo quyền không sợ đạo đức của nhân quyền, nhưng nó sẽ biết ngượng trước cái đúng cho nhân bản, biết nhục trước cái vừa đẹp cho nhân văn.

Vượt thắng đục nội xâm, vượt thoát bẩn ngoại xâm

Nắng ba năm ta không bỏ bạn, mưa một ngày bạn đã bỏ ta, chân lý nhân sinh để nhận diện ra sự phản bội mà cũng là trí khôn Việt tộc để nhận ra sự phản trắc của một lực lượng chính trị, mượn xương máu đồng bào để cướp chính quyền rồi lộng quyền-lạm quyền-tham quyền, để bội phản chống dòng nòi, để bội bạc với tổ tiên. Mỗi chọn lựa nhân vị có cái giá của nó, mỗi chọn lọc nhân cách có cái hy sinh của nó. Đúng ! chỉ có sự hy sinh biết rửa bẩn thành trong, đục ngầu thành thanh khiết, một sự hy sinh tự trong sạch hóa, vừa biết đường đi nẻo về của đạo lý Việt, vừa biết đi tới, chảy tiếp trong dòng luân lưu của lương tri Việt tộc trong suốt, vượt thắng đục nội xâm, vượt thoát bẩn ngoại xâm [1]. Và ngay trên thượng nguồn, khi nội xâm đang vơ vét tiền bạc của dân tộc, đang nạo vét tài nguyên của đất nước, thì mọi con dân Việt có lương tri phải tự biết đặt cho mình các câu hỏi sau đây : Cuộc sống hiện nay của Việt tộc mà chúng ta đang sống đây có phải là cuộc sống thật hay không ? Sự thật ở đâu khi chế độ độc đảng có độc quyền bưng bít, đánh tráo sự thật ? Chân lý ở đâu khi chế độ độc trị đang quản trị dân tộc bằng tuyên truyền mang trá ? Lẽ phải ở đâu khi cả xã hội Việt đang sống bằng sự giả dối nơi mà mọi giá trị đạo lý đều bị truy diệt ?

Những ai phải "bụi đời"

Thân phận không phải là số phận, thân phận mang không gian của hiện tại, số phận phải đèo số kiếp dài theo thời gian ; nhưng thân phận hiện tại nói lên số phận tương lai ; vì thân phận là chỉ báo (vì là điềm báo) cho số phận, vì cả hai vừa là nhân và vừa là quả, gắn liền với nhau trong nhân kiếp. Thân phận bụi đời không nhất thiết là thân phận mồ côi, vì có kẻ có cha mẹ có nhà nhưng thành bụi đời, có người mồ côi nhưng suốt kiếp không thành bụi đời ; nhưng mồ côi cha lẫn mẹ, rồi không người bao bọc, chở che, và hoàn cảnh mồ côi không nơi nương tựa rất dễ rơi vào bi nạn bụi đời. Thân phận bụi đời làm nên số phận bụi đời, không phải là một đường thẳng từ đầu tới cuối kiếp người, mà thân phận bụi đời là những đoạn đường rất khác nhau, tùy cá nhân, tùy hoàn cảnh, nhất là tùy thuộc vào các chính sách an sinh xã hội, trong đó chính quyền phải chịu trách nhiệm, chính phủ phải nhận trọng trách trước thực trạng xã hội này. Thân phận bụi đời có thể bắt đầu rất sớm từ lúc còn là thiếu nhi, đây là trung tâm nghiên cứu và ngã tư khảo sát của tiểu luận này, có khi kéo dài cả đời, rồi để lại rơi vào chuyện tái sản xuất hiện trạng thân bụi, mà xã hội học gia đình và giáo dục gọi tên là : tái sản xuất xuyên thế hệ.

Thân phận bụi đời : thảm kịch của bất công

Thân phận bụi đời cũng có thể là những đoạn đường của một cá nhân, một gia đình, phải chịu nhiều lần thảm cảnh thân bụi ; đã thoát ra được họa cảnh bụi đời, nhưng họ luôn là con mồi trước mọi áp bức, bất công, bạo lực… đẩy đưa họ lại con đường cũ : bụi đời. Đây là hệ lụy của các nạn nhân ngắn cổ bé họng, trong một hệ thống hàng dọc của bạo quyền lảnh đạo, tà quyền tham quan, ma quyền tham đất vì tham tiền, biến dân lành thành dân oan, rồi thành dân bụi, mà không có một cơ chế công lý nào bảo vệ các nạn nhận này. Thân phận bụi đời nói lên thảm kịch của bất công trong xã hội, tại đây các nạn nhân bụi đời bị xem như sống ngoài lề của đời sống xã hội hiện tại, bị loại ra khỏi trong sinh hoạt xã hội hằng ngày, bị bứng gốc khỏi quan hệ xã hội bình thường. Họ vô hình trong cách tính của chính quyền, họ vô dạng trong thống kê của chính phủ. Nhưng họ là kết quả tất yếu làm ra hậu quả tức thời tới từ bạo quyền lãnh đạo vô luân, tà quyền tham quan vô cảm, ma quyền tham tiền vô giác. Chính ba cấu trúc : đời sống xã hội, sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội là nội công của xã hội học nạn nhân hóa, làm nên nội lực cho nhân học nhận thức về các nạn nhân trong một xã hội, trong một dân tộc, trong một đất nước.

Bụi kiếp trong loạn kiếp

Lọan kiếp là không có được nghĩ ngơi trong bình thường của trong ấm ngoài êm, trong thực cảnh không nơi nương náu. Nhưng nghiên cứu, khảo sát, điều tra, điền dã… về trẻ mồ côi của Việt Nam có không gian đặc thù của nó, có thời gian đặc biệt của nó, có thời điểm mang đặc tính của nó. Nó không dòng như tác phẩm văn chương hiện thực Những kẻ khốn cùng (les Misérables) của V.Hugo, thực trạng của các trẻ bụi đời Việt hiện nay mang cường độ và mức độ bạo động tới từ bạo quyền của một chế dộ công an trị. Bạo lực lãnh đạo sinh ra bạo động trong một xã hội Việt đã mất phương hướng về giáo dục và đạo đức, với một chính quyền độc đảng chọn độc tài nhưng bất tài trong quản lý, chọn độc trị nhưng lại không biết quản trị, chọn độc tôn nhưng không tôn vinh được một đạo lý nào cho dân tộc, một luân lý nào cho đồng bào. Lọan kiếp là không có mái ấm gia đình, mất đi mọi quy luật từ cha mẹ sinh thành tới tổ ấm có gia phong, trong đời sống bình thường có gia giáo : con cái ở đâu, ông bà ở đó. Hiện trạng trẻ bụi đời tại Việt Nam có dây dưa rễ má của một đất nước bị loạn tâm bởi chiến tranh trong thế kỷ qua, bị loạn thần qua nghèo đói, lại vô phúc song hành cùng bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham nhũng, ma quyền tham tiền, với túi tham không đáy, tạo ra vô cảm "ai chết mặc ai", làm ra vô nhân "bây chết mặc bây".

giailuan13

"Người dưng nước lã" ?

Loạn kiếp có ngay trong văn hóa thân tộc, nơi mà thống tộc trong quy luật "cùng máu mủ", khinh kẻ ngoại nhà, ngoại họ : "người dưng nước lã", rồi đặt tên ác để vinh danh bạo quy luật khép kín này : khác máu tanh lòng. Chính vòng kín này đã loại đi các cơ may, các cơ duyên để kẻ lạ được chấp nhận vào nhà, vào xóm, vào làng… Tại Việt Nam, hiện nay có các nhà, các xóm, có khi có cả làng chọn : ăn xin, ăn mày… như một nghề, dính tới một nghiệp, đã có từ bao đời. Nhưng chính các kẻ cùng nhà, cùng xóm, cùng làng này làm nghề này, họ không hề tự xem họ là : bụi đời ; vì họ có nhà, có họ, có thân tộc… và họ vẫn hãnh diện về họ hàng của họ : chim có tổ, người có tông, nhưng họ không hề có tình tương trợ, cụ thể là nơi nương tựa của những nạn nhân bụi đời mà không có quan hệ thân tộc với họ.

"Trâu đồng nào ăn cỏ đồng nấy" ?

Văn hóa của cộng đồng song hành cùng giáo dục của gia phong, Việt tộc vinh danh lòng đoàn kết, thăng hoa tình tương trợ : máu chảy ruột mềm, lại cùng lúc xiết kín lối vào cửa ra của các cá nhân cùng thân tộc : trâu đồng nào ăn cỏ đồng nấy. Đây là thực tế của văn hóa, nó như con dao hai lưỡi, nó biết củng cố quan hệ gia đình họ hàng, nhưng lại đóng cửa với : người dưng nước lã ; rất tương trợ trong thân quyến, nhưng hững hờ, lạnh nhạt với đồng loại. Thậm chí họ lại dễ dàng dùng luân lý gia tộc để buộc tội tha nhân trong hoạn nạn : đem con bỏ chợ. Hãy xem lại để xét lại văn hóa cộng đồng, giáo dục gia tộc : có thực mới vực được đạo, tại đây phương pháp luận thực nghiệm nhận diện ngữ văn : thực, phải làm nên hai ngữ pháp : thực (phẩm)(sự) thực, dùng điền dã, điều tra, khảo sát, nghiên cứu hiện tượng bụi đời với thượng nguồn là hệ : thực (phẩm), tại đây trẻ bụi đời thiếu ăn, thiếu uống, tức là thiếu thực (phẩm), không có cơm ăn, áo mặc tức là không có các điều kiện vật chất bình thường. (sự) thực qua các chặng đường của các nạn nhân bụi đời trước bạo quyền tham nhũng, trước tà quyền tham quan, trước ma quyền tham tiền, nguồn gốc của bất bình đẳng, có cha sinh mẹ đẻ là bất công.

"Ngựa chạy có bầy, chim bay có bạn" ?

Hai hệ : thực (phẩm)(sự) thực, đã nhập một để giải luận rõ là bất công luôn trá hình dưới ngữ thuật : bất hạnh để chỉ kẻ bụi đời, môt kẻ đã mất tất cả. Mất gia đình lẫn họ hàng, vì đã mất trọn (chú như cha, dì như mẹ). Mất thân quyến lẫn thân tộc, vì đã mất trắng (sẩy cha còn chú, sẩy mẹ ấp vú dì). Mất đạo lý lẫn luân lý lẫn thân tộc, vì đã mất luôn gia giáo (Thà đui mà giữ đạo nhà/ Còn hơn có mẹ có cha không thờ). Nhất con nhì cháu, thứ sáu người dưng đẩy xuống hạng thấp nhất người dưng, rồi đạp xuống tận cùng kẻ mồ côi cha lẫn mẹ, đã rơi vào họa bụi đời : sống bờ chết bụi, với cách xếp hạng để xếp loại : cháu mười đời hơn còn hơn người dưng ; không cho kẻ gặp nạn mồ côi có cơ may : ngẩng cổ ngóc đầu. Khoa học luận phản chứng dùng phản biện để lập ra phản diện, bằng xác chứng là : ngựa chạy có bầy, chim bay có bạn chỉ dùng những ai có cha mẹ, gia đình, mái ấm có đủ tâm lực, trí lực, lý lực để thực thi được đạo đức : một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ, trong khung khép kín giữa với ông bà, cha mẹ, anh em, con cháu trong cùng gia đình ; kiểu tứ đại đồng đường ; hay có thể dùng rộng hơn vì có đủ ý nguyện, ý chí, ý lực phá vỡ khung khép kín của gia tộc, để thực hiện trí khoan dung, tâm dung thứ, lòng vị tha với đồng bào, đồng loại hay không ?

"Nhất con nhì cháu, thứ sáu người dưng"

Nhất con nhì cháu thứ sáu người dưng, làm người dưng có khi không được làm : hạng thấp, hàng kém, mà còn là hạng cuối, hạng bét trong một văn hóa thân tộc khép kín, người dưng thì không có lối ra cổng vào như người nhà, trong loại giáo dưỡng này thì người dưng không những là người lạ, mà còn là người "không đáng quan tâm" theo kiểu nói vô cảm hiện nay. Nên từ văn hóa tới giáo dục, người ta xem người dưng như người mà ta nên phải : lạnh lùng, mà không nên có xúc cảm gì, thế nên mới có câu : người dưng nước lã ; đã là người dưng thì khó trông mong gì vị tha, đừng mong cầu gì về rộng lượng, chớ mong chờ gì về chuyện "rộng lòng", trong cõi này thì không sao một đứa trẻ mồ côi bụi đời có thể được chấp nhận, có thể "lọt vào" được. Cháu mười đời hơn còn hơn người dưng, cái quan hệ thân tộc thành quan hệ thống tộc, nó bền bỉ, nó dài lâu, cháu mười đời mà sao còn rất dai dẳng ; nhưng tại sao lại khép rào đóng cửa với người dưng ? Tại sao chuyện thân tộc bền vững là chuyện hay, chuyện đẹp, sao không làm cho nó cao hơn, sâu hơn, nhất là sao không làm cho nó xa hơn để tiếp người dưng ? Để mở-lòng-rồi-mở-cửa mà đón người dưng, đón trẻ bụi đời (đưa bụi vào đời để hiểu đời) ! Đây đâu phải là chuyện vô bổ, nó là chuyện nhân tâm làm nên nhân tính mà !

Con quan thì được làm quan ?

Con nhà tông không dòng lông cũng dòng cánh, đây là chuyện tái tạo gia đình mà xã hội học đặt tên là : tái sản xuất xuyên thế hệ, đây là ý nguyện của ông bà, cha mẹ muốn thấy con cháu dòng mình từ nhân diện tới nhân dạng, đây là lẽ thường vì là chuyện có thể hiểu được quan hệ máu mủ. Nhưng con vua thì được làm vua, con sãi nhà chùa thì quét lá đa, thì đây là loại tái sản xuất xuyên thế hệ dựa trên bất công, loại này có trong xã hội chỉ làm ta lợm dòng, vì nó lấy bất bình đẳng để tạo ra bất công. Trong thảm kịch của Việt tộc hiện nay con quan thì được làm quan trong một chế độ độc tài với cha làm quan nhưng rất bất tài, sinh ra các đứa con trong một hệ thống giáo dục học giả-thi giả-bằng giả với mua điểm bán thi, để mua bằng bán cấp, và sau đó cha cùng con sẽ cùng nhau thực hiện mua chức bán quyền, rồi lần mò đến buôn dân bán nước cho Tàu tặc. Trong một chế độ độc đảng để độc trị nhưng vô minh trong quản trị. Điếm lộ trong gian kiếp ! Vậy sao không thấy cái hay, cái đẹp, cái lành, cái tốt của người dưng ? Vì nhân thế muôn màu, nhân sinh muôn vẻ, nhân tình muôn dạng trong nhân loại mà ! Có đa nguyên là có đa trí, đa tài, đa lực, đa hiệu, đa năng ; cũng như có người dưng là có đa diện, đa dạng, đa sắc…

nhân tính biết dựa trên nhân từ biết giúp kẻ bơ vơ, vì nhân đạo biết dựa vào nhân tâm biết cứu người lạc lõng, bụi đời, để tạo nên nhân nghĩa biết làm nền cho nhân hậu (ăn ở có hậu). Vì không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời mà ! Vì sông có khúc, người có lúc mà !

Khác máu tanh lòng ?

Khác máu thì là chuyện hiểu được vì không cùng huyết thống, nhưng sao lại phải tanh lòng với người dưng, với người lạ, nhất là với kẻ đang bơ vơ trong mồ côi, đang bụi đời trong cõi người ? Một câu mới đọc tưởng là xuôi nghĩa, nhưng khi đọc kỹ để giải luận thì thấy nhân tâm ta bất ổn, ngẫm thật kỹ thì nhận ra nhân tính ta bất an. Khác nhau vì khác máu, khác người vì không cùng gia đình, thân tộc, chớ có gì đâu mà phải : tanh lòng với kẻ lạ, người ngoài ? Cụm từ tanh lòng rùng rợn quá ! Tanh lòng là nguội lòng, mà nguội tới độ tanh, tức là không ngửi được, không chấp nhận được, không sống chung được… có cái gì bất ổn trong cụm từ tanh lòng này, tự đạo lý của hay, đẹp, tốt, lành tới đạo đức giữa người với người khi sống phải chấp nhận nhau, có chấp nhận nhau mới tôn trọng lẫn nhau được. Cái bất ổn có ngay trong câu nói của kẻ thốt lên câu này, họ hoàn toàn chịu trách nhiệm về câu chữ, về ngôn ngữ, về khẩu nghiệp của họ ! Chớ chẳng có ai khác vào đây tha lỗi hay nhận tội cho họ cả. Họ gạt người lạ, họ vất người dưng ra đường, họ ruồng rẫy trẻ mồ côi, họ xua đuổi trẻ bụi đời khi thốt ra câu : khác máu tanh lòng, thì chính người nghe thấy sự bất ổn trong tri thức của họ, thấy được sự bất an trong nhận thức của họ. Người nghe câu này thấy nhân sinh quan chật hẹp, thiếu vị tha ngay trong nhân tính không rộng lượng của họ ; người nghe câu này thấy thế gian quan chật chội, thiếu khoan dung ngay trong nhân vị không khoan hồng của họ ; người nghe câu này thấy vũ trụ quan bé xíu thiếu từ bi ngay trong nhân đạo không nhân dạng của họ.

Máu nào thắm thịt nấy ?

Những kẻ sống ở cõi người mà mắt họ hí như mắt lương, tim họ bé như hạt cát, nên miệng họ khép như con rít ! Họ sống mà không mở cửa, mở lòng, vì họ không cho phép kẻ khác, người lạ vào cõi của họ ; vậy thì làm sao họ lớn, cao, sâu, rộng lên được ngay trong chính nhân từ của họ, vậy thì làm sao họ hay, đẹp, tốt, lành được ngay trong chính nhân phẩm của họ. Chỉ mong muốn là khi họ đứng trước trẻ mồ côi, ngồi trước trẻ bụi đời, họ đừng nói thêm những câu này : anh em hạt máu sẻ làm đôi, họ đừng khoe khoang anh em họ, mà làm đau lòng trẻ mồ côi, trẻ bụi đời. Rồi máu nào thắm thịt nấy, họ đừng ca ngợi gia đình họ, mà làm bầm gan trẻ mồ côi, trẻ bụi đời. Rồi ngựa chạy có bầy, chim bay có bạn, họ đừng tôn vinh thân tộc họ, mà làm đứt ruột trẻ mồ côi, trẻ bụi đời. Rồi máu chảy ruột mềm, họ đừng thăng hoa thân quyến họ, mà làm lộn não trẻ mồ côi, trẻ bụi đời. Cái ích kỷ thống tộc lộ ra trong Trâu đồng nào ăn cỏ đồng nấy, họ đừng tự kiêu thống tộc họ mà làm tím mật trẻ mồ côi, trẻ bụi đời. Chỉ mong sao là khi họ đứng trước trẻ mồ côi, ngồi trước trẻ bụi đời, họ đừng nói những thành ngữ, ca dao… loại này, và nếu họ không giúp gì được trẻ mồ côi, trẻ bụi đời, thì họ không được quyền chưởi bới, lăng mạ, sỉ nhục chúng !

Đêm đêm mỗi thắp đèn trời, cầu cho cha mẹ sống đời với con

Đêm đêm mỗi thắp đèn trời

Cầu cho cha mẹ sống đời với con,

những ai có cha có mẹ ; rồi sau đó bị mất cha, mất mẹ, nghe câu này thì bầm ruột tím gan ; những ai còn cha, còn mẹ, lo-đứng-lo-ngồi là một ngày kia, cha mình, mẹ mình phải rời cõi đời này, thì hãy thương cha mẹ hơn đi. Ý thức còn cha mẹ tạo nên nhận thức một ngày kia phải mất cha, mất mẹ, cả hai ý thức và nhận thức dựng lên tri thức của mỗi chúng ta về hai đấng sinh thành, hai giá trị thiêng liêng loại hàng đầu trong đạo lý làm người, trong luân lý muốn nên người. Nhưng những trẻ mồ côi rất sớm, những trẻ bụi đời còn ít tuổi, mất cả cha lẫn mẹ, hay bị cha mẹ bỏ đi, bỏ rơi thì chúng không có ý thức, nhận thức, tri thức này, đây là một thiệt thòi, biến khuyết điểm chuyện không cha, vắng mẹ thành khuyết tật mà chúng phải mang cả đời, mang đến trọn kiếp.

Lên non mới biết non cao

Nuôi con mới biết công lao mẫu từ,

câu này đẹp vô cùng với những ai còn mẹ, nhận ra sự hy sinh của mẹ, sau đó làm mẹ và sẽ có nhận thức là mình cũng đã sẵn sàng làm mẹ, mình cũng sẽ biết hy sinh như mẹ. Nhưng câu này trở nên khó hiểu với với một đứa trẻ bụi đời, bị vất ra đường thuở nào, mà nó không sao hình dung nổi về sự hy sinh của một người mẹ, vì nó nghĩ nếu mẹ nó hy sinh đúng nghĩa thì nó đâu có thành : bụi đời ! Nên câu này cũng rất tối nghĩa cho những đứa trẻ mồ côi, nó không thấy mẹ, hoặc thấy quá ít thì làm sao lại bắt nó phải hình dung ra sự hy sinh như non, như núi của mẹ nó.

Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ mới là chân tu ?

Ngôn từ thông thường của chúng ta là ngôn ngữ của những kẻ có cha, có mẹ, có nhà, có gia đình… nên hẳn nhiên là có : máu chảy tới đâu ruột đau tới đó. Những ngữ văn, ngữ pháp đối với chúng ta rất rõ nghĩa, rất sáng ý : tay đứt ruột xót, trở nên lạ lẫm tới lạnh lùng, nó tối chữ nên mờ nghĩa đối với trẻ mồ côi, với trẻ bụi đời. Ngôn ngữ thật bình thường làm nên đạo đức làm con như :

Tu đâu cho bằng tu nhà

Thờ cha kính mẹ mới là chân tu ;

nó trở nên kỳ quặc, có khi quái lạ đối với trẻ mồ côi, với trẻ bụi đời. Vì khi thành bụi đời là bị mất đạo đức làm con ; chưa hết những đứa trẻ này còn mất luôn tình cảm nhớ thương các đấng sinh thành đã qua đời :

Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

Nhưng trong đám trẻ này, có đứa khi xưa, thuở nọ, có biết, có sống chung một thời gian với cha mẹ, thì chúng thấm thía vô cùng các loại câu này :

Chiều chiều xách giỏ hái rau

Ngó lên mả mẹ, ruột đau chín chiều…

Chúng hát cho điếng lòng, cho bầm gan, cho tím ruột câu này :

Chiều chiều ngó ngược ngó xuôi

ngó không thấy mẹ, ngùi ngùi nhớ thương.

Các bạn đọc kỹ nhé : ngó ngược ngó xuôi là kiếp bụi đời, ngó (mà) không thấy mẹ là kiếp : bụi biết đau !

Đắng cay cũng thể ruột rà, ngọt ngào cho lắm cũng là người dưng ?

Đắng cay cũng thể ruột rà

Ngọt ngào cho lắm cũng là người dưng,

thật rõ nhưng cũng thật lạ : đắng cayruột rà thì được, thì nhận, thì cán đáng, thì kham luôn ; còn ngược lại ngọt ngào cho lắm, tức là đã thật ngọt ngào mà đã là người dưng thì không được, thì không nhận, thì gạt đi à ? Sao lạ vậy ? Sao cùng trong một nhân thế mà lãnh thổ phân khắt chia khe vậy ? Sao cùng một nhân sinh mà biên giới lại khắc nghiệt vậy ? Sao cùng một nhân kiếp mà đối xử với nhau nguội lạnh như vậy ? Lá rụng về cội, thì giành cho những ai biết, những ai có quê cha đất tổ, nên mới được biết, mới được có nơi : chôn nhau cắt rún. Còn mà đã mồ côi, đã thành bụi đời thì phải biết ngược lại : sống nay chết mai, vì mang kiếp chết gởi sống nhờ, vì đã là bụi thì phải : sống bờ chết bụi ! Đời cha trồng cây đời con ăn quả là giành cho những ai có cha, có mẹ, có anh chị em, có gia đình, có nhà cửa…

Đới cha ăn mặn đời con khát nước ?

Đã mồ côi, đã thành bụi đời thì có khi phải biết câu ngược lại : Đời cha ăn mặn đời con khát nước, cha hoặc mẹ đã lỡ ăn mặn thì kiếp bụi đời là kiếp chết khát ! Khát nhân từ, khát nhân tâm, khát nhân nghĩa ; khát luôn nhân vị, nhân phẩm, nhân đạoCon đâu cha mẹ đấy là hạnh phúc của gia đình, của cha mẹ, của con cái, chưa hết còn có luôn đạo thờ ông bà trong mọi gia đình của Việt tộc : con cái ở đâu ông bà ở đấy. Cả hai làm nên một đường thẳng xuyên thế hệ mỗi cá thể trong gia đình, không ai lẻ loi, không ai lạc đàn, vì không ai bỏ rơi ai, không ai để ai phải chịu cảnh bụi đời cả. Còn tình đoàn kết, chí tương trợ giữa anh em kiểu Việt thì khỏi lo ra : anh em khinh trước, làng nước khinh sau, vì ai cũng biết đi việc làng giữ lấy họ, đi việc họ lấy anh em. Nên : đường thẳng xuyên thế hệ này chính là đường thẳng liên kết gia tộc, có tên rất đẹp và có hậu : con liền với ruột, nên thật dễ hiểu câu : chim có tổ, người có tông. Có kẻ còn muốn nói cho thật rõ : người nhận họ, chó nhận hơi. Còn đã là mồ côi, đã thành bụi đời thì không sao nói được các loại câu chữ này, vì nói ra chỉ đau lòng cõi bụi ! Vì sống bụi thì phải chuẩn bị kiếp : sớm nở tối tàn ! Vì kiếp bụi đời là kiếp đàn đứt dây rồi !

Chim xa bầy thương cây nhớ bạn, người xa người tội lắm người ơi !

Khi bạn hát bên võng, bên nôi để ru con của bạn ngủ :

"Chim xa bầy, thương cây nhớ bạn

Người xa người tội lắm người ơi !",

bạn hát nhẹ nhàng, thoái mái, rồi bạn thấy con bạn dần vào giấc ngủ, ngủ thảnh thơi, giấc ngủ ngoan hiền. Nhưng có lần tôi thấy một người lớn trong một trại mồ côi, ru một đứa trẻ mới năm sáu tuổi đã bụi đời, cũng câu này :

"Chim xa bầy, thương cây nhớ bạn

Người xa người tội lắm người ơi !",

tôi thấy đứa trẻ từ từ rơi nước mắt, chỉ vài phút sau là nó khóc dàn dụa ! Nó khóc, nó làm tôi "mít ướt" theo, nhớ lại hôm đó tôi cũng khóc như : con nít ! Không khóc sao được ! Bộ chỉ có con nít mà phải là mồ côi, rồi bụi đời, mới được quyền khóc thôi sao, khi "được" hay "bị" ru câu này ; người lớn và "già đầu" như tôi cũng được quyền khóc khi nghe câu này. Bạn ơi, đừng bao giờ "xấu hổ", đừng bao giờ "mắc cỡ", đừng bao giờ "hổ thẹn" khi nghe lời ru buồn, lời ru làm ta đau, thì bạn cứ khóc bạn à ! Có gì "nhục nhã" đâu ! Có gì "đáng cười" đâu khi thấy người khác khóc. Tại đây, để giải thích chuyện khóc là chuyện : th