Nhiệm vụ chính trị cản trở doanh nghiệp nhà nước cải tổ ?
RFA, 23/02/2024
Thủ tướng Việt Nam - Phạm Minh Chính hôm 22/2/2024 ban hành Chỉ thị số 07/CT-TTg về đổi mới quản trị, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh... các doanh nghiệp nhà nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính tại hội nghị làm việc với Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp và 19 tập đoàn, tổng công ty nhà nước đầu năm 2024. Courtesy chinhphu.vn
Trong đó yêu cầu các doanh nghiệp nhà nước đổi mới mô hình quản trị doanh nghiệp theo hướng hiện đại phù hợp với thông lệ quốc tế ; sắp xếp, tinh gọn bộ máy ; nâng cao khả năng cạnh tranh... Ông Thủ tướng cũng yêu cầu các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước tiếp tục dẫn dắt nền kinh tế, bảo đảm doanh nghiệp nhà nước là lực lượng tiên phong dẫn đầu trong đổi mới và phục hồi nền kinh tế.
Yêu cầu các doanh nghiệp nhà nước sắp xếp, tinh gọn bộ máy đã được Chính phủ đưa ra nhiều năm qua, đến nay đã thực hiện đến đâu ? Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương từ năm 1993 đến năm 2002, nhận định với RFA hôm 23/2/2024 về vấn đề này :
"Việc sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước có một số tiến bộ, nhưng hiện nay việc sắp xếp các doanh nghiệp nhà nước còn lại trở nên khó khăn. Bởi vì các nghiệp ấy là các doanh nghiệp có vị trí then chốt trong việc cung cấp các kết cấu hạ tầng và việc sắp xếp lại đòi hỏi có sự thu xếp tổ chức lại một cách rất nghiêm túc. Thứ hai về bộ máy tổ chức, Nhà nước cũng đã có nỗ lực sắp xếp lại bộ máy, tôi hy vọng trong thời gian sắp tới đây, với việc vận dụng kinh tế số, chính phủ điện tử thì bộ máy nhà nước có thể tin giản biên chế, cũng như sắp xếp lại các tổ chức trong việc tận dụng công nghệ thông tin và nâng cao trình độ chuyên môn của viên chức, công chức nhà nước".
Đầu năm 2023, hàng loạt doanh nghiệp nhà nước than lỗ từ vài trăm đến đến hàng chục ngàn tỷ đồng, xin được hỗ trợ hoặc tăng giá. Đơn cử như Tổng công ty Hàng không Việt nam -Vietnam Airlines dù có doanh thu trong năm 2022 phục hồi bằng hai năm trước đó cộng lại, nhưng vẫn than lỗ hơn 10 ngàn tỷ đồng với nguyên nhân được hãng này giải thích là do giá nhiên liệu và tỷ giá biến động mạnh. Dù theo truyền thông Nhà nước, các hãng hàng không tư nhân khác tại Việt Nam đã có lãi.
Một doanh nghiệp nhà nước độc quyền khác là Tập đoàn Điện lực Việt Nam - EVN cũng cho biết năm 2022 lỗ đậm gần 29.000 tỷ đồng. Sau đó EVN cũng cho biết năm 2023 chịu lỗ 17.000 tỷ đồng.
Liên quan các khoản nợ hàng ngàn tỷ đồng của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nói :
"Các khoản nợ của doanh nghiệp nhà nước có nhiều nguyên nhân. Ví dụ như khoản nợ đối với tập đoàn điện, đây là điều khó khăn vì trong thời gian vừa qua, các đầu vào để cung cấp điện như dầu, than và các nguyên liệu khác đều tăng, nhưng giá điện ở Việt Nam do nhà nước quyết định và việc quyết định đó tuy là có nâng lên nhưng chưa đáp ứng được sự biến đổi của giá cả trên thị trường. Vì vậy cho nên việc xác định nguồn gốc lỗ đó ở đâu, và trách nhiệm ở đâu, nhà nước có thể trợ giúp đến mức độ như thế nào... thì đấy là một quá trình không phải là dễ dàng".
Theo ông Doanh, Việt Nam phải tiếp tục cải cách doanh nghiệp nhà nước, vận dụng các thành tựu của khoa học công nghệ để nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước, để giảm bớt các khoản lỗ. Đồng thời cần phải có các vận dụng điều chỉnh giá cả phù hợp hơn với biến động của thị trường. Ông Doanh nói tiếp :
"Việc này thì nhà nước đã có áp dụng, thí dụ như điều chỉnh giá xăng dầu hiện nay, đã có mức điều chỉnh sát hơn với giá thị trường, trong một khoảng thời gian ngắn hơn, so với trước đây rất nhiều".
Tổng công ty Hàng không Việt Nam - Vietnam Airlines. AFP.
Theo báo cáo về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc năm 2022 được Chính phủ gửi tới Quốc hội, trong năm 2022 các doanh nghiệp nhà nước tổng số lỗ phát sinh là 29.456 tỉ đồng ; tổng số lỗ lũy kế là 69.892 tỉ đồng. Đáng chú ý tổng nợ phải trả của doanh nghiệp nhà nước là 1,9 triệu tỉ đồng.
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nguyên Tổng Thư ký và Phó Chủ tịch của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI, từng là thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, khi trả lời RFA trước đây liên quan vấn đề này cho rằng, các doanh nghiệp nhà nước cứ thua lỗ triền miên sẽ gây ra những hậu quả đối với nền kinh tế :
"Các doanh nghiệp nhà nước cứ thua lỗ triền miên sẽ làm cho khối nợ của doanh nghiệp nhà nước lớn hơn, cộng thêm vào khối nợ công đang có của Việt Nam, làm cho vấn đề nợ càng trầm trọng. Nợ của doanh nghiệp nhà nước ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống ngân hàng, làm cho hoạt động của ngân hàng kém hiệu quả đi. Nợ của doanh nghiệp nhà nước cũng làm cho khối tài sản rất lớn của đất nước trao vào tay doanh nghiệp nhà nước không được sử dụng hiệu quả. Do đó nó làm cho nền kinh tế bị kém hiệu quả trong khi các lực lượng khác, nhất là doanh nghiệp tư nhân rất cần các nguồn lực hiện đại thì lại không tiếp cận được".
Ông Nguyễn Đức Trung, Phó cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tại tọa đàm ‘Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp : Nhìn lại và hướng tới’ vào tháng 9 năm 2023 cho biết, ước tính cả năm 2023, tổng doanh thu của toàn khu vực doanh nghiệp nhà nước đạt hơn 1,4 triệu tỷ đồng và tổng lãi phát sinh trước thuế ước đạt hơn 117,3 nghìn tỷ đồng, lần lượt tăng 4% và 9% so với kế hoạch đề ra.
Tuy nhiên theo thống kê của Bộ Kế hoạch & Đầu tư, năm 2023 dù hoạt động có lãi, song các doanh nghiệp nhà nước có lỗ lũy kế và nợ phải trả là khá lớn, bộc lộ nhiều hạn chế như hiệu quả hoạt động, năng lực cạnh tranh chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ.
Theo Bộ này, mặc dù, khoảng 60% nguồn lực xã hội đang tập trung cho doanh nghiệp nhà nước, nhưng khu vực này chỉ đóng góp gần 40% GDP, còn lại 60% của GDP là đóng góp từ doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ; Đồng thời doanh nghiệp nhà nước chưa thể hiện rõ vai trò nổi bật trong việc dẫn dắt, tạo động lực, thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển ; Vẫn còn một số doanh nghiệp hoạt động thua lỗ, hiệu quả đầu tư chưa đạt như kỳ vọng, một số dự án có lỗ lũy kế lớn ; việc xử lý các dự án thua lỗ, kém hiệu quả chưa được giải quyết thấu đáo...
Tiến sĩ kinh tế Nguyễn Huy Vũ từ Na Uy hôm 23/2/2024 khi trả lời RFA cho rằng :
"Các doanh nghiệp mà Nhà nước chiếm 100% vốn của Việt Nam hiện nay chiếm số lượng rất ít, chừng một phần ngàn, nhưng đều là các doanh nghiệp lớn, chiếm giữ lượng lớn về vốn, khoảng 10% tổng vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp, và thường lỗ hoặc lãi ít. Họ không chỉ đóng vai trò kinh doanh, mà họ còn đóng vai trò chính trị, giúp chính phủ điều phối nền kinh tế theo chính sách kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của chính phủ".
Vì các doanh nghiệp này đóng một vai trò chính trị trong hệ thống nên theo ông Vũ, họ ít nhiều có một số quyền lực đặc thù và vì vậy chính phủ khó mà cải tổ được họ. Tiến sĩ Vũ cho biết tiếp :
"Những người nắm giữ các vị trí trong các công ty này đồng thời cũng là các đảng viên đảng Cộng sản. Mỗi công ty là một chi bộ đảng Cộng sản. Họ hoạt động như một chi bộ Đảng hơn là một doanh nghiệp tư nhân nỗ lực vì lợi nhuận và cạnh tranh thị trường. Ở một số lĩnh vực, các công ty này đóng vai trò độc quyền và vì vậy mà họ không có nhu cầu thay đổi để trở nên sáng tạo hay hiệu quả hơn. Bởi đơn giản là họ quá thoải mái với vị trí công ty của mình. Các cán bộ quản lý do đó cũng vậy. Tại sao họ phải chạy đua để thay đổi quá nhiều khi mà công ty họ vẫn giữ một thị phần gần như là duy nhất ở đất nước này".
Theo Tiến sĩ kinh tế Nguyễn Huy Vũ, nếu chính phủ tư nhân hoá các công ty nhà nước và cho phép một số công ty tư nhân khác tham gia vào cùng một lĩnh vực để tăng tính cạnh tranh... thì việc kêu gọi các công ty nhà nước tự cải cách hay tăng hiệu quả mới có thể thực hiện được.
Nguồn : RFA, 23/02/2024
****************************
RFA, 22/02/2024
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam - Phạm Thu Hằng mới đây cho rằng báo cáo thường niên của Tổ chức Giám sát Nhân quyền (Human Rights Watch - HRW) về thành tích nhân quyền tồi tệ của Hà Nội năm 2023 là vu cáo, định kiến với ý đồ xấu nhằm vào Việt Nam, âm mưu phá hoại sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, chia rẽ Việt Nam với cộng đồng quốc tế.
Photo : RFA
Phản hồi trước cáo buộc này, ông Brad Adam, từng là Giám đốc khu vực Châu Á của HRW trong 20 năm, từ 2002 - 2022, nói với RFA hôm 22/2, rằng mục tiêu của HRW là công bố thông tin chính xác và rằng, Chính phủ Việt Nam chưa bao giờ đưa ra một dẫn chứng cụ thể nào mà họ cho là sai :
"Nếu họ muốn nói rằng báo cáo là bịa đặt, họ nên chỉ rõ rằng "ở trang 10, đoạn thứ hai, tuyên bố này là không chính xác" ; Sau đó chúng ta có thể thảo luận về vấn đề đó.
Nhưng họ đã không làm như vậy. Họ chỉ đưa ra một tuyên bố chính trị bởi vì họ không thích việc mà các tổ chức như HRW đang làm là ghi lại những vụ việc và cách thức vi phạm nhân quyền của họ".
Ông Adam cũng khẳng định, HRW là tổ chức phi chính phủ đáng tin cậy, HRW chỉ trích tất cả các chính phủ vi phạm nhân quyền, không chỉ riêng Việt Nam :
"Chúng tôi chỉ trích cả chính phủ Hoa Kỳ. Chúng tôi đã từng kêu gọi George Bush và Dick Cheney phải chịu trách nhiệm trước Tòa án Hình sự Quốc tế và nhà lãnh đạo trên khắp thế giới phải chịu trách nhiệm về tình trạng nhân quyền của đất nước mình".
Qua đó, ông Adam kết luận :
"Không có mục tiêu chính trị nào trong các báo cáo về nhân quyền của HRW cả. Chính phủ Việt Nam cũng biết rằng không có âm mưu tạo ra sự chia rẽ, và đây cũng không phải là chuyện thời sự Đông và Tây trên toàn cầu, mà đó là sự thật. Người dân Việt Nam cần được biết sự thật là gì, và sự thật là họ đang sống trong một chế độ độc tài".
Ông Brad Adam hiện là nhà sáng lập và Giám đốc điều hành của một tổ chức hoạt động về biến đổi khí hậu có tên Climate Rights International. Tổ chức này đánh giá tình hình nhân quyền ở Việt Nam trong năm 2023 không có gì tiến triển. Ông nói :
"Ở trong nước, người dân không có tự do chính trị, còn quyền công dân thì rất hạn chế. Chính phủ đàn áp những người bất đồng chính kiến, các nhà hoạt động và những người chỉ trích chính phủ".
Ông Adam cho rằng, gần đây Chính phủ Việt Nam ngay cả những nhà hoạt động, các chuyên gia lên tiếng vì môi trường, từng hợp tác với Chính phủ trong các chương trình bảo vệ môi trường sống cũng bị bắt bớ, thì rõ ràng "Chúng tôi không thấy bất kỳ cải tiến nào cả".
Báo cáo nhân quyền năm 2023 của HRW nhận định Các quyền dân sự và chính trị cơ bản bị đàn áp một cách có hệ thống ở Việt Nam. Chính quyền, dưới chế độ cai trị độc đảng của Đảng cộng sản Việt Nam, kiềm tỏa chặt chẽ các quyền tự do biểu đạt, tự do lập hội, nhóm họp ôn hòa, tự do đi lại và tự do tôn giáo.
Nói riêng về lĩnh vực đàn áp nhân quyền, ông Adam khẳng định nguyên nhân khiến tình trạng nhân quyền Việt Nam ngày càng xấu đi là vì "Việt Nam cảm thấy họ không phải đối mặt đáng kể với áp lực từ quốc tế".
Một hiện thực có thể dễ dàng nhận thấy trong những năm gần đây đó là việc các chính phủ tổng thống Hoa Kỳ đã bỏ qua, hoặc coi nhẹ vấn đề nhân quyền trong khi thương lượng nâng cấp mối quan hệ với Việt Nam. Ông Adam cho biết Hoa Kỳ coi Việt Nam là một phần trong chiến lược chống Trung Quốc của họ. Vì vậy, Hoa Kỳ ít nói về nhân quyền khi làm việc với các nước ở Đông Nam Á như Việt Nam, Campuchia, Philippines, Indonesia, hay Malaysia...
Chia sẻ về nhận định trên của ông Adam, ông Nguyễn Vũ Bình, nhà quan sát chính trị - xã hội ở Việt Nam cho rằng, chuyện các chính phủ phương Tây chỉ chú trọng an ninh và kinh tế mà coi nhẹ nhân quyền đã xảy ra từ những nhiều năm trước :
"Điều này thì Việt Nam đã biết lâu rồi, cho đến năm 2005 và 2006 thì họ đã biết được là phương Tây họ không đặt vấn đề nhân quyền lên hàng đầu mà chỉ có nâng cao mối quan hệ làm ăn".
Ông Bình cho rằng nguyên nhân chính vẫn là do lãnh đạo đảng đồng lòng muốn dẹp bỏ những mầm mống rủi ro đến sự lãnh đạo của họ :
"Nguyên nhân bao trùm nhất là bởi vì Đảng Cộng Sản họ siết chặt sự kiểm soát, không để cho phong trào dân chủ hoặc những người phản biện được hoạt động.
Không để không gian cho những phong trào và những cá nhân này hoạt động nữa đó là tinh thần chung trong vòng tám năm trở lại đây, và họ thực hiện việc đó bằng nhiều cách và biện pháp khác nhau".
Đàn áp nặng nề chính là nguyên do mà ông theo ông Bình đã khiến cho phong trào đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam đi xuống từ năm 2015 cho đến nay.
Bằng chứng là tất cả các tổ chức xã hội dân sự độc lập đều không thể hoạt dộng được nữa, một loạt những người bất đồng chính kiến bị bắt và bị kết án rất nặng. Các hoạt động công khai như biểu tình, tưởng niệm các ngày lễ liên quan đến các nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền, về chủ quyền Việt Nam… ngày càng giảm và dần dần không còn nữa. Các bài viết phản biện xã hội trên không gian mạng cũng ngày càng thưa dần và sau cùng là số lượng người đi tỵ nạn chính trị tăng vọt trong khoảng năm năm trở lại đây.
Nguồn : RFA, 22/02/2024
**************************
Luật cấm ly hôn ngay cả khi vợ có thai với người khác : Có hợp lý không ?
RFA, 21/02/2024
Theo Nghị quyết đang được Tòa án Nhân dân Tối cao đưa ra dự thảo, người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn khi người vợ đang mang thai, không phân biệt người vợ có thai với ai. Dự thảo này đang bị công luận phản đối, cho là trái với đạo lý vợ chồng của người Á Đông.
Khi người vợ đang mang thai và có con dưới 12 tháng tuổi thì người chồng không có quyền ly hôn. Nếu vợ chủ động ly hôn thì được. Ảnh minh họa. AFP
Ông Quang, một người dân Sài Gòn, hoàn toàn phản đối điều luật này, cho dù dưới bất kỳ góc độ nào, như bảo vệ trẻ em hoặc phụ nữ. Ông nói :
"Theo tôi là vô lý. Như vậy thì bất hạnh quá. Nó như tra tấn vậy. Một khi như vậy thì tình cảm bị xúc phạm. Giải pháp tốt nhất là giải thoát cho nhau, tức là ly hôn. Mắc gì mà không cho ly hôn ? !"
Luật sư Nguyễn Văn Hậu, Phó Chủ tịch Hội Luật gia Thành phố. Hồ Chí Minh nói với RFA về điều khoản này :
"Cái này nó liên quan đến ngành y tế. Khi người phụ nữ đang mang thai thì có thể họ rất nóng tính và cơ thể họ có thể có những bất thường. Do đó, khi người vợ đang mang thai và có con dưới 12 tháng tuổi thì người chồng không có quyền ly hôn. Nếu vợ chủ động ly hôn thì được. Luật này nhằm bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em mà Việt Nam đã tham gia công ước này".
Luật sư Hậu cho rằng, đứa bé trong bụng không có tội gì cả nên cần phải bảo vệ đứa bé bằng cách không cho người chồng ly hôn khi bà mẹ đang mang thai, cũng như khi người vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Hiến pháp Việt Nam 2013, Điều 37, chương II, quy định : ‘Trẻ em có quyền được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc, giáo dục ; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em ; nghiêm cấm việc xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm Quyền trẻ em’.
Cũng nhân danh bảo vệ quyền trẻ em, tháng 3/2023, Trường Trung học cơ sở Lương Yên ở Hà Nội tổ chức hội nghị "Lấy ý kiến tham gia của trẻ em vào Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)". Sự kiện này gây nhiều tranh cãi trên mạng xã hội.
Luật Hôn nhân và Gia đình được Quốc hội ban hành ngày 19/6/2014, quy định chế độ hôn nhân và gia đình ; chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử giữa các thành viên gia đình ; trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình.
Kết hôn được coi là một hành vi pháp lý xác lập quan hệ hôn nhân, bắt đầu một mối quan hệ vợ chồng chính thức theo quy định của pháp luật. Ly hôn là căn cứ pháp lý để chấm dứt một mối quan hệ hôn nhân đã được xác lập trước đó theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án. Kết thúc mối quan hệ vợ chồng và các quyền liên quan khác.
Kết quả của một cuộc khảo sát do tạp chí La Croix International công bố giữa tháng 6/2023 cho thấy, trong 10 năm - từ năm 2009 đến năm 2019 - tỷ lệ ly hôn ở Việt Nam đã tăng gần gấp đôi từ 1% lên 1,8%. Theo tạp chí này, việc ly hôn gia tăng do cuộc sống gia đình không ổn định, các mối quan hệ xã hội ngày càng trở nên phức tạp và giá trị gia đình đang thay đổi. Trung bình mỗi năm Việt Nam có khoảng 60.000 vụ ly hôn. Con số này tương đương 30% tổng số cuộc hôn nhân.
Thống kê cũng cho thấy nhiều nguyên nhân dẫn đến ly hôn, bao gồm không hòa hợp lối sống 27,7% ; ngoại tình 25,9% ; vấn đề kinh tế 13% ; bạo lực trong gia đình chiếm 6,7% và vấn đề sức khỏe chiếm 2,2%.
Với dự thảo không cho người chồng có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, bất kể có thai với ai, bác sĩ Đinh Đức Long cho rằng, nếu thật sự để bảo vệ đứa trẻ thì luật cũng phải cấm người vợ ly hôn khi đang mang thai, hay đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Ông phân tích :
"Lịch sử có câu "Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân". Tức là người soạn thảo luật phải đặt mình vào hoàn cảnh của người khác. Chứ ông chỉ ngồi trong phòng lạnh ra luật, mà luật áp dụng ra ngoài cuộc sống muôn hình vạn trạng ; áp dụng cho đa số người dân với trình độ văn hóa khác nhau thì không phù hợp. Phải hướng cái thiện, cái tốt chứ không thể áp đặt luật một cách chủ quan cho người khác khác như vậy được.
Trong trường hợp cụ thể này, về mặt pháp luật thì phải lấy ý kiến nhân dân xem dân có ủng hộ không, đó là dân chủ nhất. Có bao giờ ông đặt trường hợp này xảy ra với gia đình ông, xem ông có xử được không ?
Chuyện này nghe chừng viển vông, không thực tế. Luật nó phải thực tế và có sức thuyết phục và khả thi. Không thể ‘đem bục công an đặt giữa trái tim người. Bắt tình cảm ngược xuôi theo luật đi đường nhà nước’. Nếu luật này ra đời thì không khác gì lời ‘tiên đoán’ của nhà thơ Lê Đạt nửa thế kỷ trước".
Câu "Đem bục công an máy móc đặt giữa tim người. Bắt tình cảm ngược xuôi theo đúng luật đi đường nhà nước" là của nhà thơ Lê Đạt (phong trào Nhân Văn Giai Phẩm), khi ông bị Đảng răn đe : "Dù vợ đồng chí có bằng lòng ly dị, Đảng cũng không đồng ý".
Nguồn : RFA, 21/02/2024
Hai "ông lớn" doanh nghiệp Nhà nước là EVN và Vietnam Airlines luôn kêu lỗ từ năm này sang năm khác nhưng vẫn "bình chân như vại" vì ở thế độc quyền. Vậy ai là người gánh những khoản lỗ như thế, nếu không phải là dân ?
AFP
Mới đây, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết dự báo lỗ hơn 31.300 tỷ đồng trong năm 2022. Trước đó ít ngày, Tổng công ty Hàng không Việt Nam - Vietnam Airlines (VNA) cũng đăng đàn kêu lỗ hơn 2.500 tỷ đồng trong quý 3 năm 2022.
Đây là hai doanh nghiệp Nhà nước hoặc có vốn Nhà nước "than" làm ăn thua lỗ.
EVN được biết là doanh nghiệp độc quyền bán lẻ điện, theo lẽ đó, việc thua lỗ của EVN có ít nhiều ảnh hưởng trực tiếp đến người dân. Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế từ nhiều năm qua cho rằng cần xóa bỏ độc quyền trong ngành điện lực, nhưng rồi đâu lại vào đấy. Cách đây hai năm Bộ Công thương từng "hứa hẹn" đến năm 2025, EVN sẽ hết độc quyền và người dân được đàm phán giá điện. Nhưng xem ra lộ trình năm năm mà Bộ Công thương đưa ra có hơi "quá sức".
Năm ngoái, tại buổi tọa đàm "Gỡ nút thắt đầu tư của ngành điện Việt Nam", chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng, việc duy trì độc quyền quá lâu của EVN đã để lại hậu quả nặng nề. Bà nói :
"Nhà nước chỉ giữ lại một đơn vị duy nhất thôi. Tưởng để mình quản lý thì tốt nhất vì nó thuộc về mình, mình đầu tư tất cả cho nó, cán bộ mình bổ nhiệm, tất cả mọi hoạt động của nó mình kiểm soát 100%, bao nhiêu bộ ngành xúm vào quản lý, thế mà đó lại là nơi phát sinh ra nhiều vấn đề nhất, gây tổn thất nhiều nhất cho đất nước. Hiện nay vẫn còn đang tiếp diễn các vụ việc xử lý với dầu khí. Điều đó chứng tỏ là những cái độc quyền nhà nước mang tính tự nhiên như vậy hoàn toàn không hợp lý, không còn cơ sở để duy trì nữa".
Chia sẻ quan điểm của mình qua câu chuyện kinh doanh thua lỗ của các DN nhà nước, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn vào sáng 29/11 nói với RFA :
"Vấn đề là cái bộ máy hành chánh của Việt Nam khá nặng nề, rồi có những chi phí đầu tư không hiệu quả. Quản lý về mặt tài chánh thì không minh bạch. Tôi nghĩ đó là một số vấn đề liên quan tới làm ăn của các công ty quốc doanh bị thua lỗ. Thật ra những số liệu về kinh doanh của các công ty hay cơ sở có cổ phần hóa thì chưa hẳn là những số liệu thật. Đôi khi cũng có tình trạng là họ báo cáo lời nhưng thực ra họ lỗ, hoặc ngược lại.
Cũng có khi các công ty như EVN lấy tiền đầu tư qua lĩnh vực khác đó không phải của ngành điện, chẳng hạn như mở ra những cơ sở du lịch. Những cơ sở kinh doanh đó lỗ thì họ gộp chung lại với lỗ của ngành điện".
Có thể thấy thị trường điện lực Việt Nam được phân chia thành bốn khâu, bao gồm : sản xuất, truyền tải, bán buôn và bán lẻ. Mặc dù Luật Điện lực của Việt Nam quy định Nhà nước chỉ độc quyền khâu truyền tải điện, xây dựng và vận hành các nhà máy thuỷ điện lớn, các nhà máy điện nguyên tử, nhưng trên thực tế, EVN đang độc quyền ở tất cả các khâu, trừ sản xuất điện.
Trong tất cả các nguyên nhân gây lỗ, lãnh đạo EVN thường giải thích là do chênh lệch tỷ giá nhập khẩu điện ; do biến động giá nhiên liệu khiến chi phí sản xuất điện và mua điện tăng cao…Hôm cuối tháng 9/2022, từ các con số báo lỗ của EVN, Bộ Công thương đã đề xuất "trao quyền" tự quyết điều chỉnh giá điện cho "ông lớn" này. Tuy nhiên đề xuất đó gặp phải sự phản đối từ không những người dân mà cả những chuyên gia kinh tế.
Ông Quang, một kỹ sư xây dựng nêu quan điểm của mình với tư cách người dân :
"Nhà nước chỉ nên độc quyền những doanh nghiệp mà tư nhân hoặc các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước không có khả năng đầu tư, bởi vì nó không mang lại lợi nhuận cao, hoặc thậm chí không có lợi nhuận. Nhưng nó cần thiết cho nền kinh tế, cho xã hội cho nên Nhà nước mới cần phải đầu tư. Còn tất cả những doanh nghiệp khác đều có thể cổ phần hóa được hết.
Vietnam Airlines hay điện lực là những lĩnh vực mà tư nhân có khả năng đầu tư chứ không phải không. Cho nên ở đây Nhà nước chỉ muốn độc quyền. Và độc quyền thì giá điện tăng bao nhiêu người dân cũng phải chấp nhận. Mà nhà độc quyền thì nó sẽ thối nát. Phải có cạnh tranh thì mới có phát triển".
Máy bay hãng hàng không Vietnam Airlines. AFP
Thực tế, trong năm 2013, Thanh tra Chính phủ đã từng chỉ ra EVN lỗ là do đầu tư ngoài ngành thiếu hiệu quả, lỗ do biếu không đơn vị khác cả chục nghìn tỉ đồng. Thậm chí, giá thành bán điện còn bao gồm cả giá thành xây biệt thự, sân tennis…
Trước đó, theo kết luận thanh tra, trong năm 2011 công ty mẹ EVN đã đầu tư vốn ra ngoài lên đến trên 121.000 tỷ đồng, trong khi vốn điều lệ của công ty mẹ chỉ gần 77.000 tỷ đồng. Việc EVN đầu tư ra ngoài doanh nghiệp vượt vốn điều lệ hơn 45.000 tỷ đã vi phạm quy định của Bộ Tài chính. Mặc dù đầu tư ra ngoài cả trăm ngàn tỉ đồng nhưng EVN không thu được đồng lãi nào mà lỗ gần 2.200 tỷ đồng.
EVN từng khai lỗ bằng cách chuyển khoản lỗ từ EVN Telecom để tính vào cho các doanh nghiệp điện lực rồi khai vào lỗ đầu tư điện lực nhằm quyết toán với Nhà nước.
Tương tự EVN, "ông lớn" khác trong ngành hàng không -Vietnam Airlines (VNA) cũng liên tục "than khóc" vì… lỗ. Ông Nguyễn Xuân Thủy, người phụ trách quản trị của VNA cho báo chí biết, kết quả kinh doanh trong quý ba và chín tháng đầu năm 2022 đều thua lỗ vì thị trường vận chuyển quốc tế phục hồi chậm, cộng thêm các yếu tố tiêu cực phát sinh như giá nhiên liệu tăng cao, xung đột Nga - Ukraine kéo dài và các rủi ro tài chính như tỷ giá, lãi suất gia tăng.
Trong năm 2020 và 2021, VNA lỗ lần lượt gần 11.000 tỷ đồng và 13.000 tỷ đồng, sau thuế.
Sau hàng loạt báo cáo lỗ của các DN lớn, Chính phủ VN thường phải "nhúng tay" vào giải cứu. Và, đối với trường hợp của Vietnam Airlines, vào tháng 11/2020, Quốc hội đã thông qua gói hỗ trợ tín dụng 12 nghìn tỷ đồng giải cứu cho hãng hàng không này.
Tuy đã nhận được gói hỗ trợ nhưng VNA vẫn thua lỗ, vẫn nợ rất lớn và đối mặt với nguy cơ hủy niêm yết, theo cảnh báo của Sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE).
Nói về nguy cơ bị huỷ niêm yết, rời sàn chứng khoán, đại diện VNA cho báo giới biết : "Vietnam Airlines chưa nghĩ đến nguy cơ phải rời khỏi sàn chứng khoán, thời gian từ nay đến cuối năm vẫn còn, chúng tôi vẫn nỗ lực hết sức đưa ra các giải pháp cũng như đề xuất hỗ trợ từ phía cơ quan quản lý".
Vấn đề là vừa than lỗ xong, lãnh đạo VNA lại phấn khởi hồ hởi khi hôm 18/11, tổ chức YouGov công bố Vietnam Airlines là một trong 10 thương hiệu tốt nhất Việt Nam và là thương hiệu được giới thiệu nhiều nhất năm 2022. Đây là năm thứ tư liên tiếp Vietnam Airlines lọt vào bảng xếp hạng này. Nhiều cư dân mạng bình luận "lỗ càng to, top càng cao ?".
Sau khi được cổ phần hóa, một số doanh nghiệp Nhà nước đã chuyển đổi mô hình sản xuất kinh doanh để khai thác lợi thế từ đất đai, tức chỉ quan tâm đến đất vàng, tự diệt hoạt động sản xuất của chính doanh nghiệp. Đây là thực tế mặt trái của cổ phần hóa được xúc tiến lâu nay.
AFP
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương CIEM, cho biết :
"Cổ phần hóa là một chủ trương lớn của Nhà nước, bắt đầu được thí điểm từ 1990 cho đến giờ đã là 32 năm".
Cổ phần hóa, ông nhấn mạnh, tạo cơ hội kinh doanh cho các thành phần kinh tế khác, thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng, góp phần nâng cao năng lực tài chính, đổi mới phương thức quản trị doanh nghiệp nhà nước và tác động tích cực tới thị trường chứng khoán.
Tuy nhiên thực tế cho thấy việc thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước vẫn còn chậm so với kế hoạch đề ra. Từ 2016-2020 đã có dự kiến thoái vốn tại 384 doanh nghiệp với tổng giá trị theo sổ sách Nhà nước là 60.000 tỷ đồng. Nhưng hết 2020 thì chỉ thoái vốn được 106 doanh nghiệp, với tổng giá trị 6.493 tỷ đồng, đạt 11%.
Theo Bộ Tài chính, tỷ lệ vốn Nhà nước nắm giữ tại các doanh nghiệp sau cổ phần hóa vẫn cao. Tại nhiều doanh nghiệp, cổ đông Nhà nước vẫn nắm quyền quyết định nên thực chất không có đổi mới. Hoạt động kinh doanh sau cổ phần hóa có chiều hướng đi xuống, điển hình Tổng Công ty cổ phần Lương thực Miền Nam, Tổng Công ty cổ phần Xây dựng Sông Hồng.
Tiến độ cổ phần hóa chậm là đúng, những trường hợp tiêu cực thì phải dẫn chứng, là nhận định của Tiến sĩ Lê Đăng Doanh. Theo ông vì không có sự đánh giá chính xác giá trị của doanh nghiệp nhà nước, mà để đánh giá phải có sự tổng kết, phải có sự phân tích chứ không thể lấy ví dụ từ một số doanh nghiệp nào đấy rồi bảo rằng các trường hợp cổ phần hóa đều tiêu cực như thế :
"Tôi biết có những doanh nghiệp cổ phấn hóa rất thành công, thí dụ doanh nghiệp cổ phần hóa bóng đèn phích nước Rạng Đông mà tôi có tham gia làm thành viên Hội đồng Quản trị, thì cho đến nay doanh nghiệp đó rất phát triển và đã ứng dụng khoa học công nghệ. Hiện Rạng Đông đang xây dựng các ‘ngôi nhà thông minh’ ở Hà Nội".
Cần phải hoàn chỉnh khung pháp lý về cổ phần hóa, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh khẳng định, để trên cơ sở đó đánh giá đúng các giá trị, tránh sự lợi dụng cổ phần hóa để làm giàu cho một số nhà đầu tư nhất định nào đấy :
"Muốn vậy thì phải có luật về cổ phần hóa, phải công khai minh bạch quá trình cổ phần hóa, phải công khai minh bạch các nhà đầu tư mua cổ phần của doanh nghiệp đó".
Đáng quan tâm hơn cả theo phản ảnh của Bộ Tài chính, một số doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa đã chuyển đổi mô hình sản xuất kinh doanh để khai thác lợi thế từ đất đai, không tạo việc làm cho người lao động. Nhà đầu tư chiến lược tham gia mua cổ phần của doanh nghiệp nhà nước chỉ nhắm vào bất động sản và những 'khu đất vàng’. Khi đã nắm được doanh nghiệp thì tìm cách chuyển nhượng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, để kiếm lời chứ không tập trung vào đầu tư phát triển doanh nghiệp theo hoạt động sản xuất kinh doanh ban đầu.
Giảng viên Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, Tiến sĩ Vũ Ngọc Xuân, đồng ý rằng doanh nghiệp nhà nước nào mà bất động sản có vị trí gọi là ‘đắc địa’ ở các thành phố lớn thì được các tập đoàn tư nhân hoặc doanh nghiệp tư nhân chú ý quan tâm nhiều nhất :
"Trước đây vì việc định giá đất chưa sát với thị trường, cho nên nó rất hấp dẫn tư doanh hay tư nhân muốn mua cổ phần doanh nghiệp nhà nước đó. Thế bây giờ quá trình bị chậm do là phải rà soát lại công tác định giá. Định giá doanh nghiệp phải tính đến giá trị quyền sử dụng đất".
"Gần đây công tác cổ phấn hóa bị chậm. Chậm cả phía các công ty kiểm toán cũng bị thanh tra, trong đó có việc không định giá tài sản sát với thị trường".
"Thứ hai ở đây là có sự tham nhũng giữa các cán bộ có chức có quyền và các công ty tư nhân thông qua các công ty chứng khoán và các công ty kiểm toán để mà mua lại tài sản của doanh nghiệp nhà nước với giá rẻ, trong đó tham nhũng lớn nhất liên quan đến bất động sản và đất đai ở trung tâm các thành phố lớn. Công tác cổ phấn hóa bị chậm lại là vì như vậy".
Một người đi qua các két bia tại Công ty nước giải khát Hà Nội - Habeco, một công ty có vốn Nhà nước. Hình chụp năm 2016. AFP
Thống kê cho thấy tính đến hết 2020 chỉ còn 0.08% doanh nghiệp nhà nước còn hoạt động, nhưng lại nắm giữ nhiều nguồn lực quan trọng của nền kinh tế, chiếm 7% tổng tài sản và 10% vốn chủ sở hữu của toàn bộ các doanh nghiệp trên thị trường. Các doanh nghiệp nhà nước này chiếm 25,78% tổng vốn sản xuất kinh doanh, 23,4% giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp.
Tiến độ cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước diễn ra chậm cũng là nhận định của Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc. Ông cho biết, kế hoạch năm 2021 là thu về cho ngân sách khoảng 40.000 tỷ từ cổ phần hóa, nhưng thực tế thì chưa được 2.000 tỷ đồng. Ông còn dự báo năm nay việc cổ phần hóa tiếp tục gặp khó khăn do không thực hiện được.
Người đứng đầu Bô Tài chính nêu bật một số tồn tại trong việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, nói rằng xác định giá trị của doanh nghiệp chưa chính xác, có nghĩa là thấp hơn giá trị thực tế và giá trị xác định lại sau kiểm toán.
Đây là nguyên nhân gây thất thoát, ông nói, dẫn đến nhiều vụ xử lý hình sự. Qua kiểm toán 45 doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa, Kiểm toán Nhà nước phát hiện giá trị các doanh nghiệp tăng lên bình quân 2,8 lần. Điều này cho thấy việc xác định giá trị doanh nghiệp, đặc biệt xác định giá trị quyền sử dụng đất… đều không chính xác.
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong cho rằng sự thất thoát tài sản công là đất đai trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, không chỉ qua định giá thấp mà còn qua việc "tư nhân hóa ngầm" đất công.
Trả lời RFA qua điện thư hôm 18/5, Tiến sĩ Trần Quang Thắng, Viện trưởng Viện Kinh tế-Quản lý Thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng việc cổ phần hóa, thoái vốn không đạt yêu cầu kế hoạch đề ra do tình hình dịch bệnh Covid-19 tác động đến thị trường khiến công tác định giá gặp nhiều trổ ngại :
"Mặt khác, người đứng đầu doanh nghiệp chưa thật sự quyết tâm ; công tác chuẩn bị cổ phần hóa, thoái vốn chưa khẩn trương, chưa hoàn thiện đầy đủ thủ tục pháp lý sắp xếp lại, xử lý nhà, đất trước khi cổ phần hóa, các vướng mắc về tài chính chưa được xử lý đến nơi đến chốn".
Những bất cập có dấu hiệu tiêu cực, Tiến sĩ Trần Quang Thắng phân tích tiếp, cần phải được giám sát, ngăn chặn trong quá trình định giá giá trị thương hiệu, giá trị tài sản, đồng thời giá trị sử dụng đất đưa vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa có nhiều biến đổi do thị trường đất đai thiếu ổn định.
Ông cũng nhân đây mô tả bức tranh toàn cảnh về cổ phần hóa, nhắc lại Nghị quyết Trung ương Đảng XIII với qui định rõ là kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể dần phải làm chủ đạo, kinh tế tư nhân và kinh tế FDI (vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài) là động lực quan trọng để phát triển kinh tế quốc gia :
"Thế thì xem ra vẫn phải có doanh nghiệp Nhà nước. Nhà nước hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Nhà nước trên nền tảng công nghệ hiện đại, năng lực đổi mới sáng tạo, quản trị theo chuẩn mực quốc tế, làm tốt vai trò dẫn dắt phát triển các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác nhằm huy động, phân bổ, sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội, đồng thời củng cố, phát triển một số tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước có quy mô lớn, có thương hiệu tốt, hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả, có khả năng cạnh tranh khu vực và quốc tế".
Viện trưởng Viện Kinh Tế và Quản lý Trần Quang Thắng còn cho biết thêm là Thủ tướng Chính phủ sẽ phê duyệt Đề án cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2021-2025 đối với Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam. Người dân sẽ quan sát, đánh giá xem các tập đoàn này sẽ hoạt động tích cực và hiệu quả ra sao trong thời gian tới.
Do được "cưng chiều" vàđược hưởng các đặc quyền đặc lợi mà không phải tự cạnh tranh công bằng với các thành phần kinh tế khác nên các doanh nghiệp nhà nước ít có sự sáng tạo.
Từ20 năm trước, Đảngvà Nhà nước ViệtNam đã bắt đầu nhận thức được tính kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước (doanh nghiệp nhà nước)và đặt vấn đề sắp xếplạidoanh nghiệp nhà nước,trọng tâm là chươngtrìnhcổ phần hóa. Sau 20 năm, chươngtrình này có đạt một số kết quả nhất định, nhưng hàng loạt doanh nghiệp nhà nướcvẫn tiếp tụcthua lỗ, âm vốn sở hữu. Tại sao ?
Hình minh họa : Dự án Nhà máy Gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2 là một trong 12 dự án thua lỗ, yếu kém của ngành Công Thương. Ảnh : Hải Nguyễn
Doanh nghiệp nhà nước mất phương hướng
Ngày 9/7/2021, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) Trần Duy Đông đã có buổi chia sẻ với với Truyền hình Thông tấn về "Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước thực hiện chuyển đổi sở hữu, sắp xếp lại, thoái vốn giai đoạn 2021-2025" được ban hành theo Quyết định của Chính phủ. Tháng 9 năm ngoài, Bộ MPI Việt Nam khi lấy ý kiến về "Đề án quản trị doanh nghiệp nhà nước" cho biết, số lượng doanh nghiệp nhà nước trong tình trạng phải bị phá sản theo luật định là rất lớn, tuy nhiên số lượng doanh nghiệp nhà nước bị phá sản trên thực tế lại rất thấp. doanh nghiệp nhà nước thua lỗ, "chết mà không chôn được", như ý kiến của nhiều chuyên gia.
Nắm vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nhưng doanh nghiệp nhà nước thời gian qua đã vẽ nên bức tranh nhiều mảng tối. Đó là hiệu quả sản xuất kinh doanh kém so với nguồn lực đầu tư,thậm chí thua lỗ, nợ nần, xảy ra nhiều vụ việc tiêu cực, gây hậu quả kinh tế lớn. Thực tế này đòi hỏi phải "chẩn đúng bệnh" và trị đúng "thuốc" để nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện mới. Nhiều doanh nghiệp nhà nước mất phương hướng. Tại từng doanh nghiệp nhà nước, mục tiêu của chủ sở hữu nhà nước chưa thực sự rõ ràng, nhiều trường hợp chưa nhất quán với mục tiêu đầu tư vốn nhà nước đã được pháp luật quy định. Bằng chứng là vốn sở hữu nhà nước vẫn tiếp tục hiện hữu tại các doanh nghiệp không thuộc ngành, lĩnh vực đầu tư vốn nhà nước theo quy định của Luật số 69 (Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp). Nhiều doanh nghiệp nhà nước không có mục tiêu, nhiệm vụ rõ ràng, ảnh hưởng không tốt đến thực hành quản trị doanh nghiệp nhà nước theo thông lệ chung.
Tiến hành xây dựng và lấy ý kiến về "Đề án quản trị doanh nghiệp nhà nước", MPI đã thẳng thắn đánh giá : Thể chế quản trị doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là việc triển khai trên thực tế còn có khoảng cách so với thông lệ quốc tế, dẫn tới doanh nghiệp nhà nước chưa hoàn thành mục tiêu đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về quản trị doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp nhà nước không có nhiệm vụ rõ ràng, ảnh hưởng không tốt đến thực hành quản trị doanh nghiệp nhà nước theo thông lệ. Việc duy trì quá nhiều doanh nghiệp 100% vốn nhà nước là rào cản để chủ sở hữu nhà nước áp dụng các thông lệ tốt về quản trị doanh nghiệp. Các mô hình quản trị doanh nghiệp nhà nước hiện đại yêu cầu các quốc gia hạn chế việc tạo ra khung khổ pháp lý riêng biệt cho doanh nghiệp nhà nước, khuyến khích đẩy mạnh quá trình "công ty hóa" doanh nghiệp nhà nước. Ở Việt Nam, quá trình công ty hóa doanh nghiệp nhà nước đã được hoàn thành từ năm 2010 khi toàn bộ doanh nghiệp nhà nước chuyển thành công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.
Tuy nhiên, bộ phận quan trọng nhất là các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước vẫn có khung khổ quản trị riêng theo quy định của Luật số 69 và văn bản hướng dẫn. Theo đánh giá của MPI, việc hình thành một hệ thống khung khổ pháp lý riêng biệt như vậy không phải là điều kiện tốt để chủ sở hữu có thể áp dụng các chuẩn mực về cách thức và công cụ thực hiện vai trò chủ sở hữu trong quán trị doanh nghiệp như cổ đông của mô hình công ty cổ phần đa sở hữu. Trên thực tế, những vướng mắc, bất cập trong quản trị doanh nghiệp nhà nước chủ yếu diễn ra đối với các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Pháp luật về giải thể và phá sản của Việt Nam tương đối đầy đủ, được áp dụng chung,không phân biệt doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân.
Các nhóm lợi ích đang phá doanh nghiệp nhà nước
Trong suốt thời gian qua, khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn được dành "những ưu ái" về mọi mặt, thể hiện qua việc các đơn vị chủ quản như Bộ, ngành, chính quyền địa phương vẫn tạo ra những đặc quyền cho các doanh nghiệp của mình. Đó là ưu ái về nguồn vốn, tài nguyên, đất đai, tuyển dụng nhân lực... Do được "cưng chiều" và được hưởng các đặc quyền đặc lợi mà không phải tự cạnh tranh công bằng với các thành phần kinh tế khác nên các doanh nghiệp nhà nước ít có sự sáng tạo. Chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong cho rằng : "Khi chúng ta dành cho doanh nghiệp nhà nước những lợi thế đặc quyền thì đó là cớ để người ta níu kéo, chậm tái cơ cấu để hưởng những đặc quyền đó". Ông Trần Quang Nghị, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Dệt may Việt Nam nêu một thực tế, Nhà nước không quá tạo áp lực về cổ phần hóa ở các Tập đoàn, Tổng công ty lớn, mà chỉ dừng lại ở yêu cầu bảo toàn và phát triển vốn,chứ không yêu cầu về chỉ tiêu cổ tức, tốc độ tăng trưởng, tiền lương người lao động.
Tình hình trên tạo ra nghịch lý, lãnh đạo các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước là những "ông chủ giả" tiêu vốn nhà nước nhưng lại như "ông chủ thật". Từ đó tạo ra tâm lý không cần thiết phải đẩy nhanh tốc độ cổ phần hóa để trở thành người làm thuê thật sự, lại phải đảm bảo chỉ tiêu của Đại hội cổ đông giao, ví dụ 10-15% cổ tức chẳng hạn, như vậy áp lực và vất vả hơn nhiều. Nhiều chuyên gia đánh giá, vấn đề về lợi ích đã hằn sâu trong nhận thức của những người quản lý ở doanh nghiệp nhà nước. Đại diện nhiều bộ, ngành, địa phương, nhiều cá nhân đang quản lý doanh nghiệp nhà nước không muốn nhanh chóng cổ phần hóa vì động chạm đến lợi ích cá nhân của họ. Không ít người phụ trách quản lý doanh nghiệp nhà nước, đổi mới doanh nghiệp nhà nước đã cố trình níu kéo để còn có lợi ích gắn liền với chuyện quản lý vốn.
Ông Nguyễn Hoàng Hải, Phó Chủ tịch Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính (VAFI) nêu thực tế, có chuyện lãnh đạo Bộ, UBND tỉnh cử người thân nắm giữ vị trí chủ chốt trong các doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa để quản lý vốn, hoặc cử cán bộ quản lý không căn cứ vào năng lực mà dựa vào thân quen, thậm chí diễn ra chuyện "mua quan bán chức", làm cho chất lượng quản trị ở nhiều doanh nghiệp kém đi, dù đã được cổ phần hóa. Cũng do năng lực quản trị kém, thiếu giám sát, công khai, minh bạch nên dẫn đến tham nhũng, tiêu cực, đầu tư không hiệu quả như những sự việc bê bối ở PVC, gang thép Thái Nguyên. Nhìn chung, tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước diễn ra chậm vì đang bị cản trở bởi các nhóm lợi ích.
Trong thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, không ít người lợi dụng thay đổi chính sách để trục lợi, làm giàu nhanh chóng từ nguồn cổ phần hay đất đai… Thậm chí, người đứng đầu doanh nghiệp cố ý buông lỏng quản lý, để làm ăn thua lỗ trước khi cổ phần hóa nhằm "hạ giá" tài sản nhà nước trong doanh nghiệp, sau đó tìm cách mua bán, thâu tóm cổ phiếu, để người thân trong gia đình nắm vị trí quan trọng trong công ty. Có tình trạng thâu tóm doanh nghiệp với giá rẻ qua giao dịch thỏa thuận, bày đặt đấu giá kiểu "diễn kịch". Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng, cổ phần hóa nhiều nhưng vẫn chưa có luật về cổ phần hóa, đấy là một kẽ hở lớn. Có nhiều doanh nghiệp nhà nước sau một thời gian cổ phần hóa lại rơi vào nhóm lợi ích. Không công khai, minh bạch trong quá trình cổ phần hóa đã tạo cơ hội cho nhiều người trục lợi, mua cổ phần ưu đãi rồi giàu lên từ đó.
Công ty Gang Thép Thái Nguyên "chết mà vẫn không chôn được" - Courtesy of toquoc.vn
Doanh nghiệp nhà nước "chết mà vẫn không chôn được"
Ngay từ năm 1995, Luật doanh nghiệp nhà nước đã khẳng định doanh nghiệp nhà nước phải bị giải thể, phá sản theo "Luật về giải thể, phá sản". Mặc dù vậy, số lượng doanh nghiệp nhà nước bị phá sản trên thực tế rất thấp, không tương xứng với số lượng doanh nghiệp nhà nước trong tình trạng phải bị phá sản theo quy định. Vì nhiều lý do kinh tế, xã hội, chủ sở hữu nhà nước, chủ nợ và các chủ thể có quyền yêu cầu đệ đơn phá sản doanh nghiệp nhà nước không muốn áp dụng biện pháp phá sản doanh nghiệp nhà nước. Biện pháp thông thường vẫn là hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi bằng các công cụ hoãn, giãn nợ thuế, nợ tín dụng. Việc xử lý 12 dự án yếu kém ngành Công Thương là ví dụ. Một bất cập khác, đó là cơ quan đại diện chủ sở hữu có quyền can thiệp mạnh vào hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi dự án thua lỗ, thất thoát lại khó quy trách nhiệm cho đại diện chủ sở hữu.Theo MPI, chủ sở hữu nhà nước còn quyết định nhiều vấn đề thuộc lĩnh vực quản trị kinh doanh, nhất là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.
Chẳng hạn, đối với doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, hệ thống pháp luật quy định doanh nghiệp phải trình cơ quan đại diện chủ sở hữu và các cơ quan liên quan xem xét, quyết định những vấn đề thuộc lĩnh vực quản trị doanh nghiệp như quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, tiền lương, thù lao, tiền thưởng và quyền lợi khác của Chủ tịch và thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty. Với cơ chế hiện hành, MPI cho rằng khó xác định được trách nhiệm giải trình của cơ quan đại diện chủ sở hữu trước Quốc hội và Chính phủ trong quản lý vốn nhà nước theo yêu cầu của thông lệ quản trị doanh nghiệp nhà nước. Đơn cử như đối với các vụ việc thua lỗ, thất thoát tài sản nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp diễn ra trong thời gian qua.
Đại biểu quốc hội Vũ Tiến Lộc (Thái Bình) nhận xét : "Kết quả giám sát của Quốc hội đã cho thấy một thực trạng đáng buồn". Lẽ ra doanh nghiệp nhà nước phải đóng vai trò dẫn dắt trong nền kinh tế thì các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động của khu vực này lại đang ở vị trí "khóa đuôi". Hệ số Icor của khu vực doanh nghiệp nhà nước luôn cao hơn nhiều so với các thành phần kinh tế khác ; mức sinh lời trên vốn chủ sở hữu và tài sản của doanh nghiệp nhà nước không chỉ ở mức thấp mà còn có xu hướng giảm liên tục theo thời gian. Những tồn tại, yếu kém trong quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được chỉ rõ trong "Báo cáo kết quả giám sát của Quốc hội" là do : Hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước còn chồng chéo, thiếu rõ ràng, chưa tạo đầy đủ quyền chủ động cho doanh nghiệp.Chúng ta cũng vẫn đang thiếu hệ thống công cụ đánh giá tổng thể về quản trị doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Nguồn : VOA, 01/11/2021
Báo chí Việt Nam loan tin Hội nghị Chuyên đề về đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Doanh Nghiệp Quốc Doanh, hay Doanh Nghiệp Nhà Nước, sẽ được tổ chức cuối tháng Chín đầu tháng Mười tới đây.
Hình minh hoạ. Một người đạp xe qua một biển hiệu của công ty Quân đội Viettel ở Hà Nội hôm 30/1/2007 AFP
Tin cho hay phó thủ tướng Vương Đình Huệ vừa yêu cầu các bộ và cơ quan ngang bộ thuộc chính phủ là trước ngày 25 tháng Chín phải hoàn tất báo cáo lên Bộ Tài Chính cũng như Bộ Kế Hoạch Đầu Tư, đánh giá tình hình triển khai phương án tái cơ cấu đã được cấp thẩm quyền phê duyệt từ năm 2016.
Ngoài Bộ Tài Chính và Bộ Kế Hoạch Đầu Tư, các bộ khác được nhắc đến là Bộ Tài Nguyên Và Môi Trường, Bộ Công Thương, Bộ Xây Dựng, Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn, Bộ Nội Vụ, Bộ Lao Động,Thương Binh Và Xã Hội.
Về phía các cơ quan ngang bộ và cơ quan thuộc chính phủ còn có Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước.
Theo tin thì tại Hội nghị Chuyên đề do ông Vương Đình Huệ đề nghị, dựa trên cơ sở báo cáo từ các đơn vị được nêu tên, Bộ Tài Chính sẽ xây dựng và trình bày tổng hợp về tình hình tái cơ cấu doanh nghiệp quốc doanh dựa cơ sở trên các báo cáo từ các đơn vị được nêu tên ở đây.
Đây không phải lần đầu tiên việc đổi mới và tái cơ cấu Doanh Nghiệp Nhà Nước, mà các chuyên gia lẫn giới quan sát kinh tế tài chính đánh giá là một cỗ máy cồng kềnh và yếu kém, được nói đến một cách khá là qui mô như lần này.
Chuyên gia kinh tế, tài chính, giới nghiên cứu độc lập nghĩ gì và góp ý như thế nào ?
Hơn 4 thập kỷ qua, Doanh Nghiệp Nhà Nước tuy có mang lợi ích nhưng sự tổn thất gây ra cho đất nước cũng không nhỏ, là nhận định của chuyên gia ngân hàng và tài chính Nguyễn Trí Hiếu :
Việt Nam là một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp có vốn Nhà Nước vẫn giữ vai trò chủ đạo, thể hiện qua việc nắm giữ những vị trí, những nguồn lực quan trọng, những quyền lợi đặc biệt để vận hành doanh nghiệp của họ. Cách đây 40 năm nền kinh tế Việt Nam rất èo uột, chỉ có doanh nghiệp có vốn Nhà Nước hoặc Doanh Nghiệp Nhà Nước vận hành trong nền kinh tế. Các doanh nghiệp đó đã đóng góp rất nhiều, biến nền kinh tế Việt Nam từ lạc hậu và một trong những nước nghéo nhất thế giới trở thành một nền kinh tế có 250 tỷ đô la GDP thuộc hàng các nước có thu nhập trung bình.
Mặt trái của các doanh nghiệp có vốn Nhà Nước là không vận hành theo yêu cầu thị trường mà vận hành theo chỉ đạo của chính phủ. Vì họ là những đứa con cưng của chính phủ nên trong hoàn cảnh nào đó, tại địa phương nào đó họ tạo ra những khó khăn về mặt kinh tế. Các doanh nghiệp này hoạt động không hiệu quả, không theo cung cầu không theo thị hiếu của thị trường, nhiều doanh nghiệp thua lỗ trong mấy chục năm qua. Sự thua lỗ đó đưa đến những thất thoát nguồn vốn chính phủ, chi phí của những doanh nghiệp đó quá cao, người lao động không được trả lương phù hợp. Một điều nữa ai cũng biết Doanh Nghiệp Nhà Nước là những doanh nghiệp dễ dàng trở thành đối tượng của tham nhũng. Tất cả những điều đó đều bất lợi cho nền kinh tế.
Theo chuyên gia kinh tế tài chính Bùi Kiến Thành, cơ cấu lại Doanh Nghiệp Nhà Nước thì trước hết phải đặt người vào đúng chỗ :
Nói chung vấn đề Doanh Nghiệp Nhà Nước là do vấn đề bố trí nhân lực, toàn là đảng viên vào đó làm mà đảng viên thì chuyên về chính trị, chạy chức chạy quyền. Còn đảng viên thật sự có năng lực điều khiển doanh nghiệp đếm trên bàn tay được bao nhiêu người. Nguyên nhân sự hoạt động không hiệu quả của Doanh Nghiệp Nhà Nước là như vậy.
Vì sao không hiệu quả mà vẫn phải duy trì rồi tính chuyện đổi mới hoặc nâng cao năng lực, lại còn huy động tất cả bộ ngành ban bệ của nhà nước vào phương án ? Chuyên gia kiêm nhà tư vấn kinh tế Bùi Kiến Thành nhắc lại trên tất cả vấn đề then chốt vẫn nằm ở chỗ bố trí nhân lực :
Một số Doanh Nghiệp Nhà Nước cần duy trì vì tư nhân chưa làm được, ví dụ vấn đề cung cấp điện lực cho cả nước hay những công ty có tính chất công ích. Ngoài ra thì mấy chục năm nay đã có chủ trương về cổ phần hóa, không dám nói "tư nhân hóa" vì động chạm đến vấn đề tư duy. Chủ trương cổ phần hóa mấy mươi năm nay tại sao không làm vì không có người chỉ đạo dứt khoát để mà làm. Mấy ông chủ tịch, tổng giám đốc mấy công ty nhà nước ấy sợ mất quyền mất chức đâu có chịu làm. Vấn đề là chỉ đạo không quyết liệt, cuối cùng nó kẹt trong vấn đề tổ chức, mấy ông trong đảng ông này nể nang ông kia, ông kia nể nang ông nọ, rồi vướng mắc chi bộ này kia, nói không ai nghe.
Các Tập đoàn cột trụ của kinh tế quốc gia. RFA/internet RFA/internet
Vẫn theo lời ông Bùi Kiến Thành, từ lâu Việt Nam đã có một ủy ban trung ương về quản lý Doanh Nghiệp Nhà Nước nhưng :
Tại sao lập ủy ban ra rồi bây giờ mới ngồi lại mà bàn với bộ này bộ khác ? Mấy ông bộ trưởng đó là từ bí thư tỉnh, quận rồi lên làm bộ trưởng chứ thật sự có học quản lý hồi nào đâu. Hội lại bộ này bộ nọ cũng chỉ là ngồi bàn với nhau mà không giải quyết được gì cả. Cái quan trọng nhất là Nghị Quyết Trung Ương Khóa X của đảng cách đây mười mấy năm rồi, là mở ra vấn đề quản lý nhà nước, mở vấn đề hành chính cho tất cả những người có năng lực trong đảng cũng như ngoài đảng, trong nước cũng như ngoài nước. Đã có Nghị Quyết Trung Ương như thế mà không làm thì sao mà bố trí người có tài có lực.
Chỉ riêng việc cứ phải họp rồi hội nghị hết năm này sang năm khác để nâng cao năng lực và hiệu quả của Doanh Nghiệp Nhà Nước đủ thấy đây là một việc hết sức khó khăn, dù cố gắng thế nào thì kết quả cũng không được như mong muốn, không dễ dàng, là ý kiến của chuyên gia kinh tế cũng là nhà nghiên cứu độc lập Phạm Chi Lan :
Đầu năm nay thì đảng cộng sản Việt Nam, trung ương đảng, cũng ra Nghị Quyết số 39, đặt trong tâm vào việc nâng cao hiệu quả việc sử dụng các nguồn lực của nền kinh tế. Tôi nghĩ việc đó càng cho thấy rõ cần cải thiện rất nhiều về mặt Doanh Nghiệp Nhà Nước sử dụng các nguồn lực.
Mấy năm vừa rồi thì cũng có những trường hợp như là 12 dự án do Bộ Công Thương quản lý mà thua lỗ nặng nế, không hoạt động được, kể cả những cái chưa quyết toán xong, nhà máy chưa hoạt động mà cũng đã thấy là không thể có hiệu quả nỗi. Mấy năm trời không xử lý hết 12 dự án này, chứng tỏ gánh nặng của Doanh Nghiệp Nhà Nước đối với kinh tế như thế nào.
Tất nhiên trong số các Doanh Nghiệp Nhà Nước thì cũng đôi ba cái hoạt động có hiệu quả và được biểu dương, bà Phạm Chi Lan nhắc nhở, thí dụ Tập Đoàn Viettel chẳng hạn :
Tập Đoàn Viettel đầu tư trong nước, đầu tư ra nước ngoài và có kết quả rất đáng khích lệ, hoặc một số tập đoàn khác cũng có cố gắng cải thiện dần. Nhưng mà nhìn chung, bức tranh chung của Doanh Nghiệp Nhà Nước còn rất đáng lo ngại.
Đối với đề xuất của phó thủ tướng Vương Đình Huệ về Hội nghị Chuyên đề cuối tháng này để các bộ ngành báo cáo phương án tái cơ cấu Doanh Nghiệp Quốc Doanh, đồng thời tham luận việc nâng cao năng lực và hiệu quả, bà Phạm Chi Lan nói bà tin rằng lần này phó thủ tướng Vương Đình Huệ sẽ đặt vấn đề trên góc độ Việt Nam đang tham gia và có những cam kết mạnh mẽ trong các Hiệp Định Thương Mại FTA mới :
Thí dụ như CPTTP hoặc EVFTA thì đều có những đòi hỏi như minh bạch hóa các hoạt động của Doanh Nghiệp Nhà Nước, đặt Doanh Nghiệp Nhà Nước trên nền tảng các nguyên tắc thị trường, cạnh tranh sòng phẳng so với các doanh nghiệp khác. Phải hết sức minh bạch cho xã hội và cho các nước liên quan có thể giám sát. Có lẽ trong bối cảnh đó cho nên phó thủ tướng Vương Đình Huệ phải họp và tôi chắc sẽ nhấn mạnh vào khía cạnh đó, đòi hỏi các Doanh Nghiệp Nhà Nước phải hoạt động có hiệu quả hơn.
Theo tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu, cổ phần hóa là giải pháp quan trọng nhất trong việc cơ cấu lại Doanh Nghiệp Nhà Nước. Chuyện này được nói đến từ lâu, chuyên gia góp ý cũng đã nhiều, nhưng cái mà Việt Nam bị vướng mắc là :
Theo ngôn từ xã hội chủ nghĩa dùng từ "tư nhân hóa" là rất kỵ và họ dùng từ cổ phần hóa (Equitization), thay vì nằm trong tay chính phủ thì bán những cổ phần đó ra xã hội cho những thành phần kinh tế khác. Tuy nhiên nhiều doanh nghiệp được cổ phần hóa, được tái cơ cấu thì tỷ lệ cổ phần của chính phủ vẫn nắm phần lớn. Rất tiếc việc tái cơ cấu rất chậm, nó mang tính chất nhạy cảm nhưng thực tế là các lãnh đạo Doanh Nghiệp Nhà Nước không muốn thực hiện việc cổ phần hóa vì muốn giữ vị trí của họ, giữ nồi cơm của họ.
Một điều cũng rất quan trọng nữa, cổ phần hóa không phải là dễ dàng. Một doanh nghiệp đã hoạt động hàng chục năm nay rồi, có cả một hệ thống, một cơ chế, bộ máy các đơn vị vận hành, có chân rết có quan hệ mua bán liên quan đến các doanh nghiệp khác. Bây giờ cổ phần hóa có nghĩa cả bộ máy đó phải thay đổi, việc các lãnh đạo của các doanh nghiệp có vốn nhà nước phản ứng ngược lại với kế hoạch của chính phủ cũng là điều tất nhiên. Cuối cùng nó cũng nằm trong cái thể chế của Việt Nam là một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Được biết tại Hội nghị Chuyên đề nhằm đồi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của Doanh Nghiệp Nhà Nước dự trù cuối tháng này, Bộ Tài Nguyên Và Môi Trường sẽ báo cáo về thực trạng và kết quả giải quyết các vướng mắc, khó khăn trong phương án cổ phần hóa, thoái vốn. Bên cạnh đó, Bộ Công Thương, Bộ Xây Dựng, Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn, Bộ Lao Động Thương Binh Và Xã Hội cũng như Bộ Nội Vụ sẽ có bài tham luận trước hội nghị.
Đối với chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành, chỉ nói và nghe mà không quyết liệt hành động quả là không đáng. Nhà nghiên cứu độc lập Phạm Chi Lan cũng góp ý mạnh mẽ hơn :
Những trường hợp nào mà Doanh Nghiệp Nhà Nước không thể gượng được nữa, sự tồn tại của nó không thể mang lại hiệu quả thay đổi lớn được thì có lẽ nên thúc đẩy cổ phần hóa, bán được thì cứ bán. Trường hợp mà thua lỗ nặng nề quá thì nên cho họ phá sản.
Bà Phạm Chi Lan nói rõ nếu giữ mãi các Doanh Nghiệp Nhà Nước mà quá trình cổ phần hóa khó khăn nhọc nhằn như thời gian vừa qua thì tiếp tục làm đọng lại phần tài sản rất lớn do các Doanh Nghiệp Nhà Nước sử dụng và gây ảnh hưởng chung tới nền kinh tế cũng như tiếp tục chèn lấn các doanh nghiệp khác khiến họ không phát triển được. Thà duy trì một số ít Doanh Nghiệp Nhà Nước trong những lãnh vực thật cần còn hơn là để quá nhiều như hiện nay. Nhà Nước nên chủ động giảm bớt gánh nặng của mình, thậm chí cho họ phá sản đi để may chăng còn có thể có hiệu quả hơn.
Thanh Trúc
Nguồn : RFA, 24/09/2019
Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thông qua năng suất quốc gia là nội dung cuộc hội thảo khoa học do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức ngày 20 tháng 12 vừa rồi ở Hà Nội.
Hai cựu quan chức dầu khí Việt Nam, Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh, trước tòa vào tháng giêng năm 2018 - AFP
Dịp này, những vấn đề cản trở năng lực cạnh tranh được nêu lên như khẩn cấp cải cách doanh nghiệp nhà nước đang là bộ máy kém hiệu quả và gây cản trở, tính bền vững của kinh tế thị trường vẫn là điều cần quan tâm, tăng trưởng năng suất lao động của Việt Nam bị chậm lại trong thời gian qua, mô hình phát triển của Việt Nam còn nhiều điểm chưa phù hợp để thúc đẩy đất nước tiến lên trong giai đoạn phát triển tiếp theo.
Đây là kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chủ trì thực hiện. Tiến sĩ Vũ Tiến Lộc, chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp, cho biết nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng cạnh tranh của Việt Nam so với các nước bạn trong khu vực ASEAN, xác định những rào cản có thể có trong phát triển của đất nước. Đây cũng được coi như những khuyến nghị đối với nền kinh tế, qua đó vấn đề cải cách doanh nghiệp quốc doanh và sự kém hiệu quả của khu vực là điểm đáng chú ý nhất.
Cải cách doanh nghiệp quốc doanh là đề tài được nhắc đi nhắc lại nhiều lần chứ không đợi đến lần khuyến nghị cuối năm 2018 này, là nhận định của chuyên gia kinh tế trong nước, tiến sĩ Ngô Trí Long :
Không phải bây giờ mới khẩn cấp, hiện với tỷ trọng của doanh nghiệp quốc doanh làm ăn kém hiệu quả so với các thành phần kinh tế khác thì đây là vấn đề cấp bách, vấn đề thời sự mà lúc nào cũng được đặt trên bàn nghị sự của nhà nước Việt Nam.
Dưới mắt một nhà trí thức nước ngoài đang sống tại Việt Nam, ông Nguyễn Đăng Hưng, giáo sư danh dự đại học Liège, Bỉ, hiện là cố vấn cấp cao đại học Duy Tân ở Đà Nẵng, cải tổ hay cải cách doanh nghiệp nhà nước là phạm trù được đưa ra từ thập niên 80 trở đi mà chừng như không kết quả hay không tiến triển gì mấy :
Vì trong nghị quyết của đảng thì kinh tế nhà nước là chủ đạo,đây là nỗi thống khổ của kinh tế và lý do kinh tế trì trệ, đến nỗi bây giờ phát triển kinh tế đứng sau Lào. Bản thân của kinh tế nhà nước cũng có ở những nước tư bản như nước Pháp, cũng có những công ty của nhà nước nhưng cách quản lý của họ không như của Việt Nam.
Vấn đề loại bỏ kinh tế nhà nước thành không chủ động thì không được vì có Nghị Quyết đảng, nhưng điều có thể làm được là thay đổi phong cách quản lý, nhất là cách sử dụng nhân sự và chấp nhận nhân tài. Nhưng trên thực tế thì rất khó vì những người đã nắm quyền nắm tiền rồi thì họ dễ gì buông bỏ để những người có tài có đức lên làm, và cái tư duy trong đảng không cho phép làm được như vậy. Quan trọng phải phát xuất từ một nghị quyết là phải loại bỏ chủ trương chủ đạo của kinh tế nhà nước thì mới được.
Bên cạnh những khuyến nghị cụ thể, nhóm nghiên cứu của Phòng Thương mại và Công nghiệp còn vạch lộ trình chính sách mà Việt Nam phải theo hầu có thể bắt kịp đà tiến của ASEAN vào năm 2040.
Trụ sở Tập đoàn dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam) ở Hà Nội - RFA file
Một trong những cản trở chính của kinh tế Việt Nam là bộ máy cồng kềnh và kém hiệu quả của khu vực quốc doanh. Nói một cách khác, bộ máy kém hiệu quả này đe dọa tính bền vững của kinh tế thị trường. Thêm vào đó, nhóm nghiên cứu nói rằng những cải cách về thể chế không bắt kịp những cải cách về kinh tế.
Những vấn đề vừa nêu được giải thích là Việt Nam thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chính phủ, hoạt động không hữu hiệu, tham nhũng trong khu vực quốc doanh đã cản trở việc thực hiện chính sách nhằm giải quyết mọi khó khăn về tình trạng kinh tế của Việt Nam.
Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp, tiến sĩ Vũ Tiến Lộc, cũng cho rằng cải cách doanh nghiệp quốc doanh dù như không phải là vấn đề mới nhưng điều cấp thiết phải coi đó là vấn đề ưu tiên hàng đầu.
Vẫn theo lời ông, đề xuất của nhóm nghiên cứu kêu gọi chính phủ đẩy mạnh việc cổ phần hóa và thoái vốn từ các doanh nghiệp nhà nước, hợp lý hóa đồng thời tập trung hóa hệ thống quản lý tài sản công. Khẳng định cần loại bỏ tình trạng ông gọi là méo mó, thiếu cân bằng của thị trường do việc ưu ái khu vực công thì mới tạo được sân chơi bình đẳng, lành mạnh và mới áp dụng được các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp hữu hiệu giữa hai khu vực công và tư.
Chuyên gia kinh tế, tiến sĩ Ngô Trí Long, nhận định :
Doanh nghiệp nhà nước Việt Nam nhìn chung thường làm ăn không có hiệu quả bởi rất nhiều vấn đề. Ngoài vấn đề mục tiêu kinh doanh còn vấn đề về mặt chính trị. Trong bối cảnh tình hình đó, qua nhiều lần qua nhiều cuộc thì mới đây ủy ban quản lý tài sản vốn nhà nước được thành lập và tập hợp lại. Đây là vấn đề cấp bách mà người ta tiến hành bằng nhiều hình thức như cổ phần hóa, bán khoán hoặc thoái vốn.
Cải cách doanh nghiệp nhà nước là một xu thế tất yếu, không thể đảo ngược được. Còn để những tập đoàn của nhà nước mà làm ăn kém hiệu quả thì coi như là gây thất thoát, lãng phí, coi như của cải xã hội sẽ mất dần mà cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến bội chi của ngân sách nhà nước.
Chính vì vậy Hội nghị Trung ương V của Khóa XII đảng mới đưa ra và coi kinh tế tư nhân là động lực. Hiện nay người ta theo mô hình quản lý mới là thành lập cái ủy ban quản lý tài sản và vốn của nhà . Nhưng theo tôi nghĩ thì ủy ban này cũng khó có khả năng mà quản lý được. Chỉ có con đường phải đẩy nhanh việc cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước ra khỏi các doanh nghiệp thì may chăng mới có khả năng cải tạo năng lực của các doanh nghiệp nhà nước.
Còn vấn đề tham nhũng trong khu vực doanh nghiệp nhà nước thì sao ? Theo tiến sĩ Ngô Trí Long thì đây là chuyện không thể phủ nhận :
Mà thất thoát, lãng phí, tham nhũng thì đây là cái ổ, cái ung nhọt. Rất nhiều tập đoàn làm thất thoát hàng chục ngàn tỷ đồng, có nghĩa là tiền thuế của dân đội nón ra đi. Cho nên không phải bây giờ mà từ lâu rồi nhà nước phải quyết tâm, chính sách thì đã có, đã nghiên cứu đã quan tâm, nhưng vấn đề phải thực thi làm sao mới là quan trọng.
Trong lúc tiến sĩ Vũ Tiến Lộc khẳng định để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh của Việt Nam với ASEAN, ngoài việc cải tạo khu vực quốc doanh thì những biện pháp cần thiết khác phải là xây dựng một hệ thống hành chính công sao cho thật hiện đại, chuyên nghiệp và minh bạch, phải có sự đào tạo hữu hiệu trong tầng lớp quan chức chính phủ. Ngoài ra, cần phải hướng đến giám sát hiệu quả và tuyển mộ nhân tài thực thụ cho khu vực công.
Còn theo tiến sĩ Ngô Trí Long, những điều vừa nói được lập đi lập lại bao năm qua, ai cũng nghe cũng biết nhưng để nhìn thấy xảy ra trên thực tế lại là một chuyện khác.
Thanh Trúc
Nguồn : RFA, 27/12/2018
Người có dấu hiệu hành vi vi phạm pháp luật ở đây là ông Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1).
"Chống lưng", "sân sau", "nhóm lợi ích", "luật ngầm" là những thuật ngữ xuất hiện khá nhiều trên báo chí những năm gần đây. Tranh minh họa
Chứng cứ cho tố cáo
Trong bản tin phát hành lúc 14g50 ngày 21/11, báo Tuổi Trẻ điện tử có đoạn viết : Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng các doanh nghiệp nhà nước còn yếu kém do không chịu đổi mới, đặc biệt là "có những anh mười mấy sân sau, đừng tưởng Thủ tướng không biết" (2).
"Có đồng chí ở đây, tôi không tiện nói tên, có đến 14 -15 cái ‘sân sau’, đừng nói Thủ tướng không biết đâu. Tình trạng như vậy, các đồng chí ạ, không phải cơ quan chức năng người ta không biết. Các đồng chí phải tự nhìn vào các yếu kém của mình". Báo Thanh Niên điện tử đã trích dẫn lời của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trong bản tin phát hành lúc 15g02 ngày 21/11 (3).
Một nội dung tương tự như báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên cũng được đăng trên báo Người Lao Động điện tử lúc 13g34 ngày 21/11 (4). Báo Sài Gòn Giải Phóng phiên bản điện tử trong bản tin phát hành lúc 16g58 ngày 21/11 cũng trích dẫn tương tự về lời phát biểu liên quan ‘sân sau’ của Thủ tướng Phúc (5).
Báo điện tử Vietnam Net cũng có bài tường thuật với lời dẫn trực tiếp lời của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tương tự như các tờ báo kể trênn (6). Báo điện tử VnExpress cũng có bài cùng nội dung như các đồng nghiệp (7).
Các nhật báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Người Lao Động, Sài Gòn Giải Phóng ở số phát hành báo giấy sáng ngày 22/11 cũng có bài tường thuật như nội dung đã đăng trên báo điện tử vào chiều hôm 21/11 về tuyên bố của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.
Trong kinh doanh, khái niệm ‘sân sau’ của doanh nghiệp nhà nước, đồng nghĩa với một hình thức của tham nhũng. Hồi trung tuần tháng 5/2018, khi góp ý cho đề án tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, được Hội nghị Trung ương 7 thảo luận, Ủy viên Trung ương đảng, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư Nguyễn Chí Dũng đã nói rằng nhiều lãnh đạo tỉnh như chủ tịch, bí thư có cả doanh nghiệp "sân sau", đặt trụ sở ngay tại nhà mình. Những người đó không hề nghĩ đến sự phát triển cho tỉnh, mà chỉ nghĩ đi xin Trung ương được dự án nào thì nghĩ cách tạo lợi ích cá nhân hoặc lợi ích nhóm, ủng hộ tùy tiện nhà thầu này, nhà thầu kia... (8)
Những dẫn chứng khác
Dễ dàng kiểm chứng lời của ông Nguyễn Chí Dũng qua vụ việc bà Phan Thị Mỹ Thanh, nguyên phó bí thư Tỉnh ủy, trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai. Trong thời gian giữ các cương vị tỉnh ủy viên, giám đốc Sở Công thương, bí thư Huyện ủy Nhơn Trạch, bà Phan Thị Mỹ Thanh vẫn tham gia điều hành Công ty trách nhiệm hữu hạn Cường Hưng do chồng mình là cổ đông sáng lập, chủ tịch hội đồng thành viên. Điều này là vi phạm Luật phòng chống tham nhũng.
Trong thời gian giữ cương vị ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy, phó chủ tịch UBND tỉnh, bà Phan Thị Mỹ Thanh có các vi phạm, khuyết điểm : ký các văn bản của UBND tỉnh chấp thuận cho Công ty Cường Hưng đầu tư dự án khu dân cư thương mại xã Phước Tân, vi phạm Luật phòng chống tham nhũng và quy định về những điều đảng viên không được làm.
Trong thời gian này, bà Thanh còn ký các văn bản của UBND tỉnh không thuộc lĩnh vực phụ trách, vi phạm quy chế làm việc và vi phạm các quy định của pháp luật về đầu tư. Bà Thanh còn không minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập, vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm.
Tuy nhiên bà Phan Thị Mỹ Thanh không bị khởi tố hành vi vi phạm pháp luật hình sự tương ứng với hàng loạt sai phạm được Ủy ban Kiểm tra trung ương kết luận và được báo chí đăng tải rộng rãi vào sáng ngày 4/7/2017.
Một vụ việc đình đám khác. Đầu tháng 10/2014, Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Phú Yên đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Vũng Rô (gọi tắt là công ty Cảng Vũng Rô) để đối tác nợ lớn, khó đòi đề nghị xét xử đối với các bị can Nguyễn Minh (SN 1958, nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc công ty Cảng Vũng Rô) và 7 cộng sự. Tất cả 8 bị can đều bị truy tố về tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ theo quy định tại khoản 3, Điều 281, Bộ luật Hình sự.
Hồ sơ vụ án cho biết ông Nguyễn Minh trong quá trình điều hành công ty Cảng Vũng Rô, đã thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất Thương mại Đại Lộc (địa chỉ tại khu công nghiệp Đồng An, thị xã Thuận An, Bình Dương). Ông Minh nhờ một người cháu và chồng bà Nguyễn Vũ Thùy Trang (thủ quỹ công ty Cảng Vũng Rô - chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên góp vốn thành lập công ty Đại Lộc, mỗi người góp 200 triệu đồng. Tuy nhiên, trên thực tế, hai người này không hề góp vốn mà do ông Minh nhờ đứng tên.
Sau khi thành lập ‘công ty sân sau’, ông Minh đã tuồn vốn của Nhà nước cho công ty Đại Lộc thông qua các hợp đồng mua bán vải sợi với nhiều điều khoản có lợi cho công ty Đại Lộc... Việc chuyển tiền từ công ty Cảng Vũng Rô sang cho công ty Đại Lộc gây thiệt hại cho Nhà nước hơn 37,3 tỉ đồng.
Biết mà không xử lý là dung dưỡng hay đồng phạm ?
"Chống lưng", "sân sau", "nhóm lợi ích", "luật ngầm" là những thuật ngữ xuất hiện khá nhiều trên báo chí những năm gần đây. Và như tường thuật của các tờ báo kể trên, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tự cho biết là ông tường tận những doanh nghiệp nhà nước nào đang có "sân sau". Nôm na, ông Nguyễn Xuân Phúc gián tiếp xác nhận có chuyện móc ngoặc giữa một số quan chức nhà nước với các doanh nghiệp để giành những dự án kinh tế, gói thầu...
Với người dân, kể cả các nhà báo chuyên trách mảng nội chính thì đúng là không dễ trả lời rằng có bao nhiêu doanh nghiệp "sân sau" đã thắng thầu ở các dự án kinh tế, ở các gói thầu… ? Bởi bằng chứng đâu để nói các doanh nghiệp thắng thầu là "sân sau" hay có "mối quan hệ" với những người có chức, có quyền ? Quả là quá khó để tìm được câu trả lời thỏa đáng, càng khó hơn khi phải đưa ra bằng chứng để chứng minh quan chức có liên quan với các "mối quan hệ" đã tác động như thế nào để có được lợi thế.
Tuy nhiên một khi chính miệng người đứng đầu Chính phủ tuyên bố là ông biết "có những anh mười mấy sân sau", thì đó là một chứng cứ được xác lập, và cơ quan điều tra đã có thể nhanh chóng vào cuộc.
Ngoài ra cũng cần làm rõ vì sao Thủ tướng biết đâu là những doanh nghiệp có hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn không yêu cầu cơ quan thực thi pháp luật xử lý ? Liệu đây có phải là hành vi được coi là ‘đồng phạm’, là của 'bánh ít đi, bánh quy lại' ?
Có ý kiến cho rằng sở dĩ Thủ tướng chỉ dừng ở mức đánh tiếng hăm he, vì thực tế, có thể còn nhiều "sân sau" khác khó phát hiện hơn. Bởi "sân sau" núp bóng dưới nhiều hình thức, được ngụy trang nhiều lớp mà quan chức hưởng lợi có khi chỉ góp vốn bằng... chính sách.
Trúc Giang
Nguồn : VNTB, 23/11/2018
Chú thích :
(1) Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011, công dân có thể tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Như vậy, trên tinh thần mọi hành vi vi phạm pháp luật đều được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, người dân có quyền tố cáo bất cứ hành vi vi phạm pháp luật nào.
Do đó không thể quy chụp người viết bài này về tội danh nói xấu lãnh đạo nằm trong nhóm tội danh 'làm nhục, vu khống' ; hoặc nhóm tội danh 'sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân' ở Điều 16, Luật An ninh mạng.
Khi con số vay nợ nước ngoài của Việt Nam - bao gồm nợ chính phủ, nợ do chính phủ bảo lãnh và nợ của các doanh nghiệp - đã vọt lên ngang bằng với toàn bộ GDP một năm, tức hơn 200 tỷ USD, đã quá muộn để Bộ Chính trị và hai cơ quan được đảng cầm tay chỉ việc - Quốc hội cùng Chính phủ - ra tay ‘siết chặt bảo lãnh cho vay’.
Doanh nghiệp nhà nước làm tăng gánh nặng nợ công - Ảnh minh họa
Ai sẽ trả nợ cho nợ nước ngoài của doanh nghiệp ?
Kỳ họp quốc hội tháng 10 - 11 năm 2018 đã một lần nữa, trong nhiều lần kể từ sau thời ‘ăn ốc’ của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, cuống cuồng tìm cách chạy làng khỏi nạn ‘đổ vỏ’ bằng chủ trương được ‘gật toàn diện’ ở các cấp trung ương nhưng chưa hề được thông não bởi các tập đoàn kinh tế nhà nước : siết bảo lãnh cho vay.
Vào năm 2017, chính phủ của thủ tướng ‘đổ vỏ’ Nguyễn Xuân Phúc đã phải đề ra hạn ngạch bảo lãnh cho vay chỉ 1 tỷ USD - con số thấp nhất trong nhiều năm gần đây. Nhưng sang năm 2018, hạn ngạch này thậm chí không còn tồn tại.
"Doanh nghiệp nhà nước vay nước ngoài tăng vọt, ai sẽ trả nợ ?"- giới chuyên gia, báo chí và cả quan chức cùng hốt hoảng kêu lên. "Nếu các doanh nghiệp này là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nhà nước chiếm cổ phần chi phối không có khả năng trả nợ thì nợ này ai trả, bởi đây đều là các doanh nghiệp nhà nước ?".
Trả lời câu hỏi trên, Bộ trưởng Bộ Thắt Cổ (một tục danh mà dân gian đặt cho Bộ Tài chính - địa chỉ chính yếu ‘kiến tạo’ vô số sắc thuế và đè đầu dân để siết thuế nhằm cứu vãn cho ngân sách đảng sắp vào hồi rỗng ruột và cho cả tỷ lệ chi thường xuyên cho bộ máy gần 3 triệu công chức viên chức chiếm hơn 70% tổng chi ngân sách) - Đinh Tiến Dũng - đã phải thừa nhận đúng là nợ nước ngoài tự vay tự trả của doanh nghiệp đang có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây : năm 2016 tăng 25,7% so với 2015 ; năm 2017 tăng 39,6% so với 2016. Nếu năm 2015, nợ nước ngoài của quốc gia là 42% thì đến cuối năm 2018 đã tăng lên mức 49,7%, sát với ngưỡng 50%.
"Riêng năm 2017, nợ nước ngoài tự vay, tự trả của doanh nghiệp tăng tới 42%,
trong đó có khoản vay của công ty Việt Nam Beverage trị giá 4,8 tỉ USD đểmua cổ phần của Sabeco, chúng ta lại cộng vào nợ nước ngoài quốc gia" - cho đến giờ Đinh Tiến Dũng mới thừa nhận và tiết lộ ‘bí mật’.
Nhưng ông Dũng lại cho rằng nợ nước ngoài của doanh nghiệp mới là nguyên nhân chính dẫn đến gia tăng nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP, trong khi không thừa nhận nợ của chính phủ, mà đứng đằng sau là ‘đảng ta’, cũng cống hiến một phần không nhỏ vào gánh nặng nợ nước ngoài, nợ công quốc gia và khiến dân Việt sẽ không biết phải tính bao nhiêu đời con cháu mới trả xong.
Vậy làm thế nào để trả núi nợ nước ngoài của khối doanh nghiệp, chưa tính đến nợ nước ngoài của chính phủ ?
"Chính phủ đã chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước chủ trì nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm kiểm soát chặt chẽ hoạt động vay nước ngoài theo phương thức tự vay, tự trả của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng ; hạn chế tối đa cấp bảo lãnh Chính phủ cho các khoản vay mới. Chính phủ cũng sẽ không bảo lãnh cho doanh nghiệp để vay vốn nước ngoài và không sử dụng nguồn Chính phủ vay về để cho doanh nghiệp vay lại ; không sử dụng ngân sách nhà nước để cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, xử lý nợ xấu của ngân hàng và cấp vốn điều lệ cho các tổ chức tín dụng thương mại", Bộ trưởng tài chính Đinh Tiến Dũng ‘kiến tạo’ giải pháp.
Còn trước câu hỏi "nếu doanh nghiệp, tổ chức tín dụng vay không trả được thì ai sẽ trả nợ", ông Dũng trả lời gọn lỏn : người vay sẽ là người trả.
Theo đó, Nghị quyết của Bộ Chính trị và của Quốc hội là không dùng ngân sách để tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước ; đồng thời, theo quy định hiện nay, nợ nước ngoài của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, tổ chức tín dụng theo cơ chế tự vay tự trả do bên vay có trách nhiệm tích lũy để trả nợ…
Hết dám bảo lãnh cho vay !
Cần nhắc lại, Chương trình quản lý nợ trung hạn giai đoạn 2016-2018 với mục tiêu nợ công (bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương) được Thủ tướng Phúc phê duyệt vào cuối tháng 4/2017 đã tạm dừng toàn bộ việc cấp mới bảo lãnh Chính phủ cho các khoản vay trong và ngoài nước. Điều đó có nghĩa là Chính phủ sẽ không còn chịu trách nhiệm gì về những khoản nợ vay của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước, cho dù là vay từ các ngân hàng thương mại cổ phần trong nước.
Trước đó vào đầu tháng 3/2017, Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại (Bộ Tài Chính) đã phát ra thông tin Chính phủ chỉ bảo lãnh vay 1 tỷ USD cho doanh nghiệp trong năm 2017.
Mức bảo lãnh chỉ có 1 tỷ USD trên là giảm mạnh so với những năm trước (năm 2015 là 2,5 tỉ USD và 2016 là 1,5 tỉ USD), và giảm rất mạnh so với mức 6,6 tỷ USD của năm 2014.
Nhưng cho đến nay, có vẻ ngay cả con số 1 tỷ USD bảo lãnh cho năm 2017 cũng không còn nữa. Vào lúc này, Chính phủ và Bộ tài chính chỉ còn biết cắm đầu trả nợ.
Những năm trước, hiện tượng nhiều tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước vay nợ tràn lan, đã cho thấy tâm lý vay là cực kỳ vô trách nhiệm. Và thậm chí một số doanh nghiệp còn có biểu hiện "xù nợ" khi làm ăn lỗ lã.
Có đến ít nhất 30% số tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước đã rơi vào vòng lỗ lã, và đối mặt với nguy cơ phá sản kể từ năm 2008, khi kinh tế Việt Nam bắt đầu rơi vào giai đoạn suy thoái. Con số cập nhật nhất vào đầu năm 2017 là từ một nhà nghiên cứu độc lập là Tiến sĩ Vũ Quang Việt - cựu vụ trưởng vụ Thống kê Liên hiệp quốc - ngay trên một tờ báo nhà nước là Thời báo Kinh tế Sài Gòn, cho biết các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước đang gánh một khoản nợ công lên đến 231 tỷ USD - vượt hơn rất nhiều số "dự tính" khoảng 25 tỷ USD do một số cơ quan nghiên cứu của chính quyền Việt Nam đưa ra vào thời điểm đó.
Chỉ riêng năm 2016, một số dự án "khủng" như Dự án Đường sắt cao tốc Bắc Nam (ước toán đầu tư đến hơn 50 tỷ USD), Dự án Đường bộ cao tốc Bắc - Nam (hơn 10 tỷ USD), Dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận (20 tỷ USD) đã bị Chính phủ và Quốc hội "dũng cảm" đình hoãn vô thời hạn, nhưng ai cũng hiểu lý do thực chất là… hết tiền. Ngay cả dự án xây dựng sân bay Long Thành có ước toán đầu tư đến 15 tỷ USD (khoảng 60-80% là vay ODA) cũng chưa biết làm cách nào để "xoay" ra tiền…
Nhưng nhiều doanh nghiệp và tập đoàn nhà nước - vốn đã quen ‘ăn’, không thể nhịn và do đó vẫn tiếp tục tống ra các yêu cầu cần được bão lãnh vay đối với chính phủ.
Vào năm 2017, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đã phát ra một đề nghị hoàn toàn mất "thiên thời" : muốn được Chính phủ bảo lãnh vay trong khi chính giới quan chức lãnh đạo của PVN đang lũ lượt tra tay vào còng.
Những đề nghị bảo lãnh trên vẫn được PVN nêu ra như một não trạng cùng thói quen không mấy thay đổi dù "triều đại Nguyễn Tấn Dũng" đã trôi qua từ khá lâu. Trong giai đoạn 2011-2015 của "triều đại" này, chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã cấp bảo lãnh vay trong và ngoài nước cho 35 chương trình dự án với tổng số vốn khoảng 15,6 tỉ USD, trong đó vay nước ngoài lên đến 14 tỉ USD.
Một nửa nợ sẽ đáo hạn trong 3 năm tới !
Khách quan mà xét, Nguyễn Xuân Phúc lại là đời thủ tướng "cực hình" nhất trong lịch sử tồn tại của đảng Cộng sản Việt Nam. Trả nợ nhiều nhất, kinh tế be bét nhất, xã hội hỗn tạp nhất, chính trị "tan nát" nhất… Nhưng phải sau nửa năm kế thừa chức thủ tướng từ Nguyễn Tấn Dũng, ông Phúc mới nhận ra được cảnh nạn đó để chính ông phải than "Nợ công nếu tính đủ thì đã vượt trần" và cảnh báo về nguy cơ "sụp đổ tài khóa quốc gia".
Còn bây giờ, hẳn nhiên ông Phúc không hề mong muốn mình phải trở thành nạn nhân "đổ vỏ" cho quá nhiều hậu quả gầy dựng bởi đời thủ tướng trước.
Trong bối cảnh giật gấu vá vai như thế, Ngân hàng thế giới lại đưa ra một cảnh báo giật mình : trong 3 năm tới, có đến 50% nợ trong nước của Chính phủ sẽ đáo hạn, tức chính phủ này phải đối mặt với nguy cơ rất lớn là không biết lấy đâu ra tiền để trả nợ, trừ việc… in tiền ồ ạt.
Phạm Chí Dũng
Nguồn : VOA, 17/11/2018
Việt Nam : Đảng viên có thể bị cấm xuất cảnh (BBC, 29/05/2018)
Thường trực Ban Bí thư ký qui định theo đó có thể tạm hoãn xuất cảnh đối với đảng viên có dấu hiệu tham nhũng và có biểu hiện bỏ trốn.
Qui định được Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng thay mặt Bộ Chính trị ký
Qui định được ông Trần Quốc Vượng thay mặt Bộ Chính trị ký trong bối cảnh Việt Nam tăng cường phòng và chống tham nhũng.
Qui định số 01 gồm 4 chương, 8 điều có đoạn nói "Đảng viên ở bất cứ cương vị công tác nào, có dấu hiệu tham nhũng đều phải được xem xét làm rõ và xử lý nghiêm theo quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước, không có vùng cấm",
"Trên cơ sở chức năng nhiệm vụ, thẩm quyền của mình, Ủy ban Kiểm tra phải chủ động thực hiện công tác phòng chống tham nhũng. Khi phát hiện đảng viên có hành vi tham nhũng phải kiểm tra, xem xét và xử lý nghiêm minh, chính xác, kịp thời.
"Tổ chức đảng, đảng viên có hành vi dung túng, bao che, tham nhũng hoặc cản trở, can thiệp trái quy định vào việc xử lý các vụ việc tham nhũng sẽ bị xử lý nghiêm," qui định này nói thêm.
Trong động thái được xem là trao quyền mạnh hơn cho Ủy ban Kiểm tra Trung ương sau một số vụ quan chức nhà nước bỏ trốn và bị truy nã, qui định nói rõ rằng ủy ban này "có quyền yêu cầu đảng viên không được xuất cảnh".
"Khi cần thiết [Ủy ban Kiểm tra] đề nghị các cơ quan có thẩm quyền tạm hoãn xuất cảnh theo quy định của pháp luật đối với đảng viên có dấu hiệu tham nhũng và có biểu hiện bỏ trốn".
Được biết ủy ban này cũng có thẩm quyền yêu cầu giữ nguyên hiện trạng tài sản, khi cần thiết đề nghị cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp kê biên tài sản, phong toả tài khoản và các biện pháp khác theo quy định của pháp luật đối với đảng viên có dấu hiệu tham nhũng và có biểu hiện che giấu, tẩu tán tài sản.
Qui định này được đưa ra trong bối cảnh xảy ra một loạt vụ quan chức nhà nước bỏ trốn ra nước ngoài và bị khởi tố.
Hồi tháng Một năm nay, ông Phan Văn Anh Vũ, còn được gọi là Vũ 'Nhôm', bị khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can về hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ sau khi ông bị bắt giữ ở sân bay Singapore và đưa về Việt Nam.
******************
Chứng khoán Việt Nam bị ‘thổi bay’ 10 tỷ USD trong một tuần ? (Người Việt, 27/05/2018)
Truyền thông nhà nước cộng sản Việt Nam Việt Nam đưa ra con số không khớp nhau về việc thị trường chứng khoán lao dốc mạnh.
Chỉ số VN-Index liên tục giảm sâu trong tuần qua. (Hình : Thanh Niên)
Tờ Dân Trí hôm 27 tháng Năm nói gần 10 tỷ USD đã bị "thổi bay" trong một tuần mà Ủy ban Chứng khoán vẫn… im lặng, trong lúc báo điện tử VTC News ước lượng nhà đầu tư "thủng túi" 6,6 tỷ USD.
Tuy vậy, việc thị trường chứng khoán Việt Nam lao dốc mạnh trong thời gian qua là có thật, với hàng loạt phiên "giảm sâu" nối tiếp nhau và hãn hữu mới có một phiên tăng nhẹ trong tháng Năm. Tình trạng bán tháo được ghi nhận "tăng vọt" trong lúc thị trường thủng đáy.
Báo Lao Động mô tả : "Hôm 22 tháng Năm là ngày giao dịch ‘nhuốm máu’ khiến các nhà đầu tư rơi vào trạng thái thất vọng. VN-Index chính thức mất mốc 1.000 điểm, lực bán tháo mạnh và lan trên diện rộng".
Tờ Dân Trí cho biết thêm : "Chỉ trong vòng một tuần giao dịch vừa qua, vốn hóa sàn Sài Gòn (HSX) đã giảm tới 225.522 tỷ đồng, nghĩa là khoảng gần 10 tỷ USD đã bị ‘đánh bay’ khỏi thị trường, chưa tính sàn Hà Nội (HNX) và sàn UPCOM của công ty đại chúng chưa được niêm yết".
"Việc thị trường chứng khoán lao dốc mạnh trong thời gian gần đây khiến không ít nhà đầu tư cảm thấy ‘khó hiểu’ bởi các chỉ số kinh tế vĩ mô vẫn diễn biến tích cực và không có thông tin xấu ‘đột biến’ nào," tờ báo viết.
Còn theo VTC News, trong đợt lao dốc này, các cổ phiếu ngân hàng lớn của Việt Nam như của Vietcombank, BIDV, VPBank "tiếp tục gánh chịu tổn thất lớn," với vốn hóa thị trường "hao hụt cả tỷ đô la".
"Các ông lớn nhiều khả năng vẫn phải chứng kiến nhiều mất mát nặng nề trong tuần tiếp theo. Khi dự báo về VN-Index trong thời gian tới, các công ty chứng khoán vẫn đưa ra cái nhìn khá bi quan," VTC News viết.
Theo Bloomberg, MSCI, tổ chức xếp hạng chứng khoán của Mỹ có lý khi giữ Việt Nam trong danh sách các thị trường cận biên vì tính "mù mờ" của thị trường và chịu mức độ chi phối của một vài công ty lớn. Bloomberg dẫn nhận định của chuyên gia rằng bức tranh thị trường chứng khoán Việt Nam "sẽ tiếp tục mù mờ ngay cả khi một số thương vụ IPO lớn sắp được kích hoạt".
Việc chứng khoán lao dốc tương phản với những dự báo lạc quan của giới chuyên gia trước đó không lâu. Hồi cuối tháng Tư, 2018, báo VnExpress dẫn lời ông Nguyễn Duy Hưng, chủ tịch Công Ty Cổ Phần Chứng Khoán SSI : "Nhìn chung thị trường chứng khoán (Việt Nam) năm 2018 đã, đang và sẽ diễn biến theo chiều hướng tích cực. Đây là chu kỳ tốt nhất từ khi thị trường thành lập cho đến nay. Tuy nhiên, đánh giá thị trường đang tốt không có nghĩa rằng chỉ số VN-Index phải luôn luôn tăng trưởng cao".
Khi chứng khoán lại tiếp tục đỏ sàn và chưa ai dám khẳng định thị trường đã "dò" xong đáy, rủi ro lớn nhất thuộc về các nhà đầu tư cá nhân.
Luật sư Phùng Anh Tuấn bình luận trên trang Facebook cá nhân : "Trong danh sách chín mục tiêu sửa Luật Chứng Khoán Việt Nam, không có mục tiêu nào là bảo vệ nhà đầu tư cả. Việt Nam cần ban hành các quy định pháp luật để bảo vệ nhà đầu tư ; trao quyền và tạo điều kiện cho các tổ chức, hiệp hội để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư. Cần thành lập quỹ bảo vệ nhà đầu tư. Sau cùng, cần có cơ chế để các định chế bảo vệ nhà đầu tư có quyền đại diện khởi kiện thay mặt cho các nhà đầu tư… Không bảo vệ gà mái, làm sao có trứng vàng, phải không nhỉ ?" (T.K.)
*****************
Việt Nam : Công ty nhà nước ‘giấu lỗ, báo lời không thật’ (Người Việt, 28/05/2018)
Lần đầu tiên, người ta thấy một ông tổng thành tra chính phủ cộng sản Việt Nam kêu rằng "đa số" các công ty quốc doanh "giấu lỗ, báo lời không thật" vì sự thiếu lương thiện của các quan chức cầm đầu.
Nhà máy xơ sợi Đình Vũ (PVTex) của tập đoàn Dầu khí Việt Nam thua lỗ hàng ngàn tỷ đồng đang "đắp chiếu". Lãnh đạo của PVTex là Vũ Đình Duy hiện đang trốn ở Đức. (Hình : Thanh Niên)
Trong cuộc họp vừa diễn ra ở quốc hội cộng sản Việt Nam được VnExpress tường thuật, ông Lê Minh Khái, tổng thanh tra chính phủ cho biết "qua thanh tra cho thấy các mánh khóe trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhà nước thường xoay quanh xu hướng : Đơn vị kinh doanh có hiệu quả thì thường không báo cáo hết, kể cả hoạt động sản xuất kinh doanh…" trong khi "Đơn vị lỗ, thất thoát tài sản nhà nước lại cố tình tạo ra những khoản lợi không có thật, che giấu các khoản lỗ, nhằm tránh trách nhiệm…"
Tình trạng gian dối như thế được ông Lê Minh Khái mô tả "cái này là đa số".
Ngay tại chính các công ty quốc doanh cũng có sẵn bộ phận kiểm tra, thanh tra nội bộ, nhất là các công ty lớn thuộc dạng tập đoàn, tổng công ty. Tuy nhiên, ông Khái nói "nhiều trường hợp lại không phát hiện ra sai sót".
Bởi vậy "Các sai phạm lớn nhất là sai về hạch toán doanh thu chi phí, sai về sản xuất kinh doanh, nộp thuế, mua sắm tài sản công… không đúng giá trị thực, hoặc đầu tư ra ngoài ngành… Tiếp theo là sử dụng cơ cấu vốn không hợp lý, vốn ngắn hạn thì sử dụng dài hạn, vốn dài hạn đem sử dụng trong ngắn hạn, làm cho tình hình tài chính phức tạp," ông Khái kêu ca trên tờ điện tử VnExpress.
Tình trạng "lãi giả, lỗ thật" của hệ thống kinh tài quốc doanh cộng sản Việt Nam vốn được biết đến từ lâu. Những đảng viên được cắt cử vào các chức vụ cầm đầu phải là những tay chân thân tín của những kẻ đương quyền. Nạn bè phái, tìm cách lươn lẹo để tham nhũng trong hệ thống quốc doanh làm thất thoát những số tiền rất lớn thỉnh thoảng mới chỉ thấy một ít quan chức bị hành tội khi không còn dịp để che đậy.
Theo các con số báo cáo ở Quốc hội cộng sản Việt Nam, tính đến cuối năm 2016 "cả nước còn 583 doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, 273 doanh nghiệp cổ phần. Tổng tài sản tại doanh nghiệp nhà nước giữ 100% là hơn 3,05 triệu tỷ đồng (tăng 45,8%), trong đó vốn nhà nước gần 1,4 triệu tỷ".
Nhưng nhóm quốc doanh này hiện đang ôm "tổng nợ phải trả cao, từ gần 1,3 triệu tỷ đồng năm 2011 lên xấp xỉ 1,63 triệu tỷ vào cuối 2016" tức nợ ngập đầu, cao hơn số vốn bỏ ra.
Hiện đang có hơn chục đại công ty kinh doanh thua lỗ đang "đắp chiếu" hoặc xây dựng dở dang rồi cũng "đắp chiếu" gây thất thoát hàng chục ngàn tỉ đồng từng được phơi bày trên mặt báo chí của chế độ như công ty CP Hóa dầu và Xơ Sợi Dầu khí (PVTex), tổng công ty cổ phần Xây Lắp Dầu Khí Việt Nam (PVC), công ty Công Nghiệp Tàu Thủy Dung Quất (DQS)… đều là của Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam (PVN).
Bên cạnh đó, các tập đoàn nhà nước cộng sản Việt Nam đem 7 tỷ USD đi đầu tư nước ngoài, nhưng "hơn 25% dự án báo lỗ, gần 30% dự án phát sinh lỗ luỹ kế" phần lớn trong lĩnh vực viễn thông, thăm dò khai thác dầu khí, khai thác khoáng sản, trồng cây cao su…
Các định chế tài chính quốc tế đã nhiều lần đốc thúc nhà cầm quyền Việt Nam giải tán hệ thống quốc doanh vì chúng chỉ là cơ hội cho các đảng viên đục khoét, tham nhũng, gây thất thoát ngân sách. Dù vậy, bản báo cáo thấy đọc trong các kỳ họp đại hội đảng vẫn cả quyết lấy doanh nghiệp nhà nước "làm chủ đạo" để tiến lên cái thiên đường ảo tưởng "xã hội chủ nghĩa".
Ngày 24 tháng Mười, 2013, trong một buổi thảo luận ở Quốc hội về sửa đổi Hiến Pháp, ông Tổng Bí Thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng thú nhận : "Đến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa". (TN)
***************
Lại thêm tàu cá Quảng Ngãi bị đâm chìm ở ngoài khơi Hoàng Sa (CaliToday, 28/05/2018)
Một tàu cá bị hải cảnh Trung Quốc đâm chìm khi đang khai thác rong biển ngoài khơi Hoàng Sa. Tất cả 7 ngư phủ sau đó đã được tàu cá khác cứu vớt kịp thời nên không ảnh hưởng đến tính mạng. Tuy nhiên, thiệt hại về tài sản là vô cùng lớn. Điều đáng nói hơn nữa là truyền thông Việt Nam vẫn như thường lệ không hề dám nói đến kẻ thủ ác đã ra tay với đồng bào mình.
Tàu cá của ngư dân Lý Sơn liên tục bị đâm chìm trong thời gian qua. Ảnh : Internet
Cho đến chiều ngày 27/5, chính quyền huyện đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi) mới cho truyền thông biết tin tức về con tàu mang số hiệu QNg 96798 TS do ông Lê Hơn (thôn Tây, xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn) làm chủ kiêm thuyền trưởng.
Chính quyền đảo cho biết, tàu cá QNg 96798 TS đã xuất bến tại đảo Lý Sơn cùng với 7 ngư phủ khác để đi ra khơi Hoàng Sa khai thác rong biển từ ngày 18/5 đến 24/5. Đang lúc khai thác rong biển thì gặp tàu hải cảnh Trung Quốc xuất hiện và ngăn cả, truy kích rồi sau đó đâm chìm ngay trên biển khơi.
Sau khi bị đâm chìm, chủ tàu là ông Lê Hơn đã nhanh chóng liên lạc với các tàu đang đánh bắt gần đó đến cứu giúp nên cả 7 người trên tàu đều được bình an. Cùng với đó, ông Hơn đã liên lạc với bộ đội biên phòng ở đất liền để trình báo sự việc.
Đến sáng ngày 28/5, cả 7 ngư phủ trên tàu cá QNg 96798 TS đã về được đất liền an toàn.
Không phải chờ đến khi Trung Quốc đơn phương ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông từ 1/5 đến 16/8) thì lực lượng hải giám mới tung hoành, bắt bớ, đâm tàu và cướp tài sản của ngư dân Việt Nam. Mà trước đó lực lượng này cũng đã hành xử như những tên cướp biển. Trong rất nhiều lần, ngư dân Việt Nam tố cáo lực lượng hải giám Trung Quốc dùng vũ khí để cướp tài sản của họ trên Biển Đông. Ngư dân Việt Nam đã trình báo sự việc với lực lượng có trách nhiệm, trong đó có cả bộ đội biên phòng, cảnh sát biển. Vậy nhưng cho đến này nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam cũng chỉ ghi nhận những tổn thất, mất mát của ngư dân mà không hề có bất cứ giải pháp nào hiệu quả nhằm ngăn chặn, cũng như là bảo vệ ngư dân trước sự bách hại của hải giám Trung Quốc.
Lực lượng cảnh sát biển, biên phòng hay hải quân Việt Nam luôn luôn nằm bờ. Trong khi chính quyền cộng sản Việt Nam lại ra sức tuyên truyền, kêu gọi ngư dân phải ra khơi để bảo vệ chủ quyền. Cho dù nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam thừa biết vùng lãnh hải mà họ kêu gọi ngư dân đi đánh bắt rất nguy hiểm.
Mới đây, những ngư dân bị Indonesia còn cho biết rằng, họ đánh bắt tại vùng lãnh hải mà nhà cầm quyền luôn khẳng định đó là thuộc chủ quyền Việt Nam. Khi bị hải quân Indonesia bắt, những ngư dân này yêu cầu nhân viên sứ quán có mặt để khẳng định họ không hề xâm phạm lãnh hải của bất kỳ quốc gia nào, mà chỉ đánh bắt trong vùng lãnh hải thuộc chủ quyền Việt Nam. Tuy nhiên, bất chấp lời kêu gọi của các ngư dân, không hề có bất cứ nhân viên lãnh sự nào của cộng sản Việt Nam có mặt tại tòa để bảo vệ quyền lợi cho công dân Việt.
Ngư dân Việt Nam không chỉ phải đối mặt với sự hung tàn của lực lượng hải giám Trung Quốc, mà còn phải chấp nhận sự vô trách nhiệm của chính quyền cộng sản Việt Nam khi xảy ra sự cố. Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam kêu gọi ngư dân ra khơi bảo vệ chủ quyền đất nước, và món quà mà họ tặng cho ngư dân là những lá cờ. Trong khi đánh bắt ngoài khơi, những lá cờ màu máu gây chú ý cho lực lượng hải giám Trung Quốc đuổi theo truy lùng, bắt giết.
**************************
Tàu cá Quảng Ngãi bị tàu tuần tra Trung Quốc đâm chìm ở Hoàng Sa (Người Việt, 28/05/2018)
Một tàu đánh cá của ngư dân đảo Lý Sơn tỉnh Quảng Ngãi vừa bị tàu tuần tra của Trung Quốc đâm chìm ở khu vực biển Hoàng Sa, nơi Việt Nam vẫn tuyên bố chủ quyền lãnh thổ.
Tàu cá của ngư dân Việt Nam bị tàu tuần Trung Quốc đâm chìm ở vùng biển quần đảo Hoàng Sa được một tàu bạn kéo. (Hình : Báo Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh)
Theo truyền thông Việt Nam, chiếc tàu bị nạn do ngư dân Lê Hơn, cư dân thôn Tây xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn, làm chủ kiêm thuyền trưởng với 7 lao động đều là người địa phương. Họ bắt đầu chuyến đi từ ngày 18 tháng Năm, 2018 đến ngư trường Hoàng Sa để khai thác rong biển.
Đến ngày 24 tháng Năm, 2018 thì họ gặp "tàu của lực lượng chức năng Trung Quốc xuất hiện, ngăn cản và đâm chìm," theo tin tờ Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh hôm 27 tháng Năm.
Nguồn tin vừa kể nói rằng "May mắn, các tàu cá địa phương đang khai thác hải sản tại ngư trường này kịp thời tiếp cận và cứu vớt".
Cùng đưa tin này nhưng tờ Dân Việt chỉ dám viết là tàu cá của ngư dân Lê Hơn "bị tàu của nước ngoài xuất hiện, ngăn cản và đâm chìm".
Theo tờ Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh, ngay sau khi được cứu vớt lên tàu cá, "chủ tàu bị nạn đã liên lạc về đất liền. Bộ Tư Lệnh Vùng Cảnh Sát Biển 2 đã điều tàu ra đưa các ngư dân trên tàu cá bị nạn về bờ," dự trù sẽ về đến cảng Kỳ Hà của tỉnh Quảng Ngãi ngày 28 tháng Năm, 2018.
Những tháng gần đây, người ta thấy Trung Quốc gia tăng các hành động hung bạo đối với ngư dân Việt Nam. tháng trước, người ta cũng đã thấy một tàu cá khác của ngư dân Việt Nam bị tàu tuần Trung Quốc đâm chìm.
Báo chí trong nước nói ngày 20 tháng Tư, 2018, tàu cá QNg 90332 TS do ngư dân Nguyễn Tấn Ngọt (ở xã Bình Châu, huyện Bình Sơn) làm thuyền trưởng bị hai tàu Trung Quốc số hiệu 45103 và 46001 áp sát đâm chìm tại ngư trường Hoàng Sa rồi bỏ đi.
Người ta chỉ thấy Hội Nghề Cá tỉnh Quảng Ngãi gửi văn thư tới Nhà Cầm Quyền Trung Ương Hà Nội "đề nghị cơ quan chức năng Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc bồi thường thiệt hại cho ngư dân, để ngư dân Việt Nam yên tâm ra khơi bám biển sản xuất".
Mới ngày 22 tháng Năm, 2018, khi lặn bắt hải sâm ở Hoàng Sa, các ngư dân ở huyện Lý Sơn vớt được "vật thể lạ," nghi bom của Trung Quốc thả xuống đưa lên thuyền thúng để kiểm tra thì bất ngờ phát nổ khiến ba người tử nạn.
Đầu tuần trước, báo chí Hồng Kông đưa tin tàu cảnh sát biển phối hợp với hải quân của Trung Quốc đã thực hiện các chuyến tuần tra hỗn hợp những ngày từ đầu tháng Năm, 2018 đã "đuổi" hơn 10 tàu đánh cá "nước ngoài" hiểu ngầm là tàu đánh cá Việt Nam ra khỏi vùng biển Hoàng Sa.
Khai thác thủy sản ở khu vực gần quần đảo Hoàng Sa nếu không phải tàu đánh cá Trung Quốc, chỉ có tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam. Không biết bao nhiêu lần tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam khai thác thủy sản gần quần đảo Hoàng Sa đã bị tàu tuần Trung Quốc bắt giữ, nhẹ thì đâm cho hư hỏng, nặng thì đâm cho chìm, bất chấp mạng sống của ngư dân.
Theo Thông Tấn Xã Việt Nam (TTXVN), đại diện Việt Nam và Trung Quốc họp với nhau tại Hà Nội từ 14 đến 18 tháng Năm, 2018 để đàm phán về "hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm trên biển".
Không thấy loan báo chi tiết kết quả của cuộc đàm phán mà chỉ thấy TTXVN kể "Hai bên cũng đã trao đổi về một số nội dung liên quan đến hợp tác trong lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn trên biển và thỏa thuận thiết lập đường dây nóng về các vụ việc phát sinh đột xuất của hoạt động nghề cá trên biển" rồi khoe rằng "đạt được nhiều tiến triển thực chất". Những cái tiến triển thực chất là cái gì, ai cũng muốn biết thì lại giấu đi.
Năm nay cũng tương tự như những năm trước, Trung Quốc lại ra lệnh cấm đánh cá từ 12 giờ ngày 1 tháng Năm đến 12 giờ ngày 16 tháng Tám, 2018 trong Biển Đông, vùng biển từ 12 độ vĩ Bắc đến đường giao giới vùng biển Phúc Kiến – Quảng Đông, kể cả vịnh Bắc Bộ và vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam.
Hà Nội chỉ đưa ra lời phản đối suông "thông báo cấm đánh cá của Trung Quốc là vô giá trị" nên ngư dân Việt Nam khi đến gần quần đảo Hoàng Sa là bị tàu tuần Trung Quốc uy hiếp, đâm chìm. (TN)
Nhiều quan điểm cho hay, chiến dịch chống tham nhũng Việt Nam đang đi theo một nhận thức chung như cách mà Trung Quốc đang tiến hành. Quả thực, sự học hỏi này là có ! Nhưng liệu chống tham nhũng có giống như việc, 'trà Trung Quốc ngon hơn trà Việt Nam' ?
Chức năng Siêu ủy ban trong quản lý vốn nhà nước
Mới đây nhất, một Siêu ủy ban được lên kế hoạch nhằm quản lý vốn có hiệu quả hơn (với trị giá lên đến 5 triệu tỷ đồng), nó được đánh giá sẽ tước bỏ lợi ích nhóm của các bộ ngành thông qua việc giảm bớt sự can thiệp tủy tiện của các cơ quan nhà nước vào trong doanh nghiệp nhà nước. Một Nghị qủyết về thành lập ủy ban sẽ được ra đời trong cuộc họp Chính phủ ngày 2/2 tới, dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ.
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh - một chủyên gia kinh tế có tiếng nói phản biện cũng thể hiện sự 'kỳ vọng', và coi đây như một cách để đảm bảo sự cạnh tranh bình đăng, cải cách tốt hơn.
Điều này cũng đồng nghĩa, Siêu ủy ban về quản lý vốn sẽ là bước tiếp theo trong kiểm soát chống tham nhũng.
Vấn đề đặt ra là, trong một hệ thống nhà nước mà chương trình phát triển kinh tế được tiến hành bằng chỉ đạo (thông qua Nghị qủyết), cấu trúc nhà nước được đan xen bởi trục dọc và trục ngang thì liệu Siêu ủy ban có được như kỳ vọng ?
Khó : từ chính trị gia đến minh bạch
Chủyên gia kinh tế và nhà phản biện độc lập - bà Phạm Chi Lan đã đúc kết sự thành bại của Siêu ủy ban này trong câu nói : Người quản lý phải là người có kỹ trị chứ không chỉ là chính trị. Nếu chỉ am hiểu chính trị mà không am hiểu thị trường, không nắm rõ các ngủyên tắc quản lý cơ bản thì không thể làm tốt được.
Lo lắng này là có thực, bởi ngay cả người anh cả Trung Quốc, nơi đang là nguồn cảm hứng của các lãnh đạo Đảng và Nhà nước của Việt Nam cũng găp nhiều vấn đề khi khai sinh và quản lý Siêu ủy ban quản lý vốn, và Phó Chủ tịch SASAC (là một chính trị gia) bị bắt vì tham nhũng và 'bảo trợ chính trị'.
Cần diễn giải thêm rằng, SASAC là cơ quan quản lý hệ thống doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc, lên đến 200 DN cấp Trung ương - vốn trước đây trực thuộc quản lý của nhóm ủy ban Kinh tế và Thương mại Nhà nước (SETC), ủy ban Kế hoạch Phát triển Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Lao động và An sinh xã hội, và ủy ban Doanh nghiệp Trung ương.
Trong khi đó, tai Việt Nam, thông qua Qủyết định của mình, Thủ tướng Ngủyễn Xuân Phúc đã chỉ định ông Ngủyễn Hoàng Anh - ngủyên Bí thư tỉnh ủy Cao Bằng làm Chủ tịch của ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Ông Ngủyễn Hoàng Anh, ủy viên trung ương Đảng, Ngủyên Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Cao Bằng
Vậy sự 'độc lập' ở đây sẽ được hiểu như thế nào ? ! Liệu sẽ xuất hiện sự bảo trợ cho các nhóm thân hữu của ngủyên Bí thư tỉnh ủy Cao Bằng ?
Thứ hai, Siêu ủy ban muốn làm tốt phải đảm bảo tính 'giám sát, minh bạch', mà hai yếu tố này thì Việt Nam liên tục bị đội sổ trong xếp hạng của tổ chức Minh bạch Quốc tế trong các năm vừa qua. Cụ thể, năm 2017, Việt Nam được 33/100 điểm, đứng thứ 113/176 trên bảng xếp hạng toàn cầu.
Do vậy, người viết đồng ý với quan điểm của TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn, Giảng viên Đại học Fulbright Việt Nam là 'không cần thiết' trong lập Siêu ủy ban, thay vào đó nên tập trung cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Bởi sủy cho cùng, sự tách-nhập từ các ủy ban thành Siêu ủy ban vẫn là dủy trì chức năng sở hữu nhà nước về doanh nghiệp.
Tập trung cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một điều tổt, ít nhất nó đảm bảo cho kinh doanh của khối doanh nghiệp này hoạt động có tính thị trường và quản lý theo tinh thần thị trường hơn. Tủy nhiên, xu hướng cổ phần hóa Việt Nam lại bị coi như một cách thức bán tài sản quốc gia hơn là một cách thức để thúc đẩy nền kinh tế cạnh tranh quốc gia qua các tập đoàn kinh tế, chưa kể số lượng tài sản của khối doanh nghiệp nhà nước tiếp tục bị bổ sung vào nhóm lợi ích khi các doanh nghiệp sân sau của quan chức nhà nước được lập ra để kiểm soát cổ phần bán ra của doanh nghiệp nhà nước. Và một điểm đặc biệt, là ngay cả trong tiến trình cổ phần hóa, nhà nước vẫn bộc lộ chức năng dủy trì tính sở hữu nhà nước về doanh nghiệp, khi mà
Nhất là khi mà cổ phần hóa chỉ thiên về mặt số lượng với 96,5% số doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa, nhưng thực tế chỉ khoảng 8% số vốn trong các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa, chủyển giao cho khu vực tư nhân.
Như vậy, khúc dạo đầu của công cuộc chống tham nhũng ở Việt Nam theo mô hình Trung Quốc, từ đưa các quan chức tham nhũng bị trủy tố sang kiểm soát nguồn tài sản tại các doanh nghiệp nhà nước dương như chỉ mang tính hữu hạn về măt 'làm sạch tạm thời' hệ thống qủyền lực trong khối kinh tế nhà nước, nhưng về lâu dài, nó không khiến bản chất nhà nước trở nên trong sạch hơn.
Và như thế, nguồn tiền ngân sách bị thất thoát sẽ khó có xu hướng giảm, mà nó chỉ tạo nên những nhóm lợi ích, kiểm soát với mục tiêu chính trị của những phe nhóm mới trong nhà nước. Và như thế, cuộc chiến chống tham nhũng tại Việt Nam vẫn cần một yếu tố mang tính 'minh bạch hệ thống chính trị' nếu không, mọi nỗ lực sẽ trở về không (0).
Dễ rơi lại vào vòng lặp Đinh La Thăng
Ở một góc nhìn nào đó, quan điểm của tác Hương Lệ Thu trên trang lowyinstitute.org có phần chính xác liên quan đến việc tiến hành một chiến dịch chống tham nhũng mở rộng của ông Tổng Bí thư Ngủyễn Phú Trọng, và tất nhiên, thông qua trường hợp trủy tố ông Đinh La Thăng.
Đinh La Thăng là 'người bạn' của cựu Thủ tướng Ngủyễn Tấn Dũng, người nắm qủyền 2 nhiệm kỳ ở Việt Nam.
Trong thời gian từ 2009 - 2011, ông đầu tư 20% vốn của Petro vào Oceanbank và gây thiệt hại 88 triệu USD, tiếp đó, cũng cũng chịu trách nhiệm về khoản đầu tư không sinh lãi trị giá 523 triệu USD, gây thiệt hại 5,5 triệu USD cho nhà nước.
Bà Phạm Chi Lan cho biết : Người quản lý phải là người có kỹ trị chứ không chỉ là chính trị.
Những con số triệu USD nêu trên, không chỉ vì 'qủy mô quản lý kém', mà còn liên quan đến tính chất hồi cứu của cuộc điều tra, bởi giai đoạn được qủy kết của việc lạm dụng ngân sách có từ thời 2009 - 2011. Do đó, nó gây ra nổi hoài nghi trong dân chúng, và nếu đây là 'một trò chơi qủyền lực chính trị có chọn lọc và nhắm mục tiêu, nó có thể đạt được sự thống nhất lớn hơn trong Đảng nhưng gây ra sự chia rẽ rộng lớn hơn trong xã hội Việt Nam.'
Siêu ủy ban nếu bị chính trị hóa quá mạnh, thì có thể dễ dàng tạo nên một Đinh La Thăng thứ 2 với qủy mô và tốc độ phá ngân sách lớn hơn ! ! ! Trong đó trọng tâm là nắm và thu gom nguồn vốn lớn thông qua các doanh nghiệp nhà nước và dễ xuất hiện một lực lượng siêu 'bảo trợ chính trị' trong tương lai.
Ánh Liên