Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Đảng cộng sản Việt Nam

dcs1

Dùi cui tao

"Dùi cui tao đập vỡ miệng mày, loại trí thức mày,

vì tao không muốn có đối thoại !"

"Dùi cui tao đập bể đầu mày, kiểu kiến thức mày,

vì tao không muốn có đối luận !"

"Dùi cui tao đập nát sọ mày, cách ý thức mày,

vì tao không muốn có đối trọng !"

"Dùi cui tao đập vụn não mày, phận nhận thức mày,

vì tao không muốn có đối kháng !"

Điếm nhục hóa giáo dục

Thảm bại của Đảng cộng sản Việt Nam trong giáo dục đã điếm nhục hóa giáo khoa thật, giáo trình thật, giáo án thật ra thành quái thai trong học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả. Nó đã và đang gây hậu nạn cho bao thể hệ, cho cả xã hội hiện nay và mai sau phải nhận lảnh đa ung thư của kiến thức giả, tri thức giả, ý thức giả, nhận thức giả.

Chuồng trại hóa y tế

Thảm bại của Đảng cộng sản Việt Nam trong y tế, đã đồi bại hóa y học thật, y khoa thật, y thuật thật, y sĩ thật, biến hóa cái thật thành quái tướng khám bịnh giả-phẫu thuật giả-y trị giả-thuốc giả. Với bịnh viện bị chuồng trại hóa, con người bị đối xử như súc vật, giữa nhân sinh bị nạo rỗng mọi nhân cách, một giường bịnh mà nhiều bịnh nhân, với điều kiện chữa trị phản vệ sinh, cộng với hệ lụy từ tham ô tới tham nhũng biến bịnh viện thành nơi moi móc để vơ vết tiền bạc của người bịnh và gia đình họ.

Rác rưởi hóa môi trường

Thảm bại của Đảng cộng sản Việt Nam về môi trường, đã rác rưởi hóa từ khai thác bừa bãi tài nguyên của đất nước tới ô nhiễm hóa quê hương gấm vóc của tổ tiên, từ nguồn nước tới đất đai, từ thiên nhiên tới không khí. Biết quê hương Việt thành một bãi rác khổng lồ, với công nghiệp bẩn của hệ Tàu (Tàu tặc, Tàu gian, Tàu tà, Tàu họa, Tàu hoạn, Tàu nạn…). Không những ô nhiễm hóa toàn bộ đất nước mà còn ô uế hóa ngay trong nội chất của gióng nòi Việt, ngày ngày bị nhiễm ô thâm nhập sâu đậm vào thể chất, với thực phẩm bẩn, với môi trường, không khí bẩn, biến cuộc sống thường nhật ngày càng nhớp nhúa.

Nguồn cơn thảm bại

Ba thảm bại này của Đảng cộng sản Việt Nam có gốc, rễ, cội, nguồn sâu xa trong các thảm bại khác rộng hơn, lớn hơn :

- Thảm bại của Đảng cộng sản Việt Nam độc tài nhưng bất tài, từ kinh tế tới thương mại, từ sản xuất tới tiêu thụ, từ xuất nhập khẩu tới đầu tư vào các cơ sở hạ tầng…

- Thảm bại của Đảng cộng sản Việt Nam độc trị nhưng không biết quản trị, từ văn hóa tới nghệ thuật, từ chủ trương sáng tác tới tổ chức sáng tạo trong văn học, âm nhạc, hội họa… cho tới định hướng bảo vệ thủ công nghệ tới quá trình đầu tư vào các chuyên nhành mũi nhọn tự thông tin tới truyền thông.

- Thảm bại của Đảng cộng sản Việt Nam độc quyền nhưng độc đoán trong độc hại, tự tạo đặc quyền, đặc lợi, đặc ân trong nội bộ đảng, mà không hề có kiến thức gì về công ích xã hội làm chỗ dựa cho bình đẳng xã hội, tạo nên công bằng xã hội, với quyền lợi công dân song hành cùng bổn phận công dân.

- Thảm bại của Đảng cộng sản Việt Nam độc tôn và không biết tôn trọng tổ tiên và dân tộc, vô minh về văn hiến của Việt tộc, vô tri về văn minh của tổ tiên Việt, tạo ra vô giác trong thương nước yêu nòi, nên vô cảm trước nỗi khổ niềm đau của Việt tộc, nên sẽ vô hậu trong tương lai, vì ăn ở không có hậu với tổ tiên, dân tộc, giống nòi.

Ký sinh trùng-ký sinh thể-ký sinh cách

Qủy thuật của Đảng cộng sản Trung Quốc, có nội công tổ chức lao động quốc gia để biến thành công xưởng cho cả thế giới. Từ đó có bản lĩnh học hỏi dù qua trộm, cắp, cướp, giựt các tri thức và trí tuệ khoa học kỹ thuật của phương Tây. Rồi sau đó có tầm vóc tự tái tạo và tự tạo khoa học kỹ thuật không những cho chính mình mà còn biết bán lại cho thế giới hiện nay. Ngược lại, tà dạng của Đảng cộng sản Việt Nam, trống nội công tổ chức lao động quốc gia, vắng bản lĩnh học hỏi các tri thức và trí tuệ khoa học kỹ thuật của phương Tây, rỗng tầm vóc tự tái tạo và tự tạo khoa học kỹ thuật. Trống vì vô tri, vắng vì vô minh, rỗng vì vô trí, và qủy quyền của các lãnh đạo Đảng cộng sản Trung Quốc đã biết rất rõ trình độ trống, vắng, rỗng của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam, nên chỉ xem các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam là đám lãnh đạo : lúc thì tự điếm nhục hóa nhân cách của chính mình trong cố đấm ăn xôi ; lúc thì ký sinh trùng trong vị thế chờ sung rụng ; lúc thì là ký sinh thể trong tật nguyền não bộ gà què ăn quẩn cối xay ; lúc thì ký sinh cách trong não trạng thừa nước đục thả câu ; lúc thì ký sinh dạng trong não trạng đục nước béo cò.

dcs2

Cái ác : cực đoan, cực quyền

Nơi đây, cái ác được hiểu rồi đươc vận dụng trên quy trình cứu cánh ác biện minh cho phương tiện ácquyền lực ác, để biến quyền lực thành độc quyền, mà không quên biến quyền lực thành quyền lợi, tiếp theo là biến quyền lợi thành tư lợi trong đặc lợi, đặc ân, đặc sủng… Đây là định đề làm nên định nghĩa về bạo quyền, dùng cái ác để trị, sâu xa hơn là dùng cái ác giết cái thiện, để diệt cái nhân có trong nhân tínhnhân lý được giáo dưỡng bằng nhân từnhân tâm. Cái ác cực đoan không biết nhân nhượng nhân đạonhân nghĩa, nó không biết khoan dung trước nhân trinhân trí, nên nó sẵn sàng siết cổ cho tới tắt thở nhân bảnnhân văn. Khi cái ác không tôn trọng nhân quyền của các nạn nhân bị nó diệt, thì bản thân nó khi hề có ý niệm gì về nhân phẩm của chính nó. Giáo lý sống lâu mới biết lòng người có nhân làm trò cười cho nó ; giáo dục đường mòn nhân nghĩa chẳng mòn là trò hề đối với nó, nên sự giáo dưỡng một duyên, hai nợ, ba tình là chuyện trừu tượng đối với nó.

Cái ác : tà lộ trong điếm kiếp

Cái ác lén lút để lẩn khuất trong tà lộ với ma lực và qủy quyền, ma lực hành tác trong bóng tối, qủy quyền hành động sau lưng người ngay, kẻ thẳng, lúc thì như chó cắn trộm, lúc thì đâm người sau lưng, kể cả khi nó xử tử hình các nạn nhân liêm chính của nó, ngay lúc hành quyết nó cúi đầu, nó chột mắt, khom lưng để nhắm bắn, chớ không dám thản nhiên nhìn thẳng để tranh luận với nạn nhân liêm chính bị nó (lén) giết.

Nên cái bạo của cái ác chính là cái hèn của cái độc, nó cúi đầu, khom lưng để luồn lách như âm binh chuyên nghề đâm lén, chém sau lưng, nên đừng mong nó quang minh chính đại mà trực diện với Công ước xã hội dựa trên hệ công (công bằng, công tâm, công lý, công pháp) luôn đối trọng để vạch mặt chỉ tên hệ bất (bất nhân, bất tài, bất tin, bất trung) của cái ác. Quy ước xã hội dựa trên hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri) để đối nghịch với hệ tham (tham quan, tham quyền, tham ô, tham nhũng, tham tiền) chính là cứu cánh của cái ác. Nhận thức xã hội, dựa trên hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, tỉnh thức) để đối luận với hệ vô (vô cảm, vô giác, vô tri, vô minh) sinh đôi cùng hệ bất (bất tài, bất trung, bất tín, bất nhân) để đưa đẩy cái ác lộng hành trong nhân thế.

Cái ác : mượn đấu tố để giết người

Khi đặt cái ác biết giết người vào tội ác tuyệt đối, nó không đứng cạnh sự sống, nó đứng đối diện để nghịch hướng với sự sống. Nó chọn chỗ đứng tuyệt đối kề cận cái chết để diệt sự sống, không chỉ một người, một nhóm mà bằng một chính sách với chương trình thảm sát có tính toán, có khi bằng một quyết sách diệt chủng. Nếu con người dùng cái ác để diệt người, thì không thể trao toàn quyền cho con người để thoát ra khỏi cái ác. Hãy nhận ra hành vi hay, đẹp, tốt, lành của đạo lý biết làm nên luân lý của bổn phận bảo vệ tha nhân, biết làm ra trách nhiệm bảo vệ đồng loại, phải được bảo trì và bảo hành bằng luật pháp. Chính công lý trong công bằng sẽ giúp đạo lý và luân lý bảo vệ được sự sống, được mạng sống của tha nhân, của chúng ta.

Kẻ ác thực hiện cái ác

Quá trình mà kẻ ác thực hiện cái ác qua đấu tố trong Cải cách ruộng đất 1954-1960, không phải là quá trình của tòa án có công tâm để làm nên công lý, là chỗ dựa cho công pháp để pháp luật thực thi công bằng từ phán quyết tới phán xử. Mà đấu tố là sự thay trắng đổi đen của kẻ ác, bất chấp đạo lý tổ tiên trong tình làng nghĩa xóm, bất chấp luôn luật pháp là nói có sách mách có chứng, cái ác thủ tiêu từ chứng từ tới chứng nhân, để diệt sự thật lẫn lẽ phải, để cả hai không thể phản biện trước hành tác tìm cớ để giết người của quá trình đấu tố. Nếu đặt tên đấu tố là tòa án nhân dân, thì kẻ ác đang mặc áo cà sa cho qủy dữ.

Nơi nào có đấu tố trong cùng một làng, một tộc, một họ, một gia đình mà con tố cha, em tố anh, cháu tố ông… thì chỗ đó cái ác đã xuất hiện, nơi đây kẻ ác vừa là đao phủ thủ, vừa là quan tòa, vì nó tự phong cho mình chức năng đôi là vừa là thẩm phán, vừa là luật sư, trên tay phải của nó đang cầm cán cân công lý đã bị nó bẻ cong, rồi tay trái của nó đã cầm dao với lời lẽ lăm le là nó sẽ giết người không gớm tay để đào tận gốc, trốc tận rễ.

Cái ác giết người để diệt quan hệ

Cái thiện không những đứng về phía sự sống để bảo vệ sự sống còn của nó, mà nó chọn sự sống để chống lại cái chết do cái ác làm ra ; vì chỉ có sự sống mới bảo vệ được các quan hệ mà con người thừa hưởng khi được sống cùngsống chung với tha nhân, với đồng loại. Đó là quan hệ gia đình, quan hệ thân tộc, quan hệ xóm giềng, quan hệ bạn bè, quan hệ nghề nghiệp, quan hệ xã hội… Từ đây, tư tưởng gia này giải thích chính sự sống và tất cả quan hệ có trong cuộc sống là nền tảng của mọi định nghĩa về hạnh phúc, mà cái thiện có thể mang tới cho con người. Nên cái thiện luôn đối nghịch với cái ác chính là cha sinh mẹ đẻ ra cái chết giết người để diệt không những mọi quan hệ, mà còn hủy diệt luôn cơ may mưu cầu hạnh phúc của con người muốn sống cùngsống chung với tha nhân, với đồng loại.

Ý đồ của kẻ ác

Lý giải cái ác bằng triết luận để phân tích cái thiện phải luôn trực diện với cái ác bằng nhân tính làm nên thành lũy của nhân lý bằng chất liệu của cái thiện ; nên cái thiện luôn có ý thức cao cùng nhận thức rộng để nhìn ra ý đồ của kẻ ác là luôn toan tính đánh đổ để thiêu hủy thành lũy của cái thiện. Từ đây tâm địa của kẻ ác mang động cơ tận dụng cái ác để diệt ý chí của cái tốt, giết ý lực của cái đẹp, hủy ý muốn của cái lành, nên trong thâm ý của kẻ ác là khi nó thủ tiêu được cái thiện, thì kẻ này tự thỏa mãn là nó không những đã truy diệt được cái thiện, mà nó còn truy sát luôn cái tốt, cái đẹp, cái lành làm nên nhân sinh quan của nhân tâm, tạo ra thế giới quan của nhân từ, sinh ra vũ trụ quan cho nhân tri.

Một tổ chức ác giết người cướp của

Cái ác được sinh sôi nảy nở trong một tổ chức ác biết giết người cướp của, tới cơ chế ác biết dính máu ăn phần, nơi mà chế độ ác được biển lận trong hiến pháp ác với điều lệ ác. Tại đây, đất là sở hữu của toàn dân (chớ không phải là sở hữu của người dân) do nhà nước quản lý (để chính quyền độc đảng tha hồ quy hoạch mà trộm, cắp, cướp, giật) bằng chính sách ác. Chính liên minh nội kết tổ chức ác-cơ chế ác-chế độ ác-hiến pháp ác-điều lệ ác-chính sách ác được nuôi dưỡng không những bằng bạo quyền công an trị, mà còn bằng tà quyền tham nhũng trị, sinh đôi với ma quyền tham tiền trị, cả ba đang trùm phủ lên cả nhân kiếp của Việt tộc bằng mùng mền của cái ác, nơi mà con dân Việt đang sống trong một xã hội dễ dàng sa vào cái ác, rồi rơi sâu vào tội ác !

Buôn dân bán nước

Ngay trong nội tạng của độc quyền, tham quyền, lạm quyền, lộng quyền, bạo quyền, tà quyền, ma quyền, qủy quyền, cực quyền, cuồng quyền do Đảng cộng sản Việt Nam sinh đẻ ra từ khi nó nắm nhân kiếp của dân tộc và tài nguyên của đất nước, thì ta thấy đây không phải là chuyện thương mại ! Vì trong thương mại là có mua và có bán, tức là có mua và có bán, mà Việt tộc chỉ thấy bọn bán nước này chỉ bán chớ không hề mua. Chúng bán quê hương gấm vóc của Việt tộc, vì chúng biết đất nước Việt là rừng vàng biển bạc để chúng tha hồ nạo vét ; chưa xong chúng còn biến đất nước Việt thành một bãi rác, để Tàu tà tha hồ từ ô nhiễm môi trường tới hủy diệt môi sinh. Giờ đây đã xuất hiện các xóm ung thư, các làng ung thư, các vùng ung thư… với các thành phố lớn loại ô nhiễm nhất thế giới, ngày ngày ung thư hóa nội tạng của bao thế hệ Việt.

Từ thanh trừng tới diệt chủng

Lý luận cạn tàu ráo máng là mọi chức năng, mọi phần tử đều có thể thay thế được, như người ta thay thế cầu chì, bóng đèn là điện cứ phát điện, nên khi áp dụng vào nhân sinh, thì nó càng ráo máng cạn tàu hơn, vì nó luôn có ý đồ vắt chanh bỏ vỏ ! Đây là cách đối nhân xử thế giữa những người cộng sản, mà lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam rất nhẫn tâm trong vô cảm khi họ thanh trừng nhau. Tất cả các đảng cộng sản trên thế giới này điều bị vướng vào tội ác này, không những thanh trừng nhau mà họ còn tàn sát dân lành, họ diệt chủng luôn chính dân tộc họ, đó là trường hợp của bọn diệt chủng Khmer đỏ, mà Việt tộc không quên bao sinh linh đã bị thảm sát trong Cải cách ruộng đất. Nên khi định lượng về các cuộc thảm sát do các lãnh đạo các đảng cộng sản trên thế giới, từ khi có chế độ độc đảng-toàn trị tại Liên Xô 1917, thì con số nạn nhân đã vượt lên hơn một trăm triệu người, gấp nhiều lần tội ác của bọn Đức quốc xã trong đệ nhị thế chiến.

Cấu trúc luận lưu manh

Cấu trúc luận xếp cá nhân vào trật tự sống còn của tập thể, nên nó tổ chức luôn nhân sinh quan, thế giới quan, vũ trụ quan của cá nhân. Tại đây, cấu trúc luận đã bị các đảng cộng sản lạm dụng để lập ra một cơ chế xã hội toàn trị, nơi mà độc tài qua độc đảng nắm toàn bộ bộ máy tuyên truyền để đánh lận con đen về các sự thật của nhân sinh, các chân lý của nhân tính, các lẽ phải của nhân tâm, để chế tác ra các quái thai chống nhân lý và nhân tri : "dân chủ thì phải tập trung" ; "dân làm chủ nhưng đảng lãnh đạo" ; "đất đai là sở hữu của toàn dân nhưng do nhà nước quản lý và đảng chỉ đạo". Đây không phải là cấu trúc luận khoa học mà là kiến trúc luận lưu manh ! Nơi mà duy vật hiểu theo nghĩa tồi tệ nhất để trở thành tội lỗi nhất, kiến trúc lưu manh với lý luận côn đồ xuất đầu lộ diện để truy diệt duy lý theo nghĩa nhân lý nhất ; và duy tâm theo nghĩa nhân tâm nhất.

Tấn công văn hóa, truy diệt truyền thống của đạo lý

Chính văn hóa xếp đặt các hành vi của cá nhân được lập lại theo truyền thống, nó xếp đặt luôn các lề thói về cưới hỏi, kinh tế, trao đổi… Văn hóa luận còn đi xa hơn nữa khi nó tổ chức các sinh hoạt ưu tiên : ngôn ngữ trong truyền thông, tư tưởng trong xã hội, ý thức trong hành động, nên văn hóa vừa có mặt trong quản lý xã hội, vừa có mặt trong môi trường giáo dục của một cộng đồng của một dân tộc. Chính văn hóa làm nên cho ý thức tập thể ; văn hóa biết biến cái tối đa của kiến thức thành cái tối đa của ý thức, để tạo nên sự đồng cảm giữa các thành viên có chung một văn hóa. Khi các đảng cộng sản muốn cướp chính quyền, để sau đó áp đặt độc đảng qua độc trị, độc tài, độc quyền, độc tôn, thì các lãnh đạo cộng sản luôn tìm cách tấn công văn hóa, truy diệt truyền thống của đạo lý hay, đẹp, tốt, lành của một dân tộc, giúp dân tộc đó sống có bổn phận với giống nòi, và sống có trách nhiệm với đất nước.

Rỗng, trống, vắng công lợi chính trị

Công lợi chính trị là phạm trù của quyền lực chính trị quản lý công sản của quốc gia, tài sản của dân tộc, và luôn đặt công sản và tài sản này lên trên mọi tư lợi của giai cấp, nhất là giai cấp thống trị. Vì khi đặt quyền lợi của giai cấp thống trị lên trên quyền lợi của quốc gia và dân tộc thì sẽ trực tiếp tạo ra bất bình đẳng, tức khắc tạo ra bất công ; chính bất bình đẳng và bất công là gốc rễ cội nguồn của mọi xung đột xã hội, dẫn tới bạo động ngay trong xã hội. Đây lại là thảm họa mà Đảng cộng sản Việt Nam đang trấn, áp, đè, đặt lên vai, lên lưng, lên đầu Việt tộc khi độc đảng được độc quyền qua đặc lợi ; khi độc tài dùng độc trị để có đặc ân, của một thiểu số bất chính dẫm lên mọi ý thức về công sản quốc gia. Sự bất chính này sẽ nhân đôi khi bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham quan, ma quyền sân sau dùng hệ tham (tham quyền, tham ô, tham nhũng) để làm giàu, đã giàu rồi lại muốn giàu hơn, đã có nhiều rồi lại muốn có nhiều hơn. Khi đã có đặc quyền, đặc ân, đặc lợi thì sự bất chính sẽ tăng lên, vì tà quyền này sẽ bám cho bằng được qua hệ độc (độc đảng, độc tài, độc trị, độc tôn) để có độc quyềntrục lợi cho tư lợi, chúng chặn các tiến bộ xã hội, chúng ngăn thăng tiến giáo dục, chúng nghiền cấp tiến kinh tế, để lấp công bằng, để vùi công lý. Bi kịch của bọn bám quyền chỉ vì tư lợi ích kỷ mà không có một nhận thức nào về công sản chính trị chính là thảm kịch của Việt tộc hiện nay, với Đảng cộng sản Việt Nam.

Hàng vạn bút nô, ký nô, văn nô

Khi ta đi tìm sự thật trên một sự kiện, ta phải nhận ra ít nhất ba yếu tố cấu tạo ra nó : cơ cấu lý lẽ của sự kiện tại sao nó có và xuất hiện trong cuộc sống ; sau đó là tính biến đổi của nó qua thời gian, đây chính là sử tính của nó ; và cuối cùng là sự sống còn của nó qua các không gian của xã hội. Ngay trong sinh hoạt xã hội, quyền lực luôn tìm cách chi phối tổ chức của xã hội, trong điều kiện đi tìm sự thật Việt để hiểu số phận Việt, thì ai cũng biết là gần 800 cơ quan truyền thông, dưới độc quyền của tuyên giáo qua độc tài trong độc quyền của Đảng cộng sản Việt Nam, thì có hàng vạn bút nô, ký nô, văn nô được trả lương tháng để phục vụ cho một hệ thống tin tức tồn tại chỉ để viết những chuyện phản lại sự thật. Bọn này sinh hoạt như chó săn theo lịnh chủ, áp đảo để trấn dẹp, vu khống để vu cáo những công dân nào muốn hiểu, muốn thấy, muốn nói, muốn viết ra sự thật của sự độc hại do độc đảng gây ra, từ nghèo nàn trong lạc hậu của xã hội Việt, tới nhân quyền trong nhân phẩm qua dân chủ, thì đều bị hãm hại để trừng trị, từ truy diệt đến truy sát, với sự hỗ trợ vô điều kiện của bộ máy độc đảng công an trị hiện hành.

dcs3

Tham

Ngay trong khẩu hiệu hiện nay của bạo quyền độc đảng toàn trị, trên đầu dòng trên mỗi văn bản, mỗi tờ giấy hành chính đều có một câu mơ tưởng trong mơ ảo với ba mệnh đề : độc lập - tự do - hạnh phúc. Cả ba khẩu hiệu này đều không có thật trong một chế độ ngày ngày tạo ra bất công, cho sản sinh ra hai quái thai thất nhân bất đức : tà quyền tham nhũng trịma quyền tham tiền trị. Hai quái thai này vừa tham tài nguyên, vừa tham đất đai, ăn chia cùng bạo quyền độc đảng toàn trị để một sớm một chiều biến dân lành thành dân đendân oan.

Hèn

Trước Tàu tặc thì cúi đầu để mất đất, khom lưng để mất đảo, quỳ gối để mất biển, nắm quyền mà bị chính dân dán cho khẩu hiệu : "hèn với giặc, ác với dân",hèn với giặc thì làm sao có độc lập, mà ác với dân thì làm sao dân có hạnh phúc. Còn tự do thì hoàn toàn là mơ mòng dẫn tới mơ hảo trong một chế độ qủy quyền công an trị, đã đày ải những đứa con tin yêu của Việt tộc đấu tranh chống bất công vì dân chủ, tự do và nhân quyền. Những đứa con tin yêu đều bị biến thành các tù nhân lương tâm trong vòng lao lý của một nền tư pháp bị âm binh hóa bởi tà pháp của Đảng cộng sản Việt Nam, sau khi ngồi xổm lên hiến pháp, giờ thì ngồi-đè-cho-ngộp luôn cả tư pháp. từ khi Đảng cộng sản Việt Nam cướp được chính quyền để độc quyền cho tới nay 2020, khi Đảng cộng sản Việt Nam kỷ niệm 90 năm thành lập của họ, thì quá trình độc trị của họ chỉ cho thấy họ là những lãnh đạo không hề biết quản trị đất nước.

Rác

Quê hương gấm vóc của tổ tiên trong tay họ giờ thì trở thành bãi rác của Tàu tặc, với không khí bị nhiễm ô của Tàu họa, với môi trường bị ô nhiễm từ Tây Nguyên tới Formosa. Bỉ ổ nhất là con dân Việt sa vào xuất khẩu lao động, với con đường làm thuê trong nhục kiếp, trai thì lao nô, gái thì nô tỳ cho các quốc gia láng giềng, ngày càng sinh ra bao kỳ thị khinh miệt người Việt trên các châu lục. Trong tay Đảng cộng sản Việt Nam, Việt tộc đã bị mất nhân vị ngay trong nhân sinh quan của các lãnh đạo đảng lấy bạo quyền công an trị để nuôi nấng tà quyền tham nhũng trị, lấy ma quyền tham tiền trị để nuôi dưỡng âm binh trị chính là bọn xã hội đen, với côn đồ, lưu manh, du đảng đang ung nhọt hóa đời sống xã hội. Bài học của triết học đạo đức có bạn đồng hành là tâm lý học xã hội đã giải luận rõ : kẻ mất niềm tin sẽ mất tự tin, kẻ không tự tin thì khó tìm được niềm tin. Chẳng lẽ đây là nhân kiếp hiện nay của Việt tộc sao ?

Rỗng

Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không dám tới các hội thảo có vai vóc chuyên môn để đối luận với các chuyên gia quốc tế về các hệ vấn đề tự do là tiến bộ, công bằng là nhân quyền và bác ái là dân chủ. Thậm chí, các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không có nội lực tự tin để tới các đại học mà đối thoại để đối lý với các sinh viên trong các hội luận như các lãnh đạo của nhiều quốc gia châu Á, châu Phi… Đây là câu chuyện hoàn toàn thể nghiệm được, khi ta vận dụng ba chuyên ngành sắc nhọn của khoa học xã hội và nhân văn hiện nay ; Chính trị học tri thức, tức là chỉ có tri thức luận của chính khách mới làm nên tri thức học của chính sách. Còn chính khách mà vô minh và vô tri thì chính sách sẽ vô giác và vô cảm. Tâm lý học truyền thông, nơi mà nội dung truyền thông của một lãnh đạo có trong ý nghĩa ngôn ngữ mà lãnh đạo đó muốn truyền đạt đã chuyển tải các giá trị nhân bản và nhân văn nào ? Từ đây, nội dung truyền thông, ý nghĩa ngôn ngữ, giá trị nhân bản chỉ là một trong tuyên bố, trong lời ăn tiếng nói của lãnh đạo đó. Xã hội học ngôn ngữ, tại đây ngữ vựng, ngữ văn, ngữ pháp của một lãnh đạo làm nên thuật ngữ ngay trong chính ngữ của chính khách. Qua ngữ vựng, ngữ văn, ngữ pháp, người nghe khi tiếp nhận tin tức, dữ kiện, chứng từ của lãnh đạo này thấy và thấu được nhân tính, nhân lý, nhân cách của lãnh đạo đó.

Trống

Khi các lãnh đạo cùng các chuyên gia quốc tế của phương Tây, từ Âu châu tới Bắc Mỹ, được-hoặc-bị tiếp xúc với các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, thì tất cả họ đều nhận ra rằng : các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam dù có trọn chính quyền trong tay, họ độc tài nhưng họ lại bất tài, họ độc trị nhưng họ không biết quản trị. Khi các lãnh đạo cùng các chuyên gia quốc tế của phương Tây tiếp cận để tìm hiểu về nội công chính quyền, bản lĩnh chính phủ, tầm vóc lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, thì họ nhận ra rằng các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam thiếu, vắng, trống, rỗng ba loại kiến thức căn bản sau đây để lèo lái một dân tộc về hướng văn minh vì nhân phẩm :

Vắng

Khi các lãnh đạo cùng các chuyên gia quốc tế của phương Tây tiếp xúc với các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, thì họ nhân ra ngay là lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam vắng ba kiến thức cần thiết cho lãnh đạo.

Thứ nhất là kiến thức tổng quát, từ nhân sinh tới nhân loại, từ nhân tri tới nhân trí có rễ của lịch sử, có gốc của văn hóa, có cội của giáo dục, có nguồn của đạo lý… các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không có kỹ năng lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận. Họ không có những tri thức cần thiết trong lãnh đạo trước hiện tình của thế giới và họ có kiến thức mờ nhạt về văn hóa Việt, họ có ý thức lỏng lẻo về văn minh Việt, họ có nhận thức lèo bèo về văn hiến Việt…

Thứ nhì là kiến thức chuyên môn, nơi mà một lãnh tụ hay một lãnh đạo phải là chuyên giachuyên môn, được giáo dục qua một chuyên khoa, được đào tạo bằng một chuyên ngành. Lại phải liên tục được huấn nghiệp để có chuyên nghiệp sắc nhọn trước tình hình tiến hóa của nhân loại. Ngược lại các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam cạn cợt với sách lược đoản kỳ, họ lạng quạng với chính sách trung kỳ, họ hời hợt với quyết sách trường kỳ.

Thứ ba là kiến thức hợp tác, nơi mà các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam tự đóng khung vào ý thức hệ xã hội chủ nghĩa viễn vông, mà không có đồ án về liên minh ngoại giao quốc tế, không có dự án về liên hiệp chính trị quốc ngoại, không có phương án về liên kết kinh tế liên châu lục, với tầm nhìn của một toàn cầu hóa mở, rộng, nhanh…

Giả

Nhân tính, nhân lý, nhân cách của một lãnh đạo này tới từ nhân tri, nhân trí, nhân văn của hắn, biểu hiện nhân đạo, nhân tâm, nhân nghĩa của hắn trước hằng số của nhân quyềnnhân phẩm của nhân loại. Nên khi xem, xét, tra, kiểm nhân cách, phong cách, tư cách của các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, thì ta có các kết quả rất cụ thể, mà đây là một thảm kịch cho Việt tộc là từ ông Tổng bí thư của Đảng cộng sản Việt Nam kiêm chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tới thủ tướng đại diện cho hành pháp, qua tới bà chủ tịch Quốc hội thì các chuyên gia quốc tế phải kết luận là trình độ học vấnhọc lực của họ không hơn một sinh viên cấp cử nhân của các quốc gia phương Tây có văn minh dân chủ, có văn hiến nhân quyền. Các học hàm lẫn học vị của các lãnh tụ hoặc lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là cao học hay tiến sĩ, vì các bằng cấp mà họ trưng ra trong lý lịch và hồ sơ cá nhân của họ không hề là kết quả của học thật. Nên các học hàm lẫn học vị của các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đến từ một hệ thống giáo dục học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả. Và chỉ có (sự) thực mới vực được đạo, chỉ có học thật-thi thật-điểm thật-bằng thật tới từ học thật bằng học lực mới làm nên học vấn của lãnh đạo. Đối với các lãnh đạo cùng các chuyên gia quốc tế của phương Tây thì chuyện đánh lận con đen trong mua bằng bán cấp để mua chức bán quyền chỉ làm trò hề, trò cười, trò bịp trong hợp tác quốc tế mà thôi !

Ký sinh

Trong không gian các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam chính là nơi tập hợp bọn quan tham ký sinh trùng, bọn lãnh đạo ký sinh vật, bọn cầm quyền ký sinh thể, chúng "ăn trên ngồi trốc", với nhân diện điếm đàng của Mã Giám Sinh : "mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao", với nhân dạng điếm chủ của Tú Bà : "đưa người cửa trước, đón người cửa sau", với nhân cách điếm hèn của Sở Khanh : "nói lời rồi lại nuốt lời như chơi". Chúng là bọn ký sinh trùng âm binh trong âm giới địa đạo ma bùn của chúng, chúng tham quyền để tham nhũng, tham ô để tham tiền, và khi bị ra tòa để nhận tội thì chúng mới lộ bản chất ký sinh trùng của chúng. Từ tướng trong quân đội tới tướng công an, từ bộ trưởng này tới ủy viên Trung ương kia, lạy van đảng trưởng của chúng hãy tha tội cho chúng. Loại ký sinh này không biết tự trọng, vì không có được giáo dục với chữ tâm, không hề được giáo dưỡng về chữ nhân.

Nạo vét rồi van lạy

Khi bọn quan tham ký sinh trùng, bọn lãnh đạo ký sinh vật, bọn cầm quyền ký sinh thể, nhận tội chúng không biết nhân văn, vì chúng không có nhân tính, chỉ quen lân la lui tới trong âm giới để thanh trừng nhau, thanh toán lẫn nhau vì tư lợi, nên chúng không có nhân lý để phục vụ nhân sinh. Khi nhận tội là chính chúng đã nạo vét tiền tài của dân, nhưng chúng không hề biết xin lỗi dân, mà chỉ van lạy đảng trưởng của chúng bằng bản chất thấp hèn, tới từ bản năng bầy đàn quy phục đầu đàn, mà chúng không có khái niệm gì về nhân pháp lẫn nhân luật. Chúng không biết gì về nhân quyền, nên đã tự phủ nhận nhân vị của chúng, nên dễ dàng chối bỏ luôn nhân bản của chúng. Vì là ký sinh trùng nên chúng không hề biết gì về nhân tâm, nhân từ, nhân nghĩa làm nên nhân phẩm của mỗi nhân vị biết quý trọng và tôn vinh nhân quyền.

Đa hậu nạn

Thảm trạng của bạo quyền độc đảng toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam từ thế kỷ XX qua tới thế kỷ XXI của Việt Nam là một trường hợp đặc thù đòi hỏi các chủ thể đấu tranh cho đa nguyên, dân chủ và nhân quyền phải có những phân tích sắc trong chính trị học, nhọn trong luật học và bén trong xã hội học. Tại đây, ta phải nhận ra đa hậu nạn của đa bản chất của bạo quyền độc đảng toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam, từ đó lập ra một hệ thống đa giải luận để thấy những thử thách lớn đang chờ Việt tộc trên con đường đa nguyên để đi tới văn minh của dân chủ, văn hiến của nhân quyền trước các hậu nạn của bạo quyền công an trị ; tà quyền tham nhũng trị ; ma quyền tham tiền trị ; qủy quyền ngu dân trị ; cuồng quyền vô minh trị ; cực quyền tuyên truyền trị…

Ô uế hóa

Thảm kịch thất bại toàn diện của Đảng cộng sản Việt Nam, có ngay trong các thảm bại sau đây : thảm bại của Đảng cộng sản Việt Nam trong giáo dục đã điếm nhục hóa giáo khoa thật, giáo trình thật, giáo án thật ra thành quái thai trong học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả. Nó đã và đang gây hậu nạn cho bao thế hệ, cho cả xã hội hiện nay và mai sau phải nhận lãnh đa ung thư của kiến thức giả, tri thức giả, ý thức giả, nhận thức giả.

- Thảm bại của Đảng cộng sản Việt Nam trong y tế, đã đồi bại hóa y học thật, y khoa thật, y thuật thật, y sĩ thật, biến hóa cái thật thành quái tướng khám bịnh giả-phẩu thuật giả-y trị giả-thuốc giả. Với bịnh viện bị chuồng trại hóa súc vật giữa nhân sinh, một giường bịnh mà nhiều bịnh nhân, với điều kiện chữa trị phản vệ sinh, cộng với hệ lụy từ tham ô tới tham nhũng biến bịnh viện thành nơi moi móc để vơ vét tiền bạc của người bịnh và gia đình họ. Thảm bại của Đảng cộng sản Việt Nam về môi trường, đã rác rưởi hóa từ khai thác bừa bãi tài nguyên của đất nước tới ô nhiễm hóa quê hương gấm vóc của tổ tiên, từ nguồn nước tới đất đai, từ thiên nhiên tới không khí. Biến quê hương Việt thành một bãi rác khổng lồ, với công nghiệp bẩn của hệ Tàu (Tàu tặc, Tàu gian, Tàu tà, Tàu họa, Tàu hoạn, Tàu nạn…). Không những ô nhiễm hóa toàn bộ đất nước mà còn ô uế hóa ngay trong nội chất của giống nòi Việt, ngày ngày bị nhiễm ô thâm nhập sâu đậm vào thể chất, với thực phẩm bẩn, với môi trường, không khí bẩn, biến cuộc sống thường nhật ngày càng nhớp nhúa.

Khuyết tật

Khi các chủ thể lãnh đạo đa nguyên muốn tháo gỡ các cấu trúc của bạo quyền độc đảng toàn trị, thì các móc xích của nó sẽ để lộ ra các khuyết tật trầm kha của nó là phản văn minh, ngược văn hiến với : bạo quyền công an trị thì bè phái cùng xã hội đen ; tà quyền tham nhũng trị thì sinh đôi với mua quyền bán chức ; ma quyền tham tiền trị thì có bè cánh là trọc phú sân sau ; qủy quyền ngu dân trị thì gian trá trị qua mua bằng bán cấp ; cuồng quyền vô minh trị thì song hành cùng vô học trong vô hậu ; cực quyền tuyên truyền trị thì phải ăn gian nối dối.

Bạo quyền

Bạo quyền độc đảng toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam là sinh hoạt phản chính trị tri thức, tại đây không có chính giới lẫn chính khách, vì chúng không có tri thức chính trị căn bản của hai hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận) và hệ đối (đối thoại, đối luận, đối trọng, đối kháng, đối lập). Hai hệ này vừa giúp nhau trong phản biện đa nguyên, vừa tương trợ nhau để xây dựng dân chủ.Bạo quyền độc đảng toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam không có chính giới với quan hệ chính trị đối lập, với sinh hoạt chính trị đối kháng, với đời sống chính trị có đối thoại, biết vận dụng lý để luận, biết tận dụng luận để phân tích và giải thích, với dữ kiện của khoa học, với chứng từ của pháp lý. Bạo quyền độc đảng toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam không có chính khách với đối thoại qua kiến thức chính trị để đối luận qua tri thức chính trị, không có chính khách với đối trọng bằng giải luận chính trị để đối kháng bằng diễn luận chính trị.

Thảm bại

Thảm bại của Đảng cộng sản Việt Nam có gốc, rễ, cội, nguồn sâu xa trong các thảm bại khác rộng hơn, lớn hơn, đó là thảm bại của Đảng cộng sản Việt Nam độc tài nhưng bất tài, từ kinh tế tới thương mại, từ sản xuất tới tiêu thụ, từ xuất nhập khẩu tới đầu tư vào các cơ sở hạ tầng… Đó là thảm bại của Đảng cộng sản Việt Nam độc trị nhưng không biết quản trị, từ văn hóa tới nghệ thuật, từ chủ trương sáng tác tới tổ chức sáng tạo trong văn học, âm nhạc, hội họa… cho tới định hướng bảo vệ thủ công nghệ tới quá trình đầu tư vào các chuyên ngành mũi nhọn từ thông tin tới truyền thông. Đó là thảm bại của Đảng cộng sản Việt Nam độc quyền nhưng độc đoán trong độc hại, tự tạo đặc quyền, đặc lợi, đặc ân trong nội bộ đảng, mà không hề có kiến thức gì về công ích xã hội làm chỗ dựa cho bình đẳng xã hội, tạo nên công bằng xã hội, với quyền lợi công dân song hành cùng bổn phận công dân. Đó là thảm bại của Đảng cộng sản Việt Nam độc tôn và không biết tôn trọng tổ tiên và dân tộc, vô minh về văn hiến của Việt tộc, vô tri về văn minh của tổ tiên Việt, tạo ra vô giác trong thương nước yêu nòi, nên vô cảm trước nỗi khổ niềm đau của Việt tộc, nên sẽ vô hậu trong tương lai, vì ăn ở không có hậu với tổ tiên, dân tộc, giống nòi.

Tà dạng

Muốn biết tà dạng của Đảng cộng sản Việt Nam các chủ thể Việt tộc yêu đa nguyên, quý dân chủ, trọng nhân quyền phải phân biệt : qủy thuật của Đảng cộng sản Trung Quốc, có nội công tổ chức lao động quốc gia để biến thành công xưởng cho cả thế giới. Từ đó có bản lĩnh học hỏi dù qua trộm, cắp, cướp, giựt các tri thức và trí tuệ khoa học kỹ thuật của phương Tây. Rồi sau đó có tầm vóc tự tái tạo và tự tạo khoa học kỹ thuật không những cho chính mình mà còn biết bán lại cho thế giới hiện nay. Tà dạng của Đảng cộng sản Việt Nam, trống nội công tổ chức lao động quốc gia, vắng bản lĩnh học hỏi các tri thức và trí tuệ khoa học kỹ thuật của phương Tây, rỗng tầm vóc tự tái tạo và tự tạo khoa học kỹ thuật. Trống vì vô tri, vắng vì vô minh, rỗng vì vô trí, và qủy quyền của các lãnh đạo Đảng cộng sản Trung Quốc đã biết rất rõ trình độ trống, vắng, rỗng của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam, nên chỉ xem các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam là đám lãnh đạo : lúc thì tự điếm nhục hóa nhân cách của chính mình trong cố đấm ăn xôi ; lúc thì ký sinh thể trong vị thế chờ sung rụng ; lúc thì ký sinh trùng trong tật nguyền não bộ gà què ăn quẩn cối xay ; lúc thì ký sinh cách trong não trạng thừa nước đục thả câu, lúc thì ký sinh dạng trong não trạng đục nước béo cò.

dcs4

Không có trình độ tri thức

Lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam vô minh nên có phản xạ của bạo lực với chính dân tộc, vô tri nên có phản ứng với bạo hành với chính xã hội. Lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam còn mang phản xạ tuyên truyền, phản ứng tuyên giáo, mà không tự có một hệ đủ trình độ tri thức để dẫn dắt một lý luận chỉnh lý tới một lập luận hợp lý để kết cuộc đi tới một giải luận toàn lý để thuyết phục đối tác hay đối phương. Các chính khách, các chuyên gia, các lãnh đạo của các đảng phái yêu đa nguyên, quý dân chủ, trọng nhân quyền của phương Tây biết rất rõ là các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, không có nội công chính trị của hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận) cũng không có luôn bản lĩnh của hệ đối (đối thoại, đối luận, đối trọng, đối kháng, đối lập). Nên các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam thường tránh họp báo với ký giả quốc tế, và nhất là lẩn trốn các trí thức và chuyên gia trên chính trường quốc tế.

Không phải là chính trị gia

Bi kịch vắng bóng nhân tài, biệt tăm minh chủ, biệt dạng chủ thể lãnh đạo, có chủ quyết sáng suốt làm nên quốc sách vị Việt tộc, chỉ vì các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay, vừa không phải là chính trị gia theo nghĩa thông thường, vừa không phải là những lãnh tụ quốc gia dám kham, lãnh, nhận, cõng các quốc sách làm được chuyện thay đời đổi kiếp cho Việt tộc. Bi kịch làm bi đát não trạng, bi thảm cho não bộ của họ. Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không hề là :

"Người khôn chưa đắn đã đo

Chưa ra tới biển đã dò nông sâu",

họ lại càng không chịu học hỏi để nắm chân lý của sinh hoạt chính trị là thường xuyên phải : "So ra mới biết ngắn dài" qua ứng cử-bầu cử-đắc cử theo phương cách đa nguyên. Họ tầm thường trong ích kỷ của những kẻ "ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau". Họ vô tri vì không biết là trí thức Việt tộc nhìn họ (như không nhìn họ) và ngượng vì họ : "Đứa ngu cởi truồng, người khôn mất mặt". Và "nói gần nói xa không qua nói thật" là trong âm giới của bạo quyền độc tài toàn trị của họ, thì họ không có tư cách liêm khiết đường đường chính chính, không có phong cách quang minh chính đại.

Gà què… dại chợ

Đảng cộng sản Việt Nam, nơi mà các lãnh đạo có ít nhất là bốn khuyết tật trong hành tác ngoại giao quốc tế : khôn nhà dại chợ, trong chính trường quốc tế tự hành động tham gia tới hành tác tham dự vào các công trình lớn của nhân tri rộng của nhân loại. Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam chỉ là loại gà què ăn quẩn cối xay, giấu cái vô tri của mình bằng cách tránh đối thoại và hợp tác với nhân tri rộng của nhân loại, ăn bám sống nhờ qua tiền của cùng tài nguyên của dân tộc lại bắt buộc dân tộc mang ơn đảng. Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam chỉ là loại khôn (nhà) quá hóa dại (người), nên cúi đầu-khoanh tay trước Tàu tặc cướp đất, biển, đảo quê hương Việt trong mọi thương lượng song phương, nên tiếp tục khom lưng-quỳ gối trước Tàu tặc tại Liên Hiệp Quốc, tại các Liên Minh quốc tế hiện nay. Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam chỉ là đang thiếu hoạc chưa hiểu một bài học của tổ tiên Việt là vắng mợ chợ vẫn đông, nơi mà các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, không có mặt trong các "sân chơi quốc tế" có văn minh của dân chủ, trong các "trò chơi quốc tế" có tiến bộ của nhân quyền. Với láng giềng Tàu nạn đã đè đầu cỡi cổ các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam vì các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam đã mại quốc cầu vinh với phản xạ cúi đầu-khoanh tay, với phản xạ khom lưng-quỳ gối trước Tàu họa, nhận Tàu tà là bạn vàng, láng giềng tốt, nên hiện nay trên chính trường quốc tế, các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam không có bạn tốt, không có láng giềng thật.

Con đường hầm đen nghịt

Con đường hầm đen nghịt dẫn tới ngõ cụt của bạo quyền độc đảng toàn trị, thì các lối ra để sống còn là đường đi nẻo về của bạo lực, mà những kẻ có phản xạ chuyên chính, có phản ứng chuyên quyền luôn sử dụng trong môi trường nội bộ của mọi đảng cộng sản, và Đảng cộng sản Việt Nam không hề là một ngoại lệ, đó là sinh hoạt bầy đàn, nơi mà nội bộ giữa các lãnh đạo của phản xạ chuyên chính, của phản ứng chuyên quyền là sinh hoạt bản năng của bầy đàn, với bản năng đói ăn khát uống quyền lực không đạo lý, với trực năng ăn tươi nuốt sống quyền lợi. Quan hệ bầy đàn, theo bản năng, là tên lãnh đạo chóp bu là đầu đàn áp lệnh trấn quyền bằng bạo lực của bạo hành qua bạo quyền mạnh được yếu thua, nơi mà phản xạ súc sinh, phản ứng súc vật hiện hình trong bạo luật rừng : cá lớn nuốt cá bé. Với Đời sống bầy đàn, dựa trên so sánh lực lượng, thì các tham vọng về quyền lực để thành đầu đàn là mọi cơ hội, chờ đục nước béo cò để hãm hại nhau, chờ thừa gió bẻ măng để truy diệt nhau. Trong khi chờ đợi cướp được quyền, thì sống còn nhờ phản xạ ký sinh trùng là chờ sung rụng, muốn rình rập ngày đêm để chụp giựt quyền lực và quyền lợi của đầu đàn thì cứ giữ phản xạ súc vật ăn nhờ ở đậu, ngày ngày đóng trọn vai đúng bản chất của mình là : gà què ăn quẩn cối xay.

Không có kẻ minh anh

Thay đổi từ nội bộ của Đảng cộng sản Việt Nam luôn là giả thuyết khả thi nhất để hiểu các chuyển biến về vận mệnh của một dân tộc trong hệ thống bạo quyền độc đảng toàn trị. Chính tình hình Đông Âu dưới loại chế độ này, cùng với vai trò cá nhân như Gorbachev đã làm sụp đổ cả một hệ thống cộng sản cuối thế kỷ XX là định đề cần đào sâu trong tương lai học. Nhưng định đề này sẽ gặp ít nhất ba loại trở lực trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay. Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay không có loại minh chủ như Gorbachev, rồi minh chúa cũng không có bóng dáng hoặc diện mục trong Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay. Minh chủ xoay chuyển tình hình để thay đổi số kiếp một dân tộc, luôn có nội cộng chính trị, bản lĩnh chính khách, tầm vóc chính tri để thấy được lối ra cho giống nòi. Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay không có chính khách đúng nghĩa trong định nghĩa về nhân tri chính trị, nhân trí chính trường với kỹ năng đối thoại với thực năng kiến thức để thuyết phục xã hội và dân tộc bằng các chính sách nhìn xa trông rộng. Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay không có các chủ thể biết chọn đối thoại để đối luận bằng lý luận chỉnh lý, bằng lập luận hợp lý, bằng giải luận toàn lý, lấy lý trí cá nhân để xây trí tuệ tập thể, để dựng tuệ giác cho lãnh đạo chính trị.

Tà cách

Tà cách của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam đã lộ qua điếm cách của bọn cướp ngày là quan thôi ! Thậm chí đang là lãnh đạo từ lập pháp tới hành pháp, là trong túi đã có quốc tịch ngoại, tiền đã chuyển ra ngoài, và con cái đã qua phương Tây từ lâu. Phân tích sâu như vậy để thấy thật rõ họa cảnh tối tăm của một dân tộc nạn nhân của ngu dân trị tới từ một đảng cầm quyền mang cốt, lõi, cội, rễ của ngu trị não trạng (vắng kiến thức, rỗng tri thức, trống trí thức). Khi các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam lập ban cố vấn, tìm tư vấn, thì những chuyên gia làm việc cận kề các lãnh đạo này cũng không có lý trí khoa học, trí tuệ văn minh, tuệ giác minh triết. Từ lý lịch đến hồ sơ cá nhân, từ bản lai diện mục tới phương pháp luận đề ra đường lối chỉ đạo, các chuyên gia quốc tế không thấy nội công chính sách, bản lĩnh chính trị, tầm vóc quốc sách của các lãnh đạo lẫn các cố vấn của họ. Rốt cuộc, thì "Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã", nên "âm binh tìm âm binh" để lập cuộc sống chung "cá mè một lứa" trong đặc quyền, đặc lợi, đặc ân mà thôi

Ăn bám… ăn tàn… ăn nhặt

Khi nghiên cứu về nội dung truyền thông qua chính trị học tri thức được song hành với xã hội học quyền lực về các phát biểu, các nhận định, các phê bình, các đánh giá, thì các chuyên gia quốc tế đã thấy và thấy là các lãnh đạo Đảng cộng sản Trung Quốc đã nhìn thấu mọi nhược điểm cũng như khuyết tật của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam, chỉ là bọn bám gót ăn theo, dựa Đảng cộng sản Trung Quốc để bám máu ăn phần. Bọn ăn tàn phá sạch, dựa Đảng cộng sản Trung Quốc để ăn hôi uống bẩn cũng là bọn bám gót ăn theo, dựa Đảng cộng sản Trung Quốc để trây máu ăn phần. Bọn dựa hơi bám thế, dựa Đảng cộng sản Trung Quốc để bám theo dựa ké cũng là bọn qua sông lụy đò, lụy Đảng cộng sản Trung Quốc để cúi đầu ăn nhặt.

Không biết nên không có

Thảm trạng của Việt tộc hiện nay, thảm kịch của đất nước Việt hiện giờ là bạo quyền độc đảng toàn trị trong tay Đảng cộng sản Việt Nam không có chính sách cứu nguy dân tộc, không có quốc sách nhân bản vì giống nòi, không có quyết sách về các nhu cầu cơ bản. Mà ngược lại, dân tộc chỉ thấy một tập đoàn lãnh đạo bán tài nguyên cho Tàu tặc ngoại xâm, tiêu hoang thiên nhiên, xài phí môi trường, với cây rừng nguyên sinh thành vật liệu xây cất và trang trí các biệt dinh, biệt phủ, biệt thự của các lãnh đạo, đã vào lộ trình buôn dân bán nước.

Giả giấy… giấy giả

Sau gần nửa thế kỷ hết chiến tranh, thống nhất đất nước với độc đảng toàn trị kiểu Đảng cộng sản Việt Nam từ định chế tới cơ chế, từ giáo dục tới hướng nghiệp, thì cả dân tộc trong đó có hai giai cấp công nhân và nông dân mang tiếng được đi học, nhưng họ lại phải nhận cả một quá trình mua bằng bán cấp với trường giả-học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả ; giả vì hữu danh vô thực. Có học vị mà không phải là chuyên gia trong chuyên môn của mình ; có học hàm mà không biết chuyên ngành cùng chuyên khoa của mình là gì ; để tới khi chính các chuyên gia thực thụ hỏi về học lực tức là học thật qua trường thật-học thật-thi thật-điểm thật-bằng thật thì không trả lời được. học vị, học hàm mà không có học lực tức là học thật nên tránh hội luận, trốn hội thảo, chuồn hội nghị về chuyên môn, chuyên ngành, chuyên khoa, tức là chuyên nghiệp của mình. Trong trà dư tửu hậu thì từ chê bai tới mạt sát nhau là : cao học giả, tiến sĩ giấy… lấy chuyện mua bằng bán cấp ra để mua chức bán quyền, để phỉ báng nhau trước bàng quan thiên hạ rồi tự vỗ ngực để tự nhận là mình : khôn lanh hơn người. Khi bị đồng bào hỏi lại ngược lại : dân tộc cần người khôn có thông minh biết yêu nước thương nòi, chớ không hề cần bọn lanh (đầu khờ miệng lanh) trong buôn gian bán lận từ bằng câp tới lý lịch, thì lại đớ lưỡi, cứng họng, nghẹn cổ mà chẳng trả lời được ! Đây không phải là vô minh thì là gì ? Đây không phải là vô tri thì là gì ? Đây không phải là vô học thì là gì ?

Tư lợi hóa : đặc quyền, đặc lợi, đặc ân, đặc sủng

Khi bạo quyền lãnh đạo, chia chát cùng tà quyền tham quan, cả hai có liên minh với ma quyền tham đất, vì tất cả bọn chúng đều tham tiền, thì hệ lụy của tuyên truyền không còn là chuyện ăn gian nói dối, mà là chuyện tổ chức để cướp của hại người, theo nghĩa sâu xa nhất mà thí dụ cụ thể là bứng dân lành ra khỏi nơi chôn nhau cắt rốn để một sớm một chiều thành dân oan, phải màn trời chiếu đất, phải đầu đường xó chợ. Tiểu luận này đề nghị phân tích và giải thích tuyên truyền ngu dân như quá trình độc quyền sinh sát của một độc đảng đứng và đạp trên tất số phận của một dân tộc, tận dụng tuyên truyền ngu dân như một quá trình giáo dục ngu dân. Độc quyền hóa từ quyền lực tới quyền lợi của một độc đảng, vừa độc tôn vừa độc trị để truy diệt từ khả năng phát triển kinh tế tới tiềm năng làm chủ tri thức nhân bản để có cuộc sống văn minh. Độc đảng này luôn tìm mọi cách hủy diệt đa nguyên của đa đảng biết tận dụng đa trí, đa tài, đa lực, đa năng, đa hiệu… Tư lợi hóa qua đặc quyền, đặc lợi, đặc ân, đặc sủng của một giai tầng thống trị, chỉ là một thiểu số gần 5 triệu đảng viên là thành phần nòng cốt tự lãnh đạo tới cán bộ để bòn rút tài nguyên đất nước, tiền của đồng bào, tiền tài của một dân tộc khoảng 100 triệu dân.

Tà giới

Các lãnh tụ của Đảng cộng sản Việt Nam đã và đang lãnh đạo chính quyền bằng vốn vô học của họ dựa trên công an trị, đang điều hành chính phủ bằng tuyền truyền trị, cụ thể là đang điều khiển không những tổ chức chính trị mà cả tổ chức kinh tế, tổ chức khoa học, tổ chức xã hội bằng ngu dân trị. Các lãnh tụ trước đây và các lãnh đạo hiện nay của Đảng cộng sản Việt Nam không có điều kiện được học hành trước khi lãnh đạo thì đây không phải là một cái tội. Nhưng khi họ nhận các chức năng trong quản lý trong chính quyền, nhận các chức vụ trong quản trị trong chính phủ mà không chịu học hỏi là một cái lỗi lớn. Và với chức quyền mà họ đang nắm hiện nay họ còn thông đồng hoặc thỏa hiệp với ma trận học-giả-thi giả-điểm giả-bằng giả không những cho họ mà cho thân thuộc của họ trong tà giới quan hệ-hậu duệ-tiền tệ-đồ đệ. Mà trực tiếp hay gián tiếp diệt trí tuệ, triệt nguyên khí quốc gia, chặn những chân tài, ngăn những thực tài của dân tộc, thì đây là một cái tội, một tội rất lớn ! Đây vừa là chân dung của vốn vô học làm nên chân tướng tướng vô học trị.

Mua chức bán quyền

Các lãnh tụ của Đảng cộng sản Việt Nam đã và đang lãnh đạo chính quyền có những tướng trong từ Bộ Quốc phòng tới Bộ Công an, đã phá kỷ lục thế giới về số lượng hơn 500 tướng, cụ thể là phá kỷ lục về mua chức bán quyền. Đám tướng này có chức tướng không hề qua kiến thức an ninh quốc phòng, lẫn tri thức trật tự xã hội của một thể chế văn minh biết dựa vào một dân tộc có văn hiến. Mà lũ tướng này, dân chúng gọi là tướng cướp, các tướng của Bộ Quốc phòng thì biến đất quốc phòng thành đất kinh doanh, ăn đất để ăn tiền. Cùng các tướng của Bộ Công an đã tổ chức cờ gian bạc lận ngay trong sào huyệt của Bộ Công an, nơi mà các tướng công an trở thành những tên đầu nậu, lấy xâu bài qua chủ cái bằng tham nhũng lên tới bạc tỷ mỗi tháng. Đây là là chân dung của tham ô trị làm nên chân tướng tướng vô học trị có anh em sinh đôi là tham nhũng trị.

Liên minh với côn đồ, lưu manh, du đãng, của xã hội đen

Các lãnh tụ của Đảng cộng sản Việt Nam đã và đang lãnh đạo chính quyền qua các tướng của Bộ Công an đã liên minh với côn đồ, lưu manh, du đảng mà tên gọi thông dụng là xã hội đen để tiếp tục làm đầu nậu từ đất đai tới các dịch vụ phạm pháp trầm trọng nhưng lại được các tướng bảo kê. Chúng sẵn sàng phá nhà để cướp đất của dân ; biến dân lành, dân đen một sớm một chiều thành dân oan trong với thảm họa màn trời chiếu đất, với thảm cảnh đầu đường xó chợ. Đây là chân dung của công an trị làm nên chân tướng tướng côn đồ trị. Các lãnh tụ của Đảng cộng sản Việt Nam đã và đang lãnh đạo chính quyền qua các tướng của Bộ Công an liên minh sử dụng côn đồ, lưu manh, du đảng của xã hội đen để hành hung, khủng bố, truy diệt các chủ thể đấu tranh vì dân chủ, vì nhân quyền, vì tiến bộ, vì văn minh, đây là những đứa con tin yêu của Việt tộc, chính các chủ thể này đại diện cho có học-có hậu để chống lại tà nghiệp trong ma lộ của vô học-vô học. Đây là chân dung của công an trị làm nên chân tướng tướng vô học trị.

Tà nghiệp trong ma lộ

Tà nghiệp trong ma lộ của vô học-vô học, hãy cùng nhau nhận ra nội dung và nội hàm của có học-có hậu của các lãnh tụ và lảnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, trước hết qua đạo đức được kết tinh bằng đạo lý của hai hệ. Hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri) có tình cảm chân thiện ăn hiền ở lành, thì sẽ dễ có tâm cảm thương người như thể thương thân, từ đó sẽ nhận ra sức liên kết giữa quá khứ-hiện tại-tương lai trong phương trình ăn ở có hậu chính là cốt lõi của lương tri, một tri thức biết nhận ra điều hay lẽ phải. Hệ liêm (liêm khiết, liêm chính, liêm sỉ) để trong sạch khi học làm người, trong sáng khi nhận trách nhiệm và khi lảnh bổn phận trước đồng bào, đồng loại ; lại biết giữ sĩ diện cho mình và cho người bằng sự tôn trọng lẫn nhau qua công bằng xã hội, qua công lý của pháp luật.

Vắng lương, trống liêm, rỗng công

Hai hệ lương liêm dựng lên đạo đức được kết tinh bằng luân lý trách nhiệm và bổn phận, sẽ mở ra hai hệ khác chính là giáo lý của dân chủ luôn có cùng một dòng sinh mệnh với có học-có hậu. Hệ công (công bằng, công lý, công tâm) công bằng xuất hiện vì con người luôn muốn xóa bất bình đẳng trong nhân sinh ; công lý trực diện với bất công bằng đạo lý và luật pháp để chống lại bất công. Và công tâm cũng có mặt để trợ lực cho công lý có thêm tình người, biết hiểu hoàn cảnh để thấy cho thấu tâm cảnh, từ đó có tâm cảm trong rộng lượng, trong khoan dung, biết lấy từ tâm để trợ duyên cho công tâm. Hệ tự (tự do, tự chủ, tự tin, tự trọng), nơi mà tự do là nhân quyền cơ bản để vừa bảo vệ công bằng giữa mọi người, vừa giúp mọi người được mưu cầu hạnh phúc cho chính bản thân của mình. Với lực tự chủ từ học hành tới nghệ nghiệp, từ kinh tế tới xã hội, từ văn hóa tới giáo dục, luôn được củng cố bằng lòng tự tin vào công lý trong giáo dục lương thiện, trong giáo dưỡng liêm chính, để có tự trọng với tư cách có học trong nhân cách có hậu.

Vắng thông, trống sáng, rỗng đức

Khi hai hệ lươngliêm của đạo đức biết chung lưng đấu cật với hai hệ côngtự của công lý, thì dân tộc được tiến bộ, giống nòi được thăng hoa, qua hai hệ tinh anh của có học-có hậu ; Hệ thông (thông minh, thông thạo, thông thái) bằng vốn liếng của Việt tộc đã là một minh tộc biết dựng nước và giữ nước bằng chính sự thông minh của mình, với tri thức tinh tế về đất nước, về địa dư, về tiềm năng… Thông minh được thể hiện, được hành tác bằng sự thông thạo vận dụng các tiềm năng có sẵn, tận dụng lòng yêu nước của Việt tộc luôn là một dũng tộc có can đảm trong kiên cường quyết tâm bảo vệ quê hương và giống nòi, bằng sự thông thái trong chiến lược quân sự và ngoại giao chống ngoại xâm. Hệ sáng (sáng kiến, sáng lập, sáng chế, sáng tạo), bằng sự chủ động ngay trong tư duy, lấy sáng kiến để vượt thoát mọi hiểm nạn từ nội xâm buôn dân bán nước tới ngoại xâm lòng lang dạ thú như Tàu tặc hiện nay. Cả hai, nội xâm lẫn ngoại xâm, đều vô học vì vô đạo đức và vô công lý, nên chúng sẽ vô hậu vì vô lương tâm và vô liêm sỉ. Chúng sẽ bị triệt hạ bởi những lực lượng tiến bộ của xã hội dân sự, biết sáng lập ra những phong trào dân chủ, biết sáng chế ra những trào lưu nhân quyền, để nhận lại nhân phẩm Việt luôn có học đạo đức và công lý, luôn có hậu từ lương thiện tới liêm khiết.

Độc đạo nên độc hại

Cuộc hành trình của Việt tộc trong thời điểm lịch sử sắp tới và đang tới là một quá trình đảm nhận đầy đủ hai hệ lươngliêm của đạo đức, để lảnh nhận trọn vẹn hai hệ công của công lý, từ đó sử dụng, vận dụng, tận dụng hai hệ thôngsáng, có sẵn trong vốn liếng của dân tộc, của giống nòi, mang tinh anh của có học trong thể phách có hậu. Các dân tộc cùng nôi văn hóa và văn hiến với chúng ta trong tam giáo đồng nguyên đã thành công, như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc… thì chúng ta phải thành công như họ. Câu chuyện thành công trong dân chủ, thành tựu trong đa nguyên, thành đạt trong nhân quyền phải bắt đầu dẹp để xóa đi độc đảng toàn trị bằng vốn vô học ; độc tài nhưng bất tài vì vô học trị ; độc trị nhưng không biết quản trị vì ngu dân trị ; độc quyền nhưng cuồng quyền bằng công an trị ; độc tôn nhưng không thượng tôn pháp luật vì tham nhũng trị. Tất cả đều là độc đạo nên vô cùng độc hại vì tham quyền, tham tiền, vì lạm quyền, lộng quyền, đây là chân dung vô học trong cực quyền làm nên chân tướng vô hậu trong cuồng quyền.

Không thực nên không đạo

Có thực mới vực được đạo, mà thực đối với các người là thực phẩm cũng như tiền bạc phải ăn càng nhiều càng tốt, còn đối với trí thức chân chính thì thực phải là sự thực làm nên sự thật có rễ của chân lý để lẽ phải được đâm lộc kết chồi. Nhưng bi kịch của Việt tộc trong tay cuồng quyền của các người đã gian trá hóa sinh hoạt xã hội, đã gian manh hóa quan hệ xã hội, đã gian xảo hóa đời sống xã hội, mọi cái thực trong cái thật đã bị giả hóa. Học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả để chuyện mua bằng bán cấp và chuyện mua chức bán quyền là loại ung thư đôi có trong bi hài kịch của xã hội ngày nay, có bằng cao học mà lái xe ôm, có bằng tiến sĩ mà trốn chuyên môn [1]. Vỗ ngực là chuyên gia với bằng cao chức rộng mà lách hội thảo, né hội nghị, tránh hội luận, cái giả được bày biện trong xảo trá. Vì muốn làm trí thức thì phải biết biến năng lực thành năng lượng, học thật để hiểu thấu, nơi mà cụ Tiên Điền Nguyễn Du đã mô thức hóa : "Phải lần cho tới tận nguồn lạch sông", nơi mà thậtgiả được phân loại để phân tích, nơi mà thật hư được phân biệt để phân minh [2].

Gian nhà đểu chợ

Khôn nhà dại chợ kiểu gà què ăn quẩn cối xay, loại chó cậy gần nhà, để khi ra gặp hợp tác quốc tế thì cúi đầu ; khi gặp chất vấn quốc tế thì khoanh tay ; khi gặp đối đáp quốc tế thì khom lưng mà niểng cho qua chuyện. Ma xó bị ngợp dưới mặt trời. Các chuyên gia quốc tế tư vấn cho các quốc gia có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền, họ không lầm khi họ nhận ra nhân diện của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam không có ánh sáng của nhân vị, khi nhân dạng của các lãnh đạo này không có hào quang của nhân cách. Chỉ vì các chuyên gia quốc tế này không thấy nhân trinhân trí trong nhân bảnnhân văn của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam, họ không thấy nhân lýnhân tính, họ không nhận ra nhân tâmnhân từ của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam. Họ không thấy thông minh Việt : "Người khôn chưa đắn đã đo. Chưa ra tới biển đã dò nông sâu" trong nhân diện lẫn nhận dạng của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam.

Không minh, không sư

Khôn nhờ dại chịu lại là một bất công khác đang đổ trên đầu, trên vai, trên lưng Việt tộc, khi lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam khờ trước quốc tế nhưng ác trước quốc nội, dại với người ngoài nhưng độc với đồng bào, theo biểu tượng thấp tồi mà dân Việt đã đặt tên để gọi kiếp cho các người : hèn với giặc, ác với dân ! Đây là thảm kịch đôi của Việt tộc đã bị một độc đảng cường quyền chặn dân chủ, dẹp nhân quyền, mà chính trong nội bộ của các người cũng không bao giờ có tài, loại minh vương mà các đời Lý, Trần đã có. Không có luôn minh chủ của đời Ngô, đời Đinh ; càng không có minh quân với tầm vóc của Trần Hưng Đạo, với vai vóc của Quang Trung… Còn minh sư kiểu Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bình Khiêm, Ngô Thời Nhiệm [3]… đang có mặt trong giới trí thức Việt hiện nay, thì ngày ngày bị các người trù, dập, truy, diệt. Vì trong thâm tâm của các người rất lo là nhân trí của minh sư sẽ dẹp âm tri của các người ; các người đã mất ăn mất ngủ vì trong tâm địa của các người mang một nỗi sợ là nhân lý của minh sư sẽ xóa đi âm dạng của các người.

Ô nhục hóa Việt tộc

Đại ngục trần gian với qủy dữ giữa trần gian đang bẩn thỉu hóa trần thế để ô nhục hóa Việt tộc bằng bạo quyền công an trị, bằng tà quyền tham quan trị, bằng ma quyền tham tiền trị khi các người biến thanh niên Việt thành lao nô, các phụ nữ Việt thành nô tỳ cho các nước láng giềng trong kiếp nô lệ với điều kiện lao động bại nhân vị, thảm nhân cách ! Biến đồng bào thành lao nô để thu ngoại tệ cùng lúc để tổ chức các đường dây buôn người, bòn rút tận xương tủy tiền bạc của đồng bào là một ý đồ ma luôn song hành cùng với mưu đồ qủy là diệt nhân tài, giết hiền tài. Tránh tri thức vì sợ bị lột mặt nạ là các người bất tài ! Tránh trí thức vì sợ bị vạch mặt chỉ tên là các người ôm độc trị nhưng không biết quản trị ! Chẳng cần cháy nhà mới lòi mặt chuột, vì Việt tộc hiểu Việt sử hơn ai hết : bọn cướp ngày là quan, tà quan trong điếm quyền, ngụp lặn trong tham quan để tham ô, đuối ngộp trong tham nhũng vì tham tiền [4]. Các phong trào đấu tranh cho công lý vì công bằng xã hội đang lớn mạnh ! Các người có thấy các phong trào phấn đấu tranh cho dân chủ vì tiến bộ nhân sinh đang lớn lên ! Các người có thấy các phong trào đối kháng vì văn minh nhân quyền đang lớn rộng !

Tà lộ của tà quyền

Phản dân hại nước là tà lộ của tà quyền, chóng chầy sẽ sa vào ma lộ của buôn dân bán nước cho Tàu tặc. Trong lúc chờ đợi đa nguyên trong đa đảng để Việt tộc có đa trí, đa tài, đa năng, đa hiệu [5]mà thăng hoa cùng nhân loại, thì chính các phong trào của xã hội dân sự sẽ tạo ra sung lực để tẩy, xóa, khử, trừ đi tà quyền đang tham quyền, ma quyền đang tham tiền. Âm binh nội xâm đã sa vào tà lộ của loài cõng rắn cắn gà nhà, nhưng thật xót xa là bọn âm binh này sẽ đẩy Việt tôc vào tử lộ ! Mà muốn làm người thì các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam phải tẩy, xóa, bứng, nhổ mọi tạp chất của nội xâm (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền) đây là loài ký sinh trùng làm ô nhiễm nội chất, làm ô tạp nội lực, làm ô uế nội công của Việt tộc. Muốn làm người thì hãy tái tạo lại nội công cho Việt tộc mà trước mắt là dựng lên một tòa án dân tộc, đầy đủ lương tâm dày dạn trí tuệ, lấy lương tri để dẫn dắt tuệ giác biết luận-tội-án để xử tội ác.

Việt tộc đang chờn vờn bên bờ vực thẳm

Việt tộc đang chờn vờn bên bờ vực thẳm mà thủ phạm là bạo quyền độc đảng phản dân hại nước, là tà quyền tham nhũng buôn dân bán nước, là ma quyền tham tiền buôn tông bán tổ. Liên minh âm binh này luồn lách trong bóng tối để vơ vét tiền bạc của đồng bào, bòn rút tài nguyên của đất nước nhưng sẵn sàng biệt tăm biệt tích khi đất nước bị Tàu tặc xâm lược, khi đồng bào phải chịu số phận bị đồng hóa của Tàu tà. Hai chữ đồng bào [6] hoàn toàn ngược chiều với đồng bạo, đồng tà, đồng ma để bị đồng bẩn, vì đồng bào đã thấy rồi bạo quyền, tà quyền, ma quyền khi thành cuồng quyền trong Đảng cộng sản Việt Nam đang đồng liệt, đồng bại, đồng quỵ ngay trong nhân vị Việt của chúng !

Nội xâm cuồng quyền, nội tặc qủy quyền

Ăn bát cơm dẻo, nhớ nẻo đường đi, đó là câu chuyện ân nghĩa đồng bào đã làm nên ánh sáng để lành mạnh hóa cuộc đời, đây là một câu chuyện vừa chân thật lại vừa thông minh trong lương tri chính trị, vì nó nghịch chiều với câu chuyện của các người là : hứa cuội, hứa hão, hứa điêu, hứa ngoa, hứa láo với dân tộc bằng một ý thức hệ ngoại lai về một thiên đường cộng sản. Để khi dân tộc khám phá ra lực lượng cộng sản chỉ là một tập đoàn tội phạm của bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham nhũng, ma quyền tham tiền, tất cả chỉ là một tạp-hợp âm binh luôn tránh né cái lành, vì luôn lo sợ cái sáng : ánh sáng của sự thật, ánh sáng của chân lý, ánh sáng của lẽ phải. Lột mặt nạ bọn buôn dân bán nước, là thượng nguồn của mọi hành trình trong ý thức dân tộc, mà con dân Việt hiện nay phải vận hành để trở thành chủ thể, để chủ quyết trong chủ động, để bảo vệ Việt tộc, nơi mà mọi con dân Việt đều có chung một dòng sinh mệnh với giống nòi Việt, đồng mệnh [7] trước hai họa nạn : nội xâm cuồng quyền vì dại tiền, ngoại xâm qủy quyền vì tham đất, tham biển.

dcs5

Những cái bất nhân

Tàu tặc đang chiếm biển, đảo của Việt tộc ; Tàu họa đang gây nhiễm ô từ không khí bằng các nhà máy nhiệt điện than cho tới Formosa đã hủy diệt cả một vùng biển miền Trung ; Tàu nạn đang buôn người, buôn nội tạng, buôn ma túy ; Tàu hoạn với thực phẩm bẩn, hóa chất độc, tất cả tạo nên một chướng khí trong âm địa mà Tàu tà đang trùm phủ lên nhân kiếp Việt. Giờ thiêng của Việt tộc, ngày linh của đất nước Việt đã tới, con dân Việt phải quyết đoán trong quyết tâm, để quyết liệt bằng quyết luận là không lùi, để không bị rơi bẫy của Tàu tà. Và trước mắt và ngay trên đất nước mình, con dân Việt phải đối diện với bạo quyền để đối trọng với tà quyền, đối luận với nội xâm để đối kháng chống ngoại xâm, như chống lại những cái bất nhân, phi nhân, xảo nhân đang có mặt ngay trong chế độ độc hại trong lộng quyền của nó trong sinh hoạt xã hội, cái lạm quyền của nó trong quan hệ xã hội, cái tham quyền của nó trong đời sống xã hội. Đảng cộng sản Việt Nam có cả ba : lộng quyền, lạm quyền, tham quyền. Khi chính chế độ độc đảng trong độc hại đang xóa, tẩy, hủy, diệt mọi khái niệm đồng bào trong đồng cam cộng khổ, trong đồng hội đồng thuyền để giờ đây mỗi con dân Việt chỉ là một cá thể ích kỷ trong đơn lẻ, không hề đồng tình, đồng tâm, đồng lực để thăng hoa cuộc sống bằng sự thật-chân lý-lẽ phải ! Đây chính là sự thảm bại lớn nhất của Đảng cộng sản Việt Nam, mà cũng là một trong những cái tội to nhất của Đảng cộng sản Việt Nam.

Chống tự do và phản nhân quyền

Nhìn xa trông rộng để được làm người, các tư tưởng gia, các lý thuyết gia, các chuyên gia quốc tế hầu hết đều nhận ra là chủ nghĩa cộng sản là một thảm họa không sao lường được cho nhân loại ! Duy vật biện chứng sản sinh ra duy vật sử quan là một luận thuyết thô sơ để mị dân, thô bạo để ngu dân, thô tục để ru dân, thô lậu để lừa dân. Nên nó đã sát nhân từ khi Lenin hành tác trong chuyên chính vô sản ; từ khi Staline hành động trong thanh trừng để thanh toán hàng triệu người ; từ khi Mao đã tổ chức cuộc thảm sát bằng Cách mạng văn hóa, mà đàn cha, đàn chú của các người lúc đó đang lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam đã lập lại bản sao qua Cải cách ruộng đất. Nói người rồi nghĩ tới ta, xem xét lại các tự do cơ bản của các quốc gia có văn minh dân chủ, có văn hiến nhân quyền thì hãy kết luận rành mạch là dưới chế độ độc đảng hiện nay mà Đảng cộng sản Việt Nam áp đặt lên nhân kiếp của Việt tộc thì dân tộc Việt, xã hội Việt không có tự do ! Và nhân quyền không được tôn trọng ! Vì chế độ toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam mang thực chất của nó là hoàn toàn chống tự do và phản nhân quyền, bằng hành động độc quyền, bằng hành tác độc tài của nó qua bạo quyền độc đảng dùng công an trị để truy hiếp nhân tâm Việt, nhân từ Việt. Tà quyền tham quan dùng tham ô, tham nhũng để tiêu hủy nhân tính Việt, nhân lý Việt. Ma quyền tham tiền dùng tiền tệ và quan hệ để xóa trừ nhân nghĩa Việt, nhân đạo Việt, cực quyền độc trị dùng khủng bố, đàn áp, sát hại… để vùi dập nhân tri Việt, nhân trí Việt. Cuồng quyền độc tôn dùng vu cáo, tù đày, lao lý để tẩy khử nhân vị Việt, nhân bản Việt.

Phương pháp luận đuổi tà, khoa học luận truy ma

Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa đấy ! Sinh hoạt bằng tà hệ của quan hệ-hậu duệ-tiền tệ, để ngày ngày truy hủy trí tuệ Việt, giết thông minh Việt để chôn luôn sáng tạo Việt, tối cần cho nhân trí tiến bộ, cho nhân tri văn minh. Đảng cộng sản Việt Nam chỉ biết vơ vét tiền của dân lành, nạo vét tài nguyên đất nước, để xây biệt phủ, dựng biệt dinh với thẻ xanh, quốc tịch ngoại cùng vàng bạc đã có sẵn trong túi, chỉ chờ Tàu tặc chiếm quê hương, đất nước của Việt tộc, là các người cao bay xa chạy qua phương Tây. Coi chừng ! Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam nên cẩn trọng, vì phương Tây của văn minh dân chủ, của văn hiến nhân quyền, họ không chấp nhận sống chung với bạo quyền, tà quyền, ma quyền đâu ! Phương Tây có phương pháp luận đuổi tà hiệu quả lắm ; phương Tây có khoa học luận truy ma hiệu quá lắm ! Vì phương Tây là một châu lục có truyền thống dân chủ lâu đời nhất, có lịch sử nhân quyền sâu đậm nhất. Họ sẽ không để yên cho các người đày đọa tiếp lao động Việt, không để yên cho các người vùi dập tiếp dân tộc Việt lâu nữa đâu !


Bản năng nghịch nhân tính

Đảng cộng sản Việt Nam đang lãnh đạo và đang hoàn toàn chịu trách nhiệm về vận mệnh của giống nòi Việt, cơ đồ của tổ tiên Việt, trước họa nội xâm tham nhũng song lứa cùng đôi với họa ngoại xâm Tàu tặc. Các lãnh dạo của Đảng cộng sản Việt Nam tự chọn làm người hay làm ngợm, trong hiện tại, trong vị lai, trong Việt sử mai hậu, trước giáo lý của Việt tộc. Vì muốn làm người phải có nhân làm lõi, làm rễ, làm cội, làm gốc, làm nguồn, làm nên nhân tính [8].nhân tính thì ngược lại với bản năng đói ăn khát uống của những kẻ chưa trưởng thành vì chưa có nhân tính, qua giáo dục của nhân tri, qua giáo lý của nhân trí, nên chưa thể là : người. Nhưng nghịch lý là chính chế độ độc đảng nó độc hại trong độc tài của các người đã cho sản sinh ra loại người giật ăn cướp uống, đó là đồng bọn mà các người gọi là đồng chí, tranh tham ô để giành tham nhũng. Ăn ở bất nhân nên sống chết vô hậu, loại này thì không sao có nhân được, nên chúng sẽ không thành người theo nghĩa nhân vị biết dựa vào nhân tính, nhân tâm, nhân nghĩa, nhân từ, nhân đạo [9] ; chúng sẽ không có nhân cách vì chúng trống nhân lý, nhân tri, nhân trí, nhân bản, nhân văn.

Không đủ tâm cũng chẳng đủ tầm

Đảng cộng sản Việt Nam không đủ tâm vì chẳng đủ tầm để làm được ba chuyện sau đây của một chính quyền có nội công, một chính đảng có bản lĩnh để chính thức hóa bằng chính sách quốc gia về hòa hợp hòa giải dân tộc, đưa thảm nạn của huynh đệ tương tàn trong quá khứ của cuộc nội chiến 1954-1975 về tận suối giải oan, để thực hiện cho bằng được giáo lý tổ tiên Việt : người trong một nước phải thương nhau cùng. Bằng ngữ vựng hòa giải để hóa giải oan kiếp nội chiến, để hứa là sẽ không đưa một ý thức hệ ngoại lai nào nữa vào đất nước Việt để Việt tộc phải chịu cảnh gà nhà bôi mặt đá nhau… giết nhau. Hợp thức hóa bằng chính sách xóa để xây ngay lại hiện tại với ngữ văn hòa hợp để cùng nhau hợp tác với một trọng tài chỉnh lý trong liêm chính là : tam quyền phân lập, có văn hóa của đa nguyên để tạo dựng văn minh của dân chủ, để dựng văn hiến của nhân quyền. Hãy nhận ra công bằng trong tiến bộ, với công lý diệt được nội xâm, có công pháp loại được ngoại xâm, bằng công tâm của con dân Việt, chớ không bằng thái độ và hành xử của một độc đảng chỉ muốn độc tài trong độc quyền, độc tôn trong độc trị. Thích ứng hóa bằng thông minh nội bộ ngay trong Đảng cộng sản Việt Nam của các người để quản lý tương lai gần là tìm cho ra được những nhân vật gánh vác được vận nước kiểu minh quân, minh chủ, minh chúa đã có nhiều lần qua các đời Lý, Trần, Lê… bằng chính ngữ pháp lương thiện của chính quyền trong liêm chính của chính phủ, trong khi chờ đợi tương lai lớn của dân chủ, tương lai cao của đa nguyên.

"Vỡ lẽ""chưng hửng"… "té ngửa"

Thì nhân dân mới "vỡ lẽ" ra, thì dân chúng mới "chưng hửng", thì đại chúng mới "té ngửa" ra là các lãnh tụ của Đảng cộng sản Việt Nam đang lãnh đạo từ chính quyền tới chính phủ không hề có một kiến thức cơ bản nào, không hề có một cơ sở gì cho trí thức về giáo lý tri thức làm nên giáo trình trí thức này. Tại sao vậy ? Chỉ tại vì lãnh tụ đã hoặc đang lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không biết, không hiểu vì không học và không đọc gì về các kiến thức và tri thức của nhân loại. Lãnh tụ đã hoặc đang lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không hề biết, không hề hiểu, không hề học, không hề đọc thì làm sao họ xây dựng được giáo lý, giáo luận, giáo dục trên các kiến thức và tri thức của nhân loại mà họ không biết. Lãnh tụ đã hoặc đang lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không biết, không hiểu, không học, không đọc thì làm sao họ tạo dựng được giáo khoa, giáo trình, giáo án trên các kiến thức và tri thức của nhân loại mà họ không biết. Ngay khi họ "biết sơ sơ" "hiểu sới sới" về các cuộc cách mạng đã khai sáng nhân tri, đã khai phá nhân trí, đã khai phóng nhân quyền, thì họ lại tìm mọi cách để ngăn, chặn, hủy, diệt, triệt cho bằng được ! Vì cách mạng khai sáng nhân tri trực tiếp tẩy xóa đi chính sách ngu dân trị của họ ; vì cách mạng khai phá nhân trí trực tiếp khử trừ đi chính sách tuyên truyền trị của họ, vì cách mạng khai phóng nhân quyền trực tiếp bứt bứng đi chính sách vô học trị của họ. Đây không phải là vô học vì không có kiến thức đã làm nên vô hậu là diệt tri thức ngay trong trứng nước thì còn là gì nữa đây ?

Thâm não lòng tham không đáy

Ngoại xâm hiện nay đang trước mặt, trước mắt Việt tộc, đã và đang được nội xâm mở cửa để có mặt trên mọi vùng miền của đất nước, trong hang cùng ngõ hẻm của mọi thành phố Việt. Việt tộc sẽ không nhận ra chân dung ngoại xâm của Tàu tà (Tàu tặc, Tàu họa, Tàu nạn, Tàu hoạn) nếu Việt tộc không nhận ra hình tướng của nội xâm của hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn) của Đảng cộng sản Việt Nam đã nhận giặc làm bạn vàng, đang cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối trước Tàu tà với hội nghị Thành Đô, với hàng loạt ký kết giữa Đảng cộng sản Việt Nam với Tàu tà mà cho đến nay không được công bố, vẫn bị giấu kín. Hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền) sẽ tiếp tục vơ vét tiền thuế của đồng bào, nạo vét tài nguyên thiên nhiên của đất nước, với hành tác cướp ngày là quan cùng thâm não lòng tham không đáy của chúng. Chính chúng sẽ bòn rút tới cạn kiệt mọi sinh lực của đồng bào, mọi nguyên khí của quốc gia, để khi đất nước lâm nguy, đồng bào lâm nạn là chúng cao bay xa chạy qua phương Tây, với quốc tịch ngoại, thẻ xanh cùng vàng bạc trộm, cắp, cướp, giật được của dân lành, dân đen, dân oan. Đừng sai định đề về ngoại xâm để đừng sai lẫn định luận về nội xâm, để không bị sai định nghĩa : Việt tộc là sắc tộc như thế nào ? Việt sử thì rất rõ ràng và rành mạch : Việt tộc là một dũng tộc biết thắng mọi ngoại xâm bằng sự dũng cảm của chính mình, Việt tộc là một minh tộc biết thắng mọi nội xâm bằng sự thông minh của chính mình !

Không có năng lực để khách quan hóa đời sông xã hội

Nguồn gốc câu chuyện tới từ chính quyền của Đảng cộng sản Việt Nam từ khi họ giành quyền lãnh đạo dân tộc và đất nước bằng độc quyền qua độc đảng, với độc tài sinh ra độc tôn, chưa bao giờ được Việt tộc bầu ra, với bao hậu quả từ thù trong (tham quan-tham ô-tham nhũng) tới giặc ngoài (Tàu nạn với nạn xâm lấn-Tàu họa với họa xâm lược-Tàu hoại với hoại xâm lăng) đó là một viễn ảnh đen tối cho dân tộc : bị đô hộ thì sẽ bị đồng hóa, một việc mà tổ tiên ta đã ngăn chặn được từ hơn bốn nghìn năm nay. Ta tôn trọng văn hóa và nhân dân Trung Quốc nhưng ta phải gọi bọn lãnh đạo bành trướng và bá quyền của Đảng cộng sản Trung Quốc là Tàu tặc qua hệ Tàu nạn-Tàu họa-Tàu hoại, trong đó Việt tộc ta đang là nạn nhân chính ! Để tránh hậu quả "sai một ly đi một dặm". Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không có cùng một nhịp sống với hệ cảnh (bối cảnh, hoàn cảnh, thực cảnh) của xã hội, hiểu được tâm cảnh của quần chúng. Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam chọn độc đảng để độc tài, nên không có năng lực để khách quan hóa đời sống xã hội, họ tạo ra dân đen, dân oan, mà họ vẫn mù quáng hóa làm như không thấy nỗi khổ niềm đau của họ ; lấy độc tôn để độc trị nên hoàn toàn không có khả năng để khoa học hóa các dữ kiện xã hội, ngày ngày tự thui chột hóa chính họ, làm như không có tham nhũng đang thối nát hóa đời sống xã hội hiện nay.

Cái vô tri : không đắn, chẳng đo

Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không có bản lĩnh chính trị, không có tầm vóc quốc gia, không có nội công lãnh đạo, vì không biết lắng nghe để thâu nhận hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức) của các chuyên gia, từ đó tạo ra sung lực trong chính sách, biến thành hùng lực trong xã hội qua chính hệ năng (năng khiếu, năng lực, năng động) của chính họ, để chế tác ra hệ sáng (sáng kiến, sáng lập, sáng tạo) từ khoa học, kỹ thuật tới văn hóa, giáo dục để thăng hoa dân tộc của họ. Đó cũng là bài học mà tổ tiên Việt đã giáo dưỡng con cháu Việt nhận ra chân tướng kẻ lãnh đạo mình : "Người khôn chưa đắn đã đo, chưa ra tới biển đã dò nông sâu". Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam chọn "thừa gió bẻ măng" của tham quan, qua "đục nước béo cò" của tham ô, qua "thừa nước đục thả câu" của tham nhũng, thì đối thoại này sẽ bị nhiễm ô bởi tham quyền vì bị lạm quyền. Nên nó bỉ ổi chống lại hệ liêm (liêm khiết, liêm chính, liêm sỉ), nó thô bỉ vì chống lại hệ tài (thực tài, chân tài, hiền tài), vì nó tồi tệ chống lại hệ thực (sự thực, chân thực, thành thực) mà nhân dân đã quá rõ qua các lãnh đạo hiện nay của Đảng cộng sản Việt Nam không hệ có ba hệ (liêm, tài, thực) này.

Không có chính sách đúng, với chính trị cao, được chỉ đạo bởi lãnh đạo giỏi

Nhân lý của lãnh đạo dựa trên đạo lý hay, đẹp, tốt, lành, có nền móng từ luân lý của trách nhiệm bảo vệ nhân dân, của bổn phận bảo toàn tổ quốc, thì cũng chưa đủ để thắng địch. Để lật ngược đối phương nhất là đối phương đó lớn và đông cả nước lẫn dân, như Tàu tặc hiện nay, chúng thật sự là tặc vì chúng đã cướp nước và áp đặt nền thống trị để đô hộ ta qua nhiều lần trong lịch sử, hiện nay chúng cũng đang cướp biển, cướp đảo của ta. Kẻ lãnh đạo giỏi là kẻ chuẩn đoán chính xác ý định của giặc (đi guốc trong bụng giặc), kẻ lãnh đạo tài là kẻ dự đoán đúng ý muốn của giặc (đi bộ trong não bộ giặc), kẻ lãnh đạo lớn là kẻ nhập nội được vào ý đồ của giặc (đi dạo trong mưu đồ giặc). Có chính sách đúng, với chính trị cao, được chỉ đạo bởi lãnh đạo giỏi, theo đúng bài học của tổ tiên : có tích mới dịch nên tuồng, dựa trên năng lực lãnh đạo (khôn cậy, khéo nhờ, khó chịu), lấy tự chủ để làm chủ (khôn làm cột cái, dại làm cột con), có định hướng chủ lực, biết thời hiểu thế, nắm kế thấu mưu, làm lớn thắng to, để sớm thăng hoa dân tộc.

Không biết cởi bỏ để cởi mở trong lãnh đạo chính trị

Cởi bỏ các ý thức hệ ngoại lai làm băng hoại dân tộc, khẳng định khả năng cởi bỏ cái độc hại của cái độc đảng, để cởi bỏ cái độc đoán tới từ cái độc quyền, để cởi bỏ cái độc tôn tới từ cái độc trị. Độc đảng luôn độc hại, nếu lãnh đạo không phải là minh quân, minh chủ, minh chúa, vì nó làm đui chột hóa kẻ lãnh đạo, tạo ra vô minh đưa lãnh đạo tới vô tri, cuối cùng là vô giác trước nỗi khổ của dân tộc, niềm đau của giống nòi, với cái độc chỉ thấy nó mà không thấy nhân tình chung quanh để có nhân tính trong kiếp làm người ! Cởi bỏ để cởi mở trong lãnh đạo chính trị. Cởi mở trong lãnh đạo chính trị là khả năng đón tiếp kiến thức mới, kinh nghiệm lành, phương án tốt, tư vấn hay, trong tư thế luôn luôn mong muốn học hỏi, biết nghe để biết đón, biết tiếp để biết nhận, biết nhận vì biết trao ! Cởi mở trong lãnh đạo chính trị vừa là nền trong đạo lý chính trị, luôn gần dân, không xa rời quần chúng, vừa là cầu nối để dân chúng được trao đổi về chính sách với lãnh đạo, được đối thoại với chính quyền, được thảo luận với chính phủ. Không mỵ dân, cũng không đạo đức giả, mà dựa vào khả năng lãnh đạo với lý luận về chính sách, với lập luận về đường lối, luôn có giáo khoa chính trị khi gặp nhân dân.

Không có lý trí lãnh đạo vì nhân dân

Mở lý trí lãnh đạo để nhân dân có thể nói, tiếp, nghe, nhận chính kiến của họ mà không có chuyện "ăn trên, ngồi trốc" để áp đặt chuyện "cả vú lấp miệng em". Không rơi vào tuyên bố xuẩn động trong thụ động của chủ tịch quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân trước làn sóng xuống đường, biểu tình phản đối luật đặc khu (Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc) ngày 10 tháng 6 năm 2018, một cơn lốc dầy cường lực của nhân dân yêu nước mà lại bị bà chủ tịch ghép là "…quá khích !". Thật bất hạnh cho dân Việt ! Sự thật vẫn là thử thách hàng đầu của lãnh đạo chính trị, dùng cái thực để làm nên cái tốt, ngày ngày xóa cái nghèo để tránh cái khổ cho dân. Để nhìn thấy được cái khổ trong cõi người thì không khó ! Tại đây, cái khổ được nhận diện qua sự sống còn, ngược lại sống thường là sống bình thường, bình an trong thoải mái, sống mà không phải đấu tranh từng ngày, từng giờ như dân đen, dân oan hiện nay. Trong khi đó sống còn là phải đấu tranh để sống, muốn sống phải tranh sống, sống mà như "dở chết, dở sống", sống lây lất, cụ thể trước mắt chúng ta vẫn là trường hợp của dân đen, dân oan, nơi mà oan khiên xuất hiện rõ ràng trong cuộc sống, trong xã hội, nếu làm lãnh đạo mà nhắm mắt, không xử lý, không giải quyết thì không những đã có lỗi mà còn mang tội nữa ! Đó là thực trạng hiện nay của đất nước, dân đen lầm lũi, dân oan thành bụi đời, lang thang ngay trên đất nước của chính mình, trong khi đó bọn tham quan vơ vét cho đầy túi, mua bất động sản tại phương Tây, với thẻ xanh, rồi quốc tịch ngoại, khi có biến loạn thì chúng cao bay, xa chạy.

Không có linh động thích ứng để có linh động tìm lối thoát

Linh động thích ứng để linh động tìm lối đi, linh hoạt của hành động trước thời thế, thuận lợi hay bất lợi của nhân cảnh. Lý lịch của các lãnh tụ tài giỏi luôn có một hằng số, có lúc đi ngược với thời thế, đó là ý chí ; tại đây tiềm ẩn một hằng số khác là năng lực của lãnh đạo qua quá trình giải bày ý chí bằng đề nghị-đàm phán-quyết định-hành động khi thuyết phục các đối tác. Tại đây, sự chuẩn bị kỹ lưỡng các phương án vừa đối phó, vừa đối trọng ngay trên thượng nguồn để dàn xếp chu đáo mọi so sánh lực lượng để cân đối phương trình thời thế-ý chí, để duy tâm không "trùm phủ" lên duy lý. Muốn thành công thì lý trí lãnh tụ phải nhận được sự đồng tình của tất cả hoặc của đa số không những của các thành viên lãnh đạo, mà luôn cả các liên minh trong nội bộ ; từ đó ý chí cá nhân sẽ hình thành ra lý trí của tập thể. Câu chuyện thượng nguồn để chuyển hóa thời thế-ý chí qua thực lực của ý chí-lý trí là quá trình vừa giải thích, vừa phạm trù hóa ý chí dựa trên tính hiệu quả, có cơ sở của điều tra sơ khởi, thực địa, làm sáng mọi mối tương quan giữa sáng kiến của ý chí và tình huống tới từ thời thế. Trên thực tế lãnh đạo, phải nên phân biệt : ý chí thường thì dựa trên mô hình, còn hiệu quả thường dựa vào sự biến đổi của tình hình.

Không biết nắm thực tế có nội lý diễn biến riêng của nó

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các lãnh đạo vừa có nhiều tin tức, dữ kiện, chứng từ luôn đa diện, đa chiều, để lấy những quyết định đúng trong chính trị tỉnh-lãnh đạo thức, cùng lúc có các chuyên ngành, với cái chuyên gia để có được những chỉ báo chính xác để dự đoán được những chỉ tiêu. Đây lại là hài kịch của Bộ Chính trị Đảng cộng sản Việt Nam lúc 3 giờ đêm 09 tháng 6 năm 2018 hoãn lại việc bỏ phiếu của quốc Hội về luật đặc khu (Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc), để xoa dịu sự phẫn nộ của toàn dân, nhưng họ lầm to trong ngây dại chủ quan của họ : ngày 10 tháng 6 năm 2018, cả nước trên cả ba miền nhân dân đã xuống đường, đã biểu tình, đã hét lớn, đã gào to trong hùng khí : Không đặc khu ! Không Trung Quốc ! Không bán nước ! Mọi xảo ngữ "ý đảng, lòng dân" đều là loại xảo ngôn. Thực tế được nhận định không theo mô hình mà theo quy luật biến đổi thường trực của tình thế ; luôn được nhận ra từ tình huống, khi tình huống làm xoay chuyển môi trường hiện tại tạo ra thực trạng của xã hội, bất lợi hoặc thuận lợi cho dân tộc, cho đất nước ; làm lãnh đạo chính trị là nhận định, phân tích để điều tiết hoặc khai phá các thực trạng này.Thực tế có nội lý diễn biến của được nhận diện qua biến đổi của thời thế, mở lối cho chính sách hoặc đóng cửa mọi sáng kiến ; làm lãnh đạo chính trị là thấy được, nhận ra nội lý diễn biến của tình hình, sẽ quyết định đúng hiệu quả của một chính sách, và nếu quyết định sai sẽ gây ra hậu quả cho xã hội, cho dân tộc.

Không biết khai thác tiềm năng của thực trạng

Diễn biến thực tế khi được lãnh đạo chính trị đánh giá qua diễn biến của tình hình, thì kẻ lãnh đạo giỏi biết khai thác tiềm năng xấu hoặc tốt của thực trạng ; còn kẻ lãnh đạo tài thì biết khai triển vốn có sẵn để tăng lợi thế trong thời thế mới ; riêng kẻ lãnh đạo lớn thì biết tìm cho ra các nội lực mới, các đồng minh mới, các liên minh mới, để củng cố thời-thế-vị của đất nước, của dân tộc. Diễn biến thực tế trong tư duy của lãnh đạo chính trị chấp nhận chuyện "nắng sớm chiều mưa" trong so sánh lực lượng, bất lợi hay thuận lợi cho mình ; công nhận luôn chuyện "sớm nở, tối tàn" trong các liên minh giữa các đồng minh, bên này hay bên kia ; sẵn sàng đón nhận luôn chuyện "vật đổi, sao dời" không những giữa bạnthù, mà cả về chuyện bất biến giữa chung thủy và phản bội ngay trong các liên minh, làm được tất cả các chuyện này thì xem như "đắc đạo" khi quản lý phương trình lãnh đạo trong nội lý diễn biến thực tế-nội lý biến thiên nhân tâm. Chuyện này đã xẩy ra trong tháng 6 năm 2018, theo kiểu trống đánh xuôi, kèn thổi ngược giữa các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam, cái quái thai chính thể là thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tuyên bố : "lắng nghe ý kiến nhân dân…" về luật đặc khu ; bà chủ tịch quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thì thấy nhân dân xuống đường : "vì bị kích thích… quá khích…", cùng lúc tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng không dám xuất hiện ít nhất một lần để bảo vệ chính sách đặc khu của ông, của Bộ Chính trị trong một bi hài kịch làm trò cười cho quốc dân và quốc tế.

Ung thư hóa nhân lý

Nhập lý vào thể lực môi trường, có bước đầu tiên trong nhập lý vào nội lực của bối cảnh, trong đó bối cảnh của thực tế làm chuyển đối hệ ý (ý muốn-ý định-ý đồ), lãnh đạo chính trị tài ba sẽ chuyển hóa linh động hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận) của mình theo bối cảnh để biến bối cảnh thành thực lực của mình. Nhập lý vào thể lực môi trường, có bước thứ hai là mô hình đôi : mô hình cứng mang ý chí của chính sách, mô hình mềm đưa thực tế của môi trường, của bối cảnh để làm tăng hiệu lực cho vốn đầu tư, trong đó sự phối hợp nhuần nhuyễn mô hình đôi (cứng và mềm) là khả năng và ý chí của lãnh đạo vừa biết cõng chính sách qua trở ngại, trở lực, vừa biết buông thư khi mô hình bóp ngộp thực lực trong thực tế. Nhập lý vào thể lực môi trường, có bước thứ ba là chiến lược đôi khi gặp nước chảy xiết, thì biết chọn nơi để làm đập nước mà giữ nước, cùng lúc biết chọn chỗ thông nước để cho thoát nước ; và trên cùng một dòng nước : hai chiến lược này không hề mâu thuẫn nhau, được xử theo lý luận đôi trong thông minh linh động để giải quyết. Luật an ninh mạng vừa được đại biểu quốc hội "cúi đầu bấm nút thông qua" ngày 12 tháng 6 năm 2018 là phản lý chống lại nhập lý trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, nơi mà tự do mạng xã hội chính là lý trí của xã hội, nơi mà đa nguyên truyền thông là lực trí tuệ của tập thể, là vóc thông minh của cộng đồng, là dạng đa năng của dân tộc, thì lại bị thui chột hóa qua một đạo luật khinh mạt nhân trí, mạt vận với nhân tri, ung thư hóa nhân lý.

Không có lý tri biết tự ngăn các chủ quan thui chột

Không có lý trí biết tự ngăn chặn lại chủ quan thui chột của chính sách mà không tôn trọng quy luật của tình hình, gạt bỏ điều tra cơ bản, loại trừ nghiên cứu thực địa để nắm thực trạng-thực cảnh-thực tế của nhân dân, của xã hội. Lý trí được dùng để thấy rõ các trở ngại, các chướng ngại thuận lý là bắt đầu bằng chuẩn đoán tình hình theo các chỉ báo khách quan để thoát các lý thuyết xơ cứng, các ý thức hệ mù quáng, từ đó có các hành động cụ thể mang nội chất tích cực là hiểu vấn đề để vượt khó khăn, lấy sáng kiến để vượt qua các ngõ cụt, lấy sáng tạo để biến vượt thoát thành vượt thắng. Thuận lý sẽ cho xuất hiện khả năng thích ứng với môi trường, thích nghi với tình thế, thích hợp với hoàn cảnh, trong đó hiện tại của bây giờở đây là dàn nhún để làm tốt hơn, hay hơn cho dân tộc, cho đất nước. Thuận lý theo lời dạy của tổ tiên : "tùy cơ ứng biến" nhưng cùng lúc phải sáng tạo ra các thuận lý mới để xoay chuyển tình thế, cụ thể là chuyển hóa các so sánh lực lượng, biến bất lợi thành thuận lợi. Tại sao các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam chỉ tính tới chuyện buôn đất, bán khu qua bất động sản, mà không có một chính sách nào về thông minh Việt trong sáng tạo Việt từ khoa học kỹ thuật tới hiện đại hóa đất nước, như các quốc gia láng giềng cùng nôi tam giáo đồng nguyên với ta (Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc) đã thành công ? Hiền tài trong lãnh đạo chính trị phải là chân tài trong thống hợp tất cả nội lực thông minh của nhân dân để làm nên một hùng lực trong phát triển chứ !

Không có phản xạ trong não

Trọng não, là bản chất của chính quyền không xóa não, là chính quyền biết trọng chất xám, nâng niu tri thức, quý trọng trí thức, vì quý yêu kiến thức, biết dụng không những khoa học kỹ thuật, mà khai thác sáng suốt các nghiên cứu, điều tra, điền dã của khoa học xã hội và nhân văn, nắm chắc các kết quả của học thuật để hiểu sâu nhân tình, hiểu rộng nhân loại, hiểu cao nhân thế, luôn đưa nhân tri vào nhân trí để nâng nhân bản. Chính quyền trọng não, là chính quyền biết khai thác sử học, để tra đúng sử liệu, tìm trúng sử luận, để hiểu sử tính của một dân tộc, sử địa của một đất nước, và không lập lại sai lầm của quá khứ, biết ưu điểm, trọng điểm của tổ tiên nhưng cũng thấu luôn yếu điểm, nhược điểm, khuyết điểm, kể cả khuyết tật của họ. Hiểu thấu lịch sử để làm khá hơn, tốt hơn, hay hơn, cùng lúc đặt Việt sử vào sử quốc tế để so sánh từ đồng sử đến dị sử giữa người và ta, trong đó so sánh sắt se với láng giềng cùng nôi tam giáo đồng nguyên với ta. Đó là Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, cùng văn hóa với ta tại sao họ thành công làm chủ, còn ta thất bại trong thảm hại là phải nhận kiếp làm công, làm thợ cho họ, thậm chí lao động trong vai nô tỳ, nô bộc cho họ. Chính quyền phải dùng quyền lực của trí tuệ dân tộc, tài nguyên đất nước để chế tác ra hợp lực trong đó giáo dục phục vụ nhân tri và nhân trí, kinh tế phục vụ cho nhân sinh, văn hóa phục vụ cho nhân văn, đạo lý phục vụ cho nhân cách, lấy nhân nghĩa làm nhân bản.

Tham nhũng trong tham ô, tham quyền để lộng quyền

Ý nghĩa của hợp lực có trong kinh nghiệm dựng nước và giữ nước của tổ tiên qua thuật ngữ cả nước-toàn dân. Đây chính là thành công của một chính quyền biến hợp lực thành tổng lực. Chính quyền dùng quyền lực của định chế và quyền hạn của các cơ chế để làm ra tổng lực cho dân tộc, cho đất nước. Lãnh đạo không lòn lách qua lách luật, tránh luật, thậm chí xé luật để tham nhũng trong tham ô, qua tham quyền và lộng quyền. Bọn xé lẻ để đi đêm với ngoại bang, xé lẻ để đi lén với ngoại xâm không thể dung thân chúng trong một chính quyền sạch ! Nếu Đảng cộng sản Việt Nam đã thất bại từ khi thống nhất đất nước năm 1975 trong quá trình tập hợp tổng lực này, thì tại sao không vào quy luật của đa nguyên trong đa đảng để đa trí, đa tài, đa năng, đa hiệu được xuất hiện ngay trong đồng bào, ngay trên đất nước ? Mà ông bà ta đã giáo dục con cháu ta là : vắng mợ chợ vẫn đông mà ! Lương tri trực diện để chống lãnh đạo chính trị vô tâm vì vô trách nhiệm, đây chính là lòng lương thiện nếu những kẻ lãnh đạo nhận bổn phận với chí công vô tư trong hệ trình của lương thiện-lương tâm-lương tri, không có hệ trình này thì không có công tâm, không có hệ trình này mà đòi lãnh đạo thì không chóng thì chầy cũng thành kẻ bất lương ; từ sâu dân mọt nước sẽ tới buôn nước, bán dân. Lương tri luôn là hệ kiến thức đôi : kiến thức liêm chính về luân lý làm nền kiến thức sáng suốt về quản lý, trong đó bọn tham quan không có chỗ đứng để tham nhũng, không có chỗ ngồi để tham ô.

Không có tâm thức lãnh đạo

Với tư duy ích kỷ tối đa làm quan để vơ vét, làm lãnh đạo cào nạo của cải nhân dân, nên chúng đã bị ung thư ngay trong não bộ và luôn nghĩ hệ trình lương thiện-lương tâm-lương tri chỉ dành cho những ai ngây thơ, thật thà, thậm chí là ngu dại. Lương thiện, lấy cái trong làm cái sáng, lấy cái thẳng làm cái ngay, công nào đức nấy, ngược lại với bọn tham quan làm quan để tham nhũng, sẽ bị lột mặt nạ vì là bọn cướp ngày là quan (cắp của công-cướp của tư), giữa công và tư chúng chỉ thấy chúng, chuyện ai chết mặc ai có trong phản xạ của chúng, chuyện cao chạy, xa bay khi đất nước bị ngoại xâm có trong vô tâm, vì lối nghĩ vô thức của chúng. Tâm thức của lãnh đạo có ý thức là hải đăng, có nhận thức làm kim chỉ nam, vì biết thao thức với tiền đồ Việt tộc, và ý thức-nhận thức-thao thức chính là định nghĩa của tâm thức ! Biết nhận trách nhiệm và biết giáo dưỡng về quần chúng vì họ chỉ là hậu quả của một loại giáo dục tha hóa một chiều qua tuyên truyền ngu dân : vô tri trước nỗi khổ niềm đau của đồng loại, vì không có đạo lý"một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ" ; vô minh trước nỗi khó nghiệp quẩn của đồng bào vì không có đạo đức "máu chảy, ruột mềm", vô giác trước cảnh "ăn bờ, ở bụi" của dân đen, dân oan, vì không có luân lý "miếng khi đói bằng gói khi no". Vô tri, vô minh, vô giác trong xã hội theo giáo lý của tổ tiên Việt tộc và cũng theo phân tích của chính trị học, của xã hội học, chắc chắn là tới từ bề trên tồi tệ, từ các lãnh đạo chính trị sâu dân mọt nước !

Không có trong sáng để trong sạch

Một lực lượng lãnh đạo có bản lĩnh chính trị thì luôn lấy nhân cách tổ tiên đã chống ngoại xâm, để gạt đi cái nhục kiếp phải làm nô lệ, dù phải can đảm lấy thân, quả cảm lấy mạng của chính mình để làm cho bằng được chuyện "châu chấu đá xe", dù chúng bất cứ là loại thiên triều nào ! Dù chúng có mãnh lực quân sự tới đâu đi nữa, nhớ lại bọn hung hãn nhất là Nguyên Mông trong thế kỷ 13 đã bị đời Trần ta làm cho quỵ sụp tới ba lần. Chủ quyết để có kiếp người trong sáng vì trong sạch, bằng kiếp tự nhận tự do để có tự quyết, có tự lập để có tự chủ, lấy tự lực tạo ra tự cường. Khẳng định kiếp chủ : chủ động để hành động, có chủ trì của ý thức để tạo ra chủ lực cho tương lai, và lấy chủ trí để thực thi chủ quyết. Nhận cho rõ cái quyền để quyết đoán trong quyết định. Quyết đoán bằng năng lực biết chủ động để khách quan hóa các kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức trong tỉnh táo, để sáng suốt khi xây dựng quyết tâm, hoàn toàn ngược lại với độc đoán không chấp nhận kiến thức của tha nhân, loại bỏ tư vấn như tự cạo rổng não bộ của chính mình, không nhận tri thức nhân loại để khôn lên, trừ khử đối thoại để độc quyền xuẩn động trong độc đảng. Chủ quyết để mở cửa khi quyết, ngược lại với độc đoán đóng mọi cửa trước và sau khi quyết. Chủ quyết để đi về phía chân trời có mặt trời, trái hẳn với độc đoán, đã quyết trong cực đoan, với hành vi quá khích, nên "cắm đầu, cắm cổ" đi mà không tỉnh táo tìm phương hướng, đi mà không sáng suốt song hành cùng dân tộc.

dcs6

Tội

Cái ác gây ra tội ác

Nội chất của lý thuyết là biến đúc kết kiến thức thành mô hình qua công thức, khi kiến thức trở thành mô thức thì tri thức thành hình qua lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận của lý thuyết. Lý thuyết luận dụng lý thuyết mới để xét nghiệm lại lý thuyết cũ, tập hợp lý thuyết cũ và mới để lý thuyết luận có thể sử dụng lý thuyết để củng cố lý thuyết ; từ đó lý thuyết luận tận dụng lý thuyết để bổ sung cho lý thuyết. Tại đây, định chất lý thuyết luận của tội phạm học mang nội hàm của các thành quả đã đạt được trong tất cả các nghành khoa học xã hội nhân văn, và từ các thành quả này tội phạm học phải đủ lực, đủ tầm, đủ vóc, đủ dạng để có các sung lực cần thiết của mình qua các quá trình xây dựng lý thuyết, vừa có cơ sở, vừa có tiềm năng ; Cái ác gây ra tội ác, ngược lại với cái thiện, vì nó diệt không những nhân phẩm có trong nhân tính, nhân bản có trong nhân tri, nhân nghĩa, nhân từ có trong nhân vănnhân vị ; mà nó còn giết, diệt, hủy, thiêu các điều kiện làm người bình thường nhất đã có trong nhân loại, nhân tình, nhân thế, nhân sinh. Cái ác gây ra tội ác, ngược lại với cái lành, vì chính cái lành làm nền cho hệ tự (tự do, tự chủ, tự quyết, tự trọng), có trong quan hệ giữa người, tạo nên sự sống chung trong đời sống xã hội, sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội. Chính từ cái lành này, mọi người có cùng một quá trình tư duy tự làm người biết sống chung qua sự tôn trọng lẫn nhau để tiến tới chuyện làm người biết làm việc chung, biết chia sẻ với nhau trong điều kiện làm người vì cái lành.

Cái ác ngự trị như phản xạ

ái ác gây ra tội ác, ngược lại với cái tốt, vì chính cái tốt chế tác ra hệ công (công ích, công lợi, công pháp, công luật để bảo vệ công bằng), trực diện để đối kháng lại với cái ác. Và, chính cái tốt nói rõ bổn phận với cộng động, trách nhiệm với tập thể của mỗi công dân, từ đó biến đoàn kết thành tương thân, tương trợ làm nền cho bản chất của cái tốt : bác ái ! Từ định chất này, cái tốt làm được bác ái, vì nó mang nội hàm của vị tha, khoan dung, rộng lượng để tới thẳng từ bi, mà nhân từ là kết quả tích cực của cái tốt biết làm nên nhân phẩm. Cái ác gây ra tội ác, ngược lại với cái hay, không hề là chuyện của bẩm sinh, mà là chuyện của giáo dục. Nó không trên trời rơi xuống mà là chuyện rèn luyện qua phẩm chất của giáo khoa, làm nên giá trị nhân tính qua giáo trình, chế tác ra chất lượng của nhân bản qua giáo án. Vì cái hay mang cái thiện, cái lành, cái tốt vào cuộc sống xã hội, qua đường đi nẻo về của nhân sinh quan hay của mỗi cá nhân, qua thế giới quan hay của một dân tộc, qua vũ trụ quan hay của một chính quyền. Và, nếu chính quyền này chỉ là bạo quyền, hoặc tà quyền thì không thể cấy, cày, tới, tẩm được cái hay để chống lại cái ác.Cái ác gây ra tội ác, ngược lại với cái đẹp, tới từ ý muốn của nhân phẩm, ý định của nhân ái, ý lực của nhân lý.

Diệt công bằng để giết công lý

Cái ác gây ra tội ác, luôn tìm mọi cách để tiêu diệt chủ thể, chính là cá thể có cá tính luôn biết đòi hỏi công bằng qua công lý, luôn thấu hiểu tự do để có tự chủ. Chủ thể tôn trọng bổn phận và trách nhiệm, nhưng chủ thể muốn làm công dân trong ý nghĩa toàn vẹn nhất, với giá trị phổ quát nhất : chủ thể của tự do hành động vì công lý. Cá tính của chủ thể trong sáng tạo biết song hành, biết chung lưng đấu cật với cái lành, cái tốt, cái hay, cái đẹp để sáng tạo của chủ thể phải là tác phẩm của cái thiện, hoàn toàn mâu thuẩn với cái ác. Cái ác gây ra tội ác, ngược lại với cái nhân, vì trong cái nhân có sự thương yêu biết hiến dâng lòng bác ái, có thiện chí biết hiến tặng thiện tâm ; trong khi đó cái ác không những gây nên nổi khổ, niềm đau cho nạn nhân của nó, mà còn truy, hủy, giết, diệt nhân phẩm của nạn nhân này. Cái ác không phải chỉ là lỗi, mà chính là tội : tội ác đã giết thân xác, diệt cuộc sống, hủy nhân cách của nạn nhân, bằng bạo lực của bạo quyền, bằng bạo hành của tà quyền, nó mang bản chất của bạo động, hoàn toàn ngược lại với phẩm chất bất bạo động của hệ nhân (nhân từ, nhân nghĩa, nhân bản, nhân văn).

Bạo quyền : quyền lực gây tội ác

Cái ác gây ra tội ác, ngược lại với cái sinh, chính là sự sống đang bị cái ác gây thương tích, tạo thương tật, gây ra thương xót trong xã hội, quần chúng. Chính cái ác báo hiệu cái chết đang tới, nó báo động cái sinh trong sự sống đang bị đe dọa bởi bạo lực, được bảo kê bởi bạo quyền, được hà hơi tiếp sức bởi tà quyền, bất chấp công tâm và công lý. Muốn chống lại cái ác, thì sự hiểu biết về công bằng và công lý không đủ, sự thấu đáo về tự do, tự chủ không đủ, mà phải vận động tư duy qua hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận) trên hệ nhân (nhân phẩm, nhân từ, nhân nghĩa, nhân bản, nhân văn). Cả hai hệ (luận nhân) này, phải đủ hùng lực để chế tác ra hệ sáng (sáng kiến, sáng chế, sáng tạo) biết bảo vệ cái sinh trong nhân thế, bảo hành sự sống cho nhân sinh. Tội phạm học tổng quan đã kết luận được : các chế độ độc đảng-toàn trị gây tội ác nhiều hơn các chế độ dân chủ ; các chế độ độc đảng-toàn trị giết người nhiều hơn các chế độ tôn trọng nhân quyền ; các chế độ độc đảng-toàn trị gây tội ác qua nhiều thế hệ đậm hơn, sâu hơn, rộng hơn các chế độ dân chủ, biết tôn trọng nhân quyền.

Cải cách ruộng đất : tội phạm cầm dân tội ác cầm cân

Tội phạm học khi tìm hiểu nguyên nhân của tội ác được thể hiện qua hành động của tội phạm trực tiếp hay gián tiếp gây thiệt hại trên nạn nhân từ tính mạng cá nhân tới thân thế của gia đình, thân tộc, họ hàng, đồng nghiệp, các thế hệ sau của nạn nhân, thì tội ác gây ra trong giai đoạn của Cải cách ruộng đất 1956-1958 đã có nhiều chứng từ nhưng vẫn còn nhiều ẩn số. Chính các ẩn số này giúp nghiên cứu, điều tra, khảo sát của các nghành KHXHNV không chỉ ngừng ở giai đoạn thảm sát các nạn nhân bị quy chụp là địa chủ mà thống kê chỉ phỏng đoán hằng trăm ngàn nạn nhân bị hành quyết. Hãy đi sâu vào các hậu nạn. Tội ác chống đạo lý, chính Cải cách ruộng đất đã gây ra sự rạn nứt trầm trọng trên các tổ chức truyền thống của nông thôn, từ giáo dục tới văn hóa, từ đạo lý tới truyền thống… Diệt tình nghĩa làng xóm để thế vào đó là sự tố cáo lẫn nhau, tạo ra quan hệ từ ngờ vực tới thù hằn, mà nhiều thế hệ mai sau còn phải nhận hậu quả của sự xung đột giữa hai chiến tuyến : một bên là nạn nhân, một bên là tòng phạm với tội ác. Tội ác chống luân lý, qua tổ chức các tòa án nhân dân, trong đó nhân dân chỉ là con cờ bị thao túng rồi giật dây, bị đưa đẩy trong nhào nặn để tham dự vào một tội ác mà họ là nạn nhận-đồng loã. Từ đây, họ biến thành tác nhân-đồng phạm để ý đồ của Đảng cộng sản Việt Nam được thực hiện trước thành thiên bạch nhật.

Tội ác luôn bồi đắp cho tội ác

Tội ác liên thế hệ,Cải cách ruộng đất tạo dựng nên trong một thời gian dài trên môt không gian rộng của miền Bắc, đó là tội ác thuộc hành chính và cơ chế. Từ đây tạo phân biệt đối xử để truy đuổi các thế hệ sau của các nạn nhân đã bị giết : con cái, cháu chắt vẫn bị loại bỏ khỏi trong nhiều sinh hoạt xã hội, bị trừ khử trong nhiều ngành nghề, bị tiếp tục truy lùng qua các lần thi cử, tuyển sinh. Tội ác luôn bồi đắp cho tội ác để khỏa lấp cái ác của tội ác, qua các chiêu trò bày biện giả tạo của phê bình và tự phê bình của các đảng cộng sản, từ khi chủ nghĩa cộng sản biến thành phong trào cộng sản để cướp chính quyền một cách sắc máu nhất trên nhiều quốc gia trong thế kỷ XX. Trong trường hợp của Việt Nam, thì các chuyện như : Hồ Chí Minh "giả dạng" đứng khóc trước quần chúng để xin lỗi các sai lầm trong Cải cách ruộng đất ; Trường Chinh "bị cắt chức" tổng bí thư… như để xác nhận các sai lầm trong Cải cách ruộng đất. Thực chất chỉ là những màn kịch thô thiển để che lấp một tội ác mà Việt tộc cần đòi hỏi công pháp phải bảo vệ công lý cho tới nơi tới chốn, vì công chứng hóa tội ác này vẫn chưa hề trễ, nếu một chính quyền liêm chính mới ra đời thì có thể thực hiện các quy trình nghiên cứu, khảo sát, điều tra, điền dã của tội phạm học.

Phản xạ gây tội ác để thuần hóa dân chúng

Tội phạm học đóng góp tích cực vào quá trình từ nghiên cứu tới khảo sát, từ điều tra tới điền dã, từ phân tích tới giải thích, từ giải luận tới diễn luận, đóng góp của tội phạm học có mặt trong tìm hiểu sự thật, cùng lúc thấu hiểu cường độ của tội ác, tìm hiểu chân lý, cùng lúc thấu hiểu mật độ hành sát của tội phạm.Từ đây, tội phạm học làm sáng lên liên minh của sự thật chân lý để làm rõ lẽ phải là các chế độ của hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn) mang bản chất toàn trị từ hành vi tới hành động, có phản xạ gây tội ác để thuần hóa dân chúng. Các chế độ độc đảng-toàn trị mang phản ứng dễ dàng gây tội ác vì không có công lý nghiêm minh của tam quyền phân lập như các chế độ dân chủ.Các chế độ độc đảng-toàn trị không có tam quyền phân lập, không có dân chủ, nên có phản xạ và phản ứng truy hiếp nhân dân, vì không có lý trí, không có trí tuệ, không có tuệ giác về nhân quyền. Tội phạm học tổng quan sẽ kết luận được là các chế độ độc đảng-toàn trị gây tội ác nhiều hơn các chế độ dân chủ, các chế độ độc đảng-toàn trị giết người nhiều hơn các chế độ tôn trọng nhân quyền. Các chế độ độc đảng-toàn trị gây tội phạm qua nhiều thế hệ đậm hơn, sâu hơn, rộng hơn các chế độ dân chủ, biết tôn trọng nhân quyền.

Nhân Văn – Giai Phẩm : diệt nhân tri, hủy nhân tính

Tội phạm học nhận ra các thủ đoạn thâm, độc, ác, hiểm của đám lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam từ 1954 tới 2000. Đây là một đoạn đường dài của đời người, một giai đoạn dài trong lịch sử tội phạm của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam. Khi cái ác cầm quyền để cái độc bỏ tù dai dẳng các nạn nhân của nó, để truy cùng diệt tận từ nghề nghiệp tới sáng tạo, từ cá nhân tới gia đình, từ lý lịch cá nhân tới quan hệ xã hội, sinh hoạt xã hội, đời sống xã hội, một loại tội ác vừa thường trực trong cuộc sống hằng ngày, vừa thâm sâu ngay trong tư tưởng qua khủng bố với cường độ cao của bộ máy công an trị. Những khủng bố thường xuyên sau vòng lao lý với các tên gọi khác nhau là trại học tập, trại cải tạo… là một giai đoạn dài của một thủ đoạn bạo quyền qua cơ chế song hành cùng tà quyền qua hành chính để vô hiệu hóa sáng tác giới văn nghệ, cô lập hóa cá nhân, lũng đoạn hóa đời sống gia đình, thân quyến của văn nghệ sĩ. Mỗi trí thức trong nhóm Nhân Văn : Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường đều chịu chung một số phận là không được sống với học thuật, cụ thể là không được tiếp tục nghiên cứu trong chính chuyên nghành của mình. Khủng khiếp hơn nữa là sự khủng bố trên các văn nghệ sĩ : Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, kể cả Phan Khôi, Văn Cao, Nguyễn Bính… thường xuyên và lâu dài, áp chế tâm thần các nạn nhân, mà hậu quả là nỗi lo sợ bị khủng bố, bắt bớ, tra tấn bất cứ lúc nào, ảm ảnh cả đời người. Thí dụ rõ nhất là trường hợp của Trần Dần, đặt sẵn các hành lý cá nhân, chuẩn bị là bị bắt bất cứ lúc nào.

Nhóm xét lại : diệt đối trọng để hủy đối luận

Trước hai tội ác là Cải cách ruộng đấtNhân văn giai phẩm, thì tội ác thứ ba xảy ra trong giai đoạn nội chiến Bắc-Nam (1954-1975), với sự hiện diện của quân đội Mỹ, chiến dịch "chống xét lại" ra đời để truy diệt những nhân tố muốn thay đổi đường lối sắc máu của Đảng cộng sản Việt Nam, bị quy chụp là nhóm xét lại. Vụ án này, khác với hai thảm họa trước là một cuộc thanh trừng ngay trong nội bộ của những người cộng sản, mà chuyên chính vô sản kiểu Đảng cộng sản Việt Nam đã để lộ nguyên hình tính chất thanh trừng như truy sát, không thương tiếc các đồng chí, từ đó biến phản xạ thanh trừng truyền thống nội bộ của Đảng cộng sản Việt Nam. Trong thời điểm này là cặp bày trùng Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, cả hai đều chủ mưu để độc quyền hóa độc tài-toàn trị, với tên đồ tể là Lê Đức Thọ, một nhân vật thao túng từ Trung ương đảng tới Bộ Chính trị, vây siết chính phủ để tóm gọn chính quyền. Qua quyền lực của Ban bí thư trung ương và Ban tổ chức trung ương được cá nhân hóa trong tay tên đồ tể này, với độc quyền sử dụng công an và tình báo trong quá trình quy chụp các nạn nhân rồi hãm hại họ, trong đó có ám sát, có thủ tiêu, thanh trừng và thanh toán các đồng chí của họ. Các nạn nhân của nhóm xét lại bị tù đày vô hạn định, không được xét xử, không có tòa án, với sự vắng mặt tuyệt đối của tư pháp, của tòa án, và nhất là sự im hơi lắng tiếng trong toàn bộ của các đảng viên của Đảng cộng sản Việt Nam.

Truy diệt sự khác biệt

Khi tội phạm học đi sâu vào quan hệ quyền lực giữa các lãnh đạo cấp trung ương, các kết quả điều tra về sử tính của Đảng cộng sản Việt Nam cho xuất hiện các hằng số : Tội ác thượng tầng. Tội phạm học không ngưng đọng lại tại hạ nguồn để chỉ nghiên cứu về hình sự của tội phạm, mà nó phải trở lên thượng nguồn thật xa để điều tra thật sâu, khảo sát thật rộng về các chính sách tổ chức chiến tranh như các quyết sách, như một loại tử sách của lãnh đạo chính trị đưa dân tộc, đẩy bao thế hệ thanh niên vào tử chiến, vào chỗ chết ! Chính ý đồ chiến tranh làm nên ý độc của tử chiến là thượng nguồn của tội ác cấp quốc gia, ở đây các lãnh đạo chính trị phải chịu hoàn toàn trách nhiệm và phải được phân xử công minh từ sử học tới công pháp. Lịch sử của các độc đảng-toàn trị từ thế kỷ XX tới nay là lịch sử của tội ác tồn tại qua tội luận là : diệt cái khác biệt, từ chính kiến tới xã hội, từ tín ngưỡng tới tôn giáo… lịch sử của Đảng cộng sản Việt Nam không nằm ngoài quy luật này. Đảng cộng sản Việt Nam từ trước 1945 tới lúc độc trị trên toàn bộ xã hội Việt từ 1975, thì nó chưa một ngày nào ngưng nghỉ trong quá trình tiêu diệt cái khác biệt, đã và đang đi ngược, đi ngoài vong kiềm tỏa của nó ; nhất là khi cái khác biệt tới từ hệ đa (đa tài, đa trí, đa lực, đa năng, đa hiệu, đa đảng). Đảng cộng sản Việt Nam sẵn sàng gây tội ác, và tội ác của nó phải được nghiên cứu như phản xạ của nó giờ đã thành truyền thống của nó.

Truyền thống truy diệt đối thoại

Đảng cộng sản Việt Nam có truyền thống về tội ác, đó là truyền thống truy diệt đối phương, không những bị xem là đối thủ, mà chóng chầy bị xét xử như kẻ thù để phải mang kiếp tử tù. Ngay khi chưa cướp được chính quyền, Đảng cộng sản Việt Nam đã tổ chức thanh trừng có hệ thống, một cách máy móc các đảng phái chính trị không đi cùng đường với nó. Các đảng phái quốc gia đã có nhiều lãnh tụ bị thủ tiêu, kể cả các nhóm Đệ tứ cộng sản strokistes, cũng là nạn nhân của Đảng cộng sản Việt Nam trong những năm ròng từ khi Đảng cộng sản Việt Nam thành lập 1930 cho tới khi họ cướp được chính quyền 1945. Ám sát hoặc thảm sát, trong nước và ngoài nước, các hội, các đoàn, các nhóm, các phái trong phong trào Việt kiều tại Pháp trong giai đoạn đệ nhị thế chiến cũng bị chiêu dụ rồi lôi kéo vào quá trình gây tội ác này do Đảng cộng sản Việt Nam điều hành và hoạt náo. Trong đó có những cuộc thanh trừng bằng thảm sát giữa các nhóm lính thợ (maind’oeuvre indigène) tại các trại miền Trung và miền Nam nước Pháp trong giai đoạn 1941-1944. Truyền thống tận diệt mọi chống đối, tới từ các ý định muốn làm khác, các ý muốn đi còn đường khác với Đảng cộng sản Việt Nam, đều bị trực tiếp hay gián tiếp trừ khử.

Dùng tội ác để tổ chức lại nội bộ

Đảng cộng sản Việt Nam muốn giữ địa vị độc tôn trên chính trường, với sự hỗ trợ của các đảng cộng sản anh em, mà cũng là những sát thủ như họ. Những ý nguyện mở ra đối thoại, tạo ra đối luận với Đảng cộng sản Việt Nam trước sau đều bị vùi dập rồi thủ tiêu bằng tội ác, và trong các nạn nhân là các trí thức luôn chủ trương bất bạo động của các hội, các đoàn, các nhóm, các phái không theo cộng sản, số lượng nạn nhân của các cuộc thanh trừng này trải dài trong lịch sử của Đảng cộng sản Việt Nam từ trước đến nay. Truyền thống sát hại sự khác biệt, ngay như sự khác biệt có nguồn gốc của văn hóa, lịch sử, giáo dục… không hề dính dáng gì tới chính trị hay đe dọa gì tới quyền lực lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, trong đó giới văn nghệ sĩ muốn tự do sáng tác, hoặc tự chủ ngay trên các đề tài sáng tạo của mình cũng là nạn nhân của Đảng cộng sản Việt Nam. Sau cuộc truy cùng diệt tận nhóm Nhân Văn giai phẩm, nhiều cá nhân trí thức hoặc văn nghệ sĩ liên tục bị trừng phạt, trừ khử, có khi bị thủ tiêu nếu đi ngược hoặc đi khác đường lối toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam. Thanh trừng nội bộ vẫn là hằng số của Đảng cộng sản Việt Nam, với ba thành phần nạn nhân của ba hệ nội. Thanh trừng nội bộ giữa các lãnh đạo, cụ thể là giữa các bè nhóm cấp trung ương, nơi mà nạn nhân tăng lên, nhân lên trước mỗi kỳ chuẩn bị các đại hội Đảng cộng sản Việt Nam. Các tướng quân đội, các ủy viên trung ương, tại đây dùng tội ác để tổ chức nội bộ, thêm bớt lại nhân sự.

Truy sát chính các đồng chí của mình

Cái ác cho ra đời hành động truy sát chính các đồng chí của mình, giờ đã thuộc về bản chất và phản xạ của các lãnh tụ trung ương, luôn dùng nhân lực của Bộ Công an cùng các cục tình báo pha lẫn với nhân sự của Ban bảo vệ trung ương để làm nhiệm vụ ám sát, sát hại các đối thủ. Quá trình này không hề ngừng nghỉ với các nhóm lợi ích hiện nay trong thế kỷ XXI này, được tổ chức cụ thể như các tập đoàn tội phạm, với bản chất mafia. Sát hại lẫn nhau qua nhân lực của Bộ Công an và Bộ Quốc phòng, mà các nạn nhân hiện nay, ngoài các tướng, các ủy viên trung ương, còn có các doanh nhân, các nhà tài phiệt, các "đại gia" sân sau của nhóm bại này mà không phải của nhóm thắng kia. Thanh trừng nội bộ giữa các cấp địa phương, tiêm nhiễm và ảnh hưởng vừa là bản chất vừa là phản xạ từ các đàn anh trung ương, các lãnh đạo địa phương không thống nhất trong quá trình chia chác từ tham ô qua tham nhũng, cũng sãn sàng sát hại, truy diệt nhau ở cấp địa phương, cấp tỉnh, cấp thành phố… qua các thủ đoạn của tội ác được trá hình như thuốc độc, các tai nạn giao thông… mà đàn anh trung ương đã sử dụng như "cơm bữa", như "đi chợ". Thanh trừng nội bộ giữa hai đảng"anh em" (Đảng cộng sản Trung Quốc đàn anh, và Đảng cộng sản Việt Nam đàn em), mà đàn anh là kẻ tính toán, chỉ đạo, giật dây qua hai thủ đoạn : Đảng cộng sản Trung Quốc mời những lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đang chống hoặc đi khác ý đồ của mình qua các chuyến thăm, sau các cuộc họp với Đảng cộng sản Trung Quốc đàn anh, thì các lãnh đạo này của Đảng cộng sản Việt Nam đàn em, lần lượt tử vong bởi các độc xạ nguyên tử, bởi "nhiễm vi trùng lạ".

dcs7

Truy diệt tôn giáo

Lịch sử của Đảng cộng sản Việt Nam đàn em trong tổ chức nhân sự luôn bị thao túng, điều hành, giật dây, gài bẫy bởi Đảng cộng sản Trung Quốc đàn anh. Đây vừa là phản xạ tội ác trắng trợn, vừa là một dấu chàm điếm nhục của Đảng cộng sản Việt Nam đàn em không bao giờ có tự do, tự chủ để có tự tin và tự lập trước Đảng cộng sản Trung Quốc đàn anh sẵn sàng giết đàn em như giết : sâu bọ, theo ngôn ngữ của các lãnh tụ, các quân sư thời Tam Quốc trong lịch sử của Tàu hoạn. Khi nghiên cứu và điều tra về các tội ác do các tội phạm của Đảng cộng sản Việt Nam và các đảng cộng sản khác trên thế giới trong thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu về tội phạm học phải nhận ra là khi đối diện với hệ đa (đa tài, đa trí, đa lực, đa năng, đa hiệu, đa đảng) thì Đảng cộng sản Việt Nam không bao giờ chọn hệ đối (đối chiếu để đối chứng, đối thoại để đối luận), mà ngược lại họ sẵn sàng gây tội ác để diệt vừa hệ đa, lẫn hệ đối như diệt các đối kháng bằng bạo lực của tội ác. Lịch sử của các đảng cộng sản từ thế kỷ XX tới nay là lịch sử của truy hại tôn giáo bằng những thủ đoạn trực tiếp hay gián tiếp được chủ mưu và bày biện bởi tội ác. Để phục vụ không những ý thức hệ vô thần của Đảng cộng sản Việt Nam, mà chủ yếu là tiêu diệt tín ngưỡng rồi tiêu hủy niềm tin, để mở đường cho tuyền truyền một chiều ngu dân do tuyên giáo tổ chức và chỉ đạo, để thay thế cùng lúc cả ba : tôn giáo, tín ngưỡng, niềm tin… Lịch sử của Đảng cộng sản Việt Nam chưa hề ngừng quá trình truy hại tôn giáo dựa trên quy luật này, từ khi Đảng cộng sản Việt Nam cướp được chính quyền 1945 tới lúc độc trị trên toàn bộ xã hội Việt 1975.

Độc trị của tuyên giáo độc ngôn

Khi lập đồ hình phân tích các nạn nhân tôn giáo, hãy phải định vị ít nhất ba chỉ báo, để có chỉnh lý từ điều tra tới điền dã, để có hợp lý từ phân tích tới giải thích, để được toàn lý trong tổng kết các hậu quả truy hại tôn giáo của Đảng cộng sản Việt Nam. Chỉ báo thực cảnh, từ khi chưa cướp được chính quyền tới khi có chính quyền toàn trị trong độc đảng, chính thực cảnh làm nên bối cảnh của độc trị. Đảng cộng sản Việt Nam dùng chiêu trò thành lập Việt Minh để sử dụng và thao túng như một mặt trận rộng rãi, trong đó các tôn giáo có mặt để tập hợp được số đông quần chúng ủng hộ Đảng cộng sản Việt Nam. Chỉ báo thực chất của chính quyền cộng sản độc đảng trong chuyên chính và toàn trị lên toàn thể sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội, đời sống xã hội, dựa trên thực tế của hệ độc (độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn), từ đây không có chuyện phân chia quyền hạn giữa các tôn giáo và quyền lực độc đảng. Chỉ báo thực trạng, tới từ hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn), tại đây chuyên chính của hệ độc không nhân nhượng với bất cứ tôn giáo nào, không nương tay với bất cứ tín ngưỡng nào, không thỏa hiệp với bất cứ niềm tin nào, từ đó tạo ra thế độc tôn của tuyên truyền độc đảng. Trong độc trị của tuyên giáo độc ngôn, ở đây độc mang hai nghĩa : chỉ có nó là độc nhất để độc tài, nên nó là mảnh đất độc ác, để cái độc xuất hiện cùng cái ác.

Quá trình truy hại tôn giáo

Quá trình truy hại tôn giáo, từ thái độ tới cách hành xử, từ hành vi tội ác tới hành động tội phạm rất khác nhau giữa các nạn nhân tôn giáo. Thiên chúa giáo liên tục và thường xuyên bị đàn áp, khủng bố, truy hại như là một lực lượng tín ngưỡng tới đất Việt qua con đường truyền đạo, đã là kẻ thù của Đảng cộng sản Việt Nam trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX. Mặc dù Thiên chúa giáo không mang bản chất chính trị, nhưng thiên chúa giáo trực tiếp hay gián tiếp mang nội dung của nhân quyền và văn minh của phương Tây, lại có giá trị về vị tha được cổ vũ bởi kinh nghiệm lâu đời của dân chủ, trong đó có tự do ngôn luận. Thiên chúa giáo mang ý nghĩa nhân văn có nền là nhân bản trên một đức tin là thượng đế, một phạm trù tâm linh mà các lãnh đạo công sản vô thần không chấp nhận khi họ luôn đi trên con đường cướp chính quyền bằng bạo lực của cái ác. Với thảm kịch của Phật giáo : mê tín cầu vong, Phật giáo thương mại vì tiền, Phật giáo quốc doanh với sư công an… Cao Đài Hòa Hảo đã là nạn nhân của Đảng cộng sản Việt Nam trong nội chiến Bắc-Nam (1954-1975) qua các cuộc thủ tiêu, ám sát các lãnh tụ của tôn giáo này. Sau 1975 thì Cao Đài Hòa Hảo bị đàn áp, bị khủng bố trên quy trình toàn diện và vĩ mô, với các chiến dịch trấn áp, khủng bố liên tục. Cao Đài Hòa Hảo là hai tôn giáo mang thực tiễn địa phương miền Nam không có hậu thuẫn của hệ thống Thiên Chúa giáo quốc tế bảo hộ, không được đông đảo quần chúng hỗ trợ như Phật giáo, nên Cao Đài Hòa Hảo đang là nạn nhân của các tội ác bất nhân nhất hiện nay tại miền Nam của đất nước.

Quá trình truy hãm dân tộc thiểu số

Từ khi Đảng cộng sản Việt Nam áp đặt chế độc độc đảng-toàn trị lên toàn lãnh thổ, thì các dân tộc thiểu số miền cao, miền xa là những nạn nhân thường xuyên những tội ác, trên nhiều lĩnh vực. Trong đó : tài nguyên thiên nhiên luôn bị khai thác, tàn phá, nhiều nơi bị tận diệt ; môi trường sống luôn bị tấn công, đe dọa, truy diệt. Những chính sách mang tính bày biện là bảo vệ, văn hóa, truyền thống, ngôn ngữ cho các dân tộc thiểu số đi cùng với các chính sách hỗ trợ về giáo dục và thi cử chỉ là trò mị dân. Bởi vì khi tài nguyên thiên nhiên nuôi sống họ, khi môi trường cùng môi sinh dính liền với sự sống còn của họ bị đe dọa bởi bạo quyền trung ương, bởi tà quyền tham quan, bởi ma quyền tham đất, tham mỏ, tham quặng, ngày ngày đe dọa sinh sinh tồn của họ. Chính vì không có đường sống trước các tội ác chiếm tài nguyên, chiếm đất của bạo quyền, tà quyền, ma quyền, mà họ đứng lên đòi hỏi công bằng. Và, bạo lý của Đảng cộng sản Việt Nam đã trả lời bằng các vụ bắt bớ, đẩy các nạn nhân này vào vòng lao lý, mà các chứng nhân đã thuật rõ sự dã man của công an khi tra tấn họ, để họ phải ký vào các lời khai không căn cứ là họ "chống chính quyền cách mạng", "nổi loạn đòi tự trị", sự thô bỉ đến tàn mạt đã dẫn cái ác tới cái tội thảm sát đồng bào Hmong năm 2011. Hiện nay, người dân tộc là nạn nhân của tội ác cướp tài nguyên, cướp khoáng sản, cướp đất đai đang sống trong nơm nớp lo sợ tại Thái Lan, lo sợ bị trục xuất và trả về lại Việt Nam.

Truy vong tù nhân lương tâm

Nhà tù hiện nay của chế độ độc đảng toàn trị không có những mục đích luật pháp và xã hội chính đáng của một công pháp bình thường là : cách ly tù nhân với xã hội, mà vẫn bảo đảm quyền tính mạng của họ, Hướng nghiệp tù nhân, để tạo điều kiện trở thành công dân đúng và tốt, tạo điều kiện tích cực cho quá trình tái hội nhập xã hội khi mãn tù… Mà ngược lại nhà tù hiện nay của chế độ độc đảng-toàn trị được tổ chức như hiện cảnh của một địa ngục trần gian, tạo nên bối cảnh thuận lợi để tội ác xuất hiện với điều kiện giam cầm khắc khe, mà theo nhân chứng nó còn tồi tệ hơn nhiều lần so với các nhà tù thời thực dân của thế kỷ qua. Xếp đặt phản công lý và tổ chức phản nhân quyền đến độ bất nhân khi giam các tù nhân lương tâm cùng với các tù hình sự. Ngược đãi tù nhân hình sự, đặc biệt là dùng nhà tù để "trả thù" bằng những thủ đoạn tồi tệ nhất các chủ thể đấu tranh vì dân chủ và nhân quyền-đây chính là số phận của các tù nhân lương tâm hiện nay. Nhà tù thời nay của chế độ độc đảng toàn trị là ổ của buôn lậu, tham nhũng, bóc lột. Buôn lậu ma túy công khai dưới sự tổ chức của các quản giáo, và cai tù như một nguồn lợi nhuận bán công khai.Tham nhũng thực phẩm nuôi tù nhân, bằng cách vừa thu hồi thực phẩm thăm nuôi của các giá định tù nhân, vừa bắt ép các tù nhân phải dùng thực phẩm bán tại nhà tù với giá cao, tạo nên khó khăn tài chính bất thường vừa cho tù nhân, vừa cho gia đình họ.

Hình sự hóa lương tri

Nhà tù hiện nay của chế độ độc đảng toàn trị là chế độ lao động ngặt nghèo, với sự bóc lột sức lao động của tù nhân qua các sản phẩm mà họ làm ra, để làm giầu cho bọn quản giáo và cai tù… Nhà tù hiện nay của chế độ độc đảng toàn trị là nơi truy vong, tạo ra cái chết ở mức độ cao và cường độ mạnh, mà các hội đoàn quốc tế về nhân quyền biết rất rõ : sử dụng tù hình sự để hành hạ, hành hung, kể cả hành sát các tù nhân lương tâm, với sự tổ chức công khai của ban giám đốc nhà tù. Sử dụng điều kiện sống hằng ngày, từ thiếu thực phẩm tới thiếu vệ sinh để đầy dọa, vùi dập các tù nhân lương tâm theo quy trình "trả thù" đê tiện. Sử dụng các nhà tù xa nhà, xa nơi ăn chốn ở của gia đình tù nhân, cũng trong mục đích hành hạ, đầy dọa các gia đình của những tù nhân lương tâm. Các quốc gia đã và đang bị địa ngục trần gian của độc tài-toàn trị, thì tội phạm học luôn bị cấm đoán và truy nã. Đối với thảm trạng độc đảng-toàn trị của Việt Nam hiện nay, thì các nghiên cứu, khảo sát, điều tra, điền dã về các nhà tù với dữ kiện khách quan qua phân tích và giải thích chỉ thực hiện được thật đầy đủ khi Đảng cộng sản Việt Nam sụp đổ.

Truy hủy Việt tộc : (Lê Duẩn) "Đánh thay cho Liên Xô và Trung Quốc"

Với não trạng của tín đồ vô điều kiện với hai đàn anh đầu sỏ lãnh đạo phong trào cộng sản của nửa cuối thế kỷ XX. Chỉ một não trạng cá nhân, đã kéo theo một tập thể mà cụ thể là Bộ Chính trị thời bấy giờ, cùng lúc kéo cả một dân tộc, cả hai miền Bắc và Nam vào một cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn, với nhiều triệu nạn nhân đã phải nhận cái chết. Với khoảng cách lịch sử cần thiết về thời gian, sau khi đất nước thống nhất, thì não trạng "thí dân, thí nước" để đánh thay cho Liên Xô và Trung Quốc, mà hai tên đầu sỏ phong trào cộng sản thế giới này đã có xung đột với nhau về chính sách quốc tế cũng như tư lợi của chúng ngay trong khi cuộc chiến chống Mỹ (1954-1975). Để sau đó Việt Nam phải nhận hai cuộc chiến tiếp theo : biên giới Tây Nam chống Khmers đỏ bắt đầu năm 1977, biên giới phía Bắc chống Trung Cộng bắt đầu năm 1979, với bao ngàn nạn nhân đã chết. Đây không phải chỉ là chuyện đánh giá sai tình hình của Lê Duẩn về các tư lợi của các đảng cộng sản, sẵn sàng dẫn dắt đồng chí không đồng chính kiến với mình vào tử lộ ; mà còn là một loại não trạng hiếu chiến trong tử lộ với sinh mạng của chính đồng bào mình : không hề là một ưu tiên trong quá trình cân nhắc (lý luận tỉnh táo-đề nghị sáng suốt-thảo luận khách quan-quyết định chính chắn-hành động liêm sỉ) dựa trên nhân tính lãnh đạo làm nên nhân đạo chính trị mà một tổ chức chính trị (đảng, bè, phái…) phải có khi buộc đi vào tử lộ của chiến tranh.

Với nhiều triệu nạn nhân trong cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn

Một cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn, với nhiều triệu nạn nhân, không có nội dung đạo lý, không có ý nghĩa luân lý, không có tư tưởng đạo đức cho tương lai của dân tộc và đất nước ; mà chỉ để lại một chế độ toàn trị dựa trên hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc tôn, độc trị). Nơi mà tuyên truyền "chiến thắng chống Mỹ", "thống nhất đất nước", "xây dựng đất nước mười lần giàu đẹp hơn"… chỉ để lại một thực trạng hiện nay là của một đất nước cạn kiệt tài nguyên với ô nhiễm môi trường trầm trọng, với một dân tộc nheo nhóc trong túng quẫn, với xuất khẩu lao động để làm lao nô, nô tỳ… cho các nước láng giềng với vị thế quốc tế tủi nhục nhất. Tất cả thực trạng này nằm trong một tâm trạng chung của một Đảng cộng sản Việt Nam : hèn với giặc, ác với dân, đã và đang mở đường cho Tàu tặc làm ra Tàu họa, Tàu tà sinh ra Tàu nạn… đang phủ trùm lên số phận của Việt tộc. Thấy và thấu nguồn của nó luôn ở cấp thượng tầng, tiếp tục gây ra tội ác trong những năm tháng tới tới hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc tôn, độc trị) với một hệ thống công an trị tiếp tục gây tội ác với nhân dân, nhất là với các đứa con tin yêu của Việt tộc đấu tranh vì dân chủ và nhân quyền cho một tương lai của công bằng, tự do, bác ái.

Một tập đoàn lãnh đạo diệt dân ở nhiều mức độ khác nhau

Đảng cộng sản Việt Nam mở đường cho ngoại xâm, trước là cõng rắn cắn gà nhà, sau đó là mang voi về dày mả tổ qua hệ tham (tham quan tham quyền, tham ô rồi tham nhũng, tham đất để tham tiền), một bọn nội xâm buôn chức bán quyền để sau đó là buôn dân bán nước. Tội phạm học không ngừng ở các "vở kịch" chống tham nhũng kiểu "đốt lò" của Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, mà tội phạm học phải lần tìm gốc, rễ, cội, nguồn để phân tích dây mơ rễ má của hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc tôn, độc trị như một tập đoàn lãnh đạo sát nhân), sẵn sàng thí dân, thí nước qua chiến tranh, tạo ra nội chiến để thực hiện một ý thức hệ ngoại lai, phản dân tộc. Như một tập đoàn lãnh đạo tội nhân, tiếp tục dùng công an trị để đàn áp, khủng bố, truy diệt những công dân yêu công bằng, quý tự do, trọng dân chủ, nâng nhân quyền. Như một tập đoàn lãnh đạo tư lợi của các nhóm lợi ích, được tổ chức như những mafia, sẵn sàng tiêu diệt lẫn nhau qua phản xạ bạo lực di truyền của cộng sản là thanh trừng nội bộ, bất chấp công lý, khinh miệt công pháp, xem thường công luận. Như một tập đoàn lãnh đạo diệt dân ở nhiều mức độ : nhắm mắt mà vơ vét tiền tham ô mặc cho Tàu tặc đang xâm lấn đất, biển, đảo ; cúi đầu mặc cho Tàu họa ô nhiễm môi trường, truy diệt môi sinh của đất nước, khoanh tay mặc cho Tàu họan đưa tràn lan thực phẩm bẩn, hóa chất độc cùng với các công nghiệp nhiệt điện, hóa học, luyện thép đầy tội lỗi, gây ra ung thư cấp làng, cấp vùng, rồi cấp quốc gia.

Truy sát nguyên khí quốc gia

Không ngừng ở mức độ cá nhân gây ra tội ác, mà đi xa để đi rộng, đi sâu để đi cao lên tới thượng tầng lãnh đạo, nơi trung tâm của các bạo ý đã trở thành quyết sách, các tà ý đã thành chính sách, các qủy ý đã thành tử sách đã và đang đưa Việt tộc vào tử lộ ! Trong cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn giữa hai miền (1954-1975), xuất hiện một chuỗi hệ luận của tội ác mà những kẻ cầm quyền đã tự cho phép chúng gây tội ác mà không ai được buộc tội chúng là tội phạm. Tư duy tội ác của bọn lãnh đạo này là : "thí lính", "nướng quân" trong các chiến dịch, trên các mặt trận mà sinh mạng đồng bào của chúng bị đặt thấp hơn chiến thắng trên chiến trường để phục vụ chiến sách của chúng, từ đó mọi chiến thắng phải phục vụ ý đồ dùng tử lộ của lính, của quân như các con cờ để chúng đấu giá, mặc cả, thương lượng cho quyền lực và quyền lợi của chúng. Các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam gây ra trong cả thế kỷ XX thì không ngừng lại trong khuôn khổ của cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn, giữa hai miền (1954-1975), mà phải đi trở lên thượng nguồn từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam dẫn tới chiêu bài Việt Minh trong kháng chiến chống Pháp. Chính trong thời điểm này đã có nhiều sự cố xác nhận quá trình "thí lính", "nướng quân", nơi mà mạng sống của các thế hệ thanh niên đã bị sử dụng trong tham vọng "phải giành chiến thắng bằng mọi giá", vận dụng trong ý đồ "phải tới toàn thắng bằng mọi giá".

Đồ hình và hậu nạn của tội ác

Trong cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn, giữa hai miền (1954-1975), quy luật độc đảng trong toàn trị, thì bọn lãnh đạo tự cho phép mình độc đoán trong quyết định, mặc cho hậu quả độc hại đến với đồng bào, dân tộc, đất nước. Nơi đây, hằng số "quyết chiến" song hành cùng hàm số "quyết thắng" cho xuất hiện một ẩn số trong tư duy (bất nhân) của kẻ lãnh đạo là : "tử chiến"- với mạng sống của lính, của quân, chớ không phải của chúng. Tội phạm học khi khảo sát các sự cố "thí lính", "nướng quân" tới từ các tướng bất tài, từ các quyết đoán hồ đồ tới bất nhân của lãnh đạo, các tiên đoán sai lầm của việc dùng quân. Hậu quả của "thí lính", "nướng quân" tiếp tục xẩy ra trên chiến trường Tây Nam chống bọn diệt chủng Khmers đỏ sau 1977, và bọn Tàu tặc 1979. Không được quên sự hy sinh làm bia đỡ đạn cho quân thù Tàu tặc tại Gạc Ma, nơi mà tên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng lúc đó đã cấm các chiến sĩ giữ đảo được nổ súng để tự bảo vệ, nếu tên này trực tiếp tạo ra tội ác, thì phải sử hóa hành động phản bội của nó như một tội đồ. Thống kê hóa để định lượng là vai trò của tội phạm học phân tích, không ngừng ở hình sự hóa cá nhân, mà phải đi xa, rộng, dài, sâu hơn nữa để tới một phân tích định lượng về thiệt hại nhân mạng quá lớn lên số phận của Việt tộc cả thế kỷ XX.

Tội ác vẫn đang nối đường cho tội ác

Các diễn luận từ đạo lý tới công lý, từ sinh mạng tới tòa án, từ thống kê hóa tới sử hóa một cách khách quan nhất. Đối với Việt tộc, các kết luận sau đây vẫn chưa được minh bạch hóa các lãnh đạo gây tội ác vẫn chưa có tòa án công minh để xử chúng ; các lãnh đạo gây tội ác vẫn chưa có sử luận khách quan về chúng ; các lãnh đạo gây tội ác vẫn chưa có công pháp quốc tế nhận diện chúng. Trên các nhận định này, lý luận của tội phạm học tổng quan, đề nghị nghiên cứu, điều tra phải tới các nhận định khác : định lượng thiệt hại về tính mạng quá lớn trong chiến tranh so với số phận nghèo nàn trong nheo nhóc hiện tại của Việt tộc. Định lượng thiệt hại về tính mạng quá nhiều trong thời chiến so với các điều kiện vật chất và tinh thần hiện tại mà Việt tộc đang có. Định lượng thiệt hại về tính mạng quá dài trong chiến sự so với chế độ độc tài nhưng bất tài hiện nay, ngày ngày đẩy Việt tộc vào ngu dân trong tuyên truyền. Chế độ độc tài hiện nay không hề có ý thức về sự thật của tội ác, để sáng suốt ra, không hề có nhận thức về tội phạm đang cầm quyền, để làm rõ lịch sử. Nên tội ác vẫn đang nối đường cho tội ác, để tội ác tự nối dài trên số phận của Việt tộc !

Bạo trị : tội ác của công an

Tội phạm học phân tích phải biết đường đi nước bước để tìm tới tội phạm học định hướng nhân bản, mà rõ các định đề của nhân quyền, biết lấy nhân vị của tự do để bảo vệ nhân bảnnhân văn ; có nhân tri của dân chủ để bảo đảm nhân lýnhân tính ; nhận nhân đạo của bác ái để bảo hành nhân tâmnhân từ, tất cả hệ nhân này phải trực tiếp phục vụ cho : nhân phẩm để chống lại tội ác, vô hiệu hóa tội nhân, vô dụng hóa tội đồ, cô lập hóa toàn bộ liên kết tội ác-tội nhân-tội đồ. Với hàng trăm nạn nhân hàng năm bị hành hung, tra tấn cho tới mất mạng trong các đồn công an, và xã hội sẽ không tính được bao nhiêu nạn nhân khác bị tra tấn đến trọng thương, khi về lại được gia đình chỉ vài ngày là tử thương. Việt Nam hiện nay là một trong những quốc gia có thống kê tử xuất trong các đồn công an cao nhất. Đây là một thực tế với các chứng tích về một loại tội ác chỉ có trong các chế độ độc đảng-toàn trị, nơi mà pháp luật của dân chủ, công lý của nhân quyền không sao tới được để bảo vệ các nạn nhân nằm trong bàn tay giết người của cả một hệ thống công an trị, bất chấp công lý.

dcs8

Hành hung-hành sát : giết người trong đồn công an

Tội ác giết người trong các đồn công an, phải được tội phạm học khảo sát và điều tra qua ít nhất là ba định hướng đã làm nên tầm vóc của chuyên ngành này, khi nó nghiên cứu về các chế độ độc đảng-toàn trị, kiểu Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cuba và Việt nam. Nạn nhân tràn lan, nơi mà tội ác tới từ công an trị luôn được bảo kê và bao che bởi độc đảng-toàn trị, nơi mà chính các thủ phạm là công an có đầy đủ ý thức khi giết hại dân chúng với khẩu hiệu của bảo hộ độc đảng-toàn trị : "còn đảng, còn công an". Hậu nạn không tư pháp, nơi mà tòa án cùng công lý không có các điều kiện bình thường để điều tra về thực cảnh của tội ác, hành vi của tội phạm, từ đó kiểm tra về bản chất của cái ác trong tay các công an khi cái ác quyết định cái độc "đòn thù" của công an đã dẫn đến cái chết.

Hệ lụy của tử nạn, thân nhân của nạn nhân muốn biết sự thật trong các đồn công an đã gây ra cái chết, thì họ sẽ bị một hệ thống tư pháp là công cụ đã bị thuần hóa bởi cơ chế độc đảng-toàn trị, ngăn cản không cho tiếp nhận sự thật về tội ác. Thủ phạm chính là công an, những kẻ nhận nhiệm vụ phải bảo vệ công dân, nhưng làm chuyện ngược lại là giết dân.

Tội ác công an trị và tội ác độc đảng-toàn trị chỉ là một

Đưa ánh sáng của chân lý, để công lý nhận định được tội ác công an trị và tội ác độc đảng-toàn trị chỉ là một ; nơi mà tội ác công an trị là hạ nguồn của tội ác độc đảng-toàn trị là thượng nguồn, chính cái ác của lãnh đạo làm ra tội ác của công an để bảo vệ nó. Tội ác công an trị và tội ác độc đảng-toàn trị chỉ là một ; nơi mà tội ác công an trị là hạ tầng của tội ác độc đảng-toàn trị là thượng tầng, nơi mà chính sách của độc đảng-toàn trị đã mở cửa, đặt nền, dựng tường, che mái cho các tội ác của kẻ giữ cửa, giữ nhà, giữ đất, giữ quyền cho độc đảng-toàn trị. Tội ác công an trị và tội ác độc đảng-toàn trị chỉ là một ; nơi mà tội ác công an trị là hành động của tội ác độc đảng-toàn trị là ý đồ, nơi mà tội ác đóng đầy đủ vai của nó là lấy cái ác để gieo sợ hãi, diệt đối kháng. Rất nhiều cơ quan nhân quyền quốc tế có đầy đủ các chứng từ, chứng tích, chứng nhân về một chế độ độc đảng-toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam và một hệ thống công an trị ngày ngày gây ra tội ác. Đảng cộng sản Việt Nam đã dùng công an để khủng bố, bắt bớ, truy sát… với mức độ và mật độ khốc liệt, nơi mà tội ác đi từ tra tấn bằng cực hình, bằng nhục hình cho tới tổ chức bức tử hay thủ tiêu, những tội ác ngang hàng với những quốc gia độc tài tàn ác bất nhân nhất hiện nay.

Cực hình và nhục hình

Khi nghiên cứu về các tội ác của Đảng cộng sản Việt Nam đang độc quyền trong độc tài của độc trị, đi từ hành hạ tới hành sát chính nhân dân của mình, nhất là các chủ thể yêu công bằng để quý tự do, trọng dân chủ để nâng nhân quyền, thì tội phạm học phải theo các quy trình khách quan của nghiên cứu. Tội phạm học khảo sát và điều tra, nơi mà định chất song hành cùng định lượng, có nền là sự kiện để hiểu sự cố, có gốc là chứng từ tới từ chứng nhân và chứng tích. Tội phạm học phân tích và giải thích, nơi mà phân tích khách quan các sự kiện, sự cố với chứng từ, chứng nhân, chứng tích được đặt trong thực tế của độc đảng, thực trạng của độc tài, thực cảnh của độc trị. Tội phạm học giải luận và diễn luận, chỉ có thể lý luận và lập luận để thấu cái độc hại của tội ác khi hiểu được gốc, rễ, cội, nguồn của hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn) làm nên cái độc đoán của tội phạm. Tội phạm học giết người để diệt nhân, nơi mà các chuyên gia của tội phạm học chỉ có thể am tường và thấu hiểu cái độc có trong cái ác khi nó quyết định sát nhân (giết người để diệt nhân). Đây là hành động song đôi làm nên hậu quả song lứa của tội ác ; trước hết là giết người tức là diệt sinh mạng để thủ tiêu : thể lực, trí lực, tâm lực của một cá thể không tuân theo hoặc chống đối lại bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền. Diệt nhân là diệt toàn bộ hệ nhân có trong một cá thể, từ nhân tính tới nhân lý, từ nhân tâm tới nhân từ, từ nhân trí tới nhân trí, từ nhân bản tới nhân văn, từ nhân đạo tới nhân nghĩa, từ nhân vị tới nhân phẩm.

Truy diệt các nhà hoạt động vì dân chủ và nhân quyền

Các chuyên gia của tội phạm học không chỉ nhìn tội ác đơn lẻ qua hành vi đơn phương của tội phạm, mà phải hiểu để thấu tới nơi tới chốn tội ác của một chế độ độc đảng-toàn trị là tội ác diệt cả một hệ nhân (nhân tính, nhân lý, nhân tâm, nhân từ, nhân trí, nhân trí, nhân bản, nhân văn, nhân đạo, nhân nghĩa, nhân vị, nhân phẩm) trên cả một mạng chằng chịt, dầy đặc : giết người để diệt nhân. Các nhà hoạt động vì dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam hiện nay là những chủ thể yêu nước thương nòi, những đứa con tin yêu của Việt tộc, cũng chính là những nạn nhân trực tiếp bị hành hung, khủng bố, bắt bớ, tù đày… từ ám hại tới ám diệt. Dưới chế độ độc đảng-toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam thì hệ thống ám hại-ám diệt trùm phủ lên toàn bộ lên đời sống xã hội, sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội không những của các nhân tố đấu tranh vì dân chủ và nhân quyền, vì công bằng và tự do, mà còn trên cả thân quyến, bạn bè, đồng nghiệp của họ. Đảng cộng sản Việt Nam đã tổ chức hệ thống hệ thống ám hại-ám diệt các chủ thể đấu tranh vì dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam hiện nay bằng : Các thủ đoạn bất nhân để bảo vệ cái bất chính của nó, vì dân tộc Việt không hề chính thức bầu cho Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo dân tộc và đất nước Việt Nam.

Tội ác là động cơ và động lực để điều khiển bạo quyền, tà quyền, ma quyền

Các hành xử bạo động để bảo hành bạo quyền bất lương của nó, vì nó rất lo sợ trước dân chủnhân quyền sẽ dẫn tới đa nguyên, đa đảng. Các ý đồ tà gian để bảo kê tà quyền thâm độc của nó, vì nó muốn giữ đặc quyền âm binh của nó qua tham quyền để tham ô, tham nhũng vì tham tiền. Bạo quyền độc đảng-tà quyền tham quan-ma quyền tham tiền không phải chỉ là ngữ pháp để hiểu thực tế của tội phạm mà còn là mô thức giải thích về nguồn cội của cái ác, làm nên tội ácnạn nhân vĩ mô chính là dân tộc và đất nước. Độc tài bất tài-độc quyền lạm quyền-độc trị bất trị không phải chỉ là ngữ pháp để nêu rõ thực trạng của đất nước Việt là Đảng cộng sản Việt Nam độc tài mà còn bất tài trong quá trình phát triển đất nước, để đưa dân tộc tới văn minh. Độc quyền trong lãnh đạo nên lạm quyền để toàn quyền trong hành pháp, để thao túng lập pháp, để thuần hóa tư pháp. Độc trị nhưng không biết quản trị dân tộc bằng công bằng, tự do, bác ái, và bất trị khi sẵn sàng nhúng tay vào tội ác giết người, diệt nhân, hại đồng bào, hủy đất nước.Tội ác là động cơ và động lực để điều khiển bạo quyền-tà quyền-ma quyền.

Trù diệt các phong trào xã hội

Các phong trào xã hội sau đây đã là nạn nhân của tội ác do công an tổ chức, do các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam chỉ đạo, nơi mà tội ác đã có mặt và tội phạm là công an luôn được chế độ độc đảng-toàn trị bao che, bảo kê. Phong trào yêu nước qua các cuộc biểu tình chống Tầu tặc cướp đất, biển, đảo, trong đó các người tham dự biểu tình bị đàn áp thẳng tay. Phong trào yêu nước qua các cuộc biểu tình chống ô nhiễm môi trường qua sự cố Formosa đã truy diệt môi sinh của nhiều tỉnh miền Trung, trong đó các người tham dự biểu tình từ phụ nữ tới trẻ em đều bị hành hung. Phong trào tôn giáo để bảo vệ tín ngưỡng thiêng liêng của mình, trong đó các người lãnh đạo tôn giáo bị truy cùng diệt tận ngay trong nơi tu hành của họ. Phong trào Thiên Chúa giáo chống ô nhiễm môi trường do Formosa gây ra, cũng là phong trào chống Tàu tặc xâm lược, có cùng tâm điểm và cùng có hội tụ với các phong trào đấu tranh vì dân chủ và nhân quyền. Phong trào đấu tranh vì dân chủ và nhân quyền cũng là phong trào chống ô nhiễm môi trường, chống hủy diệt môi sinh, cũng là phong trào chống đàn áp tôn giáo, có cùng tâm điểm và cùng có hội tụ với các phong trào về tự do tín ngưỡng. Phong trào Thiên chúa giáo chống ô nhiễm môi trường, phong trào đấu tranh vì dân chủ và nhân quyền, có cùng tâm điểm để hội tụ với các phong trào tín ngưỡng địa phương Cao Đài, Hoà Hảo, tất cả cùng nhau chống bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền, tất cả đấu tranh vì công bằng, tự do, bác ái.

Gian thông công an-côn đồ

Thấy để thấu tại sao độc đảng toàn trị rất lo âu về tính liên kết dẫn tới tính liên minh của các phong trào có mặt trong toàn xã hội dân sự hiện nay tại Việt Nam. Độc đảng toàn trị đã đàn áp tàn nhẫn, khủng bố khốc liệt, bắt bớ tràn làn, tù đày dài hạn, hãm hại với các thủ đoạn bất nhân nhất các phong trào này. Hiện nay với độc đảng-toàn trị, dân tộc Việt khám phá ra một bộ mặt mà không sao tưởng tượng được, là đáy sâu cái ác của chế độ là : công an dùng côn đồ, lưu manh, xã hội đen, lẫn cả tù hình sự đã và đang lãnh án để khủng bố, truy hiếp, sát hại dân lành, mà các kinh nghiệm giờ đây đã thành chứng tích, có chứng từ với chứng nhân. Công an sử dụng côn đồ để hiếp đáp, đánh đập dân oan bị cướp đất, khi họ quyết tâm bảo vệ mảnh đất, mái nhà của họ. Công an phối hợp côn đồ để đàn áp, hành hung các công nhân đình công tại các nhà máy, trong các khu công nghiệp. Công an sử dụng côn đồ để đàn áp, đánh đập các công dân biểu tình vì yêu nước, chống ô nhiễm môi trường. Công an cùng côn đồ khủng bố các nhà đấu tranh vì nhân quyền và dân chủ ngoài đường phố ; hành hung họ trước gia đình ngay trong nhà của họ. Công an mua chuộc và chỉ huy côn đồ để đàn áp, đánh đập các công dân đấu tranh chống các trạm thu phí trái phép.

Khủng bố vừa để trừng trị các nạn nhân

Công an bao thầu và chỉ đạo côn đồ để khủng bố, đáp áp các tu sĩ và tín đồ của các tôn giáo (Thiên Chúa giáo, Phật giáo, Cao Đài, Tin Lành…). Công an chỉ huy và phối hợp với côn đồ để trấn lột, bắt cóc, hành hung các công dân xuống đường chống Tàu tặc, chống ô nhiễm môi trường.Công an chỉ đạo và bao thầu ngay cả các tù hình sự đang tại án để hành hung, khủng bố, đánh đập các thân nhân đi thăm các tù nhân lương tâm. Công an trực tiếp hướng dẫn côn đồ đàn áp, hành hung, trấn lột các chủ thể thiện nguyện của các hội đoàn từ thiện và các phong trào nhân đạo trên đường cứu trợ các đồng bào nạn nhân của thiên tai, của nghèo đói tại các vùng sâu, vùng xa. Đây chính là hành vi và hành động của tội ác, được tổ chức bởi các lãnh đạo công an từ cấp địa phương tới cấp trung ương, dưới sự chỉ đạo cao nhất là trong Bộ Chính trị. Với ý đồ của một chính quyền độc tài trong toàn trị dùng khủng bố vừa để trừng trị các nạn nhân ở cấp điếm nhục nhất, vừa để gieo nỗi sợ hãi lên toàn xã hội. Tại đây thì chính các chủ thể của xã hội dân sự, mọi thành phần nghề nghiệp, mọi tín ngưỡng… có cùng một nguyện vọng dân quyền trong dân chủ, công bằng trong công lý, nhân phẩm trong nhân quyền phải thực hiện được.

Tội phạm học xâm lược (Tàu tặc-Tàu phỉ-Tàu nạn-Tàu họa-Tàu hoạn-Tàu phạm-Tàu tà)

Đảng cộng sản Trung Quốc không ngừng ở ý đồ xâm lấn đất, biển, đảo của Việt tộc ; không ngừng ở thâm đồ xâm lược để áp đặt sự thống trị bằng đô hộ rồi nô lệ hóa Việt tộc như Tàu tặc đã thực hiện nhiều lần trong Việt sử. Chúng cũng sẽ không tự ngừng lại ở hiểm ý xâm lăng trọn vẹn đất nước Việt, mà còn biến Việt tộc thành một nô tộc tật nguyền ở mọi mức độ từ thiên nhiên tới tài nguyên, từ thể lực tới trí lực, để các thế hệ Việt tương lai mang đầy khuyết tật của một sắc tộc đã bị thuần hóa. Từ thượng nguồn của ý đồ xâm lấn tới hạ nguồn của thâm đồ xâm lược, để vĩnh viễn nô lệ hóa Việt tộc thì từ sách lược tới chiến lược hiểm ý của Tàu thực hiện một quá trình tội ác tổng hợp (trộm, cặp, cướp, giựt đất biển đảo ; ô nhiễm môi trường, hủy diệt môi sinh ; đầu độc thực phẩm, buôn người, lấy nội tạng…). Tàu tặc đã chiếm đất, chiếm đảo, chiếm biển, rồi còn bắn giết, sát hại ngư dân Việt trước một Đảng cộng sản Việt Nam nhắm mắt-cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối trước Tầu tặc. Từ ngày quy hàng Đảng cộng sản Trung Quốc qua mật ước Thành Đô, từ đó cho tới nay Tầu tặc đã nắm dao đằng chuôi để Đảng cộng sản Việt Nam phải đứng trước mũi dao để ngày ngày phải : hèn với giặc-ác với dân. Chất tặc của Tàu đã là chất độc sẵn sàng chế ra chất ác, xem mạng sống của Việt tộc không có một giá trị đạo lý gì với chúng, nên chúng ngày ngày bắn giết ngư phủ Việt, chúng vào hoạn lộ của cái ác mà không có một chút lương tâm.

Tàu tặc là bạn vàng, láng giềng tốt, vừa đồng chí vừa là anh em

Ngữ pháp Tàu tặc chỉ bọn cướp có phản xạ giết người để đoạt của, chiếm đất, biển, đảo. Ngữ pháp này dựng nên mô thức giải luận để phân tích và giải thích các quá trình mà tội phạm học phải điều tra, phải khảo sát, phải nghiên cứu sau đó về : Tàu nạn, Tàu hoạn, Tàu họa, để đi đến mô hình diễn luận thế nào là Tàu tà nơi mà thâm, độc, ác, hiểm xuất hiện để biến thành hành động hại, hủy, giết, diệt dân tộc Việt như chúng đã làm liên tục từ nhiều ngàn năm qua trong xâm lược, trong đô hộ, trong đồng hóa, trong ý đồ diệt vong Việt tộc. Một kẻ thù truyền kiếp, mà tổ tiên dặn dò con cháu không được quên, vì chúng có dịp là lập lại tội ác ăn tươi nuốt sống dân Việt, để lấy đất Việt, vậy mà Đảng cộng sản Việt Nam gọi tên chúng là bạn vàng, láng giềng tốt, vừa đồng chí vừa là anh em. Việt tộc đừng trong chờ gì ở Đảng cộng sản Việt Nam đã quy phục để được-và-bị Đảng cộng sản Trung Quốc thuần hóa. Quy phục qua cúi đầu-khoan tay-quỳ gối để được bảo kê bởi Đảng cộng sản Trung Quốc, thuần hóa chỉ biết thưa-bẩm-dạ-vâng trước đàn anh Tàu, vì đàn anh này biết thâm tâm, ưu tiên số một của bọn lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam vẫn là cứu chúng, tức là cứu đảng, chớ không phải là cứu dân, hay cứu nước ; đây là một tội ác ngầm đặt Việt tộc trước diệt vong trong nanh vuốt của Tàu tặc.

Ma thuật đầy tội ác của Tàu tặc

Nhận lấy trách nhiệm khoa học để khách quan mà xây dựng các định hướng cho nghiên cứu, khảo sát, điều tra, điền dã về tội phạm học trong phạm trù Tàu tặc. Nghiên cứu về quá trình mất đất, biển, đảo từ địa lý thực địa tới địa dư chính trị để nhận ra sự lệ thuộc của Đảng cộng sản Việt Nam trước Đảng cộng sản Trung Quốc, từ khi lập Đảng cộng sản Việt Nam 1930 tới hiệp định Genève 1954, ma thuật đầy tội ác của Tàu tặc đã cụ thể hóa bằng cách chia cắt Việt Nam qua vĩ tuyến 17. Đây là một tội ác lịch sử sẽ giúp tội phạm học lập nên sử kiện, để hiểu sử tính tội phạm của Tàu tặc, từ đó gây dựng lên sử luận với chứng từ, chứng nhân của tội ác này. Khảo sát từ tư duy của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký công hàm giao Hoàng Sa cho Tàu tặc, cho tới quá trình gây tội ác liên tục của Tàu tặc để chiếm luôn Trường Sa, với hành vi ăn hiếp Đảng cộng sản Việt Nam, với hành động để giết ngư dân Việt trên lãnh hải của Việt tộc. Điều tra về những bước lùi của Đảng cộng sản Việt Nam từ mật ước Thành Đô tới nhiều thoái bộ đã nhường đất, biển, đảo, cùng lúc mở cửa cho công nghệ Tàu, xí nghiệp Tàu, công nhân Tàu, hàng hóa Tàu… tràn lan trên đất Việt, để thảm trạng hiện nay là chế độ độc đảng-toàn trị lệ thuộc vào Đảng cộng sản Trung Quốc và kinh tế Việt Nam ngày càng lệ thuộc vào Tàu tặc. Điền dã qua điều tra thực địa về các công nghệ bẩn của Tàu nạn đang gây những tội ác về môi trường, cùng lúc khảo sát thực trạng di dân của Tầu tặc tới đất Việt, để toan tính không những ăn nằm ở dề, mà còn lấy vợ Việt để tạo ra một thành phần lai mới mà ý đồ mai phục lâu dài để xâm lược cho bằng được đất nước ta.

Tàu phỉ buôn lậu, hối lộ, bài bạc, ma túy… ung thư hóa đời sống xã hội

Khi liên kết được các kết quả của nghiên cứu, khảo sát, điều tra, điền dã về Tàu tặc phải nhận ra thâm tính làm nên ý đồ của một mô hình tội ác có xếp đặt trên một không gian dài thường xuyên, trong một không gian rộng từ vĩ mô (từ chế độ, cơ chế, hành chính tới sinh hoạt xã hội, đời sống xã hội tới) tới vi mô (từ các huyện, xã, vùng, miền, thành phố tới cá nhân, gia đình, thân tộc). Tàu tặc luôn thực hiện tội ác của chúng bằng mua chuộc qua tham nhũng, thao túng thị trường qua tham ô, đầu cơ tích trữ qua môi giới với các tham quan, vì tham tiền mà rơi vào tà lộ của buôn dân bán nước ! Ngữ pháp Tàu phỉ dựa trên thực tế lịch sử có cùng với sự xuất hiện và có mặt người Tàu trên quê hương Việt bao thế kỷ qua, họ tới nơi nào là họ tổ chức buôn lậu, bất chấp luật pháp quốc gia và địa phương mà họ đang định cư. Hối lộ, có tổ chức để điều khiển bọn tham quan, rồi lũng đoạn cơ chế tại chỗ. Bài bạc, tổ chức các khu bài bạc, tổ chức mạng đánh bạc qua công nghệ truyền thông trong nhiều thành phố của Việt Nam. Ma túy, được tổ chức trên quy mô rộng lớn, từ vận chuyển tới phân phối, mà hệ lụy không những trên thể lực của thanh thiếu niên Việt, mà còn trên rất nhiều thành phần xã hội. Đây là tiền đề để tạo tội ác của Tàu tặc đặt lên toàn sinh hoạt xã hội, đời sống xã hội, quan hệ xã hội, với sự bất lực của chính quyền trung ương.

Nội xâm đã mở cửa cho Tàu phỉ

Từ hối lộ qua tham nhũng Tàu phỉ, đã mở cửa để Tàu tà xâm nhập vào mọi cơ chế tổ chức quốc gia, tạo ra một không gian ngầm chính là nền cho Tàu tặc thực hiện âm mưu thôn tính đất nước Việt, vì Tàu phỉ trực tiếp hoặc gián tiếp hỗ trợ cho Tàu nạn đầu cơ nông phẩm, thao túng nông dân, Tàu họa ô nhiễm môi trường, hủy diệt môi sinh, Tàu phạm buôn người, lấy nội tạng. Giải thích tội ác để nhận ra tội phạm trực tiếp gây ra tội ác (Tàu tặc-Tàu phỉ-Tàu nạn–Tàu họa-Tàu hoạn-Tàu phạm- Tàu tà). Đồng phạm, gián tiếp tham gia vào tội ác (bạo quyền lãnh đạo trung ương, tà quyền tham quan sống bằng tham nhũng, ma quyền môi giới nhận hối lộ) để mở cửa cho các tội đồ thâm nhập, đột nhập vào các tổ chức của sinh hoạt xã hội, đời sống xã hội, quan hệ xã hội của Việt tộc. Những chủ thể yêu nước thương nòi, trong tự do-công bằng-bác ái, vì dân chủ và nhân quyền để xây dựng được một hệ thức : có kiến thứctri thức về ý đồ của Tàu tặc, có ý thức sâu rộng để có nhận thức sâu xa về Tàu phỉ-Tàu nạn-Tàu họa-Tàu hoạn-Tàu phạm- Tàu tà.

dcs9

Tàu nạn

Tàu nạn đã có mặt

Tàu nạn, đã có mặt và đang hằng ngày đe dọa Việt tộc với ô nhiễm môi trường, nơi mà môi sinh bị truy diệt bởi chính các tập đoàn mang công nghiệp bẩn của Tàu sang đất Việt. Các nhà máy luyện thép tới các nhà máy điện than, đang tạo ra các làng ung thư tới Tây nguyên bị khai thác vô tội vạ, bầy nhầy nhiễm ô. Ta không được quên thực phẩm bẩn với hóa chất độc tới từ Tầu tạo ra ung thư cấp quốc gia mà các cơ quan y khoa quốc tế đã xếp Việt Nam là một quốc gia đang trong vòng tử nạn của ung thư hóa cao, một chuyện chưa bao giờ có tại Việt Nam, và không thể tưởng tượng được trong tư duy bình thường của các công dân các quốc gia văn minh. Tàu nạn chính là hệ quả của hành vi và động thái cúi đầu-khoan tay-quỳ gối của Đảng cộng sản Việt Nam trước Đảng cộng sản Trung Quốc, chính là hệ lụy của chuyện mở cửa tràn lan cho doanh nhân Tàu, thương gia Tàu tới đầu cơ nông phẩm, thao túng nông dân, làm điêu đứng nông nghiệp Việt. Hệ quảhệ lụy này đưa về hệ kết là ý đồ xâm lấn-xâm lăng-xâm lược của Tàu tặc làm bất cứ hành động tội ác nào để đạt được mục đích cướp đất Việt và diệt dân Việt. Chính quyền độc đảng-toàn trị hiện nay- đang trong vòng kềm tỏa của Tàu tặc mà phải nhận lấy bổn phận khoa học để tìm, thâu, nhận, phân, giải một cách khách quan, định hướng cho nghiên cứu, khảo sát, điều tra, điền dã về tội phạm học. Nơi mà hậu quả của Tàu nạn được tính toán từ thượng nguồn bên Tàu tà Bắc Kinh, qua các tác nhân Tàu tặc ngay trên đất nước Việt.

Nhắm mắt mà mở cửa, câm miệng để Tàu họa tuôn hàng

Tàu tặc báo với cấp trên của chúng là : quan chức Việt hầu hết là tham quan, chúng tham quyền để tham tiền, quyền lực sánh vai cùng quyền lợi. Chúng dễ dàng bị mua chuộc bởi đồng tiền rồi rơi vào đường tội phạm, nhưng thường được bảo kê bởi độc đảng-toàn trị bất chấp luật pháp của chúng. Nông dân Việt cũng dễ dàng bị chiêu dụ trước cái lợi trước mắt, nhắm mắt chạy theo lợi nhuận tức thì, nên rất dễ bị phản bội trong hợp đồng, và sau đó để doanh nhân Tàu, thương gia Tàu sẽ thao túng giá cả, o ép mặt hàng. Tàu tà sẽ thực hiện các chính sách thay đổi liên tục để tạo ra các bất lợi, cũng như để xáo trộn thị trường thương mại của Việt Nam. Chính quyền Trung ương của Đảng cộng sản Việt Nam lại sợ Tàu qua chính trị, nên sợ mất lòng Tàu qua trao đổi thương mại, qua xuất nhập khẩu. Nhắm mắt mà mở cửa, câm miệng để Tàu tuôn hàng độc hại cùng lúc chính quyền Tàu đặt ra những chính sách thuế quan để chèn ép, hạ giá nông phẩm, sản phẩm của Việt Nam. Chính các tội lỗi ngấm ngầm này luôn được "bật đèn xanh" bởi hệ thống trung ương lệ thuộc Đảng cộng sản Trung Quốc về chính trị, song hành tham ô trong cơ chế địa phương tạo ra môi trường thuận lợi để tội lỗi ngầm này được sánh đôi rồi chung sức cho các tội ác trắng trợn khác của Tàu tặc.

Tàu họa ô nhiễm môi trường, hủy diệt môi sinh

Tàu họa, vì đúng là họa : họa mất nước, họa nô lệ, họa diệt vong… tất cả từ Tàu tặc, dưới bóng đêm của bọn âm binh buôn dân bán nước, có mặt trong trung tâm của bạo quyền độc đảng tới tham quan địa phương. Bắt đầu là Tàu trúng thầu qua tham nhũng để tham quan vơ vét trước, sau đó chính dân tộc Việt lãnh mọi hậu nạn, với các công trình đội vốn, rồi dân Việt còng lưng để trả thuế, lẫn nợ công đã ngập đầu, ngập mặt. Dưới độc quyền của một Đảng cộng sản Việt Nam dẫn dắt dân tộc trong nheo nhóc trong mê lộ, với một tập đoàn lãnh đạo mà thực chất là một tập đoàn tội phạm đã có nhà, có của, có thẻ xanh, có thẻ cư trú tại phương Tây. Trong hệ lụy của Tàu họa, tội phạm gây tội ác trực tiếp luôn có sự thông đồng của động phạm tại chỗ, có mặt trong guồng máy quốc gia, có quyền lực trong chính quyền địa phương : Các công nghệ bẩn của Tàu cùng hóa chất độc làm ô nhiễm môi trường, truy diệt môi sinh luôn có sự thông đồng qua hối lộ với các tham quan địa phương cấp xã, huyện, tỉnh, vùng, thành phố. Formosa là một thí dụ rất rõ về quá trình tham nhũng của chính quyền Hà Tĩnh được " đèn xanh " của những nhân vật trong Bộ Chính trị. Các công nghệ của Tàu khai thác tài nguyên trong một không gian rộng, vừa làm ô nhiễm môi trường, vừa hủy hệ sinh thái tới tận gốc rễ. Diệt quá tình tái tạo lại rừng, tái tạo môi trường xanh có sự thông đồng ngay trong chính sách cấp cao nhất của Đảng cộng sản Việt Nam.

Tàu họa : đại nạn

Khai thác boxite tại Tây Nguyên là thí dụ mà Tàu họa được cõng, bồng, bế, nâng bởi chính Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam. Các chính sách xuất nhập khẩu tối đa có lợi cho Tàu, cùng lúc hại tối đa cho kinh tế, thương mại, xã hội… của Việt Nam được mở cửa, được thực hiện, được tạo điều kiện bởi bọn Hán gian. Bọn này có chức năng nội gián, có địa vị gián điệp, có vai trò dắt voi dày mả tổ, có hành tác cõng rắn cắn gà nhà. Tướng Trương Giang Long thuật lại là "chúng không ít", "vì trăm này sinh ra trăm kia" để buôn dân bán nước, đẩy Việt tộc vào tội ác của Tàu nạn, đưa Việt tộc vào chốn diệt vong qua xâm lược của Tàu nạn. Hãy hệ thống hóa các sự cố về ô nhiễm môi trường, từ đại nạn kiểu Formosa tới các tai nạn trong sông ngồi, đồng ruộng, thành phố… mà không quên các hậu nạn do hàng loạt các nhà máy nhiệt điện sử dụng than đá do Tàu chủ thầu... Hãy thống kê hóa từ sự kiện tới sự cố, tất cả các thiệt hại về môi trường, môi sinh, bệnh tật… qua các thế hệ, từ cấp xã, huyện, tỉnh, vùng, thành phố tới cấp quốc gia. Hãy tư liệu hóa có hệ thống tất cả các thiệt hại mà trước mắt nạn nhân chính là môi trường, trực tiếp là con người, và lâu dài trên nhiều thế hệ. Kinh nghiệm cho thấy là hóa học da cam mà quân đội Mỹ đã dùng trong chiến tranh tại Việt Nam, với hậu nạn mà dân chúng vẫn phải lãnh chịu qua các thế hệ sinh ra sau chiến tranh để tư duy và lý luận.

Tàu hoạn đậu độc thực phẩm

Tàu hoạn, dựa vào bọn phản dân hại nước ngay trong, Đảng cộng sản Việt Nam mà Việt tộc gọi chúng là : nội xâm ! Ngoại xâm Tàu hoạn và nội xâm buôn dân bán nước thâm ô (tham quyền để tham tiền, tham quan để tham nhũng, đã và đang biến dân Việt thành lao nô, nô tỳ thấp kém nhất cho chúng sỉ nhục ngay trên đất Tàu, bị hành hạ như loại nô lệ giữa thế kỷ XXI này. Chưa hết, chúng còn tổ chức bắt cóc người Việt từ trẻ con tới phụ nữ để mổ mà cướp nội tạng, cái hoạn của Tầu là cái hèn của Đảng cộng sản Việt Nam làm nên cái nhục cho Việt tộc. Trước sự nhắm mắt trong câm miệng, cúi đầu trong vô trách nhiệm của Đảng cộng sản Việt Nam đối với các hóa chất độc hại có trong thực phẩm từ rau quả tới thịt cá… không được kiểm duyệt an toàn thực phẩm, không kiểm dịch trước khi tới tay người tiêu dùng, tồn tại trong các chợ, siêu thị, trong các cửa hàng, trong nhà hàng Việt… là nguồn cơn của bao bệnh tật, mà thảm họa chính là ung thư người tiêu dùng Việt. Các tội ác do hóa chất độc gây ra bệnh tật, tạo ra ung thư, rồi dẫn tới chết người qua thực phẩm, thì các chuyên gia cần sự hỗ trợ của nhiều thành phần xã hội, từ người tiêu dùng là nạn nhân tới các nhà khoa học, từ hóa học tới sinh học.

Mạng lưới đồng lõa với tội ác

Hệ dây chuyền là thượng nguồn của tội ác là chính sách của Tàu hoạn có âm mưu chính trị song hành cùng các tội phạm là tác nhân chế tác ra các hóa chất độc được dùng từ chăn nuôi qua trồng trọt. Chính sách có chủ mưu của bọn lãnh đạo Đảng cộng sản Trung Quốc song lứa với đường dây nhập cảnh các hóa chất độc do các doanh nghiệp Tàu sản xuất và do các tội phạm Việt phân phối từ cửa khẩu tới các trung gian là con buôn đồng lõa với tội ác này. Chính sách có ý đồ của tội ác được ngụy trang qua buôn bán với phương cách của Tàu hoạn : "vừa nhiều, vừa rẻ" để "dễ mua, dễ dùng", nơi mà sự túng nghèo của dân chúng đã dễ dàng đưa họ dùng hóa chất độc hại gây bệnh rồi chết người. Các hậu quả, nơi mà tội ác được thực hiện với sự thông đồng của một mạng lưới đồng lõa. Đồng lõa với tội ác ở cấp chính quyền, nơi mà mức độ và số lượng ung thư đang ở cấp cao nhất, thì chính phủ không hề có một chính sách gì hiệu quả để ngăn chặn, ngăn cấm tự nhập khẩu tới tiêu dùng để bảo vệ người dân. Đồng lõa với tội ác ở cấp địa phương, với các tham quan bị mua chuộc bởi tham nhũng đã để các hóa chất không những có trong thực phẩm, mà còn có ngay trên thượng nguồn nuôi gia súc và trồng cây trái. Đồng loã với tội ác ở cấp phân phối, với các con buôn Việt chỉ thấy lợi nhuận nhiều và dễ qua đường dây buôn bán hóa chất độc trong phân phối thực phẩm và trong chế biến ẩm thực.

Tàu phạm buôn người, lấy nội tạng

Các hệ luỵ làm nên nhiều hệ quả cho các thế hệ tương lai.

Một xã hội thật sự văn minh vì nhân quyền trong đó có tính mạng con người được xem như vô giá. Một dân tộc có văn hiến biết chuộng tiến bộ trong đó an toàn thực phẩm phải được kiểm soát, kiểm tra bằng sức mạnh của dân chủ. Trong đó, người tiêu dùng là chủ thể của nhận thức biết tự bảo vệ mình trong mọi công đoạn sản xuất thực phẩm và chế biến ẩm thực, không những bằng hành pháp, lập pháp, tư pháp mà còn biết vận động xã hội dân sự, với các phong trào an sinh xã hội, với các tập thể biết bảo vệ thể lực cho cộng đồng và cho dân tộc. Tàu phạm với tội phạm lúc trắng trợn, lúc công khai, lúc lén lút để buôn người với dụng ý là lấy nội tạng, thì đây chính là tội ác ! Tội phạm học hình sự song hành cùng tội phạm học phân tích gọi tên ngắn gọn là : giết người-cướp mạng, để lấy nội tạng là truy diệt mạng sống, hủy sự sống, hại chất sống của con người. Hiện nay, Đảng cộng sản Trung Quốc đã làm chuyện này trên quy mô lớn đối với các dân tộc thiểu số, như tại Tân Cương, với các đạo giáo không phục tùng độc tài-toàn trị Đảng cộng sản Trung Quốc, như tôn phái Pháp Luân Công, đều là nạn nhân của hệ thống tội ác : mổ nạn nhân để lấy nội tạng. Chính đây là sự tàn ác mà thế giới hiện nay đang ngạc nhiên trong sửng sốt và trong hốt hoảng, vì không ngờ chính quyền Tàu phạm có thể đi tới loại tội ác này.

Tàu tặc làm nên Tàu tà-Tàu nạn-Tàu họa-Tàu hoạn-Tàu phạm

Với Việt tộc, qua bao kinh nghiệm với Tàu tặc làm nên Tàu tà-Tàu nạn-Tàu họa-Tàu hoạn-Tàu phạm, thì chúng ta không mấy ngạc nhiên khi biết trong tư duy, chúng tự xem mình là "thiên triều". Ở đây, đối phương hoặc đối thủ của chúng chỉ là thú vật, mục súc, để chúng muốn lấy mạng bao giờ thì lấy, cướp mạng của đối phương, đối thủ để phục vụ cho thân thể, cho thể lực của chúng. Các lứa tuổi của nạn nhân Việt bị mổ để cướp nội tạng, trong các lứa tuổi không những có người lớn từ thanh niên tới trung niên, mà còn có các lứa tuổi rất thấp từ thiếu nhi tới thiếu niên. Các trường hợp bị thương tật nặng, hoặc bị tử vong sau khi mất nội tạng, trong đó có các nạn nhân bị mất mạng ngay bên Tàu, có người bị mất mạng sau khi trở về Việt Nam. Các đường dây buôn nội tạng có khi lén lút, có khi bán công khai, ít nhiều xuất hiện trên các mạng xã hội một cách trá hình.

Tàu tà trong tội ác được nối giáo

Quá trình tội ác của Tàu họa trên tổng thể của một âm mưu xâm lược, sẵn sàng dẫn Việt tộc tới diệt vong bằng cách vây bủa toàn bộ các lối thoát của Việt Nam. Phía Bắc, thì Tàu tặc trực tiếp chiếm đất, đổi đường biên giới thuận lợi cho chúng, rồi bắt buộc các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam phải thuận phục chúng. Phía Đông, thì Tàu tặc trắng trợn chiếm biển, cướp đảo, ngày ngày giết hại ngư dân Việt, tự ý xây các căn cứ quân sự để quân sự hóa biển đông bằng bạo lực. Phía Tây Nam, thì giật dây Lào, thao túng Campuchia, không những chặn dòng chảy sông Mékong để tiêu diệu đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa của đất nước, giờ lại cho phép Tàu lập căn cứ quân sự ngay trên đất Campuchia. Các điều kiện dẫn tới tội ác của Tàu tà càng được phát huy thuận lợi, khi Đảng cộng sản Việt Nam hoàn toàn bị cô lập, vì phải làm theo lệnh của Đảng cộng sản Trung Quốc đàn anh xâm lược là không được theo một liên minh quân sự nào để tạo đồng minh chiến đấu cạnh mình. Không được chấp nhận một căn cứ quân sự nước ngoài nào đặt trên lãnh thổ Việt Nam. Không được kiện cáo Tàu tặc qua tòa án quốc tế như Philippines đã thực hiện. Cái tròng đã mở, đang đặt vào vào cổ của dân tộc Việt, để tội ác của Tàu tặc dễ dàng diễn ra với một Đảng cộng sản Việt Nam tha hóa trong tham nhũng, với những lợi ích nhóm mà thực chất là những tập đoàn tội phạm đi từ sâu dân mọt nước tới buôn dân bán nước. sa lầy trong độc tài nhưng bất tài, không biết tự chuyển mình theo tiến bộ, theo văn minh, theo nhân quyền và dân chủ.

Tận diệt an ninh của tha nhân

Đảng cộng sản Việt Nam chối từ đa nguyên, loại bỏ đa lực, đa trí, đa tài, đa năng, đa hiệu, chấp nhận đa dạng, đa phương với các đảng phái, đoàn thể, phong trào để cùng bảo vệ dân tộc và đất nước. Nên khi phân tích và giải thích về các tội ác của Tàu tà, thì không được quên trách-nhiệm-trong-vô-trách-nhiệm của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay đã tạo những điều kiện quá thuận lợi để tội ác của Tàu tà được thực hiện dễ dàng trong thảnh thơi. Diệt sinh mạng của tha nhân, chặn đường sống rồi dẫn tới hủy diệt thân thể, tương lai, sự sống còn của tha nhân, gây đổ vỡ cho gia đình nạn nhân, truy diệt các quan hệ xã hội, sinh hoạt xã hội, đời sống xã hội bình thường của nạn nhận và thân quyến của họ. Vì vậy, định luận của tội phạm học không ngừng ở cá nhân gây tội ác mà đi xa hơn để thấy được là có : các tập đoàn tội phạm, từ xã hội đen tới các tướng lĩnh quân đội, công an giết người để cướp của, và còn phải đi sâu hơn để nhận diện ra chính quyền tội phạm, mà chính trị học về tội ác đã đặt ra phạm trù nghiên cứu : tội ác chính quyền, mà tội ác trong Cải cách ruộng đất 1956-1958 là một thí dụ điển hình. Tận diệt an ninh của tha nhân, tạo bất an tính mạng đưa tha nhân rời sinh lộ, đẩy họ vào tử lộ. Nạn nhân càng biểu lộ rõ nhân tính bằng nhân đạo, qua nhân từ của họ thì càng bị thủ phạm tội ác truy diệt tàn khốc ; nạn nhân càng nói rõ, hô to tính bất nhân thất đức của tội phạm thì càng bị trừng phạt, tra tấn khốc liệt, đây là trường hợp của các tù nhân lương tâm trong phong trào đòi dân chủ và nhân quyền hiện nay tại Việt Nam.

Tội phạm cướp quyền sống của tha nhân

Giết người, bỏ tù vô cớ nạn nhân, ám hại hoặc khủng bố từ tính mạng tới an ninh xã hội của gia đình nạn nhân, đe dọa an toàn tính mạng của từng quan hệ xã hội chung quanh nạn nhân. Thủ phạm gây tội ác chối từ nhân tính, tức là gạt bỏ nhân đạo, xóa diệt nhân bản, chối từ nhân văn làm nên nhân tâm của nạn nhân. Đó là trường hợp của dân oan hiện nay tại Việt Nam : bị cướp đất lại còn bị đàn áp, bị cướp của lại còn bị khủng bố, bị mất trắng lại còn bị ở tù, với các bản án dựa trên vu khống là "phá rối trật tự an ninh", dựa trên vu cáo là "chống người đang thi hành công vụ", bị vu oan là các "lực lượng thù địch" theo giọng điệu của đám tuyên giáo. Tội phạm cướp quyền sống của tha nhân, để trộm, cắp, cướp, giật, sẵn sàng giết người để đoạt của cải, đe dọa sự sống, tạo bất an trong xã hội. Bạo quyền dùng bạo động để song hành với tà quyền qua tham quan để liên minh qua tham nhũng với ma quyền buốn đất, bán nhà, vì tham tiền. Sẵn sàng dùng côn đồ, du đảng của xã hội đen để gây tội ác một cách gián tiếp hoặc trực tiếp. Một bạo quyền tội phạm bảo kê cho đám âm binh "đâm thuê, chém mướn" cho nó, mà một bạo quyền không còn nhân tính.

Giết người để cướp quyền lực

Tội phạm giết người để chiếm của cải, hãm hại cộng đồng cùng lúc hủy diệt truyền thống, truy diệt các tập quán tốt để vùi dập nhân tính. Khai thác không khí xã hội sợ hãi vì sợ chết, giết chóc đi cùng với tù đầy, để khủng bố tinh thần một dân tộc, đặt quyền sống của nhân dân dưới bạo quyền. Loại tội phạm này sẵn sàng giết người, để tồn tại bằng ác quyền. Hiện nay, Đảng cộng sản Việt Nam đã, đang, sẽ bỏ tù và truy diệt mọi công dân yêu nước xuống đường đòi lại chủ quyền lãnh thổ, đảo biển của đất nước, khi họ hô to Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Yêu nước và muốn bảo vệ tiền đồ tổ tiên, muốn bảo tồn trọn vẹn lãnh thổ quốc gia, muốn bảo an tương lai các thế hệ con cháu sau này, đều có thể là nạn nhân của bạo quyền độc đảng. Hậu phương để bảo đảm sự tồn sinh của chính quyền độc tài này không phải là Việt tộc, mà là một tập đoàn tội phạm khác : Đảng cộng sản Trung Quốc. Giết người để cướp quyền lực, cướp chính quyền bằng giết chóc, lấy bạo động chính trị để tạo ra bạo lực tràn lan trong xã hội, tức là tạo ra bối cảnh, lấy bạo lực làm hằng số, lấy tội phạm làm hàm số, lấy tội ác làm ẩn số để làm nên phương trình :

ác quyền = độc quyền + bạo quyền + tà quyền

để thao túng xã hội, để vây bủa dân tộc. Từ âm binh buôn chức bán quyền tới buôn dân bán nước chỉ vài bước đối với chúng, nhưng là tội ác chống tổ tiên, dân tộc, đất nước.

dcs10

Núp bóng che thân bởi Tàu tặc

Đây là phương trình mà Việt tộc đã thấy đáp số toán học phi nhân tính, phản nhân đạo của Đảng cộng sản Việt Nam : hèn với giặc, ác với dân ; thay vì giết giặc cướp nước Việt, thì lại đi giết dân Việt để được núp bóng che thân bởi Tàu tặc. Đã gây tội và liên tục tạo ra tội qua các con đường bạo động, đàn áp, khủng bố, tù đầy, tra tấn để gây ra nỗi sợ hãi trong cộng đồng, nỗi bất an trong tập thể, nỗi kinh hoàng trong dân tộc, ngày ngày thấm thỏm lo sợ : kẻ ác đang giết người chính là kẻ đang cầm quyền. Tội phạm học đề nghị không chỉ nghiên cứu tội phạm của bạo quyền mà phải điều tra sâu xa về chính sách tội phạm hóa bằng hệ thống tuyên truyền của nó, cụ thể là dùng hệ thống báo chí và truyền thông với bút nô, ký nô, văn nô… để che lấp tội phạm của chính quyền, cùng lúc biện minh cho tội ác của chính quyền đó. Khi nghiên cứu về thủ phạm giết người, thì phải điều tra kỹ lưỡng về các tòng phạm vì đặc quyền, đặc lợi qua ân sủng và bổng lộc nhận được từ thủ phạm gây ra tội ác. Đây là hiện tình của hơn 800 cơ quan truyền thông cùng với hằng nghìn nô bộc ngày ngày che lấp sự thật của tội ác, tung hỏa mù của tuyên truyền một chiều để khoả lấp chân lý, cùng lúc diệt luôn lẽ phải về đạo lý cũng như đạo đức các nạn nhân của tội ác.

Tội ác vĩ mô

Phải thấy các tội ác vĩ mô trong xã hội Việt Nam hiện nay, từ ô nhiễm môi trường để diệt môi sinh của Việt tộc cho tới sự tràn làn các độc chất trong thực phẩm để diệt dần mòn sinh lực Việt. Tội phạm học sẽ phải đi sâu vào sự liên minh bất chính, đang bất chấp sinh mạng của một dân tộc để thấy hết thủ đoạn của Tàu tặc cùng sự thất nhân của chính quyền và sự thất đức của các tập đoàn công nghiệp gây ô nhiễm cùng các con buôn đưa độc chất vào thực phẩm. Tâm lý học nhận diện phạm nhân gây tội ác song hành cùng xã hội học phòng ngừa tội ác qua các phân tích nhóm, bè, phái, đảng… gây ra tội ác để cùng luật học mà minh sử tội phạm, cùng sử học xác chứng tội ác. Tội phạm học phải nghiên cứu sự tương quan giữa các cuộc thanh trừng nội bộ trong đám chóp bu đang cầm quyền của Đảng cộng sản Việt Nam, ứng xử bằng quyền bính và hành xử qua tư lợi, để thấy rõ sự tương tác giữa các tập đoàn tội phạm này với các tội ác mà công an và quân đội là công cụ của chúng đã, đang và sẽ gây ra cho cả một xã hội đang bị mất đạo đức, một dân tộc bị lạc đạo lý, vì bị tội ác thao túng, giật dây, gài bẫy... Chính tội ác trong quan hệ quyền lực đã gây ra các tội ác khác trong buôn quyền bán chức, qua buôn chức bán bằng, tạo ra một sinh hoạt giáo dục có tra tấn trẻ em trong các trường mẫu giáo ; có bạo lực trong cách ứng xử của thầy cô, có bạo động của học sinh sẵn sàng đe dọa tính mạng của thầy cô…

Dụng bạo quyền cực quyền

Tội ác thượng tầng luôn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tội ác hạ tầng đang lan trong khắp mọi sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội, đời sống xã hội của Việt tộc.

Chính văn minh tới cùng với dân chủ đã bảo vệ dân quyền bằng tư pháp nghiêm minh của tam quyền phân lập làm lùi các ác, đẩy cái tội vào nhà tù, khi công lý có mặt để bảo vệ người dân, với công pháp nhìn thẳng vào tội ác để vạch mặt chỉ tên tội phạm với công luận thẳng lưng còn không sợ, không cúi đầu, không khoanh tay, không quỳ gối trước cái ác đe dọa sự sống. Nhưng trong tình hình của Việt Nam, khi độc đảng còn toàn trị thì : cái ác còn đứng đó, các tội còn ra đời ! Độc đảng chuyên chính không muốn chia quyền lực qua đa nguyên, để xã hội nhận hưởng đa tài, đa trí, đa năng, đa hiệu… thì độc đảng phải dùng bạo quyền để tiếp tục tham quyền, mà tư quyền song hành cùng tư lợi của độc đảng, nên bạo quyền độc đảng sẽ dùng bạo lực, tức đưa cái ác, đẩy cái tội vào cuộc để tội ác có mặt trong xã hội để khủng bố dân tộc, để truy diệt cái đa của nhân trí, của nhân tính. Độc đảng thì độc tài, nhưng bi kịch của Đảng cộng sản Việt Nam là độc tài nhưng bất tài, chính cái ung thư đôi độc tài-bất tài sẽ đưa dân tộc xuống vực, đưa đất nước xuống hố, và chính nó sẽ tạo ra hệ đối (đối kháng, đối lập, đối trọng). Lãnh đạo độc tài nhưng bất tài thì sẽ chịu những phong trào dân chủ, nhân quyền, công bằng, tự do, văn minh đối đầu với nó bằng phương trình đa tài-thực tài.

Tà lộ của tham quyền

Trong bối cảnh độc tài-bất tài sẽ dùng bạo lực để bạo hành thường xuyên các phong trào tiến bộ, độc đảng độc tài-bất tài sẽ cho cái ác xuất hiện, để cái ác ra đời cùng cái tội mà đàn áp, mà tiêu diệt phương trình đa tài-thực tài. Độc đảng thì độc trị, nhưng thảm kịch của Đảng cộng sản Việt Nam là không biết quản trị, kéo dân tộc từ nghèo nàn tới lạc hậu, từ nheo nhóc tới tận cùng với tham nhũng song đôi cùng nợ công, với tham ô song hành cùng bòn rút tài nguyên cho tới kiệt quệ, thì chính dân đen, dân oan sẽ tự hình thành những phong trào đấu tranh cho công bằng và công lý. Chính độc đảng trong độc trị lại không biết quản trị, sẽ sinh ra một xã hội bất trị (trên nói dưới không nghe ; đảng muốn dân không muốn…) mâu thuẫn không giải quyết thì xung đột sẽ tới với đối kháng. Phản xạ của độc đảng trong độc trị là lăn xả vào phương trình bạo quyền-bạo lực-bạo hành để nhảy vào bạo ác, cho tội ác xuất hiện khi chính độc đảng-độc trị phải đối mặt với các phong trào xã hội, sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội, đời sống xã hội mà bất trị được ý thức rồi nhận thức như bất tuân dân sự. Độc đảng thì độc quyền, trong tà lộ của tham quyền, trong ma lộ của bám quyền, để tiếp tục cuộc sống âm binh của cái ác là lạm quyền, khi phương trình độc quyền-tham quyền-bám quyền-lạm quyền như ung thư trầm kha đã biến thành phản xạ phải cướp quyền, thì nó đối diện rồi đấu đầu với bất tuân dân sự đại diện cho phong trào tiến bộ, dân chủ, nhân quyền.

Bạo kiếp, tà nghiệp, ma phận

Với công bằng, tự do, văn minh, thì Đảng cộng sản Việt Nam sẽ rơi vào ngõ cụt, bí lối vì bí cách giải quyết, nên phản xạ độc đảng trong phản ứng của độc tài-độc trị-độc quyền là mở cửa để tội ác vào xã hội, mà giết dân, mà truy diệt các các phong trào này. Đây là cách loại phản xạ- phản ứng của lãnh đạo mang ung thư đôi, nơi mà cái bất tài làm ra cái xấu, tồi, tục, dở sẽ đón, chào, nhận, tiếp nhận cái ác được nuôi bởi cái thâm, độc, ác, hiểm. Cái ác chỉ chờ dịp để làm ra cái tội, vì đây là bạo kiếp, là tà nghiệp, là ma phận của nó. Hãy loại cái ác ngay trong trứng nước để nó không làm ra tội ác. Một đất nước văn minh, một gióng nòi có văn hiến làm nên một dân tộc không có ai là nạn nhân của cái ác ! Không bao giờ trễ để ra khỏi con đường của tội ác, không bao giờ muộn để rời xa đường đi nẻo về của tội phạm, hãy tìm lại nhân phẩm bằng cách trở lại với nhân đạo để nhận lại nhân tính, bằng cách nhìn thẳng vào tội ác mà định nghĩa nó cho đúng, để có định luận trúng về các hậu quả mà nó gây ra trên số phận và tương lai của chính số mạng của con người và trên chính số phận của đồng bào mình. Nếu dân chủ chưa tới với đa nguyên để bảo vệ nhân quyền trong thảm cảnh hiện nay của Việt tộc, thì công dân Việt có toàn quyền yêu cầu những kẻ sẽ lãnh đạo tương lai nhận nhiệm vụ bảo vệ đồng bào và đất nước phải có có lương tâm, với lương tri lãnh đạo để bảo vệ dân tộc và đất nước.

Các tội ác tới từ đàn áp, bắt bớ, tra tấn, tù đày, hành hạ…

Đảng cộng sản Việt Nam không có khả năng để tự tạo điều kiện cho một "minh chủ" ra đời với nội công chống lại tội ác ; cho một "minh chúa" ra đời với bản lĩnh chống lại tội phạm ; cho một "minh vương" ra đời có tầm vóc chống lại tội lỗi do chính Đảng cộng sản Việt Nam của họ gây ra từ khi nó nắm độc quyền cai trị dân tộc và đất nước. Hợp đồng xã hội giành cho "minh chủ", "minh chúa", "minh vương" không khó thực hiện, mà trong Việt sử đời Lê, Lý, Trần, Nguyễn... Việt tộc đã có. Hiện nay các quốc gia láng giềng đã và đang có, thí dụ rõ nét là thành công của Lý Quang Diệu qua kinh nghiệm của Singapoure, theo quỹ đạo của một dân tộc có văn hiến, một đất nước có văn minh. Cụ thể là vị "minh chủ", "minh chúa", "minh vương" này phải ngừng ngay tức khắc các tội ác tới từ đàn áp, bắt bớ, tra tấn, tù đầy, hành hạ… các đứa con tin yêu của Việt tộc đấu tranh vì công bằng, tự do, bác ái bằng dân chủ và nhân quyền mà các tổ chức nhân đạo và Liên Hiệp Quốc gọi đúng tên họ là các tù nhân lương tâm. Trong mùa hè 2019, với những cơn nóng tại miền Trung vượt qua 45 độ, mà quản giáo và cai tù lại thu các quạt điện, để giết dần giết mòn các tù nhân lương tâm, mặc cho gia đình họ sẵn sàng nhận chi phí mua quạt điện mới cho họ, mặc cho cả xã hội lên án thái độ bất nhân, hành vi vô lương tâm này, đây là một tội ác được thi hành bởi những tên lãnh đạo trại tù số 6 tại Nghệ An, với trách nhiệm tội phạm của cả Bộ công an và tất cả lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.

Biến không gian sống của dân lành thành địa ngục của các làng ung thư

Hành hung và khủng bố các thân nhân và bạn bè của là các tù nhân lương tâm, trên đường tới thăm họ. Một tội ác quá thấp hèn trong bẩn thỉu (mạt vận bạo, đốn mạt tà).

Trộm, cắp, cướp, giựt đất của dân lành, biến họ thành dân oan, từ đầu đường xó chợ tới màn trời chiếu đất, mà không bồi thường xứng đáng lại không định cư họ trong điều kiện nhân đạo tương đối, thì đây chính là tội ác của bạo quyền đã thông đồng cùng tà quyền tham quan, đồng lõa với ma quyền tham đất. Tất cả đều là âm binh để hãm hại dân lành, lại còn mướn côn đồ, du đảng, xã hội đen, cùng công an hành hung, khủng bố, bắt bớ, đánh đập… dân oan. Mà dân oan chính là nạn nhân đôi : nạn nhân của trộm, cắp, cướp, giựt đất, rồi nạn nhân của bạo lực độc đảng dùng bạo hành công an và côn đồ để bịt miệng dân oan khi họ đòi công lý. Công nghiệp bẩn với hóa chất độc làm ô nhiễm môi trường, truy diệt môi sinh, biến không gian sống của dân lành thành địa ngục của các làng ung thư, các vùng ung thưmặc cho bạn tham quan tha hồ vơ vét qua tham nhũng, qua các ma đạo của âm binh Tàu tặc đang gây những họa nạn khủng khiếp cho Việt tộc.

Tội đôi-tội lứa : tội sâu-tội xa, tội trên-tội dưới

Lột trần tội ác, lột mặt nạ tội phạm qua các phân tích song phương : tội đôi-tội lứa (độc tài-bất tài), khi độc đảng dùng độc quyền để độc tài nhưng lại bất tài trong tổ chức xã hội không thể đưa dân tộc về hướng thăng hoa theo tiến bộ, đưa đất nước về phía thăng tiến theo phát triển, thì cái độc sẽ tới để gây tội ác, từ đó khỏa lấp, che dấu cái bất tài trong độc tài. Tội sâu-tội xa (tội giết người-tội hại người bằng lý lịch), khi giết người qua Cải cách ruộng đất, qua trại cải tạo, bây giờ tội ác tìm đến các chủ thể, các phong trào đòi công bằng, đòi, dân chủ, đòi nhân quyền… để truy cùng diệt tận các cá nhân, các tập thể không cùng chính kiến, không đồng ý với Đảng cộng sản Việt Nam. Sau đó lại dùng lý lịch của các nạn nhân để vùi dập mọi con đường tiến thân, mọi ý nguyện hội nhập bình thường nhất vào xã hội của gia đình, của con cái của họ. Đây là một tội ác liên thế hệ, phải được xem xét tới nơi tới chốn trên các hậu quả của nó Tội trên-tội dưới (tội lãnh đạo-tội cán bộ), chính sách gây ra tội ác đi từ trên xuống dưới qua chỉ thị, qua văn bản, qua quyền lệnh, thì hậu quả gây ra tội ác sẽ đi từ dưới lên trên, vì thế tội phạm học đề nghị nghiên cứu hậu quả dây chuyền của hàng ngang nơi mà tội phạm gây ra tội ác, mà không được quên lãnh đạo của chế độ, của cơ chế, của quyền lực hàng dọc chủ trì các tội ác. Khi tội phạm của hàng ngang chịu trách nhiệm vi mô trong cục bộ, thì lãnh đạo của hàng dọc phải nhận mọi trách nhiệm vĩ mô trên toàn thể.

Vô cảm-vô giác-vô tâm vô tri-vô trí-vô minh

Tội nay-tội mai (tội tuyền truyền-tội giáo dục), tuyên truyền bằng hận thù tạo điều kiện thuận lợi để tội ác xuất hiện, nơi mà tội phạm hại người và giết người dễ dàng khi xem tha nhân là kẻ thù rồi tử thù, phải diệt. Tuyên truyền dù qua khẩu lệnh hay văn bản đều có thể lập lên các nhân tố, biến tội phạm thành tội nhân với các ý thức hệ tàn bạo lấy hận thù để giết chóc. Việt tộc đã trả giá quá đắt về cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn của loại ý thức hệ giả tạo nhưng chết người là : cách mạng bằng cộng sản song đôi cùng lứa với chuyên chính của độc đảng. Mà giờ đây đã qua thế kỷ mới, XXI, ý thức hệ giả mạo diệt người này vẫn giữ quyền lực độc tôn trên đất nước của Việt tộc. Thảm cảnh đã làm nên thảm trạng khi tuyên truyền đã trở thành giáo huấn trong học đường, trong trường lớp, có chỗ đứng trung tâm trong hệ thống giáo dục, từ giáo khoa tới giáo trình, từ giáo lý tới giáo án để tiếp tục tái sản xuất ra chiến tuyến của hai loại người ngay trong lòng một dân tộc : tađịch, ta của Đảng cộng sản Việt Nam gọi tắt là "đảng ta", và những ai không đồng ý với là "những lực lượng thù địch". Từ tuyên truyền tới giáo dục, tất cả nhằm chế tác ra một xã hội, một quần chúng cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối trước tội ác để càng ngày càng vô cảm-vô giác-vô tâm vì vô tri-vô trí-vô minh trước tội phạm gây ra tội ác !

Tổ chức thảm sát chính dân tộc mình

Hãy cụ thể hóa trường hợp của Đảng cộng sản Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử cận đại và hiện đại mà nạn nhân lần này là cả một dân tộc : Việt tộc ! Khi Đảng cộng sản Việt Nam được thành lập năm 1930, thì giai đoạn tội phạm đầu tiên là truy diệt các đối thủ bị xem như " tử thù " có mặt trong chính giới, hiện diện trong chính trường mà nạn nhân là các đảng, các nhóm từ Quốc dân đảng tới Đệ tứ cộng sản… Chính kinh nghiệm giết hại các đối phương, mà dân tộc không có quyền năng và phương tiện để buộc tội, không có pháp luật để truy tố Đảng cộng sản Việt Nam, nên cướp chính quyền bằng bạo lực năm 1945 thì sẽ nắm chính quyền qua bạo hành sau 1954 ; cái ác đã lần mò tới để tổ chức thảm sát chính dân tộc mình qua Cải cách ruộng đất 1956-1958. Bạo lực theo vòng xoáy bạo lực, với đàn anh là Mao tác giả của tử thuyết : "sự thật chỉ nằm trên đầu súng", trong bối cảnh của các phong trào cộng sản mà Liên Xô chủ trương "bạo động cách mạng" để lập "chuyên chính vô sản", thì mọi tội ác được tầm thường hóa với cuộc nội chiến mà Đảng cộng sản Việt Nam đã đưa dân tộc vào tử lộ với hơn 6 triệu đồng bào cả hai miền Bắc Nam bị giết hại. Tầm thường hóa cái ác để bình thường hóa cái bạo chủ mưu của cái tội, thì chuyện bỏ tù (trá hình với tên gọi trại học tập) các trí thức, nghệ sĩ, viên chức… của miền Nam sau 1975 là một quy trình tội phạm vĩ mô trên bình diện quốc gia. Từ đó, chuyện bao triệu đồng bào bỏ trốn chính quyền này bằng đường biển, mà số liệu người bỏ mạng trong biển khơi hoặc bị hải tặc truy giết lên tới nhiều trăm ngàn nạn nhân.

Tầm thường hóa cái độc, bình tường hóa cái tà để làm chỗ dựa cho cái ác

Tầm thường hóa cái độc để bình thường hóa cái tà làm chỗ dựa cho cái ác đối với Đảng cộng sản Việt Nam giờ đã thành "cơm bữa". Bỏ tù những người yêu nước biểu tình chỉ vì hô to "Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam" ; khủng bố những ai bảo vệ môi trường chỉ vì chỉ mặt gọi tên bọn Formosa là bọn giết môi sinh miền Trung của đất nước ; bắt bớ các nhà hoạt động cho dân chủ chỉ vì công bằng và tự do ; truy nã những nhà hoạt động cho nhân quyền chỉ vì muốn sống trong một thể chế pháp quyền, nơi mà tự do được làm người lương thiện phải được bảo vệ bằng pháp luật trước tội ác hằng ngày của chính quyền. Bi nạn của Đảng cộng sản Việt Nam là không muốn nhận ra là thế giới đã tiến quá xa trong thực tiễn toàn cầu hóa, nơi mà dân chủ là trụ cột của lương tri để bảo vệ nhân quyền, là chỗ dựa của nhân vị, bảo đảm nhân vănnhân bản trên cơ sở của nhân đạo, bảo trì nhân tính bằng nhân trinhân trí, nơi mà nhân phẩm là lõi của mọi cuộc đấu tranh đòi tự đo, đòi công bằng. Tất cả hệ nhân này hiện đang nằm trong quỹ đạo của toàn cầu hóa, nơi mà mạng xã hội là mạng truyền thông toàn diện với tin tức trực tiếp, với dữ kiện khách quan trực tuyến, với chứng từ có nội dung công pháp quốc tế ở dạng trực luận.

Bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền

Các chính quyền quốc tế nhìn thế nào về nhân cách của thể chế độc đảng, chế độ công trị của Việt Nam hiện nay ? Họ thấy rõ là các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không có nhân lý, nhân tri, nhân trí khi đối đáp với họ tại Liên Hiệp Quốc hay trên chính trường quốc tế, cùng lúc các lãnh đạo không có nhân tâm, nhân từ, nhân nghĩa, nhân đạo với chính đồng bào của họ, nên mới để thảm cảnh vô gia cư tràn lan khắp các nẻo đường đất nước Việt, hằng triệu con dân Việt phải : bụi đời ! Khi Đảng cộng sản Việt Nam dụng cái thâm, độc, ác, hiểm qua bạo quyền lãnh đạo ăn nằm chung chạ với tà quyền tham quan cùng ma quyền tham tiền để hình thành một liên minh âm binh ô dù-chống lưng-sân sau, thì chính cái thâm, độc, ác, hiểm sinh đôi cùng cái xấu, tồi, tục, dở. Tại đây, thì nhân cách của bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền đã hoàn toàn mất, nên khi chúng ta mô thức hóa liên minh này là một loài âm binh để mô hình hóa các giải luận về thảm nạn vô gia cư tức là đang cùng lúc phân tích sự thất bại tuyệt đối của liên minh âm binh này. Nên khi Đảng cộng sản Việt Nam "tự hào về trật tự xã hội" mà họ đã áp đặt lên dân tộc, đất nước Việt Nam hiện nay bằng các chính sách vô nhân của khuất phục dân chúng để thuần hóa giống nòi, mà chúng ta đã phải vận dụng qua trạng động từ : súc vật hóa ! Nên niềm "tự hào về trật tự xã hội" này chính là thảm bại bi đát nhất của Đảng cộng sản Việt Nam !

Một cơ chế gây tội ác đang diệt quốc thể Việt

Đảng cộng sản Việt Nam đã lấy cái vô nhân để truy, diệt, triệt, hủy cái có nhân, thì niềm "tự hào về trật tự xã hội" chỉ có loài âm binh mới có loại tự hào ma tính này. Một cơ chế gây tội ác đang diệt quốc thể Việt, đã biến một bộ phận của Việt tộc đang lạc loài trong vô gia cư ! Hành động chính trị có chính nghĩa là hành động trên nguyên tắc của công lý. Đây chính là định nghĩa thượng nguồn của mọi động cơ chính trị từ chính giới tới chính khách. Nó chính lý là nên nó chính ngôn trong mọi chính sách mà nội dung là quyết sách vì công lý. Khi tôi phạm trù hóa chế độ độc đảng hiện nay đang vô cư hóa người nghèo tới cảnh khốn cùng vì họ không tự bảo vệ được nhân quyền và nhân phẩm của họ, và chính Đảng cộng sản Việt Nam là tác giả nên cùng lúc cũng là thủ phạm của thảm cảnh này, vì các thảm bại của nó ngay trên thượng nguồn. Độc tài nhưng bất tài trong mọi chính sách về an sinh xã hội. Độc trị nhưng không biết quản trị mọi chính sách về công bằng xã hội. Độc tôn nhưng không biết tôn trọng dân tộc, giống nòi, đất nước… Độc quyền nhưng không biết vận dụng quyền lực để phục vụ bác ái. Vì độc đảng nên độc đoán, gây ra bao độc hại cho Việt tộc trong hiện tại và tương lai, hãy trở lại các định nghĩa căn bản của hành động chính trị để có những quyết sách về an sinh xã hội nhằm phục vụ cho công bằng xã hội, biết tôn trọng dân tộc, giống nòi, đất nước bằng hành động cụ thể là đề cao, vinh danh, thăng hoa bác ái ngay trong mọi hành động chính trị của chính quyền.

Nhân trí của nhân tài còn bị đánh gục rồi vứt ra đường, ra nước ngoài

Chữ nhân không phải là một từ, mà là một phạm trù nhận định giúp con người có nhân và không nhân, mà nhân đây là nhân đạo, nhân từ, nhân tâm, nhân nghĩa làm nên nhân tính để vinh hoa nhân vị trong nhân bản làm nên nhân văn, có văn minh nhân cách trong tiến bộ xã hội. Phạm trù của nhận định này biết mở của mời mô thức phân tích cùng mô hình giải thích nhập cuộc để nhận ra nguyên nhân đã làm nên hiện tượng. Mà hiện tượng cứ kéo dài trong thời gian, trải dài trong không gian, thì hiện tượng này đã biến thành hằng số, và khi gạn đục khơi trong hằng số này thì sẽ nhận ra thủ phạm chính là tác giả đã tạo ra hằng số độc đảng bảo lãnh cho độc tài đảng trị đã là một thảm kịch cho dân chủ vì nhân quyền rồi, mà ngay trên thực tế thì thảm kịch này thành một hoạn cảnh khi độc tài lại bất tài trong quản lý xã hội, đất nước, giống nòi… Chính hoạn cảnh này làm nên hiện tượng luận vô gia cư, với bi kịch của kẻ ăn trên ngồi trốc nhìn đồng bào họ vô gia cư, với vô cảm : bay chết mặc bay ! Độc đảng bảo kê cho độc trị, với tục cảnh của quan hệ-tiền tệ-hậu duệ, nơi mà trí tuệ của nhân tài là nguyên khí của quốc gia cũng bị đánh văng ra đường để chịu nạn cảnh tứ cố vô thân như các đồng bào vô gia cư, không nhà chẳng đất để dung thân. Nơi mà nhân trí của nhân tài còn bị đánh gục rồi vứt ra đường, ra nước ngoài, thì còn nói chi tới dân oan thấp cổ bé họng trước bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham quan, ma quyền tham đất.

Nạn cảnh, bạo cảnh, tà cảnh

Nạn cảnh đã ngày ngày trở thành bạo cảnh với một tà cảnh của độc trị mà không hề biết quản trị ngay trên định đề căn bản nhất của quyền lực chính trị là bảo đảm nguyên lý công bằng xã hội, để bảo toàn nguyên tắc bác ái trong xã hội, vì dân tộc, vì đất nước. Đánh văng nhân đạo, nhân từ, nhân tâm, nhân nghĩa, nhân tính, nhân bản, nhân văn, nhân cách thì chắc chắn đã thành loài : bất nhân, vô nhân, thất nhân rồi ! Tức là không còn là người-của-nhân mà là loại người thấp hơn cầm thú mạnh được yếu thua, ăn tươi nuốt sống đồng loại lại chính là đồng bào của mình. Hiểu để thấu định luận này để rà soát lại Việt sử cận đại là từ khi hệ độc (độc đảng, độc tài, độc trị, độc tôn, độc quyền) lãnh đạo Việt tộc thì nó không đề nghị được bất cứ một nhân lý nào tốt lành, một đạo lý nào hay đẹp cho Việt tộc, mà nó chỉ biết ngày ngày thực hiện bạo cảnh để thể hiện hoạn cảnh có trong bản chất của nó : bạo quyền độc đảng, tà quyền tham quyền, ma quyền tham tiền. Chưa bao giờ Việt tộc có nhiều quan tham như hiện nay, chúng bám vào ung thư đại tràng của hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc tôn, độc trị) của Đảng cộng sản Việt Nam để sinh sôi nảy nở như ký sinh trùng qua hệ tham (tham quyền để trở thành tham quan, dùng tham ô để tham nhũng tham tiền). Mô thức giải thích về bạo quyền lãnh đạo mở cửa mô hình giải luận về tà quyền tham quan, mà cả hai đều có sân sau của ma quyền tham tiền, nên chúng tham đất mà biến dân lành thành dân oan, biến dân đen thành dân vô gia cư.

Sinh sôi nảy nở như ký sinhg trùng qua hệ tham

Không những gọi tên tội phạm, mà còn vạch mặt gọi tên tội nhân, mà không quên là tội nhân đã phản dân hại nước, sẽ sẵn sàng trở thành tội đồ qua buôn dân bán nước cho Tàu tặc đã cướp đất, biển đảo của Việt tộc. Mà chẳng quên Tàu tà đang gieo cảnh Tàu họa với ô nhiễm môi trường qua các nhà máy nhiệt điện, qua công nghệ bẩn kiểu Formosa, đang âm mưu Tàu nạn với thực phẩm bẩn, hóa chất độc. Phải đặt họa cảnh của các đồng bào vô gia cư vào hoạn cảnh mà cả đất nước đang gánh chịu, tại đây thì đồng bào đang có nơi ăn chốn ở đã và đang đồng họa-đồng nạn với các đồng bào vô gia cư rồi trước hoạn-lộ-dẫn-tới-tử-lộ của cả một dân tộc đang đứng trước họa ngoại xâm Tàu tặc-Tàu tà-Tàu họa-Tàu nạn. "Chém cha cái lũ áo dài. Ăn no cho tới mang tai vẫn lần", tổ tiên Việt rất chính khí trong chính ngôn, rất chính ngữ trong chính lý khi dặn dò con cháu : Chém cha cái lũ áo dài. Ăn no cho tới mang tai vẫn lần, nên đồng bào ta hiện nay mới đặt tên chúng là : Nội xâm ! Nội-để-nối, chúng nối giáo cho giặc. Đừng ngờ vực gì nữa mà phải khẳng định là chúng cam tâm cõng rắn cắn gà nhà, chúng sẽ rắc tâm mang voi dày mả tổ trong tà lộ của chúng từ mua chức bán quyền tới buôn dân bán nước. Khi dân lành một sớm một chiều thành dân oan, không đất không nhà, vô gia cư trong cảnh sống nay chết mai với độc chất của độc đảng, độc hại do độc tố bạo quyền-tà quyền-ma quyền, chỉ biết tham quyền lực để nuốt quyền lợi.

Họa cảnh dân tộc, thảm cảnh đồng bào

Từ bao đời này ông bà ta đã vạch ra chân tướng của chúng : "Ăn no rồi lại nằm khì. Mặc cho dân ngẩn, khốn nguy nhọc nhằn" ; chân tướng làm nên chân dung của bọn ngày ngày ăn tàn phá hại tài nguyên đất nước, nguyên khí quốc gia, sinh lực giống nòi : Tằm đau tằm chẳng ăn dâu. Tằm đói ăn ruộng ăn trâu ăn bò. Chân dung nhập hoạn với chân tướng làm nên diện mạo vắng nhân tâm, trống nhân từ của chúng : Trống chùa ai đánh thùng thùng. Của chung ai khéo vẫy vùng làm riêng. Con dân Việt hiện nay hãy giữ vững hệ thức : lấy kiến thức để dựng tri thức, giữ ý thức để tạo nhận thức, tất cả cùng nhau tỉnh thức trước họa cảnh dân tộc, trước thảm cảnh của các đồng bào vô gia cư : Con ơi nhớ lấy câu này/ Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan. Chưa hết, lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã biến đất nước Việt từ quê hương gấm vóc thành một bãi rác mênh mông với môi trường bẩn, với môi sinh độc. Nơi mà Tàu họa từ thủy điện tới nhiệt điện làm ô nhiễm nguồn nước và không khí ; Tàu nạn với công nghiệp luyện thép mà Formosa đã nhiễm ô cả một vùng rộng lớn của miền Trung, song song với Tàu tặc thì chiếm đất, biển, đảo ; song đôi cùng Tàu tà với thực phẩm bẩn, với hóa chất độc đang giết dần mòn từ đất nước Việt tới con người Việt. Nơi mà quê hương Việt từng là nơi sống được, giờ thành nơi khó sống được, để nay mai sẽ thành nơi không sống được. Hãy cẩn trọng : đừng để hai hàm số của hiện tại (nơi khó sống được, nơi không sống được) thành hằng số của tương lai !

Tự cho phép gian lận : "nói một đằng, làm một nẻo"

Trong thực trạng của bi nạn nội xâm tiếp tay cho ngoại xâm), Đảng cộng sản Việt Nam lấy độc đảng để độc quyền, độc tài, độc tôn, độc trị trong bất tài và bất trị. Tham quan của Đảng cộng sản Việt Nam lấy tham quyền để tham ô, tham nhũng, đang làm suy kiệt tới dân tộc, môi trường, đạo lý… tới cùng cực. Tàu tặc cướp đất, biển, đảo song hành cùng Tàu họa gây ô nhiểm môi trường để diệt môi sinh, song đôi với Tàu hoạn qua thực phẩm bẩn đi cùng với hóa chất độc tạo nguồn cho ung thư vĩ mô trên số phận của Việt tộc, làm nên Tàu nạn với bao công trình có quy mô từ cấp quốc gia tới cấp địa phương rơi vào tay Tàu tà. Đảng cộng sản Việt Nam không nhận ra các giá trị của lương tri, vì muốn nhận ra các giá trị của lương tri thì phải để đầy đủ thời gian để đi tìm ra các giá trị ấy. Con đường đi tìm cõi lương tri có kho tàng là các giá trị của lương tâm bắng công thức : Hãy làm hơn cái tôi đã có bằng cách vượt cái tôi đang có ! Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay, mang thực chất của cường quyền, để lại từ khi có chuyên chính-chuyên quyền-lạm quyền, tức là từ khi có độc quyền của Đảng cộng sản Việt Nam, loại chính quyền này cho tự phép họ gian lận "nói một đằng, làm một nẻo", cùng với phản xạ "cả vú lấp miệng em". Nó hoàn toàn trái ngược lại với định nghĩa bình thường của chính quyền, là đưa thực thể của tư duy vào hành động cụ thể trong thực tế xã hội, qua công cụ hợp lý của chính sách, để điều hành các định chế, các cơ chế vì lợi ích của toàn thể.

Muốn tiếp tục vơ vét thì phải dựa vào sự bao che của Đảng cộng sản Trung Quốc

Vơ vét tiền của của đồng bào mình, đưa của cải -cắp và cướp- ra ngoài, không qua Trung Quốc cũng cộng sản như họ, mà qua phương Tây, cùng lúc đưa con cái du học và mua nhà về hướng Bắc Mỹ và Tây Âu, tìm cách "hạ cánh an toàn". Một loại tiếng lóng ôm quyền rất thô tục dựa trên cái vô đạo đức của các chủ nhân chính quyền (từ Bộ Chính trị tới Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam) giữ ghế ở trên để ăn cướp, cùng các tác nhân chính quyền (từ chính phủ tới các cấp của chính quyền địa phương) giữ chỗ ở dưới để ăn cắp. Tầm thường hóa chuyện trộm, cắp, cướp, giựt qua độc quyền-tham quyền-lộng quyền, loại chính quyền đó mang trong bản chất lãnh đạo của họ, mang trong tư duy lãnh đạo của họ : bạo quyền ! Trong đây có một bi kịch đang được ẩn giấu, đó chính là thực thể chính quyền Việt Nam nằm trong tay bạo quyền của Đảng cộng sản Việt Nam, từ đây tạo ra một quốc nạn đang chờ đón Việt tộc ! Ma quyền Tầu tặc đang trùm phủ lên tà quyền quốc nội. Vì Đảng cộng sản Trung Quốc đang trùm phủ lên số phận của Đảng cộng sản Việt Nam, vì các chủ nhân chính quyền cùng các tác nhân chính quyền muốn giữ Đảng cộng sản Việt Nam để tiếp tục vơ vét thì phải dựa vào sự bao che của Đảng cộng sản Trung Quốc, mà Đảng cộng sản Trung Quốc thì không bao giờ rời bỏ ma đạo của họ là xâm lược-xâm lấn-xâm chiếm-xâm lăng đất nước Việt !

Thất bại luân lý, thảm bại đạo lý của người cộng sản

"Đi với ma mặc áo giấy" là bài học cẩn trọng mà tổ tiên để lại, và trong tình hình "chỉ mành treo chuông" hiện nay của kiếp Việt là chúng ta đang bị truy đuổi-truy lùng-truy quét-truy hại không phải bởi một con ma mà ít nhất là hai con ma : Ma quyền Tàu tặc tà quyền quốc nội. Thất bại luân lý, thảm bại đạo lý của người cộng sản là trong thực chất, khi cướp được chính quyền thì chính các đảng cộng sản luôn tạo ra sinh hoạt riêng, đời sống riêng, tổ chức riêng, cơ cấu riêng... chính những cái riêng này mới là thực chất để hiểu rõ bản chất : đứng riêng để đứng trên cái chung của dân tộc, đây là chuyện lừa đảo, dùng chuyên quyền để tham quyền, dụng tham quyền để tham nhũng. Vì cái riêng của họ, dẫn họ vào cái độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc tôn, độc trị) tạo ra cái đặc (đặc quyền, đặc lợi), dành chỗ đặc biệt để "ăn trên ngồi trốc", để ăn riêng (ngon), ở riêng (rộng), đây là khởi điểm báo hiệu ngày tàn của một tập đoàn lãnh đạo (nếu không biết tự thay đổi). Thất bại luân lý vì rỗng luân lý, là thảm bại đạo lý vì trống đạo lý, vì giọng lưỡi "là đầy tớ cho nhân dân" chỉ là xảo ngữ, đã làm họ phải "tự lột mặt nạ" họ, khi họ tạo ra cái riêng thật ưu đãi cho chính họ.

Thất bại luân lý trước mắt dẫn tới thảm bại đạo lý mai sau

Khi họ lấy hằng trăm mẫu đất cạnh thủ đô Hà Nội, với kinh phí hàng ngàn tỷ đồng để tìm cách xây nghĩa trang cho cán bộ cao cấp ! Một hành động bất chính trắng trợn : lấy tiền người sống để phục vụ cho họ, kể cả khi họ đã rời cõi đời này ! Nếu đúng "là đày tớ cho nhân dân" thì tại sao không lấy tiền này để lo cho dân đen, dân oan ? Từ thất bại luân lý này qua thảm bại đạo lý kia, họ còn tự tạo ra đặc lợi riêng là buôn bán cả trên danh nghĩa của các liệt sĩ, bằng cách xây các tượng đài liệt sĩ, cũng hàng ngàn tỷ. Họ có thấy là người sống không có nhà phải vào ở trong nghĩa trang để sống, họ có thấy là các người dân nghèo đang ăn xin chung quanh các tượng đài liệt sĩ. Thất bại luân lý trước mắt dẫn tới thảm bại đạo lý mai sau, chính cái riêng, cái độc, cái đặc đang nạo diệt cái chung ngay trong tư duy của lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam, ngày ngày đưa họ xa cái đồng cam-cộng khổ, cái thương nước-trọng dân, cái vì dân-vì nước, họ làm lãnh đạo mà quên các phương châm này thì khoa học lãnh đạo có thể nhắc họ là : họ đang tự đào mồ mà chôn chính họ !

Không biết học tổ tiên, không biết học láng giềng đã thành công, không biết học thế giới văn minh

Cái độc (độc đảng, độc quyền, đôc tài, độc tôn, độc trị) luôn là ổ rắn cho chuyện phát triển cho cái bạo (bạo quyền, bạo động, bạo hành, bạo giới), liên minh giữa độc và bạo sinh ra lầm than trong nhân dân, làm đảo lộn mọi bậc thang tâm linh và tri thức có thể truy diệt được nếu lãnh đạo có bản lĩnh của minh quân, có tầm vóc của minh chúa, có nội công của minh chủ (trong lúc chờ đợi dân chủ rồi nhân quyền thực sự tới với Việt tộc). Chuyện này đã có trong Việt sử qua Đinh Tiên Hoàng, Lý Thái Tổ, Trần Nhân Tông, Lê Thánh Tôn... biết lấy tâm linh để chỉ đạo, biết dụng tri thức để lãnh đạo. Các lãnh đạo hiện nay của Đảng cộng sản Việt Nam đừng ngụy biện là không có gương sáng, không có mô hình hay, không có khuôn mẫu đẹp để lãnh đạo, hãy học kỹ ba điều có thực trước mắt : học tổ tiên, học láng giềng đã thành công, học thế giới văn minh đang đặt tiền đề cho hiện hữu tâm linh-tri thức cho một nhân loại tốt lành giữa toàn cầu hóa hiện nay. Chúng ta thấy rõ được thảm trạng của Việt tộc hiện nay, là kẻ nào được Đảng cộng sản Việt Nam bảo kê, từ đảng viên tới tham quan, từ lãnh đạo tới gian thương sống nhờ lãnh đạo, thì kẻ đó dùng tiền của để sống tách biệt, cách xa với dân chúng đang trong quá trình dân đen hóa.

Đi ngược-đi lách-đi ngang-đi chéo

Đảng cộng sản Việt Nam đã và đang đi ngược-đi lách-đi ngang-đi chéo quá trình chính trị công minh-chính sách công bằng-chính giới công tâm. Có nhiều phương pháp luận để tổ chức chính sách phân phối lại cho đại chúng, bằng ngân sách, qua các dịch vụ chính thức phục vụ đại chúng, qua trung gian của công pháp, qua cầu nối của công sở, qua mạng lưới của cộng đồng, trong đó hai dịch vụ tối thượng-vì-tối hậu là : y tế và giáo dục, sau đó huấn luyện và đào tạo, kế đến bảo hiểm xã hội đi đôi bảo trợ các công trình nhân đạo... tất cả đây đều là : lương tri của một chính sách, lương tâm của một chính phủ, lương thiện của một chính quyền ! Khốn nạn là Việt tộc hiện nay không hề được hưởng ba chữ lương này ! Trong lịch sử chính trị của các quốc gia văn minh, có chính trị học để nhận định chính trường, có triết học chính trị để phân tích bổn phận của chính giới, có xã hội học chính trị để giải thích trách nhiệm của chính khách thì lý luận về công bằng là nguồn cội của mọi lập luận về công lý, cụ thể là không thể nào định nghĩa về công lý, mà không kèm theo một định nghĩa có tính thuyết phục cao về công bằng. Đây là một lỗi đã trở thành tội của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam đã tạo ra bất bình đẳng qua đặc quyềnđặc lợi cho đảng viên, từ cán bộ địa phương tới lãnh đạo trung ương, từ đó tạo ra bất công sâu xa ngay trong xã hội.

Liên minh bạo quyền lãnh đạo-tà quyền tham quan-ma quyền trọc phú

Các khẩu hiệu Đảng là đầy tớ của nhân dân chỉ là loại xảo ngôn của gian dối để lừa đảo ở mức trắng trợn vì các khẩu lịnh này rất thô bỉ với sự thực là Đảng cộng sản Việt Nam đã ngồi xổm lên tất cả ! Từ hiến pháp tới tư pháp, chà đạp công lý, vùi dập công pháp, chôn sống công luật. Tại Việt Nam hiện nay, ta thấy rõ qua bạo quyền độc đảng, tà quyền tham quan, ma quyền buôn đất thì tự do của một tên đầu nậu đất đai đã chia chác với các nhóm lợi ích trong chính quyền thì hoàn toàn rộng lớn và chúng "có tự do để giết tự do của dân chúng", để biến dân chúng thành dân oan. Như vậy, tự do phải được nhận định và định nghĩa qua không gian cụ thể, nơi mà bọn bạo quyền, tham quan, ma đất dùng các phương tiện của quyền lực sẵn có trong tay chúng để hủy, diệt, loại, bỏ tự do của dân oan, vừa không có quen biết trong quyền lực, vừa không có các phương tiện pháp quyền để tự bảo vệ tự do của chính mình. Tự do của một con cáo đang lộng hành giết chóc các con cừu trong chuồng mà các nạn nhan không có lối thoát, thì đây không phải là tự do mà là sát hại ! Tự do của liên minh bạo quyền lãnh đạo-tà quyền tham quan-ma quyền trọc phú khi chúng tự do dùng phương châm ma đạo của chúng là : "có tiền mua tiên cũng được", thì đây không phải là tự do trong liêm sỉ mà là hành động âm binh sát hại đồng bào.

Cái bạo của quyên, cái tà của quan

Đảng cộng sản Việt Nam đã tạo ra bao thảm kịch nghèo nàn lạc hậu trên lưng, trên vai, trên đầu của Việt tộc, thì lối ra lâu dài là đưa hệ đa vào sinh hoạt chính trị, lấy đa đảng để có đa trí trong xây dựng lại xã hội, lấy đa tài làm nên đa năng, tạo ra đa hiệu từ chính trị tới kinh tế, từ giáo dục tới văn hóa…Và trước mắt là phải trở lại nhận thức về sự thật đa chiều, đa dạng của không gian chính trị, từ đó có hành động chính trị dựa trên công bằng, để có tổ chức chính trị dựa trên công lý. Với cách giải thích bất chính trong ngây ngô tại sao dân tộc phải mang ơn một đảng độc tài nhưng bất tài, gây bao hậu quả từ tiêu xài đến cạn kiệt tài nguyên của đất nước tới đưa ngoại xâm qua con đường công nghiệp gây ô nhiễm môi trường của đất nước, từ luyện thép kiểu Formosa tới các nhà máy than điện trên khắp các vùng miền, đang tạo ra các làng ung thư (một thảm kịch mới cho Việt tộc), song đôi cùng mưu đồ thâm hiểm qua đường thực phẩm bẩn, với hóa chất độc của Tàu tặc.

Cái uy trong quyền lực chính trị tới từ cái thiện của công bằng, cái đúng của công lý, nó hoàn toàn trái ngược với cái bạo của quyền, cái của quan, nơi mà bạo quyền và tham quan dựa trên bạo lực để vơ vét qua cách hành xử của Đảng cộng sản Việt Nam đối với dân tộc hiện nay. Ở đây không có một cái uy nào cả, mà chỉ là hành vi hiếp, giành, trấn, lột tạo tiền đề cho hành động trộm, cắp, cướp, giật, chính loại hành vi này, chính kiểu hành động đang nạo rỗng cái uy của bè đảng cầm quyền, nơi mà cái uy đang bị siết cổ bởi cái giancái giật.

Bi kịch của bọn bám quyền chỉ vì tư lợi ích kỷ

Bi kịch hiện nay của các dân tộc ít người vùng sâu, vùng xa, vì không phải là dân tộc kinh nên phải nhận lãnh những bất công không sao lường hết, tạo ra bao nghèo nàn lạc hậu. Và, bi kịch này sẽ là thảm kịch dẫn tới các xung đột giữa các dân tộc ít người và dân tộc Kinh, khi hệ thống bạo quyền trung ương qua các nhóm lợi ích đã thông đồng với các tà quyền tham quan địa phương, cùng tổ chức cho bọn ma quyền lâm tặc chặt cây, phá đồi để buôn gỗ, bán rừng, hủy môi trường, diệt môi sinh của các dân tộc anh em của các vùng xa, vùng sâu. Một chính quyền có nhận thức về công lý chính trị bằng hệ lương (lương thiện trong hành động vì có lương tâm trong lãnh đạo làm nên lương tri cho chính sách) thì không bao giờ hành xử như Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay. Bi kịch của bọn bám quyền chỉ vì tư lợi ích kỷ mà không có một nhận thức nào về công sản chính trị chính là thảm kịch của Việt tộc hiện nay, với Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã nạo bán tài nguyên đất nước để bỏ túi bằng con đường tham nhũng, rồi chuồn tẩu tiền của qua tham ô của chúng qua phương Tây. Chính tư lợi qua tham nhũng với não trạng ích kỷ vô luân, ẩn sâu trong lòng tham không đáy, nên chúng mới tổ chức các đường dây xuất khẩu lao động để đàn ông Việt làm lao nô, phụ nữ Việt làm tiện tỳ cho các quốc gia láng giềng. Sự bất chính này sẽ không có giới hạn khi tư lợi chỉ thấy độc lợi trong độc đạo của nó, và chúng sẵn sàng đi từ phản dân hại nước tới buôn dân bán nước cho Tàu tặc !

Đảng cộng sản Việt Nam không hề quản lý để phát triển mà chỉ cai trị bằng bạo quyền

Hãy tỉnh táo để có sáng suốt khi đi tìm định nghĩa về tự do, từ chính trị tới xã hội, từ kinh tế tới văn hóa… khi ta đặt tự do trong quyền lực chính trị, của chính quyền độc đảng trong thực trạng tự do cạnh tranh qua bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, ta sẽ thấy, họ sẽ dùng tự do chính trị để tạo ra các bất công mới, mà ý đồ là để duy trì chế độ độc đảng. Thí dụ quá trình hội nhập vào kinh tế thị trường khi cho phép các doanh nghiệp ngoại quốc vào đầu tư tại Việt Nam với lực lượng lao động Việt dồi dào nhưng lương bổng thấp, bảo hiểm xã hội tồi, an sinh xã hội kém, luôn đi cùng với các chính sách xuất khẩu lao động, biến con dân Việt thành lao nô, nô tỳ cho các nước láng giềng. Chưa bao giờ trong xã hội Việt lại có sự chênh lệch về bất bình đẳng cao một cách bất thường như hiện nay, với các "đại gia" vỗ ngực là "tỷ phú" nhưng tri thức chỉ là "trọc phú" có mức sống xa hoa trong sa đọa, ngày ngày nhìn-mà-không-thấy nỗi khổ niềm đau của dân oan, dân đen, đang dở chết dở sống để sinh nhai ; sống mà không sao vượt qua khó khăn với quá nhiều mức thuế trên lưng, trên vai, trên đầu, và cùng lúc thì chính bọn bạo quyền, tham quan, ma đất… đã tránh được thuế qua tà đạo tham ô và tham nhũng của chúng. Không là chủ thể chính trị để sáng tạo trong lãnh đạo, Đảng cộng sản Việt Nam không hề quản lý để phát triển, mà chỉ cai trị bằng bạo quyền độc đảng, để bảo về đặc quyền, đăc lợi, đặc ân cho chính nó, sai lầm này là chỉ báo rõ nhất về ngày tàn không tránh khỏi của Đảng cộng sản Việt Nam.

Lê Hữu Khóa

(28/05/2021)

 


[1] GIÁO LUẬN (l’argumentation éducative). Anthropol-Asie. Paris

[2] NGHỆ LUẬN (l’argumentation artistique). Anthropol-Asie. Paris.

[3] SỬ LUẬN (l’argumentation historique). Anthropol-Asie. Paris

[4] OAN LUẬN (l’argumentation contre l’injustice). Anthropol-Asie. Paris

[5] TỰ LUẬN (l’argumentation libérée pour la liberté). Anthropol-Asie. Paris

[6] ĐỒNG LUẬN (l’argumentation fondatrice de la nation). Anthropol-Asie. Paris

[7] VIỆT LUẬN (l’argumentation vietnamienne). Anthropol-Asie. Paris

[8] TỔNG LUẬN. I (l’argumentation synthétique. 1). Anthropol-Asie. Paris

[9] TỔNG LUẬN. II (l’argumentation synthétique. 2). Anthropol-Asie. Paris

---------------------

lhk0 Lê Hữu Khóa

Giáo sư Đại học Lille

Giám đốc Anthropol-Asie

Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á

Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCOLiên Hiệp Quốc

Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa Paris

Thành viên hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Đông Nam Á

Hội viên danh dự ban Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới.

Các công trình nghiên cứu việt nam học của giáo sư Lê Hữu Khóa, bạn đọc có thể đọc và tải qua Facebook VÙNG KHẢ LUẬN-trang thầy Khóa.

Published in Tư liệu
vendredi, 28 mai 2021 20:00

Giải luận 6 : Quyền lực

Quyền lực

quyenluc1

Bạo cực cuồng quyền

Tôi chống bạo quyền không chỉ vì nó dùng bạo lực với đồng bào tôi, bạo hành với giống nòi tôi, mà tôi chống bạo quyền vì trong não bộ của nó không có chỗ đứng cho nhân vị của tha nhân mà chính tôi cũng chưa được gặp. Tôi chống cực quyền không chỉ vì nó cực đoan để độc quyền, cực độc để toàn quyền, mà tôi chống cực quyền vì não trạng của nó không có ghế ngồi cho nhân giáo của tổ tiên tôi mà chính tôi cũng chưa được gặp. Tôi chống cuồng quyền không chỉ vì nó cuồng mê trước đặc quyền của nó, cuồng điên trước đặc lợi của nó, mà tôi chống cuồng quyền vì não dại của nó không có giường nằm cho các đồng loại của tôi đang thập tử nhất sinh với bao nan bịnh vì đã là nạn nhân của nó !

Biệt tích âm binh

Tôi tuổi nặng sắp qua đời, tôi có giữ 5 chiếc chìa khóa của 5 con đường hầm đầy những âm binh luôn muốn trồi lên cõi người để đoạt hồn nhân sinh. Tôi muốn trao lại bạn, để bạn thay tôi canh giữ cõi đời, bảo vệ cõi người.

Chìa khóa thứ nhất là cửa đóng chận luồng lửa bạo quyền của công an trị. Chìa khóa thứ nhì là cửa đóng chận luồng âm khí tà quyền của tham nhũng trị. Chìa khóa thứ ba là cửa đóng chận luồng nước đen ma quyền của tham tiền trị. Chìa khóa thứ tư là cửa đóng chận luồng sát khí cực quyền của gia đình trị. Chìa khóa thứ năm là cửa đóng chận luồng sát nhân cuồng quyền của đảng trị.

Nếu bạn không muốn giữ năm chiếc chìa khóa của năm con đường hầm để chận bọn âm binh này, thì bạn không nên trao cho một ai khác nhé, đừng để bất cứ một ai mở các đường hầm này để phóng thích bọn âm binh này. Nếu bạn không muốn giữ nữa, thì hãy ném các chìa khóa này xuống đại dương sâu, cho mất chúng mất tăm, mất tích, để các chìa khóa này biền biệt miệt đâu đâu ; để âm binh phải sống nơi âm giới, chúng không xứng đáng sống cõi người…

quyenluc2

Cái ác : cường độ, mức độ, mật độ

Hằng số bạo quyền trong hằng sử cuồng quyền chính là đường đi nẻo về của cái ác cực đoan để có cực quyền, khi nó muốn cai trị nhân sinh, thống trị nhân thế, quản thúc nhân loại, chỉ bằng cái ác vận dụng để giết cái tâm, diệt cái lý, chôn luôn cái luật. Nó tự cho nó cái quyền sinh sát : muốn giết thì giết, muốn diệt ai thì diệt. Cái ác cực đoan vì cực quyền có vóc dáng vĩ mô của nó trong điều tra định lượng nơi mà cái ác đã giết hại, truy diệt, thảm sát hàng trăm triệu người trong các chế độc do độc đảng cộng sản toàn trị, hơn hàng chục lần con số tử vong của mỗi cuộc thế chiến trong thế kỷ XX vừa qua, nó hiện diện trong Cải cách ruộng đất 1954-1960, với hàng trăm ngàn nạn nhân.

Khi cái ác cầm quyền

Khi cái ác cầm quyền thì nó đã cầm dao bằng tay phải, cầm súng tay trái, bụng đeo lựu đạn, vai đội đại bác, lưng cõng bom, mà miệng của nó đã nuốt chửng công bằng lẫn công lý từ lâu. Tự thân của cái ác không có luân lý của cái thiện làm nên bổn phận đồng bào phải đùm bọc nhau, với trách nhiệm đồng loại phải che chở nhau. Trong bản chất của cái ác không có đạo lý bầu ơi thương lấy bí cùng, làm nên đạo đức một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ ; để bảo vệ giáo lý của dân tộc, của giống nòi là : máu chảy tới đâu ruột đau tới đó. Nên nội chất của cái ác chính là độc tố của nó, sẵn sàng xóa trắng lương tâm, nên cái ác trống lương tri vì vắng lương thiện, hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri) không có chỗ đứng ghế ngồi trong thâm tâm nó, vì cái ác nạo luân lý, nhổ đạo lý, bứng đạo đức.

Cái ác : từ hiện loạn tới hậu nạn

Kẻ ác hành tác trong toan tính một chiều, nó là đứa trống vắng ý thức về các hậu quả làm ra bao hậu nạn mà kẻ ác là thủ phạm trực tiếp, gián tiếp ; nên khi chúng ta nghiên cứu về cái ác, thì không nên ngừng ở động thái ác mà phải đi sâu, đi xa hơn nữa để cân, đo, đong, đếm các hậu quả bây giờ sẽ thành chướng nghiệp với các hậu nạn mà các nạn nhân của cái ác phải nhận lãnh, đừng trông chờ kẻ ác lường hết mọi hiện loạn sẽ làm nên bao hậu nạn từ những hành động ác của nó.

Cái ác : gần cái chết, xa sự sống

Khi cái ác xuất hiện, nó thường là hiện thân cho cái chết, nó hăm dọa là sẽ giết hại các nạn nhân của nó nếu các nạn nhân này không tuân phục ý đồ của nó ; nó răn đe là sẽ tiêu diệt những cá nhân, những tập thể, những cộng đồng nào không tuân thủ các toan tính của nó ; nó quát nạt là sẽ truy sát những chủ thể, những phong trào, những nhân tố nào không phục tùng các âm mưu của nó. Từ hăm dọa, răn đe, quát nạt tới bắt bớ, tù đày, tra tấn chỉ là một bước ngắn đối với cái ác ; từ nhục hình, khổ hình, cực hình tới giết chóc, ám sát, tử hình, thủ tiêu chỉ là một bước gọn đối với nó. Cái ác sử dụng, vận dụng, tận dụng cái chết để gây sợ hãi, gieo kinh hoàng, tạo khiếp đảm giữa sự sống, bằng cách cái ác tự vỗ ngực xưng danh, tự đại diện cho cái chết để đe nẹt sự sống. Gần cái chết, xa sự sống, cái ác ăn ngủ không yên trong thời hiện đại của truyền thông trực tiếp, nơi mà toàn cầu hóa thông tin là hùng lực của sự thật, sung lực của chân lý, mãnh lực của lẽ phải.

Cái ác : mượn người để giết người

Phải tập hợp cả ba loại mặc cảm : mặc cảm tự ti, mặc cảm tội lỗi, mặc cảm bất nhân để đi sâu vào tâm bệnh của cái ác, nơi mà tâm thần học giải thích được phản xạ giết người diệt nhân luôn bị mất thăng bằng trên dàn phóng của cái chết. Giết người diệt nhân chính là giết người diệt thức, trong Việt sử kẻ ác giết không những chỉ Nguyễn Trãi, mà kẻ ác còn thi hành tru di tam tộc, giết từ gốc rễ lên tới tận ngọn cành. Truy diệt hệ nhân (nhân từ, nhân tâm, nhân nghĩa, nhân đạo, nhân lý, nhân tính, nhân bản, nhân văn, nhân vị, nhân quyền) để ám sát hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri), rồi tận diệt hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức, tỉnh thức), phải truy cùng diệt tận cả ba hệ này, cái ác mới tồn tại, kẻ ác mới tiếp tục ác thêm.

Tri thức kháng quyền lực

Hãy sáng ra quy luật kiếp chống kiếp, bằng cách lấy kiếp riêng chống lại kiếp chung, nếu kiếp chung là sản phẩm của khuất phục, hậu quả của nô dịch, tai ương của bất công, thì kiếp riêng phải đứng lên, đứng ra để nhập cuộc cho chuyện đổi kiếp, và nếu làm được chuyện này thì kiếp riêng thông minh vô cùng, vì nó có sức thao lược vô song. Chuyện một đời trí thức là chuyện lấy lý luận của kiếp riêng để soi sáng vừa bằng kiến thức, vừa bằng lập luận để thay đổi theo hướng thăng hoa kiếp chung, mà muốn làm được chuyện này thì phải hiểu ngay từ thượng nguồn câu chuyện thế nào là kiếp chống kiếp. Khi triết học, sử học, xã hội học hợp lực để thấy cho thấu các hiện tượng khuất phục, nô dịch, bất công từ đâu ra ? Chúng có cùng cha sinh mẹ đẻ của chúng là quyền lực, mà tham quyền có trong chất người. Phạm trù quyền lực không những có trong chính trị, chính quyền, chính phủ mà có trong mọi cơ chế từ kinh tế qua văn hóa, từ thương mại qua giáo dục, từ nghệ thuật qua tâm linh... Để nhận diện ra là lãnh thổ của quyền lực có ở mọi nơi, chúng bất chấp biên giới, bao trùm lên kiếp người, có ngay trong phản xạ kẻ hiếp kiếp người, có ngay trong hơi thở rụt rè của kẻ bị cướp kiếp lành của mình. Quyền lực không những bao trùm tất cả mọi sinh hoạt xã hội, mọi quan hệ cộng đồng, mọi dự phóng tập thể, nó lan tỏa ngay trong khoa học, pháp lý, tình cảm là những lãnh vực được quý trọng nhất trong nhân sinh.

Tham quyền để lạm quyền

Câu chuyện dùng quyền lực để có quyền lợi từ đây mà ra tham quyền để lạm quyền cũng từ đây mà sinh sôi nẩy nở, nếu phải nghi ngờ các câu hỏi thì ta phải nghi ngại luôn các câu trả lời, nhất là các câu trả lời có sẵn công thức, có sẵn mô hình, có sẵn kinh nghiệm, vì kẻ trả lời cũng mang ý muốn-ý định-ý đồ đưa ta vào chủ ý-chủ đạo-chủ trương của họ. Chuyện này hoàn toàn đúng và được kiểm nghiệm mỗi ngày trong các chế độ độc tài và các chế độ toàn trị, kiểm soát nhân sinh bằng các câu hỏi kiểu công an trị với các câu trả lời kiểu quân đội trị.

quyenluc3

Sự thật chính trị

Chính định nghĩa về sự thật làm nền cho mọi hành động chính trị, sẽ loại khỏi ra sinh hoạt chính trị ít nhất là ba độc tố : thứ nhất là ý thức hệ không hề dựa vào sự thật ; thứ nhì là tuyên truyền độc tài không hề bám vào sự thật ; thứ ba là tuyên giáo độc đảng thì bất chấp sự thật. Chúng ta hãy đi xa hơn nữa trong định nghĩa về sự thật để tìm ra các định luận làm rễ cho mọi hành động chính trị có thực chất của hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri) đi tìm hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức) : không chỉ có một sự thật mà có nhiều sự thật, sự thật của nghệ thuật không phải là sự thật của kinh tế, và sự thật của khoa học không phải là sự thật của chính trị… Vậy thì, sự thật chính trị phải dựa trên một định nghĩa : sự thật là quá trình của thực tế làm nên quy trình cho thực tại, tại đây chính quá trình khi trở thành quy trình thì bản thân nó là kết quả của một công trình, hay ngược lại là hậu quả của một tác hại ngay trên dân tộc và đất nước mà chính quyền là thủ phạm.

Công trình của hành động chính trị

Tại sao lại đặt vấn đề một công trình của hành động chính trị ? Tại sao lại dùng ngữ pháp công trình ? Ta hãy đi xa thêm nữa trong lý luận : hành động chính trị mang đến kết quả tốt cho dân tộc, đưa đến hiệu quả hay cho nhân dân là một hành động đặc thù của một cá nhân lãnh tụ, một tập thể lãnh đạo có tính nhân quả tích cực lâu dài trong thời gian, rộng rãi trong không gian. Nó thay đời đổi kiếp cho đồng bào, cho đồng loại theo hướng thăng hoa, nó sẽ mang giá trị phổ quát cho nhân loại. Từ hành động đặc thù để có kết quả đặc trưng làm nên giá trị phổ quát cho mai hậu đây chính là định nghĩa để giải luận mọi hành động chính trị ; và "nói gần nói xa không qua nói (sự) thật" là cả thế kỷ XX cho tới thế kỷ XXI, Việt tộc chưa thấy một hành động chính trị nào có bản lĩnh của là kết quả một công trình đặc thù, có tầm vóc làm nên giá trị phổ quát cho Việt tộc.

Hành tác chính trị

Hành tác chính trị là động tác đưa vào hành động chính trị vào không gian và thời gian của sinh hoạt chính trị được điều hành bởi quyền lực chính trị (nắm chính quyền, lập chính phủ, dựng chính sách), nơi mà hiệu quả của hành tác chính trị được nhận định và đánh giá qua hiệu quả chính trị khi một cá nhân lãnh tụ, hay một tập thể lãnh đạo có quyền lực trong tay. Định nghĩa chính trị học này dùng quyền lực để nhận diện ra hành tác chính trị thật ra chưa đủ và chưa đúng, vì sau kinh nghiệm dân chủ đa nguyên của nhân loại trong hai thế kỷ qua, tại đây chính đa nguyên dựa trên đa đảng liên tục sáng tạo ra đa trí, đa tài, đa năng, đa hiệu… bó buộc chính giới và chính khách phải nới rộng ra định nghĩa này.

Nguồn cội công lý

Trong lịch sử chính trị của các quốc gia văn minh, có chính trị học để nhận định chính trường, có triết học chính trị để phân tích bổn phận của chính giới, có xã hội học chính trị để giải thích trách nhiệm của chính khách thì lý luận về công bằng là nguồn cội của mọi lập luận về công lý, cụ thể là không thể nào định nghĩa về công lý, mà không kèm theo một định nghĩa có tính thuyết phục cao về công bằng. Đây là một lỗi đã trở thành tội của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam đã tạo ra bất bình đẳng qua đặc quyềnđặc lợi cho đảng viên, từ cán bộ địa phương tới lãnh đạo trung ương, từ đó tạo ra bất công sâu xa ngay trong xã hội. Các khẩu hiệu Đảng là đầy tớ của nhân dân chỉ loại xảo ngôn của gian dối để lừa đảo ở mức trắng trợn vì các khẩu lịnh này rất thô bỉ với sự thực là Đảng cộng sản Việt Nam đã ngồi xổm lên tất cả ! Từ hiến pháp tới tư pháp, chà đạp công lý, vùi dập công pháp, chôn sống công luật.

Tự do chính trị

Tự do chính trị là một phạm trù gây ngộ nhận nhiều nhất trong không gian chính trị, khi ta nghiên cứu về chính trị, chính giới, chính khách khi có chính quyền trong tay, vì bản thân sự hiểu biết chủ quan về tự do là một con dao hai lưỡi ; và các thể chế độc đảng, các chế độ độc tài luôn dùng cách hiểu tự do chính trị tà đạo nhất để lập bạo quyền : có chính quyền là có quyền lực, thì muốn làm gì thì làm ! Gây ra những hậu quả không sao lường được, mà trên thượng nguồn là cách hiểu sai lệch về tự do, vì phạm trù tự do là một phạm trù không có quy phạm, cụ thể là không có mô thức tuyệt đối của đạo lý để kiểm soát nó, không có mô hình phổ quát của luân lý để kềm chế nó.

Con đường đạo lý chính trị

Đạo lý chính trị là hành trình của chính giớichính khách dùng chính quyền để thực thi các chính sách, để đi tìm các điều hay, đẹp, tốt, lành cho quốc gia, cùng lúc bảo vệ văn hóa, bảo đảm văn minh, bảo tồn văn hiến cho dân tộc. Trên con đường đạo lý chính trị này, lịch sử chính trị thế giới vạch rõ cho ta một chân lý là chính quyền của trong các thể chế độc tài qua độc đảng là chính quyền của giai cấp thống trị, nhưng thực chất là của các nhóm lợi ích chóp bu có tổ chức như những tập đoàn tội phạm kiểu mafia, tức là khi chúng không lấy, giành, đoạt, chiếm được thì chúng sẽ trộm, cắp, cướp, giật. Loại chính quyền này hoàn toàn khác với chính quyền của đa số quần chúng qua đầu phiếu trong các cơ chế dân chủ, lấy cải tổ xã hội thay cách mạng sắt máu, lấy cải cách xã hội để xóa đói giảm nghèo, qua các chính sách lấy công bằng của công pháp để giới hạn bất bình đẳng trong xã hội ; lấy công lý qua công luật để ngăn chặn bất công trong xã hội. Nhân loại cũng đã đi và đã có kinh nghiệm qua các con đường từ tập thể hóa tới quốc hữu hóa các phương tiện sản xuất để giới hạn, để ngăn chặn chuyện người bóc lột người, để ngăn bất bình đẳng, để chặn bất công. Nhưng con đường này có giới hạn của nó, mà hiện nay các quốc gia càng dân chủ, các dân tộc càng văn minh thì phải tìm thêm các con đường mới, nơi mà nhân vị được bảo đảm bởi nhân quyền trong công bằng và tự do, mà không quên bác ái.

Có quyền-lạm quyền-nắm quyền-tham quyền

Hãy công nhận một chân lý là khi một cá nhân, một tập thể, một đảng phái : có quyền rồi thì sẽ lạm quyền. Sự thật chính trị nắm quyền rồi lạm quyền, chân lý chính trị lạm quyền vì tham quyền tạo ra ung thư chính trị qua phương trình có quyền-lạm quyền-nắm quyền-tham quyền. Loại hoạn bịnh chính trị này bất chấp lẽ phải của luân lý chính trị, bất kể đạo đức chính trị làm nên nhân đức của một chính thể, vì vậy nên đạo lý chính trị phải bảo đảm hằng ngày vai trò trọng tài để cai quản và canh giữ chính quyền. Vì mọi công dân liêm chính đều có quyền nghi ngờ và nghi ngại loại hoạn bịnh chính trị : có quyền-lạm quyền-nắm quyền-tham quyền này ! Tại sao khi ta là công dân mà lại đặt câu hỏi này : chính trị là gì ? Ta đặt câu hỏi này nhưng chính ta phải tự tìm câu trả lời : Ta đặt câu hỏi này tại vì tôi không muốn bị lừa bởi chính trị !

quyenluc4

Quyền lực đen

Quyền lực đen, đây là khu vực mà xã hội đen chỉ là âm binh, còn bọn nắm quyền lực đen là những âm tướng, mà có khi chúng tự vỗ ngực là âm chủ, mà hành động luồn lách trong tà quyền, với hành tác chui nhủi trong ma quyền, mà các chuyên gia đã nhận diện ra chúng ngay trong hệ thống bạo quyền độc đảng toàn trị hiện nay. Chúng có mặt trong não bộ đen của cực quyền, trong não trạng đen của cuồng quyền, đối với Đảng cộng sản Việt Nam, thì chúng là tác nhân ngay trong cột xương sống hàng dọc : Bộ Chính trị, Ban bí thư trung ương, Ban tổ chức trung ương ; cùng đồng điệu với bộ xương vai hàng ngang : Bộ Công an, Bộ Quốc phòng.

Nội bộ : ung thư nội tạng đại tràng

Quyền lực đen sẵn sàng cướp ngày, giết đêm mọi công dân nạn nhân đang đấu tranh giữ đất của mình. Bộ Công an ngày ngày có phản xạ cướp đất giết người, là trung tâm tập hợp bọn thích giết người để lấy đất, bọn thích tra tấn nhân dân trong nhục hình để ép cung. Một đất nước mà số tử vong trong đồn công an, trong các trại tù có thống kê cao bất thường bởi cách hành xử bất nhân, cách hành sát thất đức của chúng. Từ Thủ Thiêm tới Đồng Tâm, mọi vùng miền của đất nước đều có dân oan, nơi mà các chuyên gia gọi tên Việt Nam là một cường quốc dân oan. Như vậy, trong hệ thống bạo quyền độc đảng toàn trị này, thì chúng không quá 50 tác nhân, vừa là thủ phạm, vừa là tội đồ của bạo quyền công an trị, tà quyền tham nhũng trị, ma quyền tham tiền trị, cực quyền bạo lực trị và cuồng quyền thanh trừng trị. Khi đi vào sâu trong khảo sát, để đi rộng trong điều tra, để đi xa trong điền dã, rồi leo ngược lên hệ thống quyền lực đen này, thì ung thư nội tạng ngay nội bộ buôn dân bán nước đã thành đại tràng qua mua chức bán quyền tràn lan ngay trong xã hội.

Chủ thể Việt tộc

Một chính quyền mới với các chủ thể Việt tộc quý văn minh dân chủ, trọng văn hiến nhân quyền, nhận trọn vẹn bổn phận với dân tộc, nhận đầy đủ trách nhiệm với giống nòi là : thiếu nợ thì phải trả nợ ! Không rơi vào thói tham quan thô bỉ của tham quyền thô tục trong chế độ độc đảng trị tham nhũng trị là vơ vét của cải tiền tài của dân tộc cùng tài nguyên, quặng mỏ của đất nước, và khi Tàu tặc giở trò thôn tính, xâm lăng, đồng hóa Việt tộc, thì bọn tham ô này sẽ cao bay xa chạy qua các nước phương Tây.

Nợ công

Các chủ thể Việt tộc quý văn minh dân chủ, trọng văn hiến nhân quyền, sẽ có mặt trong chính quyền mới có bổn phận với dân tộc, có trách nhiệm với giống nòi cũng phải luyện tập xa lánh luôn thái độ ích kỷ trong vô trách nhiệm, hành vi vị kỷ trong vô minh của một số chính quyền phương Tây. Họ mang tiếng là quý văn minh dân chủ, trọng văn hiến nhân quyền với nan bịnh : "Không muốn có bịnh, không muốn chữa bịnh, không muốn bị lây bịnh ngay bây giờ". Đây là chuyện mà ta thấy rất rõ trong nửa thế kỷ bị nợ công của Tây Âu và Bắc Mỹ, không nhận nợ công, giả vờ không muốn nợ công, làm bộ không bị lây nợ công, nhưng thật ra nợ công đã nhiều nên đã đè nặng trên vai bao thế hệ trẻ đã và chưa ra đời. Không xem nợ công là khủng hoảng, là nan bịnh để thật lòng mà chạy chữa cho hết bịnh thì đừng mong nói chuyện, bàn chuyện, khơi chuyện về nhân bản.

Đại biểu quốc hội : "vỡ lẽ" vô tri

Khi gặp các đại biểu Việt hiện nay của Quốc hội Việt đang đại diện cho lập pháp, các chuyên gia của khoa học xã hội và nhân văn mới "vỡ lẽ" ra là các đại biểu này không có kiến thức lẫn tri thức về các tác giả có tác phẩm đã làm nền móng cho cộng hòa (tự do, công bằng, bác ái), đã làm rường cột dân chủ (đa nguyên, đa đảng) trực tiếp phục vụ cho nhân quyền. Cụ thể là các đại biểu hiện nay của Quốc hội không biết, không hiểu vì họ không đọc các tư tưởng gia đã đặt nền tảng từ định đề tới định luận về công bằng xã hội, về tự do ngôn luận. Các tác giả có tác phẩm làm gốc cội cho tam quyền phân lập. Rõ ràng là các đại biểu hiện nay của Quốc hội không biết, không hiểu vì là họ không đọc các tư tưởng gia đã khai sáng từ giải thích tới giải luận quy trình tam quyền phân lập.Vận dụng cái lý trong khoa học để đề nghị tận dụng cái lý trong tổ chức xã hội, tổ chức chính quyền, tổ chức luật pháp.

Cái lý chống cái ngu

Thông điệp trong mô thức của triết học tri thức của Kant : "Cái lý mà biết chống lại cái ngu dân, thì cái lý là cái lõi của sự thông minh trong nhân tri". Những điều hay lẽ phải này đã trở thành giáo khoa, giáo trình, giáo án cho học sinh thiếu niên tại các quốc gia có tiến bộ nhân lý, có văn minh nhân trí, tại sao nó lại vắng mặt, biệt dạng trong hệ thống giáo dục hiện nay trong tay độc đảng toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam. Và khi các lãnh tụ của Đảng cộng sản Việt Nam đang lãnh đạo từ chính quyền tới chính phủ phải rời vô kiến để có ý kiến về các cuộc cách mạng thực sự của nhân loại như : cách mạng khoa học trong khai phá kiến thức và tri thức, cách mạng chính trị trong khai sáng công bằng và tự do, cách mạng xã hội trong khai phóng dân chủ và nhân quyền.

Chống cuồng đạo, cực quyền ; chống lộng quyền, lạm quyền

Các hệ thống giáo dục của các quốc gia có văn minh dân chủ, có văn hóa nhân quyền, thì sân chơi là học thuật, trò chơi là học lực, và luật chơi là học thật. Chính phương trình học thuật-học lực-học thật là thực thể không đội trời chung với học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả ; nên độc đảng trị, công an trị, tham nhũng trị không có ghế ngồi trong giáo lý, giáo luận, giáo dục của các quốc gia có văn minh dân chủ. Nên tuyên truyền trị, ngu dân trị, vô học trị không có chỗ dựa, chỗ bám trong giáo khoa, giáo trình, giáo án của các quốc gia có văn hiến nhân quyền.

Khi vào sâu để khảo sát hệ thống giáo dục của các quốc gia, có văn minh dân chủ, có văn hiến nhân quyền, thì chúng ta thấy các học sinh thiếu niên cấp trung học phổ thông được học các giáo trình của sử học và triết học của thế kỷ khai sáng XVII và XVIII : chống cuồng đạo, cực quyền ; chống lộng quyền, lạm quyền để dựng khoan dung để xây độ lượng. Chống định kiến để xa tà kiến vì quá trình mưu cầu hạnh phúc. Ngược lại, hệ thống giáo dục của tuyên truyền trị-ngu dân trị-vô học trị mang hàm số kiểu : ơn Bác, ơn Đảng, để trá nhân giả nghĩa của một bạo quyền công an trị, của một tà quyền tham nhũng trị, của một ma quyền tham tiền trị, trong hành tác âm binh vừa ăn cướp vừa la làng, bóc lột dân tộc tới tận xương tủy, cùng lúc bắt buộc nhân dân phải mang ơn mình ! Đây không là vô học trong vô luân làm ra vô hậu trong vô luận thì còn là gì nữa !

Nội dung của công bằng, nội hàm của tự do, nội lực của dân chủ

Nếu độc đảng toàn trị giả danh dân chủ, giả hiệu tam quyền phân lập với các đại biểu hiện nay của Quốc hội vô kiến thức về dân chủ, vô tri thức về tam quyền phân lập. Họ có được chỗ, được ghế đại biểu qua buôn gian bán lận kiểu đảng cử dân bầu, hoặc họ thuộc loại chạy ghế đại biểu, chạy chỗ trong quốc hội bằng tiền kiểu mua chức bán quyền, qua hệ thống tham nhũng cũng do đảng lãnh đạo và quản lý. Từ đây, số phận của dân tộc là phải sống với quốc hội giả, nhân kiếp của giống nòi là phải sống với lập pháp gian, đây không phải là hậu quả của vô học làm nên hậu nạn trong vô hậu thì còn là gì nữa ? Học giả - thi giả- điểm giả - bằng giả để mua một chức quyền thật thì chỉ là chuyện đánh lận con đen, mạo danh thì không sao có được chính danh lập pháp của chính nghĩa lập hiến. Nếu mạo danh tam quyền phân lập, mạo dạng dân chủ với buôn gian bán lận bằng cao học giả, tiến sĩ giấy, bằng bằng cấp nơi mà học vị, học hàm mà không hề qua học thật bằng học lực, thì cũng chỉ là bọn buôn bằng bán cấp để buôn chức ban bán quyền mà thôi ! Bọn này sẽ không dám vào đào thật sâu nội dung của công bằng, xới thật rộng nội hàm của tự do, khơi thật cao nội lực của dân chủ.

Hậu đài là tham nhũng trị của mua chức bán quyền

Trong xã hội độc đảng trị hiện nay mà hậu đài là tham nhũng trị của mua chức bán quyền, mà hệ thống giáo dục mở cửa cho chuyện mua bằng bán cấp, với các hệ quả học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả, với tràn lan cao học giảtiến sĩ giấy, nên học vị giảhọc hàm giả là chuyện "cơm bữa" trong phản xạ vô học, trong phản ứng vô hậu. Ngược lại, chuyện khó là chuyện học thật để hiểu thấu bằng học lực, nên học thật bằng học lực phải nhận vai trò phản biện vì tri thức để chống lại học vị giảhọc hàm giả. Nhưng tại sao khi vô học lại là nguyên nhân của vô hậu ? Câu trả lời là khi không có giáo dục tử tế, và không được giáo dưỡng đàng hoàng, tức là vắng giáo lý, trống đạo lý, rỗng đạo đức, thì kẻ vô học sẽ chọn đường đi nẻo về của vô hậu qua tục quyền (ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau), qua bạo quyền (cá lớn nuốt cá bé), qua tà quyền (thừa nước đục thả câu), qua ma quyền (thừa gió bẻ măng), qua quỷ quyền (cõng rắn cắn gà nhà), qua điếm quyền (rước voi về dày mả tổ).

Đạo đức có hậu

Khi chúng ta khẳng định bằng các định luận trên là vô học không hề là chuyện bằng cấp qua học hàm, học vị, mà vô học có phản biện là có học của con người có giáo dục và được giáo dưỡng bằng giáo lý bằng đạo lý hay, đẹp, tốt, lành của tổ tiên, bằng đạo đức có hậu của trách nhiệm với đồng bào, đồng loại, của bổn phận với đất nước, với xã hội. Từ đây, hệ vấn đề làm nên hệ luận giúp chúng ta vừa có lý, vừa có luận, để dùng thảo luận để trao luận, mà cụ thể là để chống ngu dân trị bằng tuyên truyền trị của tuyên giáo độc đảng đang chủ trì hệ thống giáo dục quốc gia hiện nay. Tại các quốc gia có tiến bộ kinh tế, có phát triển khoa học, thì học sinh và sinh viên có một hệ thống giáo dục được trợ lực bởi văn minh của dân chủ, bởi văn hiến của nhân quyền giúp học sinh, sinh viên có lý trí tỉnh táo để chống bất công, có trí tuệ sáng suốt để bảo vệ công bằng, có tuệ giác nghiêm cẩn để đấu tranh vì công lý. Ngược lại, có những hệ thống giáo dục thui chột hóa lý trí, què quặt hóa trí tuệ, mù lòa hóa tuệ giác của học sinh sinh viên, đó là hệ thống giáo dục ngu dân trị hiện nay của Đảng cộng sản Việt Nam.

Văn minh dân chủ

Câu chuyện văn minh dân chủ vẫn là câu chuyện phân minh để phân định giữa chuyên chính vô tri và dân chủ minh tri. Văn minh dân chủ là một cuộc cách mạng rộng rãi nhất với tam quyền phân lập nhưng lại thường hay bị những lãnh đạo cộng sản chụp mũ rồi vu cáo là sản phẩm của tư sản, của tư bản, đây là loại vu khống rất hồ đồ, vì nếu để mọi dân tộc chọn lựa giữa độc đảng trong chuyên chính vô sản-vô học và đa nguyên trong đa đảng để vận dụng tối đa tài, đa trí, đa năng, đa hiệu… thì chắc chắn độc đảng sẽ thảm bại và phải giải tán trước đa nguyên. Không một chế độ độc đảng toàn trị nào hiện nay đang sống sót (Cuba, Triều Tiên, Trung Quốc, Việt Nam) có đủ liêm sỉ chính trị với liêm chính chế độ mà tổ chức tự do đầu phiếu. Vì chính quyền mà các độc đảng này đang nắm chính là của cướp được (cướp chính quyền), khó có chuyện kẻ cướp của lại trả lại của cải cho nạn nhân của nó.

Văn hiến nhân quyền

Câu chuyện văn hiến nhân quyền là một cuộc cách mạng sâu xa khi công bằng phải là nền của nhân lý, khi công lý phải là gốc của nhân tri để bảo vệ nhân vị bằng nhân bản và nhân văn. Nơi mà nhân quyền có mặt thì tự do của nhân lý và nhân trí sẽ có mặt ; nơi mà nhân quyền xuất hiện thì bác ái của nhân tâm và nhân từ sẽ xuất hiện ; nơi mà nhân quyền hiện diện thì công ích xã hội xuất hiện cùng với xã hội dân sự, luôn thông minh trong sáng tạo để bảo vệ và bảo đảm an sinh xã hội. Các lãnh tụ cộng sản thường tự vỗ ngực trong múa gậy vườn hoang để tự phô trương tính ưu việt của xã hội chủ nghĩa, rồi cộng sản chủ nghĩa, đây là lúc so ra mới biết ngắn dài theo giáo lý của tổ tiên Việt. Vì tự vỗ ngực rồi tự phô trương là mình ưu việt hơn người chỉ là trò láo, gian, xảo, lận, hãy phân tích công ích xã hội, an sinh xã hội như hai chỉ báo thực ; và phân định dân chủ, đa nguyên là hai chỉ báo nguồn, đã làm nên nhân quyền thì mọi việc sẽ được minh bạch ngay.

Ý đồ của ngu dân tập thể, ngu dân cộng đồng, ngu dân giống nòi

Từ ngày Hồ Chí Minh mang danh hiệu"ra đi tìm đường cứu nước" tới bây giờ đã là một thế kỷ, với chế độ độc đảng toàn trị không dân chủ, cũng chẳng nhân quyền, thì tri thức về tam quyền phân lập trong quy luật của đa nguyên không hề có chỗ đứng ghế ngồi trong độc đảng toàn của Đảng cộng sản Việt Nam ! Cụ thể sau một thế kỷ khi bị gieo trồng chuyên chính vô sản thì tất cả thế hệ sau Hồ Chí Minh do độc đảng giáo dục, do toàn trị giáo dưỡng thì họ cũng không biết gì thêm về thế kỷ XVIII với những ánh sáng của dân chủ, của nhân quyền. Đây là hậu quả mà cũng là hệ lụy của chế độ do Đảng cộng sản Việt Nam cố tình duy trì cho tới nay chỉ để bảo vệ đặc quyền, đặc lợi, đặc ân trong chuyên chính vô học-vô hậu. Mà ai cũng biết là mọi chính sách ngu dân đều dựa trên ý đồ ngu dân tập thể trong hành vi, ngu dân cộng đồng trong hành động, ngu dân giống nòi trong hành tác. Hậu quả ngu dân không sao lường hết được, nơi mà vốn vô học của nó đã thành quyết sách vô học hóa để trùm phủ lên nhân kiếp của Việt tộc, chủ xướng bởi tuyên truyền trị, chủ trì bởi ngu dân trị, chủ đạo bởi vô học trị. Lấy cái vô học để vùi lấp cái có học, bằng ý đồ truy diệt tới tận gốc rễ hệ thức (kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức, tâm thức).

Cái vô học không có học lực bằng học thật

Cái vô học của các lãnh đạo cộng sản không có học lực bằng học thật thì chúng luôn mượn giai cấp công nhân và nông dân vốn không có được các điều kiện thuận lợi để học hành tới nơi tới chốn ra làm bình phong ; từ đó giật dây hai giai cấp này trong đấu tranh giai cấp, mà thực chất là thanh trừng tri thức. Nơi đây, trí thức là nạn nhân trực tiếp hay gián tiếp để phủ lấp cái vô học của các lãnh đạo cộng sản, với ý đồ như hằng số trong toán học là thanh trừng cái có học, như hàm số trong toan tính thâm độc để thanh toán hệ thức (kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức, tâm thức). Khi cướp được chính quyền rồi, thì chính hai giai cấp công nhân và nông dân không hề được giáo dục tử tế, được giáo dưỡng đàng hoàng, với giáo khoa có lớp lang thứ tự của khoa học, với giáo trình có dây mơ rễ má của dân chủ, với giáo án lấy học thật làm học lực của nhân quyền, để nhận học vị trong liêm chính, để nhận học hàm trong liêm khiết.

quyenluc5

Quyền có tự do

Quyền lực của lãnh đạo thì ép uổng được sự phục tùng của những kẻ phục vụ nó ; và quyền lực này không có nghĩa lý gì, khi nó không được dân bầu ra. (Đây không phải là nhân tri của dân chủ đang lột mặt nạ của bạo quyền thì còn là gì nữa ?). Quyền có tự do là quyền của mỗi cá nhân, vận dụng tự do cá nhân để khai sáng chính nhân trí của mình, để biết tự bảo vệ mình. (Đây không phải là nhân tri của nhân quyền để tự phòng thân, lập thân, tiến thân còn là gì nữa ?). Quyền lực tới cuồng tín tạo ra cuồng quyền, tới tự mê tín, dị đoan, nó không tới từ cái lý biết lý luận, nên nó cường điệu trong cuồng loạn, nó bạo động trong dã man. (Đây không phải là nhân tri chống ngu dân trị, nhân trí chống vô học trị thì còn là gì nữa ?).

Quyền lực chính danh

Quyền lực chính danh phải có chính nghĩa tới từ sự chọn lựa của cái lý, tới từ đại chúng, quyền lực chính danh có chính nghĩa là quyền lực xứng đáng trao gởi qua dân quyết. (Đây không phải là nhân trí dân chủ song hành cùng nhân luận để chống độc quyền trị thì còn là gì nữa ?). Quyền lực trong chính trị là sự xác chứng không ai ra đời mà có quyền hành lên người khác, không ai có quyền lực trên cuộc đời của ai cả, tại đây quyền có tự do là quyền thiêng liêng như quyền có lý để lý luận. (Đây không phải là chính nghĩa của chính trị biết song cặp cùng nhân lý dân chủ để chống bạo quyền thì còn là gì nữa ?). Quyền lực biết phục nhân sinh và nhân loại là quyền lực dẹp đi chế độ nô lệ, dẹp luôn cuồng quyền trong cuồng tín, khử luôn ngu muội trong ngu dân, bứng luôn tà quyền gây tha hóa, để triệt luôn mọi nguồn gốc gây ra bất hạnh cho nhân loại. (Đây không phải là nhân trí tự do song cặp cùng nhân tri biết mưu cầu hạnh phúc thì còn là gì nữa ?).

Vô học còn dài vô học còn sâu

Vô học còn dài vì vô hậu còn sâu, nếu bao thế hệ học sinh trung học phổ thông không được biết gì về các cuộc cách mạng khai sáng nhân loại từ khoa học đến kỹ thuật, từ công bằng đến công lý, từ dân chủ đến nhân quyền, thì chúng ta cùng đồng loạt "vỡ lẽ""chưng hửng" để "té ngửa" rồi "té lăn" ra là từ bộ trưởng tới thứ trưởng của Bộ Giáo dục hiện nay, họ không hề biết gì về các giáo lý, giáo luận, giáo dục đã làm nên giáo khoa, giáo trình, giáo án từ các cuộc cách mạng khai sáng nhân loại của thế kỷ XVIII. Từ bộ trưởng này tới bộ trưởng kia, rồi lên cao hơn thủ tưởng, thì chúng ta chắc bẩm là các lãnh đạo trong chính phủ hiện nay không có một tri thức gì về các đề nghị từ công bằng tới tự do, từ dân chủ tới nhân quyền, không phải họ chỉ bị cấm bởi bạo quyền độc đảng toàn trị của họ mà thực sự là họ không biết, không hiểu vì không đọc, không học về các cuộc cách mạng khai sáng nhân loại của thế kỷ XVIII. Từ hành pháp bây giờ qua tới lập pháp, là các đại biểu quốc hội phải bảo vệ dân thì dân chúng không thấy trong tuyên bố hay trả lời phỏng vấn là các đại biểu quốc hội có chút kiến thức về các tác phẩm, có chút tri thức gì về các tác giả của các cuộc cách mạng khai sáng nhân loại của thế kỷ XVIII. Từ hành pháp, lập pháp giờ đây qua tới tư pháp, là các chánh án, các quan tòa của bạo quyền độc đảng toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam, mà đem ra so sánh với các luật sư thì kiến thức của họ vừa thấp vừa tục, về giáo lý, giáo luận, giáo dục của tam quyền phân lập ; vừa hèn vừa tồi về các tác phẩm, các tác giả của các cuộc cách mạng khai sáng nhân loại của thế kỷ XVIII.

Chìm trong vô học

Nếu cả ba : hành pháp, tư pháp, lập pháp đắm chìm trong vô học về dân chủ, về nhân quyền, đuối ngộp về công bằng, về tự do làm nên tiến bộ và văn minh, thì nếu đây không phải là vô hậu từ não trạng tới não bộ thì còn là gì nữa ? Hãy khoan trách móc các thầy cô, các học giả, các dịch giả phải học hành trong họa cảnh trên đe dưới búa, phải học tập trong hoạn cảnh cá nằm trên thớt của hệ thống giáo dục được điều khiển và điều hành bằng hệ độc (độc đảng, độc trị, độc quyền, độc tài, độc tôn). Hệ độc này thâm căn cố đế của chuyên chính vô học, với vốn vô học từ lãnh tụ đến lãnh đạo, chính là cha sinh mẹ đẻ của toàn bộ hệ thống giáo dục dựa vào vô học trị, sống nhờ tuyên truyền trị, có cột trụ của ngu dân trị.

Trốn đối thoại, lách đối luận, tránh đối lý

Hãy phân tích cụ thể là các bộ trưởng, thứ trưởng tới các lãnh đạo vụ, ban, ngành được hỏi là có các tác phẩm hay của các tác giả lớn của nhân loại được dịch ra tiếng Việt rồi thì tại sao các tác phẩm và các tác giả này không được đưa vào giáo khoa và giáo trình của hệ thống giáo dục hiện nay, thì chúng ta không có một câu trả lời nào thỏa đáng tới từ bộ trưởng, thứ trưởng, các lãnh đạo vụ, ban, ngành đang có trách nhiệm với hệ thống giáo dục hiện nay. Các bộ trưởng, thứ trưởng tới các lãnh đạo vụ, ban, ngành được hỏi là có các tác phẩm hay của các tác giả lớn của nhân loại được dịch ra tiếng Việt rồi thì tại sao các tác phẩm và các tác giả này không là chủ đề của hội nghị, hội thảo, hội luận trong giới học thuật và nghiên cứu, thì chúng ta không có một câu trả lời nào chỉnh lý tới từ bộ trưởng, thứ trưởng, các lãnh đạo vụ, ban, ngành đang có trách nhiệm với hệ thống giáo dục hiện nay. Các bộ trưởng, thứ trưởng tới các lãnh đạo vụ, ban, ngành được hỏi là có các tác phẩm hay của các tác giả lớn của nhân loại được dịch ra tiếng Việt rồi thì tại sao các tác phẩm và các tác giả không là đối tượng của các cuộc đối thoại, đối luận, đối lý giữa các lãnh đạo từ chính quyền tới chính phủ, thì chúng ta không có một câu trả lời nào toàn lý tới từ bộ trưởng, thứ trưởng, các lãnh đạo vụ, ban, ngành đang có trách nhiệm với hệ thống giáo dục hiện nay.

Vô học rất thấm nên vô hậu rất "chàm"

Vô học rất thấm nên vô hậu rất "chàm", khi mọi người biết là tất cả các lãnh đạo trong chính phủ hiện nay của hệ thống vô học trị, thì từ thủ tướng tới các bộ trưởng, không có lãnh đạo nào tự viết được các tham luận mà họ phải đọc trước quần chúng, trước quốc hội, trước truyền hình ; nhất là trước các hội thảo, hội luận, hội nghị mà hội trường là những nhân sĩ có học, nên ta thường thấy các lãnh đạo này phải cầm giấy mà đọc những câu chữ mà họ không phải là tác giả. Không là tác giả của bài tham luận của mình, lại vừa chưa hề biết tác giả nào, tác phẩm nào trong học thuật và trí thức của nhân loại. Đây không phải là vô học trống chữ sinh ra vô hậu đọc nhại những chuyện mà mình không phải là tác giả thì còn là gì nữa ?

Vô trương bất tín

Từ thủ tướng tới các bộ trưởng khi bị ký giả, phóng viên, truyền hình trực tiếp hỏi những lý luận làm ra chính sách, những lập luận làm ra quyết sách của chính phủ, thì chỉ từ 3 câu tới 5 câu hỏi của báo chí là ngữ vựng của lãnh tụ bị lộn âm, ngữ văn của lãnh đạo bị lộn ngôn, ngữ pháp của các đầu lãnh bị lộn ngữ. Vô trương bất tín, không thấy thì không tin, thấy rồi mới tin, và tai nghe mặt thấy để thấu cái thực chất vô học đã làm nên các vô nghệ trong lãnh đạo, vô nghề trong quản lý, vô nghiệp trong chính nghĩa. Từ thủ tướng tới các bộ trưởng, không có lãnh đạo nào dám đối diện với trí thức để tranh luận, đối thoại với chuyên gia để trao luận, đối thuyết với các lảnh đạo quốc tế của các quốc gia có văn minh dân chủ, có văn hóa nhân quyền để cân, đo, đong, đếm từ tri thức tới tri lực, để so ra mới biết ngắn dài. Vì chuyện lãnh đạo từ quản trị tới quản lý, từ các quyết sách công ích xã hội tới các chính sách an sinh xã hội, tất cả đều là chuyện trình độ học thức, mà trình độ thì học thật sẽ lột đươc mặt nạ của học giả, và học lực sẽ vạch mặt chỉ tên học gian, học dối ! Và cái vô hậu vắng nhân tri, trống nhân trí, rỗng nhân lý sẽ bị lột trần lên bờ xuống ruộng trước học thuật.

Vô học rất lậu nên vô hậu rất nẩu

Vô học rất lậu nên vô hậu rất nẩu, không có kiến thức chuyên môn nhưng lại cứ giành đi hội nghị quốc tế, không có tri thức chuyên khoa nhưng lại cứ đòi đi hội thảo quốc ngoại, không có trí thức chuyên ngành nhưng lại cứ ham đi hội luận toàn cầu, từ đây lòi ra bao nhiêu hậu quả của vô học, bao nhiêu hệ lụy của vô hậu. Một lãnh đạo đi ra nước ngoài kéo theo một thư ký, một trợ lý, một thông dịch viên, thành một phái đoàn có khi là 3, có khi là 5, có lúc là 7, thậm chí là 10. Từ khách sạn tới nhà hàng, từ chi tiêu tập thể tới chi phí hàng không cho cả đoàn, đi một, hai, ba tuần, gây tốn kém lên hàng bạc tỷ, với số tiền đó có thể chính phủ nuôi ăn hàng tháng được hẳn một xóm nghèo, môt làng nghèo. Một lãnh đạo kéo theo 3, có khi là 5, có lúc là 7 người, lại còn cho vợ con đi theo. Sáng vào hội trường để "giả danh hội nghị", "giả dạng hội thảo", "giả tướng hội luận", nhưng sau cơm bữa trưa là nhờ vả đường dây Việt kiều tại chỗ để đi shopping, đi siêu thị, tha hồ mà mua sắm từ mỹ phẩm tới thực phẩm của các xứ Tây. Mà hóa đơn không rõ là tiền của cá nhân, của gia đình hay moi móc thẳng ra từ chi phí công vụ, tức là từ tiền thuế của dân lành, dân đen…

Vô học rất thô nên vô hậu rất lộ

Một lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam kéo theo cả đàn, cả đám, cả nhà tới xứ người, sau khi du lịch bằng công vụ, đi chơi cho thỏa, đến khi về lại quê nhà, thì đồng nghiệp hỏi về những đóng góp chuyên môn trong hội thảo ; đồng bào tra về những đóng góp chuyên ngành trong hội nghị. Thì "vỡ lẽ" ra là không có báo cáo chuyên đề, không có tổng kết chuyên môn, không có một chứng thư, một chứng tích nào thuyết phục cho sự thành công của các chuyến công vụ. Mà cũng biết thực chất là du lịch, phung phí vô học, phung phá vô hậu trên tài sản của đất nước, trên mồ hôi của dân chúng. Vô học rất thô nên vô hậu rất lộ, từ thực tập sinh tới học một, hai năm tới sinh viên du học từ cao học tới tiến sĩ được học nhiều năm tại các quốc gia phương Tây có tiến bộ khoa học, có văn minh dân chủ, có văn hiến nhân quyền, lại có sáng tạo sinh động và sinh hoạt sôi động từ văn hóa tới nghệ thuật. Tại đây, các khuyết điểm vô học, các khuyết tật vô hậu từ kiến thức tới tri thức lộ ra ngay trong phản xạ hằng ngày, ngay trong phản ứng hằng tuần, hằng tháng, hằng năm trong xã hội phương Tây.

quyenluc6

Tầm vóc văn minh làm nên vai vóc văn hiến

Các thực tập sinh, các sinh viên du học không biết gì vì không muốn học hỏi thêm về văn hóa qua nghệ thuật, văn minh qua khoa học, văn hiến qua sử học của các quốc gia tiên tiến phương Tây. Mà muốn biết thì phải học, muốn học thì phải tới thư viện của đại học, của thành phố, của văn khố quốc gia, trung tâm tư liệu chuyên ngành… Họ không làm vì không muốn biết thêm về gốc, rễ, cội nguồn từ văn minh tới văn hóa các quốc gia này. Các thực tập sinh, các sinh viên du học không biết gì vì không đọc gì về các tác phẩm của các tác giả đã làm nên văn học, thi ca, âm nhạc, hội họa, kịch thuật, điện ảnh… và khi được đồng nghiệp, đồng bào hỏi về các tác phẩm của các tác giả, thì thường là họ "tảng lờ", chỉ vì họ không biết, chỉ vì họ không chịu học. Các thực tập sinh, các sinh viên du học không biết gì về các bảo tàng, các cuộc triển lãm, các buổi hòa nhạc, các lễ hội văn hóa… của các quốc gia phương Tây nơi họ đang học… và khi được đồng nghiệp, đồng bào hỏi về các sự kiện văn hóa, các sự cố nghệ thuật làm nên tầm vóc văn minh, làm nên vai vóc văn hiến của các quốc gia phương Tây, thì thường là họ "đánh trống lảng" chỉ vì không biết, mà không biết vì không chịu học.

Thực tài chống bất tài

Chính trị học tri thức phối hợp cùng xã hội học nhận thức đã phân tích để phân loại, đã phân định để phân giải là khi hai người bất tài trong một hội đồng phải bầu cho một thí sinh thay thế họ trong tương lai thì họ không thể bầu được một thí sinh có tài ; ở đây bất tài không đủ năng lực lẫn thông minh để bầu cho thực tài. Khi hai người trong một hội đồng ; một người bất tài, một người có tài phải bầu cho một thí sinh thay thế họ trong tương lai thì họ khó có thể bầu được một thí sinh có tài ; ở đây người có tài chưa chắc thuyết phục được người bất tài, vì kẻ bất tài vừa không đủ năng lực lẫn thông minh, lại vừa lo sợ hai kẻ tài, một là đồng nghiệp hai là thí sinh khinh chê cái bất tài của mình. Khi hai người trong một hội đồng ; cả hai đều có tài, cũng có khi họ bầu cho một người thiếu tài nhưng trung thành với họ để bảo vệ đặc quyền, đặc lợi, đặc ân của họ sau khi họ ra đi. Mà còn có khi hai kẻ có tài cũng có thể bầu cho một kẻ hoàn toàn bất tài để hai kẻ có tài này tiếp tục thao túng, o ép, giật dây thí sinh bất tài nhưng "dễ bảo trước đàn cha", "biết tuân lệnh đàn chú", "biết phục tùng đàn anh"…

Vô học ẩn nấp trong tà tri, vô hậu luồn lách trong điếm trí !

Đưa thực tài vào định chế, đón chân tài vào cơ chế, nhận nhân tài vào cấp lãnh đạo là một quá trình thiên sơn vạn thủy trong nhân tri, là một quy trình vượt suối trèo đèo trong nhân trí. Tại đây, thì bạo quyền độc đảng, tà quyền tham nhũng, ma quyền tham tiền chỉ biết dựa vào quan hệ-hậu duệ-tiền tệ để diệt trí tuệ ; để tổ chức mua chức bán quyền qua mua bằng bán cấp của học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả. Cũng tại đây, độc đảng trong độc quyền sử dụng nền của tuyên truyền trị để mạo danh hồng hơn chuyên mà chọn cán bộ nguồn ; vận dụng gốc của ngu dân trị với mạo dạng lãnh đạo nòng cốt để dựng lên các thái tử đảng ; tận dụng rễ của vô học trị để mạo dạng : "con lãnh đạo mà lãnh đạo là hồng phúc cho dân tộc", một tuyên bố vô cùng vô học vì nó vô tận trong vô hậu của một bà đã là lãnh đạo trong Uỷ ban nhân dân thành Hồ. Từ đây, mới có hiện tượng vô học trong tà kiến, vô hậu trong tà luận, thí dụ dễ-thấy-vì-khó-nghe như hiện tượng tiến sĩ lu (dùng lu chống lụt cho thành Hồ), tiến sĩ lon (đọc chữ lon "lộn" ra một chữ được xem là tục trong truyền thông), thứ trưởng của Bộ (vô) văn hóa (đã trao tặng một người phụ nữ chuyên nghề hầu đồng chức hiệu nữ hoàng tâm linh). Vô học ẩn nấp trong tà tri, vô hậu luồn lách trong điếm trí !

quyenluc7

Cái tôi bị bắt buộc chọn tự do

Với bạo quyền độc tài nhưng bất tài, tà quyền độc trị nhưng không biết quản trị, ma quyền chỉ là âm binh chui luồn trong bóng tối ngu dân. Bọn cá mè một lứa này không bao giờ tự kiểm tra khách quan về chúng bằng cân, đo, đong, đếm thực tài của chúng ; không bao giờ tự kiểm định khoa học của chúng bằng so ra mới biết ngắn dài về trí tuệ của chúng. Khi đấu tranh chống bạo quyền, tà quyền, ma quyền, dù ở nơi đâu, trong bất cứ giới nào, tôi luôn tự nguyện với lòng là cho tới chết không bao giờ là người của bè, của đảng, của nhóm, của phái, của đám, mà là người của tự do đi tìm tự chủ, theo mô thức của : "cái tôi bị bắt buộc chọn tự do" như đi nhận nhân cách để lấy lại nhân vị cho chính mình. Nói gần nói xa không qua nói thật là cùng với sự bất nhẫn đưa tới phẫn nộ mỗi lần tôi phải đụng độ để trực diện mà đấu tranh chống bất công, tôi thường sống với tâm lý có liên quan trực tiếp tới thể lực của mình. Cụ thể là một sự khinh bỉ tới lợm giọng, có thể dẫn tới buồn nôn khi phải trực diện với các cá nhân đã biến chính quyền thành bạo quyền, tà quyền, ma quyền, mà trong mô thức giải luận về quyền lực, tôi phải gọi chúng là : âm binh !

Nhân tri khẳng định nhân vị

Đối với bọn lừa thầy phản bạn, với đám mua bằng bán cấp, với lũ mua chức bán quyền, với phái buôn dân bán nước, với đảng phản dân hại nước thì sao ? Lại còn dễ nữa, bạn nhớ đứng thẳng ngay bữa tiệc, đi ngay ra ngoài với mắt thẳng, vai ngay, lưng chắc, chân vững, bước mạnh, mà không quên chào chủ nhà, nhất là không quên tự nhắc với lòng là phải rời ngay chốn âm binh mại quốc cầu vinh để được về lại ngay với cõi người là yêu nước thương nòi. Chính nhân tri khẳng định nhân vị của mọi người, khi con người biết đấu tranh vì nhân quyền để bảo vệ nhân phẩm của họ, thì họ khám phá ra nhân bảnnhân văn của họ tới từ nhân tính biết tôn trọng đồng loại, từ nhân lý biết bảo vệ tha nhân.

Nhân diện nhân dạng của nhân quyền

Khi trong nhân phẩm có sẵn hai quyền lực làm nên nội chất của nhân quyền : nhân quyền tích cực của có trong hoài bão đi tìm công bằng để lập nên công lý, và nhân quyền tiêu cực của không trong sự chối từ bất công, chối bỏ bất nhân thất đức ? Từ đây, chúng ta nhận ra được là có của tích cực vì hoài bão, và không của tiêu cực chối từ bất công, tương tác lẫn nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau trên nhân lộ đi tìm nhân phẩm bằng đấu tranh vì nhân quyền. Hãy đi xa hơn nữa để nhận ra chân dung diện mạo của nhân quyền có trong năng lượng đôi làm nên năng lực đôi : biết trả lời trước công lý vì đã biết trả lời không trước bất công trong nhân kiếp ; sẵn sàng trả lời có ! để đấu tranh vì công lý, và luôn sẵn sàng trả lời không ! để tranh đấu chống bất công. Hãy lên cao hơn nữa để nhận rõ nhân diệnnhân dạng của nhân quyền, luôn vượt lên tư lợi, luôn vượt qua quyền lợi để nhập nội vào phạm trù của bác ái, có tương thân, tương trợ. Nơi mà hạt muối cắn làm đôi có khả thi với một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ, trong khả tín của bầu ơi thương lấy bí cùng, để lộ ra nhân diện của nhân quyền trong thương người như thể thương thân, để ta nhận ra nhân dạng của nhân quyền qua máu chảy tới đâu ruột đau tới đó. Khi ta công nhận là nhân quyền có chỗ đứng cao hơn, có ghế ngồi rộng hơn ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu… vì trong thực tế nhân quyền có khả quyết để quyết đoán, rồi có chủ đoán để chủ động là nhân quyền cao và rộng hơn ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu…

Hùng lực đấu tranh vì nhân quyền

Câu chuyện về nhân quyền là tự truyện về mức độ làm nên trình độ : khi ta có bác ái với lòng trắc ẩn chia ngọt sẻ bùi với tha nhân, chia sẻ niềm đau nỗi khổ với đồng bào, với đồng loại thì chữ nhân của nhân loại hoặc nhân loài sẽ có được tầm vóc cao, kích thước rộng, nội công mạnh, bản lĩnh lớn hơn hẳn ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu… Vì kẻ chỉ biết ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu thì có thể làm người nhưng chưa chắc đã được làm : nhân, nhân đây có gốc rễ, cội, nguồn của nhân tâm, nhân từ, nhân đạo, nhân nghĩa, nhân bản làm nên sung lực trong lý luận rồi hùng lực ngay trong đấu tranh vì nhân quyền. Tại đây, nhân quyết là không gian tri thức trong đó có chủ quyết để chủ động đấu tranh vì công bằng mà chống bất công, nên nhân quyền, vừa là hành động của hiện tại, vừa là hoài bão của tương lai ; vừa là quy trình đấu tranh hằng ngày, vừa là chân trời trước mắt.

Toàn trị trong độc trị để phục vụ câu chuyện con người tiêu diệt con người

Trong lịch sử nhân loại từ khi con người vào kỷ nguyên công nghiệp với sự bóc lột trắng trợn sức lao động của công nhân, nông dân… một kỷ nguyên xem con người là công cụ, là vật liệu, là hàng hóa để tạo sản xuất, để tăng năng suất. Sự xuất hiện của hai thế chiến trong thế kỷ XX vừa qua, càng làm sự bóc lột trắng trợn sức lao động của con người trở nên nhờm tởm với quá trình biến xã hội thành một nhà máy khổng lồ để phục vụ chiến tranh, để phục vụ chuyện con người tiêu diệt con người, để nhân sinh tự tiêu diệt, đưa nhân loại vào tử lộ.

Các khẩu hiệu "Tổng động viên" làm nên khẩu lệnh "Tất cả vì tiền tuyến" để tiêu diệt đối phương, giờ không những đã là kẻ thù mà đã trở thành tử thù, "không đội trời chung", loại luận điệu này thì người Việt nghe rất quen tai. Đây cũng chính là thảm họa của Việt tộc, chỉ cần một nhúm người cộng sản mang một ý thức hệ ngoại lai đấu tranh giai cấp bằng chuyên chính vô sản dưới lá cờ chống thực dân rồi chống đế quốc vì độc lập dân tộc, để đưa Việt tộc từ tà lộ mệnh danh "cách mạng", với biệt danh "giải phóng", tới tử lộ của huynh đệ tương tàn, với nhiều triệu sinh mạng của đồng bào bị thí mạng như những công cụ vô tri.

Địa ngục hiện tiền

Ngoài sự mất mát quá lớn về tính mạng của đồng bào mà Phật đạo của dân tộc gọi chính danh là : sinh linh, mọi sinh vật đều thiêng liêng vì linh thiêng bằng chính sự sống của nó. Không chỉ sự mất mát về tính mạng, mà còn sự mất trọn tất cả các giáo lý tổ tiên Việt về tương thân tương trợ, song hành cùng sự mất trắng tất cả các tiềm năng phát triển đất nước, để đưa dân tộc vào quỹ đạo của tiến bộ, để đi về hướng một xã hội có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền. Sau chuỗi mất mát-mất trọn-mất trắng hiển hiện trước mắt mọi công dân Việt là địa ngục hiện tiền, với hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn) của Đảng cộng sản Việt Nam sinh đôi với hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền) cũng của chính nó.

Nhân lý vì nhân quyền

Nhân lý vì nhân quyền không hề là lý lẽ của tính toán thương mại, tự xem tha nhân như công cụ để mình làm giầu. Nhân lý không hề là con toán của cân, đo, đong, đếm giữa hợp tác quốc tế và tư lợi của riêng một đảng cầm quyền. Ngược lại, nhân lý có nhân lộ là niềm tin về công bằng vì nhân quyền, để vững tin về công lý biết bảo vệ nhân phẩm. Không có niềm tin để vững tin thì sẽ đánh mất chính giá trị nhân quyền của mình và của đồng loại. Nhận thức của nhân lý vì nhân quyền chuyển tải các nguyên tắc chủ lực của nguyên tắc của nhân lý vì nhân quyền có chính danh khi dùng công lý bảo vệ nhân phẩm qua nhân lộ của nhân quyền. Nguyên tắc của nhân lý vì nhân quyền vượt thoát thần quyền trên số phận con người nhưng vẫn tôn trọng tôn giáo. Nguyên tắc của nhân lý vận dụng nhân quyền để bảo vệ tự do cá nhân, nơi mà mỗi cá nhân có nhân quyền trọn vẹn, và không là nạn nhân của gia đình, thân tộc, tập thể, cộng đồng nhất là của các bạo quyền đe dọa, đàn áp, tra tấn, hãm hại cá nhân.

Nhân quyền đặt nhân phẩm lên cao

Nhân lý vì nhân quyền luôn đi xa, lên cao, nới rộng, vào sâu về quyền làm người bằng chính nhân vị, trong đó cá nhân, gia đình, thân tộc, tập thể, cộng đồng, yêu cầu xã hội phải bảo vệ nhân phẩm của mình. Từ đây xuất hiện quan hệ giữa nhân lý vì nhân quyền, cấu trúc quyền lựctổ chức xã hội của một quốc gia, một dân tộc. Một chính quyền liêm chính là một chính quyền nhận quyền lực phục vụ nhân quyền để bảo đảm nhân phẩm cho các công dân của mình. Một tổ chức xã hội có nhân lý biết lấy nhân quyền làm gốc, rễ, cội, nguồn cho mọi quan hệ xã hội, sinh hoạt xã hội, đời sống xã hội. Như vậy, nhân lý vì nhân quyền đặt nhân phẩm lên cao, và đặt đúng chỗ thần quyền trong không gian tôn giáo, đưa nhân vị của tự do cá nhân vào nhân lộ của nhân quyền, cùng lúc nhân lý vì nhân quyền đặt nền cho quan niệm chính đáng trong liêm chính của không gian quyền lực, nơi mà chính tổ chức xã hội cũng phải dựa trên nhân quyền để tồn tại trong chính danh.

Công nhận công bằng

Dân chủ bắt đầu bằng sự công nhận công bằng không những trên những chuyện đã có mà luôn cho những chuyện đang có trong hiện tại của dân tộc, và sẽ có trong tương lai của quốc gia, trong đó công bằng xã hội được bảo đảm bởi công lý làm nên công luật, tất cả được thảo luận bằng hội thoại qua đối thoại bằng luân lý với sự trợ lực của pháp luật. Khi hội thoại qua đối thoại, dân chủ chấp nhận và cho phát biểu để pháp triển sự khác biệt, tính đối kháng, tính nghịch lý để mở cửa rồi mở đường cho sự mâu thuẫn hoàn toàn chính danh vì chỉnh lý trong dân chủ để thực hiện đa nguyên, qua đa quyền lợi, đa giải đáp, đa chọn lựa… bằng quyết định bỏ phiếu, nơi mà thiểu số phục tùng đa số. Tại đây, dân chủ có những định chế rõ ràng để thực hiện sức thông minh của nhân trí bằng sự tôn trọng lẫn nhau của nhân tri. Hội trường và nghị trường để hội tụ trong nghị luận các vấn đề không những phải làm trong hiện tại và cần làm trong tương lai. Hội trường và nghị trường để hội lý trên nền tảng của công bằng từ đề nghị tới thảo luận, từ quyết định tới hành động.

Hội trường và nghị trường để hội luận trên sự phân biệt công ích và tư hữu, để phân loại quyền lợi và quyền hạn, để phân định lợi ích xã hội và tự do cá nhân.

Diễn luận để thuyết phục

Khi nghiên cứu về lịch sử của dân chủ có nguồn cội trên quê hương Hy Lạp là chiếc nôi của triết học về nhân quyền, có triết lý về nhân sinh, có triết luận về chính thể, thì hai chuyên gia về cổ sử, cổ triết của Hy Lạp đã giúp ta nhận ra tiến trình và tiến hóa của dân chủ với kinh nghiệm dân chủ Hy Lạp trên cho ta thấy nội chất của dân chủ không phải là quyền mà là : lý luận để thuyết minh, lập luận để thuyết trình, giải luận để thuyết giảng, diễn luận để thuyết phục. Đây là cách xử lý hoàn toàn khác và ngược với hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn) lấy lực làm quyền, gạt để giữ quyền, rồi lấy quyền triệt luận, cầm quyền này để diệt quyền kia, nên cả vú lấp miệng em không có thảo luận, cá lớn nuốt cá bé không có hội luận, mạnh được yếu thua không có tụ luận. Nên hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn) không có văn hóa của dân chủ qua thảo luận, văn minh của đa nguyên qua hội luận, văn hiến của nhân quyền qua tụ luận, vì bộ ba này của dân chủ biết chấp nhận nghịch lý vì biết tôn trọng đa lý. Khi ta nhận định dân chủ, đa nguyên, nhân quyền chính là văn hóa, văn minh, văn hiến thì ta sẽ hiểu vai trò của của bộ ba này trong giáo dục xã hội, trong giáo khoa quần chúng, trong giáo trình học đường để giáo dưỡng ngay từ tuổi nhỏ ba liên minh này : dân chủ, đa nguyên, nhân quyền chống bạo quyền, văn hóa, văn minh, văn hiến chống cuồng quyền, giáo dục, giáo khoa, giáo trình chống cực quyền.

quyenluc8

Quyền được làm người

Một chế độ đẩy xã hội bị rơi vào nhân biệt : sự phân biệt giữa người với người, giữa đồng bào với nhau, vì lãnh đạo của chế độ độc đảng đã đi trên tà lộ chống nhân quyền ! Vì nhân quyền luôn là nền để tạo nên sự công bằng giữa các cá nhân. Công bằng này không chấp nhận sự khác biệt để làm ra sự tách biệt, để dân tộc phải gánh chịu : sự phân biệt, kẻ giàu ở trên người nghèo ở dưới ; sự phân loại, kẻ gian giàu bóc lột người lành nghèo ; sự phân hóa, kẻ gian mạnh tha hóa người nghèo yếu ; sự phân cực, kẻ gian mạnh đàn áp người nghèo yếu. Khi chính trị học, xã hội học và triết học cùng nhau phân tích về bất công tạo ra bất bình đẳng, thì luật học đã có mặt cùng công pháp quốc tế được Liên Hiệp Quốc bảo trợ nơi đây nhân quyền là quyền được làm người mà không là nạn nhân, cũng không là thủ phạm của bất cứ bất công nào, của bất cứ bất nhân thất đức nào. Quyền được làm người với nội chất của nhân phẩm, khi công lý biết giới hạn ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu, vì giá trị của nhân quyền là vô giá, nó cao, sâu, xa, rộng hơn phạm trù bình thường -nếu không nói là tầm thường- của ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu… Quyền được làm người chính là sức mạnh của hoài bão vì nhân lý, nhân tri, nhân trí, của hoài vọng vì nhân bản, nhân văn, nhân vị, tạo ra được tính thuyết phục làm nên sự đồng cảm, đồng lòng để cùng nhau bảo vệ giá trị của nhân phẩm.

Ý thức luân lý và ý thức duy lý

Có nhiều nhân loại sống cùng chung một nhân loại rộng lớn, mà nhiều nhân loại vì nhiều nhân tính khác nhau, có ít nhất là có hai nhân tính rất đậm nét trong nhân loại chung này : nhân tính thứ nhất có ý thức luân lý, như có kim chỉ nam trong nhân tình, thấy tốt thì làm, thấy xấu lánh xa, thấy gian thì loại, thấy tà thì xua, thấy ác thì khử. Ý thức luân lý có chỗ dựa là đạo lý (hay, đẹp, tốt, lành) để chế tác ra luân lý (nhận trách nhiệm để đảm bổn phận). Nếu muốn làm lãnh đạo chính trị thì ý thức luân lý phải sắc, kim chỉ nam này phải nhọn. Nhân tính thứ nhì có ý thức duy lý, như có Bắc đẩu đưa đường, dẫn lối giữa đêm, lấy kiến thức của kinh nghiệm (từ lịch sử qua cuộc sống) thấy hợp lý trong thuận cảnh, lấy cụ thể làm thực tế, biến thực tế thành thực dụng. Nếu muốn làm lãnh đạo chính trị thì ý thức duy lý phải rõ, thấy thật rành Bắc đẩu trước mắt. Nhận ra hai nhân tính ý thức luân lý ý thức duy lý còn phải đi tìm thêm các nhân tính khác, còn nếu không hiểu gì về hai nhân tính tối thiểu này thì tốt nhất đừng làm chính trị, đừng nhận trách nhiệm lãnh đạo.

Nhân tính có hải đăng là nhân đạo

Chữ nhân không phải là đơn thuần là một thuật ngữ, mà là một hệ thống tư tưởng có lý luận, mà kẻ lãnh đạo không biết hoặc không thấy thì sẽ lầm đường lạc lối trong quyết đoán làm gốc cho mọi quyết định, trong quyết sách làm nền cho mọi tổ chức và mọi quản lý. Không biết, không thấy, không nghe, tức là không có nhận thức về chữ nhân thì chỉ mang họa tới cho dân tộc, gây nạn cho giống nòi. Nhân loại sống trong một bối cảnh lịch sử nhất định : nhân thế, trong những hoàn cảnh xã hội được quyết định từ kinh tế tới giáo dục, từ vật chất tới y tế… từ quan hệ xã hội tới đời sống xã hội : nhân sinh. Chính bối cảnh hoàn cảnh tạo ra tâm cảnh trong quần chúng đó là : nhân tình. Nhân tính chỉ có khi một dân tộc xác định được các định hướng cộng đồng về đạo lý một nhân sinh quan hay, đẹp, tốt, lành : nhân đạo, từ đó nhận thức ra các bổn phận, các trách nhiệm để xây dựng một giống nòi ăn ở với nhau để sống có hậu : nhân nghĩa. Nhân tính có hải đăng là nhân đạo, có dự phóng cho mai sau là nhân nghĩa, cả ba tạo ra thế chân kiềng bền vững cho nhân lý của một dân tộc, làm chủ đất nước của mình bằng nhân văn được thể hiện qua bốn hệ nhân trên.

Nhân giáo

Năm hệ nhân : nhân tính, nhân đạo, nhân nghĩa, nhân lý, nhân văn được trao truyền và lưu truyền qua nhân giáo, trong đó một nền giáo dục đúng đắn tùy thuộc vào môt chính quyền liêm chính, một chính phủ liêm sỉ để bảo đảm nhân trí cùng nhân trí qua giáo khoa, giáo trình, giáo án. Chính nhân trí cùng nhân trí quyết định trình độ thăng tiến của một đất nước, thăng hoa của một dân tộc, mà ta thấy láng giềng cùng nôi tam giáo đồng nguyên như Việt Nam đã làm được : Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc. Chính ta không làm được lại tha hóa vào con đường phản nhân tri cùng nhân trí, tạo ra thảm họa học giả-thi giả-bằng giả, tới từ tham nhũng-tham ô-tham quan, tức là lãnh đạo chính trị của Đảng cộng sản Việt Nam đang lầm đường lạc lối, đang hoàn toàn sai !

Văn hóa, văn minh, văn hiến

Hàm nghĩa của văn mang ít nhất ba biến nghĩa : văn hóa, văn minh, văn hiến. Văn hóa, như sức sống vững bền qua nội lực một dân tộc biết biến nội công của tổ tiên mình trong quá khứ thành nội chất của tập thể, của cộng đồng luôn có nội tâm của một giống nòi biết giáo dưỡng con cháu, các thế hệ đời sau biết yêu, quý, thương văn hóa đó. Văn minh, đòi hỏi nhân tri, mở cửa mời nhân trí, biến kiến thức thành tri thức được bảo vệ có hệ thống, có lý luận, có lập luận, có giãi luận của nhận thức.văn hóa chưa chắc có văn minh, vì văn minh tạo chỗ đứng nhân quyền và dân chủ, vì văn minh viết thăng hoa : công bằng qua tự do, để xây bác ái. Văn minh thấy rất rõ trong một xã hội biết tôn trọng người lớn tuổi, biết bảo trọng phụ nữ, biết bảo vệ thiếu nhi, biết bảo quản thanh thiếu niên trong một hệ thống giáo dục lấy đạo lý hay, đẹp, tốt, lành làm nhân văn. văn minh mang sung lực hiện đại hóa văn hóa qua cải cách, qua canh tân, được hỗ trợ bởi khoa học hay, bởi kỹ thuật lành, bởi công nghiệp sạch. Có văn hóa, chưa chắc có văn minh, làm lãnh đạo chính trị phải đưa văn hóa về hướng văn minh để thăng hoa văn hóa. Văn minh là chiều cao của văn hóa, đẩy văn hóa đi lên, thì văn hiến là bề dầy, là chiều sâu, là chính sử của văn hóa. Chính văn hiến tạo rễ sâu, gốc chắc cho văn minh nâng, đưa, đẩy văn hóa hướng tiến hóa.Chuyện đáng buồn và đáng lo là các lãnh đạo tối cao của Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay không xem, không hiểu, không thấu vì không đủ tầm, không đủ vóc để biến ba biến số : văn hóa, văn minh, văn hiến thành ba hằng số trong các chính sách của họ.

Nhân rộng-lý mở

Làm chính trị với chữ nhân rộng qua cái lý mở là một "nghề" rất khó, làm lãnh đạo chính trị với chữ nhân rộng nhất qua cái lý mở nhất, chắc chắn là một "nghề" khó nhất trên đời ! Vì phải nhận những trách nhiệm nặng, đón những bổn phận rộng, nâng cao đạo đức dân tộc, hiểu xa đạo lý nhân loại. Vậy, nên suy nghĩ kỹ, thật kỹ trước khi chọn "nghề" khó nhất này. Nhân rộng-lý mở vừa là luận thuyết sinh động của chính trị, vừa là thực hành thông minh của lãnh đạo. Nhân rộng vì nhân vừa gần-vừa xa, nó gần có ngay trước mặt lãnh đạo chính trị. Đó là nhân dân, dân chúng, quần chúng : nghèo hay giầu, vui hay buồn, đau khổ hay hạnh phúc, nếu không trực diện để thấy, để hiểu, để thấu thì đừng đòi làm lãnh đạo chính trị. Còn dành làm để tham ô, trục lợi thì không phải làm chính trị mà là trộm, cắp, cướp, giựt bằng chính trị. Nhân xa vì nó bắt kẻ lãnh đạo phải "nhìn xa, trông rộng", đưa nhân tính vào nhân tình, đưa nhân thế vào nhân tâm, đưa nhân nghĩa vào nhân loại, qua con đường của nhân tri, bằng phương tiện của nhân trí. Nhân là phạm trù của tri thức, bó buộc kẻ lãnh đạo muốn trị (trị dân-trị nước) phải có tri, lấy tri để lập trí. Lý mở vì mở ra bên ngoài mới tồn tại, mới sống còn, mới có khí trời để thở, mới có thực phẩm để ăn, nhất là có nhân tri của nhân loại bên ngoài để học, có nhân lý của nhân thế bên ngoài để khôn lên, có nhân trí bên ngoài để thông minh lên. Lý mở là lý biết đón, biết tiếp, biết nhận, biết mời : các kinh nghiệm hay, các kiến thức tốt, các bài học đẹp, các nhân thế lành để tạo ra tiềm năng, tiềm lực cho chính ta.

Thông minh chính trị, minh triết lãnh đạo

Tất cả những lý đóng (đóng cửa, đóng biên giới, đóng lãnh thổ...)độc (độc tài, độc quyền, độc tôn, độc trị, độc đảng) đều đáng nghi ngờ, và nhân dân có quyền ngờ vực mọi lãnh đạo chính trị có ý đồ đóng vì độc. Nhân rộng-lý mở là nơi hội tụ thông minh chính trị và minh triết lãnh đạo, vì nó được kết tinh bởi hai hùng lực chính trị mà kẻ làm lãnh đạo phải thông hiểu : lý tưởng chính trị càng rộng thì nhân dân càng khôn (từ khôn có sở hữu là nhân trí, tức là khôn ngoan chớ không phải khôn lanh), ở đây sau khi thành công về chuyện "cơm no, áo ấm" cho dân, thì phải đi tới hướng "dân giàu nước mạnh", lại còn phải đi thêm bước nữa "nhân loại thái hòa". Vô hạn chính trị không bị khung trong một quốc gia, mà ngược lại muốn cho quốc gia đó tồn tại, có chỗ đứng xứng đáng trong quan hệ quốc tế, thì phải tìm liên minh, tìm đồng minh, tất cả trong quy luật vô hạn chính trị luôn "thêm bạn, bớt thù", luôn vô hạn học trong vô biên hiểu để luôn"học người để khôn ta". Phương trình Nhân rộng-lý mở chính là thông minh chính trị-minh triết lãnh đạo.

Ý thức chính trị, nhận thức lãnh đạo

Nhân nhập nhân vừa là lương tri của chính trị, vừa là lương tâm của lãnh đạo, đây là quá trình nhập nội vào thực tế của nhân dân, thực cảnh của dân chúng, thực tại của quần chúng để thấy, để hiểu, để thấu các vấn đề, các khó khăn, các lầm than của dân tộc, và nếu chỉ ngồi trong bàn giấy, chỉ đóng cửa phòng để họp hành, thì "có mắt cũng như mù" trước hiện thực (bây giờ và ở đây) của xã hội. Nhân nhập nhân trước hết là lấy nhân tính để nhập nội vào nhân tình ngay trong xã hội mà nhân dân đang sống, đang làm, đang ăn, đang ở, để thấy các trầm luân hằng ngày của nhân sinh, thấy dân đen nhọc nhằn như thế nào, hiểu dân oan tủi nhục ra sao, từ đó mới có ý thức chính trị để có nhận thức lãnh đạo qua chính sách. Nhân nhập nhân sau đó là lấy nhân nghĩa để nhập sâu vào nhân thế ngay trong đau đáu "chén cơm manh áo" của nhân dân, ngay trong trằn trọc "cơm áo gạo tiền" của dân chúng, để thấy thật rõ các thiếu thốn hằng ngày trước các lo toan "ăn bữa sáng lo bữa tối", rồi từ đó mài dũa ý thức chính trị cho thật bén, thật sắc để phục vụ cho nhận thức lãnh đạo thật sâu, thật rộng. Chuyện giả vờ dựng kịch đi "ăn phở" với dân thường của thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Hội An, vậy mà trước đó lại kéo hàng chục xe hộ tống qua phố cổ, nơi mà mọi người phải đi bộ, nơi mà Liên Hiệp Quốc qua Unesco muốn bảo tồn. Đây chỉ là trò chính trị thấp, của lãnh đạo tục !

Ý thức chính trị trong não bộ lãnh đạo

Nhân nhập nhân tiếp theo là lấy nhân tâm để nhập cho thấm nhân sinh, qua thành tâm của lãnh đạo phải sống với dân để hiểu dân. Đây là chuyện không khó làm, ta đã thấy nhiều lần trong Việt sử, và có không biết bao nhiêu chuyện trong sử của thế giới là vua, quan, tướng "giả dân" để "đi vào dân", để "chia sẻ cùng dân". Từ đó, đặt ý thức chính trị vào chỗ trung tâm của não bộ lãnh đạo, để có chánh ngữ khi tuyên bố : "lấy dân làm gốc" ! Còn chuyện dành đứng hàng đầu trong các lễ hội, chọn ghế ngồi hàng trên trong các hội thảo, bám chỗ ưu tiên để vái lạy trong các chùa chiền chỉ là trò bịp trong chính trị, cho kịch rởm của lãnh đạo ! Nhân nhập nhân để nắm vững phương trình ý thức chính trị-nhận thức lãnh đạo, để hiểu chính nhân dân đưa đường dẫn lối cho chính sách, chính dân chúng soi sáng chính nghĩa của lãnh đạo.Sống đủ-đủ sống trong nhận định "cơm no, áo ấm" đã là chuyện rất rõ trong lãnh đạo chính trị, vì nó được định lượngđịnh chất bằng các chỉ báo khách quan, các tính toán khoa học, các phân tích thống kê : một người, một gia đình, một quốc gia với bao nhiêu dân, thì cần bao nhiêu thực phẩm, bao nhiêu năng lượng để lao động, để sống bình thường... Chỉ số thu nhập, trung bình sản suất, sức mua trong tiêu thụ cũng được định toán hóa, mô hình hóa, để phân loại một quốc gia là giàu và một số nước là nghèo, và ở giữa là các dân tộc được xem là đủ sống đủ-đủ sống.

Sống còn-còn sống : thảm kịch của Việt tộc

Sống đủ-đủ sống phải được phân tích đầy đủ qua khác biệt vùng miền, nơi mà mọi người biết là trên đất Việt, nếu ở vùng sâu-vùng xa thì sống khó-khó sống, chính lãnh đạo phải hằng ngày đau đáu về chuyện sống khó-khó sống này, vì chóng chầy nó sinh ra một bi kịch khác : sống còn-còn sống, đây là nghịch cảnh vì nó nghịch chiều với sống đủ-đủ sống. Vì, sống còn là phải tranh sống hằng ngày để được sống, và còn sống nhưng biết phải đau đớn chấp nhận một quy luật vô cùng bất công là "sống nay, chết mai". Nên, sống còn-còn sống hiện là thảm kịch của các bé vùng sâu-vùng xa phải ăn lá để sống còn ; và cha mẹ của các bé còn sống nhưng cuộc sống không có lối ra, cuộc đời trước mắt là ngõ cụt ! Sống còn-còn sống là sống thiếu, sống lây lất, sống vật vờ, đó là sống đói, sống khổ. Kể cả sống trong căm phẫn khi thấy các lãnh đạo từ trung ương tới địa phương dựng chuyện xây đài tưởng niệm hàng ngàn tỷ để chia chát, để vơ vét, để biển lận trong cảnh cùng quẩn của dân chúng vùng sâu-vùng xa, đó không những là trường hợp của Sơn La, mà cả của Cao Bằng, Yên Bái... Bọn này không phải lãnh đạo chính trị, chúng chính là bọn "hút máu, nạo tủy" của dân, lấy tiền thuế của dân để làm giàu qua đục khoét ngân sách nhà nước.

Sống đúng là sống trong nhân phẩm, tạo ra nhân cách

Làm lãnh đạo mà không thấy ba chuyện sống đủ-đủ sống khác nhau với sống khó-khó sống, càng khác hơn nữa sống còn-còn sống, vì ba hệ vấn đề khác nhau "một trời một vực", thì các lãnh đạo nầy đừng lãnh đạo nữa. Sống đủ-đủ sống mà rơi vào sống khó-khó sống để nay mai sa vào sống còn-còn sống hiện đang là số phận ngặt nghèo của rất nhiều đồng bào ta, nhưng họ vẫn sáng suốt để nhận ra là các thiên tai (bão, lũ, lụt...) đi kèm với nhân tai (phá rừng, xã lũ, diệt môi trường...), khi người dân gọi đó là nhân tai thì các lãnh đạo chính trị phải hiểu là họ đang buộc tội lãnh đạo : "trời đánh dân" qua thiên tai thiên tai (bão, lũ, lụt...) trước hết là lỗi, là tội của lãnh đạo, trước đó đã để xẩy ra nhân tai vì lãnh đạo vô trách nhiệm ! Sống đúng là sống trong nhân phẩm, tạo ra nhân cách, dựng được phong cách của cá nhân trong xã hội, bảo vệ được tư cách biết dụng đạo lý hay, đẹp, tốt, lành, để đối nhân xử thế, qua luân lý của tổ tiên có trách nhiệm với giống nòi, có bổn phận với tổ quốc. Nhận chức trong lãnh đạo chính trị phải dựa trên đức của sống đúng trong nhân nghĩa, nhân đạo, nhân tâm để dụng trong nhân lý, nhân tri, nhân trí, để trị (quản lý, tổ chức) nhân thế, nhân tình, nhân loại. Làm lãnh đạo chính trị là hằng ngày học hệ nhân này, nói cho sâu là tu với nó, tu theo nghĩa tự rèn luyện-tự huấn luyện mình.

Xã hội tốt, định chế tốt, cơ chế tốt, đời sống tốt

Trong tôn giáo, ta thấy có kẻ tu được, có kẻ không tu được ; và kẻ tu trọn tức là kẻ tu đúng, thì ta xem như hộ có : chân tu ; trong chính trị ta thấy rất rõ chuyện này có kẻ làm chính trị được, làm trọn đời, làm cả kiếp, và khi rời khỏi cõi đời này, thì dân mang ra để thờ, đó là các lãnh đạo đắc đạo nhờ đã lãnh đạo với chữ : nhân ! Sống đúng còn là sống trong nhân văn, được hiểu theo nghĩa rộng là sống với văn hóa cao, xử thế với văn minh rộng, đối nhân trong văn hiến cao, trong đó lãnh đạo có trách nhiệm làm sáng văn hóa, có bổn phận dụng văn hiến 4000 năm của Việt tộc để đưa văn minh vào đời sống hằng ngày của nhân dân, để người dân sống văn minh trong mọi sinh hoạt xã hội. Sống đúng cần có cơ sở của một xã hội tốt, qua các định chế tốt tổ chức được các cơ chế tốt, bảo đảm một đời sống thường ngày tốt. Các lãnh đạo phải lắng nghe các câu hỏi của thanh thiếu niên, hằng ngày trên truyền thông mạng xã hội, và phải trả lời các câu đó với hệ nhân một cách chính đáng nhất. Sống đúng trước hết đối với lãnh đạo chính trị trước hết phải là sống thực, với sự thật làm nên chân lý, chế tác ra lẽ phải để trị (quản lý, tổ chức). Sống đúng đối với lãnh đạo chính là sống sạch, không tham quyền cố vị để trục lợi, nhận thanh bạch, không sợ thanh đạm, bất chấp thanh bần, như vậy mới gánh vác được đại sự !

Quy trình sống đủ-sống đúng-sống vui

Sống vui hàng ngày để vui sống cả đời, là sự hiển hiện của hạnh phúc, khi sống đủ đã có và sống đúng đã thành, thì thực tế cả một dân tộc sống vui- vui sống chính là niềm vui cao đẹp nhất của lãnh đạo chính trị. Đây không phải là chuyện mơ mòng, mà là chuyện có thật, có thật và kéo dài hàng trăm năm qua hai đời Lý-Trần, mà Việt sử kể lại với thái hòa là thực cảnh nơi mà nhà cửa cứ để mở mà không lo sợ trộm cắp, với thái bình là bối cảnh mà cả nước chuộng thiền, yêu thiền, sống thiền. Có nhiều vua, lắm tướng đánh giặc giỏi, lãnh đạo tài, quản lý đúng, lại còn biết đi tu, trong hiện cảnh của một quốc gia biết "an nhiên, tự tại, với minh vương Lý Thái Tổ, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông… Quy trình sống đủ-sống đúng-sống vui phải có trong giáo trình đào tạo lãnh đạo của đất nước, "cầm cương nẩy mực" vì đồng bào, nhận đối thoại thường xuyên với nhân dân, không chỉ vì mục đích kính tế, vật chất mà còn có giáo dục song hành cùng văn hiến, của một dân tộc tìm sự sung túc cùng lúc với các giá trị tâm linh. Không cần phải là nước giầu nhất, mạnh nhất để đạt được chuyện này. Đây chính là chuyện cứu cánh của lãnh đạo chính trị, đó là thực tế của ba quốc gia Bắc Âu nhỏ nhưng không nghèo, ít dân và rất quý dân : Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy. Họ làm đúng trong giáo dục mà không cần đầu tư nhiều tiền như Việt Nam hiện vào tượng đài liệt sĩ, vào nghĩa trang ưu tiên cho cán bộ cao cấp.

Hại dân, dân hại

Nhân vừa là nguyên nhân, vừa là nhân loại, trong đó nguyên của hạt, của giống, khi gieo vào đất sống, cấy vào nhân sinh luôn theo quy luật "nhân nào quả nấy". Vì, quảkết quả, nếu hay, đẹp, tốt, lành thì là hiệu quả ; còn nếu xấu, tồi, tục, dở thì là hậu quả. Quy luật "nhân nào quả nấy", được Phật giáo phân giải tận tường, Khổng giáoLão giáo không phân tích ngược lại hoặc khác đi ; trong khoa học xã hội và nhân văn đã dụng nó không những như lý thuyết luận mà còn như phương pháp luận để phân tích chính xác hơn quan hệ xã hội qua chính trị, giữa kẻ thống trịngười bị trị. Nhất là trong chính trị học, luôn lấy quy luật nhân quả làm cốt lõi để giải thích các phản xạ của quần chúng, các phản ứng của nhân chúng trong ngắn hại, trung hạn và dài hạn. Quy luật "ác quả ác báo" tới để củng cố quy luật "nhân nào quả nấy", cùng lúc mài sắc nhọn hơn diễn luận của quy trình nhân quả, để báo động cho nhân sinh biết cái hậu quả của xấu, tồi, tục, dở đang biến thái qua hậu nạn tới từ thâm, độc, ác, hiểm. Nơi đây, hệ bạo (bạo quyền, bạo lực, bạo hành, bạo động, bạo chúa…) bó buộc các lãnh đạo phải nghiệm thêm cho thật tỉnh táo và sáng suốt thêm một vấn nạn khác, có nhân lý vì có nhân tri : "hại nhân, nhân hại", không biết các lãnh đạo hiện nay có đủ tuệ giác hay không để cụ thể hóa nó hơn nữa : "hại dân, dân hại" !

Lý tưởng chính trị

Lý tưởng chính trị vừa chính sách hóa được các phương án phục vụ nhân dân và đất nước, vừa mô hình hóa được các tổ chức cụ thể trong đầu tư và kiểm tra, vừa cụ thể hóa mọi sinh hoạt chính trị, nơi mà lãnh đạo chính trị dẫn dắt từ thượng nguồn tới hạ nguồn các quyết tâm thực hiện các chỉ tiêu trong thực tế. Tại đây, sinh hoạt lãnh đạo chính trị là tổng kết tất cả các sinh hoạt của xã hội, từ nông nghiệp đến công nghiệp, từ kinh tế đến thương mại, từ giáo dục tới văn hóa… để tìm ra tổng lực làm cho được chuyện dân giầu nước mạnh. Lý tưởng chính trị làm nên niềm tin chính trị, nếu quốc thái dân an theo hướng đi lên của dân tộc, giới hạn mọi hậu nạn, tăng trưởng mọi sản suất, làm giầu thực sự cho mọi tầng lớp có mặt trong xã hội, thì lý tưởng chính trị đã làm nên sức mạnh chính trị. Quá trình lý tưởng-niềm tin-sức mạnh, không chỉ quyết tâm chính trị, mà nó chính là thông minh chính trị, quá trình này chính là sung lực xuyên qua để nâng lên trình độ chính trị của dân chúng, cường độ nhận thức chính trị của nhân dân. Lý tưởng chính trị trong năng lực của lãnh đạo chính trị mang luôn tiềm lực thay đổi nhân sinh quan của một dân tộc, lấy nhân tính để giáo dục nhân tình ; làm biến đổi thế giới quan của một giống nòi, lấy nhân tri để hiểu nhân loại ; làm chuyển đổi vũ trụ quan của quần chúng, hiểu môi trường chính là môi sinh cho nhân thế.

Lý tưởng chính trị bắt đầu bằng liêm chính-liêm minh-liêm khiết

Nếu phương trình nhân sinh quan-thế giới quan-vũ trụ quan được thăng hoa, thì đây chính là kết quả của tiến bộ, của văn minh, cũng là sự thành công cụ thể của lãnh đạo chính trị. Lý tưởng chính trị biến cái tầm thường lập đi lập lại không có tiến bộ, đổi cái bình thường vô thưởng, vô phạt, thay cái tầm phào của sống lây lất, đưa tất cả vào quy trình hiện đại hóa có văn minh, cùng lúc giữ được các tuyền thống tốt lành, các di sản hay đẹp, đây chính là quá trình khai thị-khai minh-khai trí có trong bổn phận và trách nhiệm của lãnh đạo chính trị, nếu lãnh đạo liêm chính-liêm minh-liêm khiết. Lý tưởng chính trị bắt đầu bằng liêm chính-liêm minh-liêm khiết để làm cho bằng được chuyện khai thi-khai minh-khai trí thì đây đúng là lãnh đạo lấy chân thật- chân tình-chân chính để chứng minh được là trong chính trị có chân tu : lấy chức để tạo đức, lấy đức để tạo phúc cho dân, lấy phúc tạo lợi cho nước.

Lý của lãnh đạo : bảo vệ đất nước, bảo bọc nhân dân

Lý của lãnh đạo, hoàn toàn ngược lại với hiện thực của Việt Nam hiện nay, là một Đảng cộng sản Việt Nam lấy ghế để ngồi trên lợi ích của dân tộc, thấy mệnh nước lờ mờ, nhìn nhân dân mông lung, lại có những liên minh chằng chéo với ngoại bang xâm lược là Tàu tặc, các lãnh đạo chính trị của Đảng cộng sản Việt Nam đang mất đi cái lý của lãnh đạo. Lý của (lãnh) đạo bắt đầu bằng hành động luân lý, hành vi đạo lý nhận trách nhiệm bảo vệ đất nước, bảo bọc nhân dân, bài học nhập môn này trong lãnh đạo chính trị bắt đầu bằng ý lực như mãnh lực trở lại thượng nguồn của dân tộc, ngay trong lịch sử để thấy-và-lấy được những kinh nghiệm của tổ tiên, tài năng của cha ông trong việc dựng nước và giữ nước, chính trị không bao giờ rời lịch sử. Lý của (lãnh) đạo trong bài học thứ hai nằm ngay trong thực tế, được xây dựng lên bởi nhiều thực tại, trong đó lãnh đạo chính trị phải làm được hai chuyện cùng một lúc, hai chuyện này gần như trái ngược nhau trong thực cảnh, để nắm rõ thực trạng của dân tộc. Một là giải quyết các bất công gây nên căng thẳng, hiềm khích, xung đột trong xã hội ; hai là lập ra chính sách cho tương lai có mục đích chính là bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, phát triển đất nước, với mục tiêu cao thượng là đưa xã hội về phía văn minh để thăng hoa dân tộc trên, chính trị không bao giờ rời xã hội.

Lý của lãnh đạo : tập hợp được tất cả tiềm năng của dân tộc

Lý của (lãnh) đạo trong bài học thứ ba là tập hợp được tất cả tiềm năng của dân tộc, tài nguyên của đất nước trong một sung lực tổng thể để tạo được một ý lực trong chính sách bảo vệ và phát huy đất nước, nơi đây lý tưởng chính trị đi đôi với hành động lãnh đạo. Chính lãnh đạo sẽ biến sung lực thành hùng lực trong phát triển kinh tế và mãnh lực trong quyết tâm bảo vệ bờ cõi quê hương, chính trị không bao giờ rời nhân dân. Lý của (lãnh) đạo trong bài học thứ tư chọn phương hướng để làm định hướng, biết định hướng để thấu các ưu tiên ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, rồi xếp loại và xếp thứ tự các ưu tiên này qua các chính sách để quyết đoán đâu là ưu sách phải thực hiện cho bằng được để dân tộc được thay đời đổi kiếp theo chiều hướng hay, đẹp, tốt, lành, đưa nhân tính vào nhân tình, đưa nhân tri vào nhân loại, đưa nhân thế vào nhân nghĩa, đưa nhân phẩm vào nhân bản, chính trị không bao giờ rời nhân đạo. Lý của (lãnh) đạo trong bài học thứ năm là nắm thời giữ thế -tùy thời lập kế, tùy thế lập mưu- để chọn ra các chính sách nhiều hiệu quả, ít hậu quả, vắng bóng khổ đau, ngày càng đầy phúc lợi cho dân tộc, không bị xơ cứng trong ý thức hệ, không bị nhốt tù bởi các khẩu lịnh tuyền truyền xa thực tế, xa thời thế, chính trị không bao giờ rời thời cuộc.

Ý tưởng chính trị phục vụ cho lý tưởng lãnh đạo

Lý của (lãnh) đạo trong bài học thứ sáu là biến tâm niệm quốc thái dân an thành tâm lực dân giầu nước mạnh, trong đó kẻ lãnh đạo giỏi là kẻ của bây giờ và tại đây, kẻ lãnh đạo tài là kẻ của hiện thực của thế giới hiện nay, kẻ lãnh đạo lớn là kẻ thấu nội cảnh và hiểu ngoại cảnh của đất nước mình, để dùng ngoại cảnh mà nâng nội cảnh. Nếu ý tưởng chính trị sinh ra từ lý tưởng lãnh đạo (quốc thái dân an để tiến tới dân giàu nước mạnh) thì ý tưởng chính trị sẽ làm nền cho sáng kiến trong quyết định, cho sáng tạo trong chính sách, từ đó thực tế hóa lý tưởng lãnh đạo. Từ đây nhân dân có thể đặt ra hai yêu cầu cho chính giới lãnh đạo, thứ nhất nếu không có ý tưởng chính trị để phục vụ cho lý tưởng lãnh đạo thì đừng lãnh đạo ! Thứ hai lý tưởng lãnh đạo luôn là ý lực lãnh đạo vượt kinh nghiệm của quá khứ, không lập đi lập lại cái cũ nếu cái cũ không làm dân tộc thăng hoa, đất nước giầu đẹp. Tới đây ta thấy hệ vấn đề lý tưởng lãnh đạo sẽ làm đầu tàu cho mọi sinh hoạt lãnh đạo chính trị, trong đó bọn tham quyền không có ghế ngồi, bọn tham ô không có chỗ đứng, bọn tham nhũng không có chỗ dựa.

Ý lực lãnh đạo, thực lực chính trị

Ý tưởng chính trị thể hiện lý tưởng lãnh đạo trong việc đi tìm quốc thái dân an rồi tiến tới dân giàu nước mạnh, thì đây là chuyện thực tiễn chớ không phải chuyện lý thuyết, chuyện thực tế chớ không phải chuyện trừu tượng, và bản lĩnh của lãnh đạo chính trị là đưa ý tưởng chính trị vào nhân sinh, đưa lý tưởng lãnh đạo vào nhân tình, để ý lực lãnh đạo biến thành thực lực chính trị, làm nên thực tế xã hội. Nếu không có lý tưởng lãnh đạo, thì sẽ không thấy, không hiểu, không thấu phương trình biến hóa của ý lực lãnh đạo-thực lực chính trị-thực tế xã hội, theo dân tộc theo hướng thăng hoa. Nếu không nhận ra phương trình này thì đừng lãnh đạo, hay để những kẻ có lý tưởng hơn mình thực hiện phương trình này, biến nó thành chương trình cụ thể trong lãnh đạo chính trị thay mình. Chính lý tưởng lãnh đạo dẫn dắt ý tưởng chính trị tạo ra đường lối chính thống cho mọi sinh hoạt chính trị, chế tác ra các quá trình tuyển chọn chương trình chính trị. Và, nếu lãnh đạo liêm chính với chính sách liêm minh thì lý tưởng lãnh đạo có mặt ngay trong hiến pháp, để điều hành tư pháp, điều chế hành pháp, điều động lập pháp.

Ý tưởng chính trị làm gốc cho tư tưởng chính trị

Trong không gian của quyền lực có sân chơi-trò chơi-luật chơi chính trị được cổ vũ bởi lý tưởng dìu dắt ý tưởng, mà ta thấy rất rõ trong các nước dân chủ vì tiên tiến, văn minh vì tôn trọng nhân quyền. Hiện diện của lý tưởng lãnh đạo đưa đường dẫn lối ý tưởng chính trị không hề là chuyện mơ hồ, huyền hoặc trong chính giới, vì nó vừa là mục đích, vừa là động cơ để cải tổ chức các định chế dựa trên phương án lý tưởng lãnh đạo-ý tưởng chính trị. Trong ý tưởng chính trị có sáng kiến và sáng tạo của đường lối chính trị, sẽ làm gốc cho tư tưởng chính trị, dựa trên lý tưởng lãnh đạo vừa là bàn đạp, vừa là dàn phóng cho mọi chính sách. Trong đó có sự chấp nhận cạnh tranh giữa các ý tưởng chính trị, có sự chấp thuận đấu tranh giữa các lý tưởng lãnh đạo. Đây chính là nội công của sinh hoạt chính trị, nội lực của bản lĩnh lãnh đạo ; nhận cạnh tranh, nhận đấu tranh tới từ đối phương, đối thủ như nhận sự "bồi dưỡng chính trị" tới từ ngoại giới để thêm sức, thêm tài cho sung lực chính trị của mình.

Lý tưởng đi xa-quyết tâm đi lên

Chỉnh chu trong hành động chính trị phải dựa vào sự chu đáo của lãnh đạo, trong đó liên tục chỉnh đốn hàng ngũ lãnh đạo, để có hiệu quả trong sinh hoạt chính trị, không ngừng cải tổ theo hướng tốt mà không cần phải dùng xương máu để làm cách mạng. Biết có công bằng qua công lý, để pháp lý có chỗ dựa là pháp luật, vừa nghiêm minh để chống tội ác, vừa biết khoan hồng để giáo dục dân chúng theo hướng tự giác, từ ý thức tới nhận thức. Lý chỉnh chu nhờ luôn được chỉnh đốn bởi đạo lý hay, đẹp, tốt, lành, bởi luân lý vững chắc của tổ tiên biết nhận bổn phận và trách nhiệm với non sông, với giống nòi, đây là chuyện có thật và có độ dày (rất dày) trong Việt sử qua quyết tâm của Ngô Quyền, qua quyết đoán của Lý Thường Kiệt, qua hai đời thịnh trị Lý-Trần, qua đạo đức của Nguyễn Trãi, qua mãnh lực của Quang Trung. Lý chính trị chỉnh chu (quốc thái dân an) luôn được bồi dưỡng bởi lý tưởng chính trị (dân giàu-nước mạnh) không hề là chuyện mơ tưởng chính trị, mơ hồ lãnh đạo, đó là những mô hình sáng, luôn được lau chùi để ngày càng sáng hơn, qua hành động chính trị cụ thể của lãnh đạo : làm chính trị thì đừng chọn cách đi đường mòn trên cái xấu, cái dở, để lập lại cái tồi, cái hèn, mà chọn cái sáng suốt khác để đi lên, trong cái tỉnh táo của lãnh đạo có lý tưởng đi xa vì có quyết tâm đi lên.

Nội chất của chính trị chính là nội lực của lãnh đạo

Lý chính trị chỉnh chu (quốc thái dân an) qua lý tưởng chính trị (dân giầu-nước mạnh) mang cách xử lý phương trình gần dân-xa thói, tức là luôn gần dân để hiểu mong cầu và đòi hỏi của dân, nhưng xa thói xấu, như xa các lệ tầm phào vì tầm thường trong nhân cách. Cụ thể là dân tình quý trọng các lãnh đạo liêm minh-liêm chính-liêm sỉ, chấp nhận thanh bạch-thanh đạm-thanh bần, và dân tình rất khinh thói khoe của hiện nay của các lãnh đạo xây biệt phủ, biệt dinh, biệt thự của các lãnh đạo thối nát. Cụ thể có ông lãnh đạo tối cao thủa nọ : cựu tổng bí thư Nông Đức Mạnh xây dựng nội thất mạ vàng, người ta khinh vì nó chỉ nói lên cái vô lý của vô minh, vô tri, vô giác của một lãnh đạo. Ta khinh bọn lãnh đạo sống để mạ vàng trong khi dân đen, dân oan ngày càng nhiều, chỉ vì ta thấy chúng ngày càng gần hệ bán nước-ngày càng xa hệ cứu Không trọn lý thì đừng mong trọn tình trong lãnh đạo chính trị trước nhân dân, vì đất nước, vì tiền đồ của tổ tiên ; những mơ hồ trong thuật ngữ : lãnh đạo vừa là kỹ thuật, vừa là nghệ thuật, đã biến thành sáo ngữ, vô thưởng vô phạt, nếu kẻ lãnh đạo không nhận ra nội chất của chính trị chính là nội lực của lãnh đạo, trong đó kết quả của chính sách được đo lường qua hiệu quả của kẻ lãnh đạo.

Trọn : học cho kỹ để hành cho đúng

Học cho kỹ để hành cho đúng là sinh hoạt thường nhất của lực lượng lãnh đạo, trong đó quá trình hành động chính trị được xếp đặt có thứ tự trong quá tình xây dựng chính sách. Trọn cứu cánh trong lý giải các chính sách, ở đây mục đích chính sẽ lý giải mọi mục tiêu trong thực tế, ở đó chuyện ích nước-lợi dân, là chính, lấy công ích dẫn dắt tư lợi. Trọn phương tiện, trong giải thích về các giai đoạn đầu tư, từ đây có tự lực để có tự cường, lấy tự chủ để vận động liên minh, kể cả viện trợ quốc tế. Trọn lợi ích, trong lý giải các thành quả, bằng kết quả hay cho giống nòi, tốt cho dân tộc, đẹp cho văn hóa, lành cho xã hội. Các lợi ích luôn có tính hữu hiệu đẩy lùi được các chuyện xấu, tồi, tục, dở trong xã hội, trong dân chúng. Trọn đầu tư, biết thuyết phục các chi phí của cả công trình, chống tham nhũng để chống đầu cơ, chống tham ô để chống trục lợi ; cô lập bọn "sâu dân mọt nước", vô hiệu hóa bọn "thừa nước đục thả câu", phong tỏa hóa bọn "mượn đầu heo nấu cháo", chúng sẽ không có chỗ ngồi trong đầu tư, vì chúng không có chỗ đứng trong chính sách.

quyenluc9

Lý gần là lý gần với thực tế của nhân dân

Trọn thấu hậu quả với những phân tích về các hậu nạn có thể xẩy ra, hậu nạn luôn ở số nhiều về nhân lực cũng như về nhân phẩm, về tài nguyên cũng như về môi trường, về xã hội cũng như về văn hóa, về giáo dục cũng như về luân lý… nếu hậu quả lường được, mà lại nhiều hơn hiệu quả thì đừng ra chính sách, đừng bỏ sức để đầu tư. Trọn tăng trưởng với các tính toán sinh lời trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, trong con tính : có rồi thì được quyền có thêm, có ít thì được quyền có nhiều hơn để nâng cao cuộc sống hằng ngày cho nhân dân, trong đó luân lý, đạo lý giáo dưỡng hệ thống giáo dục, lấy kinh tế phục vụ xã hội, lấy lợi nhuận phục vụ lao động, lấy sáng suốt để bảo vệ tài nguyên, lấy tỉnh táo để bảo tồn môi trường, lấy nhân trí để tăng trưởng nhân lý. lý gần là lý gần với thực tế của nhân dân, trong đó chuyện chén cơm manh áo của dân chúng lãnh đạo phải hiểu, tại đây chuyện cơm áo gạo tiền của quần chúng lãnh đạo phải thấu, ở đây chuyện giá áo túi cơm của nhân dân lãnh đạo phải có sự đồng cảm, không xem thường chuyện thiếu thốn của dân tộc. Ý nguyện thành ý lực đủ ăn, đủ mặc chính là thao thức đau đáu hằng ngày của lãnh đạo chính trị.

Lý xa : thay đời đổi kiếp

Lý xa là chuyện xa nhưng làm được vì nó không xa vời, vì muốn làm lãnh đạo là muốn đưa dân tộc với tới được chuyện thay đời đổi kiếp theo hướng đi lên, bền và vững của dân giầu nước mạnh. Lý xa nhưng thực hiện được vì đã có trong vốn liếng văn hóa và giáo dục của tổ tiên : con hơn cha là nhà có phúc, không trên mức độ của vài cá nhân, của vài từng lớp lãnh đạo, mà trên cường độ của cả nước, của toàn dân, trong đó đại đa số được hưởng sống vui để vui sống, không sưu cao thuế nặng, không cường hào ác bá, cụ thể là không có dân đen, không còn dân oan. Lý gần là lý gần kề với thực trạng của dân tộc, có đủ cơm ăn áo mặc, không phải đi làm lao nô ngay trên đất nước mình cho các doanh nghiệp ngoại quốc, không chịu cảnh nô tỳ cho các nước láng giềng, tuyệt đối không rơi vào cảnh nô lệ của họa tầu tặc. Lý gần vì lãnh đạo có thể làm được tức khắc qua quyết tâm chính trị biết dựa vào lý tưởng chính trị, mà không cần gọi tên qua xảo ngữ để lừa dân là lý tưởng cách mạng ! Lý xa là đưa nhân tri sáng, nhân trí cao vào nhân tình nghèo, vào nhân thế thấp, làm cho bằng được cuộc cách mạng nhân phẩm : quyết chí làm chủ và từ chối làm tớ, để thành công như các nước láng giềng cùng nôi văn minh trong tam giáo đồng nguyên như ta : Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc. Lấy sáng kiến trong giáo dục làm ra sáng tạo trong khoa học kỹ thuật ; chọn kiếp cao, bỏ kiếp thấp, cụ thể lấy tự chủ để có tự lập lập ra tự cường, tức là chọn tự trọng trước tổ tiên và con cháu, quyết không chọn điếm nhục với láng giềng, với thế giới !

Lý không chấp nhận cớ của thực

Lý không chấp nhận cái cớ của thực (thực tế, thực cảnh, thực trạng) đặc thù của sinh hoạt chính trị không chấp nhận nghèo đói, là lý đặc trưng của chính giới không chấp nhận lạc hậu, làm nên lý đặc điểm của lãnh đạo chính trị, nơi mà lãnh đạo là để xóa nghèo nàn lạc hậu. Còn bọn lãnh đạo nào mà vỗ ngực là lãnh đạo chính trị mà nhắm mắt trước nghèo đói, khoanh tay trước lạc hậu, quỳ gối trước ngoại xâm, lại còn lẳng lặng vơ vét qua chuyên quyền-tham quyền-lạm quyền, gây ra tham nhũng-tham ô. Bọn này không phải làm chính trị, mà chúng chỉ mượn việc lãnh đạo tham quantham bòn rút, tham ăn vì "quen thói bốc trời", mà thi hào Nguyễn Du đã mô hình hóa được bọn tội phạm này. Lý không chấp nhận thực tế tới từ bất bình đẳng tạo ra bất công, bất công tạo ra bất chấp luân lý, bất tuân đạo lý. Không chấp nhận bất bình đẳng tới từ "con sải nhà chùa thì quét lá đa", vì không chấp nhận bất công tới tự "con vua thì được làm vua", không nhượng bộ chuyện "con quan thì được làm quan", không công nhận hiện trạng thái tử đảng, mà nhân dân không thấy tài năng, cũng không thấy đạo đức của chúng. Lý không chấp nhận thực cảnh tới từ bọn "cướp ngày là quan", chúng biến đồng bào mình một sớm một chiều thành dân đen, dân oan. Không chấp nhận bọn "đục nước béo cò", không tha thứ bọn "sâu dân, mọt nước", không lùi bước trước bọn "thừa gió bẻ măng", không khoan nhượng bọn "mượn đầu heo nấu cháo", từ "mua quyền bán chức" qua "buôn thần, bán thánh".

"Buôn nước bán dân" là "bây chết mặc bây" !

Lý không chấp nhận thực trạng tới từ bọn "đem voi dày mả tổ", không nhắm mắt trước bọn con "cõng rắn cắn gà nhà", không quay lưng đối với bọn "buôn nước bán dân", không chấp nhận chúng vì chúng chỉ thấy chúng ! Cái ích kỷ của chúng sẽ đưa tới chuyện "ai chết mặc ai", nếu chúng nắm các chức lãnh đạo thì chúng sẽ làm chuyện bỏ đồng bào chúng "bây chết mặc bây" ! Nếu muốn làm lãnh đạo mà không tự rèn luyện hằng ngày các lý không chấp nhận thực (thực tế, thực cảnh, thực trạng) này, thì đừng lãnh đạo, vì lãnh đạo thì chỉ "khổ dân, nhục nước". Nhân dân không bắt các lãnh đạo hiện nay của Đảng cộng sản Việt Nam đi học lại, để xóa các hậu quả về tụt hậu kinh tế, tệ nạn xã hội, đồi trụy luân lý, suy kiệt chất xám... chúng ta chỉ yêu cầu các lãnh đạo này trở lại ngay tức khắc các bài học mà tổ tiên đã để lại cho con cháu, các bài học này rất dễ hiểu nên rất dễ học, dễ học nên rất dễ trao truyền, dễ trao truyền nên rất dễ đối thoại, dễ đối thoại nên rất có đồng thuận, đồng tâm : Có thực mới vực được đạo, với thực của sự thực để nuôi chân lýlẽ phải và với thực như thực phẩm để nuôi dân, nuôi con cháu, với liên minh chặt chẽ của sự thực qua chính ngôn của lãnh đạo, với chân lý phục vụ cho công lý, với lẽ phải làm nền cho đạo lý hay, đẹp, tốt, lành.

Vong quốc mất trọn, mất trắng

Có chính sách đúng, với chính trị cao, được chỉ đạo bởi lãnh đạo giỏi, theo đúng bài học của tổ tiên : có tích mới dịch nên tuồng, dựa trên năng lực lãnh đạo (khôn cậy, khéo nhờ, khó chịu), lấy tự chủ để làm chủ (khôn làm cột cái, dại làm cột con), có định hướng chủ lực, biết thời hiểu thế, nắm kế thấu mưu, làm lớn thắng to, để sớm thăng hoa dân tộc (khôn làm lẻ, khéo làm mùa). Trước mắt là loại ra cho bằng được bọn "sâu dân, mọt nước", hãy xếp loại chúng : bọn cơ hội trên tài nguyên đất nước (thừa gió bẻ măng), bọn đầu cơ trên tiềm năng dân tộc (thừa nước đục thả câu), bọn đầu nậu trên tiền của nhân dân (mượn đầu heo nấu cháo), bọn trục lợi túi tham không đáy (bắt cá hai tay). Trước hiểm họa xâm lược của Tàu tặc, làm lãnh đạo phải nghiệm ngày đêm về hệ mất mà Việt ngữ đã rất rành mạch trong ngữ vựng, ngữ văn, ngữ pháp : mất mát là thiệt thòi về tiềm năng, bị hao tổn tiềm lực ; mất thân là mất mạng, chết trong thất bại ; mất đời là mất cuộc sống, mất xã hội, mất văn hóa ; mất hết là mất tất cả, không còn gì cho hiện tại lẫn tương lai ; mất trọn là mất tất cả, kể cả gia đình, quyến thuộc, thống tộc, dân tộc ; mất trắng là mất tất cả, kể cả gốc, rễ, cội, nguồn… Mất phải được liên tục suy nghĩ-suy tư-suy ngẫm bởi lãnh đạo, từ mức độ tới cường độ của quốc nạn sắp tới : vong quốc !

Cởi để bỏ

Cởi bỏ ý thức hệ cộng sản cùng lúc giải thể Đảng cộng sản Việt Nam ! trước hết là khẳng định khả năng cởi bỏ cái độc hại của cái độc đảng, để cởi bỏ cái độc đoán tới từ cái độc quyền, để cởi bỏ cái độc tôn tới từ cái độc trị. Độc đảng luôn độc hại, vì nó làm mù quáng hóa kẻ lãnh đạo, tạo ra vô minh để đưa lãnh đạo tới vô tri, cuối cùng là vô giác trước nỗi khổ của dân tộc, niềm đau của giống nòi, với cái độc chỉ thấy nó mà không thấy nhân tình chung quanh để có nhân tính trong kiếp làm người ! Cởi bỏ, là sung lực, nó không hề thụ động vì ươn hèn, quay lưng tránh bổn phận, tháo chạy bỏ trách nhiệm, ngược lại nó mang sự thông minh của giác ngộ, giúp kẻ đã mù, câm, điếctham, sân, si đã mang ma đạo vào nhân trí để gây đổ vỡ cho nhân tri phải cải tà quy chính. Kéo dài độc đảng là kéo dài sự mê chấp trong tư duy để tiếp tục cái mê cung trong hành động chính trị quên đất nước, xua dân tộc để chạy theo phương hướng chuyên chính để chuyên quyền, một lộ trình vô định của vô tri. Cởi bỏ hệ mê (mê muội, mê si, mê chấp, mê cung) chính là sự sáng suốt trong lãnh đạo chính trị. Cởi bỏ cái để tìm cái giác để có cái ngộ là thử thách -chính thức và chính thống- của tập thể lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay nếu họ còn thiết tha với tiền đồ của Việt tộc !

Cởi để mở

Cởi mở trong lãnh đạo chính trị, không dựa trên một cá tính của một cá nhân lãnh đạo với phong thái thoải mái, không dựa trên tâm lý của một cá thể lãnh đạo với hành vi vui vẻ, mà nó chính là giáo dục chính trị sẽ biến thành phản xạ tích cực khi lãnh đạo. Cởi mở trong lãnh đạo chính trị là khả năng đón tiếp kiến thức mới, kinh nghiệm lành, phương án tốt, tư vấn hay, trong tư thế luôn luôn mong muốn học hỏi, biết nghe để biết đón, biết tiếp để biết nhận, biết nhận vì biết trao ! Cởi mở trong lãnh đạo chính trị vừa là nền trong đạo lý chính trị, luôn gần dân, không xa rời quần chúng, vừa là cầu nối để dân chúng được trao đổi về chính sách với lãnh đạo, được đối thoại với chính quyền, được thảo luận với chính phủ. Không mỵ dân, cũng không đạo đức giả, mà dựa vào khả năng lãnh đạo với lý luận về chính sách, với lập luận về đường lối luôn có giáo khoa chính trị, khi gặp nhân dân. Mở lý trí lãnh đạo để nhân dân có thể nói, tiếp, nghe, nhận chính kiến của mình mà không có chuyện "ăn trên, ngồi trốc" để áp đặt chuyện "cả vú lấp miệng em". Cởi mở để tạo quan hệ với quần chúng, với nhân dân, và làm cho quan hệ này vững, bền một cách thường trực, một quan hệ không hề "vô thưởng, vô phạt", mà là một quan hệ ngày càng cao, sâu, xa, rộng, và luôn dựa trên chính giáo của hai bên, có nền là đạo lý hay, đẹp, tốt, lành của một dân tộc, với lộ trình hai chiều "trên nói dưới nghe""dưới nói trên nghe".

Bất công tạo oan khiên

Lãnh đạo cũng là người (là phàm nhân trước khi thành vĩ nhân nếu có thành quả lỗi lạc vì dân tộc), cũng luôn cần hai nhu cầu : cởi mở để có quan hệ giữa người và người, cởi mở để có sự thỏa mãn trong quan hệ xã hội. Nếu là lãnh đạo mà không có quan hệ với quần chúng bên ngoài thì rất đáng sợ ! Đây có thể là loại tâm thần lạc vào chính giới ! Chính có lãnh đạo chính trị hiện nay đang xa rời nhân dân, mặc cho dân đen lầm lũi, mặc cho dân oan lang thang, mà nên làm ngược lại để có tâm niệm chính trị : làm lãnh đạo không phải chỉ tạo ra của cải cho dân, mà còn phải tạo ra quan hệ bền, chắc, vững, lâu với dân ! Bất bình đẳng có mặt trong xã hội, nó tới từ nhiều nguyên do, nhưng không phải bất bình đẳng nào cũng mang tới bất công. Bất bình đẳng là hệ vấn đề của xã hội, bất công là phạm trù có trong xã hội, nhưng được phân giải qua hệ của công pháp, nền móng của pháp luật. Một trong những thất bại lớn của lãnh đạo chính trị là không giải quyết được bất công, mà lại còn gây ra oan khiên, ở đây bất công trở nên oan ức không chấp nhận được, biến nạn nhân của oan án thành kiếp oan khiên, đến chết cũng không yên, thành oan hồn giữa cõi dương của người sống.

Oan vì chính sách thì xử lãnh đạo thật công minh

Nếu bị oan vì chính sách, thì chính kẻ lãnh đạo phải được mang ra xử thật công minh, đưa ra phân xử thật công bằng, không có chuyện đặc quyền dành cho lãnh đạo, không có chuyện làm lãnh đạo thì thoát được tòa án. Pháp luật sinh ra để xử mọi vụ án, và không chừa bất cứ lãnh đạo ở cấp nào trong chính quyền, cấp cao nào trong đảng ! Thử thách hàng đầu của lãnh đạo chính trị là dùng cái thực để làm nên cái tốt, ngày ngày xóa cái nghèo để tránh cái khổ cho dân. Để nhìn thấy được cái khổ trong cõi người thì không khó ! Tại đây, cái khổ được nhận diện qua sự sống còn, ngược lại sống thường là sống bình thường, bình an trong thoải mái, sống mà không phải đấu tranh từng ngày, từng giờ. Trong khi đó sống còn là phải đấu tranh để sống, muốn sống phải tranh sống, sống mà như "dở chết, dở sống", sống lây lất, cụ thể trước mắt chúng ta là trường hợp của dân đen, dân oan, nơi mà oan khiên xuất hiện rõ ràng trong cuộc sống, trong xã hội, nếu làm lãnh đạo mà nhắm mắt, không xử lý, không giải quyết thì không những đã có lỗi mà còn mang tội nữa !

Tùy thời tạo thế

Tùy thời tạo thế, được con cháu thấy rõ trong các chiến tích trong quân sự của cha ông (Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyển Trãi, Quang Trung..), qua các thành tích quản lý của tổ tiên (Lý, Trần, Lê…), trong đó lấy quy luật của thời gian (thời điểm, thời khắc, thời kỳ…) để lập nên thế (thế trận, thế tiến công, thế phản công…), hệ vấn đề này không những đúng trong quân sự mà cả trong tổ chức và quản lý. Linh động thích ứng để linh động tìm lối đi, "thời bắt thế, theo thời phải thế" mang tính linh hoạt của hành động trước thời thế, thuận lợi hay bất lợi của nhân cảnh. Lý lịch của các lãnh tụ tài giỏi làm xuất hiện một ẩn số khác có lúc đi ngược với thời thế, đó là ý chí ; tại đây tiềm ẩn một ẩn số khác là năng lực của lãnh đạo là quá trình giải bày ý chí qua đề nghị-đàm phán-quyết định, khi thuyết phục các lãnh đạo khác. Tại đây, sự chuẩn bị kỹ lưỡng các phương án vừa đối phó, vừa đối trọng ngay trên thượng nguồn để dàn xếp chu đáo nội bộ trong đó có chuyện phải cân đối phương trình thời thế-ý chí, để duy tâm không "trùm phủ" lên duy lý. Muốn thành công thì lý trí lãnh tụ phải nhận được sự đồng tình của tất cả hoặc của đa số không những của các thành viên lãnh đạo, mà luôn cả các liên minh trong nội bộ ; từ đó ý chí cá nhân sẽ hình thành ra lý trí của tập thể.

Bản lĩnh của lý luận, nội công của lập luận, tầm vóc của giải luận

Câu chuyện thượng nguồn để chuyển hóa thời thế-ý chí qua thực lực của ý chí-lý trí là quá trình vừa giải thích, vừa phạm trù hóa ý chí dựa trên tính hiệu quả, có cơ sở của điều tra sơ khởi, thực địa, làm sáng mối tương quan giữa sáng kiến của ý chítình huống tới từ thời thế. Trên thực tế lãnh đạo, phải nên phân biệt : ý chí thường thì dựa trên mô hình, còn hiệu quả thường dựa vào sự biến đổi của tình hình. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các lãnh đạo vừa có quá nhiều tin tức, dữ kiện, chứng từ luôn đa diện, đa chiều, để lấy những quyết định đúng (của chính trị tỉnh-lãnh đạo thức), cùng lúc có các chuyên ngành, với cái chuyên gia để có được những chỉ báo để dự đoán được những chỉ tiêu. Kẻ lãnh đạo tài giỏi phải biết ít nhất các tiêu chuẩn chọn lựa tư vấn, càng rộng thì càng sâu, càng xa thì càng cao, không "yếu vía" sợ chuyện "lắm thầy nhiều ma", nếu kẻ lãnh đạo đó có bản lĩnh của lý luận, nội công của lập luận, tấm vóc của giải luận để nhận ra năng lực của các cố vấn, qua ít nhất ba khả năng phân tích và phân loại tình hình của họ : tính đa phương của bối cảnh, tính đa dạng của tình huống, tính biến động của thời thế.

Tùy kế lập mưu

Tùy kế lập mưu, khai thác thuận thời mẫn kế, nhưng cùng lúc tìm ra kế phải lập được mưu, trong chính trị cũng như trong ngoại giao, và kinh tế, thương mại cũng không nằm ngoài sự vận hành của mưu lược, khác chiến lược nhận định trên toàn bộ mang tính dài hạn, và chiến thuật có tìm hiệu quả trước mắt mang tính cụ thể của một tình huống. Mưu lược thì ngược lại được sử dụng song song với tính dài hạn của chiến lược, với tính ngắn hạn của chiến thuật, như đòn bẫy-cạm bẫy của tác giả tìm ra mưu lược đó, đòn bẫy cho chính mình được nhanh hơn, rộng hơn, cao hơn, dài hơn, ngược lại là cạm bẫy cho đối phương. Tùy kế lập mưu nhận định mưu lược như là dàn phóng, dàn nhún cho ta ; có lúc là giăng bẫy để đối thủ rơi vào vì thiếu cẩn trọng, vì chủ quan, vì vô minh trước địa dư, vì vô tri trước sự thông minh của ta… Và nếu làm được cả hai việc : đòn bẫy cạm bẫy trên một trận địa thì càng hay. Thí dụ không hề thiếu trong lịch sử chống ngoại xâm của Việt tộc, mà chỉ trong khung kinh nghiệm quân sự trên sông Bạch Đằng, cũng có thể giải thích trọn lý-đủ luận qua các chiến tích của Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo. 

Trí tuệ dũng lược, tuệ giác sáng suốt

Tùy kế lập mưu quan trọng ngay trên thượng nguồn của kẻ sáng chế ra nó, và theo tri thức luận của khoa học chính trị, thì kẻ lãnh đạo chịu và nhận sự chi phối ít nhất ba yếu tố : mô hình hóa ý muốn-ý định-ý đồ của tác giả để đưa tính toán lý thuyết và thực hành cụ thể ; đồ án hóa các phương trình để biến mọi ẩn số thành hằng số để đưa vào chương trình hành động ; hợp lý hóa ý chí của mình rồi biến chúng thành chỉ tiêu để thành công khi thực hiện mô hình và đồ án của mình. Tùy kế lập mưu luôn theo quy luật nhân-thời-địa-thế, nhưng đây chỉ là nhận định ban đầu để phân tích tổng quát, kẻ lãnh đạo lập phương án hành động cụ thể phải suy nghiệm chính xác sự khác biệt (mà cũng là khoảng cách) giữa ý chí ở dạng mô hình lý thuyết và thực hành linh động trên một thực tế nhất định, trong đó có sự tôn trọng sức thông minh của đối phương, đối thủ, chỉ để tránh "thảm bại vì khinh địch". Tùy kế lập mưu là sáng tạo của trí tuệ dũng lược, dựa trên sáng kiến của tuệ giác sáng suốt có gốc rễ của tài năng "biết nhìn xa trông rộng", đây chính là tiêu chí để chọn lãnh đạo tối cao, nếu không có "cốt cách" này thì đừng giành làm lãnh tụ !

Covers Articles OVF

Nội lý diễn biến thực tế

Nội lý diễn biến thực tế nhận định thực tế không theo mô hình mà theo quy luật biến đổi thường trực của nhân thế ; luôn được nhận ra từ tình huống, khi tình huống làm xoay chuyển môi trường hiện tại tạo ra thực trạng của xã hội, bất lợi hoặc thuận lợi cho dân tộc, cho đất nước ; làm lãnh đạo chính trị là nhận định, phân tích để điều tiết hoặc khai phá các thực trạng này. Nội lý diễn biến thực tế được nhận diện qua biến đổi của thời thế, mở lối cho chính sách hoặc đóng cửa mọi sáng kiến ; làm lãnh đạo chính trị là thấy được, nhận ra nội lý diễn biến của tình hình, sẽ quyết định đúng hiệu quả của một chính sách, và nếu quyết định sai sẽ gây ra hậu quả cho xã hội, cho dân tộc. Nội lý diễn biến thực tế, khi được lãnh đạo chính trị đánh giá qua nội lý diễn biến của tình hình, thì kẻ lãnh đạo giỏi biết khai thác tiềm năng xấu hoặc tốt của thực trạng ; còn kẻ lãnh đạo tài thì biết khai triển vốn có sẵn để kiếm lời trong thời thế mới ; riêng kẻ lãnh đạo lớn thì biết tìm cho ra các nội lực mới, các đồng minh mới, các liên minh mới, để củng cố thời-thế-vị của đất nước vì dân tộc.

Nội lý biến thiên nhân tâm

Nội lý diễn biến thực tế trong tư duy của lãnh đạo chính trị chấp nhận chuyện "nắng sớm chiều mưa" trong so sánh lực lượng, bất lợi hay thuận lợi cho mình ; công nhận luôn chuyện "sớm nở, tối tàn" trong các liên minh giữa các đồng minh, bên này hay bên kia ; sẵn sàng đón nhận luôn chuyện "vật đổi, sao dời" không những giữa bạnthù, mà cả về chuyện bất biến giữa chung thủy và phản bội ngay trong nội bộ, làm được tất cả các chuyện này thì xem như "đắc đạo" trong quản lý phương trình lãnh đạo : nội lý diễn biến thực tế-nội lý biến thiên nhân tâm. Nội lý diễn biến thực tế, khi đã làm sáng tỏ nội lý biến thiên nhân tâm, thì kẻ lãnh đạo giỏi biết khai thác tính hiệu năng cho nội lực của chính mình ; còn kẻ lãnh đạo tài thì biết khai triển tính hiệu quả cho nội công của chính mình trong thời thế mới ; và kẻ lãnh đạo lớn thì biết tìm tổng hợp của cả tính hiệu năng lẫn tính hiệu quả để hiệu lực hóa chế tác ra một tổng lực mới với kết quả hay, đẹp, tốt, lành nhất cho đất nước, cho dân tộc. Nội lý diễn biến thực tế tạo ra nội lý biến đổi liên tục, hướng dẫn các kẻ lãnh đạo, giỏi, tài, lớn không bị :nhốt tù trong mô hình chính trị của chính mình, thí dụ đau thương của cải cách ruộng đất (1954-1960), của tết Mậu Thân (1968) ; còng tay trong phương án chính trị của chính mình, thí dụ bi thảm của cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn (1954-1975). Các kinh nghiệm đau đớn này bắt Việt tộc phải trả những giá quá đắt !

Nhập lý vào thể lực môi trường

Nhập lý vào thể lực môi trường, có bước đầu tiên trong nhập lý vào nội lực của bối cảnh, trong đó bối cảnh của thực tế làm chuyển đối hệ ý (ý muốn-ý định-ý đồ), lãnh đạo chính trị tài ba sẽ chuyển hóa linh động hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận) của mình theo bối cảnh để biến bối cảnh thành thực lực của mình. Nhập lý vào thể lực môi trường, có bước thứ hai là mô hình đôi, trong đó mô hình cứng mang ý chí của chính sách, mô hình mềm đưa thực tế của môi trường, của bối cảnh để làm tăng hiệu lực cho vốn đầu tư, trong đó sự phối hợp nhuần nhuyễn mô hình đôi (cứng và mềm) là khả năng và ý chí của lãnh đạo vừa biết cõng chính sách qua trở ngại, trở lực, vừa biết buông lỏng khi mô hình bóp ngộp thực lực trong thực tế. Nhập lý vào thể lực môi trường, có bước thứ ba là chiến lược đôi khi gặp nước chảy xiết, thì biết chọn nơi để làm đập nước để giữ nước, biết chọn chỗ thông nước để cho thoát nước ; trên cùng một dòng nước : hai chiến lược này không hề mâu thuẫn nhau, được xử theo lý luận đôi trong thông minh linh động để giải quyết. Nhập lý vào thể lực môi trường, có bước thứ tư là nắm hai tay, tay phải là chính sách của hệ lý (lý trí, lẽ, luận), tay trái là chuyển biến khôn lường của hệ thực (thực tế-thực cảnh-thực tại). Nắm hai tay để giữ cả hai, sự liên kết phải-trái, vừa tạo ra tính nội kết, bảo đảm sự tương tác linh hoạt của cả hai, không tách biệt nên không sợ mâu thuẫn, không có xung đột nên không có bùng nổ, đe dọa tính thực tiễn của chính sách.

Lý mục đích của luận phương tiện

Nhập lý vào thể lực môi trường, có bước thứ năm là tính hiệu quả đôi, lấy chính sách để kích thích tình hình phát triển theo hệ sáng (sáng tỏ-sáng kiến-sáng tạo) với hiệu quả có trong sự đồng tình và ủng hộ của tập thể, cộng đồng làm nên khối đại đoàn kết cho dân tộc. Song hành cùng với hệ khai (khai thị-khai minh-khai trí) để phục vụ cho khai thác mọi tiềm năng, tiềm lực, của môi trường qua hành động chính trị cụ thể. Nhập lý vào thể lực môi trường có bước thứ sáu là biến tình hình thực tế thành lực đẩy làm xoay chuyển môi trường ban đầu theo quỹ đạo của chính sách lãnh đạo trong đó hệ thực (thực tế-thực cảnh-thực tại) giờ đã nhận sự chi phối của hệ khai (khai thị-khai minh-khai trí), tạo ra thực tế mới : nhập lý vào sung lực khai phá qua hệ sáng (sáng tỏ-sáng kiến-sáng tạo), từ đây lãnh đạo mới thực sự có chiến-lược-thật-trong-tình-hình-thật. Lý mục đích của luận phương tiện, không liên quan gì tới loại khẩu lệnh "lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện", sống sượng trong diễn luận, mù quáng trong giải luận, loại khẩu lệnh này sẽ không có một cứu cánh nào có nhân lý, nhân tri, nhân văn, nếu phương tiện của nó không tôn trọng nhân bản, nhân bản, nhân tính. Ngược lại, lý mục đích của luận phương tiện luôn được diễn biến trên quá trình nhận thức của hệ lương (lương thiện-lương tâm-lương tri), không ép ý đồ chính trị của lãnh đạo qua một ý thức hệ vô tri, vô cảm, vô nhân.

Lý mục đích của nhân trí, luận phương tiện luận của nhân bản

Lý mục đích của luận phương tiện, có thượng nguồn của nhân bản, nhân bản, nhân tính, sẽ hướng để tránh được các khuyết tật sinh ra trong tư duy trong lãnh đạo chính trị là : mô hình hóa một cách cứng ngắt các đồ án ; kế hoạch hóa một cách thô thiển khi triển khai các phương án ; duy tâm hóa một cách thiển cận các quá trình sử dụng phương tiện… Lý mục đích của luận phương tiện, cũng có công cụ, kỹ thuật, đầu tư của phương tiện trong hạ nguồn để giữ cái lý trí của lý mục đích và cái hợp lý của luận phương tiện để đạt được : tính hợp lý của 3 đề (đề nghị-đối thoại-đàm phán), tính thực tế của 3 sáng (sáng lý-sáng kiến-sáng tạo), tính khả thi của 3 khai (khai minh-khai trí-khai phá). Lý mục đích của luận phương tiện luôn có sự phối hợp chặt chẽ của phương trình lý trí mục đích-hợp lý phương tiện, dựng lên tư duy hành luận của lãnh đạo trong hành động lãnh đạo qua 3 bảo (bảo đảm khối đoàn kết dân tộc, bảo trì vốn liếng xã hội, bảo quản tiền đồ tổ tiên). Lý mục đích của luận phương tiện luôn thường xuyên đánh giá để tìm hiểu thực chất để có thực lực trên 3 tiềm (tiềm năng thuận lợi của bối cảnh thực tại, tiềm lực của các liên minh mới xuất hiện trong thực cảnh, khả năng khai thác các đồng minh mới trong thực tế). Lý mục đích của nhân trí, luận phương tiệnluận của nhân bản, không biết, không thấu, không hiểu thì tốt nhất là : đừng nên lãnh đạo !

Luận tạo lực trong thuận lý

Luận tạo lực trong thuận lý, luận mang của lý trí ra chống lại chuyện triển khai những phương án trước khi nắm tình hình, trước khi điều tra cơ bản, trước khi nghiên cứu thực địa để nắm 3 thực thứ nhất (thực trạng-thực cảnh-thực tế), của lý trí dụng để thấy rõ các trở ngại, các chướng ngại của 3 thực này. Luận tạo lực trong thuận lý bắt đầu bằng chuẩn đoán theo các chỉ báo khách quan để đánh giá một 3T thứ hai (thực tại-thực lực-thực tiễn), nơi mà lý thuyết xơ cứng sẽ lùi lại để các hành động cụ thể mang nội chất tích cực là hiểu vấn đề để vượt khó khăn, lấy sáng kiến để thoát các ngõ cụt, lấy sáng tạo để biến vượt thoát thành vượt thắng. Luận tạo lực trong thuận lý sẽ cho xuất hiện một 3 thích thứ ba (thích ứng-thích nghi-thích hợp), trong đó nhập nội với 3 thực (thực trạng-thực cảnh-thực tế) để không bị bỏ rơi bởi hiện tại của bây giờở đây. Kế tiếp là thích nghi theo lời dạy của tổ tiên : "tùy cơ ứng biến" nhưng cùng lúc phải sáng tạo ra các thuận lý mới để xoay chuyển tình thế, cụ thể là chuyển hóa các so sánh lực lượng, biến bất lợi thành thuận lợi. Chính khả năng lãnh đạo biết sáng tạo ra các thuận lý mới, để đưa thích ứng thích nghi vào quy trình của thích hợp, hỗ trợ bởi các thuận lý mới, để không bi quan chịu đựng cảnh "thời bắt thế theo thời phải thế" ; từ đây biết biến vượt thoát thành vượt thắng để không mang theo tính thất thế tạo ra chủ bại của "qua sông thì phải lụy đò".

Tự tin-tự chủ-tự cường

Luận tạo lực trong thuận lý, là tạo ra khả năng hội nhập của lãnh đạo trong phương trình 3N (nội chất-nội lực-nội công), trong đó nội chất chính là lý trí bảo vệ chuyện hay, đẹp, tốt, lành trong một chính sách sáng suốt, vì lãnh đạo có nội lực của 3 luận (lý luận-lập luận-giải luận), để biến nó thành nội công của lãnh đạo. Nội công này sẽ làm nên bản lĩnh chính trị, tầm vóc của chính sách, nơi đây cũng là nơi để suy nghiệm bài học lãnh đạo của tổ tiên "so ra mới biết ngắn dài" để phân định hai loại lãnh đạo : hữu tài hay bất tài. Luận tạo lực trong thuận lý, không hề là chuyện lý thuyết mơ hồ, tạo ra mờ ảo trong hành động chính trị, mà là khả năng quản lý và tổ chức 3 lực (sung lực-hùng lực-mãnh lực). Tại đây, sung lực tới từ tiềm năng của đất nước, tiềm lực của dân tộc để tạo ra hùng lực trong xã hội với nhân dân đã hiểu rõ 3 tự (tự tin-tự chủ-tự cường) chế tác ra mãnh lực chống ngoại xâm để bảo vệ bờ cõi, tạo nên sức bật trong việc xây dựng cho bằng được chuyện "dân giàu, nước mạnh". Luận tạo lực trong thuận lý, chế tác ra tổng lực của "thuận lý luận", có thượng nguồn của lý trí, có trung nguồn của chỉ đạo linh động, có hạ nguồn trong tổng hợp 3 thích +3 luận +3 lực, để làm nên thành công của lãnh đạo. Và, kẻ lãnh đạo giỏi, người lãnh đạo tài phải biết vận hành trong mọi hành tác chính trị.

Chính quyền (không) độc

Chính quyền là quyền lực cao nhất và trùm phủ toàn sinh hoạt xã hội, có vai trò trị an song hành cùng quốc phòng, dụng giáo dục để bảo vệ đạo đức và lấy đạo đức để thi hành công lý qua pháp luật. Nhưng một chính quyền thông minh và sáng suốt không nằm ngoài hệ nhân : lấy nhân tính để dìu nhân tình, lấy nhân tri để dắt nhân thế, lấy nhân trí để dẫn nhân loại, đưa tất cả vào nhân đạo, để sống có nhân bản, đối xử có nhân văn, quan hệ có nhân nghĩa. Ước mơ mà Platon đặt tên là cộng đồng lý tưởng. Chính quyền bảo đảm các định chế xã hội, được ghi trong hiến pháp, bảo hành luôn tất cả cơ chế trong xã hội, tự hành chính tới giáo dục, bảo trì từ ngân sách tới xuất khẩu, từ văn hóa tới luân lý... Chính quyền bảo đảm, bảo trì, bảo hành dường như tất cả mọi sinh hoạt xã hội, và xã hội học chính trị đặt ngược lại vấn đề : vậy ai sẽ bảo đảm, bảo trì, bảo hành chính quyền ? Trong các quốc gia có dân chủ, chính đầu phiếu qua bầu cử sẽ quyết định câu trả lời qua các chương trình, chính sách cả các đảng phái trên nguyên tắc của đa nguyên quyền chọn lựa lãnh đạo là tự do của người dân, chính đây là câu trả lời thông minh mà hiện nay không có câu trả lời nào thông minh hơn.

Khai thị-khai sáng-khai trí

Một quốc gia không chấp nhận dân chủ, chối gạt đầu phiếu liêm chính, xua mất bầu cử trong sạch, tìm cách tiêu diệt mọi mầm mống của hệ đa (đa nguyên, đa tài, đa năng, đa hiệu, đa diện...) thì cùng lúc chính quyền độc này (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc tôn, độc trị) tìm mọi cách để kiểm duyệt mọi sinh hoạt thông minh của tự do. Trong đó, tự do của khoa học xã hội và nhân văn, từ học thuật tới nghiên cứu, từ điều tra tới điền dả, để công bố các kết quả, từ đó giúp nhân dân nhận ra được thực chất của một chính quyền, trong đó chính trị học, kinh tế học, triết học, xã hội học... chính là những chỉ báo sắc nhọn để nhận ra một chính quyền, một thể chế có thông minh hay không ? Tại các quốc gia văn minh và tiến bộ, khoa học xã hội và nhân văn đóng vai trò khai thị-khai sáng-khai trí cho dân chúng, cho xã hội. Thảm kịch hiện nay của Việt Nam, là chính quyền độc đã làm bao chuyện độc hại ngoài chuyện diệt dân chủ, tự do, đa nguyên, nó đã diệt tiềm năng, tiềm lực của khoa học xã hội và nhân văn, ngay trong trứng nước ! Nó đã bóp chết học thuật như bóp ngộp sức thông minh sắc nhọn của tri thức !

Lực của quyền vì lợi ích của dân tộc

Nếu chính quyền bảo đảm các định chế xã hội, được ghi trong hiến pháp, bảo hành luôn tất cả cơ chế trong xã hội, tự hành chính tới giáo dục, bảo trì từ ngân sách tới xuất khẩu, từ văn hóa tới luân lý... Chính quyền bảo đảm, bảo trì, bảo hành dường như tất cả mọi sinh hoạt xã hội : thì cũng chính là chính quyền làm sản sinh ra các vấn đề xã hội mới. Và, nếu không giải quyết các vấn đề xã hội mới, thì chính chúng sẽ sinh đẻ ra các khó khăn xã hội mới, nếu khó khăn xã hội mới này không được giải quyết nhanh chóng, chính chúng sẽ tạo ra các tệ nạn xã hội mới, và nếu các tệ nạn xã hội này không được xử lý toàn bộ, chính chúng sẽ sinh bừa không những các bất công xã hội mới, kể cả các bạo động xã hội mới. Một chính quyền chính thống luôn dụng lực của quyền vì lợi ích cho tập thể, cho cộng đồng, cho dân tộc.

Đối nhân xử thế là biết ơn và mang ơn

Chính quyền (không) bỏ gốc trong một dân tộc biết thờ tổ tiên là một chính quyền biết quý trọng người tuổi trọng, vì họ là cầu nối giữa đạo lý tổ tiên và các thế hệ sinh sau đẻ muộn, họ nối tầm nhìn của kẻ xưa để nối tầm tay của thế giới khuất mặt và thể giới có mặt. Vậy mà, các người lớn tuổi không được bảo vệ, không được chăm sóc, không được tôn trọng như bao đời nay trong lịch sử của Việt tộc. Một số không nhỏ bị gia đình bỏ rơi, bị xã hội xem rẻ, bị chính quyền quên trong chính nhiệm vụ của chính quyền là phải bảo vệ những kẻ già yếu. Hãy tạm gạt qua câu "kính lão đắc thọ", biến chuyện nâng người lớn tuổi để tìm đường sống lâu trong lúc nhiều tuổi, mà hãy chỉ đối xử bình thường của kẻ biết ơn-mang ơn, không cần phải trả ơn, chỉ cần thành kính với họ trong gia đoạn lão-bịnh-tử. Có không ít các người tuổi trọng mà không được quý trọng, chịu cảnh "tứ cố vô thân", ngày ngày "đầu đường, xó chợ", lang thang "cù bất, cù bơ", thấp bé như "bụi đời", lẻ loi như "oan hồn", thậm chí phải "ăn mày, ăn xin" để "sống vất vưởng qua ngày". Nếu một chính quyền mà để người dân tuổi trọng trong tình trạng như vậy thì chính quyền này có tội với họ, phải lảnh tội trước tổ tiên, phải chịu tội trước luân lý "thờ cha, kính mẹ" theo nghĩa rộng nhất và thật nhất !

Phụ nữ : nạn nhân của chính các chủ nhân chính quyền !

Chính quyền như một tập thể nhân tri sống động có quyền lực trên một lãnh thổ, nhưng phải thực thi quyền lực đó qua các giá trị của nhân tính ; mà nhân tính Việt chính là nhân nghĩa Việt (bầu ơi thương lấy bí cùng), chính là nhân bản Việt (một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ), chính là nhân đạo Việt (máu chảy, ruột mềm), chính là nhân văn Việt (máu chảy tới đâu, ruột đau tới đó). Tại đây, một chính quyền có nhân tri Việt phải hướng dẫn xã hội, phải dẫn dắt người trưởng thành, phải giáo dục thanh thiếu niên, phải giáo dưỡng thiếu nhi (chỉ trong hai từ) : có hậu ! Vì "ăn ở có hậu" mới có lối ra để thoát vô cảm ! Có nẻo đi vượt vô nhân ! Có đường để tránh vô hậu ! Chính quyền (không) phân nửa là một chính quyền không quên một nửa bộ phận của dân tộc là : phụ nữ ! Thói quen "trọng nam khinh nữ" đã thô bỉ trong đấu tranh hiện nay của thế giới cho nam nữ bình quyền, tại Việt Nam nó lại càng bỉ ổi hơn trong thực tế xã hội nơi mà phụ nữ Việt còn bị hà hiếp (nạn nhân của hiếp đáp), có lúc bị cưỡng hiếp (nạn nhân của hiếp dâm), lúc thì ngoài xã hội, thậm chí có lúc là nạn nhân của chính các chủ nhân chính quyền ! Chuyện chính ở đây là vai trò bươn chải, gánh vác gia đình phụ nữ Việt, biết vùng dậy để thành công trong doanh trường, thành doanh nhân cáng đáng gia đình, doanh nghiệp, mà vẫn bị chèn ép ngay trên chính trường, vắng mặt trong lãnh đạo chính trị, với một thiểu số quá ít để làm theo đổi tình hình hiện nay để bảo vệ phụ nữ.

Tội của chính quyền hiện nay

Một tình hình với một số không nhỏ nam giới hưởng thụ trong nhàn rỗi, từ nhậu nhẹt qua chơi bời, từ trác táng qua tha hóa, tiêu rỗi thời gian qua tiêu thụ bừa bãi trong một quá trình hèn nhục hóa nhân cách nam giới, một chính quyền mà nhắm mắt, quay lưng với các tệ nạn nam giới là một chính quyền có tội với dân tộc. Tội của chính quyền hiện nay càng nhiều, càng sâu, khi họ để phụ nữ Việt phải đi làm nô tỳ, nô bộc, thậm chí "làm gái" trong nhiều nước láng giềng, mà số phận thua kẻ "đi ở đợ". Trong khi mọi người Việt đều biết không ai thấy những phụ nữ các nước láng giềng trên đất nước Việt, một chế độ mà để bao nhiêu trăm ngàn phụ nữ đi "làm vợ lẽ", "làm điếm", kể cả trẻ con. Vậy mà, trên mạng xã hội, cư dân mạng đều thấy bức ảnh một phụ nữ, ăn mặc hở hang, nhưng cầm trên tay biểu ngữ "bán thân không bán nước" ! Đây không những là sự thật về chính quyền hiện nay trong đó có một số không nhỏ lãnh đạo đang trong quy trình bán nước, mà biểu ngữ này còn nói lên một sự thật luân lý sâu xa hơn là phụ nữ phải bán thân thì : nhân cách-tư cách-phong cách của họ còn liêm chính-liêm khiết-liêm sỉ hơn bọn bán nước.

Chính quyền (không) chém ngọn

Chính quyền (không) chém ngọn là chính quyền biết bảo vệ : lộc, chồi, hoa, ngọn của cuộc sống, đó chính là trẻ thơ ! Chính là tương lai đang hiển hiện trước mặt chính quyền đang cầm quyền, phải giáo dục-giáo dưỡng chúng bằng giáo lý của nhân loại, của tổ tiên, trao truyền được nhân tri, nhân trí cho một nhân loại chưa trưởng thành đang chờ đón nhân nghĩa, nhân bản, nhân văn. Chính quyền (không) chém ngọn là chính quyền không chấp nhận cảnh trẻ con phải ăn "cơm thiu, cháo hẩm", "ăn lá để no bụng" như một bầy trẻ có động thái thú tính trong giờ cơm tại các trường học vùng sâu-vùng xa, ngày ngày bẩn thỉu, rách rưới, cảm cúm, thất thểu, vượt suối, vượt đèo để đi học trong hiểm nạn. Chính quyền (không) chém ngọn không thể để một số thầy giáo, cô giáo bạo động ngay trong lớp học, đánh đập các học sinh trước mắt bạn bè của chúng ; không trả bài được thì bị nhục mạ bằng những lời lẽ thô tục. Làm sao có thể dạy được học sinh yêu người, yêu đời bằng bạo lực. Chúng còn bị bạo hành bởi cha mẹ ngay trong gia đình, vùi dập chính các con mình bằng những cực hình mà chính họ thấy xảy ra ngoài đường, trong các đồn công an, trong phim ảnh, trong truyền hình...

Chính quyền (không) xóa não

Chính quyền (không) xóa não là chính quyền biết trọng chất xám, nâng niu tri thức, quý trọng trí thức, vì quý yêu kiến thức, biết dụng không những khoa học kỹ thuật, mà khai thác sáng suốt các nghiên cứu, điều tra, điền dã của khoa học xã hội và nhân văn, nắm chắc các kết quả của học thuật để hiểu sâu nhân tình, hiểu rộng nhân loại, hiểu cao nhân thế, luôn đưa nhân tri vào nhân trí để nâng nhân bản. Chính quyền (không) xóa não, là chính quyền biết khai thác sử học, để tra đúng sử liệu, tìm trúng sử luận, để hiểu sử tính của một dân tộc, sử địa của một đất nước, và không lập lại sai lầm của quá khứ, biết ưu điểm, trọng điểm của tổ tiên nhưng cũng thấu luôn yếu điểm, nhược điểm, khuyết điểm, kể cả khuyết tật của họ. Hiểu thấu lịch sử để làm khá hơn, tốt hơn, hay hơn, cùng lúc đặt Việt sử, vào sử quốc tế để so sánh từ đồng sử đến dị sử giữa người và ta, trong đó so sánh sắt se với láng giềng cùng nôi tam giáo đồng nguyên với ta. Đó là Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, cùng văn hóa với ta tại sao họ thành công làm chủ, còn ta thất bại (trong thảm hại) làm công, làm thợ cho họ thậm chí lao động trong vai nô tỳ, nô bộc cho họ ?

Thượng nguồn của bất bình đẳng

Chính quyền (không) xóa não là chính quyền biết đưa kiến thức của khoa học xã hội và nhân văn làm tri thức cho xã hội hiện tại, có kiến thức xã hội học rồi thì biết sáng lập ra nhân khẩu học để có các chỉ số, chỉ báo, chỉ tiêu trong định chất và định lượng từ sinh suất tới tử suất, từ tuổi thành hôn tới tuổi thọ của các cá nhân, của một dân tộc. Khi đã vững về kinh tế học thì biết sáng tạo ra kinh tế học xã hội để chuẩn đoán rồi để giới hạn ngay trên thượng nguồn của câu chuyện bất bình đẳng (con vua thì được làm vua, con quan thì được làm quan) qua cải tổ giáo dục, chuyện bất công (cá lớn nuốt cá bé) để bảo quản được đạo đức của cha ông. Chính quyền (không) xóa não là chính quyền biết đưa các khám phá của khoa học xã hội và nhân văn vào ngay trong công tác xã hội, từ thấu hiểu các nhu cầu xã hội tới xử lý các đòi hỏi xã hội, chính tri thức của các nghành này tạo điều kiện cho chính sách đúng hơn, lãnh đạo khôn ra, đây là chỉ báo để định nghĩa sự thông minh trong chính trị. Chính quyền (không) xóa não là chính quyền biết khiêm tốn trước tri thức, luôn muốn học hỏi ; khiêm nhường với trí thức, luôn nhận các tư vấn đúng, các cố vấn giỏi ; luôn khiêm cung trước "điều hay, lẽ phải" của tổ tiên, xem chuyện cứu nước-giữ nước hơn chính sinh mạng của mình, nếu không nghĩ và không làm như vậy thì đừng lãnh đạo chính trị !

Chính quyền (không) xé lẻ

Chính quyền (không) xé lẻ là chính quyền dùng quyền lực của trí tuệ dân tộc, tài nguyên đất nước để chế tác ra hợp lực trong đó giáo dục phục vụ nhân tri và nhân trí, kinh tế phục vụ cho nhân sinh, văn hóa phục vụ cho nhân văn, đạo lý phục vụ cho nhân cách, lấy nhân nghĩa làm nhân bản. Ý nghĩa của hợp lực có trong kinh nghiệm dựng nước và giữ nước của tổ tiên qua thuật ngữ : cả nước-toàn dân. Biến hợp lực thành tổng lực, chính quyền (không) xé lẻ là chính quyền dùng quyền lực của định chế và cơ chế để làm ra tổng lực, không xé lẻ để hưởng riêng, không xé lẻ để cộng sức. Không lòn lách qua lách luật, tránh luật, thậm chí xé luật để tham nhũng-tham ôtham quyềnlộng quyền. Bọn xé lẻ để đi đêm với đối phương, để xé lẻ để đi lén với kẻ thù không thể dung thân trong một chính quyền sạch ! Chính quyền (không) xé lẻ vì tư lợi của lãnh đạo, vì tranh quyền giữa các nhóm lợi ích, thanh trừng nhau trong bạo lực như các mafia, chỉ biết trộm, cắp, cướp, giựt với hành vi "ăn tươi, nuốt trọn", vừa vơ vét, vừa tính chuyện "cao bay, xa chạy" khi đất nước lâm nguy. Chính quyền (không) xé lẻ không quên cập nhật hóa các giá trị tâm linh của tổ tiên ; biết duy trì và trao truyền mọi giá trị luân lý và đạo lý qua giáo dục ; biết bảo quản rồi bảo hành mọi di sản vật thể và phi vật thể vì nhân dân, và vì nhân loại. Biết phổ biến hóa các khả năng, các tài năng của từng thành phần xã hội, các tiềm năng và tiềm lực của từng vùng miền, để "vốn liếng hóa"phương trình hợp lực-tổng lực trong các hành động cụ thể của lãnh đạo : lấy vốn cũ để tạo vốn mới !

Chính quyền (không) vùi tri

Tri thức để lãnh đạo chính trị không chỉ tới tự kiến thức khoa học, nó hằng ngày khai trí cho lãnh đạo nếu các lãnh đạo muốn khai minh qua khai thị khi trực diện với dân chúng với xã hội, chuyện chính của tri luôn là có chịu học, chịu hiểu, chịu thấu để chịu đổi, chịu thay, chịu chuyển hóa hay không thôi ! Tri thức về dân chúng với cuộc sống ngày càng nheo nhóc của họ, không biết các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam có ý thức, có nhận thực để chuyển thành tâm thức hay không, khi xuất hiện một tâm lý mới của số đông dân ngày càng bị cái nghèo khó, bị cuộc sống hằng ngày truy bức quá đổi sinh ra tâm lý : "sợ tết !". Tại sao lại sợ tết một thời điểm vừa thiêng liêng, vừa thảnh thơi, phải vui vì là dịp rất vui của cả nước ? Lý do chính vẩn là tài chính, kính tế, vật chất : "không có tiền ăn tết", "không đủ tiền nghĩ tết", "tết đến còn làm buồn hơn", "chỉ mong cho tết qua mau"... Tâm trạng này phải đánh thức tâm thức của lãnh đạo, họ phải thực sự phản tỉnh để thấy hiện trạng quần chúng : Tết làm gì cho khổ ! Việt tộc luôn biết "vui tết", thế mà các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam có thấy là trong lúc họ nhận quà cáp "ngập mặt", thì có các gia đình chỉ đủ sống nhưng mấy đêm "ba ngày tết" lẳng lặng tặng : "quà tết", "ẩm thực tết", "bánh trái tết"... đi cùng đường cuối phố, để phân phát cho các người dân không nhà, nằm la liệt thảm buồn giữa tết, đó là tình đồng bào trong một xã hội mà đạo đức dân tộc đang bị xuống dốc thảm hại, một xã hội bị một chính quyền bỏ rơi, bỏ đi, bỏ mặc !

Chính quyền (không) xiết tuệ

Chính quyền (không) siết tuệ, nơi mà tuệ giác của dân tộc chính là trí tuệ của lãnh đạo ! Tuệ giác hiện nay của nhân dân nằm ngay trong nỗi khổ niềm đau của họ, vì hơn hết họ hiểu sự cùng quẩn của dân đen, sự oan ức của dân đen : tại sao trong dịp tết này, 2018, có hàng trăm dân oan vẫn ra Hà Nội, dù biết các cơ quan lãnh đạo đã đóng cửa nghĩ tết ! Lãnh đạo đừng lẻo lưỡi "phục vụ dân", hãy thật sự phục vụ nhân dân, bằng cách chống bất công, chống bạo quyền, hãy bảo vệ dân bằng tuệ giác của công bằng. Trí tuệ của lãnh đạo bắt đầu bằng trực diện để trực quan : các cơ quan có những toà nhà đắt tiền, rộng lớn, cũng từ tiền thuế của dân mà ra ; chính các cơ quan đó, từ địa điểm của các hội tới các địa danh của của chính quyền, thì tất cả cửa nẻo đóng im ỉm ngay cả ngày hành chính bình thường, nơi mà chung quanh dân oan đứng, ngồi, nằm la liệt, họ đang : đi ăn xin công lý đấy ! Họ trực tuyến để trực diện với một chính quyền vô tuệ trước công pháp đấy ! Vì họ có kinh nghiệm với một chính quyền đi bắt cóc các nhà vận động dân chủ, tuyên bố xử họ công khai nhưng chặn dân đi dự ngay trước cổng toà, bỏ tù các nhà vận động dân chủ nhưng khi thả họ ra thì không có chứng thư giam giữ và phóng thích, cùng lúc chối leo lẻo trước quốc tế là Việt Nam không có tù nhân lương tâm. Một chính quyền bắt cóc dân-xử đóng cửa tòa-nhốt bừa bãi-thả thô tục đó là một chính quyền trí tuệ nhúng chàm.

Trí tuệ lãnh đạo trong đạo lý lãnh đạo : "đồng cam cộng khổ" với dân

Trí tuệ của lãnh đạo nằm ngay trong đạo lý của lãnh đạo : "đồng cam cộng khổ"với dân, nằm giữa đạo đức của lãnh đạo : "chia cơm xẻ áo" với dân ! Ngược lại cứ để nhân dân tự cứu đói nhau ; mặc thanh niên đi bảo vệ môi trường, môi sinh giữa khu Sơn Trà có động vật trong sổ đỏ, hàng ngày bị đe dọa bởi bọn tướng tá tham quan phá rừng để xây : biệt thự, dinh thự, biệt phủ, nhân cách bọn này không phải lãnh đạo, vì tư cách của chúng thua xa súc vật. Tuệ giác của lãnh đạo rất dễ thấy (nếu lãnh đạo muốn thấy, muốn thấu) qua chính bạo quyền, cho phép công an bạo động với thanh thiếu niên, khi cô bé Cát Linh bị công an bắt, đánh đập, tra hỏi và khi mở cặp của cô học sinh này ra thì thấy toàn : hiến pháp ! Chính bọn công an vô tri, vô giác không sao hiểu nổi có một cô học sinh để dành tiền đi mua hiến pháp để tặng cho bạn bè, cho dân chúng, giúp họ hiểu công pháp, công lý hơn để họ tự bảo vệ họ, vì chính quyền không bảo vệ họ, mà ngược lại hằng ngày hiếp đáp họ.

quyenluc11

Thực quyền : nhân dân có quyền

Thực quyền, không có công thức cũng không có mô hình, nên không có định nghĩa để áp dụng vào thực tế, nếu áp dụng quyền lực một cách máy móc thô bạo vào thực trạng của xã hội thì nó sẽ tạo ra phản quyền, như phản lực để chống lại áp chế, khống chế, để chống lại áp đặt dưới nhiều mức độ, dưới nhiều trình độ, qua trực diện hay phản diện với quyền lực. Thực quyền luôn được quyết định qua 3T (trí năng-tài năng-khả năng) của lãnh đạo, trong đó trí năng mang thực lực của 3L (lý luận-lập luận-giãi luận) được vận dụng trong thực tế qua các chính sách. Tại đây, tài năng của lãnh đạo làm rõ một 3T trọng tâm khác (tri thức-ý thức-nhận thực) của quần chúng, tạo ra khả năng của lãnh đạo trong 3K (khai trí-khai lý-khai minh) cho nhân dân, để nhân dân ủng hộ cụ thể các chính sách của lãnh đạo. Thực quyền luôn được hỗ trợ bởi 3N gốc rễ (nhân bản-nhân văn-nhân tính) trong giá trị 3V (văn hóa-văn minh-văn hiến) của một dân tộc, trong đó lãnh đạo phải biết vận dụng lý trí của một 3N của lý trí (nhân lý-nhân tri-nhân trí) luôn có mặt chỗ trung tâm trong các chính sách của lãnh đạo. Từ đó nhân dân sẽ thấy rõ 3N cốt lõi (nhân nghĩa-nhân đạo-nhân phẩm) có mặt từ lý thuyết luận tới phương pháp luận của lảnh đạo, mà nhân dân có quyền kiểm định qua kết quả và hậu quả của các chính sách này.

Thực quyền : thực chủ trong dân chủ

Thực quyền luôn nằm trong khung của 3 cảnh (bối cảnh-hoàn cảnh-thực cảnh) của một đất nước, của một dân tộc, có nền là 3 tình (tình hình-tình trạng-tình huống) của thời đại và thời cuộc. Trong đó, tình hình toàn cầu hóa hiện nay đang tạo các quyền lực mới tới từ khoa học kỹ thuật sinh ra một 3 tin mới (tin tức-thông tin-truyền thông) qua internet, qua mạng xã hội, đây vừa là thực quyền và vừa là thực chủ để khai mào dân chủ. Từ đây, tạo được tình trạng đa thông tin trong đa quyền lực, sinh ra những tình huống sinh động cho đa nguyên, linh động cho nhân quyền. Chính ba hùng lực của dân chủ-nhân quyền-đa nguyên tạo ra 3 lực (sung lực-nội lực-trí lực) cho nhân dân qua mạng xã hội. Thực quyền sẽ biến độc quyền của 3 độc (độc tài-độc đoán-độc đảng) thành lỗi thời vì nó chỉ là "ma bùn" trong tà quyền, chỉ là "ma xó" trong bạo quyền, chỉ vì độc tôn đã vào "ma đạo" của độc hại, ngược lại nhân loại đang theo đa, để có đa (thực) quyền, để tạo ra đa lý, đa trí, đa tri, đa tài, đa năng, đa hiệu... Thực quyền theo các tiêu chí trên làm nên được chính trị tỉnh-lãnh đạo thức, nếu các lãnh đạo hiện nay không hiểu các tiêu chí này thì nên : buông quyền ! rời quyền ! bỏ quyền !

Quyền để quyết

quyền để quyết : quyết đoán để quyết định. Quyết đoán bằng năng lực biết chủ động để khách quan hóa các kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức trong tỉnh táo để sáng suốt khi xây dựng quyết tâm, hoàn toàn ngược lại với độc đoán không nhận kiến thức để loại bỏ tư vấn, không nhận tri thức để trừ khử đối thoại. Quyết đoán mở mọi cửa trước khi quyết, ngược lại với độc đoán đóng mọi cửa trước và sau khi quyết. Quyết đoán để đi về phía chân trời có mặt trời, trái hẳn với độc đoán, đã quyết trong cực đoan, với hành vi quá khích, nên "cắm đầu, cắm cổ" đi mà không tỉnh táo tìm phương hướng, đi mà không sáng suốt cùng với các kẻ đồng hành khác. Quyết đoán trong quyết định là kết quả tích cực của hạ nguồn sau khi điều tra cơ bản đã kết luận tính khả thi của chính sách dựa trên tính thực thi của chương trình. Quá trình này trái ngược hẳn với phản xa tùy tiện và dễ dãi của "đồng tâm nhất trí", với "toàn thể giơ tay biểu hiện sự đồng tình", trong sự vô tri của lệ thuộc, tới từ vô minh vắng kiến thức sinh ra vô thức, luôn tìm cách khử ý thức. Quyết đoán bằng quyết định để làm chính trị là nhận trọn vẹn vai trò chủ thể, làm lãnh đạo là nhận toàn diện vai trò chủ thể, vì định nghĩa của chủ thể là : tác nhân nhận trách nhiệm trước cộng đồng, nhận bổn phận trước tập thể qua tự do để xây dựng tự chủ cho chính mình, từ đó lấy sáng kiến để sáng tạo, dùng kết quả tích cực của sáng tạo của cá nhân mình để phục vụ cộng đồng, để thăng hoa tập thể.

Quyền để hành

Quyết đoán để quyết định tôn trọng quy trình thông minh của dân chủ : đề nghị-đối thoại-quyết định-hành động trong đó lý luận qua dữ kiện thắng các hành vi cực đoan, lập luận bằng chứng từ vượt các thái độ quá khích, giải luận với minh chứng lấp các phản xạ bảo thụ, diễn luận dựa tri thức xóa các thói quen thủ cựu. Những kẻ lãnh đạo "sống lâu lên lão làng" nhờ "cúi đầu, khoanh tay, quỳ gối" thì nên xem lại và nên rút lui sớm. Những kẻ "ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau" dùng manh xảo "gà què ăn tựa cối xay" lại càng nên rời các ghế lãnh đạo càng sớm càng đỡ khổ dân. Nhất là bọn "cố đấm ăn xôi" trong manh trá "thượng đội hạ đạp", thì đừng cho chúng một chỗ đứng, chỗ ngồi nào cả trong lãnh đạo. Quyền để hành để hành động qua chính sách, để hành xử theo đạo lý thương nước- yêu dân, theo luân lý vì dân-vì nước, trong đạo đức giữ nước-dựng nước, chớ không phải để lập ra độc đảng để độc tôn, độc tài, độc quyền, để sinh ra chuyên quyền để bám quyền, tham quyền, lạm quyền. Quyền để hành có lý trí của biết thời để giữ thế, đưa quyền lực vào thực tiễn, chống lại tính sơ cứng của mọi ý thức hệ, với mục tiêu là làm thay đổi các quy luật cứng, các tiêu chí cằn, các chỉ tiêu bất di bất dịch không tạo được phát triển, không giải quyết được chuyện "cơm no, áo ấm", trong hoài bão "trong ấm, ngoài êm", với ý nguyện "dân giàu nước mạnh".

Chính trị tỉnh – lãnh đạo thức

Quyền để hành để thay đổi nhân sinh quan hạn hẹp của nhân tình mù quáng theo nhân thế, để thế vào đó là nhân tình phải có nhân tính, dựa vào nhân tri để nâng nhân trí, từ đó có nhân văn, nhân bản qua nhân đạo và nhân nghĩa. Nhân vừa là thượng nguồn của quyền, vừa là hạ nguồn của hành, cũng vừa là cầu nối để liên kết giữa quyềnhành. Hệ nhân phải có mặt trong mọi tư duy, sinh hoạt, đời sống chính trị của lãnh đạo. Quyền để hành để chuyển đổi thế giới quan của nhân dân, giúp dân chúng thấy được nhân dân trong nhân loại, trong tương quan sống còn giữa dân tộc và thế giới, trong đó chính trị tỉnh-lãnh đạo thức làm được chuyện giải luận thương đồng bào thì phải thương đồng loại cùng trong hệ nhân với mình, biết đồng hội-đồng thuyền trong nhân chủng, thấu đồng cam-đồng khổ để bảo vệ nhân loài. Quyền để hành để chuyển hóa vũ trụ quan của xã hội, trong đó môi trường là môi sinh, làm được chuyện môi giới để nhân dân dụng nhân lý-nhân tri-nhân trí bảo vệ 3S (chất sống-sự sống-quyền sống) của mọi sinh vật, trong đó con người biết chăm sóc, cứu vớt động vật, thực vật như chăm lo, cứu rỗi chính nhân loại trong vũ trụ quan nhân bản mà nhân dân nhận diện được trong mọi chính sách của chính quyền.

Quyền lực để nâng dân

Quyền nâng dân là một thực tế trong các nước văn minh tức là các quốc gia hiện nay có nhân quyền nhờ dân chủ, thực tế này có được là nhờ chính thể của họ có chính quyền dùng quyền lực để nâng nhân dân của họ lên về mọi mặt, nhất là về nhân trinhân trí. Đây là mối lo, "mất ăn mất ngủ", của các chế độ độc tài hay độc đảng đang chứng kiến rất rõ mối quan hệ gắn bó giữa nhân quyền qua dân chủnhân tri qua nhân trí. Quyền nâng dân không những nâng mực sống của nhân dân, mà hùng lực của nó tại quốc gia hiện nay có nhân quyền, dân chủ tức là có văn minh là chuyển hóa các cá nhân, trước hết thành các cá thể phải được chính quyền tôn trọng, để thực sự có vị, có thế, có lực của chủ thể. Định nghĩa của chủ thể là quyền giành tự do cho mình để lấy sáng kiến trong sinh hoạt xã hội. Trong đó sinh hoạt chính trị qua tuyển cử, đầu phiếu luôn làm tăng sức sáng tạo của chủ thể để càng ngày càng có nhiều tự do hơn, chính đây là sự khác biệt sâu xa giữa hai hệ : hệ độc (độc tài, độc đảng, độc quyền, độc tôn) và hệ đa (đa nguyên, đa trí, đa tài, đa năng, đa hiệu). Chính sự khác biệt sâu xa giữa hai hệ này đã biến thành sự mâu thuẫn, rồi trở thành xung đột, để xung kích lẫn nhau trong quan niệm cũng như trong chuyện thực thi quyền lực. Hệ độc thì tìm cách loại, tiêu, hủy, diệt sáng kiến và sáng tạo ; còn hệ đa nâng, cõng, đở, đấy sáng kiến và sáng tạo của cá nhân, không còn là những cá thể lẻ loi, mà thực sự là chủ thể có vị, có thế, có lực trong sinh hoạt xã hội cũng như trong sinh hoạt chính trị.

Quyền nâng dân là quyền đảm bảo sáng kiến của chủ thể

Quyền nâng dân là quyền nâng sáng kiến của cá nhân để cá nhân có cơ hội mà nâng tập thể, cộng đồng, dân tộc, là quyền nâng sáng tạo của chủ thể qua phát minh dùng thông minh của mình để đóng góp trực tiếp vào nguyện vọng "cơm no, áo ấm" cho dân tộc. Sức mạnh của chủ thể hiện diện luôn trong ý nguyện "nước giàu, dân mạnh", vì chính các chủ thể được chính quyền tạo điều kiện thuận lợi từ giáo dục tới xã hội để dễ dàng vào quy trình của khám phá, tạo ra các phát minh để đẩy mạnh phát triển, thực sự đóng góp vào chuyện "thay đời, đổi kiếp" của dân tộc theo hướng thăng hoa. Quyền nâng dân cụ thể là để đảm bảo sáng kiến của chủ thể biết dụng tự do của mình để sáng tạo, từ đó nhận trách nhiệm trực tiếp với đất nước, từ đó nhận bổn phận tức khắc với dân tộc. Đây là nhiệm vụ của chính quyền, là "thiên vụ" của kẻ lãnh đạo, và nếu muốn lãnh đạo mà không có một ý niệm gì về chuyện dùng quyền lực của mình để nâng dân tộc mình lên thì đừng lãnh đạo ! Thì đừng chiếm chỗ người khác, nhất là khi họ là những chủ thể chính thống !

Quyền đẩy lòng tin dân chủ

Quyền đẩy lòng tin dân chủ khi mà lãnh đạo chính trị có quyền lực trong tay, chính là lòng tin vào nhân phẩm, nhân đạo, nhân nghĩa, làm nên nhân bản, nhân văn để bảo vệ nhân tình, nhân sinh bằng nhân trinhân trí. Chính lòng tin này bảo đảm tuổi thọ cho một chính quyền, tuổi trọng cho một chế độ, tuổi dày cho chính trị tỉnh-lãnh đạo thức. Thức vì thông minh để hiểu thấu được cái cao, sâu, xa, rộng của lòng tin, cái hay, đẹp, tốt, lành, của dân chủ. Quyền đẩy lòng tin dân chủ là một chỉ báo để nhận định chế độ độc (độc đảng, độc quyền, độc trị, độc tài, độc trị) hiện nay của Đảng cộng sản Việt Nam đang áp đặt lên số phận của Việt tộc là quái thai đối với hệ luận chính trị tỉnh-lãnh đạo thức. Cụ thể là hành vi "đảng cử, dân bầu", để dân chỉ có thể bầu cho đảng viên, với đại đa số dân biểu quốc hội đều là đảng viên, cùng lúc tổ chức mọi định chế và cơ chế từ hàng dọc tới hàng ngang đều là đảng viên, chia quyền lẫn nhau để chia chác với nhau qua độc quyền-lạm quyền-tham quyền, rồi đi thi thẳng vào hệ ma đạo tham quyền-tham nhũng-tham ô. Nội chất quái thai sinh ra các ung thư liên đới, trước nhất là ung thư này ăn mòn chất xám trong hệ của hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức,nhận thức), sau đó là ăn nạo hệ sáng (sáng kiến, sáng tạo), để cuối cùng là nạo rỗng hệ phát (phát minh, phát tiển). Quái thai loạn trí song hành cùng nhiều ung thư loạn tuệ : số phận của Việt tộc thật bi đát ! Nhưng số kiếp Việt tộc có thật đáng bi quan hay không ?

Quyền để bảo vệ nhân quyền

Quyền đẩy lòng tin dân chủ để lập lại lòng tin dân tộc với chính trị, chính giới, qua chính tri, chính lý mà phải bắt đầu bằng sự xuất hiện của một người, một nhóm ngay trong nội bộ của Đảng cộng sản Việt Nam đại diện cho luân lý chính trị của tổ tiên, mà Việt tộc xếp vào hệ minh (minh đạo, minh vương, minh quân, minh chúa, minh chủ, minh sư...) để sáng tạo ra hoặc sáng tạo lại hệ đa (đa tri, đa trí, đa tài, đa năng, đa hiệu...) qua đa nguyên. Và, nhờ nó rút ra các nọc độc quá độc hại của hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn). Không có dân chủ nếu không có đa nguyên, trước hết là để bảo vệ nhân quyền qua hệ nhân (nhân phẩm, nhân đạo, nhân nghĩa, nhân bản, nhân văn, nhân tri, nhân trí). Không có dân chủ thi cũng đừng mong có công bằng để chống bất công, lại cũng đừng chờ có công pháp để bảo đảm tự do bác ái ! Quyền đẩy lòng tin dân chủ được thể hiện qua thành tâm của chính trị tỉnh-lãnh đạo thức, xem mỗi cá nhân Việt là một chủ thể Việt được tham gia trực tiếp vào vấn đề Việt, trước mắt là chủ quyền Việt trong đó có toàn vẹn lãnh thổ Việt với ít nhất ba đòi hỏi Việt : "cơm no, áo ấm", "trong ấm ngoài yên", "dân giàu nước mạnh", ba đòi hỏi rất tối thiểu trong thông minh Việt, vì Việt tộc không vô minh !

Quyền tạo chủ thể

Quyền tạo chủ thể, là thử thách mà cũng là quyết tâm của các lãnh đạo các quốc gia văn minh hiện nay nhờ có dân chủ để bảo vệ nhân quyền, đây chính là liêm sỉ của kẻ lãnh đạo có lương tâm trong chính trị, thấy rõ qua lương tri các chính sách liêm chính, trong đó cá nhân, không những là cá thể phải được tôn trọng, mà chịnh trị tỉnh-lãnh đạo thức phải giúp họ chuyển hóa thành chủ thể. Và, cá tính của chủ thể là yêu dân chủ vì quý nhân quyền, trọng công bằng vì yêu bác ái, nâng niu tự do để sáng tạo trong tất cả sinh hoạt của xã hội, lấy phương hướng "nước giàu, dân mạnh" của dân tộc để định hướng "nhân loại thái hòa" cho thế giới. Chính quyền do Đảng cộng sản Việt Nam dẫn dắt chưa hề có hành động chính trị này, vì ngày ngày họ luôn tìm cách tiêu diệt tất cả các sáng kiến về phương trình chuyển tiếp cá nhân-cá thể-chủ thể. Chính quyền của Đảng cộng sản Việt Nam là chính quyền bị xếp vào "hạng tồi" trong bảng xếp hạng các chính quyền bảo vệ các chủ thể dân chủ. Quyền tạo chủ thểthông minh lãnh đạo chính trị, nếu muốn có tuổi thọ cao trong chính trường, có tuổi trọng trong chính giới, có tuổi dày trong chính kiến, chính thông minh lãnh đạo chính trị này là năng lực chuyển một xã hội quần chúng bị tuyên truyền "đưa đường dẫn lối" trở thành xã hội chủ thể với các cá nhân cá tính tham gia vào việc "ích nước, lợi dân".

Quyền yêu luật

Quyết tâm chuyển hóa một xã hội quần chúng qua một xã hội chủ thể mà mọi người dân đều có bổn phận và quyền lợi trực tiếp, có trách nhiệm và tư quyền tức khắc, dựa vào hiến pháp, phát luật, định chế, cơ chế... để chủ thể hóa cá nhân. Chính quyền do Đảng cộng sản Việt Nam dắt díu chưa hề có lập luận chính trị này, vì giờ họ luôn tìm mọi cách truy diệt tất cả các sáng tạo về quy trình chuyển tiếp chủ thể hóa cá nhân, với thực tâm cá nhân hóa các hành động dân chủ. Chính quyền của Đảng cộng sản Việt Nam là chính quyền bị xếp vào "hạng bét" trong bảng xếp hạng các chính quyền bảo vệ các hành động dân chủ. Quyền yêu luật là nền của nhân quyền, gốc của dân chủ, rễ của công bằng, cội của công lý, và các chính quyền liêm khiết phải dùng quyền lực của mình để thực hiện được lòng tin vào luật của nhân dân, từ đó tạo ra hiến pháp, công pháp, có liêm chính trong sinh hoạt xã hội, có liêm minh trong hành động chính trị, để có liêm sỉ trong mọi chính sách của lãnh đạo. Hãy bắt đầu bằng cách tôn trọng luật từ chính các lãnh đạo để có giáo lý trong mọi hành tác lãnh đạo, vì mỗi sinh hoạt xã hội đều có nguồn máy tổ chức đặc trưng, có quy luật vận động và vận hành đặc thù. Tại đây, tất cả mọi sinh hoạt xã hội đều phải được pháp luật định vị qua "sân chơi, trò chơi, luật chơi" mà mọi thành viên của cộng đồng sinh hoạt đó công nhận và thừa nhận. Không có chuyện độc đảng để độc quyền, độc quyền để chuyên quyền, chuyên quyền để bám quyền, bám quyền để lạm quyền, từ đó lách luật, không lách luật được thì tráo luật, không tráo luật được thì xé luật.

Quyền yêu luật quyền chủ thể hóa cá thể

Đó là quá trình phạm luật, thường xuyên và thường trực của Đảng cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đảng này, ngày càng khinh luật từ các năm qua, trắng trợn nhập nội vào tham nhũng, tham ô để vơ vét trong không gian bất chấp luật ! Quyền yêu luật trong phương trình nhân quyền-dân chủ-công bằng-công pháp, từ lãnh đạo chính trị cầm đầu chính quyền cho tới thường dân chính là cột xương sống của đạo lý dân tộc, luân lý xã hội, đạo đức chính trị, vì sao ? Vì tất cả các khúc mắc, các khó khăn, các ngõ cụt của một đất nước, nếu không giải quyết thỏa đáng bằng đạo lý dân tộc, luân lý xã hội, đạo đức chính trị, thì sẽ được xử lý qua pháp luật. Chính pháp luật là tác nhân chính để minh bạch hóa, liêm khiết hóa, trong sạch hóa mọi chính sách, chính thể trong sinh hoạt và hành động chính trị. Đó là cách lý giải trực luận để giải quyết dứt khoát nhiều khổ nạn của Việt tộc hiện nay, nơi mà bất công ngày ngày đào sâu, đạo rộng các hệ lụy bất bình đẳng trong xã hội Việt bây giờ. Quyền yêu luậtquyền chủ thể hóa cá thể song hành cùng tự do hóa chủ thể trong khung chung của luật pháp hóa xã hội, từ chính quyền tới dân chúng, từ lãnh đạo tới mọi cá nhân trong xã hội ; trong đó luật pháp hóa xã hội phải song đôi với luật pháp hóa chính quyền, nơi đây mọi lãnh đạo phải nhận, phải chịu, phải tuân luật pháp trong quy luật công bằng được bảo trì bởi công pháp là được bảo vệ mà cũng được xét xử qua luật pháp.

Quyền nhận thức sử tính

Quyền nhận thức sử tính của chính trị tỉnh-lãnh đạo thức là nhận thức lịch sử qua sử học, có nghiên cứu, có điều tra, có kiểm định, có sát quyết để sử liệu phải có đủ dữ kiện kiểm chứng thực được, để được thừa nhận là chứng từ để thành sử kiện, trong đó lãnh đạo sáng suốt nhờ tỉnh táo tìm ra được sử luận để hiểu được sử Việt, nhờ nắm được sử tính một cách khách quan. Trong sử này, có công trạng của các vì khai quốc công thần, nhưng cũng có bọn "sâu dân, mọc nước", chúng bán nước vì tư lợi, Việt tộc đã xếp chúng vào loại : "cõng rắn cắn gà nhà", "mang voi dày mả tổ", cha ông ta có công "dựng nước, giữ nước", riêng bọn này "bán nước như chơi", để dân tộc bị lâm vào nạn vong quốc "một sớm một chiều" cũng "như chơi" ! Quyền nhận thức sử tínhminh quyền của lãnh đạo, vì biết số kẻ "bán nước, buôn dân" không phải là hằng số mà là biến số tùy thuộc không những vào lòng yêu nước của mỗi con dân, nhất là của mỗi lãnh đạo, mà còn tùy thuộc vào 3C (bối cảnh-hoàn cảnh-thực cảnh) tạo ra tâm cảnh giữa quyền tư lợi trong đó hệ của đạo đức (luân lý, đạo lý) trong giáo dục, hệ này phải được giáo dưỡng qua một hệ khác của lý trí (lý luận, lập luận, diễn luận, giải luận) để làm tròn bổn phận của kẻ lãnh đạo, vì "quốc thái, dân an" trong việc giữ toàn vẹn lãnh thổ, giữ trọn vẹn cơ đồ của tổ tiên.

Quyền nhận thức sử kiện

Nếu chúng ta yêu quý, tôn vinh Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung... đã xử lý trọn vẹn hai hệ lý trên ; của đạo đức của lý trí, thì chúng ta cũng phải hiểu thật rõ, thật đúng, thật sâu về "bọn bán nước" qua 3T (tâm địa-tâm tà-tâm lý) của chúng, như Kiều Công Tiễn, Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, mà không quên Hoàng Văn Hoan, ủy viên Bộ Chính trị của Đảng cộng sản Việt Nam... nơi mà tướng Trương Quang Long thố lộ là "bọn bán nước" hiện nay trong bộ máy lãnh đạo là "từ trăm này sinh ra trăm kia !", chúng ngày càng nhiều hay ngày càng ít thì là hoàn toàn tùy thuộc vào khả năng của lãnh đạo hiện nay. Quyền nhận thức sử tínhtrí quyền của lãnh đạo, luôn dựa trên kinh nghiệm của cha ông để "lột mặt nạ bọn bán nước buôn dân", dụng sử tính để hiểu sử xưa trong thông minh lãnh đạo để nắm sử nay, biết chuyển hóa thành chính quyền hiện đại để sử nay phải hay, đẹp, tốt, lành hơn sử xưa. Đó chính là sử luận để thấu hiểu sâu, xa, cao, rộng được sử Việt. Chính quyền hiện đại kiến thức sử tính, ý thức sử nay, có tri thức sử luận là chính quyền biết phối hợp tất cả ngành khoa học, từ khoa học kỹ thuật, thông tin, truyền thông cho tới khoa học xã hội và nhân văn, không những để hình sự hóa bọn bán nước mà còn tỉnh táo và sáng suốt để giúp các con dân không rơi vào vực thẳm bán nước, làm bụi đời rỗng nhân phẩm, làm oan hồn trống nhân nghĩa !

Quyền chủ hóa nhân quyền

Quyền chủ hóa nhân quyền là lằn ranh phân chia làm ra mức phân định giữa một chính quyền vì văn minh của xã hội, vì phát triển của đất nước, vì đạo lý của dân tộc, luôn ngược lại với loại chính quyền lấy độc quyền để lạm quyền, lấy độc tài để diệt đa tài của nhân dân. Chính nhân quyền khi được tôn trọng sẽ có các cá nhân trở thành chủ thể lấy tự do của mình để sáng tạo ra các phát minh "ích nước, lợi dân", sẽ có các tập thể lấy tự chủ của mình để chế tác ra các sáng kiến mới vì "dân giàu, nước mạnh", sẽ có các cộng đồng lấy tự giác của mình để bảo trì các giá trị, các di sản, các đạo lý của tổ tiên qua "cha truyền, con nối" theo nghĩa đẹp. Quyền chủ hóa nhân quyền, khi nhân tình được nhân tính nâng lên, khi nhân thế được nhân tri đẩy lên, khi nhân loại được nhân lý đề cao, thì chính nhân quyền này sẽ có nhân bản, nhân văn, tạo ra ý thức tập thể, sinh ra nhận thức cộng đồng, giúp chế tác ra tâm thức cá nhân, biết tôn trọng công lợi để bảo vệ tư lợi. Từ đây, lãnh đạo chính trị sẽ làm cầu nối để nhân quyền gặp được chủ quyền (cho dân, vì dân), trong đó nhân dân có quyền kiểm tra, giám sát, phê chuẩn các kết quả qua hiệu quảhậu quả của các chính sách, trực tiếp sử dụng chủ quyền của mình trong pháp luật để đầu phiếu, để tuyển cử, tạo ra tranh cử, để có được lãnh đạo thực tài và liêm chính trong sạch.

Quyền của lý trí chủ hóa nhân quyền

Quyền chủ hóa nhân quyền để văn minh hóa xã hội, văn hiến hóa dân tộc, mà cụ thể là có chính sách minh bạch để kẻ xấu không lấy được danh nghĩa của tôn giáo để "buôn thần, bán thánh", biến chuyện "xây chùa, lập miếu" thành chuyện làm thương mại, trong đó bọn "buôn chùa, bán Phật", được thu tiền trắng trợn qua xảo thuật : mua lộc, mua sớ... Chúng lại còn tổ chức với bọn tham những trong chính quyền địa phương để lập các trạm thu phí gần chùa ngay trên núi, trên đồi, đối với các con tin mê tín, dị đoan của chúng, thí thân đến các nơi này để thiêu tiền sẵn sàng thiêu thân để thiêu đạo, trực tiếp cho bọn ma giáo nhưng lại mặc áo cà sa bỏ túi bạc tỷ hàng tuần, hàng tháng. Quyền chủ hóa nhân quyền lý trí, biết tách nếp sống văn minh ra khỏi thói quen mê tín, tách lý tính ra khỏi cuồng tín, chuyện tách ra để trực diện đấu tranh với cái xấu, tồi, tục, dở của ngu dân, lý trí này bắt buộc phải có trong tư duy của người lãnh đạo. Họ phải biết bảo vệ vốn liếng của tổ tiên mình, qua sự thật của lịch sử, qua chân lý của niềm tin, qua các giá trị đạo lý làm nên lẽ phải, để dân tộc được khai sáng và thực sự làm chủ lòng tin của mình, như làm chủ số phận của họ. Từ đó, biết khai thác sức mạnh của mình không để cái ma đạo của mê tín, dị đoan quyết định số kiếp họ.

Quyền dân chủ hóa nhân tính

Quyền chủ hóa nhân quyền là vinh dự của các kẻ lãnh đạo biết trao, biết tặng, biết dâng lên cho tổ quốc mình, cho dân tộc mình quyền làm chủ chữ nhân qua chữ lý ! Quyền dân chủ hóa nhân tính trong nhân tình để nhân thế sống có nhân bản, đối xử với nhau có nhân văn, xử thế với nhau có nhân nghĩa, khi đó nhân tính này chắc chắn sẽ được bảo đảm không những bởi nhân đạonhân từ, mà còn được bảo hành bởi nhân lý, nhân tri, nhân trí. Cả hệ nhân này nằm gọn trong luật nhân quả chính trị, khi nhân của lãnh đạo sẽ sinh ra quả của chính sách, tạo ra hệ quả để nhân dân thấu rõ được các lãnh đạo có biết "ăn ở có hậu" hay không, vì "ăn ở không có hậu" sẽ bị "triệt hậu", sẽ thành "vô hậu", sẽ bị "người đời rủa trong truyền kiếp" ! Quyền dân chủ hóa nhân tính không phải chỉ là một tên gọi, một quyết tâm, một chính sách nhất thời, nó chính là nhân học nằm giữa trung tâm của chính trị học ; nơi mà lý thuyết luận nhân tâm của nó chính là phương pháp luận nhân trí của nó ; nơi mà khoa học luận nhân lý của nó chính là tri thức luận nhân nghĩa của nó. Nó không lý thuyết, nó chẳng mơ hồ, nó thoát mông lung, nó thắng xảo thuật trong hành động chính trị : vì nó là nó ! Vì nhân tính biết mình là ai ? Vì nhân tínhnhân tính.

Thông minh nhờ nhân lý của nhân tính

Nên nó không bao giờ sợ nhân thế, nó còn có sung lực làm nên nhân bản, có tiềm lực làm ra nhân văn, có mãnh lực tạo ra nhân từ. Vì nhân tính hiển hiện khuyên, dìu, dẫn, dắt, để nhân tình biết sống chung trong nhân loại. Quyền dân chủ hóa nhân tính chống nghèo đói vì hạnh phúc "đủ ăn, đủ mặc" ; chống chiến tranh vì "quốc thái, dân an" ; chống thế chiến vì "nhân loại thái hòa" có trong , trong ngôn, trong từ của lãnh đạo các quốc gia văn minh vì dân chủ, khôn ngoan vì nhân quyền, thông minh nhờ nhân lý của nhân tính, mà chúng ta được nghe hàng ngày, hàng tháng, hàng năm trên diễn đàn của Liên Hiệp Quốc. Trong những lúc đó các lãnh đạo của các chế độ độc tài, độc đảng, độc quyền, độc tôn lấy tham quyền để đẻ ra quái thai tham quan, sinh ra bao ung thư tham nhũng, bao hoạn bịnh tham ô, thì chúng ta thấy chúng cúi đầu, lặng thinh... để nghe và... để nhục ! Các loại lãnh đạo này đừng tiếp tục "nhục nước, nhục dân" của họ trên chính trường quốc tế nữa.

quyenluc12

Việt gốc

Muốn biết mình có phải là lãnh đạo chính trị Việt gốc hay không ? (theo nội dung yêu nước thương nòi, với ý nghĩa thiêng liêng nhất của định nghĩa "đồng bào", chớ không phải chỉ cần có quốc tịch Việt hay tổ tiên Việt là đủ), thì phải tự khẳng định rằng ít nhất ba việc mình chính là con dân của một dân tộc. Không bao giờ khuất phục bất cứ ngoại xâm nào, tới từ bất cứ phương trời nào, dù chúng có to nhất, có giầu nhất. Không bao giờ chịu phận mất nước, làm thân nô lệ, dù phải trả những giá rất đắt để giữ độc lập. Nhận quyết tâm độc lập dân tộc như tiếp cùng lúc hai hệ vấn đề : một là bản sắc Việt tính bất di bất dịch, hai là về nhân phẩm Việt lực của mình. Ba khẳng định chính kiến chính là ba xác nhận chính trị để kẻ lãnh đạo trước hết biết mình là ai ? Sau đó để biết mình sẽ lãnh đạo một dân tộc nào ? Một dân tộc kiên cường, chớ không phải một dân tộc cúi đầu, khoanh tay, quỳ gối. Như vậy, những kẻ không có, hoặc không muốn có ba chính kiến này thì đừng lãnh đạo chính trị, vì họ sẽ nhận thất bại và chóng chầy sẽ bị kết án là phản dân, hại nước !

Việt chính

Việt chính, ngược hẳn với Việt gian,chính đạo nhờ có chính nghĩa, có chính tâm song hành cùng chính lý, có chính khí nên có chính ngôn, trước sau như một, tuyệt đối trung thành với tổ quốc, muốn làm lãnh đạo thì sẵn sàng hy sinh vì dân tộc, chết vì nước. Chắc chắn không phải là loại lãnh đạo, vừa vơ vét, vừa có thẻ xanh, có quốc tịch ngoại quốc, để khi Tàu tặc tới, vật đổi sao dời trong thời cuộc lại bỏ chạy qua phương Tây, rồi lẩn lút như đám ma bùn, ma xó. Vật đổi sao dời trong đời người là có thật, vật đổi sao dời lại càng đúng trong chính giới với "nắng sớm, mưa chiều", "sớm nở, tối tàn" ; trong đó nếu có bọn xấu thì chuyện "lừa thày, phản bạn" đối với chúng là chuyện "cơm bữa" ! Chúng đang là đám tham quan hiện nay đang làm giàu nhờ tham nhũng. Chúng sẵn sàng lúc chúng mượn giọng lưỡi cách mạng, để mạt sát các người yêu nước, các kẻ thương dân, không là bè đảng với chúng, chúng thóa mạ họ là : Việt gian. Hãy dùng định nghĩa Việt chính để lật trần ngược ngữ Việt gian, cùng lúc lột mặt nạ bọn Việt gian hiện đại đang nghênh ngang trong vai trò lãnh đạo chính trị, đó là bọn luồn từ phương trình xoay quyền lực qua quyền lợi qua phương trình chuyển công lợi qua tư lợi, bằng cách khai thác tận tủy phương trình tham quan-tham quyền-tham ô-tham nhũng, biến không ít một bộ phận dân tộc thành dân đen, dân oan !

Việt rễ

Rễ làm cội chắc, gốc vững, khi Trần Hưng Đạo bên giường bịnh vào giờ trăn trối mà Trần Anh Tông vẫn luôn lo lắng bọn quân Nguyên dù thua thảm bại ba lần trên đất nước Việt dưới triều Trần, nhưng vẫn không bỏ mộng xâm lược của chúng ; Hưng Đạo vương chỉ khuyên : nếu có dân là có"rễ sâu, gốc chắc" thì không có gì phải lo ! Bài học "rễ sâu, gốc chắc" này, Trần tướng quân dặn dò cho nhiều đời sau phải hiểu là dân tộc và lãnh đạo : một lòng trong quyết tâm, quyết chí, để quyết đoán và quyết định trước mọi thử thách, mọi thăng trầm đang đe dọa Việt tộc. Dân chúng và chính trị một lòng thì làm được chuyện "dời non, lấp bể", cụ thể là "châu chấu đá xe" được lập đi lập lại nhiều lần trong Việt sử : nhỏ nhưng thắng được lớn, không sợ cường quốc và không sợ cường bạo, chỉ sợ là không có chính nghĩa. Sử liệu giờ đã thành sử luận, không hiểu được sử luận này thì đừng lãnh đạo chính trị ! "Rễ sâu, gốc chắc" từ chuyện cả nước một lòng có thượng nguồn là niềm tin, như đất nuôi rễ, như nền giữ gốc, tin vào chính, có chính nghĩa sẽ có chính tâm, có chính tâm sẽ có chính lý, có chính lý sẽ có chính ngôn, có chính ngôn sẽ có chính khí, tạo nên sung lực để vận động khí thế của dân tộc, trong chiến tranh cũng như trong phát triển. Niềm tin hiện nay rõ ràng là không có, bề trên lãnh đạo độc quyền nên độc đoán, độc đảng nên độc tài, từ lộng quyền tới tham quyền, thì làm gì có chuyện một lòng, trong thực cảnh dân chúng một bộ phận lớn đang thành dân đen.

Việt hiền

Lãnh đạo biến quyền lực thành quyền lợi, cướp đất, đoạt nhà, biến một bộ phận không nhỏ dân tộc thành dân oan. Chuyện một lòng hiện nay là chuyện hão, chuyện mất lòng mới là chuyện thật. Mất lòng tin mất niềm tin, và mất luôn cả thông tin chân thật bởi một chế độ chỉ biết tuyên truyền một chiều, sợ đa tin như sợ đa luận ! Sợ chính luận như sợ chính nghĩa ! Không tạo được "rễ sâu, gốc chắc", vì không có ý thức chính trị về chuyện một lòng, vì không có tri thức lãnh đạo về chuyện niềm tin, thì đừng lãnh đạo chính trị, lãnh đạo thì chỉ làm khổ dân, chỉ làm tăng lượng dân đendân oan trong dân tộc như hiện nay. Hiền minh, chọn hiền triết để lãnh đạo, chọn minh triết để quản lý, tạo ra chính sách không qua định kiến và chỉ đạo không bằng tà kiến. Có chính kiến (chính thống trong liêm chính), nhưng cũng có luôn trung dung để tránh cực đoan, có trung đạo để không sa vào quá khích. Hiền minh có chính lý trong trung dung, có chính tâm trong trung đạo, loại được cực đoan, xóa được quá khích, nên tiếp nhận thực tế trong tỉnh táo, chọn ra đường lối đúng trong sáng suốt, luôn linh hoạt trong các biến đổi của tình hình. Biết chọn trung dung đa của đa chiều (ngã tư, ngã sáu, ngã bẩy...) chứ không ngu dại mà chọn độc của độc đạo, vì quá khích của độc đảng sinh ra cực đoan của độc quyền, dẫn tới thui chột của độc tài, và chóng chầy sẽ rơi vào : ngõ cụt !

Quyền lực hiền minh : vừa hiền ngoan vừa thông minh

Hiền minh, hiền ngoan nhưng luôn có thông minh, luôn hiểu sự thật qua nhiều nguồn, thấu chân lý qua nhiều gốc, nhận lẽ phải qua nhiều rễ, tiếp đón cuộc sống qua đa tri của đa trí, nên không tự sát trên độc lộ của độc đảng vì độc thân. Hiểu thực tại sâu xa của cuộc đời nhờ nắm được thực cảnh tức khắc bây giờ và ở đây, không bị ý thức hệ viển vông làm lầm đường lạc lối, luôn lấy thực tại-thực cảnh để hiểu thực tế, không bị ý thức hệ tung hỏa mù, không bị độc thị đầu độc độc não. Hiền minh trong chính trị không phải là thái độ sinh hoạt hiền lành, phong cách làm việc ngoan ngoãn, mà cụ thể là sự tinh khôi trong khi dụng phương trình 3T (thực tại-thực cảnh-thực tế) để chống lại vô tri, vô minh, vô tri của 3Đ (độc tàiđộc thị đầu độc độc não). Lãnh đạo hiền minh thì nắm chắc 3 thực (thực tại-thực cảnh-thực tế) nhờ có 3 thức (tri thức-ý thức-nhận thức). Hiền minh, không giả vờ thong dong, không đóng kịch ung dung, mà sáng suốt trong thư thái, tỉnh táo trong thư thả, nên khoan thai trong lãnh đạo vì nắm mỗi tay một phương trình : 3 thực (thực tại-thực cảnh-thực tế) song đôi cùng 3 thức (tri thức-ý thức-nhận thức).

Việt tri

Tri, nơi mà tri thức làm ra chính tri, nơi mà hiểu thấu có được nhờ hiểu đúng dữ kiện và hiểu trúng kiến thức, không có thái độ "ba phải", không có hành vi "chung chung", chắc chắn sẽ không có chuyện hiểu giả-giảng giả-dạy giả trong giáo dục chính trị cũng như trong truyền đạt khi lãnh đạo. Cái giả giết cái thực, truy diệt cả lẽ phải, thủ tiêu luôn niềm tin ; câu chuyện một bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo Phùng Xuân Nhạ, đạo văn là chuyện giết chết kiến thức, truy diệt cả giáo lý, thủ tiêu luôn đạo đức ; một chuyện chỉ có thể xẩy ra trong một đất nước bị áp chế và bưng bít bởi độc đảng sinh ra quái thai độc quyền-chuyên quyền-tham quyền, đẻ ra loại ung thư thâm tối mua quyền bán chức, giữa các lực lượng tham quyền để tham nhũng. Tri, có vai vóc của phân tích tổng quát, có tầm vóc của giải thích toàn bộ, chống cục bộ, nó chống lại chuyện lấy cây che rừng, lấy tay che mặt trời, lấy vải thưa che mắt thánh, trong lãnh đạo chính trị phải hiểu thánh đây chính là dân ! Phân tích tổng quát để có nhận định tổng quan, nơi mà quyết định chính trị để làm ra chính sách luôn là một lý luận tổng thể, nơi mà tổng cộng tri thức tới từ tổng công (tổng cộng của công mọi vốn liếng, tiềm lực, tài nguyên...) của dân tộc. Hiểu và thực phương trình 4T (tổng quát-tổng quan-tổng thể-tổng cộng) chính là tài trí của kẻ lãnh đạo.

Việt đẹp

Tri, có phân chia để phân tích, có phân tách ra để phân loại, nhưng không rơi vào cục bộ để bị rơi vào chia rẽ, chia năm sẻ bẩy sẽ diệt đoàn kết, chia bè sẻ phái thì sẽ giết tương trợ. Minh tri để minh trí, lấy cái công để điều chế cái riêng, luôn chống lại cái phiến diện, nhất là chống lại chuyện lấy riêng rẻ của tư lợi để điều hành cái tổng thể của đất nước, đây chính là lỗi lầm lịch sử của Đảng cộng sản Việt Nam. Khi họ đã chọn tư quyền chỉ cứu đảng mà không cứu nước, họ đã rơi vào cái bẫy của Hội nghị Thành Đô, 1990, nơi mà Đảng cộng sản Trung Quốc chính là : kẻ cầm cần câu, kẻ móc lưỡi câu, kẻ đưa mồi câu, để Đảng cộng sản Việt Nam là cá đã cắn câu, để rồi một ngày nào đó Việt tộc sẽ như : cá nằm trên thớt ! Việt đẹp là một đất nước đẹp từ địa lý tới cảnh quan, là một dân tộc đẹp từ tâm hồn đau khổ vì chiến tranh tới đạo lý yêu hòa bình, nhưng không chấp nhận xâm lăng, không cúi đầu trước ngoại bang dù là cường quốc. Cái đẹp này người ta thấy trong lịch sử rồi nhận ra được trong văn hóa, để nhận rõ hơn văn minh Việt chính là nhân phẩm Việt, tạo nên bản sắc Việt : luôn bất khuất để giữ độc lập, không khuất phục trước mọi bạo quyền. Đây là chuyện phải rõ trong mọi tư duy bình thường cho mọi lãnh đạo chính trị.

quyenluc0

Những loại lãnh đạo vô luận vì vô tri

Nhân dân Việt "rùng mình" khi nghe thủ tướng chính phủ Nguyễn Xuân Phúc ví đất nước Việt như một cô gái đẹp, với các từ ngữ của hình thể, không có lý luận nên chẳng có lập luận, tới từ một thủ tướng vô tri trong lập ngữ và vô minh lập ngôn. Chưa xong, dân Việt lại "rởn óc" khi nghe có một phó chủ tịch quốc hội, tiếp tục ví đất nước Việt như một cô gái đẹp, với các động từ (rờ, sờ, mó...) loại thô ngữ tục ngôn, tà lý với lời tồi, vô giác với hồn thiêng sông núi vì vô tri với tiền đồ tổ tiên của Việt tộc : thật là từ sỉ nhục qua điếm nhục ! Những loại lãnh đạo này, vô luận vì vô tri đã lăng nhục đất nước Việt ! Những loại lãnh đạo này vô minh, vô tri, vô giác, họ đã quên là tổ tiên dạy con cháu mỗi lần miệng ra lời, trước đó phải uốn lưỡi nhiều lần ; chúng không hề biết uốn lưỡi với mỹ ngữ, mà chỉ biết cong lưỡi để thô ngữ, tục ngôn. Nếu không được giáo dục về đạo lý hay, đẹp, tốt, lành, vì không được giáo dưỡng đàng hoàng từ gia đình tới học đường, vì không được giáo huấn tử tế từ học đường tới xã hội ; thì phải biết tự giáo dục, không khó, rất dễ, họ chỉ cần nghe thật kỹ ca từ các ca khúc tự tình dân tộc của Phạm Duy (Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời).

Nghe thật rõ các ca từ về của đất nước Việt của Trịnh Công Sơn :

Rừng núi dang tay nối lại biển xa

Tay đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà...

Bàn tay ta nắm nối trọn một vòng Việt Nam...

Biển xanh sống gấm nối liền một vòng tử sinh...

(Nối vòng tay lớn)

Nếu không hiểu hồn thiêng sông núi do tổ tiên để lại thì đừng lãnh đạo !

Hóa giải để hòa giải

Hóa giải để hòa giải đã có nhiều lần trong Việt sử, từ minh quân tới minh chúa, từ Trần Nhân Tông qua nhiều nguồn xung đột nội chính, trước đại họa xâm lăng của Nguyên Mông, cho tới Quang Trung khi đã tống quân Thanh ra khỏi bờ cõi, lấy lại Thăng Long với những năm tháng dài chia rẽ thâm sâu của nội chiến Trịnh-Nguyễn. Đây là sự thông minh của kẻ lãnh đạo luôn lấy khối đại đoàn kết dân tộc làm nên sức mạnh cho chính lãnh đạo. Hóa giải để hòa giải có bài học đầu tiên trong lãnh đạo qua đúc kết của thi hào Nguyễn Du : "phải dung kẻ dưới mới là lượng trên", mà trong tình hình của hơn 40 năm qua, từ khi hòa bình được lập lại, có thống nhất đất nước, 1975, vậy mà các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam không biết chuyển câu trên thành phương châm mới : phải hòa giải với kẻ bại để hóa giải mọi hậu quả của chiến tranh, để tạo được hòa hợp dân tộc. Hóa giải để hòa giải luôn là cử chỉ đầu tiên đưa tay-dang tay-nối tay của kẻ thắng trước kẻ bại, không cần bắt đầu bằng xin lỗi, tha tội, mà qua thực tế của đất nước, bằng những hành động cụ thể của mọi người, mọi phía, cùng nhau xây dựng lại quê hương, cùng nhau đưa dân tộc đi lên, đẩy giống nòi thăng hoa với thế giới văn minh.

Việt chung

Hóa giải để hòa giải trong phương châm đa chiều để có đa trí, cùng lúc đa tri để tạo ra đa hiệu, dựa trên đa tài để có đa năng, lấy cái đa để xa cái độc hại của độc quyền qua độc đảng, đây chính là hành động thông minh của lãnh đạo chính trị, biết biến tiềm lực của mọi nơi thành hiệu lực tổng hợp từ mọi phía, tạo ra hiệu quả thống hợp từ mọi tiềm năng của mọi người, mọi tập thể, mọi cộng đồng. Hóa giải để hòa giải có rễ trong hóa, trong hòa, trong hợp, trong đó hóa giải không những mọi hiềm khích mà luôn cả mọi oan khiên, hòa lấy hòa bình trước mắt chế tác ra thái bình bền vững ; hợp biến tổng hợp mọi tiềm năng để tạo ra thống hợp mọi hiệu năng, làm nên thành công của phương trình mà tất cả lãnh đạo đều phải biết : phương trình 3H (hóa-hòa-hợp). Ngày ngày sống cạnh nhau thì chưa chắc là sống chung, vì đã chung thì không có riêng, vì chungchia sẻ, chính ngữ pháp cộng sản, cũng từ đó mà ra, nhưng trong thực tế nó chỉ là một khẩu lịnh để tuyên truyền, để đưa đẩy quần chúng, dùng loại ý thức hệ để vận động cộng đồng, rồi dìu dắt quần chúng vào độc đạo của độc đảng, trong đó chuyện lãnh đạo "đánh lận con đen" sẽ bộc lộ rất rõ dưới ánh sáng của sự thật-chân lý-lẽ phải.

Việt tri

Cộng đồng tương trợ hữu cơ, nơi mà dân tộc là một cộng đồng khắng khít qua đoàn kết chặt chẽ để chế tác ra tương trợ sống trong một xã hội hữu cơ, không máy móc một cách thẳng thừng, trắng trợn kiểu "tiền trao cháo múc", lại còn được thô lỗ hóa qua đám từ của một xã hội loạn lạc luân lý như hiện nay : "ăn bánh trả tiền". Ngược lại hoàn toàn, cộng đồng tương trợ hữu cơ mang nội lực "một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ", có nội công "máu chảy, ruột mềm", có nội hành liên đới "bầu ơi thương lấy bí cùng". Đây là một đạo lý hữu cơ, không coi nhân dân là công cụ, không xem quần chúng là dụng cụ, mà là các chủ thể sống vì nhau, vì biết liên đới nhau, biết bảo vệ nhau, nơi mà trái tim đau, thì não cũng đau theo, nơi mà phổi khó thở thì tim cũng không dễ sống. Cộng đồng tương trợ hữu cơ luôn là bài học đôi cho tất cả các lãnh đạo của các nước văn minh, tiên tiến, nơi mà luân lý cộng đồng, đạo lý tương trợ, đạo đức hữu cơ luôn mang theo hiệu quả sản xuất, hiệu năng quản lý, hiệu suất cho chính sách. Tương trợ để tăng hiệu quả chính là thông minh của chính giới. Cộng đồng tương trợ hữu cơ đưa nhân thế vào nhân tính, đưa nhân tình vào nhân tính, nơi đây các phản xạ ích kỷ, tư lợi, cá nhân chủ nghĩa không bao giờ có được tầm vóc quốc gia, có vai vóc cộng đồng, có gân cốt của lãnh đạo cao minh vì biết lấy nhân nghĩa làm nhân tri.

Cộng đồng tương trợ hữu cơ

Cộng đồng tương trợ hữu cơ đang "dở sống, dở chết" trong xã hội Việt tộc do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo đang bị trật hướng, ngược chiều, với các nội tạng không có thực chất tương trợ hữu cơ, nơi đây mà não bộ lãnh đạo đang bị ung thư óc vì chuyên quyền-bạo quyền-tham quyền, sinh ra cùng với ung thư máu lây lan toàn cơ thể tham quyền-tham ô-tham nhũng, ngày ngày hủy diệt các kháng tố "thương người như thể thương thân" đưa tính mạng của Việt tộc tới nan bịnh, trọng bịnh, bạo bịnh... Cộng đồng tương trợ hữu cơ sẽ có, nếu các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam biết chế tác, biết gầy dựng (như mọi lãnh đạo chính trị thông minh của các quốc gia văn minh đã thực hiện được) được ba định đề biến nó thành một chính sách hoàn chỉnh với ý chí chính trị kiên cường : dụng tự do để chế tác công bằng, dùng công bằng để gầy dựng bác ái. Nếu bác ái là tình thương đồng loại, nhất là tình thương dành cho đồng bào, thì chắc chắc bác ái là tiềm năng, động cơ, sung lực cho tương trợ.

Việt tâm

Hiện hữu tâm linh-tri thức, là sự có mặt qua các giá trị tâm linh dựa trên một hệ thống tri thức vừa hợp lý vừa trọn vẹn, nơi mà nhân đạonhân tri là một tổng thể để đưa nhân tình vào quỹ đạo nhân nghĩa, đây là thử thách tinh thần lớn nhất của sinh hoạt chính trị, và nếu làm được thì sẽ là thành công đạo lý lớn nhất của kẻ lãnh đạo. Hiện nay, các diễn biến trong quyền lực chính trị thì ai cũng thấy là đang diễn biến hoàn toàn ngược lại, với các lãnh đạo đang thanh toán nhau qua ân oán giang hồ, đang thanh trừng nhau bằng luật rừng, theo phản xạ vô tri thắng làm vua, thua làm giặc, không có đạo đức sẽ không có hậu đây là chân lý khách quan và lịch sử của đạo đức học làm nền cho mọi hành động chính trị. Chính cái bề trên không những bất tín-bội thề với dân tộc trong phương trình tự do-ấm no-hạnh phúc, mà lại lấy bạo quyền để chuyên quyền đã làm cho các giá trị tinh thần của dân tộc đã bị sa vào bùn bẩn, từ đó các thước đo luân lý cộng đồng, các khuôn mẫu đạo lý tập thể bị suy kiệt tới cùng tận, để trong xã hội hiện nay cái bạo động của cường quyền công an đánh giết quần chúng, làm chất xúc tác xấu cho chuyện phát triển bạo hành trong học đường, trong gia đình, bạo giới của nam đối với nữ.

Công bằng và công lý để công nhận cái đúng của bình đẳng

Công lý không tự nhiên mà có, không phải trên trời rơi xuống, công lý tới tự thâm tâm của con người yêu quý và mến trọng công lý : tâm lý vì công lý có trước hiện thực của công lý. Một tâm lý muốn tôn vinh công lý qua công bằng. Công bằng từ lao động tới quyền lợi, từ bổn phận tới trách nhiệm, từ phân phối tới phân chia của cải và công sức trong sinh hoạt xã hội. Trong xã hội công lý dựa trên công bằng này sinh ra lý thuyết luận công lý có mặt trong luật họctriết học, trong đó công pháp học không tách rời đạo đức học, để khẳng định thái độ chống lại các cá nhân lợi dụng cộng đồng, bóc lột tập thể, qua ăn bám, ăn lừa, ăn hại. Nếu chúng ta không dứt khoát trên quan điểm này thì chính các lực lượng ký sinh trùng sẽ tạo ra các bất công mới, làm trì trệ mọi thăng tiến của kinh tế, làm ngưng trệ mọi tiến hóa của xã hội. Nhưng nếu quý yêu công lý, mến trọng công bằng thì phải nhận ý tưởng giờ đã thành lý luận trong xã hội học chính trị : công bằng-và-công lý-để-công nhận cái đúng của bình đẳng. Cái đúng này công nhận "làm nhiều, ăn nhiều", "làm nhiều, lương nhiều", "làm nhiều, lợi nhiều". Tức là chính thức công nhận việc "thức khuya dậy sớm", "một nắng hai sương", "dãi nắng dầm mưa" là phần thưởng xứng đáng trong thành công trong nghề nghiệp, trong thành đạt trong kinh tế, thành tựu trong xã hội.

Công cụ chống tham quan, công dụng chống tham quyền

Tất cả các thành công-thành đạt-thành tựu này chính là thành quả của một cá nhân, của một gia đình, của một tập thể, của một cộng đồng, của một dân tộc, của một sắc tộc, của một văn hóa phải được hợp lý hóa để được chính thức hóa, phải được công lý hóa để được cơ chế hóa qua pháp luật. Vì đây là công bằng của công bằng. Trong tình hình hiện nay của Việt tộc, cái đúng của thành công-thành đạt-thành tựu-thành quả sẽ là công cụ chống tham quan, có công dụng chống tham quyền, phải thành công luật để chống tham nhũng, phải là công pháp để chống tham ô. Vì bọn tham quan-tham quyền-tham nhũng-tham ô trong xã hội Việt Nam hiện nay chúng vừa "ăn không ngồi rồi", vừa "ăn trên ngồi trốc", bản chất của chúng là : "cướp ngày là quan", chúng không hề thiết tha tới "lao động sớm chiều", không hề biết hệ vấn đề thành công-thành đạt-thành tựu-thành quả là chuyện "mồ hôi nước mắt" của kẻ lao động. Chúng chỉ biết trộm-cắp-cướp-giật, vơ vét để nuốt chửng tiền của nhân dân, tài nguyên của đất nước, sinh lực của đồng bào. Khi chúng ta tâm niệm câu của tổ tiên trong cái đúng của thành công-thành đạt-thành tựu-thành quả : "có làm thì mới có ăn", thì bọn tham quan-tham quyền- tham nhũng-tham ô hiện nay -như ma bùn, ma xó- chúng làm ngược lại "không làm nhưng vẫn có ăn", đây không phải là lỗi, mà là tội trước công lý, trước công pháp !

Cái đúng phải từ ý thức đúng để có hành động đúng

nguyên tắc chung để phân chia, trong đó chia đều, chia ngang hàng chưa chắc là công bằng, mà phải có pháp của luật, có đạo của lý, cái tốt trước hết phải là cái đúng, từ công tâm tới công trạng, từ công bằng tới công lý. Cái đúng phải từ ý thức đúng để có hành động đúng, từ đạo lý đúng tới luân lý đúng, mô phạm đúng để có mô hình đúng, để tạo ra cơ chế đúng trong một xã hội đúng. Một xã hội đúng là một xã hội tạo được sự hợp tác giữa các cá nhân, cùng lúc giới hạn được sự xung đột, tới từ vị kỷ, có từ tư lợi của các cá nhân đó. Cơ sở của cái đúng tạo ra được công bằng, được công lý công nhận là hợp pháp, vì vừa hợp lý, vì vừa đúng luật. Cái đúng không phải chính trị hóa cái tốt, nó càng không phải thần học hóa cái lành của các tôn giáo, nó cũng không phải là cái trúng của toán học. Mà nó tới từ thỏa hiệp qua thỏa thuận của một cộng đồng có ý thức từ ý niệm tới thực hiện hệ vấn đề công bằng trong những lãnh vực rộng nhất, sâu nhất trong các sinh hoạt xã hội. Cái đúng của công bằng phải được thể nghiệm, thực nghiệm, thực hiện trong đối thoại của đa nguyên để luôn tạo ra đa năng, đa hiệu, đa tài để bảo đảm. Như vậy, sẽ không có cái đúng trong một xã hội độc tài, độc quyền, độc trị tức là độc đảng, vì không có cái đúng nào chịu nằm yên thụ động trong một mô hình ý thức hệ, như nằm ngủ ngu dại trong một nhà tù tuyên truyền chính trị một chiều.

Công pháp dựa trên công lý

Vì cá nhân ngày càng nhiều nhu cầu, tập thể ngày càng nhiều đòi hỏi, xã hội ngày càng nhiều dự phóng. Cầu tạo ra cung, mà nhu cầu con người thì có rồi lại muốn có thêm, có thêm rồi lại muốn có nhiều hơn. Cho nên, cái đúng đa dạng cần cái đa lực, đa chiều, đa dạng của đa nguyên. Cái đúng của chia đều, chia đồng theo phản xạ dễ dãi và vô trách nhiệm "cá mè một lứa" không hề là cái đúng được định vị bởi quyền lợi cá nhân, bởi tư lợi. Nhưng cái đúng của tư lợi phải được dựa vào một cái lý đúng, hoặc nhiều cái đúng, để làm tiền đề cho công bằng phải luôn dựa vào một cái lý công bằng đúng, hoặc nhiều cái công bằng đúng, trong đó nhu cầu mới sẽ sinh ra cái lý mới để tạo ra một loại công bằng mới. Công pháp phải có nền dựa trên công lý, công lý phải có gốc trong công bằng. Công bằng có công hành trong chia đều để tránh bất công, nhưng cũng phải giữ thế thăng bằng, trong đó côngquả phải được phân định rõ ràng, công nào của nấy phải được tôn trọng để tránh bất công. Cụ thể tránh ăn bám, tránh ăn nhờ, tránh ăn xin, để tránh chính thức hóa, tránh công pháp hóa chuyện biếng nhát, làm cho kẻ biếng lười được hưởng công lao của kẻ lao công. Chống lại chuyện sống thản nhiên trong kiếp ký sinh trùng, bắt xã hội phục dịch mình, bó nhân quần phục vụ nhu cầu riêng tư của mình.

Muốn đúng trong nhân loại thì phải trúng trong nhân sinh

Từ công lao qua công lý luôn là nỗi thao thức của nhân tri, luôn là nỗi đau đáu của nhân trí, để có được một xã hội mà không ai bỏ rơi ai, nhưng phải là một xã hội có công pháp, không ai được bóc lột ai ! Như vậy công bằng phải đi tìm chỗ dựa là công tâm. Mặc dù công bằng đã từ phạm trù của luân lý đã vào sâu trong phạm trù của công pháp, mà triết học chính trị đã biến nó thành hải đăng của công pháp để tìm đường đi đúng cho nhân loại. Nhưng muốn trúngđúng thì không được quên tính trong công tâm ! Nhưng muốn đúng trong nhân loại thì phải trúng trong nhân sinh. Trong lý thuyết luận về công lý, Rawls đề nghị lấy cái trúng (về lượng lẫn phẩm) để làm chỗ dựa cho cái đúng, khi đã có cái trúng đẩy cái đúng, thì lúc đó mới có thể nói tới cái lành (đúng về quyền lợi, trúng về trách nhiệm). Chính cái lành làm sáng cái tốt qua đạo lý lấy đoàn kết để tạo ra tương trợ, lấy cả hai đoàn kết để và tương trợ để loại đi cái ích kỷ ; bỏ vị kỷ để nhận vị tha, từ giáo dục tới tổ chức cơ chế, từ phân phối của cải trong xã hội tới tổ chức từ thiện trong sinh hoạt xã hội. Cụ thể là đưa công bằng vào công lý, đẩy công lý vào công pháp, trao công pháp để nhận công tâm trong tất cả quan hệ xã hội.

Công quyền qua tam quyền phân lập

Công bằng qua công lý để đến công quyền, chúng ta phải trở lại định nghĩa của đạo lý giữ cho bằng được những cái hay, đẹp, tốt, lành để tạo ra luân lý biến mô phạm thành mô hình của trách nhiệmbổn phận giữa cá nhân, gia đình, tập thể, cộng đồng, dân tộc, xã hội, nhân loại. Công bằng qua công lý trong đó mọi quyền lợi của cá nhân, cũng như trách nhiệmbổn phận của cá nhân đó đối với gia đình, tập thể, cộng đồng, dân tộc, xã hội, nhân loại phải được cụ thể hóa qua luật pháp, hợp thức hóa qua hành chính, công khai hóa qua cơ chế, trong đó pháp quyền bảo vệ luật pháp, bảo trì hành chính, bảo hành cơ chế, để định vị công quyền. Công quyền qua tam quyền phân lập, trong đó tư pháp đại diện cho công bằng qua công lý, không bị hành pháp khống chế, không bị lập pháp thao túng. Trong khi đó với chế độ độc đảng, tạo ra độc tài đã nô lệ hóa tư pháp, sinh ra độc trị, đã vô hiệu hóa phương trình công bằng- công lý, luôn là gốc, rễ, cội, nguồn cho một cơ chế pháp quyền, được xây dựng trên công quyền. Công quyền qua cơ chế pháp quyền luôn là chỗ dựa và cũng là sức bật của công bằng qua công lý ; chính nhờ các cơ chế pháp quyềncông bằng qua công lý đã trở thành công bằng bằng công lý, trong đó cơ chế được luật pháp bảo trợ biến công bằng bằng công lý thành giá trị cốt lõi trong quan hệ giữa người và người luôn cần bảo vệ.

Giá trị của công lý, giá trị của luân lý

Giá trị này luôn là giá trị đôi : giá trị của công lý (có nền là luật pháp), và là giá trị của luân lý (có cội là đạo lý), chính giá trị này biến mong muốn của nhân sinh thành ý nguyện của nhân tính, tạo ra ước nguyền của các thế hệ, và làm cầu nối giữa hiện tại và tương lai, vì cuộc sống thật sự đáng sống khi nó có công bằng, nhân tình thật sự đáng tin khi nó có công lý. Nhưng đạo lý của hay, đẹp, tốt, lành phải hợp lý để trở thành hợp pháp không những phải qua công lý mà còn phải qua các cơ chế pháp quyền của công quyền. Bi kịch của Việt tộc hiện nay, dưới quyền chỉ đạo của của Đảng cộng sản Việt Nam qua độc đảng-độc tài-độc quyền-độc trị là vở hài kịch của tư pháp -như một loại công quyền giả, mạo danh- đang làm lao nô cho Đảng cộng sản Việt Nam, trong một xã hội mà lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam vừa được ra luật cùng lúc được lách luật, vừa được đổi luật cùng lúc vừa được xé luật ! Công bằng luôn được tính toán qua công lợi, mà công lợi không thể thuyết phục được, nếu không định vị đúng thế nào là tư lợi (như quyền lợi của cá nhân trong xã hội). Ở đây, nguyên tắc phân chia quyền lợi qua công bằng được bảo trợ bởi công lý, phân phối tư lợi qua luật pháp được công nhận bởi công quyền.

Hành động của công lý là bảo vệ kẻ tếu, kẻ kém

i đúng của ý thức muốn được xã hội hóa của cá nhân biết đạo lý lẫn luật pháp để tự điều chế hành động của mình, để các hành động đúng (luật) có từ ý thức đúng (lý). Khi cá nhân mong muốn sống chung với xã hội thì cá nhân đó biết sử dụng quyền tự do của mình để giới hạn chính quyền tự do đó, để nhận bổn phận và trách nhiệm trước cộng đồng. Nguyên tắc công bằng trong xã hội phải là nguyên tắc công bằng trước các dịp may, cơ may có được do cơ chế xã hội tạo ra cho các thành phần xã hội rất khác nhau ngay trên thượng nguồn : trong giáo dục, trong đào tạo, trong huấn luyện. Từ đây, chúng ta không quên việc tôn trọng các nguyên tắc xã hội về sự khác biệt (giới tính, sắc tộc, văn minh, kinh tế...) giữa các thành phần rất khác nhau trong xã hội ngày càng lớn, ngày càng rộng, ngày càng nhiều về lượng lẫn chất, trong đó nguyên tắc của công bằng phải là hành động của công lý là bảo vệ kẻ yếu, kẻ kém, không để họ là nạn nhân của thảm kịch "cá lớn nuốt cá bé", của cái vô cảm trong xã hội Việt Nam hiện nay là "khôn nhờ, dại chịu", để sinh ra cái vô tình "ai chết, mặc ai". Như vậy, nếu có lời trong ngân sách thì nên nghĩ đến kẻ yếu, nếu muốn có lợi trong chính sách thì nên nghĩ đến kẻ kém, công lợi ngược lại với thâm ý "ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau", mà nó là tâm cảnh của chuyện "bầu ơi thương lấy bí cùng",nhân cảnh của "một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ".

Công giáo : công sức giáo dục

Công giáocông sức giáo dục, dù là thủ công hay trí thức, trong quy luật "trường nào trò nấy", phải thấy được là công giáo luôn dựa vào sự hiểu biết về cái đúng, và từ cái đúng đó khai phá qua phát minh cái hay, đẹp, tốt, lành cho cộng đồng, qua những bậc thang giá trị về công giáo, từ sáng kiến tới sáng tạo, được tập thể định vị trong đó vai trò của giáo dục cốt lõi. Mỗi xã hội có nhận định, có đáng giá riêng các bậc thang giá trị về công giáo luôn mang tính đặc thù riêng của mình ; có xã hội chăm lo công giáo để tạo tiền đề cho công trạng trong khoa học, kỹ thuật ; cũng có xã hội chăm lo công giáo nhưng lại hướng công trạng về sáng tạo nghệ thuật. Nhưng các xã hội thật sự chăm lo công giáo, luôn chăm lo chu đáo từ y tế tới nhân sinh, từ sáng kiến để tích cực hóa cơ chế xã hội tới sáng tạo để thăng hoa các phát minh. Giáo dục luôn là thượng nguồn để định vị những bậc thang giá trị về công lao, bi kịch trầm kha của Việt tộc hiện nay (như một ung thư tập thể) mang tính bạo bịnh liên thế hệ từ khi Đảng cộng sản Việt Nam quản lý giáo dục sau 1975, đó là hậu quả (giờ đã thành hậu nạn cho kiếp sau) học giả-thi giả-bằng giả. Từ đó kéo theo một hệ thống giáo dục tư nằm ngoài, nằm nghiêng, nằm ngược mọi bậc thang giá trị về công giáo. Không biết giá trị về giáo dục thì sẽ không có giá trị về đạo lý, luân lý, đạo đức. Hiện nay, hệ vấn đề hàng hóa hóa giáo dục đã dẫn tới tiền bạc hóa bằng cấp, khi đã tín dụng hóa kiến thức giáo dục thì sẽ buôn lậu hóa các cơ sở giáo dục, trong khi liêm sỉ giáo dục là phải giữ trách nhiệm giáo dưỡng tri thức, có bổn phận giáo hành trí thức.

Chính trị công minh, chính sách công bằng, chính giới công tâm

Bất bình đẳng có thể tới từ các nguyên nhân thuộc về cá nhân, một kẻ nghèo có thể vì do biếng lười, nếu đúng như vậy thì là lỗi của kẻ đó. Nhưng nếu một người nghèo, đến khổ cực, vì các cơ chế từ kinh tế tới giáo dục, từ hành chính tới chính trị không tạo điều kiện thuận lợi, mà ngược lại còn gây bao trở ngại để người này không được tiến thân, không được thoát khỏi kiếp nghèo, không ra khỏi cùng quẩn thì đây không phải lỗi của người đó. Mà đây là lỗi –và tội- của chính quyền, của chính phủ tạo ra rào cản để người này không thoát và không thắng kiếp cơ cực của mình. Tôn giáo lẫn tướng số, dị đoan lẫn định kiến không đóng được một vai trò gì tích cực trong chuyện "chống đói, giảm nghèo" này, mà chỉ có chính trị công minh, dựa trên chính sách công bằng, với chính giới công tâm mới xử lý được hệ vấn để bất bình đẳng, để tạo lại công bằng trong xã hội. Trong đó vai trò chính quyền là tiên quyết, từ giáo dục tới tổ chức kinh tế, từ đào tạo tới quản lý, từ giáo dưỡng đạo lý dân tộc tới giáo hành luân lý quần chúng. Vài trò đầu tiên của một chính quyền, chức năng ưu tiên của một chính phủ là sử dụng lại nguyên tắc phân phối đầu tiên do thị trường quyết định để lập ra các chính sách phân phối lại cho đại chúng, trong đó tái tạo lại thế quân bình giữa giầu nghèo, tái lập lại thế thăng bằng giữa ít củanhiều của, trong đó "kẻ có của, người có công" luôn được công lý bảo trợ, luôn được pháp luật bảo vệ.

Năng động tính của công bằng

Sự sáng suốt trong phân tích, sự tỉnh táo trong diễn luận, hướng chúng ta về một định đề chung là luôn luôn có bất bình đẳng trong mọi xã hội, nhưng trên hệ bất bình đẳng vai trò của chính quyền, chức năng của chính phủ là phải tạo điều kiện để quân bình lại, để có thăng bằng trong xã hội, từ thăng bằng tiến tới công bằng cho đại đa số quần chúng : đại chúng. Tạo điều kiện để quân bình lại cho đại đa số chưa phải là công bằng. Vì, công bằng là phạm trù có thể định lượng được, tức là cân, đo, đong, đếm được qua các đơn vị của toán học, được dùng để đo đạt lương bổng, tài chính, kinh tế... Ngược lại, tạo điều kiện để quân bình lại là phạm trù của luân lý, dùng luân lý để tạo công bằng, thì đây lại không thuộc vấn đề định lượng, tức là không cân, đo, đong, đếm được. Thí dụ tạo điều kiện thuận hơn cho kẻ tàn tật được dễ dàng hơn trong các cuộc thi tuyển ; tạo điều kiện thuận hơn cho người lớn tuổi được dễ dàng hơn trong di chuyển với vé giá thấp ; tạo điều kiện thuận hơn cho phụ nữ được dễ dàng hơn trong ngành nghề trước đây thuộc về nam giới với các ưu tiên khi tuyển dụng... Tạo điều kiện để quân bình lại tạo ra tiền lệ rồi tiền đề phục vụ cho năng động tính của công bằng ; và đây là thực chất của các xã hội văn minh, thật sự lo cho dân chúng, cho quần chúng, cho đại chúng ; vì không thể có một xã hội văn minh, nếu xã hội đó không tạo tiền lệtiền đề giúp kẻ yếu, đỡ người kém.

Bất công sẽ tạo ra bất bình đẳng ngày càng sâu, ngày càng rộng

Tạo điều kiện để quân bình lại là tìm mọi cách để kẻ có ít được có nhiều hơn so với kẻ đã có nhiều rồi, để khoảng cách giữa ítnhiều không phải là khoảng cách của bất công không vượt qua được. Có thể vượt qua bất công bằng cách tranh đấu chống bất bình đẳng bằng liên minh giữa năng động tính của công bằng và nguyên tắc tạo điều kiện để quân bình lại cho đại đa số. Chính bất công sẽ tạo ra bất bình đẳng ngày càng sâu, ngày càng rộng ; không chóng thì chầy sẽ sinh ra : mâu thuẫn quyền lợi trong cộng đồng, xung đột tư quyền trong tập thể, giành giật ưu đãi bất chính trong xã hội. Đây chính là thảm kịch của Việt tộc hiện nay, dưới chế đô độc quyền tham quyền của Đảng cộng sản Việt Nam, trong khi dân chúng ngày càng nghèo cực, ngày càng nheo nhóc, một bộ phận không nhỏ đã thành dân đen ; nếu mất nhà, mất đất thì thành dân oan. Cùng lúc, thì tầng lớp lãnh đạo tham ô, cán bộ tham nhũng, thì ngày càng giầu, ngày càng lắm bạc nhiều tiền, ngày càng "nhà cao cửa rộng". Chính Đảng cộng sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm trước vận số của Việt tộc trong thảm kịch "dầu sôi, lửa bỏng" sẽ diễn ra trong những ngày tháng tới !

Thực hiện công lý

Công bằng luyện tâm-luyện lý để chế tác ra công lý, mà công lý chính thống nhất, liêm chính nhất là công lý tôn trọng cái đúng để tạo tác ra cái hay, đẹp, tốt, lành cho xã hội, cho dân tộc, trong đó thượng nguồn của mọi lý luận là : tự do, trong đó tự do cá nhân phải luôn được tôn trọng và tôn vinh, nhất là tự do được thành công-thành tựu-thành đạt trong giáo dục, trong xã hội, qua trường đời. Nếu không có lý luận về tự do này thì sẽ không có cái đúng, và cũng sẽ không có luôn công bằngcông lý. Nhưng nguyên tắc tự do cá nhân chỉ đúng khi nguyên tắc về cơ may để tạo nghiệp phải đồng đều cho mọi cá nhân. Cụ thể là nguyên tắc về cơ may để tạo nghiệp, có lý luận để đòi hỏi : mỗi cá nhân đều phải được những tiền đề thuận lợi để thực hiện quyền tự do của mình. Chuyện này càng đúng trong giáo dục hiện nay, cha mẹ lầm than trong lao động mà không đủ tiền đóng học phí cho con cái ; trong khi đó con cái của bọn tham quan thì được làm quan tham, mà không cần chi trả gì cả ! Như vậy, nguyên tắc về cơ may để tạo nghiệp chính là đòi hỏi quyền bình đẳng trước mọi dịp may, mọi cơ hội, mọi bối cảnh, mọi thời cuộc.... và nếu có cùng một điều kiện xã hội, giáo dục thì sẽ có cùng một cơ may thành công-thành tựu-thành đạt trong xã hội, trong giáo dục, sau đó là nhận được thành quả trong nghề nghiệp, trong kinh tế. Đó mới là thể hiện công bằng ! Đó mới là thực hiện công lý !

Đạo lý công lý

Hãy cùng nhau khẳng định -không nhượng bộ và không thỏa thuận- là chuyện "con vua thì được làm vua" là bất công ! Hệ "thái tử đảng", con lãnh đạo được làm lãnh đạo, như chuyện tự nối ngôi nhau, để tham quyền tạo ra tham quan, tham ô sinh ra tham nhũng chính là bất công của tất cả bất công ! Vì chính chúng là bọn "sâu dân, mọt nước" ! Chính chúng đang tiêu diệt các nguyên tắc tự do, chính chúng đang tận diệt các nguyên tắc về cơ may để tạo ra nghiệp hay, đẹp, tốt, lành của bao nguyên khí, của bao tiềm năng của Việt tộc ! Kẻ vô tri, nhìn mà không thấy, thấy mà không hiểu, nên không có lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận trước các thực tế của cuộc sống, trước các thực tại của cuộc đời, sống trong xã hội của mình nhưng thực sự là đui, điếc rồi câm, nín trước các bất bình đẳng tới từ tà quyền, bất công tới từ bạo quyền. Không thấy dân đen trong nghèo khổ, không thấy dân oan bị cướp đất, cướp nhà thì sẽ không sao hiểu được các phong trào dân quyền dẫn tới các cao trào nhân quyền ; tự chủ sẽ dẫn tới dân chủ của các tầng lớp bị áp bức này, ngày đang lớn mạnh. Kẻ vô tri sẽ không thấy và không hiểu sự vận hành của nhân loại đi tìm nhân đạo, nhân thế đi tìm nhân nghĩa, nhân tình đi tìm nhân tính, nhân tri đi tìm nhân trí. Vô tri luôn đi ngược hướng nhân tri. Nếu vô tri vô trí thì chỉ là lỗi nhẹ, còn nếu vô tri vì vô liêm sỉ, chỉ thấy mình mà không thấy người, lấy vị kỷ để vùi dập vị tha, thì lỗi nhẹ giờ đã sang lỗi nặng. Nếu vô tri vì ích kỷ sẵn sàng biến của người thành của ta, thì lỗi giờ đây đã bước qua tội, nếu là tội thì sẽ bị đạo lý xử nghiêm khắc, công lý xử nghiêm minh.

Trí lực để vận não

Tuổi trẻ hãy dụng toàn diện đạo lýcông lý như đã nhận diện ra hai ngọn hải đăng trong sương mù dân tộc hiện nay, để đứng phía các nạn nhân của bất bình đẳng, của bất công : hãy đứng hẳn về phía nước mắt ! Cũng các nhà nghiên cứu này ngạc nhiên về thái độ sống của nhiều bạn trẻ Việt, tới gặp trong hâm mộ rồi quy phục trước các nhà kinh doanh Trung Quốc đã thành công, lắm tiền nhiều của. Nhưng các bạn trẻ này không tự đặt ra các câu hỏi để tìm câu trả lời cho chính mình là các đại gia Tàu này, mà phần lớn là trọc phú, đã bóc lột đồng bào họ như thế nào để được giàu như vây ? Và sau này, nếu đất nước Việt bị Tàu xâm chiếm, đô hộ, đồng hóa, thì các đại gia Tàu trọc phú này, sẽ bóc lột Việt tộc của các bạn gấp bao nhiêu lần để giầu thêm ? Qua các thành phố, qua các nẻo đường của đất nước Việt : ai cũng ngạc nhiên là số lượng đông các thanh niên ngồi tán gẫu nhiều giờ liền trong ngày tại các quán cà phê, mà không thấy học tập, không thấy lao động, bao giờ thì đất nước Việt sẽ giàu mạnh ? Chỉ là công dân Việt bình thường, ai cùng vừa thắc mắc, vừa buồn khi nhìn các thanh niên đầy ngập các quán nhậu, lời ra tiếng vào dẫn tới ăn tục nói phét, vô tri khi tự khen nhau về "tửu lượng", vô minh khi miệt thị phụ nữ, vô giác khi tiêu xài tiền của người thân... Tự thiêu hủy thể lực, còn đâu tâm lực để bảo vệ đất nước khi Tàu tặc đang đe dọa quê hương qua môi trường, đang hủy diệt đồng bào mình qua thực phẩm, rồi còn đâu trí lực để vận não làm chuyện phát triển đất nước, vắt óc để bảo vệ tiền đồ của tổ tiên !

quyenluc14

Quyền lực chính trị

Hành tác chính trị là động tác đưa vào hành động chính trị, vào không gian và thời gian của sinh hoạt chính trị được điều hành bởi quyền lực chính trị (nắm chính quyền, lập chính phủ, dựng chính sách), nơi mà hiệu quả của hành tác chính trị được nhận định và đánh giá qua hiệu quả chính trị khi một cá nhân lãnh tụ, hay một tập thể lãnh đạo có quyền lực trong tay. Định nghĩa chính trị học này dùng quyền lực để nhận diện ra hành tác chính trị thật ra chưa đủ và chưa đúng, vì sau kinh nghiệm dân chủ đa nguyên của nhân loại trong hai thế kỷ qua, tại đây chính đa nguyên dựa trên đa đảng liên tục sáng tạo ra đa trí, đa tài, đa năng, đa hiệu… bó buộc chính giới và chính khách phải nới rộng ra định nghĩa này. Từ đây, định nghĩa về hành tác chính trị phải được bổ sung thêm bởi hai định nghĩa khác : một của triết học chính trị phân tích quyền lực chính trị qua nguyên tắc của công bằng, nơi mà công bằng là chỗ dựa cho công lý để điều chế mọi hành tác chính trị. Hai là xã hội học chính trị, đặt tự do của hành tác chính trị vào nội hàm của công bằng, để tạo ra hiệu quả, cụ thể là dùng công bằng để chế tác ra bác ái, trong đó kẻ có quyền lực là kẻ thực sử dụng được bác ái để tạo đoàn kết, để dựng tương trợ, đặt bác ái đúng nhân vị tức là cùng hàng, cùng lứa, cùng đôi với công bằngtự do để bảo đảm một cặp đôi khác là : cộng hòadân chủ, trong đa nguyênnhân quyền.

Tự do chính trị

Tự do chính trị là một phạm trù gây ngộ nhận nhiều nhất trong không gian chính trị, khi ta nghiên cứu về chính trị, chính giới, chính khách khi có chính quyền trong tay, vì bản thân sự hiểu biết chủ quan về tự do là một con dao hai lưỡi ; và các thể chế độc đảng, các chế độ độc tài luôn dùng cách hiểu tự do chính trị tà đạo nhất để lập bạo quyền : có chính quyền là có quyền lực, thì muốn làm gì thì làm ! Gây ra những hậu quả không sao lường được, mà trên thượng nguồn là cách hiểu sai lệch về tự do, vì phạm trù tự do là một phạm trù không có quy phạm, cụ thể là không có mô thức tuyệt đối của đạo lý để kiểm soát nó, không có mô hình phổ quát của luân lý để kềm chế nó. Nên trong không gian lãnh đạo chính trị dựa trên đa nguyên của dân chủ thì tự do là nơi mà các quy luật khách quan phải tuân theo các quy phạm cần thiết để quản lý tự do trong chính trị bằng tri thức đúng về quyền lực, tức là phải tôn trọng công bằng, phải tôn vinh công lý. Trong không gian chính trị này, ta phải phân biệt có nhiều không gian của tự do, các tự do này rất bất bình đẳng trong sinh hoạt xã hội, thí dụ như trong các quốc gia dân chủ giàu mạnh, nhưng trên thực tế không gian của một tỷ phú luôn rộng hơn không gian của một công dân đang thất nghiệp.

Tổ chức chính trị

Tổ chức chính trị qua đảng phái hay qua cá nhân là một tổ chức mang theo hệ tự : lấy tự do làm nên tự chủ, để tự quyết trong hành động mà tự tin, nơi mà quyết đoán sẽ làm nên quyết sách, tạo ra chính sách qua hành động chính trị khi có quyền lực trong tay, tất cả hành động này đều phải dựa trên : công lý có nguồn cội là công bằng. Chính đây là thảm kịch đôi của Việt tộc, từ khi bị Đảng cộng sản Việt Nam cai trị, thảm kịch thứ nhất là lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam không hề tôn trọng sự thật đa chiều, đa dạng của truyền thống, văn hóa, xã hội… của Việt tộc mà chỉ đi theo độc lộ đầy độc hại của một ý thức hệ vô sản, có rễ là vô thần nên vô tri ngay trong hệ độc (độc đảng, độc tôn, độc trị, độc quyền, độc tài). Đảng cộng sản Việt Nam không hề chú trọng việc xây dựng thêm bịnh viện, thêm trường học nơi mà y tế và giáo dục là hằng số của mọi chính quyền liêm chính ; mà ngược lại họ tập trung xây dựng bộ máy tà quyền công an dựa trên bạo quyền độc đảng, cùng lúc thần thánh hóa các lãnh đạo của họ đã lừa đảo dân tộc bằng quỷ quyền, giờ lại được có các tượng đài nghìn tỷ, trong một xã hội ngày càng nhiều dân oan, ngày càng lắm dân đen. Thảm kịch thứ nhì, vì không biết về sự thật đa chiều, đa dạng của của Việt tộc, nên Đảng cộng sản Việt Nam đã lầm đường lạc lối khi tổ chức tuyên truyền một chiều kiểu xóa não, nhồi sọ, gạt đi các giá trị đạo đức của tổ tiên, các đạo lý của dân tộc.

Uy lực chính trị

Uy lực chính trị không nằm trong bạo quyền lãnh đạo, không ở trong tà quyền tham quan, trong ma quyền "sân sau", ngày ngày thao túng quyền lực độc đảng như hiện nay, mà nó là uy lực tới từ tiềm lực biết của lãnh đạo chính trị văn-minh-vì-thông-minh, luôn biết củng cố sung lực tự trị của xã hội, để tạo ra sinh lực cho xã hội dân sự giúp chính quyền nhận ra điều hay lẽ phải, để tránh chuyện lầm đường lạc lối trong chính sách. Uy lực chính trị của một chính quyền tạo ra hùng lực cho công bằng luôn có mặt, luôn được bảo vệ, ai cũng như ai, không có kỳ thị, không có phân biệt đối xử, để chính công bằng chế tác được tự do, nơi mà mọi công dân được quyền thành công như nhau trong xã hội, từ học đường tới nghề nghiệp, từ kinh tế tới văn hóa… Nếu cái uy làm ra cái lực, vì cái uy tới từ cái thiện của công bằng, cái đúng của công lý, và cái uy chỉ tồn tại khi nó tạo được cái ơn qua hành động chính trị, khi mà kẻ mang ơn thấy mình được thăng hoa ngay trong nhân vị công dân của mình : thành công trong học đường, thành tài trong nghề nghiệp, thành đạt trong kinh tế, thành tựu trong xã hội. Điều này, hoàn toàn ngược lại với lối tuyên truyền vô minh của Đảng cộng sản Việt Nam đang bóc lột dân tộc tới tận xương tủy, với bao triệu dân đen, và dân oan, nhưng cùng lúc lại tuyên truyền là "nhân dân phải mang ơn Đảng".

Công lý chính trị

Công lý chính trị dựa trên công bằng, được lãnh đạo chính trị tôn trọng trong mọi hành động chính trị, và chính các lãnh đạo này phải luôn liêm chính trong nghiêm minh để nhận ra là công lý chính trị luôn song hành cùng công bằng xã hội. Tại đây, công lý là hệ mở nó chống bế môn tỏa cảng, nó chống ngăn sông cấm chợ, ranh giới giữa quốc nội và quốc ngoại không còn là rào cản, mà phải là một luồng lưu thông năng động. Khi láng giềng có công lý chính trị hay, đẹp, tốt, lành hơn ta thì ta phải học, phải theo để làm tốt hơn, để ứng dụng hiệu quả vào xã hội của ta ; còn ngược lại nếu chính quyền dùng luật để cấm, ngăn, chặn, phạt là bất minh. Thí dụ rõ nhất là truyền thông mạng xã hội chính là lõi của công lý truyền thông, và khi Đảng cộng sản Việt Nam ra luật an ninh mạng để răn, đe, doạ, nạt dân chúng thì đây là một hành động chính trị bất chính, vì nó không tôn trọng công lý trong thông tin và truyền thông. Công bằng xã hội phải là nguyên tắc trung tâm cho mọi hành động vì công lý chính trị, cụ thể là không dùng quan niệm công bằng xã hội để tạo ra phân biệt đối xử, với lý do là vì muốn bảo vệ công bằng trong xã hội của mình, nên đặt các luật đẩy người ngoại quốc, di dân, nhập cư xuống thấp hơn dân mình, không được có các quyền lợi của dân bản xứ. Chính sự phân biệt đối xử công dân hàng đầu-di dân hàng sau đang tạo ra bất bình đẳng xã hội mà hậu quả xấu sẽ tới với qua xung đột xã hội.

Công lợi chính trị

Công lợi chính trị là phạm trù của quyền lực chính trị quản lý công sản của quốc gia, tài sản của dân tộc, và luôn đặt công sản và tài sản này lên trên mọi tư lợi của giai cấp, nhất là giai cấp thống trị. Vì khi đặt quyền lợi của giai cấp thống trị lên trên quyền lợi của quốc gia và dân tộc thì sẽ trực tiếp tạo ra bất bình đẳng, tức khắc tạo ra bất công ; chính bất bình đẳng và bất công là gốc rễ cội nguồn của mọi xung đột xã hội, dẫn tới bạo động ngay trong xã hội. Đây lại là thảm họa mà Đảng cộng sản Việt Nam đang trấn, áp, đè, đặt lên vai, lên lưng, lên đầu Việt tộc khi độc đảng được độc quyền qua đặc lợi ; khi độc tài dùng độc trị để có đặc ân, của một thiểu số bất chính dẫm lên mọi ý thức về công sản quốc gia. Sự bất chính này sẽ nhân đôi khi bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham quan, ma quyền "sân sau" dùng hệ tham (tham quyền, tham ô, tham nhũng) để làm giàu, đã giàu rồi lại muốn giàu hơn, đã có nhiều rồi lại muốn có nhiều hơn. Và cuối cùng, khi đã có đặc quyền, đặc ân, đặc lợi thì sự bất chính sẽ tăng lên gấp ba, rồi gấp bội, vì tà quyền này sẽ bám cho bằng được qua hệ độc (độc đảng, độc tài, độc trị, độc tôn) để có độc quyềntrục lợi cho tư lợi, chúng chặn các tiến bộ xã hội, chúng ngăn thăng tiến giáo dục, chúng nghiền cấp tiến kinh tế, chúng sẵn sàng lấp công bằng, để vùi công lý.

Đạo lý chính trị

Đạo lý chính trị là hành trình của chính giớichính khách dùng chính quyền để thực thi các chính sách, để đi tìm các điều hay, đẹp, tốt, lành cho quốc gia, cùng lúc bảo vệ văn hóa, bảo đảm văn minh, bảo tồn văn hiến cho dân tộc. Trên con đường đạo lý chính trị chính trị này, lịch sử chính trị thế giới vạch rõ cho ta một chân lý là chính quyền của trong các thể chế độc tài qua độc đảng là chính quyền của giai cấp thống trị, nhưng thực chất là của các nhóm lợi ích chóp bu có tổ chức như những tập đoàn tội phạm (kiểu mafia), tức là khi chúng không lấy, giành, đoạt, chiếm được thì chúng sẽ trộm, cắp, cướp, giật. Loại chính quyền này hoàn toàn khác với chính quyền của đa số quần chúng qua đầu phiếu trong các cơ chế dân chủ, lấy cải tổ xã hội thay cách mạng sắt máu, lấy cải cách xã hội để xóa đói giảm nghèo, qua các chính sách lấy công bằng của công pháp để giới hạn bất bình đẳng trong xã hội ; lấy công lý qua công luật để ngăn chặn bất công trong xã hội. Nhân loại cũng đã đi và đã có kinh nghiệm qua các con đường từ tập thể hóa tới quốc hữu hóa các phương tiện sản suất để giới hạn, để ngăn chặn chuyện người bóc lột người, để ngăn bất bình đẳng, để chặn bất công. Nhưng con đường này có giới hạn của nó, mà hiện nay các quốc gia càng dân chủ, các dân tộc càng văn minh thì phải tìm thêm các con đường mới, nơi mà nhân vị được bảo đảm bởi nhân quyền trong công bằng và tự do, mà không quên bác ái.

Quyền lực biết đấu tranh vì an sinh xã hội

Có một chân lý là khi một cá nhân, một tập thể, một đảng phái : có quyền rồi thì sẽ lạm quyền. Sự thật chính trị nắm quyền rồi lạm quyền, chân lý chính trị lạm quyền vì tham quyền tạo ra ung thư chính trị qua phương trình có quyền-lạm quyền-nắm quyền-tham quyền. Loại hoạn bịnh chính trị này bất chấp lẽ phải của luân lý chính trị, bất kể đạo đức chính trị làm nên nhân đức của một chính thể, vì vậy nên đạo lý chính trị phải bảo đảm hằng ngày vai trò trọng tài để cai quản và canh giữ chính quyền. Vì mọi công dân liêm chính đều có quyền nghi ngờ và nghi ngại loại hoạn bịnh chính trị : có quyền-lạm quyền-nắm quyền-tham quyền này ! Một lý luận gia cốt lõi của chủ thuyết tam quyền phân lập là : khi đã có tam quyền phân lập thì chưa chắc có đầy đủ dân chủ, mà phải tìm ra cho bằng được một quy định chính trị trong đó có cái thông minh : quyền biết ngăn chặn quyền ! Nếu định nghĩa hành động chính trị là loại hành động tranh giành quyền lực để bảo vệ quyền lợi của mình, thì loại hành động chính trị này vô cùng thấp hèn trong tà kiếp của nó so với định nghĩa hành động chính trị là đấu tranh vì an sinh xã hội, vì công bằng xã hội.

Quyền lực biết đấu tranh vì công bằng xã hội

Nếu định nghĩa hành động chính trị là loại hành động đấu tranh giai cấp để bảo vệ và duy trì đặc quyền, đặc lợi, đặc ân của giai cấp thống trị, giờ đã thành bè phái, bè đảng. Bè, phái, nhóm, "tiểu triều"… giờ đã trở thành những tập đoàn tội phạm cầm quyền và tham quyền để trộm, cắp, cướp, giật thì loại hành động chính trị này vô cùng đốn mạt cho dân tộc, mạt vận cho giống nòi. Loại hành động chính trị này đúng là nhơ phận trong nhớp kiếp so với hành động chính trị dấn thân để chăm lo cho toàn xã hội, cho tất cả tầng lớp xã hội, cho mọi thành phần xã hội. Nếu hành động chính trị là đấu tranh vì an sinh xã hội, vì công bằng xã hội dựa trên các nguyên tắc của công lý, thì chính công lý đó phải bảo vệ dân chủ và nhân quyền. Nguyên tắc của công lý này phải đi từ dưới lên trên là trước hết và trước mắt là bảo vệ người nghèo, người yếu, người thất thế, người lỡ vận, người không biết tự bảo vệ mình… Muốn hành động chính trị liêm chính thực sự đấu tranh cho công bằng và công lý, hãy bắt đầu bảo vệ cho bằng được những thân phận "con sâu, cái kiến", những kiếp người "thấp cổ bé họng", những nhân sinh "ít hơi, ngắn tiếng"…

Đạo lý (hay, đẹp, tốt, lành) xác nhận luân lý (trách nhiệm với đồng bào, bổn phận với đất nước)

Khi hành tác chính trị biết đặt công bằng trên tự do, thì ý thức của công bằng đã chế tác ra nhận thức là nếu chúng ta để tự do cá nhân vào trung tâm của xã hội, vào lõi của cộng đồng, thì chính tự do cá nhân sẽ tạo ra tự do cạnh tranh, mà kết quả là có kẻ thắng người bại, làm nên hệ lụy của của bất công là kẻ thắng đi trên lưng, trên vai, trên đầu người bại, từ đây sẽ sinh ra hằng số của bất bình đẳng ! Vì thế, chúng ta phải đẩy lý luận của chúng ta đi xa hơn nữa để cẩn trọng hơn khi chúng ta "đánh đồng một khối" theo kiểu "cá mè một lứa"tự do-công bằng-bác ái là những thể loại ngang hàng nhau, vì trong thực tế thì ba hệ luận này có thể kình chống nhau, đối chọi nhau, xung đột nhau để bất bình đẳng làm tăng thêm sự màu mỡ cho mảnh đất của bất công. Tự do của một cá nhân không phải là tự do của một xã hội. Nhất là trong xã hội Việt Nam hiện nay, ta thấy có những cá nhân đã thành công trong nghề nghiệp, thành đạt trong kinh tế, thành tựu trong xã hội bằng con đường tự do kinh doanh của họ. Nếu một thiểu số quá ít thành công nhờ tự do hành nghề của mình trong một xã hội công an trị, cùng nơi với nạn nhân của bất công là hàng triệu triệu dân đen, dân oan, dân lành sống trong khốn cùng cơ cực thì xã hội đó không có tự do. Đạo lý (hay, đẹp, tốt, lành) xác nhận luân lý (trách nhiệm với đồng bào, bổn phận với đất nước).

Công tâm chính trị chặn quyền lực, ngăn quyền lợi

Xác chứng đạo đức của tổ tiên của Việt tộc là : thương người như thể thương thân, bầu ơi thương lấy bí cùng, một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ… Nên giữa tự do của một thiểu số quá nhỏ lấn lướt để lấn át tự do của toàn xã hội, thì tôi xin đứng về phía tự do của toàn xã hội. Những kẻ vô tâm vì công tâm biệt tăm, nhân tâm biệt tích đừng quên là cuộc đời này có thực cảnh là nắng sớm mưa chiều, trong hoạt cảnh vật đổi sao dời, mang tới bao thảm cảnh lên voi xuống chó… Vì bất cứ ai sống trong xã hội công an trị hiện nay, đều có thể một sớm một chiều trở thành những người vô gia cư, cụ thể là nạn nhân của bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền chỉ biết luật rừng của bản năng trộm, cắp, cướp, giật để sinh nhai, rồi sinh tồn bằng "sinh sự" ! Khi ta phạm trù hóa để ba định nghĩa đến đúng ba định đề, rồi ngự đúng ba định luận là bạo quyền lãnh đạo, dùng bạo lực để bạo hành dân tộc, giống nòi như một phản xạ của một chế độ công an trị, thì phản xạ này đã là hằng số, nó nói lên bản chất của độc đảng trong chuyên chính, độc tài để độc trị. Tà quyền tham quan, dùng tham quyền để tham ô, vì tham tiền nên tham nhũng, bòn rút tài nguyên đất nước, rút tỉa sinh lực dân tộc, lấy chuyện cướp ngày là quan để lách luật, trốn luật, thậm chí xé luật, để chống lưng cho bọn sân sau của nó trong bóng đêm của mua chức bán quyền, sâu mọt hóa mọi đạo đức của Việt tộc. Ma quyền tham tiền, là bọn con buôn không có đạo lý, không biết luân lý, nên chẳng màng gì tới đạo đức.

Dân chủ và nhân quyền : đồng hội đồng thuyền

Trong nội chất của cộng hòa làm nên dân chủ : tự do-công bằng-bác ái, thì ưu tiên nằm ở đâu ? Để biết mình phải làm gì trong mọi chính sách. Tự do có không gian riêng của nó, không gian tự do của kẻ bị phá nhà để cướp đất, giờ thành kẻ vô gia cư, đầu đường xó chợ trong cảnh màn trời chiếu đất rồi sống nay chết mai là con số không ! Nó ngược hoàn toàn với các quan chức tha hồ vơ vét trong tham ô, đang cầm quyền mà đã có nhà cao, cửa rộng bên phương Tây tư bản với thẻ cư trú để dễ bề cao bay xa chạy khi vận nước trong tay Tàu tặc, Tàu họa, Tàu hoạn, Tàu nạn, Tàu tà… Công bằng xã hội ưu tiên hơn tự do của quyền lợi cá nhân hay đảng phái. An sinh xã hội vận dụng bác ái để tận dụng công bằng, thì người giàu chấp nhận và được tạo điều kiện để giúp đỡ, hỗ trợ, trợ lực, nâng đỡ người nghèo. Tự do-công bằng-bác ái thì luôn đồng hội đồng thuyền trong đấu tranh dân chủ vì nhân quyền, nhưng trong hành tác chính trị của công tâm, thì chưa chắc ăn cùng mâm, ngồi cùng chiếu.

Lê Hữu Khóa

(17/05/2021)

Published in Tư liệu
vendredi, 28 mai 2021 20:05

Giải luận 5 : Trí thức

Trí thức

trithuc1

Ánh nhìn của tôi không của ai

Ánh nhìn của tôi không của ai !

Tôi nhìn tham quyền tôi thấy chất lạm quyền của nó.

Ánh nhìn của tôi không của ai !

Tôi nhìn bạo quyền tôi thấy lõi tà quyền của nó.

Ánh nhìn của tôi không của ai !

Tôi nhìn ma quyền tôi thấy cốt quỷ quyền của nó.

Ánh nhìn của tôi không của ai !

Tôi nhìn cực quyền tôi thấy rễ cuồng quyền của nó.

Ánh nhìn của tôi không của ai !

Không ai cướp được ánh nhìn của tôi !


Chữ thức

Trên chữ thức, trên đó ta nhận ra những định luận : Kiến thức có từ kinh nghiệm hoặc từ học tập, có từ ngoại cảnh hay có từ tư duy biết lý luận, có từ tập luyện tới tinh luyện, có từ môi trường tới sự xuất hiện của tha nhân…

Tri thức, là sự hiểu biết từ dữ kiện tới chứng từ, từ kinh nghiệm học tập tới trải nghiệm như khả năng biết xếp đặt theo thứ tự để tổ chức một trật tự cho kiến thức, mà từ xếp đặt tới xếp loại, tri thức còn là khả năng trật tự hóa những ưu tiên trước các thử thách của cuộc sống…

Trí thức, không phải là những kẻ có bằng cấp cao, có hiểu biết rộng, mà sung lực của tri thức biết nhận ra sự thật bằng khách quan của khoa học, lại biết nỗi khổ niềm đau của nhân sinh bằng đạo đức trọng sự thực, quý chân lý để thăng hoa lẽ phải.

Ý thức, mang lực tổng hợp của kiến thức lại có lực tổng kết của tri thức, lại có sự hiện diện của đạo lý biết nhận ra hay, đẹp, tốt, lành, lại được luân lý của bổn phận và trước nhiệm để nhận ra lẽ phải trước khi quyết định và hành động.

Nhận thức, là quá trình đưa kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức vào quỹ đạo của đạo lý, luân lý, đạo đức để luôn có tỉnh táo mà nhận ra sự thật, luôn có sáng suốt mà nhận ra lẽ phải, tự đó có một nhân sinh quan, một thế giới quan, một vũ trụ quan biết tôn trọng sự thật và lẽ phải.

Tỉnh thức, là khả năng nhận ra những sai lầm của tha nhân, mà cũng là kỹ năng nhận ra những lầm đường lạc lối của chính mình, để phải vận dụng lại kiến thức, tri thức, trí thức, để tận dụng trọn vẹn hơn ý thức, nhận thức để khỏi bị rơi vào lỗi, tội bị kết án bởi đạo lý, luật pháp đại diện cho lẽ phải và sự thật.

Ngậm oan uất rồi nuốt nước mắt

Hài kịch của Đảng cộng sản Việt Nam chính là bi kịch của trí thức Việt hiện nay trong nước, như cá nằm trên thớt, ngày ngày bị điếm nhục hóa bởi những lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, thấy lãnh đạo vô minh mà phải cúi đầu, thấy lãnh đạo vô tri mà phải khom lưng, thấy lãnh đạo vô trí mà phải khoanh tay, thấy lãnh đạo vô luân mà phải quỳ gối. Ngậm oan uất rồi nuốt nước mắt vào tim mà còn thấy tim đen bẩn bởi điếm ngôn xảo ngữ của lãnh đạo âm binh.

Vứt tâm an lạc

Thưa thiền sư, mỗi lần được gặp thiền sư, tôi xin gọi thiền sư là thầy, nhưng thú thật tôi không muốn thiền cùng thiền sư. Thiền sư cứ khuyên tôi : "tâm bình thì cảnh cũng bình", thưa là tâm của tôi không hề bình, vì đồng bào dân oan của ta đang màn trời chiếu đất. Thiền sư cứ dặn tôi : "tâm an thì cảnh an", thưa là tâm của tôi không an vì cảnh đồng bào của ta là đám trẻ bụi đời đang đầu đường xó chợ. Thiền sư cứ dạy tôi : "phải giữ tâm an lạc", xin tạ lỗi với thiền sư, là tôi đang muốn vứt tâm an lạc của tôi, để đồng hành với tâm loạn an của đồng bào của tôi là dân đen đang sống nay chết mai đây !

Không có tử thù

Chúng đã tra tấn mẹ tôi trong lao tù thế kỷ qua. Thế kỷ này, chúng đe dọa sẽ hãm hại rồi thủ tiêu tôi. Chúng xem nhân sinh là đối phương của chúng, chúng xem nhân gian là đối thủ của chúng, chúng xem nhân thế là đối nghịch của chúng, chúng xem nhân loại là tử thù của chúng. Tôi vừa báo cho chúng biết là tôi sống không có đối phương, tôi ăn không có đối thủ, tôi ngủ không có đối nghịch, tôi hít thở không có tử thù. Vì tôi thấy để thấu được những khoảng khắc nhân tính của chúng, khi chúng đút cháo cho những người mẹ già của chúng, khi chúng mua thuốc cho những người vợ của chúng, khi chúng vuốt tóc những đứa con thơ dại của chúng. Tôi báo cho chúng rõ là tôi đi lại thoải mái ngay trong nhân tính của chúng, nên tôi không bao giờ có đối phương, đối thủ, đối nghịch và tử thù gì cả !

trithuc2

Nhân đạo tự do

Tôi thú thật là không nhớ nhân diện của bạn, tôi chỉ nhớ ngôn ngữ của bạn đã giúp nhân diện của tôi ngẩng lên trời cao để không tiếp tục nhận nhân dạng của kẻ cúi đầu. Tôi thú thật là không nhớ nhân dạng của bạn, tôi chỉ nhớ ngôn từ của bạn đã nâng nhân cách của tôi mà xoay về phía chân trời để nhìn thật xa và không tiếp tục nhận nhân hành của kẻ chỉ biết khom lưng. Tôi thú thật là không nhớ nhân tình của bạn, tôi chỉ nhớ nhân tính của bạn đã vực nhân lý của tôi một kẻ chỉ biết quỳ gối trước bạo quyền, đã đẩy nhân tri của tôi vào nhân đạo tự do.

Nhân đạo bác ái

Tôi thú thật là không nhớ chức danh của bạn, tôi chỉ nhớ hành động của bạn đã giúp hành vi của tôi phải thẳng lưng đi tới để nhận nhân quyền. Tôi thú thật là không nhớ chức vụ của bạn, tôi chỉ nhớ hành tác của bạn đã nâng hành thái của tôi phải ngẩng đầu, mở mắt, vươn vai mà ôm lấy công bằng. Tôi thú thật là không nhớ chức năng của bạn, tôi chỉ nhớ nhân tri hành giả của bạn đã dìu nhân trí của tôi vào nhân đạo của bác ái, nơi có tha nhân là tri kỷ.

Nhân loại trong tôi

Sao lại cứ dặn dò tôi là phải hành động, tôi sẵn sàng hành động, tôi chỉ chờ một tiếng thơ đẹp để hành động. Tôi cũng đang chờ trời gởi tiếng của trời qua tiếng suối, tiếng sóng để hành động. Tôi cũng đang chờ đây tiếng nói của bạn là nạn nhân là lẽ phải không cần bạo động. Vì giết người là giết nhân loại đang ẩn náu trong tôi.

Khuyết tật ngày mai

Hãy cứ trao tặng tôi những tri thức sống để tôi có những kinh nghiệm sống mặc dầu tôi chưa sống. Nhưng đừng cấm tôi phải có trí thức mà tôi phải tự học về một sự tháo gỡ những tri thức của quá khứ đã bị rối bời, những kinh nghiệm tổ tiên đã bị siết cổ bởi bạo quyền. Tôi muốn gặp và học về tình yêu với người yêu vừa mới có mặt trên cõi đời này. Tôi muốn gặp và học về tình thương với những nạn nhân của tà quyền vừa bị tra tấn đêm qua. Tôi muốn gặp và học về tình nghĩa với những đứa trẻ sơ sinh vừa chào đời với bao khuyết tật sắp bị sinh ra ngày mai.

Tôi xin thú tội

Tôi xin thú tội là tôi đã tố cáo trước các chủ thể của Liên Hiệp Quốc : bạo quyền độc đảng công an trị đã biến những đứa con tin yêu của Việt tộc thành những tù nhân lương tâm. Tôi xin thú tội là tôi đã tố cáo trước các chủ thể của các hội đoàn nhân quyền của thế giới : tà quyền độc đảng tham nhũng trị đã biến đồng bào dân lành của tôi thành dân oan trong màn trời chiếu đất. Tôi xin thú tội là tôi có tố cáo trước các chủ thể dân chủ của nhân loại : ma quyền tham tiền thất nhân trị đã biến đồng bào dân đen của tôi trai thành lao nô, gái thành nô tỳ cho các nước láng giềng. Tôi luôn sẵn sàng xin thú tội để tiếp tục tố cáo bọn âm binh này !

Không cúi đầu !

Tôi từ chối chuẩn đoán về nhân cách con người khi họ phải sống trong địa ngục trần gian. Vì tôi biết dưới chín tầng địa ngục con người vẫn cúi đầu đi, cúi đầu ăn, kể cả cúi gục đầu khi ngủ, tồi tục nhất là họ cũng cúi đầu khi phải nhìn nhau. Trần gian không địa ngục là trần gian của nhân cách thì khi đi không cúi đầu, ăn không cúi đầu, ngủ thảnh thơi chẳng cần cúi đầu, thong dong nhất là con người không cúi đầu khi nhìn nhau, thong thả chào nhau, có khi còn thư thái gởi theo một nụ cười. Nên chỉ có một dấu hiệu khác biệt giữa địa ngục trần gian và trần gian của nhân vị là chấp nhận cúi đầu hoặc không chấp nhận cúi đầu. Chỉ khi không chấp nhận cúi đầu thì lưng sẽ thẳng, đi sẽ ngay, ăn sẽ vui, ngủ sẽ xuôi, nhìn sẽ trong, cười sẽ sáng... nhân cách thẳng, ngay, vui, xuôi, trong, sáng tạo ra nhân vị để trao cho ta : nhân phẩm.

Tôi phản động để hành động !

Khi đọc xong báo cáo điền dã của tôi về dân oan trong công trình Oan luận, một tên bút nô cho đảng cầm quyền, viết bài bêu riếu trên báo : tôi là tên phản động, vì tôi thấy được quá trình tại sao dân oan thành dân oán, tôi nói thẳng với nó là : Tôi phản động để hành động ! Khi đọc xong báo cáo khảo sát của tôi về trẻ bụi đời trong công trình Bụi luận, một trí thức sống nhờ bổng lộc của bạo quyền độc đảng rao tin đồn : tôi là tên phản động, vì tôi hiểu được quy trình bụi đời trong bụi kiếp của thiếu nhi, thiếu niên, thanh niên hiện nay, tôi trả lời hắn là : Tôi phản động vì đã hành động ! Khi đọc xong báo cáo điều tra của tôi về các đồng bào vô gia cư trong công trình Khổ luận, một quan chức giầu có do nhờ tà quyền ngày đêm trộm, cắp, cướp, giựt, rống lên tin loạn : tôi là tên phản động, vì tôi thấu được hành trình từ màn trời chiếu đất tới đầu đường xó chợ của đồng bào tôi, tôi vạch mặt hắn và trả lời là : Tôi phản động để được hành động ! Khi đọc xong báo cáo nghiên cứu của tôi về ô nhiễm môi trường trong công trình Sinh luận, một lãnh đạo nhờ âm binh chống lưng để vơ vét thật nhiều, nó lấy cực quyền mà rống kiểu cuồng quyền : tôi là tên phản động, vì tôi rọi ánh sáng vào điếm lộ của nó đã biến quê hương gấm vóc của tổ tiên thành ổ rác, bùn nhơ cho Tàu tặc, Tàu nạn, Tàu họa, Tàu hoạn, Tàu tà, tôi lột trần chân tướng nó và nói là : Tôi phản động để luôn được hành động ! Tôi phản động để hành động chống bạo quyền công an trị, tà quyền tham quan trị, ma quyền tham tiền trị trong cực quyền.

trithuc3

Thức (tôi thức suốt…)

Tôi thức suốt với kiến thức về bạo quyền công an trị, giết người trong đồn công an, tra tấn tù nhân lương tâm đang bị bỏ tù vì yêu dân chủ, quý nhân quyền, trọng tự do.

Tôi thức suốt với tri thức về tà quyền tham nhũng trị, bọn cướp ngày là quan, một sớm một chiều biến dân lành thành dân oan, kêu oan trong màn trời chiếu đất, gào oán nơi đầu đường xó chợ.

Tôi thức suốt với ý thức về ma quyền tham tiền trị, làm sân sau để vơ vét của cải, thành trọc phú nhờ nạo vét tài nguyên của đất nước, buôn thần bán thánh với bọn ma tăng nơi cửa Phật, âm binh luồn nấp trong các biệt thự, biệt dinh, biệt phủ.

Tôi thức suốt với nhận thức về cuồng quyền cõng rắn cắn gà nhà từ Ải Nam Quan tới Bản Dốc, phản dân hại nước từ Hoàng Sa tới Trường Sa, mang voi dày mã tổ từ Bốc Xít Tây Nguyên tới Vũng Áng, Hà Tĩnh.

Tôi thức suốt để luôn tỉnh thức về Tàu phỉ, đại dịch với tâm địa của Tàu tặc chiếm đất, biển, đảo của Việt tộc ; Tàu họa với công nghệ tồi, nhiệt điện than ; Tàu họan với thực phẩm bẩn, hóa chất độc ; Tàu nạn buôn ma túy, giết người cướp nội tạng ; Tàu tà siết cổ Đảng cộng sản Việt Nam khi nội xâm tham quyền, tham quan đã chọn bụng của ngoại xâm làm địa đạo, để sẽ luồn trốn như ma bùn khi đất nước bị xâm lược.

Tôi thức suốt khi giống nòi bị đồng hóa trước ghềnh thác đang phân cực đất nước tôi, đang phân hóa đồng bào tôi, đang phân chia dòng sinh mệnh của gióng nòi tôi !

Tôi thức suốt…

Sự phong phú của số nhiều

Kẻ ác khi muốn hành tác ác để đưa cái ác vào cuộc sống thì nó thường có thói lấy hệ độc (độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn) bằng độc đoán để diệt cả hai hệ đa : hệ thứ nhất : đa diện, đa dạng, đa cách, đa pháp ; hệ thứ nhì : đa tài, đa trí, đa hiệu, đa năng. Nên khi chúng ta đấu tranh chống kẻ ác luôn độc hại trong độc đạo do nó chế ra, thì chúng ta đừng quên vận dụng hai hệ đa này, đây là sự phong phú của số nhiều làm nên nhiều thông minh, nhiều sáng tạo.

Số nhiều của đa nguyên trong muôn hình vạn trạng của hệ thông (thông minh, thông thạo, thông thái) biết mở ra nhiều chân trời, không những bảo đảm được đa sinh, đa sản của sức sống, cùng lúc lật măt nạ cái ác, để vạch mặt chỉ tên kẻ ác, để minh chứng rằng nhân sinh có nhiều đường đi nẻo về, chớ không phải chỉ có độc đạo trong độc trị, độc tài trong độc quyền, độc tôn trong độc đảng.

Đối thoại vì đa nguyên

Quá trình : đề nghị-đối thoại-quyết định-hành động trong đa nguyên để khơi dậy đa lực, đa tài, đa trí, đa năng, đa hiệu, tạo sinh lực cho đối thoại-đối trọng-đối lực-đối kháng, từ đó lấy cái đúng thuyết phục được cái sai, vì cái đa luôn khôn ngoan hơn cái độc, và khi dân chủ cô lập được độc tài, khi đa nguyên vô hiệu hóa được độc đảng, thì cái độc hại của độc trị sẽ không vận dụng được cái ác để gây ra tội ác. Không nên trông chờ hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn) chấp nhận chia lợi, chia quyền, cụ thể là chung-chia với hệ đa (đa nguyên, đa lực, đa tài, đa trí, đa năng, đa hiệu). Vì chung để chia, thì hệ độc sẽ mất hệ đặc (đặc quyền, đặc lợi, đặc ân)[1] của nó !

Chỉnh lý vì công lý

Tính duy lý khi con người đặt quyền lợi của mình trên quyền lợi của người khác, cụ thể là cá nhân chỉ thấy tư lợi của mình, nếu duy lý như vậy thì tự lợi của người này có thể gây nên thiệt hại cho người kia, thì đây chỉ là loại ích kỷ thô thiển. Nên từ đây, chỉnh lý luận phân tích các thỏa thuận giữa các duy lý khác nhau, đang xung đột nhau để tìm ra tính hợp lý được tập thể, cộng đồng, xã hội công nhận, từ đó định nghĩa lại quyền lợi của cá nhân, vẫn giữ tư lợi nhưng phải biết là tư lợi không được gây hậu quả xấu tới tha nhân. Khi có được thỏa hiệp về quyền lợi cá nhân làm nên tư lợi cho mọi cá thể, thì tính toàn lý sẽ xuất hiện để bảo đảm tự do cá nhân được có mặt và được tăng tư lợi trong cuộc sống ; mà không quên công bằng xã hội giữa các cá nhân, các tập thể, nơi mà công bằng luôn có chỗ dựa là công lý.

Tri thức luận vì lẽ phải

Trong tình hình của xã hội Việt Nam dưới bạo quyền độc đảng, tà quyền tham quan, ma quyền tham tiền thì tri thức luận là nguồn nước ngầm sẽ trở thành sóng thần trong tương lai để giúp mọi công dân của Việt tộc thay đổi não trạng sau bao năm làm nạn nhân của bộ máy tuyên truyền ngu dân trong mê lộ của dối trá, gian manh, lừa đảo. Tri thức luận đủ nội lực để xóa đi nguồn máy độc tài nhưng bất tài trong việc bảo vệ đất nước, đủ sung lực để loại bỏ bộ máy độc trị nhưng không biết quản trị để đưa dân tộc vào tiến bộ và văn minh. Tri thức luận biết phối hợp với tất cả các ngành khoa học xã hội nhân văn để giúp dân chủ trong đa nguyên lột mặt nạ bọn tổ chức học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả, cùng lúc lột trần quá trình mua điểm-bán bằng trong tà lộ của mua chức chức-bán quyền, để vạch mặt chỉ tên bọn sâu dân mọt nước đang lẩn lút như âm binh trong ma lộ của buôn dân-bán nước cho Tàu tặc. Vì tri thức luận biết quản lý sự thật-chân lý-lẽ phải bằng hệ thức, nơi mà kiến thức là sung lực của tri thức, ý thức là hùng lực của nhận thức.

Lương tâm trí thức

Khẳng định sự thật là nhiệm vụ tiên quyết và vĩnh viễn của học thuật, và sự thật cao hơn cả, cao hơn vua, cao hơn mọi cơ chế, mọi quyền lực, mọi chính quyền. Chính sự thật sẽ làm nền cho sử học viết đúng, viết trúng, tức là viết thật. Viết thật hay nói thật có khi bị trù dập, bị vu cáo, bị hãm hại, bị ám sát, bị tử hình… Nhưng sự thật là sự thật phải được nói tới nơi, tới chốn, cụ thể nếu con người sống thật bằng sự thật thì phải biết chấp nhận cái chết cũng vì sự thật, như vậy sự thật là gốc của lòng tin biết dựa vào sự thật để nhận ra chân lý, vận dụng sự thật để làm nền cho lẽ phải. Lương tâm của trí thức là đây, lương tri của khoa học là đây, cả hai là hùng lực lương thiện của kẻ đi tìm sự thật. Sống chết với sự thật, nhưng cũng phải biết khiêm tốn trước sự thật ! Socrate khuyên con người khi đi tìm sự thật, phải đi tìm với chính nhân phẩm của mình, đi tìm là đi học, khiếm tốn để khiêm nhường với tâm thức : "Tôi biết là tôi không biết gì cả !".

Sự thật xóa sự ngờ vực

Trên thượng nguồn của học thuật là sự có mặt của thuyết duy lý để đi tìm cái sâu có trong cái lý để thấy được sự thật khi được tung ra như một loại ánh sáng có sức sáng vô song tới để khai phá ý chí của con người muốn biết tận gốc rễ của cái thật. Chính độ sáng mãnh liệt này làm ngời cái thật được hiện hữu tròn đầy rồi hiện hình trọn vẹn, thì cũng chính nó có lực tập hợp rất lớn, nó đưa cá nhân tới tập thể, đưa các cộng đồng riêng rẽ tới cùng, tới chung một số phận của một dân tộc sống để bảo vệ sự thật này. Và khi nó càng lớn với sự thỏa thuận làm nên sự đồng lòng của mọi người thì sức vận hành của nó trong xã hội con người sẽ rất mạnh. Sự thật xuất hiện để xóa đi sự ngờ vực, và sự thật đứng vững với chân lý của nó, vừa bằng lý thuyết luận, vừa bằng phương pháp luận của nó, làm nên khoa học luận về sự thật, giờ đã mang một giá trị tuyệt đối.

Tôn vinh cái đúng

Tự chủ xác nhận tự do là tôn vinh cái đúng, mong cầu cái đẹp, là trân quý cái cao, trong đó ham muốn cũng như đam mê không còn lẫn trốn trong ích kỷ, mà là động lực của đạo lý có nhân lý, động cơ của đạo đức có nhân phẩm. Một tự chủ muốn xác nhận tự do trong xã hội Việt Nam hiện nay là phải xác minh nguồn gốc của bất bình đẳng mang nội chất của bất công, tới từ một bạo quyền đang cai trị đồng bào, đất nước, xã hội, bằng độc trị qua độc đảng, mà không hề biết quản trị đất nước. Tự chủ vì nhân trí là khả năng biến nổi giận thành nổi dậy nhưng nổi giận mà đưa đến nổi loạn thì có thể giết chính nghĩa của tự do. Biết bảo vệ chính nghĩa của tự do là biết đấu tranh bền vững vì tự do, đây là sự trưởng thành sáng suốt và tỉnh táo của các phong trào dân chủ và nhân quyền của Việt Nam trong những năm qua. Chọn bất bạo động song hành cùng đấu tranh ôn hòa, chọn đối thoại để tranh luận, chọn đàm thoại để đàm phán, chính là nội chất thông minh của hành động tự do, vừa có chính nghĩa, vừa có lý trí, vừa có trí tuệ trao luận, vừa có tuệ giác truyền luận.

Tự trọng vì nhân phẩm để đề kháng

Có tự trọng vì nhân phẩm để đề kháng, có cá tính để đối kháng chống bất công, chống bạo quyền, đây là định nghĩa của cá tính, vừa là thượng nguồn, vừa là hạ nguồn của các định luận về tự trọng vì nhân phẩm với cá tính biết rời bỏ các biệt phủ, biệt dinh, biệt thự của các tham quan, khi thấy chúng mạ vàng nhà cửa của chúng, khi thấy chúng có nội thất được chế biến từ các gỗ quý của các rừng nguyên thủy, mà chúng đã trộm, cắp, cướp, giật được trên quê hương gấm vóc này. Chúng ta có quyền "lợm giọng đến buồn nôn" để rời bỏ các biệt phủ, biệt dinh, biệt thự của các tham quan này, không những để tự bảo vệ nhân phẩm của chúng ta, mà còn tỏ rõ thái độ là mạ vàng nhà cửa chính là vô minh vì vô học, tàn phá tài nguyên thiên nhiên đốn chặt gỗ quý, nạo vét đá quý chính là vô hậu vì vô tri.

Đấu tranh của kiếp người chống lại bạo quyền

Tự trọng luôn song hành cùng nhân phẩm. Tự trọng song lứa với nhân tính. Tự do song cặp với nhân cách để tiếp nhận đạo lý, đón nhận đạo đức, mà xây lên liêm chính, dựng lên liêm sỉ. Từ đó, cụ thể hóa dự phóng đẹp, để hiện thực hóa tương lai hay, để thể hiện hóa chuyện thay đời đổi kiếp ngay tự bây giờ bằng cách chuyển hóa não bộ, chuyển biến não trạng theo định hướng tốt, theo chân trời lành cho nhân sinh. Tự trọng vì nhân phẩm có mặt ngay trong hiện tại trong đấu tranh của kiếp người chống lại bạo quyền qua hệ thống bạo lực của nó.

Phương án của sự sống đúng : tự thoát để tự thắng

Tự trọng vì nhân phẩm là dàn nhún, dàn phóng để gởi đi những phương án của sự sống đúng vì tương lai tốt đẹp trong nhân cách biết bảo vệ nhân phẩm. Chuyển hóa não bộ tiến bộ, chuyển biến não trạng vì văn minh là biết gởi thông điệp tới tương lai, luôn nhắn tín hiệu tới mai hậu là : tự trọng vì nhân phẩm đã có mặt để giúp con người tự biết bảo vệ nhân vị. Tự biết khẳng định nhân phẩm của mình là một hành động thông minh biết vượt thoát các lo âu, sợ hãi tới từ đe dọa, tới từ trù dập của bạo quyền độc đảng toàn trị ; vì tự trọng vì nhân phẩm chính là gốc của sự thông minh biết tự thoát để tự thắng. Tự trọng vì nhân phẩm để tự thắng, là thông điệp đầy hùng lực của tự do, một tự do không để bạo quyền, bạo lực, bạo hành giết sự thông minh của nó vì dân chủ, diệt sự sáng tạo của nó vì nhân quyền.

Đa tri

Đa nguyên không phải là một hệ thống chính trị máy móc để các đa đảng có chỗ đứng ghế ngồi trong tam quyền phân lập, mà đa nguyên có thượng nguồn và hạ nguồn đều là đa tri. Nơi mà đa tri là sự hiểu biết trên nhiều phương diện, trên nhiều lãnh vực, trên nhiều sinh hoạt, trong đó sinh hoạt chính trị không hề là sinh hoạt độc nhất mà chỉ là một trong những sinh hoạt xã hội, nên xã hội dân sự sinh hoạt bằng đa tri. Nơi mà đa tri có thượng nguồn là đa phươngđa dạng, có hạ nguồn là đa năngđa hiệu. Nếu đa đảng là hùng lực của đa nguyên, thì đa tri là nội lực của đa kiến thức, sung lực của đa ý thức và là mãnh lực của đa nhận thức, toàn diện trên nhân sinh, chớ không hề tự giới hạn trong đa đảng của sinh hoạt chính trị. Các chủ thể Việt tộc yêu đa nguyên, quý dân chủ, trọng nhân quyền phải tâm niệm được điều này, khi nhận trách nhiệm mới với đất nước, bổn phận mới với dân tộc, nhiệm vụ mới với giống nòi vì một tương lai tiến bộ trên nhân lộ của văn minh.

trithuc4

Muốn bảo vệ tự do thì phải đứng lên !

Tự chủ là câu chuyện cẩn trọng trước nhân phẩm của chính mình, để tự chủ được chấp đôi, chấp lứa với nhân trí, không những vì nhân lý và còn vì nhân tính nữa. Nếu độc đảng dùng độc quyền qua độc trị trong độc tài để đàn áp, để bắt bớ, để bỏ tù, để tuyên án, để tra tấn, để hủy diệt các nhà hoạt động vì dân chủ, vì nhân quyền, rồi tiêu diệt quyền sử dụng tự do của họ ; nên tự chủ vì nhân phẩm khi muốn bảo vệ tự do thì phải đứng lên ! Nổi dậy chống lại tham quyền trong lạm quyền, đang ung thư hóa xã hội, đang đưa vi trùng độc hại của độc đảng trong độc tôn để gây trọng bịnh ngay trong đạo đức của Việt tộc, ngày ngày tìm cách siết cổ các hành vi chân chính, các hành động liêm chính của tự do tự chủ vì nhân phẩm. Nên tại sao ta phải cần chuyển hóa não bộ, chuyển biến não trạng càng sớm càng hay.

Đa

Đa, phải nằm lòng và thuộc lòng chữ đa như định nghĩa của thông minh, vì kẻ thực sự thông minh là kẻ hiểu chữ đa, để được đi trong đa chiều, để hiểu trong đa dạng. Tại dây, đa của các chủ thể luôn có tự do học hỏi trong đa kiến thức, để có đa tri thức, để thấy đa phương trong đa hướng, khi phải chọn chỉ một chân trời, trong đa tương lai. Một kẻ tự kiêu, tự đại trong độc đảng để độc tài, độc tôn để độc trị, độc quyền trong độc ác, gây bao độc hại từ đất nước tới dân tộc, kẻ đó không khôn ngoan, không thông minh, mà ngược lại là vô minh trong vô tri, vì vô giác trong vô cảm trước chữ đa. Ngay trong chữ đa, ta thấy đa tài, đa trí, đa hiệu, đa năng, đa lực làm nên đa đảng, thì ta phải thấy luôn đa phương pháp, đa tiếp cận, đa kỹ thuật làm nên đa ứng dụng trước các thử thách của nhân sinh, đa hội nhập trước các thăng trầm của nhân loại.

Nội

Nội, nội công làm nên nội lực, một sức mạnh bên trong tạo nên bản lĩnh có tự tin nên có tự chủ, làm nên tầm vóc biết đấu tranh vì tự do để bảo vệ cho bằng được công bằng và bác ái. Nội không phải của một cá thể ích kỷ để vụ lợi, cá nhân vị kỷ để trục lợi, mà là nội chất của một chủ thể có bổn phận với đồng bào, nhận trách nhiệm với đất nước. Mà không quên nhân loại, nơi mà tha nhân được đón, tiếp, nhận, giúp với tình động loại, trong sự thông minh biết tôn trọng lẫn nhau, đây là sự thông minh đi trên lưng cái cá nhân chủ nghĩa hạn hẹp, đi trên vai cái ích kỷ chủ nghĩa thấp hèn, đi trên đầu cái vụ lợi thui chột chỉ biết khai thác, bóc lột tha nhân.

Nuốt nước mắt vào tim mà còn thấy tim đen bẩn !

Hài kịch của Đảng cộng sản Việt Nam chính là bi kịch của trí thức Việt hiện nay trong nước, như cá nằm trên thớt, ngày ngày bị điếm nhục hóa bởi những lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, thấy lãnh đạo vô minh mà phải cúi đầu, thấy lãnh đạo vô tri mà phải khom lưng, thấy lãnh đạo vô trí mà phải khoanh tay, thấy lãnh đạo vô luân mà phải quỳ gối. Ngậm oan uất rồi nuốt nước mắt vào tim mà còn thấy tim đen bẩn bởi điếm ngôn xảo ngữ của lãnh đạo âm binh.

Ăn ở có nhân mười phần không khó

Câu chuyện cốt lõi vẫn là có-học-để-có-hậu, câu chuyện này hoàn toàn không hề là câu chuyện về bằng cấp, nơi mà học vị lẫn học hàm hiện nay đều bị giả hóa ở những mức độ khác nhau trong hệ thống giáo dục của hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc tôn, độc trị) có anh em sinh đôi với hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền). Hệ thống giáo dục này đã và đang bị quá trình mua bằng bán cấp, giả hóa rồi tha hóa về mọi mặt, từ giáo lý, giáo luận, giáo dục tới giáo khoa, giáo trình, giáo án. Mua bằng bán cấp trong giáo dục để mua chức bán quyền ngoài xã hội từ gốc tới ngọn, cái giả đã thay thế cái thật với trường giả-học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả. Nên câu chuyện gốc rễ vẫn là có-học-để-có-hậu, không hề là câu chuyện về bằng cấp có thể bị giả, nơi mà học vị có thể bị gian, học hàm có thể bị dối, ngược lại có-học-để-có-hậu là câu chuyện : học thật của ăn ở có nhân mười phần không khó ; học lực của đường mòn nhân nghĩa chằng mòn ; học thuật của sống lâu mới biết lòng người có nhân.

Ngu dân trị

Các hệ lụy mà Việt tộc đang phải gánh chịu hiện nay mà các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam chính là chủ mưu trong quá trình vô học hóa toàn xã hội, họ cũng là đầu nậu một ý thức hệ dựa vào tuyên truyền trị, chính họ là đầu cơ bằng ngụy tạo qua các chính sách lấy ngu dân trị vừa làm phương tiện, vừa là cứu cánh. Hậu quả giờ đây đã rõ, từ một quê hương gấm vóc giờ đã thành một đất nước cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm từ nguồn nước tới không khí loại hàng đầu trên thế giới ; từ một dân tộc thông minh bây giờ đã thành lao nô cho các nước láng giềng, cho Tàu tặc không những cướp đất, biển, đảo, mà còn thao túng kinh tế Việt, giăng bẫy thương mại Việt và đang bóc lột nhân công Việt ngay trên đất Việt…

Phương trình sự thật – chân lý

Lý luận trong học thuật không có chỗ đứng ghế ngồi cho hệ độc (độc quyền, độc trị, độc tài, độc tôn, độc đảng) kiểu cả vú lập miệng em. Không gian của lý thuyết luận này có gốc, rễ, cội, nguồn của hệ đa của đa tài, đa dũng, đa năng, đa hiệu làm nên từ đa thức, đa tri, đa trí ; có chỗ dựa là đa nguyên. Chính đây mới là không gian của phương trình sự thật-chân lý : so ra mới biết ngắn dài. Nơi mà phản diện của hệ vô (vô minh, vô tri, vô giác, vô cảm, vô tâm) chính là hệ thức (kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức, tâm thức) có trí lực của hệ thông (thông minh, thông thạo, thông thái), có luận lực của hệ sáng (sáng kiến, sáng chế, sáng lập, sáng tạo).

Khoa học sử tính

Phân tích để giải thích các hậu quả, hậu nạn tới từ các chính sách tuyên truyền ngu dân mang thực chất vô học-vô hậu. Cấu trúc của khoa học luận này tuân thủ dữ kiện mang theo chứng từ, chứng tích, chứng nhân để lập lại sự thật, để dựng lại chân lý. Đó là khoa học sử tính, là công đoạn một, có quá trình sử luận, nơi mà các sự cốsự kiện mà người nghiên cứu định vị được không gian và thời gian. Nếu định vị được địa điểm và thời điểm của sử kiện thì sẽ định vị được kết quả, hậu quả, hiệu quả của sự kiện đã là sự cố hay đã là biến cố tác động lên sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội, đời sống xã hội, tổ chức xã hội, tới từ các chính sách tuyên truyền ngu dân mang thực chất vô học-vô hậu.

Khoa học bối cảnh

Khoa học bối cảnh, phân tích thực cảnh của một xã hội nơi mà sự cố đã thành biến cố, để phân loại các hoàn cảnh, tại đây hoạt cảnh xã hội bị đóng khung bởi các chính sách tuyên truyền ngu dân mang thực chất vô học-vô hậu ; từ đó phân giải toàn cảnh các chính sách của tuyên truyền trị, ngu dân trị mang thực chất vô học trị. Các chính sách tuyên truyền ngu dân của độc đảng toàn trị được "chống lưng" bởi một hệ thống công an trị, và "sân sau" của các chính sách này chính là tham nhũng trị ; được bảo kê kiểu "ô dù" giữa các bè, đám, nhóm, phái… với mưu hèn kế bẩn, mà tất cả đều bị chi phối bởi tham tiền trị.

Khoa học so sánh

Khoa học so sánh, nơi mà mọi dữ kiện trong cùng một bối cảnh, mọi chứng từ trong cùng một hoàn cảnh, mọi cá nhân trong cùng một hoạt cảnh, đều có thể so sánh được, ở cấp độ khác nhau từ địa phương tới trung ương, ở mức độ khác nhau từ quốc gia tới quốc tế, ở cường độ khác nhau từ kiến thức tới ý thức, ở trình độ khác nhau từ tri thức tới nhận thức… Cụ thể là đưa ra ánh sáng các chính sách tuyên truyền ngu dân gây nên hậu quả và hậu nạn vô học-vô hậu, rồi vận dụng so sánh để đo đạc cường độ, mật độ, mức độ của các chính sách tuyên truyền ngu dân này, để hiểu bản chất của nó qua chính trình độ của nó.

Khoa học tổng quan

Khoa học tổng quan, là công đoạn bốn, với đồ hình được phân định và phân giải vừa hợp lý, vừa chỉnh lý của khoa học sử tính, khoa học bối cảnh, khoa học so sánh, để có nhận định tổng thể, từ đây hình thành sự phân loại các thành phần bằng các khuynh hướng chung, các hành vi đa số, các hành tác thiểu số, các hành động đơn lẻ của bè, đám, đảng, nhóm, phái, qua quan hệ giữa quyền lực và quyền lợi, trong không gian của tuyên truyền trị, ngu dân trị, vô học trị gây nên hậu quả và hậu nạn vô học-vô hậu. Khi phân tích, phân định, phân loại, phân giải các chính sách tuyên truyền trị, ngu dân trị, vô học trị gây ra hậu quả và hậu nạn vô học-vô hậu, ngay trong hệ vô (vô minh, vô tri, vô giác, vô cảm, vô tâm) thì khoa học luận sẽ sử dụng hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận) để thấy-cho-thấu từ nội dung tới nội hàm của hệ quả (kết quả, hệ quả, hậu quả) mà không quên nhân quả của câu chuyện vô học về tri thức làm ra vô hậu không tương lai. Tại đây, hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức, tỉnh thức) vừa là phương pháp luận nòng cốt, vừa là khoa học cốt lõi, để xây dựng lý thuyết luận chủ đạo.

Goddess eye and Color space background with stars.

Tri thức luận lịch sử

Tri thức luận lịch sử, với những kiến thức căn bản của thế kỷ XVIII làm nên ít nhất năm cuộc cách mạng : khoa học, kỹ thuật, tri thức, dân chủ, nhân quyền trong đó hai định luận về công bằngcông lý là những hằng số không chỉ có phương Tây, cụ thể là Tây Âu và Bắc Mỹ được thụ hưởng mà các hằng số này đã trở thành sở hữu của nhân loại, nếu nhân loại đó muốn nhân sinh sống bằng tiến bộ, muốn nhân thế sống trong văn minh. Hậu quả của vốn vô học trong não bộ lãnh đạo đã tạo ra quá trình vô học hóa ngay trong chính sách tuyên truyền ngu dân áp đặt lên hệ thống giáo dục quốc gia từ đó tạo ra bao thế hệ học sinh và sinh viên : vô kiến thức tiến bộ, vô tri thức văn minh. Rồi sau đó các học sinh và sinh viên này khi trưởng thành không hiểu được chức năng của tri thức để có được vai trò của các công dân biết đóng góp vào tiến bộ xã hội, vào văn minh của dân tộc.

Tri thức luận giáo dục

Tri thức luận giáo dục, từ khám phá tới ứng dụng vào đời sống, vào xã hội, vào định chế và vào cơ chế, thì các tiến bộ tạo nên đời sống văn minh tới từ năm cuộc cách mạng : khoa học, kỹ thuật, tri thức, dân chủ, nhân quyền biết bảo vệ và bảo đảm về công bằngcông lý, thì các tiến bộ và văn minh này phải được đưa vào hệ thống giáo dục. Một hệ thống giáo dục quốc gia, có giáo lý, giáo luận dựa trên tiến bộ, có giáo khoa, giáo án dựa trên văn minh đã có mặt trong giáo trình của trung học phổ thông dành cho học sinh tuổi thiếu niên tại các quốc gia có văn minh dân chủ, có văn hiến nhân quyền. Nếu hệ thống giáo dục quốc gia hiện nay tại Việt Nam không có giáo lý, giáo luận dựa trên tiến bộ, không có giáo khoa, giáo án dựa trên văn minh mà chỉ mượn hệ thống giáo dục để áp đặt tuyên truyền trị, ngu dân trị, vô học trị, thì sẽ không tránh khỏi hậu quả của vô học, sẽ không tránh được hệ quả và hệ lụy của vô hậu (vì vô tri thức nên vô tương lai).

Tri thức luận chính sách

Tri thức luận chính sách, của một chế độ độc đảng toàn trị vận dụng tuyên truyền trị, để độc đảng được độc quyền, độc trị, độc tài, độc tôn mà đi ngược lại văn minh dân chủ, có văn hiến nhân quyền, thì tuyên truyền trị là anh em sinh đôi với ngu dân trị. Mà hậu quả ngu dân trị trước hết là tự tha hóa dân tộc của mình, kế đó là tự nô lệ hóa cho ngoại bang, và cuối cùng là tự đồng hóa từ trí thức tới giống nòi, cụ thể là trao thân gởi phận cho ngoại bang. Nghịch lý của mọi chính sách tuyên truyền trị, ngu dân trị, vô học trị tới từ tập đoàn lãnh đạo chính là các tác giả của độc đảng, các tác nhân của toàn trị, thì chính các chính sách này tự vô học hóa từ não trạng tới não bộ của họ. Nhưng thảm họa thì thật lớn cho một dân tộc, cho một giống nòi, vì các chính sách tuyên truyền trị, ngu dân trị, vô học trị tiêu diệt các nguyên khí quốc gia, hủy triệt các hiền tài của dân tộc.

Tri thức luận trình độ

Tri thức luận trình độ, xác chứng mọi chính sách ngu dân luôn đi ngược lại với các chính sách vì dân, cụ thể là vì khoa học, kỹ thuật, tri thức, dân chủ, nhân quyền, công bằng, công lý là những quốc sách vì dân. Nhưng bản chất của các chính sách đều có cốt lõi của vấn đề : trình độ ! Có những chế độ độc tài nhưng được điểu khiển và điều hành bởi các minh vương, minh quân, mình chủ, minh chúa ; cũng như có các chế độ lạm dụng hình thức dân chủ của tam quyền phân lập nhưng bị tham nhũng thối nát hóa ngay từ bên trong. Các loại dân chủ hình thức để mạo danh tam quyền phân lập này đã để bất tài diệt thực tài, thì tiến bộ không tới với dân tộc, mà văn minh cũng không có mặt trong xã hội. Câu chuyện trình độ là câu chuyện cốt lõi để có nhận thức là trong toàn cầu hóa thông tin và truyền thông hiện nay thì quá trình khám phá khoa học, khai phá nhân quyền, khai thác sức mạnh của dân chủ đã là quá trình trực tuyến.

Tri thức luận xã hội

Tri thức luận xã hội, kiến thức của cá nhân có từ giáo dục gia đình, rồi giáo dục học đường, và sau đó là giáo dục xã hội, nơi mà sinh hoạt xã hội được trao cho các lãnh đạo có tri thức biết thừa nhận các công ích xã hội được đặt trên tự lợi cá nhân của mình. Từ tri thức tới ý thức, các lãnh đạo sẽ lần lượt nhận ra trong các quan hệ xã hội thì an sinh xã hội quan trọng hơn tính toán ích kỷ cá nhân trong quá trình sống chung để chung sống với tập thể, với cộng đồng. Chung là chia vì chia để chung, đây là căn bản để có đời sống xã hội, tại đây ý thức đã trở thành nhận thức bằng đạo lý xã hội, lấy công bằng làm cơ sở cho tổ chức xã hội, trong đó cá nhân là công dân có trách nhiệm với đất nước, có bổn phận với đồng bào. Chính công dân này chủ động để trở thành chủ thể biết vận dụng hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức, tỉnh thức) để đưa văn minh dân chủ và văn hiến nhân quyền song hành cùng các tiến bộ về khoa học, kỹ thuật, kinh tế, văn hóa, giáo dục… vào xã hội.

Tri thức luận định chế

Tri thức luận định chế, một chế độ toàn trị dựa trên độc đảng bám độc quyền để độc trị bằng độc tôn qua tuyên truyền trị song hành cùng công an trị để tạo dựng một định chế với hệ thống giáo dục của ngu dân trị, tạo ra một hệ thống xã hội thất nhân bất đức thất tri bất thức. Định chế này bất chấp hậu quả và hậu nạn của vô học trong tri thức, vô hậu trong nhận thức, vì ý đồ đã thành mưu toan quyết định mọi chính sách của độc đảng toàn trị là : phát triển tuyền truyền trị, củng cố công an trị để thực hiện sâu đậm quyết sách ngu dân trị. Đây là một tà lộ trong ma nghiệp (đi dễ khó về, vì dễ chết khó sống) trước nhân loại văn minh, trước nhân sinh tiến bộ của thế giới hiện nay. Chỉ vì vốn vô học của lãnh đạo chính trị vừa là gốc, rễ, cội, nguồn của tuyên truyền trị, vừa là móng, nền, tường, mái của ngu dân trị để vô học hóa toàn xã hội, toàn dân tộc. Nên sinh lộ của Việt tộc là minh lộ của văn minh dân chủ, là nhân lộ của văn hiến nhân quyền, cả hai biết bảo đảm tự do, biết bảo vệ công bằng, biết bảo hành công lý. Vì đây là nhân đạo của nhân tri, nhân trí xây nên nhân bản và nhân văn để giữ nhân vị và nhân tâm mà phục vụ cho nhân phẩm.

Tri thức luận lãnh đạo

Tri thức luận lãnh đạo, là xới tới nơi trong phân tích để soi tới chốn trong giải thích về hệ vô thức (vô kiến thức, vô tri thức, vô trí thức, vô ý thức, vô nhận thức, vô tâm thức) có từ vốn vô học chính là điểm khởi hành của một tập đoàn lãnh đạo mang ý đồ độc quyền lãnh đạo bằng phương án vô học hóa toàn xã hội, toàn dân tộc. Với ý đồ độc quyền lãnh đạo bằng cách ngăn chặn một hệ thống giáo dục quốc gia dựa vào khai sáng nhân tri, nơi mà giáo lý, giáo luận dựa trên tiến bộ, có giáo khoa, giáo án dựa trên văn minh đã có mặt trong giáo trình của trung học phổ thông dành cho học sinh thiếu niên tại các quốc gia có văn minh dân chủ, có văn hiến nhân quyền. Ngược lại giáo trình của trung học phổ thông này hoàn toàn không được hiện diện trong hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay đang được điều khiển và điều hành bởi ngu dân trị có dây mơ rễ má tới từ vô học trị của các lãnh tụ và các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Cụ thể là lực lượng lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã và đang đưa dân tộc, giống nòi, xã hội, đất nước vào ma lộ của vô minh, khi họ đã chặn ngay thượng nguồn mọi ánh sáng tới từ khám phá về văn hiến nhân quyền, tới từ khai phá về văn minh dân chủ.

Tri thức luận tiến bộ

Tri thức luận tiến bộ, thấy để thấu vì phải thấy để tin là cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật, tri thức, dân chủ, nhân quyền, công bằng, công lý thực sự là những tiến bộ, không thể chối cải được, nên không thể không thừa nhận bởi mọi chính quyền, chính phủ có chính danh, vì có chính nghĩa do dân và vì dân. Mọi bạo quyền công an trị, mọi tà quyền tuyên truyền trị, mọi ma quyền ngu dân trị đều là bọn âm binh mang quỷ nghiệp trong điếm tri khi chúng đi ngược lại nhân lộ trong ánh sáng của văn minh dân chủ và văn hiến nhân quyền. Bọn âm binh này mới chính là bọn phản động, theo đúng ngữ vựng, ngữ văn, ngữ pháp của từ phản động được định nghĩa và định luận là : những cá nhân, bè nhóm, đảng phái, tập đoàn lãnh đạo đi ngược lại văn minh dân chủ ; đi trái chiều với tiến bộ khoa học biết bảo vệ nhân sinh ; đi nghịch hướng với văn minh nhân tri biết bảo vệ nhân quyền, đi ngược dòng tiến hóa của nhân loại.

Tri thức luận văn minh

Tri thức luận văn minh, khi tiến bộ song hành cùng văn minh là khi khám phá khoa học và ứng dụng kỹ thuật tạo ra phát triển sản xuất để tạo thăng tiến kinh tế. Thì cùng lúc các tiến bộ và văn minh này đã phát huy dân chủ và nhân quyền ; những tiến bộ và văn minh cũng là những công cuộc đấu tranh để bảo vệ công bằng chống bất bình đẳng, để bảo đảm công lý chống bất công. Mà bất bình đẳng và bất công tới từ các chính quyền mà thực chất là bạo quyền sử dụng tà quyền để tham quyền ; là ma quyền vận dụng lạm quyền để lộng quyền ; là điếm quyền tận dụng cực quyền để cuồng quyền. Loại chính quyền âm binh này ngày đêm rình rập dân chúng bằng công an trị, ra rả qua nhồi sọ bằng tuyên truyền trị, rà rỉ qua tẩy não bằng ngu dân trị, luồn lách bằng vô học trị qua mua bằng bán cấp (học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả), để mua chức bán quyền (cao học gian, tiến sĩ giấy, học vị lừa, học hàm lận).

Tri thức luận dân chủ

Tri thức luận dân chủ, nơi đây tiến bộ và văn minh đã rõ nét trên nhiều lãnh vực, có hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức, tỉnh thức) để bảo vệ hệ thống giáo dục quốc gia, nơi mà giáo lý, giáo luận dựa trên tiến bộ của lý trí, có giáo khoa, giáo án dựa trên sự khai hóa của trí tuệ. Có hệ nhân (nhân lý, nhân tính, nhân tri, nhân trí, nhân bản, nhân văn, nhân tâm) biết bảo trị nhân vị, biết bảo đảm nhân quyền, và nhân phẩm luôn được bảo vệ bởi hệ công (công bằng, công lý, công tâm, công luật). Chính dân chủ với tự do đầu phiếu trong tự do ứng cử và bầu cử là nơi mà nguyên khí của quốc gia là các hiền tài của dân tộc được nhập nội vào hệ đa (đa tài, đa trí, đa lực, đa năng, đa hiệu) làm nên đa nguyên để đa đảng được hiện diện từ chính quyền tới chính phủ. Chính tri thức luận dân chủ là điểm khởi hành trên nhân lộ của khai sáng văn minh dân chủ, để xóa đi tuyên truyền trị, để khử đi ngu dân trị, để tẩy đi vô học trị, mang hậu quả và hậu nạn của vô hậu, vì vô tri thức nên vắng chân trời.

Tri thức luận nhân quyền

Tri thức luận nhân quyền, là công cuộc đấu tranh cho toàn bộ hệ nhân (nhân lý, nhân tính, nhân tri, nhân trí, nhân bản, nhân văn, nhân tâm, nhân vị, nhân đạo, nhân quyền, nhân phẩm). Tại đây, tri thức luận nhân quyền trực diện để chống lại tuyên truyền trị, mang chân dung của ngu dân trị, có chân tướng vô học trị, tới từ độc đảng trị là cha sinh mẹ đẻ của bạo quyền công an trị, được "chống lưng" bởi tà quyền tham nhũng trị, có "sân sau" của ma quyền tham tiền trị. Một bên là ánh sáng của nhân quyền biết tôn trọng dân chủ để tôn vinh công lý, để thăng hoa tự do công bằng và bác ái. Ánh sáng của cộng hòa (tự do, công bằng, bác ái) và ánh sáng của nhân quyền (dân chủ, đa nguyên, văn minh) tạo nên hùng lực khai sáng nhân tri để khai hóa nhân trí, để lột mặt nạ tuyên truyền trị, ngu dân trị, vô học trị, để vạch mặt chỉ tên độc đảng trị, tham nhũng trị, tham tiền trị.

Bất tài vô tướng của quan hệ-tiền tệ-hậu duệ-đồ đệ

Thảm trạng của môi trường trí thức, sinh hoạt học thuật, quan hệ khoa học hiện nay tại Việt Nam trong tay độc đảng của vốn vô học và toàn trị bằng ngu dân trị thì những kẻ có quyền hành trong giáo dục, có quyền lực trong nghiên cứu là những kẻ học giả, học kém, học yếu. Mà chính những người thực tâm, thực tài trong nghiên cứu và học thuật đặt cho đám này là loại bất tài vô tướng, lọt vào chức quyền bằng tà lộ của quan hệ-tiền tệ-hậu duệ-đồ đệ, nơi mà trí tuệ không hề có chỗ đúng ghế ngồi. Chúng có mặt trong giáo dục, trong học thuật, trong nghiên cứu không phải để phát triển khoa học, để thăng hoa tri thức, mà chúng có mặt để chỉ làm chuyện thực thi tuyên truyền trị, ngu dân trị, vô học trị bằng cách hà hơi tiếp sức cho độc đảng trị, công an trị, tham nhũng trị trực tiếp tha hóa giáo lý, giáo luận, giáo luận để thối nát hóa giáo khoa, giáo trình, giáo án. Thực hành chuyên chính vô học với vốn vô học để vô học hóa cả một hệ thống giáo dục, học thuật, nghiên cứu phải lậm sâu vào hướng buôn bằng bán cấp, để phục vụ cho điếm lộ mua chức bán quyền bằng điếm thuật tham tiền trị. Thực hiện quá trình tha hóa giáo dục, học thuật, nghiên cứu để thay thế học thuật-học lực-học thật bằng học hành giả-học vị giả-học hàm giả ; biến hệ thống giáo dục quốc gia thành nơi buôn bằng bán cấp, với các lãnh đạo buôn gian bán lận từ học vị tới học hàm.

Hệ thống giáo dục của bất tài vô học

Hệ thống giáo dục quốc gia với bọn bất tài vô tướng vì là đám bất tài vô học có chức năng của tà quyền, có quyền năng của ma quyền, chúng làm một công ba việc cho chế độ chuyên chính vô học :củng cố độc quyền trong độc tài của Đảng cộng sản Việt Nam nơi mà quyền lực chính trị, quyền lợi xã hội và tư lợi kinh tế của tầng lớp lãnh đạo chỉ là một trong phản xạ tham quyền cố vị, với phản ứng cố đấm ăn xôi. Củng cố độc quyền cho độc trị của Đảng cộng sản Việt Nam, thì các lãnh đạo trong hệ thống giáo dục, học thuật, nghiên cứu trực tiếp củng cố đặc quyền, đặc lợi, đặc ân, đặc sủng của chúng, ngồi mát ăn bát vàng, được ban phát bởi Đảng cộng sản Việt Nam. Củng cố độc quyền cho độc trị của Đảng cộng sản Việt Nam, bằng bè phái lãnh đạo với giáo dục kém giáo lý, yếu giáo luận, tồi giáo khoa này luôn mang phản xạ thưa, bẩm, dạ, vâng, vì luôn có phản ứng cúi đầu-khom lưng-khoanh tay-quỳ gối trước bạo quyền độc đảng của các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.

Vô tâm có cùng cha sinh mẹ đẻ với vô cảm

Vô tâm, xuất hiện khi lương tâm không có chỗ trong tâm cảm, để thấy cho thấu tâm cảnh khốn cùng của tha nhân, của đồng loại, sáng sớm còn là dân lành mà chiều tối đã thành dân oan, nạn nhân của bọn cướp ngày là quan, được bảo kê bởi bạo quyền công an trị, bởi tà quyền tham nhũng trị, bởi ma quyền tham tiền trị. Vô tâm có cùng cha sinh mẹ đẻ với vô cảm, có thân tộc là vô minh, mang huyết thống của vô tri, đây là loại người nhìn mà không thấy, và khi thấy rồi thì cũng không hiểu. Vì khi lương thiện vắng mặt trong lương tâm, thì lương tri đã biệt tăm biệt tích ngay trong tư duy của kẻ vô tâm, không có cảm tình của cảm tính thì sao có được cảm xúc tạo nên cảm động, mà biết thương cảm đồng bào, dân tộc, giống nòi. Khi vô tâm xuất hiện trong sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội, đời sống xã hội, tổ chức xã hội thì bạo quyền công an trị, thì tà quyền tham nhũng trị, thì ma quyền tham tiền trị đã lộng quyền trong lạm quyền rồi. Tại đây, nhân vị, nhân bản, nhân văn sẽ tan nát ; rồi nhân tri, nhân trí, nhân lý sẽ tan tành ; cuối cùng là nhân nghĩa, nhân đạo, nhân tâm, nhân từ sẽ vĩnh viễn tan biến !

trithuc6

Cân, đo, đong, đếm hệ

Hãy cân, đo, đong, đếm hệ vô (vô minh, vô tri, vô giác, vô cảm, vô tâm) bằng mô thức giải luận của các bậc đàn cha, đàn chú, đàn anh (Trần Đức Thảo, Nguyễn Khắc Viện, Trần Đại Nghĩa…) đã phải trả những giá rất đắt để rời không gian của hệ thức (kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức, tâm thức) tại phương Tây, vì đã nghe lời của Hồ Chí Minh là rời Pháp để về lại quê nhà mà "phục vụ cách mạng". Khi về tới nơi, khi khám phá ra chế độ độc đảng toàn trị của hệ vô (vô minh, vô tri, vô giác, vô cảm, vô tâm), thì họ đã cắn răng rồi thốt lên từ đáy lòng : "Cái đáng sợ của chuyên chính vô sản mà bản chất của nó chính là chuyên chính vô học !". Chuyên chính vô học là sợi chỉ đỏ để nhận ra tuyên truyền trị, ngu dân trị, vô học trị, phải nói ngay từ bây giờ một cách thật rõ ràng trong rành mạch là vô học không hề là chuyện được đi học, để có bằng cấp qua học vị rồi học hàm. Mà vô học ở đây là không được giáo dục một cách lớp lang thứ tự, không được giáo dưỡng suốt đời và suốt kiếp bằng hệ nhân (nhân tri, nhân trí, nhân tính, nhân lý, nhân bản, nhân văn, nhân vị, nhân nghĩa, nhân đạo, nhân tâm, nhân từ) để tiếp, nhận, trao, truyền hệ thức (kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức, tâm thức).

Chống vô tri bất kiến

Cả hai, hệ nhân và hệ thức, chính là hai đại diện của văn minh của cộng hòa có nền là tự do, công bằng, bác ái ; và văn hiến của nhân quyền có gốc là dân chủ, đa nguyên, đầu phiếu. Vô kiến chính là hậu quả của vô tri bất kiến, không có tri thức nên không có ý kiến trước hậu quả của ngu dân trị, không có chính kiến trước tà ngữ của tuyền truyền trị, vì không có chính kiến nên không có chính ngữ trước vô học trị. Trống ý kiến, vắng chính kiến vì ngay trên thượng nguồn của vô học trị đã rỗng chính trí, đã biệt chính tâm. Khi ta xếp đặt lại thứ tự của hành vi vô kiến theo hệ lụy vô tri nên vô kiến trong vô ngôn lẫn vô ngữ thì ta sẽ nhận ra chân dung của kẻ vô kiến, chân tướng của kẻ vô tri, chính là nạn nhân của ngu dân trị, của tuyên truyền trị, của vô học trị. Cụ thể là từ khi tấm bé còn đi tới ngày rời trường lớp tới khi rời đại học, thì các học sinh, các sinh viên phải học một giáo trình vô học trị : Tư tưởng Hồ Chí Minh là không phải là tư tưởng, vì nó trống nội dung, rỗng giá trị, vắng lý luận… Học tập đường lối và chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam, nơi mà đường lối là ngu dân trị và chính sách là tuyên truyền trị trong độc ngôn của độc đảng vô học trị.

Ma trận liên hoàn của : ngu dân trị, tuyên truyền trị, vô học trị

Nhân tri vì trống vắng kiến thức thật, lạc nhân trí vì rỗng loát tri thức thật là thảm họa của nhiều thế hệ sinh ra và lớn lên trong chế độ độc tài toàn trị hiện nay. Các thế hệ này bị ma trận liên hoàn của : ngu dân trị, tuyền truyền trị, vô học trị được chủ xướng bởi độc đảng trị, trong một nhà tù vô hình được cai quản bởi công an trị. Các bạn sinh viên, học sinh hãy tâm niệm chỉ một thi từ của thi sĩ Tô Thùy Yên : "Hỡi ơi ! Hiền sĩ gặp ma trận !". Mà trong hậu đài là một tập đoàn tội phạm với vốn vô học nhưng lại biết mạo danh là "cách mạng", biết mạo ngữ là"chuyên chính vô sản", biết mạo ngôn là"xã hội chủ nghĩa" lại còn biết mạo dạng là"đầy tớ của nhân dân". Nhưng là một lũ buôn bằng bán cấp, một đám buôn chức bán quyền, một đảng luôn tìm mọi cách để giữ đặc quyền bằng tham nhũng trị, bám đặc lợi bằng tham tiền trị, mặc dầu chúng biết rất rõ là chế độ vô học hóa của chúng chế tác ra rất vô hậu ! Vì nó đang đưa nhân kiếp của Việt tộc xuống tầng đáy vực của hệ : vô minh, vô tri, vô giác, vô cảm, vô tâm vô học trong vô hậu.

Tàu tặc… Tàu gian… Tàu hoạn… Tàu nạn… Tàu tà

Vô hậu trước Tàu tặc đang cướp đất, biển đảo ; trước Tàu họa đang ô nhiễm hóa trầm trọng môi trường và môi sinh của Việt tộc, từ bô-xít Tây Nguyên tới Formosa tại Hà Tĩnh, cùng nhiều nhà máy nhiệt điện tha biến đất nước không những thành một ổ rác khổng lồ của Tàu gian mà biến các thành phố lớn trên đất Việt thành những thành phố ô nhiễm loại hàng đầu của thế giới. Với Tàu hoạn là thực phẩm bẩn cùng hóa chất độc ; với Tàu nạn là buôn ma túy, buôn người để buôn nội tạng ; song hành cùng Tàu tà ngày ngày tha hóa văn hóa, văn minh, văn hiến Việt ; trong hoạn cảnh của một tập đoàn vô kiến hèn với giặc trong vô hậu, và ác với dân trong vô học. Bi kịch của đất nước và là thảm kịch của Việt tộc hiện nay là phải "lảnh đủ" mọi hậu quả rồi "gánh trọn" mọi hậu nạn của một phương trình đầy ngập các ẩn số : Tàu tặc, Tàu họa, Tàu gian, Tàu hoạn, Tàu nạn, Tàu tà…

Thực tế phản giáo dục, nghịch giáo lý

Hãy phân tích các thực tế phản giáo dục, nghịch giáo lý, trái giáo luận hiện nay trong chế độ độc đảng trị sử dụng công an trị, vận dụng tham nhũng trị, tận dụng tham tiền trị, để thấy sự tha hóa đến cùng cực của hệ thống giáo dục hiện nay của Đảng cộng sản Việt Nam : học để vinh thân phì gia bằng hệ tham (tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền), cụ thể là vào đại học của Bộ Công an thì điểm phải rất cao, so với điểm vào đại học Sư phạm thì chỉ cần loại điểm rất thấp. Vì vào đại học của Bộ Công an thì "mau giàu", "dễ giàu","mau ra tiền", "dễ kiếm tiền". Một loại tư duy đốn mạt phản giáo dục, một loại tư tưởng khốn kiếp phản giáo lý, mượn bằng cấp để phì mập bằng vật chất, đây không phải là vô học thì còn là gì nữa ?

Nội công của học thật, có nội lực của học lực, nội hàm của học thuật

Du học để tái sản xuất hệ con ông cháu cha, với hệ quả "con quan thì được làm quan", nhưng trong thực tế giáo dục của các quốc gia phương Tây có nội công của học thật, có nội lực của học lực, vì mang nội hàm của học thuật. Nên đa số loại con ông cháu cha không thành công trong đại học ; không thành đạt trong sinh hoạt trí thức, không thành tựu trong đại học hệ sáng (sáng kiến, sáng chế, sáng lập, sáng tạo) trong nghề, nghệ, nghiệp bằng tiêu chuẩn và tiêu chí của các quốc gia phương Tây. Thức khuya mới biết đêm dài là đây ! So ra mới biết ngắn dài là đây ! Lửa thử vàng, gian nan thử sức là đây ! Vì tại các quốc gia phương Tây thì vàng thau phân biệt, không hề lẫn lộn, tráo trá được.

Phương trình học thật-học lực-học thuật

Cụ thể là học thật thì phải học cho tới nơi tới chốn ; học lực chăm chỉ bằng văn ôn võ luyện ; học thuật thì kỹ lưỡng từ tôn sư trọng đạo tới tầm sư học đạo, thấy cho thấu điều hay lẽ phải từ giáo dục khoa học tới giáo lý đạo đức, tới giáo luận đạo lý. Phương trình học thật-học lực-học thuật không sao chấp nhận đội trời chung với học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả. Người kiên nhẫn trong kiên cường vì biết kết quả tích cực của câu chuyện có công mài sắt có ngày nên kim. Thực hư trong khoa học cũng như trong học thật-học lực-học thuật không hề chấp nhận loại cá mè một lứa với kẻ ăn khôn ngồi rồi ; với đứa chờ sung rụng ; với đám ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau ; với phường dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm ; với lũ nhớt thây dầy cốt !

Con ông cháu cha : du học trong vong hồn

Chuyện gì đã xảy ra cho đại đa số con ông cháu cha đã và đang du học tại các quốc gia có văn minh khoa học, có văn hóa dân chủ, có văn hiến nhân quyền, mà khi còn ở Việt Nam đám này đã quen thói ăn trên ngồi trốc trong chế độ độc đảng trị song lứa với vô học trị, song cặp với ngu dân trị, song hành cùng tham nhũng trị, để khi phải va đầu chạm trán với có học thật-học lực-học thuật của phướng Tây thì họ khám ra là họ học không kịp giáo trình, theo không kịp giáo án, bám không kịp giáo lý, đeo không kịp giáo luận. Vì họ không hề có căn bản giáo dục từ ngay trung học phổ thông. Họ không hề có kiến thức về các khám phá khoa học căn bản, về các tư tưởng công bằng và tự do làm nên dân chủ và nhân quyền trong tổ chức chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa, giáo dục…

Trí lực, tâm lực xây dựng lý lực, luận lực

Đại đa số con ông cháu cha đã và đang du học tại các quốc gia có văn minh khoa học, có văn hóa dân chủ, có văn hiến nhân quyền thì họ khám phá ra là họ không có kiến thức phổ thông về các định chế văn minh được điều khiển và điều hành bằng tam quyền phân lập ; họ không có kiến thức phổ quát về các cơ chế từ tự do bầu cử tới tự do ứng cử trong đa đảng được bảo đảm bởi đa nguyên mang nội chất của đa tài, mang nội hàm của đa trí, mang nội lực của đa hiệu, đa năng… Họ khám phá ra là muốn giỏi ngoại ngữ, muốn nắm quốc ngữ nơi quốc gia mà họ đang du học, thì họ phải đầu tư trí lực, tâm lực, lý lực, luận lực để thấy văn hóa, thấu văn minh, hiểu văn hiến xứ người. Không có trí lực, tâm lực, lý lực, luận lực, nơi mà biếng nhát không quyết tâm làm nên biếng lười không quyết chí, nên họ dễ bỏ học, dễ bỏ cuộc, dễ làm ngơ và dễ viện cớ này, cớ nọ để không học tới nơi, thấu tới chốn, hiểu cho tới gốc, rễ, cội, nguồn của học thuật.

Học chăm bằng chí, hành bằng lực

họcchăm bằng chí, là hành bằng lực, mà lười thì làm sao có lực, mà lực ở đây là trí lực, tâm lực, thể lực trong nhân tri của thức khuya mới biết đêm dài của nhân trí. Vô trương bất tín, không thấy không tin, thấy rồi mới tin, chúng ta hãy vào những kinh nghiệm cụ thể của các sinh viên du học tới từ Việt Nam, khi tìm các giáo sư trách nhiệm công trình nghiên cứu hay các giáo sư chấp nhận hướng dẫn luận án tiến sĩ cho họ, mà các giáo sư này đại diện cho văn minh khoa học, văn hóa dân chủ, văn hiến nhân quyền, thì sau đó không lâu chính các giáo sư này tự khám phá ra là sinh viên du học tới từ Việt Nam không có kiến thức căn bản, không có tri thức lý luận, không có trí thức phân loại để phân giải nên không có lý trí phê bình để trí tuệ được thăng hoa. Các sinh viên du học tới từ Việt Nam, khi tìm các giáo sư trách nhiệm công trình nghiên cứu hay các giáo sư chấp nhận hướng dẫn luận án tiến sĩ cho họ, gốc người Việt trong ý đồ tư lợi "giữa đồng bào với nhau phải giúp đỡ nhau chốn xứ lạ quê người" ; bằng toan tính vụ lợi là "giữa đồng bào với nhau nên dễ nhờ vả". Dễ nhờ vả cụ thể là dễ lợi dụng, là dễ giật dây, là dễ dối trá để đánh lận con đen, đây là loại hoạn kịch giữa sinh viên du học tới từ Việt Nam gốc con ông cháu cha với các giáo sư gốc Việt được đào tạo tự đầu tới cuối nơi xứ Tây !

Vô học trị, tuyên truyền trị, ngu dân trị

Chế độ độc đảng toàn trị hiện nay của Đảng cộng sản Việt Nam với vốn vô học song cặp cùng vô học trị ; với tuyên truyền trị song lứa cùng ngu dân trị ; tất cả đều dưới trướng của tà tướng công an trị song hành cùng tham nhũng trị, thì đây là con đường nghịch chiều trái hướng với có họccó hậu, nên nó mới mang tên là vô họcvô hậu. Nếu các khám phá của các chuyên ngành khoa học thực nghiệm kể trên của nhân loại đã song hành cùng các khai sáng của các chuyên ngành khoa học nhân văn và xã hội không có đầy đủ trong giáo trình của trung học mà thay vào đó là một loại giáo trình buôn gian bán lận qua môn sử học, thay trắng đổi đen trong văn học ; thì tuyên truyền trị là một khuyết não của vô học sẽ tạo ra khuyết tật nặng nề của vô học trị trong vô hậu. Những tuyên truyền dựa trên hư cấu về : Lê Văn Tám, về Võ Thị Sáu, về Nguyễn Văn Bé… từ sử học tới văn học chỉ là loại âm kiến trong ma thức. Nơi mà sử học phải đóng vai phản diện để tuyên truyền trị ăn gian nói dối, nơi mà văn học phải cam nhận vai mồm loe mép giải để ngu dân trị múa gậy giữa vườn hoang.

Phương trình sự thật-chân lý-lẽ phải

Người cộng sản có phản xạ truy cùng diệt tận sự thật, chân lý, lẽ phải. Ngay trên thượng nguồn, họ thủ tiêu mọi thiện chí đối thoại, họ thanh trừng mọi thiện tâm đối luận, nên họ thường mất ăn mất ngủ một cách rất lạ lùng trước nội hàm của khoa học xã hội nhân văn là vinh danh để thăng hoa phương trình sự thật-chân lý-lẽ phải. Vì nếu công nhận phương trình sự thật-chân lý-lẽ phải thì phương trình phản diện độc đảng-chuyên chế-toàn trị của người cộng sản sẽ không sao tồn tại được ; vì chính phương trình sự thật-chân lý-lẽ phải là gốc, rễ, cội, nguồn của mọi cuộc đấu tranh vì công lý để bảo vệ công bằng.

Chiến lược thượng nguồn dài lâu

Định luận của thời gian sẽ giáo dục sự tỉnh táo, quỹ thời gian sẽ giáo dưỡng sự sáng suốt, chuyện chính không còn là chuyện kẻ thắng người bại, mà là chuyện thắng thua phải dựa trên sức thể nghiệm của thời gian trên ba phạm trù. Thứ nhất là sự thật được kiểm chứng từ dữ kiện tới chứng từ ; thứ hai là chân lý với phân tích khách quan trên mọi chứng từ để giải thích hợp lý, chỉnh lý, toàn lý về sự cố ; thứ ba là lẽ phải từ đạo lý hay, đẹp, tốt, lành tới luân lý được trải nghiệm bằng trách nhiệm với tha nhân, với đồng loại. Cả ba lập nên phương trình sự thật-chân lý-lẽ phải đây chính là chiến lược thượng nguồn dài lâu cùng thời gian để quyết định mọi chiến thuật hạ nguồn ngắn hạn biết dựa vào các khám phá tri thức mới, các khoa học kỹ thuật mới để tạo theo bàn đạp và làm dàn nhún cho các sách lược tức khắc kịp thời từ đối phó tới đối lực, từ đối trọng tới đối luận với đối phương.

Nhân quyền

Khám phá ra là chính trong quá trình dấn thân để đấu tranh chống bất công, một cá nhân không còn là một cá thể mà đã là chủ thể tiếp nhận nhân quyền của mình mở rộng bờ cõi của nhân tri, để đi cao, đi xa, đi rộng, đi sâu vào nhân trí, đây là một trong những định nghĩa thông thoáng nhất về : Tự do là gì ? Thông minh là gì ? Sáng tạo là gì ? Và càng đi cao, sâu, xa, rộng vào đấu tranh chống bất công, con người càng khám phá ra là tự do, thông minh, sáng tạo, không bị ngăn sông cấm chợ nên có chung một lãnh thổ, không bị bế môn tỏa cảng nên không có biên giới.

Một dạ một lòng

Qua sông thì phải lụy đò, là thái độ sống của một đa số trong nhân loại này, và ngạn ngữ này vẫn đúng trong các nước đã có truyền thống văn minh dân chủ lâu năm, đã có lịch sử văn hiến nhân quyền lâu đời, lại có đời sống xã hội phát triển cùng hệ thống giáo dục rất chỉnh chu trong giáo lý biết thăng hoa nhân tri. Tổ tiên Việt chẳng lầm khi phân biệt ra hai loại người : loại yếu vía thì thay đổi như nắng sớm chiều mưa, tự gục rục kiểu sớm nở tối tàn khi gặp thử thách quá lớn đã làm nên nỗi sợ của họ ; loại cứng vía thì một dạ một lòng trước thử thách, trước thời gian dũng cảm dấn thân. Nên người cứng vía ít khi chấp nhận ngồi cùng chiếu, ăn cùng mâm với kẻ yếu vía ;kẻ yếu vía đã bị người cứng vía xếp vào loại thay lòng đổi dạ, lại dễ rơi hoạn cảnh lừa thầy phản bạn, thuộc loại chân dung mềm vì yếu : "nắng ba năm ta không bỏ bạn, mưa một ngày bạn đã bỏ ta". Đây chính là chuyện đời mà cũng là chuyện người của lửa thử vàng gian nan thử sức, khi trực diện đấu tranh với bạo quyền, tà quyền, ma quyền.

Hiện tượng bạo động

Hiện tượng bạo động là một quá trình không ai chủ động được hoàn toàn, từ tác giả của bạo động tới nạn nhân của bạo động, chúng ta phải suy nghĩ tới nơi tới chốn về vòng xoắn đi lên nó luôn leo thang trong cuộc đấu giá bằng bạo lực. Kẻ gây ra bạo động sẽ bị trả lời, trả đũa, trả đòn bằng bạo lực, để rồi khi bạo lực leo thang mãi thì không ai kềm chế được, vì bạo lực này làm ra bạo lực kia, như cuộc đấu giá không biết ngưng, đánh người thì bị người đánh lại, hại người thì bị người hại lại, diệt người thì bị người diệt lại…

Trí lực

Trí lực được nuôi dưỡng và giáo dưỡng với thời gian, không bị già nua như tuổi đời lấn áp thể lực từng ngày, mà càng ngày trí lực này càng khỏe mạnh, càng dẻo dai, bền trước thử thách, vững trong thăng trầm. Nơi mà thời gian không những tạo kinh nghiệm cho cá nhân, mà còn xây kiến thức sống lâu mới biết lòng người có nhân. Sống lâu để lấy bình tĩnh mà tạo tỉnh táo, sống lâu để sáng suốt mà tiếp nhận tính kiên cường trong đấu tranh, chính là bản lĩnh của sức đề kháng, chính là nội công làm nên tầm vóc thức khuya mới biết đêm dài, vì chuyện đấu tranh cho sự thật, cho chân lý, cho lẽ phải là chuyện dài lâu. Từ khi tôi tìm được phạm trù lý luận trí niên, tôi nhận ra chuyện chiến thắng hay thất bại trong xung đột đạo lý, trong mâu thuẫn tri thức, trong kình chống giữa các nhận thức, giữa các chính kiến, giữa các đường lối, giữa các chính sách đều là chuyện phụ ! Thí dụ rõ nhất là chiến thắng quân sự bằng bạo lực của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1975, đây chỉ là một loại chiến thắng bất nhân thất đức, nên sau đó cho tới bây giờ thì chế độ độc đảng toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam đã thất bại đến thảm hại trên mọi lãnh vực từ kinh tế tới xã hội, từ văn hóa tới giáo dục, từ nghệ thuật tới sáng tạo, từ luân lý tập thể tới đạo đức cộng đồng… nên chiến thắng quân sự bằng bạo lực thì vô cùng : vô nghĩa !

trithuc7

Giáo lý ăn ở có hậu

Khi phương trình tác chiến của tri thức đã định hình qua : chiến lược thượng nguồn dài lâu-chiến thuật hạ nguồn ngắn hạn-sách lược tức khắc kịp thời thì trận chiến chỉ còn lại hai mặt trận trong giới trí thức bất bạo động là : mặt trận đạo lý luôn song hành cùng mặt trận khoa học. Mặt trận thứ nhất lấy đạo lý từ thái độ tới hành vi hay, đẹp, tốt, lành để xây luân lý của bổn phận với tập thể và trách nhiệm với cộng đồng, mà không quên đạo đức ăn hiền ở lành của tổ tiên, có trong giáo lý ăn ở có hậu. Mặt trận thứ nhì sử dụng khoa học để luôn giữ được tính khách quan, mà không quên khoa học xã hội và nhân văn là khoa học của bối cảnh chuyển hóa linh động, chớ không phải khoa học mô hình như khoa học toán ; cũng không phải là khoa học thực nghiệm bằng thí nghiệm như khoa học sinh, lý, hóa… Tất cả đều phải đi tới nơi về tới chốn cho đúng giờ hẹn với phương trình sự thật-chân lý-lẽ phải, để đào tới nơi, xới tới chốn.

Phương trình bối cảnh-hiện cảnh-thực cảnh

Khoa học xã hội và nhân văn là khoa học bối cảnh, thì hiện cảnh phải được phân tích hợp lý từ chỉ báo tới dữ kiện ; thì thực cảnh phải được giải thích chỉnh lý từ chứng từ tới chứng tích, mà không quên chứng nhân. Phân tích hợp lý song hành giải thích chỉnh lý là nền làm nên kết luận toàn lý từ lý luận tới lập luận, từ giải luận tới diễn luận. Chính phương trình bối cảnh-hiện cảnh-thực cảnh được kiểm soát và kiểm định bằng phương trình phân tích hợp lý-giải thích chỉnh lý-kết luận toàn lý sẽ quyết định tính thuyết phục của chuyện thắng thua trong xung đột, trong kình chống, trong mâu thuẫn, trong chiến tranh. Giờ đây, chuyện thắng thua giờ đã được chuyển sang chuyện thành bại, cụ thể là thành công hay thất bại chỉ trên hai mặt trận : mặt trận đạo lý và mặt trận khoa học. Nếu "bên thắng cuộc" vỗ ngực để ngạo nghễ mình là kẻ thắng, để sau đó bàng quan thiên hạ nhận ra là "bên thắng cuộc" này thất bại trên mọi phương diện khác của cuộc sống và sự sống, thì đây không phải là chiến thắng, mà thực sự là chiến bại, được làm rõ sau khi chiến cuộc chấm dứt, như sự thức tỉnh trước một thảm họa, hiện thân của thảm bại. Đây chính là thảm kịch của đường lối bạo quyền độc trị của Đảng cộng sản Việt Nam, nên cũng là bi kịch trong nhân kiếp của các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam.

Tìm lối ra cho đối phương

Đảng cộng sản Việt Nam chỉ biết dùng bạo lực bằng bạo động thời chiến tranh, dùng bạo hành thời hòa bình bằng công an trị, đã tạo ra bao thảm trạng cho dân tộc, xã hội, đất nước, biến nhân kiếp việt tộc thành oan kiếp giữa nhân sinh. Đây đâu phải là chiến thắng, nó chính là chiến bại trong thảm bại. Hãy đặt chuyện thắng thua bằng mức thang của đạo lý bất bạo động, nơi mà chiến thắng cao nhất, đẹp nhất, tức là đúng nghĩa chiến thắng nhất là cùng chiến thắng với đối phương. Vô tình hay cố ý đã là đối thủ của mình, nhưng không bao giờ ta xem đối phương, đối thủ của mình là tử thù, không đội trời chung, trong một chết một sống với mình. Mà ngược lại phải tìm lối ra cho đối phương, đối thủ của mình, không những để cùng nhau sống sót sau xung đột, sau chiến sự mà còn cùng nhau sống còn trong một phương trình không hề có mặt của hệ bạo (bạo quyền, bạo lực, bạo động, bạo hành). Nếu lý trí biết vận dụng mưu trí để thắng đối phương, đối thủ của mình không bằng bạo lực của chiến tranh mà bằng mưu mẹo để đối phương tự rút lui, để đối thủ tự thoái lùi, thì đây chính là sự thông minh của mưu trí.

Mưu trí bất bạo động

Biết xây mưu trí bất bạo động, biết dựng mưu lược không bạo lực, thì đây chính là bản lai diện mạo của sự thông minh, không những biết vượt thoát hệ bạo (bạo quyền, bạo lực, bạo hành), mà còn biết vượt thắng hệ thù (hận thù, căm thù, tử thù, kẻ thù). Nói dễ làm khó, tức là phân tích dễ nhưng thực hiện khó, chính sự phẫn nộ của một tâm lý không biết tự kềm chế trước bất công, vì chính bất công làm tôi bất nhẫn, thoáng chốc nên ta trở nên bất hòa, vô tình tạo ra bất tuân với tập thể trong đó có nhiều người ăn hiền ở lành, với cộng đồng trong đó có nhiều người ăn ở có hậu. Như vậy là ta tự hại ta, tự ta thủ tiêu trí khôn của mình, không những tạo điều kiện cho địch thắng, mà ta còn mất đi các đồng minh của ta, giận mất khôn mà ! Hãy suy nghĩ về những hậu quả do sự phẫn nộ do chính mình làm ra, ngay khi mình có mọi lý do và lý luận để bảo vệ sự phẫn nộ này, nhưng lại quá mất bình tĩnh để chính nghĩa lẫn lộn với bạo ngữ, bạo ngôn. Hậu quả của sự phẫn nộ không sao lường hết được, vì nó đốt trí lực, nó diệt tâm lực, nó hủy thể lực của ta, nếu phản xạ và quyết tâm đấu tranh chống bất công là một chỉ báo của tâm thức về sự trưởng thành trong đạo lý, thì ngược lại sự phẫn nộ truy cùng diệt tận sự trưởng thành này.

Lý luận để lập luận

Tận dụng hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận) để được đi sâu vào các hệ lụy mà cũng là hệ luận để nhận ra lý luận trên các kết quả của điền dã, điều tra, khảo sát, nghiên cứu để ra đường đi nẻo về của hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn) của Đảng cộng sản Việt Nam, chính là cha sinh mẹ đẻ của hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền) ; hệ bất (bất tài, bất lực, bất tín, bất lương) ; hệ gian (gian dối, gian trá, gian xảo, gian manh) ; hệ vô (vô minh, vô tri, vô giác, vô cảm). Lập luận trên hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức, tỉnh thức) là gốc, rễ, cội, nguồn của hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri) ; hệ tự (tự do, tự trọng, tự chủ, tự tin) ; hệ thông (thông minh, thông thạo, thông thái) ; hệ sáng (sáng kiến, sáng chế, sáng tạo) ; hệ chuyên (chuyên cần, chuyên môn, chuyên nghiệp) ; hệ tinh (tinh lực, tinh thông, tinh hoa) để thấy lối của Việt tộc qua các phạm trù của cộng hòa (tự do, công bằng, bác ái) trong không gian của đa nguyên có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền.

Giải luận để diễn luận

Giải luận trên các kết quả của điền dã, điều tra, khảo sát, nghiên cứu để nhận ra những thảm họa trên nhân kiếp của Việt tộc, tới từ bạo quyền độc đảng liên minh với tà quyền để tham quyền ; với ma quyền để lạm quyền, với quỷ quyền để lộng quyền. Đào càng sâu phân tích để được xới thật rộng giải thích : bạo quyền độc đảng sẽ thay hình đổi xác để thành cực quyền, một loại quyền lực tuyệt đối sẵn sàng khử trừ mọi đối trọng, đối kháng khác với nó. Bạo quyền độc đảng sẽ thay thân đổi dạng để thành cuồng quyền, loại quyền lực tuyệt đối sẵn sàng truy diệt mọi đối thoại, đối luận khác với nó. Diễn luận trên các kết quả của điền dã, điều tra, khảo sát, nghiên cứu trong học thuật về Việt Nam hiện nay về vấn đề quyền lực thì không thể bỏ qua các chỉ báo về : tà quyền, ma quyền, quỷ quyền, tham quyền, lạm quyền, lộng quyền cực quyền, cuồng quyền. Thảm kịch trên số phận của Việt tộc sẽ là bi nạn của giống nòi Việt, của các thế hệ mai hậu khi Việt tộc đã để bị tà quyền, ma quyền, quỷ quyền, tham quyền, lạm quyền, lộng quyền, cực quyền, cuồng quyền, cướp đi hệ nhân của mình, nơi mà nhân tính, nhân lý bị mất nhân tri, nhân trí, bị lạc nhân bản, nhân văn, bị xa nhân nghĩa, nhân đạo, bị xóa nhân tâm, nhân từ, tựu trung là bị tước đi nhân quyền !

Liên minh sử định-đức định-luật định

Hệ lụyhệ luận giúp người trí thức nhận ra một lý thuyết luận của liên minh : sử luận-triết luận-xã luận, để nhận ra ít nhất ba trở ngại của cuộc đấu tranh vì dân chủ và nhân quyền : sử tính, mang sự thật lịch sử đã bị thay trắng đổi đen bởi Đảng cộng sản Việt Nam ; đức tính, mang giáo lý của tổ tiên Việt đã bị vùi dập bởi Đảng cộng sản Việt Nam ; luật tính, mang công lý của luật pháp đã bị bóp nghẹt bởi Đảng cộng sản Việt Nam. Khi cả ba : sử tính, đức tính, luật tính bị loại ra khỏi không gian quyền lực của độc tài, thì khoa học xã hội và nhân văn phải nhận ra các chủ thể mới xuất hiện trong xã hội dân sự, có chủ đoán để chủ quyết, có chủ động để chủ luận về sử định, hiểu lịch sử và quyết định làm tốt hơn lịch sử ; đức định, hiểu đạo lý và quyết định làm tốt hơn giáo lý ; luật định hiểu công lý và quyết định làm tốt hơn công luật. Liên minh sử định-đức định-luật định, làm nên luân lý của dân chủ, thì các thuật ngữ : tà quyền, ma quyền, quỷ quyền không phải là những ngữ văn để chỉ trích, chê bai, thóa mạ, phỉ báng, mà chúng chính là những mô hình giải thích quyền lực của hệ bất (bất tín, bất trung, bất tài, bất nhân) diệt đạo lý, triệt pháp lý ; để từ đó chúng ta lập được mô thức giải luận để phân tích tham quyền, lạm quyền, lộng quyền, đây là các quyền lực chống hệ công (công lý, công luật, công pháp, công tâm). Nếu không giải luận rồi diễn luận tới nơi tới chốn quá trình từ mô hình giải thích tới mô thức giải luận, thì ta sẽ không thấy để thấu các thảm họa đã, đang, sẽ giăng bẫy Việt tộc trên nhân lộ của nhân phẩm.

Sự tôn trọng của đa lý

Nhân quyền là quá trình chỉnh lý đang đi tìm toàn lý, đây là khó khăn cụ thể mà cũng là thử thách vinh quang của thực thể nhân quyền. Vì toàn lý phải bắt đầu bằng sự tôn trọng của đa lý, mà trong đa lýđa trí, đa tài, đa dũng, đa năng, đa hiệu làm nên chân dung diện mạo của đa nguyên. Tại đây, Liên Hiệp Quốc định vị để đề nghị tôn trọng sự khác biệt, nhưng cẩn trọng trước sự phân biệt, tạo ra sự tách biệt. Vượt qua sự phân biệt để đi tìm những mẫu số chung, tạo điều kiện cho sự chung sống bằng sự tôn trọng lẫn nhau.Vượt thắng sự tách biệt để tìm ra nền tảng chung, tạo điều kiện cho sự chung sống bằng khả năng nhận ra những sự tương đương được mọi bên công nhận.

trithuc8

Nhân quyền không phải là một ý thức hệ

Khi phân tích các lập luận về nhân quyền không những qua lập luận của các tư tưởng gia, các triết gia, mà còn phải nhận ra các công trình nghiên cứu của chính trị học, nhân học, xã hội học đương đại, tại đây xuất hiện hai kết luận mới nhân quyền sẽ tự diệt khi nó tự biến thành một loại ý thức hệ độc đoán áp đặt lên xã hội, lên nhân loại, mà mọi người đã thấy sự thảm bại của ý thức hệ cộng sản, mà ngược lại nhân quyền phải luôn nắm trong quỹ đạo danh chính ngôn thuận của hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận) vừa để bảo vệ tính chỉnh lý, vừa để bảo đảm tính phổ quát của nó. Nhân quyền sẽ tự hủy khi nó tự tương đối hóa nó, ép buộc nhân sinh phải nhắm mắt trước hủ tục, trá hình bằng tên gọi là văn hóa, kiểu đa thê, đa thiếp để không tôn trọng nam nữ bình quyền. Tồi tệ hơn là loại tự tuyên ngôn : "Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng ưu tú nhất và độc nhất lãnh đạo dân tộc, xã hội…", nơi mà độc đảng tự cho phép toàn trị mà không qua hệ đa (đa lý, đa trí, đa tài, đa dũng, đa năng, đa hiệu), để tránh né luôn hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận).

Không tự tương đối hóa, không tự thiêng liêng hóa

Không phải là ý thức hệ, cũng không tự tương đối hóa, tiến trình của nhân quyền cũng không được tự thiêng liêng hóa mình như đã thấy trong các sinh hoạt của tôn giáo ; trong đó thượng đế sáng tạo ra muôn loài và muôn loại phải có lòng tin tuyệt đối vào thượng đế. Không được tự dung hòa hóa mình trước các quyền lực kình chống nhau, vì có quyền lợi mâu thuẫn nhau, mà hậu quả là có kẻ thắng người bại, mà tất cả đều không nhận ra đạo lý nhân quyền là tôn trọng lẫn nhau để chung sống. Thuật ngữ nhân luận trở nên linh động khi ta nhận ra hệ luận của quyền làm người, được làm người mà không là nạn nhân cũng không là thủ phạm của bất cứ bất công nào, của bất cứ bất nhân thất đức nào,

Nhân quyền có nội chất và nhân phẩm

Nhân quyền có nội chất của nhân phẩm, khi nhân sinh biết gỡ ra ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu… giá trị của con người là vô giá nên nhân quyền hành tác trên cao, đi xa, nới rộng, đào sâu hơn các phạm trù bình thường nếu không nói là tầm thường của ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu… Nhân quyền là sức hút của hoài bão vì nhân lý, nhân tri, nhân trí, của hoài vọng vì nhân bản, nhân văn, nhân vị, tạo ra được sự thuyết phục tự đó tạo được sự đồng cảm, đồng lòng để các giá trị của nhân phẩm. Vẫn chưa trọn về diễn luận, nhân quyền còn cho xuất hiện hai phương án khác nhau từ nội dung tới thể hiện, vì nhân quyền tích cực của hội nhập để có một lý tưởng chung là bảo vệ nhân phẩm. Nhân quyền được thực hiện trong đòi hỏi công bằng, trong đấu tranh vì tự do, một nhân quyền có chân trời của công lý, khi con người biết trả lời là : có ! Nhân quyền tiêu cực là một nhân quyền khi nhân sinh đứng trước bất công, thì con người biết trả lời ngược lại là : không ! Vì bất công không chấp nhận được, vì nó bất nhân thất đức. Nhân quyền tiêu cực nơi mà ngữ pháp tiêu cực của phản ứng trả lời : không chính là một sung lực rất tích cực, vì không chấp nhận bất công, nên sẽ bất tuân trước bạo quyền, cụ thể là sẽ bất chấp tà quyền.

Hiểu được thì giải thích được

Khi chúng ta đủ tâm và đủ tầm để vận dụng quá trình nhận thức xã hội vào các công trình xây dựng xã hội vì nhân quyền, thì ta phải nhận định rõ là nhân quyền có mặt và có tiến bộ về nhận thức khi khoa học, kỹ thuật, học thuật, tư tưởng có mặt trong tiến bộ trong xã hội, trong nhân sinh. Nhân quyền có mặt như lý tưởng về văn minh vừa khả thi, vừa cao rộng, mang tầm vóc của một tổng thể của các lý tưởng chính trị, khoa học, xã hội, văn hóa… Nhân quyền hiện thân trong tư duy của con người không bằng ý thức hệ trừu tượng, cũng không bằng một ý đồ chính trị viễn vông ; nhân quyền là nhận thức, cụ thể là hiểu được thì giải thích được, giải thích được thì xem như đã hiểu rồi, nơi mà hiểu biết và giải thích không phải là hai động tác khác nhau, mà chỉ là một, một không gian và không có biên giới nên không cần trung gian để nối nhịp cầu giữa hiểu biết và giải thích. Hiểu được ngay thì giải thích được ngay, vì nhân quyền cư trú ngay trong quyền làm người, tức là quyền được sống yên mà không là nạn nhân hay thủ phạm phản nhân quyền. Và quyền này song hành cùng quyền mưu cầu hạnh phúc mà không một bạo quyền, tà quyền, ma quyền, cực quyền, cuồng quyền nào có quyền tước đoạt.

Quyền được làm người trong luật bảo vệ người

Sự khởi lực của tư duy dân chủ song hành cùng tư duy đa nguyên ; có động lực của quá trình nhận thức của xã hội, song đôi cùng công trình xây dựng xã hội ; có trí lực tiến bộ về nhận thức sánh bước cùng lý tưởng về văn minh. Như vậy, nhân quyền là một thực lực thường xuyên có mặt trong xã hội dân sự, nên khi ta đi tìm định đề để nhận ra định luận của nhân quyền. Nơi mà nhân quyền là quyền lợi lẫn quyền lực muốn làm người đúng nghĩa nhất với nhân phẩm. Nhân quyền còn là công bằng lẫn công lý muốn có công luật đúng nghĩa nhất với nhân vị. Quyền được làm người song lứa với luật bảo vệ người chính là chủ lực của nhân định. Khi nhận ra được hai mệnh đề trong cùng một mệnh để chung tên là nhân quyền, thì nhân quyền vừa là cơ hội đối thoại giữa các dân tộc khác nhau, giữa các văn hóa và văn minh khác nhau có thể đối luận được với nhau qua quyền được làm người, luật bảo vệ người. Nhân quyền còn là cơ hội tiến bộ của mọi dân tộc khác nhau, của mọi văn hóa và văn minh dù khác nhau nhưng biết lấy nhân vị, nhân bản, nhân văn làm nội lực cho nhân quyền. Nhân quyền mang hình ảnh của con người đi về phía cao của ánh sáng, đủ sức bước tới, bước lên, có tay trái cầm đèn soi đường, có tay phải cầm cán cân của công lý.

Pháp lý có tuệ giác

Pháp lý có tuệ giác, ngữ pháp của một phạm trù giải luận nơi mà lý luận của luật pháp nhập nội vào không gian của trí tuệlý trí được hướng dẫn bởi lý-lập-nên-luận, có tuệ giác đưa đường dẫn lối bởi tuệ-làm-ra-giác. Đây là một mô thức diễn luận của tri thứ Pháp lý tuệ giác, ngữ pháp của một phạm trù giải luận nơi mà lý luận của luật pháp nhập nội vào không gian của trí tuệlý trí được hướng dẫn bởi lý-lập-nên-luận, có tuệ giác đưa đường dẫn lối bởi tuệ-làm-ra-giác. Đây là một mô thức diễn luận của tri thức đã trở thành sự cảnh giác, được trợ lực bởi đạo lý tỉnh táo của nhân phẩm song hành cùng luân lý sáng suốt của nhân vị, cả hai làm nên đạo đức của nhân tâm, nhân từ, nhân nghĩa. Tại sao phải làm rõ phạm trù giải luận pháp lý tuệ giác ? Lý do chính đáng tới từ thực tế của bất công, khi tòa án không dụng công lý để bảo vệ công bằng, để nạn nhân của bất công phải lãnh chịu một bất công không chấp nhận được, đó là bất công tới từ tòa án là công cụ của bạo quyền, của tà quyền, của ma quyền. Vào đường cùng khi toà án chỉ là công cụ độc tài và độc quyền của độc đảng để nạn nhân của bất công phải gào lên : tòa án lương tâm sẽ xử chúng !

Tuệ giác có nội lực của lý trí, của trí tuệ biết bảo hành nhân tâm, nhân nghĩa

Nếu phạm trù tòa án lương tâm, chỉ có lương tâm làm quan tòa cho mỗi người, thì những kẻ lãnh đạo bạo quyền, hoạt náo tà quyền, điều hành ma quyền, chúng không hề có lương tâm, vì không biết lương trị là gì, chỉ vì không có lương thiện làm nên bởi nhân tâm, nhân từ, nhân nghĩa, nên chúng sẽ không biết gì về tòa án lương tâm. Trên lý luận về luân lý, thì đây là một loại bất công vừa về đạo lý vừa về pháp lý. Vì vậy, tòa án lương tâm phải được trợ lực bằng tuệ giác có nội lực của lý trí biết bảo vệ nhân tri, nhân trí ; có trí tuệ biết bảo trì nhân tính, nhân lý ; có tuệ giác biết bảo hành nhân tâm, nhân từ, nhân nghĩa. Tất cả hệ nhân (nhân tri, nhân trí, nhân tính, nhân lý, nhân tâm, nhân từ, nhân nghĩa) này là định hướng, làm nên đường đi nẻo về cho nhân thế và nhân loại biết sống có nhân phẩm. Sung lực của pháp lý trí tuệ là dùng hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận) để bảo hộ cho hệ lương (lương tâm, lương tri, lương thiện) bằng hùng lực của hệ liêm (liêm chính, liêm khiết, liêm sỉ), cụ thể là biết khách quan hóa từ dữ kiện tới chứng từ, từ chứng tích tới chứng nhân, dùng trực luận để trao luận.

Nhân quyền : chân trời chung, chân trời mới

Chỉ báo làm nên chỉ số của pháp lý tuệ giác, phải có lý luận, song hành cùng bình luận sự kiện, dữ kiện ; lập luận, song đôi cùng phân tích thông tin, truyền thông ; giải luận, song cặp cùng giải thích sự cố, biến cố ; diễn luận song lứa cùng trao luận. Pháp lý tuệ giác, sẽ cao, sâu, xa, rộng hơn luật pháp hiện hành vì pháp lý tuệ giác luôn có chỗ dựa chắc, vững, bền, lâu của lý thuyết luận : khả năng vận dụng kiến thức mới để bồi đắp cho tri thức đang có. Với phương pháp luận phải là khả năng tận dụng mọi phương pháp để phương pháp này biết bổ sung cho phương pháp kia. Cùng khoa học luận chính là khả năng khách quan hóa các khám phá mới rồi phổ quát hóa bằng hệ thức (ý thức, kiến thức, tri thức, trí thức, nhận thức, tỉnh thức). Từ giá trị của tự do, của công bằng, nhân quyền đã ngự trị như pháp lý tuệ giác của những đòi hỏi chung vì nhân phẩm cho nhân vị. Câu hỏi cuối cùng khi ta nghiên cứu về nhân quyền chính là chân trời chung mà cũng là chân trời mới với các định đề, định luận vừa cũ, vừa mới, nhưng nhân quyền chính là kho tàng mà chúng ta luôn cần khai quật lên để thấy đựơc các giá trị nhân bản mới biết làm mới nhân quyền, có phải chăng đây chính là tuệ giác của nhân quyền ?

Đặc thù-đặc điểm-đặc tính của chủ thể

Chủ thể không chỉ là một cá nhân, nhận ra nhân diện đặc điểm của chủ thể không chỉ là một cá thể, nhận ra nhân dạng rất có đặc tính của chủ thể không chỉ là một công dân bình thường của chén cơm manh áo, tầm thường của giá áo túi cơm, mà chính cụ Tiên Điền đã mượn lời của Từ Hải để lập nên nhân cách của chủ thể chính là phản diện của loại người : "những phường giá áo túi cơm xá gì !". Chính liên kết của đặc thù-đặc điểm-đặc tính làm nên cá tính của chủ thể, rất nhiều với cá nhân, cá thể, công dân, ta sẽ thấy chủ thể cho xuất hiện trong hành động lẫn hành tác của mình ít nhất các hệ sau : hệ thông (thông minh, thông thạo, thông thái) ; hệ chuyên (chuyên cần, chuyên môn, chuyên nghiệp) ; hệ tinh (tinh lực, tinh thông, tinh hoa). Cả ba làm nên hệ sáng (sáng kiến, sáng chế, sáng tạo) chính là nội công, bản lĩnh, tầm vóc hay, đẹp, tốt, lành của chủ thể, biết chủ quyết trong đòi hỏi, biết chủ vị trong đấu tranh, biết chủ động trong đàm phán, nơi mà công bằng làm nên công lý vừa là động cơ vừa là mục đích của chủ thể. Nên đừng hàm hồ mong đợi là chủ thể sẽ nhắm mắt trước bạo quyền độc đảng, cúi đầu trước tà quyền tham quan, khoanh tay trước ma quyền tham tiền, quỳ gối trước cực quyền độc trị, khom lưng trước cuồng quyền độc tôn.

Thực thể nhân quyền : tự trọng để giữ gìn tự do

Thực thể nhân quyền luôn bị tấn công và công kích ngay bên trong hành tác của nó khi nó bảo vệ tuyệt đối tự do cá nhân, phạm trù nhân trọng được đề nghị trong tiểu luận này, đưa thuật ngữ nhân trọng vào ngữ pháp của tự trọng vì tự trọng giữ gìn tự do, nơi mà tự do tạo nên tự tin để đi tới tự chủ mà củng cố tự trọng, nếu tự do muốn bảo vệ tự trọng thì tự do phải biết tự giới hạn tự do của cá nhân trước tự do của tha nhân, của đồng loại. Tự trọng sẽ tự tan biến đi khi tự do tuyệt đối của một cá nhân đe dọa và trấn áp một tự do khác, tự do của tha nhân, tự do của của đồng loại ; tại đây tự do cá nhân sẽ tự cô lập mình vì chính nó đánh mất đi chính nghĩa của công bằng trước tha nhân, trước đồng loại.

Nhân trọng vì nhân quyền

Câu chuyện nhân trọng vì nhân quyền luôn là thử thách thường xuyên trong hành tác nhân quyền, nơi mà nó luôn gặp ít nhất ba trở lực đe dọa nhân phẩm ngay trong nhân quyền. Vì chủ nghĩa tự do cá nhân sinh ra chủ nghĩa ích kỷ của cá nhân, từ thái độ ai chết mặc ai tới cách hành xử bây chết mặc bây, đây chính là hiểm họa của nhân quyền chứ không phải chiến thắng của nhân quyền. Chủ nghĩa cạnh tranh kinh tế mà thực tế không những kẻ giàu ngày càng giàu hơn, người nghèo ngày càng nghèo hơn, với bất bình đẳng ngày càng nhiều, ngày càng sâu, mà còn có cả thảm trạng người bóc lột người. Chế độ nô lệ trong xã hội không còn nữa nhưng chế độ nô lệ trong lao động vẫn còn, với chủ bóc lột người làm công như súc vật, như máy móc, phải làm và chỉ làm mà không được nghỉ ngơi. Chủ nghĩa sở hữu tài sản, xuất hiện trong các quốc gia nơi mà chỉ có vài gia đình mà lại nắm trong tay đa số tài sản, tài nguyên, tài chính của một dân tộc ; nơi mà toàn cầu hóa hiện nay cũng là toàn cầu hóa của bất công về tài sản chung của nhân loại với khoảng trên dưới 30 gia đình đã giữ trong tay lượng tài sản hơn cả 3 tỷ cá nhân đang có mặt hiện nay trên thế giới. Thuật ngữ nhân trọng tại đây là đề nghị đôi, nơi mà nhân quyền phải song hành cùng nhân bản, nhân văn biết tự trọng, vì biết tôn trọng tha nhân và đồng loại. Và không quên nhân tri, nhân trí biết tự trọng, vì biết cẩn trọng bảo vệ tha nhân và đồng loại.

Dân chủ khử cuồng quyền

Khi dân chủ không chỉ là một thể chế lấy công lý để đảm bảo cho một chế độ vì tự do-công bằng-bác ái, mà còn là sinh hoạt dân chủ làm nên quan hệ dân chủ, với giáo dục dân chủ làm nên đời sống dân chủ. Muốn có tất cả thực tế này, thì sinh hoạt dân chủ luôn dựa vào thượng nguồn chính là tiền đề của dân chủ, đó là sự thật. Với sự thật từ dữ kiện tới chứng từ, từ giải thích tới giải luận để sự thật phải là chân lý, tức là gốc, rễ, cội, nguồn của mọi phân tích về cái thật của sự việc. Hãy định nghĩa sự thật : "sự thật là diễn biến của sự việc được mô tả trung tín từ quá khứ qua hiện tại cho tới tương lai". Sự thật luôn mang ít nhất ba nội chất : sử tính, đức tính luật tính. Chính sự thậtchân lý sẽ mở cửa cho lẽ phải xuất hiện, để sinh hoạt dân chủ luôn có hùng lực để chống mà loại đi cái nói sai của mỵ dân ; cái nói láo của đạo đức giả ; cái nói khoét của tuyên truyền. Mà tất cả ba : nói sai, nói láo, nói khoét đều có trong hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn) mà Việt tộc đã nghe quen tai, rền tai, điếc tai từ khi Đảng cộng sản Việt Nam nắm chính quyền. Thảm trạng của nói sai, nói láo, nói khoét không những là động cơ tuyên huấn của toàn trị mà còn là phản xạ của liên minh tham quyền-lạm quyền-lộng quyền mà sinh hoạt dân chủ quyết trừ khử cho bằng được ; nếu không nó sẽ vào quỹ đạo của cực quyền chính là cha sinh mẹ đẻ của cuồng quyền.

Mê thức của độc đảng, mê chấp của công an trị

Cực quyềncuồng quyền thì không đội trời chung với dân chủ, vì dân chủ lấy dân quyền để làm chủ quyềnnhân quyền ! Bi nạn độc đảng từ độc đoán đã bứng đi ba nội chất của sự thật : sử tính, đức tính luật tính, đã và đang đi trên lưng, trên vai, trên đầu của Việt tộc hiện nay là : nói sai của mỵ dân không bị xử, nói láo của đạo đức giả không bị phạt, nói khoét của tuyên truyền không bị án. Vì mê thức của độc đảng bằng công an trị làm nên độc quyền không có văn minh của nhân cách biết và phải từ chức khi nói sai, nói láo, nói khoét bị vạch mặt chỉ tên như trong sinh hoạt dân chủ. Cuộc đấu tranh cho dân chủ xuất hiện trên số phận của Việt tộc là cuộc đấu tranh gặp cũng ít nhất ba trở ngại : sử tính, mang sự thật lịch sử đã bị thay trắng đổi đen bởi Đảng cộng sản Việt Nam ; đức tính, mang giáo lý của tổ tiên Việt đã bị vùi dập bởi Đảng cộng sản Việt Nam ; luật tính, mang công lý của luật pháp đã bị bóp nghẹt bởi Đảng cộng sản Việt Nam. Khi cả ba : sử tính, đức tính, luật tính bị loại ra khỏi không gian quyền lực của độc tài, thì chính trị học và xã hội học đã có cùng một phân tích là : tính can đảm của nhân lý làm nên nhân phẩm sẽ đứng lên để lập lại : sử định, hiểu lịch sử và quyết định làm tốt hơn lịch sử ; đức định, hiểu đạo lý và quyết định làm tốt hơn giáo lý ; luật định hiểu công lý và quyết định làm tốt hơn công luật.

Chủ thể của sự thật

Liên minh sử định-đức định-luật định, làm nên luân lý của dân chủ, quyết định đúng tới tự quyết đoán đúng, với chủ thể can đảm bảo vệ sự thật để chủ động bằng nhân lý biết bảo vệ nhân phẩm. Mọi chọn lựa của can đảm có cái giá của nó, và cái giá của can đảm là chấp nhận hy sinh, với các hậu quả mà chủ thể của sự thật lường trước được là nói đúng sự thật để tố cáo độc tài là chấp nhận bị tra tấn bằng các ma thuật độc hại nhất. Nói đúng sự thật để luận tội độc trị là chấp nhận bị tù đày mà không được luật pháp bảo vệ. Nói đúng sự thật để buộc tội độc quyền là chấp nhận bị sát hại dưới nhiều hình thức. Với biệt danh "mưu hèn kế bẩn", cùng biệt hiệu "hèn với giặc, ác với dân" thì các lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã sử dụng cả ba : tra tấn, tù đày, sát hại, đây cũng là ba thảm bại của người cộng sản từ gần một thế kỷ qua khi cướp được chính quyền đưa lịch sử Việt vào ma sử của tà quyền trong độc trị. Rồi dẫn nhân lý Việt vào tà lộ của vô minh trong độc tài, và đẩy nhân phẩm Việt vào quỷ thuật của thất đức trong độc đảng.

Quỷ lộ "ác với dân"

Quỷ lộ "ác với dân" của bạo quyền độc đảng luôn toan tính để tính toán trên ba hành vi vắng đạo lý, trống luật pháp để chống lại sự can đảm với ba hậu quả và hậu nạn : tính khuất phục của quần chúng để áp đặt tính thuần hóa không nhân lý ; tính khiếp phục của quần chúng để áp đặt tính huấn nhục không nhân tính ; tính vô cảm của quần chúng để áp đặt tính vô giác không nhân tri. Mỗi lần tính khuất phục, tính thuần hóa, tính khiếp phục, tính huấn nhục, tính vô cảm, tính vô giác xuất hiện thì nhân lý, nhân tính, nhân tri sẽ tiêu loãng rồi tiêu tán cùng nhân phẩm. Ngược lại, hành tác dân chủ từ định chế tới sinh hoạt luôn luôn bảo vệ, vinh danh, thăng hoa nhân lý, nhân tính, nhân tri để bảo đảm nhân bản, nhân văn, nhân tâm làm nền cho nhân vị để nhân phẩm nhìn thẳng, đứng thẳng, đi thẳng tới sự thật, chân lý để gặp lẽ phải. Chính dân chủ đã tạo tiền đề cho nhân phẩm nhận ra là nhắm mắt trong khuất phục, cúi đầu trong thuần hóa, khoanh tay trong khiếp phục, quỳ gối trong huấn nhục, để quỵ trong vô cảm, gục trong vô giác không phải là nhân lộ mà là súc đạo của vô tri. Nếu nhận súc đạo là đường đi nẻo về của mục súc không tri thức, thì không khác gì gỡ, tháo, bỏ, vứt đi nhân quyền ngay trong nhân sinh.

Mô thức giải luận cuồng quyền

Khi tính khuất phục, tính thuần hóa, tính khiếp phục, tính huấn nhục, tính vô cảm, tính vô giác đã nhắm mắt-cúi đầu-khoanh tay-quỳ gối trước bạo quyền độc tài thì các nhục tính này phải chấp nhận một loạt những hệ lụy khác : tạo quyền liên minh với tà quyền để tham quyền ; bạo quyền liên minh với ma quyền để lạm quyền ; bạo quyền liên minh với quỷ quyền để lộng quyền. Tại đây các thuật ngữ : tà quyền, ma quyền, quỷ quyền không phải là những ngữ văn để chỉ trích, chê bai, thóa mạ, phỉ báng, mà chúng chính là những mô hình giải thích quyền lực của hệ bất (bất tín, bất trung, bất tài, bất nhân) diệt đạo lý, triệt pháp lý ; để từ đó chúng ta lập được mô thức giải luận để phân tích tham quyền, lạm quyền, lộng quyền, đây là các quyền lực chống hệ công (công lý, công luật, công pháp, công tâm). Nếu không giải luận rồi diễn luận tới nơi tới chốn quá trình từ mô hình giải thích tới mô thức giải luận, thì ta sẽ không thấy để thấu là trong quyền lực có hệ lụy mà tâm lý học, phân tâm học, tâm thần học, đã giải thích là bạo quyền sẽ thay hình đổi xác để thành cực quyền, một loại quyền lực tuyệt đối sẵn sàng khử trừ mọi đối trọng, đối kháng khác với nó. Bạo quyền sẽ thay thân đổi dạng để thành cuồng quyền, loại quyền lực tuyệt đối sẵn sàng truy diệt mọi đối thoại, đối luận khác với nó.

Mô thức giải luận cực quyền

Cực quyền là chuyện có thật tại Việt Nam hiện nay, chỉ một nhúm nhỏ có cực quyền trong Thành ủy của thành Hồ, đã ký một quy hoạch mà ta có thể gọi là quỷ hoạch biến hơn chục ngàn dân tại Thủ Thiêm là dân lành một sớm một chiều thành dân oan từ hơn hai mươi năm qua. Cuồng quyền là chuyện có thật tại Việt Nam hiện nay, chỉ cũng một nhúm nhỏ chóp bu nắm cuồng quyền đã dùng ba ngàn công an để hành sát xã Đồng Tâm, để hành quyết cụ Lê Đình Kình, một đảng viên kỳ cựu của Đảng cộng sản Việt Nam rồi phanh thây mổ bụng cho quần chúng xem để gây sự khiếp phục rồi thuần hóa quần chúng bằng cực của cực đoan, cuồng của cuồng điên ; bất chấp đạo lý của nhân tính, bất tuân công lý của pháp luật. Từ khi Đảng cộng sản Việt Nam cướp được chính quyền 1945, tới thắng cuộc trong nội chiến huynh đệ tương tàn, thì cực quyềncuồng quyền là chuyện "cơm bữa" ngày ngày gieo lên lưng, lên đầu con dân Việt. Khi nghiên cứu về sự khác biệt giữa thể chế dân chủ và bạo quyền độc đảng, thì ta phải đặt trước ánh sáng của sự thật để vạch trần bóng tối của âm binh, tại đây bạo quyền độc đảng chính là cha sinh mẹ đẻ của tà quyền, ma quyền, quỷ quyền ; rồi của tham quyền, lạm quyền, lộng quyền cho tới cực quyền, cuồng quyền.

trithuc9

Giáo lý của tự do

Chính tự do được bảo vệ sự thật đã hình thành sinh hoạt dân chủ, mà dân chủ không chỉ là một thể chế, một chế độ mà trước hết nó là giáo lý của tự do làm nên giáo dục vì công bằng, giáo khoa vì bác ái. Cũng chính tự do được bảo vệ sự thật dựng lên nhân sinh quan sống với sự thật, tạo ra thế giới quan đấu tranh vì sự thật, chế tác ra vũ trụ quan luôn minh bạch trước sự thật, để mở đường cho lẽ phải chính là nhân lộ của nhân bản. Khi con người để đánh mất tự do được bảo vệ sự thật, con người sẽ đánh mất tiếp ít nhất ba loại tự do khác dựng lên nhân vị của con người : tự do được giải thích để giải luận sự thật, tự do được đối thoại để đối luận về sự thật, tự do ngôn ngữ để ngôn thuận trước sự thật. Khi mất ba tự do này, thì con người đã xa văn minh dân chủ, đã rời văn hiến nhân quyền. Khi để tuột mất ba tự do này, thì con người đã mất nhân vị, đã bị lùi thấp trong nhân tri, mà tổ tiên Việt đã phân tích rõ ràng để phân loại rành mạch đó là số phận của con sâu cái kiến, ngắn cổ bé họng, ít hơi ngắn tiếng… Đây là thảm họa của Việt tộc dưới bạo quyền độc đảng hiện nay.

Cuộc tranh đấu vì nhân tính

Cuộc đấu tranh vì dân chủ trước hết là cuộc tranh đấu vì nhân tính, nơi mà nhân quyền đã mở các chân trời để công dân thành chủ thể. Nơi mà chủ thế của sử tính, hiểu lịch sự để làm tốt hơn lịch sử ; chủ thế của đức tính, hiểu đạo đức để làm đẹp giáo lý ; chủ thế của luật tính, hiểu công bằng để giữ công lý. Sự kết hợp các khảo sát đã mở đường cho liên minh trong nghiên cứu của tất cả các ngành khoa học xã hội và nhân văn, để từ đó có đồng thuận trong phân tích và giải thích về hậu quả mất nhân tính trước độc tài của độc đảng sự tha hóa trong quyền lực đã biến bạo quyền khi trở thành tà quyền, ma quyền, quỷ quyền, đã đẩy nhân sinh vào lộ trình vô nhân tính ; bạo quyền khi trở thành tham quyền, lạm quyền, lộng quyền đã đẩy nhân loại vào lộ trình vô nhân bản ; bạo quyền khi trở thành cực quyền, cuồng quyền đã đẩy nhân thế vào lộ trình vô nhân văn.

Mất mát sinh lực giống nòi

Trong tư duy sâu lắng nhất của mọi công dân Việt, chúng ta phải trả lời các câu hỏi chúng ta đã : được gì ? mất gì ? ngay trong nhân kiếp hiện nay của chúng ta dưới độc quyền của Đảng cộng sản Việt Nam. Chúng ta tin và nghe lời các lãnh đạo cộng sản kháng chiến để giành lại độc lập cho dân tộc trong tay thực dân, đế quốc để bây giờ chính các lãnh đạo cộng sản đã nhận Tàu tặc đã cướp đất, biển, đảo của chúng ta, xem bọn Tàu tà này là bạn, là anh, là cha thì chúng ta được gì ? mất gì ? Chúng ta tin và nghe lời các lãnh đạo cộng sản khi thống nhất đất nước là sẽ xây dựng đất nước đẹp hơn 10 lần xưa, bây giờ đất nước là bãi rác của ô nhiễm hóa chất của Tàu họa, nhiễm ô bất nhân với môi trường, thất đức với môi sinh, từ boxite Tây Nguyên tới thảm họa Formosa, với nhiệt điện than của Tàu nạn trùm phủ lên số phận Việt, thì chúng ta được gì ? mất gì ?

Chúng ta tin và nghe lời các lãnh đạo cộng sản để đánh đổi cả tự do, để chọn an ninh xã hội kiểu công an trị, bây giờ chính công an tổ chức đánh bạc lận, cướp đất giết người, cướp của giữa ban ngày cùng với côn đồ, du đảng, lưu manh của xã hội đen, thì chúng ta được gì ? mất gì ?

Chân trời của dân chủ và nhân quyền

Chúng ta tin và nghe lời các lãnh đạo cộng sản để đánh đổi công bằng trong văn minh để cúi đầu trước tư bản đỏ, tư bản thân hữu, của loại tư bản man rợ của tiền tệ-quân hệ-hâu duệ với phản xạ cướp ngày là quan, đã biến hằng triệu dân lành thành dân oan, thì chúng ta được gì ? mất gì ? Chúng ta tin và nghe lời các lãnh đạo cộng sản để đánh đổi bác ái có trong dân chủ để nhận độc đảng trong độc quyền để độc tôn sau khi vơ vét bằng tham nhũng, sau khi nạo vét tới cùng tận tài nguyên đất nước bằng tham ô ; cùng lúc dùng xuất khẩu lao động để vơ vét tiếp, biến nhân kiếp lao động Việt thành lao nô, nô tỳ cho các quốc gia láng giềng thì chúng ta được gì ? mất gì ? Hãy trả lời cho rành mạch là : Nếu không có các giá trị nhân bản của cộng hòa là tự do, công bằng, bác ái thì nhân kiếp Việt còn giữ được nhân phẩm Việt trước nhân vị Việt không ? Nếu không có các giá trị nhân lý của dân chủ là đa nguyên trong nhân quyền nhân sinh Việt còn giữ được nhân trí Việt trước nhân tâm Việt không ? Hãy chọn các câu trả lời hợp với Nhân tâm Việt trong một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ ; nhân từ Việt trong bầu ơi thương lấy bì cùng ; nhân nghĩa Việt trong miếng khi đói bằng gói khi no. Mà các câu trả lời chỉnh lý trong toàn lý đã có mặt trong các chân trời của văn minh dân chủ văn hiến nhân quyền.

Lý tri tỉnh táo trong trí tuệ sáng suốt

Lý trí tỉnh táo làm nên trí tuệ sáng suốt, cả hai hợp lực để làm nên tuệ giác, sự giác ngộ của nhân tri, có cảnh giác của nhân trí về quyền làm người trong tự do, công bằng, bác ái. Liên minh của lý trí-trí tuệ-tuệ giác, không hề mơ hồ cũng không hề trừu tượng, cả ba có sức mạnh giúp ta nhận ra hai chuyện ngay trong đời sống ; Hiểu được thì giải thích được, giải thích được thì xem như đã hiểu rồi, nơi mà hiểu biết và giải thích không phải là hai hành tác khác nhau, mà chỉ là một, một không gian và không có biên giới nên không cần trung gian để nối nhịp cầu giữa hiểu biết và giải thích. Hiểu được ngay thì giải thích được ngay, ngay trong quyền làm người của mình, tức là quyền được sống yên mà không là nạn nhân hay thủ phạm phản nhân quyền. Chính quyền làm người này đưa chúng ta tới quyền mưu cầu hạnh phúc, mà không một bạo quyền, tà quyền, ma quyền, cực quyền, cuồng quyền nào được quyền tước đoạt.

Nhân quyền là tự truyện về mức độ làm nên trình độ

Quyền được làm người song lứa với luật bảo vệ người chính là chủ lực của tuệ giác. Khi nhận ra được hai mệnh đề trong cùng một mệnh để chung tên là nhân quyền. Thì nhân quyền vừa là cơ hội đối thoại giữa các dân tộc khác nhau, giữa các văn hóa và văn minh khác nhau có thể đối luận được với nhau qua quyền được làm người, luật bảo vệ người. Vừa là cơ hội tiến bộ của mọi dân tộc khác nhau, của mọi văn hóa và văn minh dù khác nhau, nhưng biết lấy nhân vị, nhân bản, nhân văn làm nội lực cho nhân quyền. Đây là hình ảnh của con người đi về phía cao của ánh sáng ; đủ sức bước tới, bước lên, có tay trái cầm đèn soi đường, có tay phải cầm cán cân của công lý. Câu chuyện nhân quyền là tự truyện về mức độ làm nên trình độ, khi ta có bác ái với lòng trắc ẩn chia ngọt sẻ bùi với tha nhân, chia sẻ niềm đau nỗi khổ với đồng bào, với đồng loại thì chữ nhân của nhân loại sẽ có được tầm vóc cao, kích thước rộng, nội công mạnh, bản lĩnh lớn hơn hẳn ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu… Vì kẻ chỉ biết ích kỷ, vị kỷ, tư lợi, tư hữu thì có thể làm người nhưng chưa chắc đã được thành nhân. nhân đây có gốc rễ, cội, nguồn của nhân tâm, nhân từ, nhân đạo, nhân nghĩa, nhân bản làm nên sung lực trong lý luận rồi hùng lực ngay trong đấu vì nhân quyền. Tại đây, nhân quyết là không gian tri thức trong đó có chủ quyết để chủ động đấu tranh vì công bằng mà chống bất công, nên nhân quyền vừa là hành động của hiện tại, vừa là hoài bão của tương lai, vừa là quy trình đấu tranh hằng ngày, vừa là chân trời trước mắt.

Ý thức của sáng kiến

Hệ sáng, đây là sung lực của thông minh, là cường lực của thông thái, để có sáng kiến tìm lối thoát ngu dân, để vượt thoát ngu dốt, rồi vượt thắng tà quyền chỉ biết lấy tuyên truyền một chiều để bịt mắt, bịt miệng, bịt tai nhân dân. Chính sáng kiến để cải tổ, cải cách dọn đường cho sáng chế, tức là những hành động phát minh cụ thể để thay đổi tức khắc đời sống đầy khuyết tật tới từ ngu dân hóa. Và, ý thức của sáng kiến kết hợp với hành động của sáng chế làm nên sáng tạo như sự thông minh được áp dụng vào thực tế để thay đời đổi kiếp vì biết diệt ngu dân. Chính phương trình sáng kiến-sáng lập-sáng tạo vừa là động cơ mà cũng vừa là bão táp quét chớp nhoáng mọi hệ lụy ra từ ngu dân, nơi mà tà quyền làm đui, què, câm, điếc nhân tính ; làm xấu, tồi, tục, dở nhân tri. Hệ công, trong đó tà quyền chôn sống công bằng, thủ tiêu công lý để siết cổ cho tới ngộp công pháp ; phương trình công bằng-công lý-công pháp là nền của công tâm để giữ lương tâm cho nhân loại luôn có nhân tri, là gốc của công minh để giữ lương tri cho nhân tính luôn có nhân trí. Sự kết hợp ở thế liên hoàn 5 hùng lực công bằng-công lý-công pháp-công minhcông tâm thường làm nên những trận đại hồng thủy mà không có một thành lũy tà quyền nào có thể đứng vững được.

Tri kiến biết giữ vững ý thức

Tri kiến là tri thức thực được xây dựng bằng kiến thức thật, nó vừa có thể lực của chứng minh, vừa có trí lực của xác chứng, có tâm lực trong mọi chứng từ. Nó giải thích và lột mặt nạ chớp nhoáng mọi ý đồ ngu dân hóa của tà quyền qua thông tin, dữ kiện, chứng nhân… Nên nó luôn mang theo trong sung lực của hiệu quả thực của giải phóng thật, tích cực thực của cách mạng thật, nó biết trần trụi hóa được tà quyền để phóng thích các nạn nhân của ngu dân. Khi tri kiến thành lý trí thì nó đã trở thành tư tưởng để con người kiểm định trong sáng suốt, kiểm tra trong tỉnh táo mọi hành động của mình, nơi đây tà quyền với trò ngu dân hóa của nó không có chỗ đứng lẫn chỗ ngồi trong tri kiến. Khi lý trí đúng được xây dựng bởi tri kiến thật, nó có khả năng dò xét tận tường các thông tin, phân định kỹ lưỡng vai trò của truyền thông để loại tuyên truyền một chiều kiểu lưỡi gỗ ra khỏi trí tuệ, để lý trí và trí kiến không bị ô nhiễm bởi ý đồ của tà quyền. Quan hệ giữa lý trí và não trạng rốt cuộc chỉ là một khi tri kiến và tuệ giác cùng nhau ngự trị để giữ vững ý thức luôn phải chỉnh lý qua tin tức chỉnh, qua truyền thông chỉnh, đây là quá trình kết hợp hài hòa lý trí-tri kiến-tuệ giác-ý thức để bảo đảm sự chỉnh lý trong mỗi hành động, để bảo trì cho mọi cá nhân, mọi tập thể, mọi cộng đồng sự hợp lý để sống cuộc sống đáng sống. Tri kiến mang bản lĩnh của tri thức, nội công của kiến thức, để bảo đảm từ phân tích tới quyết định, từ hành động tới phân xử, trong đó tri kiến luôn trực diện để đấu tranh trước mọi chính sách ngu dân hóa của tà quyền.

Lý trí học đường, trí tuệ xã hội

Khoa học giáo dục hiện đại đã đi xa, đi rất xa qua các nghiên cứu, điều tra, khảo sát để phân tích và giải thích : quy định của không gian giáo dục, quy luật của môi trường học đường có những đặc tính, đặc thù, đặc điểm riêng của nó. Không gian giáo dục là không gian xã hội với các thành phần xã hội, tại đây các thành phần xã hội này có cùng một điểm hội tụ : dụng đạo lý (chân, thiện, mỹ) để dựng ý thức về luân lý (bổn phận và trách nhiệm) cho công dân. Môi trường học đường là môi trường xã hội với các thành phần xã hội, tại đây các thành phần xã hội này có cùng một chân trời : dụng kiến thức để dựng tri thức. Mê tín và dị đoan của cuồng giáo, cực đoan và quá khích của ý thức hệ độc tôn không đường đi nẻo về trong môi trường này. Sự liên minh giữa sự hội tụ dụng đạo lý (chân, thiện, mỹ) để dựng ý thức về luân lý (bổn phận và trách nhiệm) của công dân, và chân trời dụng kiến thức để dựng tri thức làm nên : một không gian sáng, một môi trường sạch. Tại đây, mọi thành phần xã hội được làm thành viên của không gian sáng này, mọi thành viên khi được vào, được học tập trong môi trường sạch này, biết tôn vinh cái sáng của tri thức, biết vinh danh cái sạch của đạo lý.

Tôn vinh cái sáng của tri thức

Khi phân tích để có nhận thức tôn vinh cái sáng của tri thức, và vinh danh cái sạch của đạo lý, luôn tìm cách đi sâu thêm để phân tích không gian giáo dục và môi trường học đường. Xã hội học đường là xã hội hiện đại nhất, tại đây các khám phá khoa học, các khai phá kiến thức, các phương pháp khai trí mới nhất được giảng-dạy-tiếp-nhận sớm hơn sinh hoạt xã hội bên ngoài, nhanh hơn quan hệ xã hội bên ngoài. Xã hội học đường là xã hội khách quan nhất, tại đây tin tức phải được chiêm nghiệm như dữ kiện, để tìm ra chứng từ, mà mọi chứng từ đều phải được chứng minh qua thí nghiệm hoặc thể nghiệm để được phân tích khách quan, được giải thích khoa học, nơi đây mê tín không có chỗ đứng, nơi đây cuồng ý thức hệ không có ghế ngồi. Xã hội học đường là xã hội chỉnh lý nhất, tại đây lý luận phải sát lý, lập luận phải toàn lý, giải luận phải minh lý, nơi đây tin đồn không kiểm chứng được, định kiến không minh chứng được đều không có chỗ nương thân, nếu không có phương pháp giải lý khách quan minh bạch.

Nhận diện toàn lý về kiến thức

Khi nghiên cứu về các chính sách giáo dục, thì sử dụng cấu trúc luận để đưa vào giáo khoa, khi sử dụng tri thức luận để đưa vào cho giáo trình, khi sử dụng chức năng luận để đưa vào giáo án[2], thì nhận định không gian giáo dục trước hết là không gian của nhân tính, nó thẳng tay loại bỏ thú tính có trong bản năng đói ăn khát uống đưa tới ăn tươi nuốt sống dẫn tới ăn giựt uống trộm. Trong không gian này, từ học sinh tới sinh viên biết trên kính dưới nhường, biết bầu ơi thương lấy bí cùng, biết một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ. Không gian giáo dục trước hết là không gian của tri thức, nó xếp đặt chỉnh lý kiến thức để tạo ra cấu trúc hợp lý cho tri thức, xa hơn nữa nó nhận diện một cách toàn lý về thứ tự của các kiến thức, và dùng giáo khoa qua thời gian để đào tạo, để huấn nghiệp, để gầy dựng sự trưởng thành của tri thức, luôn song hành với sự trưởng thành của một công dân có trách nhiệm với dân tộc, có bổn phận với đất nước. Không gian giáo dục trước hết là không gian của phương pháp, nó dạy cách học, nó hướng dẫn cách biết, nó định hướng cách trao, nó quy định cách truyền, tất cả quy trình học-biết-trao-truyền toàn lý qua phương pháp : biết được thì hiểu được, qua phương pháp luận hiểu được thì giải thích được, mà giải thích được thì xem như đã hiểu rồi. Chính phương pháp cho phép sự qua lại toàn diện giữa hiểu biếtgiải thích, ranh giới của hiểu biết và giải thích sẽ được "xóa" đi, bằng vai trò và chức năng của phương pháp.

Đối thoại bằng đối luận

Hãy nhận ra được các luận kết sau đây cho không gian giáo dục, cho môi trường học đường trong hệ thống giáo dục là một định chế nhận nhiệm vụ đôi tổ chức có phương pháp từ giáo dục tới giáo khoa, từ giáo trình tới giáo án, nhiệm vụ đôi này là cặp bài trùng của mọi giáo luận : tri thức tuyền thống của tổ tiên song hành cùng tri thức khoa học đương đại và hiện đại. Hệ thống giáo dục là một định chế nhận đối thoại có đối trọng không những giữa các trường phái giáo khoa khác nhau trên giáo lộ đi tìm giáo khoa đa hiệu nhất, giáo trình hiệu quả nhất, giáo án hiệu năng nhất ; mà đây là nơi mà các phái bảo vệ truyền thống có thể đối thoại bằng lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận với các phái tôn vinh hiện đại hóa giáo dục dựa trên hiện đại hóa khoa học kỹ thuật đang hằng ngày làm thay đổi xã hội và nhân sinh. Hệ thống giáo dục là một định chế nhận nhân lý đúng (chỉnh lý, hợp lý, toàn lý) để chế tác ra nhân sinh quan đúng trong quan hệ giữa cá nhân, tập thể, cộng đồng và xã hội. Môt nhân sinh quan đúng sẽ tạo dựng lên một thế giới quan đúng trong quan hệ quốc tế giữa các quốc gia, các sắc tộc, các văn hóa, và một thế giới quan đúng sẽ gầy dựng được một vũ trụ quan đúng trong đó môi trường là môi sinh, mà con người phải sống chung trong sự tôn trọng các sinh vật khác, trong đó không những có động vật, có thực vật mà có sự sống của cả một hệ sinh thái luôn cần sự tôn trọng và che chở của con người.

Lý tính – lý tín – lý tin

Khi đi sâu vào các hệ thống giáo dục mà nhân loại đã trải nghiệm, chúng ta sẽ nhận ra các hằng số giáo dục sau đây, các hằng số này quyết định sự tồn tại và sau đó là sự phát triển của một nền giáo dục, luôn là chỗ dựa vững chắc cho đời sống xã hội, cho sinh hoạt xã hội, cho quan hệ xã hội của một quốc gia, của một dân tộc. Lý tính của giáo dục, lấy lý luận để lập luận, lấy cái để thắng vô minh, lấy cái lý để làm nên cái trí, trong đó lý trí vừa là não bộ, vừa là cột xương sống của trí tuệ. Lý tín của giáo dục, nơi mà đi học là đi để nhận các kiến thức trực tiếp mắt thấy tai nghe, để biết vô trương bất tín (không thấy không tin), thấy rồi mới tin, tức là tin có cơ sở qua thí nghiệm để xác chứng bằng minh chứng. Lý tin của giáo dục, nơi mà đi học là đi để nhận các kiến thức gián tiếp qua lịch sử, qua hồi ký, qua văn học, qua tư tưởng… đó là khi học sinh, sinh viên tiếp cận các chứng tích của tổ tiên, các tác phẩm văn học, triết học… của các tác giả có giá trị cho giáo khoa, giáo trình, giáo án.

Trung tâm giáo lý, ngã tư giáo luận

Khi giáo dục đưa quy trình học-biết-trao-truyền để định hướng giáo khoa, lập khung giáo trình, cấu trúc giáo án, thì trung tâm của giáo dục vẫn là giáo lý : lấy lý luận của đạo lý hay, đẹp, tốt, lành để định vị luân lý làm kim chỉ nam cho bổn phận và trách nhiệm của một công dân đối với dân tộc, đất nước, và ngày càng rộng hơn : đối với nhân loại, môi trường. Giáo lý là một tâm điểm của giáo dục với các giá trị luân lý làm nên cho thường thức công dân, trong đó tha nhân được tôn trọng trong đời sống xã hội, sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội. Với quyền công dân, trong đó có quyền lợi được hưởng các công sản, trong đó có quyền được giáo dục và thành công nghề nghiệp, kinh tế, xã hội qua một hệ thống giáo dục. Khi giá trị luân lý tạo dựng được sự hình thành của một công dân, có quyền công dân trong việc sử dụng mọi công sản, trong đó được hưởng một hệ thống giáo dục, trực tiếp giúp công dân đó trong việc tiến thân, thì hai phạm trù khác phải xuất hiện trong sự trưởng thành của một công dân qua hai đòi hỏi : đòi hỏi nhân quyền, cụ thể là tận hưởng một hệ thống giáo dục, trong một nhân sinhnhân tính, nhân lý, nhân tri, nhân trí ; trong một nhân loạinhân vị, nhân bản, nhân văn, nhân phẩm. Và đòi hỏi dân chủ, khi dân chủ trực tiếp chống được bất bình đẳng trong xã hội, chống được bất công trong giáo dục, để tạo ra những điều kiện thuận lợi, những cơ may cần có để mọi người đều có thể hưởng bốn giai đoạn của một đời người : thành công học đường-thành tài nghề nghiệp-thành đạt kinh tế-thành tựu xã hội.

Giáo dục tôn vinh hệ đa

Phải trở lại hiện trạng giáo dục Việt Nam hiện nay học giả-thi giả-bằng giả trong mua điểm-bán trường để mua bằng bán chức trong thực trạng mua chức bán quyền là thực tế của một hệ thống giáo dục bị ung thư toàn bộ, từ trí thức tới đạo lý, từ học tới biết, từ trao tới truyền. Buôn học vị để lận học hàm tức là gian trong học lực, cụ thể là hủy diệt từ thượng tầng giáo dục, giáo khoa tới hạ tầng giáo trình, giáo án ; trong khi nhiệm vụ của giáo dục là bảo đảm sự thật của kiến thức, chân lý của tri thức và lẽ phải của ý thức. Tại đây, lý do làm ra thảm họa giáo dục hiện nay chính là nguyên nhân tạo ra hoạn bịnh giáo dục trong một chế độ độc đảng công an trị, trá hình dưới ý thức hệ cộng sản nhưng luôn bị lũng đoạn bởi các nhóm lợi ích, mà thực chất là một tập đoàn tội phạm, có sinh hoạt bầy đàn như các nhóm mafia, lấy tham quan để tham ô, lấy tham chức vì tham nhũng, trong đó độc tài do độc đảng nhưng bất tài từ kinh tế tới văn hóa, từ quốc phòng tới giáo dục… lấy độc tôn để độc trị không ngần ngại diệt nhân tài, hủy nguyên khí của quốc gia ngay trong trứng nước của hệ thống giáo dục. Trong khi đó thực chất của giáo dục có kiến thức giáo dục tới từ đa tài, có tri thức giáo dục tới từ đa năng, có ý thức giáo dục tới tự đa trí.

Giáo dục tôn vinh hệ đa (đa tài, đa năng, đa trí, đa hiệu…), nên hệ độc (độc đảng, độc tài, độc tôn, độc trị) chỉ là quái thai sinh ra quái dạng đang sinh sôi nẩy nở trong hệ thống giáo dục, trong đó không gian giáo dục phải là môi trường sáng của trí tuệ, phải là môi trường lành của đạo lý.

Cùng hiểu để chung hiểu

Một ngày kia, khi tà lộ giáo dục hiện nay bị xóa đi, thì nhiệm vụ đầu tiên của các lãnh đạo giáo dục có lương tri (tri thức của lương tâm) phải đưa giáo dục nước nhà trở lại minh lộ của trí tuệ và đạo lý, để nhận ra học để hiểu nhưng muốn hiểu phải biết nhận, biết tiếp nhận kiến thức có giáo khoa nghiêm minh, có giáo trình nghiêm chỉnh, có giáo án nghiêm túc, cụ thể là học-tiếp-nhận-hiểu có phương pháp, có phân tích, có giải thích, có phê bình… Trao để truyền, mà thượng nguồn là mọi người đều phải học, vị học thật chính là học lực, nó quyết định học vị qua bằng cấp, học hàm qua định vị giáo dục, chính học lực làm rõ hai chuyện : chuyện thứ nhất, học lực là gốc của học vị, cội của học hàm ; và chuyện thứ hai, học lực không giả mạo được, vì nó có gốc, rễ, cội, nguồn từ kiến thức tới tri thức, nên nó không cho phép học giả, học tắt, học lóm, học vờ, học phớt. Hãy nhận diện rõ nhiệm vụ của giáo dục qua tổ chức của giáo khoa. Giáo dục có nhiệm vụ rõ ràng trong tổ chức giáo khoa, đó là sự tổ chức qua thời gian của giáo trình, qua diễn biến của giáo án về các kiến thức chung phải có của thầy cô khi truyền dạy tới học sinh, sinh viên, và các kiến thức này tới từ trải nghiệm, tức là tới từ : quá khứ, kinh nghiệm, lịch sử… Các kiến thức chung được sự cùng hiểu ; khi truyền đạt để trao truyền kiến thức thì sẽ có : sự chung hiểu, cả ba (kiến thức chung, sự cùng hiểu, sự chung hiểu) làm nên sự liên kết và liên minh giữa giáo dục, giáo khoa, giáo trình, giáo án.

Chuyển biến văn hóa chậm, chuyển biến xã hội nhanh

Các diễn biến của tri thức, không những tới tự khoa học, mà còn tới tự xã hội, tự truyền thông… nên liên kết rồi liên minh với xã hội học giáo dục là cần thiết. Giáo dục được tổ chức qua giáo khoa, giáo trình, giáo án đòi hỏi sự ổn định, tức là thời gian tính của đường dài trong thời gian để một học trò mẫu giáo, tiểu học trở thành học sinh của trung học rồi sinh viên của đại học. Nếu chọn giáo dục rất nhanh vì nhạy với các khám phá khoa học, kỹ thuật hiện đại, nhưng cùng lúc nó cần thời gian tính của trường kỳ để đào tạo có bài bản, chính vì lý do này mà nó sẽ không theo kịp của chuyến biến văn hóa qua các thế hệ ; và thế hệ các thiếu nhi, thiếu niên, thành niên của thế kỷ này khác khá nhiều với các thế kỷ trước. Chính các chuyến biến văn hóa của một sắc tộc, một quốc gia, một cộng đồng, một địa phương… lại luôn chậm hơn các chuyến biến xã hội, nơi mà đời sống xã hội luôn được truyền thông hiện đại hỗ trợ hay can thiệp ; nơi mà sinh hoạt xã hội luôn áp dụng các khoa học kỹ thuật hiện đại nhất để tăng hiệu quả, tăng năng suất ; nơi mà quan hệ xã hội giữa các thành phần xã hội luôn được định hướng bởi các phương án mới, hoặc bị điều khiển bởi sự xuất hiện của các lợi nhuận mới.

Các phong trào xã hội mới, các lực lượng xã hội mới

Các hệ thống giáo dục chuyển biến chậm hơn các chuyển biến văn hóa, chuyển biến văn hóa lại chuyển biến chậm hơn các chuyển biến xã hội, và chính các chuyển biến xã hội trong quá trình chuyển biến của nó, thì nó nhận ra là nó chuyển biến chậm hơn các phong trào xã hội mới. Và, các phong trào xã hội này có hùng lực để chế tác ra các lực lượng xã hội mới không những biết đòi hỏi tự do, công bằng, bác ái ; mà còn biết cổ vũ cho nhân quyền, dân chủ, đa nguyên, lại còn biết thực hiện các tổ chức nhân đạo, từ thiện rất mới về thông tin và truyền thông, lại còn biết cổ súy cho nhân loại và nhân sinh phải bảo vệ môi trường để gìn giữ môi sinh. Các nhận định trên giúp ta trở lại không gian giáo dục, môi trường học đường hiện nay của Việt Nam, với lãnh tụ độc đảng tại trung ương vô tri trước các diễn biến này có mặt trong các quốc gia văn minh, tiên tiến ; với các lãnh đạo của Bộ Giáo dục rất vô minh về các kinh nghiệm hay, đẹp, tốt, lành của giáo lý, luôn biết kết hợp rồi liên kết làm nên phương trình thông minh cho giáo khoa : hệ thống giáo dục-chuyển biến văn hóa-chuyển biến xã hội-chuyển biến qua các phong trào xã hội mới, các lực lượng xã hội mới. Nên hậu quả rất tai hại hiện nay của nền giáo dục Việt Nam hiện nay của độc đảng rất độc tài nhưng lại bất tài về giáo dục ; với các lãnh đạo của Bộ Giáo dục thích độc trị nhưng không biết quản trị phương trình này.

Nghiêm cẩn của giáo lý

Sự liên minh giữa khoa học giáo dục, xã hội học giáo dục và triết học chính trị giáo dục trong các hệ thống tổ chức giáo dục hiện đại, lại đi ngày càng xa qua các khảo sát, để được ra các nhận định mới, từ đó yêu cầu các chủ thể giáo dục (có trách nhiệm với học đường, có bổn phận với học sinh, lại có sáng kiến để có sáng tạo qua giáo khoa, giáo trình, giáo án). Khi khoa học kỹ thuật đưa tiến bộ vào xã hội, nó trực tiếp hay gián tiếp tạo ra tiện nghi vật chất, chính các tiện nghi này ngày càng nhiều sinh ra một loại xã hội tiêu thụ, trong đó có tâm lý hưởng thụ có thể lấn lướt việc học hành luôn đòi hỏi sự chăm chỉ, chuyên cần, kiên định (có công mài sắt có ngày nên kim), ngược lại với chuyện tận hưởng các tiện nghi (chờ sung rụng).

Khi thời gian bị trùm phủ bởi tiện nghi vật chất, được kích thích bởi tâm lý tiêu thụ dễ dãi và chớp nhoáng, thì chính các tiện nghi vật chất này vừa không khuyến khích chuyện chăm học, lại giới hạn quyết tâm tự học. Khi có thái độ tiêu thụ ngay trong các tiện nghi, với các thói quen chỉ biết tận hưởng các tiện nghi này, tại đây sẽ tạo ra bản năng "đói ăn, khát uống" sinh ra phản xạ "ăn ngay, uống liền", với thái độ thụ động của "ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau". Trong khi đó, đi học là "lội suối trèo đèo" để có kiến thức, "vượt rừng, thắng núi" dựng tri thức. Khi mang bản năng loại "ăn tươi nuốt sống" thì sẽ không có trí tuệ "nói uốn lưởi bảy lần", nếu chỉ biết "hưởng ngay, xài liền" thì sẽ mất cẩn trọng "bút sa gà chết", quên đi đi học là để thành người khôn : "Người khôn chưa đắn đã đo, chưa ra tới biển đã dò nông sâu".

Hiệu quả giáo dục qua đối thoại giữa các thê hệ

Khi khảo sát về các diễn biến không hay, không đẹp, không tốt, không lành này trong các hệ thống giáo dục đương đại và hiện đại, có nêu lên quá trình xấu, tồi, tục, dở của nó ; vì nó biến một xã hội tiêu thụ chiếm học đường trở thành một xã hội tiêu thụ mất học đường ! Chính tại đây, sinh ra một hiểm nạn cho giáo dục, là biến chúng ta ngày càng nghiêm khắc hóa giáo dục, để o ép hóa giáo trình, bằng cách cứng ngắc hóa sự phát triển của một đứa trẻ đang trưởng thành qua cuộc sống, đây là chuyện phản lại sự thông minh của học sinh đang đi tìm kiến thức, cụ thể là chúng ta chế ra để áp chế cách nghĩ là : trẻ con phải học (học sớm, học đầy, học nhiều, học hoài) cùng lúc đó chúng ta không cho phép chúng được sống chung để sống chia với thế giới người lớn những kinh nghiệm hay, đẹp, tốt, lành của các thế hệ đã trưởng thành, vì đây cũng là học và tại đây hiệu quả giáo dục sẽ rất cao qua đối thoại giữa các thế hệ, mà không hề có chuyện cả vú lấp miệng em. Chúng ta đặt thầy cô trên cao bằng quyền lực của giảng dạy, chúng ta để học sinh dưới quyền lực của giảng dạy một chiều, thầy cô nói một mình trong độc thoại, mà không có đối thoại để đối luận, phản biện để phản luận, để giúp cho kẻ ở trên cao là thầy cô, kẻ ở tận dưới là học sinh gần nhau hơn, qua đối thoại để trực luận, trực luận đúng để trao luận trúng.

Giáo dục mở, giáo dục rộng, giáo dục thông

Chúng ta được học sinh tới trường là để chỉ có học, cùng lúc chúng ta cô lập hóa học sinh, ra khỏi môi trường xã hội, mà trong sinh hoạt xã hội cũng có khoa học (các viện nghiên cứu), cũng có nghệ thuật (các bảo tàng viện), cũng có học thuật (các tác phẩm trong thư viện). Hãy mở (cửa) hệ thống giáo dục để mở (trí) các chủ thể giáo dục. Sự liên minh ở thế liên hoàn bằng chính sách giáo dục cụ thể giữa khoa học giáo dục, xã hội học giáo dục và triết học chính trị giáo dục, đề nghị giáo dục mở là đưa kiến thức học đường gặp giáo lý xã hội, tri thức khoa học, cả hai có hùng lực ngay trong sinh hoạt xã hội, đời sống xã hội, quan hệ xã hội. Giáo dục đóng cửa sẽ đưa học đường vào ngõ cụt. Giáo dục rộng luôn biết chuyển biến phản xạ khép, lấy hệ thông (sự thông thái của giáo khoa để làm nên sự thông suốt của giáo trình, dựng lên sự thông minh của giáo án). Giáo dục thông luôn biết áp dụng hệ thông (thông thái, thông suốt, thông minh) để chế tác ra hệ sáng (sáng kiến mở đường cho sáng tạo làm ra khám phá trong sáng chế).

trithuc10

Quá trình từ cá thể thành chủ thể

Nếu lấy ba phân tích trên : giáo dục mở, giáo dục rộng, giáo dục thông để đi tìm mô thức tổ chức thích hợp cho một hệ thống giáo dục, thì phải biết thực hiện ít nhất các chuyện sau học sinh dù ở bất cứ tuổi nào đều là một cá thể, mà học đường là nơi giáo dưỡng trí tự chủ, tâm tự tin, quyền tự do biết học để tự học. Học sinh lớn lên trong môi trường học đường, là lớn theo quá trình từ cá thể thành chủ thể : có bổn phận với đồng bào, đồng loại ; có trách nhiệm với quê hương, đất nước, lại có sáng tạo để nâng đạo lý hay, đẹp, tốt, lành cho nhân sinh, nhân thế. Học sinh trưởng thành trong môi trường học đường, trở thành sinh viên để trưởng thành trong xã hội, với vai trò của một công dân theo quá trình của chủ thể trí tuệ, có lý trí trong đề nghị, có chính tri trong quyết định, có tuệ giác trong hành động. Học đường không bao giờ cách biệt với xã hội, cũng như giáo dục không bao giờ xa biệt với giáo lý !

Thành công học đường – thành tài nghề nghiệp – thành đạt kinh tế - thành tựu xã hội

Nhiệm vụ của giáo dục vẫn là đầu câu chuyện : học chuyện gì ? Học những kiến thức cần thiết để có một cuộc sống tốt, để được sống trong một xã hội tốt, để được đòi hỏi đối xử tốt trong một chế độ tốt, với các cơ chế tốt của nó, tất cả có mặt để bảo vệ các công dân tốt. Học ra sao ? Muốn "được học" những chuyện mà chúng ta thích, chớ chúng ta không muốn "bị học" những chuyện mà chúng ta không thích, vì chúng ta không muốn làm nạn nhân của "ép học". Học để khai sáng trí tuệ qua đa diện, bằng đa dạng của tri thức, biết dựa vào đa trí, đa tài của nhân loại, và từ chối cái độc đảng, cái độc tôn, cái độc quyền trong cái độc đảng. Học để làm gì ? Cho phương trình thành công học đường-thành tài nghề nghiệp-thành đạt kinh tế-thành tựu xã hội đây không phải là chuyện ích kỷ của cá nhân, mà kết quả để nhận ra vai trò của chủ thể của giáo dục : có bổn phận với dân tộc, có trách nhiệm với đất nước, lại có thêm sáng tạo qua nghề-nghệ-nghiệp, để thay đời đổi kiếp theo hướng thăng hoa cho ta, vì đồng bào, vì đồng loại. Học cho ai ? Cho chủ thể giáo dục là chúng ta thật sự muốn có phương trình thành công học đường-thành tài nghề nghiệp-thành đạt kinh tế-thành tựu xã hội, để hội nhập vào nhân loại, nhân sinh, nhân thế, nhân kiếp bằng nhân lý, nhân tri, nhân trí, làm nên nhân bản, nhân văn, nhân vị, biết tôn vinh nhân đạo, nhân tính, nhân nghĩa, biết vinh danh nhân phẩm của chúng ta, cho đồng bào, cho đồng loại.

Môi trường giáo dục : khai sáng cá nhân

Thử thách lớn của các hệ thống giáo dục của các quốc gia có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền luôn định nghĩa không gian giáo dục và môi trường học đường là một hệ thống có hai chức năng : chức năng trao truyền kiến thức và chức năng khai phá sự thông minh của cá nhân được đi học. Hai chức năng này tới từ một lập luận trong quá trình của một cá nhân từ mẫu giáo là một thiếu nhi lần đầu rời gia đình cho tới khi học xong qua các đoạn đường tiểu học, trong học, đại học. Đây là quá trình không những đi tìm để tiếp nhận các kiến thức mà còn là sự