Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

vendredi, 30 avril 2021 14:27

30/04, ôn lại quốc sử Việt

Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.

Em Còn Nhớ Mùa Xuân - Sĩ Phú

Hai phe phương Tây tranh chấp nhau có người thắng, kẻ thua, nhưng dân tộc Việt thì hoàn toàn thua cuộc. Một sự thua cuộc nghiệt ngã thương đau, gần 50 năm sau vết thương chưa lành và Việt tộc vẫn chưa có cơ hàn gắn. Bên thắng cuộc mang danh giải phóng, giành lại độc lập, thống nhất đất nước, nhưng "giải phóng" được một giai cấp thì lại bách hại các giai tầng khác, rồi cả dân tộc cùng bị giam hãm trong cái lồng sơn son thếp vàng có tên cộng sản.

Các thế hệ lãnh đạo sau 1975 dần dà cũng biết chủ thuyết cộng sản là một học thuyết sai lầm, họ liên tục phải chỉnh sửa, thay đổi để tự tồn. Nhưng họ không quyết tâm từ bỏ để trở về gốc Việt dù biết là sai, đành cố bám vì bả quyền lực danh lợi. Họ chiến thắng nhưng bất chấp cả dân tộc thua đau. Họ nắm quyền lực nhưng chính quyền không phải của dân, mà là chính quyền của một chủ thuyết đã thất bại phát xuất từ phương xa chứ không phải của nòi Việt.

30 tháng 4 là dịp tìm về triết Việt

Cha ông đã để lại cho ngàn sau nhiều bài học về triết. Triết lý Việt là triết để sống, không nhằm bàn suông. Việt tộc sống triết chứ không "viết triết" thành văn bản.

Đời sống nông nghiệp lúa nước khiến nhà nông luôn đối mặt với hai thái cực : nắng mưa, úng hạn… Nông dân dầm mình dưới nước lạnh (âm), phơi mình trong nắng lửa (dương). Bản thân cây lúa cũng thế, gốc ngâm trong nước, ngọn tắm nắng trời. Khi trổ bông, hoa lúa phơi mầu vào giờ ngọ giữa trưa lúc dương khí thịnh, và giờ tý nửa đêm lúc âm khí mạnh nhất để hấp thụ đầy đủ âm dương mà thành hạt lúa.[1]

Đời sống con người luôn có hai mặt đối lập : nam nữ, tâm vật, sáng tối. Nhưng hai cực này đều cần thiết cho đời sống. Chúng đối lập mà thống nhất, bổ túc, hỗ trợ chứ không đối lập tranh chấp, tiêu diệt nhau.

Từ đời sống nông nghiệp, các thế hệ sau đã học được sự thống nhất các mặt đối lập của cuộc sống, kết tụ trong hình ảnh Rồng Tiên. Tiên biểu tượng tinh thần, trong sáng, đôn hậu, bao dung ; Rồng cho vật chất, quyền biến, đại trí, đại dũng. Truyện Gậy Thần Sách Ước cũng thế. Con người cầm nắm, điều khiển được hai đầu gậy thần sống-chết thì ước gì được nấy. Đời sống nhờ thế mà sung túc, an lành thảnh thơi.

Theo sử sách, dân Hoa Hạ nòi Hán trước khi tiến chiếm phương Nam chưa có khái niệm về lý vận hành âm dương nên không có hai từ này. Theo các nhà ngôn ngữ học, Yin (âm) và Yang (dương) bắt nguồn từ Ina và Yang trong ngôn ngữ Đông Nam Á cổ đại (bách Việt), với nghĩa gốc là mẹ và cha.

Trở về với gốc là trở về với dân. Dân với chính quyền phải như cá với nước. Nhà nước là nhà nước của dân, thực hiện ý nguyện nhân dân chứ dân không phải là dân của nhà nước để rồi muốn vo tròn bóp méo, giam hãm đàn áp, cấm đoán sao cũng được.

Vũ trụ âm dương có đó mà không có sự hiện hữu của người cũng chỉ là một vũ trụ vô hồn. Theo sách xưa, người là đức của trời đất, là giao điểm, kết hợp và từ trời đất mà sinh ra. Vũ trụ cứ tuần tự tụ rồi tán, nhưng người biết phân chia bốn mùa xuân hạ thu đông, làm lịch để có đầu có cuối, lại điều chỉnh tự nhiên để đời sống phong phú và thăng tiến. Người biết trồng tiả để cây sai trái hơn và cho trái ngon ngọt. Người chăn nuôi thú vật giúp đời sống thêm thuận lợi. Người điều chỉnh đực cái của tự nhiên thành nam nữ, vợ chồng. Người đã lập tâm cho trời đất, lập mệnh cho nhân sinh, kế vãng khai lai. Người là một, dân tộc là nhiều. Người là nhất thể nhưng mỗi dân tộc có văn hóa đặc thù riêng cần tôn trọng.

Việt tộc hiểu và sống triết theo cách thức thực tiễn như thế.

Bốn giai đoạn cách mạng Việt

Theo nhà tư tưởng Việt, Tiên sinh Lý Đông A (1920-1946 ?) trong tài liệu Chu Tri Lục 4[2] , trích lại một phần dưới đây thì cách mạng Việt được chia làm bốn giai đoạn : cự tuyệt, dung hòa, phản tỉnh, và sáng tạo.

"Thời kỳ cự tuyệt là từ Hồng Bàng đến Trưng Vương.

Thời kỳ dung hòa là đời Khúc (với chế độ tự trị Tiết Độ Sứ).

Thời phản tỉnh là đời Ngô với chế độ tự trị vương và 12 sứ quân.

Thời sáng tạo là đời Vạn Thắng (Đinh). Một giai tầng đáy và trung kiên có cái hoa lau làm hiệu, ở đấy đã hoàn thành mà làm chủ thời đại mới.

Vạn Thắng nghĩa là :

Thắng hơn ngàn năm đô hộ và đồng hóa, lập nên một nền tảng của cuộc độc lập và tồn chủng.

Thắng tất cả cuộc thất bại trên đấu tranh cũ, lập nên xuất phát điểm của cuộc thắng lợi mai sau bảo vệ cho nòi giống.

Thắng tất cả các cuộc thỏa hiệp, dung hòa và phản tỉnh không triệt để.

Thắng tất cả tự trị, lập nên dòng dõi của một văn minh mới dân tộc.

Thắng tất cả mọi chia rẽ và cát cứ bên trong, lập nên cuộc thống nhất.

Thắng tất cả các tính ươn hèn và quị lụy của mặt tầng, lập nên thói quen của tranh đấu.

Thắng tất cả các sự tự trị và phân hóa trong trận doanh tranh đấu là thời tranh bá đồ vương và quân phiệt cũ, lập nên nền móng dân bản bình dân chính trị.

Sự thất bại trên cá tính và bất chính trị (impolitique) của Đinh Tiên Hoàng chỉ là thất bại cho cá nhân và gia đình. Cuộc văn trị bao giờ cũng cần yếu, đi sau cuộc vũ lược... Nhưng mà nền tảng của nòi Việt Vạn Thắng đã chắc chắn thành lập để phát huy ra những vinh dự Lý–Trần. Sự tái kiến của Đại Việt chính là sự tái kiến của thời đại Vạn Thắng trên một nền tảng với các điều kiện khoáng trương và phát triển hơn."

Nhìn từ biên độ nhỏ hơn của lịch sử, người ta cũng thấy khá rõ bốn giai đoạn nói trên.

Sau khi cộng sản tiến chiếm miền Nam năm 1975, nhiều tổ chức đấu tranh vũ trang đã ra đời cả ở trong lẫn ngoài nước chống lại sự cai trị của cộng sản. Đó là giai đoạn cự tuyệt.

Chống không lại, bị dẹp tan, tất cả đành dung hoà, chung sống với cộng sản. Như trước kia khi chống không lại sự cai trị tàn ác của nòi Hán, dân Việt đều phải nín thở sống chung với giặc.

Tuy phải đành đoạn sống chung, nhân dân và ngay cả đảng viên cũng biết chủ thuyết cộng sản là sai lầm - một cái nhìn thiếu sót, lệch lạc của chủ nghĩa xã hội. Học thuyết Duy Vật chỉ mới nhìn thấy tầm quan trọng của một nửa đời sống, tương tự thuyết Duy Tâm.

Đời sống luôn có hai mặt, tinh thần và vật chất. Chúng cần được thống nhất để tạo sự quân bình. Đôi lúc, tinh thần là chủ động, vật chất phải nhường, và ngược lại. Chúng bổ khuyết, hỗ trợ nhau chứ không tranh chấp, như phu xướng phụ tuỳ. Nếu cả phu lẫn phụ đều tranh nhau xướng, hoặc cả hai giành nhau tuỳ, đều hỏng.

Đây là giai đoạn phản tỉnh. Cả thế hệ trẻ được giáo dục làm con người mới xã hội chủ nghĩa lẫn đảng viên một đời theo đảng đều nhận ra sai lầm của đảng, chủ yếu là do chủ nghĩa Mác-Lê thiếu sót vì chỉ nhìn nhận một phần của đời sống là vật chất. Triết lý thiếu sót dẫn đến tầm nhìn sai lệch, xây dựng xã hội càng lầm lạc hơn. Lầm lạc nên phải điều chỉnh, sửa sai, "đổi mới". Sáng sai chiều sửa. Chiều sửa sáng hôm sau lại tiếp tục sai.

Đảng cứ phải tuần tự sai rồi sửa. Nhưng sửa rồi lại sai, gây biết bao oan khiên cho những tiếng nói chân thực, thành tâm mong đảng từ bỏ chủ nghĩa sai lầm nọ mà quay về với gốc Việt. Họ không mong tranh đoạt quyền lực lẫn quyền lợi của lãnh đạo đảng. Họ mong đảng phản tỉnh để cùng quốc dân chung tay xây dựng một cuộc đời đáng sống, gồm cả tâm lẫn vật. Tệ hơn nữa là hai tầm nhìn thiếu sót này lại tranh chấp nhau, gây thương đau cho cả nhân loại.

Đảng viên cộng sản cần phản tỉnh triệt để, thấy rõ sai lầm của chủ thuyết đã lỡ dẫn đưa cả dân tộc đi theo, trở về với gốc Việt thì mới cùng toàn dân sáng tạo được một đời sống quân bình hoà hài, đích thực là cuộc đời đáng sống.

Đáy tầng và mặt tầng

Quốc sử Việt còn dạy ta về sự hoà hợp, tương thông với nhau giữa mặt tầng lãnh đạo và đáy tầng nhân dân.

Mỗi khi tiếp xúc với một nền văn hóa hay tư tưởng mới, mặt tầng trí thức và lãnh đạo thường có khuynh hướng tiếp thu ngay những điều mới lạ. Nếu phù hợp, qua thời gian sẽ được gạn lọc để những gì hay đẹp cũng được đáy tầng chấp nhận rồi Việt hoá. Nếu không, tiến trình cách mạng bốn giai đoạn trên có thể lại tiếp diễn. Trong trường hợp bị đàn áp, ép buộc quá mức hoặc mặt tầng chạy theo giặc, đáy tầng đành ngậm ngùi buông rơi để giữ lại gốc, tựa như đáy như giòng nước vẫn tuôn chảy, mặc thế sự xoay vần, mặc thế cuộc đảo điên, mặc rác rưởi tung hoành trên mặt để cố bảo tồn, giữ gìn lấy gốc.

Mặt tầng lãnh đạo hiện nay chưa phải là mặt tầng chân chính của đáy tầng nhân dân nên còn bị đáy tầng tiếp tục chối bỏ.

30thangtu01

30 tháng 4 lại về.

Bốn mươi lăm năm dài đằng đẵng.

Bao oan khiên nghiệt ngã, phân chia tang tóc đã xảy ra cho dân tộc.

Vong linh các chiến sĩ hai bên còn vất vưởng, chưa được thảnh thơi vì Việt tộc còn linh lạc, phân ly. Nước mắt Mẹ Việt vẫn tuôn rơi vì đàn con bất hiếu không nghe lời dặn - gà cùng một mẹ muối mặt theo người đá nhau.

Đã đến lúc các đảng viên cộng sản tiến bộ và những người không cộng sản còn nghiêng về một phía cần phản tỉnh triệt để, cùng quay về gốc hầu xóa tan bao nghi kỵ chia rẽ, buộc đảng cộng sản cũng phải quay về với dân mới thống nhất được lòng người mà xây dựng đất nước.

Chỉ có thế mới mở ra được thời kỳ mới - Đại Việt 2000, nối tiếp Đại Việt 1000 Lý-Trần hùng vĩ cường thịnh năm xưa.

Tạ Dzu 

(30/04/2021)

 


[1] Trần Ngọc Thêm, Tìm Về Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, In lần thứ ba, 2001.

[2] Tuyển tập Lý Đông A, Chu Trí Lục, Hội học Thắng Nghĩa, 2016 - 4895 T.V.

Published in Diễn đàn

Sài Gòn những ngày cuối tháng 4/1975

Nguyễn Quang Duy, 29/04/2020

Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt.

Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.

Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản.

Xuân Lộc: Tường thuật của BBC tháng 4/1975

Bao vây Sài Gòn

Quân Bắc Việt bị cầm chân tại Xuân Lộc hơn 10 ngày nên tẽ sang các ngã khác tiến về Sài Gòn.

Tối ngày 21/4, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lên Đài truyền hình tuyên bố từ chức, Phó Tổng thống Trần Văn Hương lên thay, phía Cộng sản tuyên bố chỉ nói chuyện với Đại tướng Dương Văn Minh, phía miền Nam chấp nhận, Tổng thống Trần Văn Hương thu xếp từ chức.

Ngày 14/4/1975, miền Bắc ra chỉ thị mọi cánh quân phải tập trung quanh Sài Gòn vào ngày 26/

4, khởi sự tấn công ngày 28/4/1975, cũng đúng ngày đó Đại Tướng Dương Văn Minh tuyên bố nhậm chức Tổng Thống.

Sáng ngày 29/4/1975, Đại Tướng Dương Văn Minh gởi Tối Hậu Thư buộc người Mỹ phải rút khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ.

Người Mỹ di tản

Ngay từ đầu tháng 4/1975, công dân Mỹ, những người lập gia đình với Mỹ, những người làm việc cho Mỹ và thân nhân được đưa vào Tân Sơn Nhất để rời khỏi Việt Nam.

Ngày 23/4, phát biểu tại Đại học Tulane tiểu bang Louisiana, Tổng thống Gerald Ford cho biết Bắc Việt sẽ chiến thắng và chiến tranh Việt Nam đã kết thúc.

Ngày 25/4, Dân biểu Đảng Cộng hòa tiểu bang Michigan, ông William Broomfield cho biết phía Hoa Kỳ đã có một thỏa thuận ngầm, Bắc Việt sẽ không tấn công Sài Gòn trước ngày thứ hai 28/4/1975 để Mỹ có đủ thời gian di tản khỏi Việt Nam, Ngoại trưởng Kissinger phủ nhận nguồn tin.

Khoảng 6 giờ chiều ngày 28/04/1975, Bắc Việt sử dụng 5 phi cơ A37 từ phi trường Phan Rang tấn công Tân Sơn Nhất và đêm hôm đó pháo binh cộng sản từ Cát Lái đã pháo kích vào phi trường.

Đặc công cộng sản cũng đã vào sát phi trường nên các phi cơ chở người di tản không thể cất cánh.

Hoa Kỳ cấp tốc mở chiến dịch di tản bằng trực thăng tại hai địa điểm chính là Trụ sở cơ quan DAO (Defense Attache Office) bên trong phi trường Tân Sơn Nhất và trên nóc Tòa Đại sứ Mỹ.

Đến 7 giờ 30 tối ngày 29/4/1975, Mỹ đã di tản tất cả nhân viên DAO mang theo những tài liệu quan trọng, rồi đặt mìn giật sập trụ sở DAO phá hủy máy móc và hồ sơ sót còn lại.

Đêm hôm đó, phi trường Tân Sơn Nhất bị cộng sản liên tục pháo kích, nhiều người di tản kẹt trong phi trường bị chết hay bị thương, phi trường phải ngừng hoạt động.

Nguyên đêm 29/4/1975, các trực thăng Mỹ di tản liên tục bay qua các vùng cộng sản đóng quân nhưng không hề bị tấn công.

3 giờ 30 sáng 30/4/1975, Đại sứ Mỹ Graham Martin lên trực thăng ra đi, đến 8 giờ 30 sáng cuộc di tản chấm dứt với chừng 5.500 người được Mỹ đưa đi.

Vẫn còn 70 công dân Mỹ không được di tản, 2 xác Thủy quân lục chiến Mỹ còn quàn tại nhà xác bệnh viện Chúa Cứu Thế, nhiều nhân viên Việt làm cho Tòa Đại sứ và hầu hết những người có tên trong danh sách 140 ngàn người được Bộ ngoại giao Mỹ cho di tản đều bị kẹt lại ở Việt Nam.

Phi vụ cuối cùng…

Theo nhà văn Quân đội Phan Nhật Nam, vào sáng 29/4/1975, từ Tân Sơn Nhất Trung úy phi công Trang Văn Thành lái chiếc C119 Hỏa Long, đơn độc bay lên trời.

Từ trên cao, anh thấy rõ những vị trí của pháo binh cộng sản, anh nghiêng cánh, chúc mũi chiếc Hỏa Long trút xuống tràng đạn 7.62 ly, và tất cả hỏa lực cơ hữu của hai khẩu đại bác 20 ly gắn dưới cánh phi cơ, phòng không cộng sản phản pháo, nhưng phi cơ thoát được lưới đạn.

Phi công Thành quay trở lại phi trường, nạp đạn vào phi cơ, tiếp tục bay thẳng đến phía pháo binh cộng sản nhả đạn, máy bay trúng đạn phòng không, ngang cánh trái, ngay bình xăng, sát cạnh ghế ngồi.

Anh Thành giật mạnh chốt thoát hiểm để bung thân thoát ra, nhưng chốt kẹt cứng, anh dùng tay đẩy cửa buồng lái phóng mình ra, chiếc dù bung mạnh, vướng vào khung cửa phi cơ.

Phi Công Trang Văn Thành bị giữ chặt bởi chiếc dù và khung cửa, chiếc C119 Hỏa Long chìm trong lửa, anh gục chết giữa không gian, trên quê hương, hoàn tất phi vụ cuối cùng.

Giờ Sài Gòn giờ Hà Nội…

Ngày 30/4/1975, miền Bắc và miền Nam có 2 cách tính giờ khác nhau, giờ Sài Gòn đi trước giờ Hà Nội 1 tiếng đồng hồ.

Đọc các bài viết về ngày 30/4/1975 có người dùng giờ Sài Gòn có người dùng giờ Hà Nội, có bài viết chỗ dùng giờ Hà Nội chỗ dùng giờ Sài Gòn, bài này tôi cố gắng chuyển sang giờ Sài Gòn cho bạn đọc dễ theo dõi.

Hai chiếc xe tăng…

9 giờ 30 sáng 30/4/1975, quân Bắc Việt vượt cầu Sài Gòn, binh sĩ miền Nam kháng cự dữ dội, có ít nhất 4 xe tăng và hằng trăm bộ đội chết trong trận này.

tran1

Đoàn xe bọc thép gồm 22 chiếc M113 từ Hậu Nghĩa theo quốc lộ 8 về Sài Gòn lập chốt tại chân Cầu Bông

Khoảng 10 giờ 30 sáng, máy phát thanh liên tục phát lời Đại Tướng Dương Văn Minh kêu gọi binh sĩ ngừng bắn sửa soạn bàn giao cho phía bên kia.

Cầu Sài Gòn là mũi tiến chính của quân Bắc Việt, trước hỏa lực quá hùng hậu của đối phương, súng hết đạn binh sĩ miền Nam rút dần.

3 xe tăng Bắc Việt vượt cầu Sài Gòn, tìm đường đến Dinh Độc Lập, một chiếc bị bắn cháy ở cầu Thị Nghè, hai chiếc còn lại chạy lạc đường phải nhờ người hướng dẫn.

Chừng 11 giờ 45 chiếc xe tăng mang số 843 chạy tới Dinh Độc Lập húc vào cổng phụ bị đứt bánh xích nên kẹt không vào được.

Chiếc tăng số 390 đến sau ít phút húc đổ cổng chính chạy vào trước tiên, nhưng vì là T59 sản xuất tại Trung Quốc, nên trong một thời gian dài phải nhường công chạy vào Dinh trước cho chiếc T54 mang số 843 sản xuất tại Liên Xô.

Chuyện hai lá cờ…

tran2

Lá cờ xanh đỏ sao vàng của Mặt trận Giải Phóng Miền Nam đầu tiên được cắm trên nóc dinh Độc Lập là lá cờ treo trước mũi xe tăng mang số 843 do Trung úy đại đội trưởng Bùi Quang Thận lấy xuống và mang lên nóc Dinh treo.

Số phận lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa một thời gian dài được Hà Nội đưa tin là từ nóc Dinh được ném xuống đất, sau này mới biết được Trung Úy Bùi Quang Thận cẩn thận giữ riêng làm kỷ niệm.

Trong bộ phim tài liệu về ngày 30/4/1975, đóng vào đầu tháng 5/1975, ông Bùi Quang Thận mang một lá cờ xanh đỏ sao vàng rất to, không phải là lá cờ cắm trên chiếc xe tăng mang số 843.

Số phận lá cờ xanh đỏ sao vàng được ông Thận đầu tiên cắm trên nóc Dinh Độc Lập không rõ ra sao, vì nó vừa cũ vừa nhỏ nên ngay trưa hôm đó được thay thế bằng một lá cờ mới và lớn hơn.

Ai bắt đầu hàng…

Nhà báo Bùi Tín dựa theo các bài ông viết đăng trên báo Quân Đội Nhân Dân vào đầu tháng 5/1975, tự nhận ông là sĩ quan cao cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam có mặt sớm nhất tại Dinh Độc Lập, là người đi cùng đơn vị xe tăng đầu tiên đâm đổ cổng Dinh Độc Lập, và là người trực tiếp chấp nhận tuyên bố đầu hàng của Đại tướng Dương Văn Minh.

Theo phóng viên người Đức Von Boric Gallasch (lấy bút hiệu Tiziano Terzani), tờ Der Spiegel, thì Đại Úy Phạm Xuân Thệ là người đã theo hai chiếc xe tăng tiến vào Dinh Độc Lập bắt Đại tướng Dương Văn Minh phải đầu hàng vô điều kiện.

Còn Trung tá Bùi Văn Tùng, chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203, đến sau nhưng chính là người soạn Tuyên Bố đầu hàng cho Tướng Dương Văn Minh và ông Tùng đọc Tuyên Bố chấp thuận đầu hàng.

Xém đụng trận ngay trước Dinh

Phóng viên Boric Gallasch chứng kiến một số binh sĩ miền Nam rời khỏi Dinh Độc Lập, có thể ông không biết các binh sĩ này do 1 thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Lôi Hổ phụ trách phòng thủ sân bay Tân Sơn Nhứt đến Dinh để hỏi rõ về lời kêu gọi ngừng bắn và bàn giao của Đại tướng Dương Văn Minh.

Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh cho biết cánh quân này không chấp nhận đầu hàng, họ chỉ rời đi ít phút trước khi hai xe tăng 843 và 390 ủi sập cổng Dinh Độc Lập.

Tại Tân Sơn Nhất cánh quân này vừa bắn cháy 3 xe tăng Bắc Việt, nếu hai xe tăng 843 và 390 biết đường chạy thẳng đến Dinh đã đụng độ với cánh quân nói trên và lịch sử có thể đã khác đi.

Ở một số địa điểm như Tân Sơn Nhất, trại Hoàng Hoa Thám, Bộ Tổng tham mưu,… một số binh sĩ miền Nam vẫn kháng cự cho đến khi Đại tướng Dương Văn Minh đọc Tuyên bố đầu hàng.

Còn ở các nơi khác vì lực lượng cộng sản quá hùng hậu, binh lính miền Nam rút về phía trung tâm Sài Gòn, đến khi nghe tướng Minh kêu gọi ngừng bắn thì tự động buông súng tan hàng hay buông súng khi thấy sự xuất hiện của quân miền Bắc.

Không máy ghi âm…

Phóng viên Boric Gallasch cho biết Đại tướng Dương Văn Minh định thu băng lời Tuyên Bố Đầu Hàng nhưng vì không tìm thấy chiếc máy ghi âm nên mới phải sang Đài phát thanh.

Ông Terzani viết : "nhân viên (Dinh Độc Lập) bỏ trốn mang đi tất cả những gì họ có thể cuỗm".

Sang Đài Phát Thanh cũng không tìm thấy máy ghi âm nào, ông viết : "Tòa nhà cũng vừa trải qua những trận hôi của" nên cuối cùng phải dùng chiếc máy ghi âm nhỏ của ông để thu lời Tuyên Bố đầu hàng.

Nhận xét của ông Boric Gallasch thiếu công bình cho những người miền Nam, vì đa số các nhân viên Dinh Độc Lập hay Đài phát thành khi ấy đều muốn bỏ của họ gầy dựng bao năm để chạy thoát cộng sản.

Những chiếc máy ghi âm vừa gọn, vừa nhỏ, vừa lạ, vừa quý, là kỷ niệm tiếp thu Sài Gòn, người bộ đội có thể mang về miền Bắc khoe với gia đình.

Xin đừng nghĩ xấu cho họ, đó là việc làm bình thường của những người chiến thắng cần có chút gì làm kỷ niệm, nhờ thế Trung úy Bùi Quang Thận mới giữ lá cờ vàng ba sọc đỏ trong suốt 20 năm.

Đạn lạc…

Xe tăng, xe thiết giáp, quân xa chở lính miền Bắc đổ về dinh Độc Lập mỗi lúc một đông, những tràng súng chỉ thiên mừng chiến thắng nổ vang trời, khói súng mịt mù.

Người lính Bắc Việt thuộc tiểu đoàn 7 bộ binh tên Tô Văn Thành đang ngồi trên thành xe tăng bị trúng đạn rớt xuống đường, chết ngay trước dinh Độc Lập.

Báo chí đưa tin ông Thành bị Biệt kích dù 81 từ phía trụ sở Bộ Ngoại giao bắn chết, nhưng đạn lạc thì đúng là nguyên nhân dẫn đến cái chết kết thúc trận chiến kéo dài trên 20 năm.

Vị Quốc vong thân…

Nhắc đến 30/4/1975, không nhắc đến 5 vị tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê văn Hưng, Trần Văn Hai, Phạm Văn Phú và Lê Nguyên Vỹ và hàng ngàn binh sĩ Việt Nam Cộng Hoàn tuẫn tiết quả là điều thiếu sót.

tran3

Những anh hùng Vị quốc vong thân…

Tại thành phố Melbourne, nơi gia đình tôi đang sống, những anh hùng vị quốc vong thân được thờ trong Đền thờ Quốc tổ và có Tượng đài để ghi nhận ân đức những người đã chiến đấu bảo vệ miền Nam tự do trong hơn 20 năm.

Đoàn quân cuối cùng…

Nhà tôi ở Bàn Cờ chỉ cách Dinh Độc lập chừng 4 cây số, khoảng 12 giờ trưa những tiếng súng mừng chiến thắng làm mọi người tưởng lầm là cộng sản đang đánh chiếm Dinh.

Đến 1 giờ trưa, Đại tướng Dương Văn Minh lên Đài phát thanh tuyên bố đầu hàng, bà con lối xóm đều vui vì chiến tranh chấm dứt, nhưng lại lo âu khi nghĩ đến tương lai.

Chừng 1 giờ 30, chính mắt tôi chứng kiến một đội lính Việt Nam Cộng Hòa chừng 20 người đủ mọi binh chủng đi đầu là một sĩ quan Dù rất trẻ mang súng lục, những người đi sau súng ống đầy đủ, hàng ngũ chỉnh tề, tiếp tục bảo vệ người dân khu phố.

Những người lính cộng hòa chỉ tan hàng khi thấy bóng dáng của bộ đội cộng sản, chính nhờ họ Sài Gòn mới được chuyển giao một cách bình yên cho Quân đội Bắc Việt.

Những người cộng sản đầu tiên…

Chừng 2 giờ trưa, tôi đi bộ ra đường Phan Đình Phùng, súng ống và quần áo quân nhân rải rác hai bên đường, dân chúng đã bắt đầu đổ ra đường, vẫn chưa thấy bóng dáng của những người cộng sản vào tiếp thu khu vực.

Tôi chuyển sang đường Hồng Thập Tự, hướng về Dinh Độc Lập, đã thấy một số bộ đội cộng sản trên những xe Jeep với lá cờ xanh đỏ sao vàng.

Một số biệt thự chủ nhân đã di tản bị hôi của, bộ đội bắn chỉ thiên giải tán, nhưng không dám đến gần đám đông để tịch thu đồ vật.

Tôi đến Dinh Độc Lập sau 3 giờ chiều, bộ đội miền Bắc đã đóng quân trong và ngoài Dinh, dân Sài Gòn đến xem bộ đội miền Bắc khá đông.

Những bộ đội với nón cối và dép râu những thứ mà tôi chưa hề gặp, họ đều rất trẻ, vui vẻ trả lời những câu hỏi với cùng một giọng điệu, cùng một bài bản được học tập trước ngày tiếp thu Sài Gòn.

Tôi đi thẳng ra Chợ Sài Gòn chứng kiến cảnh sinh hoạt bắt đầu trở lại, quanh Dinh Độc Lập và Chợ Sài Gòn đã bắt đầu có những trao đổi bằng tiền Hồ Chí Minh, Sài Gòn là vậy, vừa thoát chết là có người nghĩ ngay đến bán buôn.

Tôi nghe những tiếng nổ lớn, như đạn súng cối, từ phía Dinh Độc Lập, tiếp theo là những tiếng súng đủ loại. Sau này mới biết là hai cánh quân cộng sản không biết vì lý do gì bắn lẫn nhau.

Tôi vội quay về nhà, trên đường về tôi chứng kiến những xe tăng và quân xa bộ đội, có thể, đang trên đường chuyển quân về miền Tây.

Ngay cuối đường Hồng Thập Tự gần ngã sáu Cộng Hòa, một chiếc xe tăng bị bắn cháy, tôi không nhớ xe tăng phía bên nào.

Tối xem truyền hình, người xướng ngôn viên nói tiếng Nam khuôn mặt đằng đằng sát khí, hùng hổ đưa tin về Chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng, miền Nam đã hoàn toàn giải phóng.

Ngày hôm sau, xướng ngôn viên khác xuất hiện trên truyền hình với khuôn mặt và giọng nói ít cộng sản hơn, nhưng tin tức thì cũng vẫn một giọng tuyên truyền, khác hẳn với tin tức thời Việt Nam Cộng Hòa.

45 năm nhìn lại…

Chỉ sau 2 ngày Sài Gòn thất thủ, chỉ sau 2 tháng miền Bắc tiếp thu miền Nam, Việt Nam bước sang một trang sử mới.

Cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội xã hội chủ nghĩa, một xã hội chưa ai hình dung được hình dáng của nó, không tiến được thì lùi, cộng sản đã lùi về cách quản lý kinh tế thời Việt Nam Cộng Hòa.

Giá trị vật chất có thể phục hồi, nhưng giá trị tinh thần như niềm tin, giáo dục, văn hóa, thể chế, tự do, dân chủ và nhân quyền của người miền Nam đã mất khó có thể phục hồi.

Ngày 30/4/1975, Đại úy Phạm Xuân Thệ tay lăm le khẩu súng lục, cùng Trung tá Bùi Văn Tùng không nói chuyện bàn giao với Ngụy quyền bắt Đại tướng Dương Văn Minh phải đầu hàng vô điều kiện.

Người cộng sản ngày nay phải công nhận thế chính danh của Việt Nam Cộng Hòa, nhưng vì từ chối bàn giao nên mất đi sự nối tiếp, sự thừa kế Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông trên Công pháp quốc tế.

Ngày 30/4/1975, quả là ngày đen tối nhất trong lịch sử cận đại Việt Nam.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi, 29/4/2020

****************

Hãy thôi gọi 30/4 là ngày giải phóng

Nguyễn Trang Nhung, RFA, 29/04/2020

Ngày giải phóng là tên gọi mà chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc dùng để chỉ 30/4, khi giành được chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam và thống nhất hai miền đất nước.

tran4

Quân đội Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam tràn ngập Dinh Độc Lập hôm 30/4/1975 - AFP

Từ góc nhìn của Việt Nam Cộng hòa, 30/4 không những không là ngày giải phóng mà là ngày quốc hận hay ngày tháng Tư đen.

Giải phóng – từ này có nghĩa là làm cho được tự do, làm cho thoát khỏi địa vị nô lệ hay tình trạng bị áp bức.

Theo đó, để miền Nam được giải phóng, miền này phải ở trong địa vị hay tình trạng ấy.

Nhưng, trong 20 năm tồn tại của Việt Nam Cộng hòa, miền Nam chưa bao giờ là một miền như vậy.

Miền Nam đã là một miền tự do, và Việt Nam Cộng Hòa đã là một quốc gia có chủ quyền, và có khả năng tự quyết.

Do hoàn cảnh đặc thù, Việt Nam Cộng hòa là đồng minh của Hoa Kỳ, còn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là đồng minh của Liên Xô và Trung Quốc, đã đối đầu trong một cuộc chiến đầy cam go.

Đó là cuộc chiến ý thức hệ, giữa một bên theo chủ nghĩa cộng sản và một bên theo chủ nghĩa tư bản.

Bên thắng cuộc, sau 'giải phóng' đã áp đặt chủ nghĩa cộng sản cho toàn bộ đất nước.

Dù chủ nghĩa nào thắng thế, cuộc 'giải phóng' đã dẫn đến cái chết của hàng trăm ngàn người ở cả hai bên chiến tuyến.

Một lối đi khác, hòa bình hơn, thống nhất mà không đổ máu, vì nhiều lý do, đã không được lựa chọn.

Đó là lịch sử mất mát mà chúng ta không thể thay đổi. Song điều mà chúng ta có thể thay đổi là thái độ đối với hai ý thức hệ và cuộc chiến.

Chủ nghĩa cộng sản, theo thời gian, đã được thấy rõ là một ảo tưởng, một giấc mơ không thành của loài người. Việt Nam ngày nay đã không còn theo đuổi cộng sản nữa.

Với thực tế đó, chúng ta cần thừa nhận sai lầm khi đã lựa chọn chủ nghĩa cộng sản cũng như sai lầm khi đã gây ra cuộc chiến ý thức hệ, và vì vậy cần chấm dứt niềm vui chiến thắng kéo dài suốt 45 năm qua.

Cùng với đó, chúng ta hãy thôi gọi đây là ngày giải phóng. Thay vì thế, chúng ta chỉ nên gọi đây là ngày thống nhất mà thôi.

Ngày thống nhất phải là ngày mà chúng ta nhìn lại quá khứ để thấy sai lầm của mình và tự nhủ không lặp lại. Đây cũng nên là ngày hàn gắn các vết thương và nối liền những đứt gãy.

Lý tưởng mà miền Bắc đã theo đuổi hầu như đã bị bỏ lại, và Việt Nam hiện nay đang đi theo chủ nghĩa tư bản mà miền Bắc một thời đã quyết liệt chống đối.

Song, trong khi thừa nhận chủ nghĩa cộng sản là một sai lầm và giờ đây đi theo chủ nghĩa tư bản, chúng ta cũng cần nhận chân rằng chủ nghĩa tư bản mà hầu như toàn bộ thế giới đang đi theo cũng có những vấn đề nghiêm trọng.

Chủ nghĩa tư bản mặc dù đã có sự biến đổi về chất để phù hợp với thời đại song đang đứng trước sự xét lại trước các khủng hoảng ngày càng dồn dập, nhất là về môi trường, trong hiện tại và cả tương lai.

Nhận chân được điều đó sẽ giúp chúng ta điều chỉnh hay tìm ra con đường phù hợp để Việt Nam có thể vượt qua các khủng hoảng một cách ngoạn mục, đồng thời có thể phát triển một cách bền vững, hài hòa và trở thành một quốc gia đáng sống.

Nguyễn Trang Nhung

Nguồn : RFA, 29/04/2020

*********************

Ba tôi, Bùi Văn Tùng: Chuyện chưa kể sau ngày 30/4/1975

Quỳnh Hoa, BBC, 28/04/2020

Câu chuyện về những việc ba tôi làm trưa ngày 30/4 tại Dinh Độc Lập và đài phát thanh Sài Gòn, đã được báo đài đưa tin, làm phim tài liệu và ngay cả viết thành sách (ủng hộ và phủ nhận) cứ mỗi dịp tháng Tư về, ròng rã suốt 45 năm qua.

tran5

Nhà báo Borries Gallasch (người Tây Đức), phóng viên của báo Der Spiegel chụp hình chung với ông Tùng trước thềm Dinh Độc Lập

Nhưng ở đây tôi muốn kể những câu chuyện bên ngoài của cuộc đời ba, chưa bao giờ được kể, có liên quan đến những người trong cuộc.

Năm 2001, khi tổng thống Việt Nam Cộng hòa, đại tướng Dương Văn Minh qua đời tại Mỹ, thì ba tôi nhận được cuộc gọi của phóng viên một đài tiếng Việt ở nước ngoài. Chi tiết đài nào ba kể lâu quá, tôi không còn nhớ rõ.

Họ gọi cho ba báo tin : "Ông Dương Văn Minh, cựu thù của ông đã qua đời hôm nay tại Mỹ, ông cho biết cảm tưởng của mình ?".

Ba trả lời : "Ông tướng Dương Văn Minh chỉ là đối thủ của tôi trước năm 75, sau 75 ông cũng là công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là đồng bào của tôi. Nay ông mất đi, cho tôi xin được thay mặt gia đình chia buồn với toàn thể gia quyến của ông Minh".

Nhà báo, đại tá Bùi Tín (báo Quân đội nhân dân) ngay sau 30/4/1975 đã tìm gặp ba tôi để nghe kể lại toàn bộ sự việc xảy ra trong buổi trưa lịch sử đó.

Cũng trong năm đó ông xuất bản cuốn sách "Sài Gòn trong ánh chớp chói lọi của lịch sử " với bút danh Thành Tín.

Cũng chính ông tặng ba tôi bức hình chụp ba được thay mặt cho Quân đội nhân dân Việt Nam để chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ôm hôn trong buổi họp báo cáo thành tích của năm cánh quân tiến vào Sài Gòn tại Dinh Độc Lập, với lời bình luận : "Đôi dép cao su của bộ đội cụ Hồ đã đạp lên thảm đỏ của Phủ đầu rồng". Quả là ba là người to cao, chân quá khổ vào loại nhất toàn quân, nên giày vải Trung Quốc cung cấp cho quân đội, ba không mặc vừa, đành phải đi vội đôi dép râu quen thuộc của suốt chiến dịch đến Dinh Độc Lập dự lễ báo cáo chiến công.

Sau này sang tị nạn chính trị tại Pháp, có dịp gặp gỡ với giới báo chí nước ngoài, ông Bùi Tín đem hết câu chuyện ba tôi đã kể cho ông nghe, thành việc làm của chính ông để đem nói chuyện cho báo chí thế giới.

Biết chuyện này, ba tôi chỉ phẩy tay, chắc họ lầm Bùi Tùng thành Bùi Tín, chứ ông Bùi Tín con nhà danh giá, rất quí ba, không thể làm vậy được đâu.

Sau này sang Mỹ, đọc sách "Vietnam : A history" của Stanley Karnow tôi mới thấy chắc rằng ông Bùi Tín đã kể như vậy cho nhà sử học, nhà báo Karnow nghe. Kể ra ông Stanley Karnow cũng ngây thơ khi tin rằng một nhà báo quân đội lại có thể buộc một ông Tổng thống, đại tướng quân đội Việt Nam Cộng Hòa chấp nhận đầu hàng, chứ không phải là một vị chỉ huy của chiến dịch.

Ông Phạm Xuân Thệ, đại úy, trung đoàn phó trung đoàn 66 bộ binh, cũng có mặt trong dinh "bắt nội các tổng thống". Sau một thời gian dài im lặng, bỗng ông ấy tự nhận hết những việc ba tôi làm trưa ngày 30/4/1975 về làm thành tích cho ông. Ông Thệ sau lên hàm trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam.

tran6

Chính ủy Tùng cùng các ông Dương Văn Minh trên đường từ sân Dinh Độc Lập ra hai chiếc xe jeep để đến đài phát thanh

Năm 2006, khi biết Phạm Xuân Thệ phủ nhận việc ba- chính ủy lữ đoàn tăng thiết giáp 203 có mặt tại dinh- mà bỗng đột ngột xuất hiện tại đài phát thanh Sài Gòn, và cho rằng ông ta, một đại uý bộ binh đã giao lại nội các Dương Văn Minh, rồi cùng ngồi soạn thảo văn kiện đầu hàng với trung tá chính ủy Bùi Văn Tùng, ba chỉ nói nhẹ nhàng, tay này tầm bậy.

Ba hiểu rằng cuộc chiến đấu này có biết bao nhiêu chiến sĩ quên mình ngã xuống cho đất nước hòa bình, thống nhất.

Tôi muốn đi kiện, viết báo đính chính, thì ba bảo để ba viết đơn báo cáo cho cấp trên của ba khiển trách Phạm Xuân Thệ chứ không nên vạch áo cho người xem lưng. Ba tin rằng những con người xấu trong quân ngũ, tranh công, đổ lỗi chỉ là thiểu số, còn quân đội ta là quân đội anh hùng, chiến sĩ ta rất dũng cảm và trung thực.

Lúc còn ở trong quân ngũ, ba đã góp ý với cấp trên là quân đội không được làm kinh tế mà chỉ nên học tập hiểu biết khí tài, vũ khí, rèn luyện thể lực thật tốt để luôn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Ngoài ra 90% chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam xuất thân từ nhà nông nên tổ chức cho làm nông, thúc đẩy công nghiệp hóa nông nghiệp cho bằng các nước tiên tiến, cho người dân được nhờ, vì đất nước ta là nước mạnh về nông nghiệp.

Với sĩ quan và lính Việt Nam Cộng Hòa thì chỉ cần tập trung học tập chính sách của nhà nước mới, rồi cho về ai làm việc nấy.

Nếu ai có nhiều khả năng kiến thức quân sự thì sẽ cho phục vụ quân đội vì hòa bình rồi ai cũng là con dân nước Việt, chịu đau khổ vì chiến tranh quá nhiều, đều được quyền làm việc góp phần tái thiết lại đất nước. Bản thân ba lúc đó cũng thấy vũ khí, khí tài của Mỹ để lại trong tổng kho Long bình là rất hiện đại, rất hay để nghiên cứu, học hỏi sử dụng.

tran7

Chính ủy Bùi Văn Tùng (phải) cùng bạn chiến đấu Lữ trưởng lữ thiết giáp 203 Nguyễn Tất Tài, Dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975

Và kết quả của những lần đóng góp ý kiến rất thẳng thắn của ba đã không hợp với ý kiến của một số cấp trên, nên ba được cho về nghỉ hưu, khi tuổi đời là 53.

Ba không những nghiêm khắc với bản thân trong học tập hiểu biết quân sự, chính trị, ba còn là người rất gương mẫu trong cuộc sống cá nhân, trong từng lời ăn tiếng nói để làm gương cho chiến sĩ.

Ba nói sao thì ba làm vậy. Sau ngày thống nhất, ông nội về lại quê Đà Nẵng, mang theo bản chứng thực từ thời thực dân cho mảnh đất căn nhà của ông bà lúc đi tản cư, sau đó ông đi tập kết luôn, quên không để lại cho bà, nên đã có nhiều hộ gia đình dọn đến sinh sống trên đó nhiều năm rồi.

Ông nội muốn đòi lại - lúc đó mà đòi là được ngay- phe chiến thắng mà.

Nhưng ba bảo : "Mình đi làm cách mạng để cho nhân dân có cơm ăn, áo mặc, nhà cửa ở, nay cách mạng thành công rồi mình không thể đuổi họ ra khỏi căn nhà họ đang sống được ; con là con trai trưởng, con không cần, nên cậu đừng đòi".

Thế là ông nội về ở nhà cô Ba với bà nội, ba thì về doanh trại quân đội, mẹ và các con thì có ông bà ngoại cưu mang ở Sài Gòn.

Ba tôi còn đã từng bị sập hầm, bị đất vùi ở Quảng Trị trong mùa hè đỏ lửa năm 1972, may mà anh em chiến sĩ moi được lên. Bốn người mới khiêng nổi ba.

Vết thương phạt ngang gan bàn chân giờ vẫn còn sẹo, sau này có người bảo ba khai thương binh để lấy tiêu chuẩn, ba bảo, mình còn sống, đi lại được là may mắn lắm rồi, để tiêu chuẩn dành cho những gia đình có người đã hy sinh, hoặc tàn tật, đất nước mình còn nhiều hoàn cảnh như thế lắm.

Lời nói và việc làm

Ba tôi là người có lời nói và việc làm đi đôi với lý thuyết của chủ nghĩa cộng sản. Chính vì thế mà năm 2013, lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng tôi đưa được ba tôi về thăm quê Đà Nẵng sau hơn chục năm nằm liệt giường do tai biến mạch máu não. Những tai biến nhỏ có lẽ do những nỗi đau lòng hậu chiến tranh không nói ra được, đã khiến ba từ từ mất đi khả năng vận động và nói lưu loát.

Họ hàng chở chiếc xe lăn của ba và cả đại gia đình đi xung quanh hết thành phố Đà Nẵng cho ba thăm lại những con đường tuổi thơ êm đềm xưa kia. Ba giải thích cho tôi cái tên Tourane ngày xưa của thành phố là ghép từ hai từ Tour và Âne (ý nói thành phố hẹp, quan thuộc điạ chỉ đi một vòng (tour) trên lưng con lừa (âne) là hết thành phố).

Họ hàng nhà tôi bảo đây là biệt thự của ông Bá Thanh, khách sạn, siêu thị này của bà nọ ông kia, chị em của ổng, ba đã rất tỉnh táo phát biểu : "Nếu tay Bá Thanh thấy phát triển tư bản tốt cho dân cho nước thì phải tuyên bố Đảng cộng sản đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước đi, để đưa đất nước ta phát triển theo tư bản với luật lệ của nó, chứ để tư hữu kiểu như thế này mang tiếng những người vô sản, suốt đời vì dân vì nước như tau".

Mà quả thật, chính ông ngoại tôi đã thương yêu, dặn dò mẹ tôi lúc ông còn sống : "Ba mua nhà cho các con, giữ lấy mà cho thuê cho mướn lấy tiền nuôi con học hành, đừng nghe theo người ta mà bán đi đầu tư này nọ, tụi bay xa ba đi theo cộng sản lâu rồi, không biết buôn bán gì rồi người ta lừa cho mất hết tiền đó".

Những năm tháng ba về hưu lúc tuổi đời còn khỏe, ba chăm chỉ nuôi gia cầm, gà, vịt, ngan, thỏ cho mẹ đem ra chợ bán lấy tiền sinh sống thêm.

Rồi không muốn để ba tôi quanh quẩn trong nhà bí bức, mẹ tôi đề nghị ba ra phụ giúp phường, quận, giúp cho giáo dục thế hệ trẻ, góp ý coi sóc an ninh phường khóm.

Ba đã được anh em và nhân dân trong phường, quận, rồi thành phố yêu thương vì sự công bằng, chính trực, giúp đỡ cho những gia đình có những khúc mắc trong chính trị và kinh tế. Mọi người còn yêu quí kính trọng ba hơn khi biết ba là nhân vật đã góp phần chấm dứt sớm cuộc chiến, giảm tổn thương vong và tàn phá.

Những năm bệnh tật ngồi nhà không ra ngoài sinh hoạt được nữa, thấy mẹ hay đi sinh hoạt văn nghệ ở Nhà văn hóa lao động, có một số bạn bè đến chơi nói ra nói vào về mẹ với ba. Ba bảo bà nhà mình có năng khiếu văn nghệ từ nhỏ, những năm chiến tranh khổ quá, không thực hiện được, nay hòa bình rồi để bà ca múa cho vui. Và thế là mẹ tôi vừa làm chủ nhiệm câu lạc bộ, kiêm kế toán trưởng vừa kiêm diễn viên múa và ca sĩ cho đến năm 83 tuổi. Phát hiện ra bệnh ung thư mẹ mới nghỉ làm và ra đi thanh thản ở tuổi 85.

Tại sao Mỹ lại đánh nhau ?

Sau khi tôi đã sang sinh sống ở nước ngoài, mỗi lần về Việt Nam thăm ba, những lúc tinh thần minh mẫn ba đều hỏi thăm tôi người Việt mình sống ở bên đó thế nào, có thành công và thích nghi với nước sở tại hay không ?

Và cuối câu chuyện bao giờ ba cũng thắc mắc hỏi tôi mỗi một câu : "Tại sao Mỹ lại đánh nhau với mình thế hả con ?". Tôi nghe xong chỉ biết rơi nước mắt thương ba và thương cho cả thế hệ cha anh.

Năm nay đánh dấu 45 năm nước Việt Nam được sống trong hòa bình, nhưng đâu đó mỗi gia đình Việt Nam đều có câu chuyện đau thương để kể.

Có những nỗi niềm vẫn cứ gợn lên trong lòng, dù bạn ở phía bên nào.

Tôi may mắn được gặp gỡ và trò chuyện với các chú, các anh tham gia cuộc chiến ở cả hai bên. Tất cả những người lính đó đều có nhận định như nhau, chiến tranh là tàn khốc và chết chóc, là con người phải suy nghĩ và hành động khác với nhân tính của mình để sống còn.

Gia đình tôi cũng như hàng triệu gia đình người Việt khác chịu những hậu quả của chiến tranh và chia cắt. Tôi kể câu chuyện của gia đình mình ra đây chẳng mong mỏi điều gì hơn ngoài việc làm sáng tỏ một vài sự kiện trong lịch sử.

Mong sao cho chính phủ và cộng đồng người Việt trong và ngoài nước luôn đoàn kết, hàn gắn những đau thương mất mát, để dân tộc và đất nước Việt Nam mãi mãi trường tồn và phát triển.

Quỳnh Hoa

Nguồn : BBC, 29/04/2020

Bà Quỳnh Hoa, con gái đại tá quân đội Nhân dân Việt Nam Bùi Văn Tùng. Bà tốt nghiệp Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh, hiện đang sống ở nước ngoài. 

Published in Diễn đàn
vendredi, 24 avril 2020 11:33

30/4 : Ngày Tổ quốc ăn năn

Cuộc chiến tranh vùng Vịnh giữa Iraq và Iran kéo dài 8 năm. Bắt đầu từ ngày 22 tháng 9 năm 1980 và chấm dứt ngày 20 tháng 8 năm 1988 sau khi tổ chức Liên Hiệp Quốc đưa ra Nghị quyết 598 buộc hai nước ngừng chiến và phải trở lại vị trí ban đầu. Tổng cộng thiệt hại nhân mạng của đôi bên gần 1 triệu người chết và bị thương. Thiệt hại tài sản, dầu hỏa, vật lực non một tỷ đô la. Để rồi đi đến kết cuộc ‘ai đâu ngồi yên đấy’ ! Cả hai nước Iran và Iraq đều tuyên bố thắng trận. Chỉ người dân đi tìm xác người thân trong những giao thông hào thảm bại.

30041975-01

Cuộc chiến tranh vùng Vịnh giữa Iraq và Iran kéo dài 8 năm (22/9/1980 - 20/8/1988) đã làm gần một triệu người chết và bị thương… Ảnh minh họa

Các tài liệu phim ảnh về cuộc chiến vùng Vịnh cho thấy nguyên nhân gây chiến, chiến và rồi ngồi yên đấy là Thượng Đế của cả đôi bên. Thật vậy, những thước phim thời sự chiến trường ghi lại những cảnh quân đội Iraq xung phong vào chiến hào quân Iran hoặc ngược lại, đều thét lên tiếng gọi chiến trường "Allahu Akbar" (Thượng đế Cao cả) ! Người giết và bị giết đều tung hô Thượng đế. Như vậy, Thượng đế ‘tác chiến’ trong hai chiến hào thù địch phải có vấn đề ! Mà không phải ở chiến trường thôi, trong đời thường ‘Thượng đế cao cả’ cũng được réo kêu mê sảng khi những tên khủng bố Hồi giáo bấm bom tự sát giết người hàng loạt. Hậu quả đến hôm nay trong đám đông có ai đó ngẫu hứng thét lên ‘Allah Akbar’, mọi người đều nhốn nháo bỏ chạy ! Tiếng gọi Thượng đế đã trở thành tiếng gọi giết người.

Cuộc nội chiến giữa người Việt cộng sản và người Việt quốc gia kéo dài 21 năm, chấm dứt vào ngày 30/4/1975. Sự thiệt hại về nhân mạng, tài sản và đạo đức xã hội đã gấp 5 lần cao hơn vùng Vịnh. Di sản chiến tranh còn phải khắc phục lâu dài vì chưa bao giờ được nhà cầm quyền hóa giải. Nhưng nguyên nhân gây chiến, chiến và may mắn thắng vẫn y như cũ. Khác chăng những thế lực thần quyền Hồi giáo và chính trị bá đạo vùng Vịnh gọi là Thượng đế thì Đảng cộng sản Việt Nam gọi đấy là Tổ Quốc xã hội chủ nghĩa.

Bởi vì tổ quốc không có hình dạng, cũng chẳng có mồm, Đảng cộng sản Việt Nam vẽ búa liềm làm gương mặt của tổ quốc. Tiếng thét chiến trường ‘đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào’ đảng báo đấy là tiếng nói của tổ quốc. Cuối cùng đảng dúi cây súng vào tay tổ quốc bắt đi giải phóng miền Nam ! Tổ quốc bị lợi dụng làm con bài che chắn của lòng tham quyền lực quỷ quyệt của đảng như thế không xứng đáng tự hào mà ngược lại, xứng đáng sự phẫn nộ của hàng triệu nạn nhân trong cuộc nội chiến.

30041975-02

Hàng triệu thanh niên miền Bắc được đảng dúi súng vào tay tổ quốc bắt đi giải phóng miền Nam trước tháng 4/1975 - Ảnh minh họa

45 năm đất nước chịu đựng đau thương tan vỡ tình người và tình nước đã quá đủ để đòi hỏi phe thắng trận phải ăn năn xét mình vì sao đất nước đến nông nổi hôm nay. Chỉ cần phân nửa thời gian này, các quốc gia bè bạn cũng tan vỡ vì chiến tranh đã nhanh chóng hồi phục vươn lên hàng cường quốc. Nước Đức, Nhật và cận kề địa lý Hàn Quốc đã có đủ thời gian công nghiệp hóa xứ sở mà không bị sự lãnh đạo sáng suốt anh minh của một đảng cộng sản nào.

Cựu tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh đã phán nước nhà sẽ công nghiệp hóa thành công vào 2020. Sự thật hiển nhiên hôm nay Việt Nam vẫn xin làm gia công cho các cường quốc mới ấy ! Tại sao đảng cộng sản không cúi mặt xấu hổ mà lại đi kích động người dân phải vênh váo tự hào sung sướng vì chiến thắng 30/4 ? Cái não trạng xơ cứng bạo lực của đảng cộng sản giải thích vì sao tập đoàn này không thể là lực lượng thích hợp trong hòa bình và xây dựng đất nước.

30041975-03

Cựu tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh ngồi trên ngai vàng phán nước nhà sẽ công nghiệp hóa thành công vào 2020. Ảnh minh họa

Sự thật cần phải nói lên để người dân Việt Nam có thể bắt đầu một trang sử mới. Tổ quốc xã hội chủ nghĩa không ai khác hơn là 181 đảng viên cuồng tín chủ nghĩa Mác-Lê nằm trong Trung ương đảng. Cơ chế thống lĩnh là 17 chóp bu trong Bộ chính trị. Cộng với 5 triệu hai trăm ngàn đảng viên (theo báo cáo của Phó trưởng ban thường trực Ban Tổ chức trung ương Nguyễn Thanh Bình về công tác chuẩn bị nhân sự cho Đại hội 13), tập đoàn này quyết nắm giữ cái búa liềm làm hung khí trấn áp 85 triệu người Việt Nam mãi mãi. Không thể có một chính quyền của dân, vì dân và cho dân trong mọi tổ chức chính quyền các cấp của đảng cộng sản khi người dân hoàn toàn vắng mặt. Ý đảng khống chế lòng dân. Lẽ phải bị lẽ sống của đảng đè bẹp. Dân là ‘thế lực thù địch’ khi đảng say sưa chiến thắng ngày 30/4. Cơn điên của đảng cộng sản còn kéo dài trên từng cây số của thời gian.

30041975-04

Đảng cộng sản Việt Nam quyết nắm giữ cái búa liềm làm hung khí trấn áp 85 triệu người Việt Nam mãi mãi.

Cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt đã can đảm xét mình khi nói ngày 30/4 có triệu người vui thì cũng có triệu người buồn. Sự ngậm ngùi hiển nhiên bị đè bẹp sau ngày chiến thắng. Sự thật chỉ có Bộ chính trị cộng sản mới hóa rồ trong ngày 30/4 vì ‘mọi lợi quyền ắt hẳn về ta’. Nhưng người dân miền Nam sẽ không bao giờ chia sẻ niềm vui với đảng. Người ta bị bắt buộc phải vui một niềm vui giả tạo vì đảng đã phán đấy là ngày vui. Và cứ thế, đảng cộng sản cứ vui ngày chiến thắng và người miền Nam cứ buồn ngày quốc hận.

Sự phân cực tâm tình trong ngày 30/4 chỉ cơ hội hóa giải khi phe chiến thắng khiêm tốn xét mình trả lời câu hỏi : Phải chăng hàng trăm ngàn thanh niên miền Bắc khắc lời nguyền ‘Sinh Bắc Tử Nam’ lên tay, vượt qua những trận mưa bom B52 kinh hoàng, càn lướt trên những tấm thảm bom bi tan vỡ thân xác, để đổi lấy một tập đoàn ‘tổ quốc’ như ngày hôm nay ? Sự hy sinh đã bị đáp trả bằng sự phản bội.

Thủ tướng cộng sản Nguyễn Xuân Phúc kêu gọi người dân chống dịch corona như chống giặc bằng khí thế ngày 30/4. Dịch Corona đang được kiềm chế đáng nghi ngờ nhưng giặc Bắc Kinh thì không nghi ngờ gì nữa đã đóng quân trên mọi tuyến đầu phòng thủ, đang rung đập binh khí điếc tai trên Biển Đông. Khí thế ngày 30/4 là sự hoảng loạn chạy trốn tai họa cộng sản mà ông Phúc lấy làm đắc chí. Ông Phúc chứng tỏ sự vô cảm sắc lạnh của chế độ không có một chút đồng cảm với người miền Nam trong ngày chạy loạn. Mười bẩy triệu người miền Nam là giặc không được kể đến trong dân số tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

30041975-05

Ông Phúc chứng tỏ sự vô cảm sắc lạnh của chế độ không có một chút đồng cảm với người miền Nam trong ngày chạy loạn nhưng khi ông Trump hôm 26/6/2019 ho một tiếng, chỉ trích Việt Nam lạm dụng thương mại với Mỹ, thì vội vàng chạy tới rờ rẫm mơn trớn. (Ảnh chụp từ VTV1)

Mỗi năm Đảng cộng sản Việt Nam tổ chức ăn mừng ngày đại thắng 30 tháng 4 chỉ có mục đích ca ngợi thành tích bạo lực hòng che giấu sự thất bại toàn tập trong hòa bình. Đảng cộng sản cần phải ăn năn để trả lại Tổ Quốc Việt Nam cho người Việt Nam. Bằng cách thực hiện lương thiện tiến trình hòa giải dân tộc, tiến tới một cuộc bầu cử tự do, dân chủ hóa nước Việt Nam, kịp thời trước khi tổ quốc cộng sản của Trung quốc vung đao chiếm đoạt.

Sơn Dương

(24/04/2020)

Published in Quan điểm

Ngày này năm ấy…

Những ngày tháng Tư của 45 năm trước, chúng tôi, những đứa trẻ mới lớn, cũng như bao triệu người dân miền Bắc Việt Nam, cứ vểnh tai hướng về những chiếc loa công cộng được gắn đầy trên các cột điện, các cây cao trong mọi thôn làng, xóm bản, ra rả vào sáng, trưa, chiều, tối.

ngay1

Những bản tin liên tục được nhắc đến với những từ "Chiến thắng, thần tốc"… làm nức lòng hầu hết mọi người dân.

Người dân Miền Bắc vui mừng, người ta hồ hởi và náo nức chờ ngày "Chiến thắng". Đến ngày đó, đất nước sẽ được "Xây dựng lại hơn mười ngày nay" để cả nước, người dân được làm chủ, đất nước được huy hoàng "sánh vai với năm Châu" như Hồ Chí Minh đã hứa.

Không vui sao được, khi mà đã bao năm, cả miền Bắc Việt Nam duy nhất chỉ có những chiếc loa công cộng, những tờ báo đảng và những cuộc nói chuyện thời sự của cán bộ tuyên giáo đảng tổ chức. Ngoài ra, bất cứ ai, bất cứ người nào cố tình hoặc vô ý nghe những thông tin từ bên ngoài bức màn sắt như Đài BBC hoặc một đài nào khác, thì y như rằng người đó là kẻ phản bội Tổ Quốc và sau đó là những cuộc đi tù không án kéo dài chẳng có hẹn ngày về.

Khắp các hang cùng ngõ hẻm, những khẩu hiệu chi chít gắn trên những tấm ván, những liếp nhà nhắc nhở người dân :

Nghe đài, đọc báo của ta

Chớ nghe đài địch ba hoa, nói càn.

Hoặc ở những nơi công cộng rằng :

Ở đây tai vách, mạch rừng

Những điều bí mật, xin đừng ba hoa.

Những thiếu niên, nhi đồng trước mỗi buổi sáng vào lớp học, tất cả đều phải đồng thanh gào "Giải phóng Miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước"…

ngay2

Cứ vậy, hệ thống tuyên truyền của Miền Bắc cộng sản đã rất thành công khi nhồi nhét vào đầu người dân những điều họ muốn, những thứ họ cần.

Qua đó, người dân Miền Bắc chỉ biết được rằng, đồng bào miền Nam đang ngày đêm rên xiết dưới ách thống trị của Đế quốc Mỹ xâm lược và Ngụy quyền bán nước.

Ở đó, Đế quốc Mỹ đã không từ một thủ đoạn nào để cưỡng bức, hà hiếp người dân Miền Nam với những sự man rợ nhất.

Hồ Chí Minh đã tố cáo "Đế quốc Mỹ" : "Chúng dùng những phương tiện chiến tranh cực kỳ man rợ, như chất độc hoá học, bom napan, v.v.. Chúng dùng chính sách đốt sạch, giết sạch, phá sạch".

Khi đó, Hồ Chí Minh là thánh sống, là tiên tri, là anh hùng, đã nói gì thì "chỉ có đúng".

Những người thế hệ tôi vẫn nhớ bài thơ "Lá Thư Bến Tre" của Tố Hữu :

Có những ông già, nó khảo tra

Chẳng khai, nó chém giữa sân nhà

Có chị gần sinh, không chịu nhục

Lấy vồ nó đập, vọt thai ra.

Và :

Có em nhỏ nghịch, ra xem giặc

Nó bắt vô vườn, trói gốc sau

Nó đốt, nó cười... em nhỏ hét :

"Má ơi, nóng quá, cứu con mau !"

(Lá thư Bến Tre – Tố Hữu – 1962)

Rồi chuyện Đế Quốc Mỹ đầu độc cả mấy ngàn người ở Nhà tù Phú Lợi, rằng :

Hãy nghe tiếng của nghìn xác chết

Chết thê thảm, chết một ngày bi thiết

Cả nghìn nguời, trong một trại giam

Của một nhà tù lớn : Miền Nam !

(Thù muôn đời muôn kiếp không tan – Tố Hữu)

Những thứ đó đã đúc kết vào đầu, vào từng tế bào người dân Miền Bắc rằng, đang có một Miền Nam đau thương, một Miền Nam đói rách, một Miền Nam khốn khổ với những trò giết người, ăn thịt, mổ bụng moi gan hết sức tàn bạo dưới chính quyền Mỹ - ngụy bán nước...

Với sự ngây thơ, cả tin và cả buộc phải tin, người dân Miền Bắc đã đem bao lớp thanh niên vào Miền Nam để rồi một số lượng rất lớn không trở lại.

Thế rồi, ngày 30/4 cũng đến.

Ngày đó, rợp cờ, hoa và tiếng loa vang suốt ngày đêm không ngớt, rằng Tổ Quốc đã sang trang sử mới, rằng là từ đây người dân sẽ làm chủ đất nước này, rằng :

"Chúng ta chào mừng Tổ quốc vinh quang của chúng ta từ nay vĩnh viễn thoát khỏi ách nô dịch của nước ngoài, vĩnh viễn thoát khỏi họa chia cắt, chào mừng non sông gấm vóc Việt Nam liền một dải từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau, từ nay hoàn toàn độc lập, tự do và vĩnh viễn độc lập, tự do !"

Và : "Không thể có độc lập, tự do thật sự cho dân tộc nếu nhân dân lao động còn bị áp bức bóc lột. Cũng không thể giải phóng nhân dân lao động khỏi mọi xiềng xích áp bức bóc lột, nếu dân tộc không được độc lập, tự do".

(Trích Diễn văn của Lê Duẩn tại Mít tinh mừng chiến thắng ngày 15 tháng Năm, 1975 tại Hà Nội)

Người ta cứ nghĩ rằng, từ đây, đất nước Việt Nam, người dân Việt Nam sẽ được yên ổn và hòa bình, sẽ nhanh chóng xây dựng Thiên đường xã hội chủ nghĩa tại trần gian.

Kể từ đó, người cộng sản Việt Nam luôn vỗ ngực tự hào đã "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào".

Sau những cuộc lên đồng tự sướng với "Chiến thắng" với "Giải phóng"… người dân cả nước bắt đầu đối diện với một sự thật cay đắng.

Những lời hô hào "Hòa giải, hòa hợp dân tộc" mà Lê Duẩn đã trịnh trọng đọc trước cả nước và cả thế giới được thực thi tại Miền Nam bằng hàng loạt người bị bắt đi học tập, cải tạo – nghĩa là giam giữ không thời hạn, không án và không theo bất cứ luật lệ nào.

Những cuộc vây ráp, bắt bớ để "Cải tạo tư sản mại bản Miền Nam" – thực chất là diễn lại những cuộc cướp bóc trắng trợn theo mô hình Cải cách ruộng đất 1954 được tiến hành.

Chế độ cộng sản đã thống trị cả đất nước, bắt đầu một mô hình kinh tế tập thể với khẩu hiệu : "Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ nghĩa Xã hội".

Thế là "cuộc bỏ phiếu bằng chân" vĩ đại lại diễn ra lần thứ 2 tại Việt Nam khi những người dân một lần nữa quyết nói "Không" với cộng sản.

Hàng loạt người bỏ mình trên biển, chấp nhận mọi chết chóc, đau thương, mất mát để chạy khỏi sự lãnh đạo thiên tài của đảng.

Ở trong nước, người dân cả nước đối diện với một sự thật : Miền Nam không như họ nghĩ, họ biết và họ được tuyên truyền và cuộc chiến kia chỉ là cuộc chiến nồi da nấu thịt vì hệ tư tưởng cộng sản.

Và cả đất nước đi theo mô hình kinh tế tập trung, đã dẫn đến nạn đói triền miên.

Và ngày ấy năm này

Đã 45 năm sau cái ngày ấy.

Những ngày ấy của năm này, người ta đã thấy gì ?

Những lời hứa của người cộng sản năm xưa đã bay theo gió. Bởi đã gần nửa thế kỷ qua, người cộng sản đã làm ngược lại tất cả những điều họ đã hứa hẹn, hò hét, kêu gọi những khi buộc người dân dốc toàn lực cho họ.

Kinh tế kiệt quệ, người dân chán nản, lòng người ly tán, đất nước, xã hội suy đồi. Người dân được đảng đưa đi làm nô lệ, bán sức lao động khắp thế giới.

Người dân bằng mọi cách đua nhau đi ra nước ngoài kiếm sống. Thậm chí chấp nhận những cái chết dọc đường theo cách chui vào container để trốn lậu sang các nước tư bản giãy chết.

Cuộc bỏ phiếu bằng chân lần thứ ba đã xuất hiện ngày càng rầm rộ.

Những điều đó, ngày nay chẳng cần nói nhiều thì ai cũng thấy hết sức rõ ràng.

ngay3

Nhưng, điều quan trọng hơn, là thay vì đất nước "vĩnh viễn thoát khỏi ách nô dịch của nước ngoài" thì một phần lãnh thổ đất nước lại rơi vào tay quân Trung Quốc bằng những cuộc xâm lược thật sự với sự giúp đỡ đắc lực của chính đảng này.

Và "đất nước", "chủ quyền", "độc lập"… chỉ còn là sáo ngữ.

Trong khi đó, cái Đảng quang vinh kia, lại hành động ngược lại. Đảng coi nhân dân là kẻ thù.

Mới đây, ngày 3 tháng Tư năm 2020, lợi dụng khi nạn dịch xuất phát từ chính Trung Quốc đang làm cả thế giới chao đảo, Trung Quốc lại tiếp tục có những hành động ăn cướp trên Biển Đông, đâm chìm tàu của ngư dân trong lãnh hải Việt Nam.

Oái oăm thay, trong những trường hợp đó, Việt Nam chẳng có ai trong đám "Bạn bè trong phe XHCN" năm xưa lên tiếng.

Thế nhưng, khi Việt Nam cô đơn trong sự bỏ rơi, trước những trận đòn tấn công từ "người anh em xã hội chủ nghĩa", thì chính Hoa Kỳ lại lên tiếng phản đối sớm nhất và mạnh mẽ nhất.

Mới đây, ngày 6 tháng Tư, 2020, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Morgan Ortagus tuyên bố : "Đây là vụ việc mới nhất trong một loạt hành động của Trung Quốc nhằm khẳng định những tuyên bố hàng hải trái pháp luật và gây thiệt hại cho các nước láng giềng Đông Nam Á ở Biển Đông"

Ngày 9 tháng Tư, Bộ Quốc phòng Mỹ ra tuyên bố lên án hành vi này của Trung Quốc.

Và Việt Nam như bắt được vàng trước việc Hoa Kỳ lên tiếng.

Vậy là những ngày này, khi bị xâm lược thật sự, Việt Nam chỉ còn biết bấu víu vào đất nước mà 45 năm qua, họ đã từng tự hào "Đánh cho Mỹ cút".

45 năm đã qua, người Việt Nam đã thấy rõ rằng : Ngày ấy năm nay, hoàn toàn ngược lại những gì họ đã thấy, đã tin vào ngày này năm ấy.

Ngày 20/4/2020

J.B Nguyễn Hữu Vinh

Nguồn : RFA, 20/04/2020 (nguyenhuuvinh's blog)

Published in Diễn đàn

Những người chiến thắng đã gọi sự kiện 30/04/1975 là ngày thống nhất đất nước.

Tạm bằng lòng với khái niệm "thống nhất" ấy nhưng không thể không thấy rằng đó là cái giá quá đắt cho việc thống nhất quốc gia.

Bài học Tư Mã Viêm

Dù yêu hay ghét Trung Hoa, phần lớn trí thức Việt thời nào cũng đã đọc tác phẩm Tam Quốc Diễn Nghĩa. Trong đó, cả thế kỷ ly loạn của dân tộc Trung Hoa đã chấm dứt vào năm 280, khi quân Tấn "giải phóng" Đông Ngô, thống nhất đất nước (nói theo chữ của nhà nước đương thời).

mot1

Đền Bạch Mã, Lạc Dương. Thành phố này từng là kinh đô nhà Tấn và một số triều đại khác của Trung Quốc

Nội dung chính của bài viết này nói về những cảnh xảy ra ngay sau bối cảnh tác phẩm của nhà văn La Quán Trung.

Trước khi chết, Tư Mã Ý dặn dò con cháu phải biết lấy lòng người để được thiên hạ. Có lẽ vì thế mà sau khi thắng Thục rồi diệt Ngô, những nhà lãnh đạo họ Tư Mã nhìn chung đã đối xử rất tử tế với những người thua trận.

Dù ban đầu có những sự không bằng lòng nhất định, nhưng về sau nhà Tấn đã nhận được sự quy phục từ đông đảo nhân dân và các quý tộc cũ của Thục -Ngô.

Sau thống nhất, triều đình nhà Tấn không trả thù những người thua trận, tạo điều kiện ổn định đời sống nhân dân.

Không có tù cải tạo, cũng không có cảnh ồ ạt người vượt biên hay trốn tránh sự truy lùng của họ Tư Mã. Cộng với việc có công thống nhất, nhà Tấn đã giành được lòng người, họ vẫn luôn được nhân dân che chở và ủng hộ sau này khi đã thất thế.

Dẫn tới việc nhà Tấn tồn tại trên danh nghĩa đến hơn 150 năm, dù thực tế triều đại này chỉ "sống khỏe" trong không tới ba thập kỷ đầu.

Cái giá cho việc họ Tư Mã thống nhất đất nước quá đắt bởi không lâu sau khi "hoàn thành đại nghiệp", Tấn Vũ đế mắc sai lầm quan trọng nhất trong việc chọn người kế vị (chưa kể lối sống xa hoa trong triều), dẫn tới hàng loạt tai họa giáng xuống triều đình và dân chúng sau khi ông qua đời.

Hai mươi năm sau khi thống nhất, Trung Hoa bước vào cuộc nội chiến (Loạn bát vương) khiến mấy chục vạn người mất mạng. Đất nước suy kiệt, cuối cùng bị ngoại tộc thôn tính.

Khi quân Hán Triệu chiếm được Lạc Dương vào năm 310, tàn sát quân dân nhà Tấn cũng vừa đúng chẵn 30 năm sau khi Tư Mã Viêm "giành trọn vẹn non sông".

mot2

Người tỵ nạn Nam Việt Nam đi thuyền ra tàu Mỹ những giờ cuối của cuộc chiến Việt Nam

Nếu còn cục diện Tam Quốc, hẳn dân tộc Trung Hoa đã không phải chịu một trang sử đen tối khi hai vị vua Tấn bị nhà Hán Triệu làm nhục (Tấn Hoài đế và Tấn Mẫn đế bị bắt làm nô bộc, rồi giết chết).

Nếu được chọn lại, người Hoa sẽ chọn thống nhất để lại loạn lạc và mất nước vào tay ngoại bang, hay chọn giữ nguyên cục diện thế chân vạc thời Tam Quốc ?

Thống nhất, nỗi ám ảnh của người Á Đông

Việt Nam, Trung Quốc và kể cả Triều Tiên đều đã có nhiều giai đoạn khác nhau trong lịch sử chịu cảnh chia cắt.

Theo thời gian, những nhà cầm quyền luôn tìm cách tận dụng tối đa nhu cầu thống nhất để khích lệ, thậm chí kích động dân chúng hăng say sản xuất và chiến đấu, phục vụ quyền lợi của giai cấp thống trị.

Cũng vì lẽ đó, rất nhiều trong đông đảo nhân dân cũng dần bị ám ảnh bởi viễn cảnh thống nhất. Thậm chí thống nhất bằng mọi giá, bất chấp thiệt hại về sinh mạng, về kinh tế và gây ra những ảnh hưởng lâu dài tới đà thăng tiến của cả dân tộc.

Vì lẽ đó, biến cố tháng 4/1975 đã được người dân miền Bắc đón chào nhiệt liệt, họ đã được tuyên truyền một cách tinh vi trong thời gian rất dài về sứ mệnh vĩ đại đi "giải phóng", tính chính nghĩa của đội quân đi "thống nhất đất nước".

Tôi, một người lớn lên ở miền Bắc sau 1975 từng băn khoăn việc vì sao quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng Hòa không đi giải phóng miền Bắc.

Và đã đi tìm câu trả lời trong nhiều năm mà không có bất kỳ ai hướng dẫn, cho tới khi đọc đủ nhiều sách để tìm ra đáp án.

mot3

Bé gái Barbara trong tay một nữ tu Việt Nam. Ảnh chụp ngày 14/04/1975 ở Sài Gòn. Em bé sau được người Mỹ, Gerard Constant (trái), cùng vợ nhận làm con nuôi trong câu chuyện "Rescued from Saigon".

Nó có thể đúng hoặc không đúng tùy vào quan điểm và tầm hiểu biết mỗi người, nhưng ít nhất cũng cho thấy không phải phía Quốc Gia không có ý định Bắc tiến.

Nước Đức không tốn máu xương, không có chiếc xe tăng nào húc đổ bức tường Berlin, giải phóng miền Tây, thống nhất đất nước. Họ đã chọn đúng thời cơ (Liên Xô tan rã) để thống nhất trong hòa bình. Đôi miền Triều Tiên vẫn còn chia cắt chưa biết tới bao giờ.

Nhưng người dân nhiều nước như Tiệp Khắc, Nam Tư đã chấp nhận sự chia cắt, quốc gia cũ của họ tan ra làm những nước khác nhau. Khi người ta không thể sống chung, tốt hơn hết hãy tách ra.

Nỗi đau khổ hậu thống nhất

Trong cuốn hồi ký Đôi Dòng Ghi Nhớ, đại tá Phạm Bá Hoa từng nói về sự hiểu lầm của thế giới tự do với phe cộng sản.

Đại thể phía tự do hiểu hòa bình là hết chiến tranh, thì khái niệm hòa bình với người cộng sản là khi họ đã thôn tính tất cả đất đai, đè bẹp sức kháng cự của những kẻ chống lại họ.

Cũng trong cùng tác phẩm, tác giả đã nói đến những đau khổ của đất nước sau khi thống nhất, mà chỉ khi rơi vào tay địch, ông mới biết thực tế thế nào là cộng sản.

Những cuộc thanh trừng lẫn nhau giữa các vương tôn họ Tư Mã thời hậu Tam Quốc, cũng như sự xa xỉ của triều đình trung ương (điển hình vụ viên quan Thạch Sùng khoe mẽ của cải đã trở thành chuyện ngụ ngôn truyền đời) đã khiến nhân dân thời Tấn vô cùng khốn khổ, mà giới sử gia đánh giá mức độ tàn khốc của cuộc nội chiến còn lớn hơn nhiều so với thời Ngụy - Thục - Ngô tranh hùng.

Và hãy nhìn lại những nhà lãnh đạo Việt Nam từ sau 1975 đến nay, ngoài vấn đề cách ứng xử với người đồng bào thua trận, họ có điểm gì khác và giống so với họ Tư Mã thời Tây Tấn ?

Không thể phủ nhận rằng, nhà nước đã có những nỗ lực nhất định trong việc ổn định tình hình, nâng cao đời sống nhân dân (mà chính họ đã kéo tụt xuống ngay sau biến cố 1975).

Nhưng vì sao ngay trong lúc truyền thông nhà nước ca ngợi những "thành tựu" về giáo dục và y tế, thì chính lãnh đạo và con cái họ lại bỏ ra nước ngoài du học và chữa bệnh ?

Còn ở bên ngoài, biển đảo và đất liền cứ bị ngoại bang đe dọa từng ngày ? Và ở những miền quê, người ta nỗ lực hết mình để được xuất khẩu lao động, xuất khẩu cô dâu để sang những nơi còn chưa thống nhất (bị Mỹ đô hộ ?) như Đài Loan, Nam Hàn ?

Cái giá của sự thống nhất, xin nhắc lại, thống nhất về lãnh thổ ấy quá đắt với nhân dân nhà Tây Tấn thời hậu Tam Quốc và với nhân dân Việt Nam 17 thế kỷ sau.

Lê Mai Hoa

Nguồn : BBC, 30/04/2019

Lê Mai Hoa hiện tu nghiệp tại Texas, Hoa Kỳ.

Published in Diễn đàn
mardi, 30 avril 2019 17:37

Có còn ngày vui ?

Tôi đang ngồi uống cafe một mình trong một buổi chiều 30/4 se lạnh. Những cơn mưa xối xả từ đêm qua làm Hà Nội những ngày nghỉ lễ vắng người càng buồn hơn.

vui1

Khi miền Bắc còn nghèo nàn lạc hậu, tôi mới 2 tuổi đã được bước lên chiếc máy bay C130 sơn cờ đỏ sao vàng để bay vào Sài Gòn.

Nhắc đến ngày này không ai là người Việt Nam lại không nhớ đến câu nói nổi tiếng của cố thủ tướng Võ Văn Kiệt : "...một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại theo các lối cũ vẫn làm, sẽ "có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn...". Chính vì lẽ đó, hôm nay trong bài viết này tôi muốn trải lòng với các bạn về những suy nghĩ của mình trong ngày cuối cùng của tháng tư buồn đau.

Là thế hệ sinh năm 1975 ở miền Bắc, khi tôi lớn lên thì cuộc chiến giữa 2 miền Nam Bắc đã hoàn toàn chấm dứt. Tôi còn nhớ như in ký ức đầu tiên về miền Nam của mình là hình ảnh chiếc máy bay C130 to lớn. Ngày đó bố tôi là lính mặt đất trong các sân bay quân sự miền Bắc. Sau năm 1975, hàng loạt các khí tài quân sự của miền Nam chưa hỏng hóc vì chiến tranh được miền Bắc đem về sử dụng. Và như để là sự tưởng thưởng công lao, hồi đó lính không quân miền Bắc được đem cha mẹ, vợ con đi chơi bằng máy bay quân sự vào miền Nam, mỗi năm một lần. Chính vì thế năm 1977, khi miền Bắc còn nghèo nàn lạc hậu, tôi mới 2 tuổi đã được bước lên chiếc máy bay C130 sơn cờ đỏ sao vàng để bay vào Sài Gòn.

Đó là một trải nghiệm cực kỳ mạnh mẽ, nên dù chỉ mới 2 tuổi nhưng tôi vẫn còn nhớ như in màu thép đen và hình dáng khổng lồ của chiếc máy bay đó. Rồi suốt trong khoảng 10 năm sau đó, hè năm nào tôi, trong niềm tự hào với bạn bè cùng trang lứa, cũng được đi máy bay vào Nam chơi ở nhiều nơi, từ Sài Gòn, Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt. Thế nên dù chưa hiểu gì về chính trị hay lịch sử, nhưng những hình ảnh trong tôi về miền Nam là những hình ảnh chân thực nhất của một miền đất mới được "giải phóng", chưa hề thay đổi gì nhiều so với ngày nay. Những chiếc xe xích lô cao vút, những góc phố chợ trời bày biện đủ thứ linh tinh, những ngôi biệt thự nguy nga cắm cờ đỏ, mùi khói của những chiếc xe lam hối hả trên đường... tất cả những điều ấy ghi sâu trong ký ức non nớt của tôi, và mãi sau này chính nó là chất xúc tác làm tôi tỉnh ra và hiểu được câu chuyện thực về Sài Gòn nhanh hơn so với rất nhiều bạn bè khác.

vui2

Khoảng những năm 1982 - 1983, gia đình tôi sống cùng ông bà nội ở khu tập thể Kim Liên.

Không chỉ hình ảnh miền Nam ở miền Nam, trong ký ức của tôi còn có cả hình ảnh của miền Nam ở Hà Nội. Khoảng những năm 1982 - 1983, gia đình tôi sống cùng ông bà nội ở khu tập thể Kim Liên. Hồi đó đây là một trong những khu chung cư đầu tiên của miền Bắc dành cho gia đình cán bộ cấp cao trong các ban ngành đoàn thể. Hàng xóm nhà tôi toàn kỹ sư, bác sỹ, giáo viên... thậm chí còn có nhiều vị bộ trưởng, thứ trưởng oai phong lắm. Trong bối cảnh đó, có một điều rất kỳ lạ là gia đình tôi lại đón tiếp những người họ hàng rất lạ lẫm từ miền Nam ra, và ở lại rất lâu. Họ có trang phục khác hẳn người miền Bắc, rất chỉn chu, kiểu cách. Nhưng thái độ của họ là sự dè chừng, thu mình, nhẫn nhịn hết sức để tránh làm phiền đến xung quanh. Mãi sau này, tôi mới biết một điều rất đau lòng là họ ra Hà Nội tá túc ở gia đình nhà tôi để làm thủ tục đi thăm chồng, thăm cha là lính Việt Nam Cộng Hòa đang đi cải tạo trong các trại tù miền Bắc. Chính vì thế, tôi đã có những trải nghiệm tiền đề rất căn bản, để thay đổi hẳn những suy nghĩ của mình so với những điều được giáo dục, được nhồi sọ về miền Nam từ rất sớm.

Thế rồi theo thời gian, khi sự thật lịch sử được phơi bày, khi những tiếng nói của "bên thua cuộc" được cất lên, rất nhiều người miền Bắc đã thay đổi. Trong bao nhiêu năm qua, cho đến tận bây giờ những ngày tháng tư đau buồn dù được hệ thống tuyên truyền nhà nước cố sức quảng bá cho cái gọi là : "giải phóng miền Nam", "Thống nhất tổ quốc", "đánh đuổi giặc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai Nguỵ quyền Sài Gòn"... có ngày càng nhiều người được giải ảo, được mở mắt thông não về thực chất của sự kiện 30/4... Và người ta sụp đổ niềm tin không phải chỉ do những tài liệu, bài viết hay những lời nói của "bên thua cuộc" được cất lên. Thực trạng yếu kém, sự tụt hậu của đất nước, sự lăm le thôn tính của Trung Quốc, sự ngu dốt và ươn hèn của lãnh đạo trong các vấn đề tầm vóc quốc gia... chính là những tác động lớn nhất để người dân mất hết niềm tin, quay ra đi hỏi tại sao, và đồng thời có suy nghĩ rất khác về ngày 30/4 so với trước kia.

Tuy nhiên ý kiến bảo vệ những lập luận về ngày này của chế độ vẫn còn không phải là ít. Sự hung hăng và hiếu chiến đó bạn có thể bắt gặp ở bất cứ đâu trên Facebook trong những ngày cuối tháng tư. Và những lời nói đó không phải chỉ có ở dân miền Bắc mà còn từ các bạn trẻ miền Nam nói ra rất nhiều. Tôi vốn rất khó chịu với những lập luận đầy thù hận và ngu ngốc này nhưng không muốn tranh cãi nhiều, vì tôi biết những bạn trẻ đó vẫn đang bị nhồi sọ giống như tôi ngày xưa thôi.

Tôi vẫn tin là thời gian và những trải nghiệm cuộc sống sẽ cho các bạn trẻ cơ hội để tỉnh ngộ. Và điều cuối cùng tôi muốn nói là : chỉ có kẻ nào sống bằng xương máu người khác mới vui được thôi, nói triệu người vui bây giờ không còn đúng nữa rồi, ông Kiệt ạ !".

Nguyễn Lân Thắng

Nguồn : RFA, 30/04/2019n (nguyenlanthang's blog)

Published in Diễn đàn

Có phải chính quyền cộng sản Việt Nam tránh nói từ "giải phóng" trong dịp kỷ niệm 30/4 năm nay ?

Dịp lễ 30 tháng 4, ngày kỷ niệm kết thúc cuộc chiến Việt Nam mà Hà Nội gọi là ngày giải phóng Miền Nam, thường được chính quyền Việt Nam tổ chức rầm rộ với các hoạt động tuyên truyền nhiều mặt trong cả nước. Riêng năm nay thì hoạt động này có phần im ắng hơn hẳn, theo nhận xét của một số nhà quan sát.

giaiphong1

Hình minh họa. Lễ kỷ niệm 40 năm kết thúc cuộc chiến Việt Nam ở Sài Gòn hôm 30/4/2015 - AFP

Thay biểu ngữ, ít cờ quạt

Theo Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng - người hiện đang sống ở thành phố Hồ Chí Minh, việc tổ chức kỷ niệm ngày 30 tháng 4 của Nhà nước năm nay là một hiện tượng đặc biệt và bất thường khi liều lượng và mật độ tuyên truyền cho ngày 30 tháng 4 giảm hẳn, chỉ bằng từ một phần tư đến một phần ba so với những năm trước.

"Đặc biệt là khẩu hiệu "Giải phóng miền Nam, Thống nhất đất nước" không còn nhiều trên mặt báo mà chủ yếu chỉ còn "Thống nhất đất nước" và bỏ đi cụm từ "Giải phóng miền Nam". Các lễ hội cấp trung ương, địa phương không thấy tổ chức rình rang ở Sài Gòn, không duyệt binh, không bắn pháo hoa…liên quan đến ngày 30 tháng 4".

Theo nhận định của một số người dân trong nước thì năm nay Nhà nước không có những hoạt động mà mấy chục năm qua họ vẫn thấy như bắt treo cờ, tổ chức những chương trình tuyên truyền ca ngợi ‘lịch sử hào hùng’. Anh Hùng từ Hà Nội cho biết :

"Không biểu ngữ, không băng rôn, không loa phường tuyên truyền như mọi năm. Mọi năm rầm rộ với các khẩu hiệu treo trên cột điện dọc khu phố, chăng ngang qua các tuyến đường. Tổ dân phố họp tại các khu chung cư để ăn mừng và ôn lại "lịch sử hào hùng".

Anh cho biết, trước đây tất cả các hộ dân đều phải treo cờ tổ quốc ; loa phường hoạt động tối đa để tuyên truyền, thậm chí trong các cuộc nhậu "người ta" cũng hô khẩu hiệu ‘mừng giải phóng’... năm nay khẩu hiệu đó ít xuất hiện hẳn trong các cuộc nhậu. Ai muốn treo cờ thì treo, phía chính quyền họ chỉ đi nhắc nhở.

Anh Linh từ Sài Gòn cho biết mọi năm nhà nào cũng bị bắt phải treo cờ, thậm chí người trên phường xuống nhà dân treo rồi bắt dân phải trả tiền. Năm nay tình trạng đó không còn nữa.

"Sài Gòn chỉ khác hơn ngày thường một chút vì có vài nhà treo cờ chứ không như mọi năm. Những chương trình ăn theo lễ lạc do Nhà nước tổ chức gần như không có. TV cũng im ắng, không như mọi năm là chiếu phim lịch sử. Treo cờ cũng rất hời hợt, lác đác. Họ chỉ nhắc nhở chứ không bắt buộc phải treo".

Giáo sư Hoàng Dũng từ Huế nêu ý kiến rằng ở Việt Nam, mọi tuyên truyền đều có chỉ thị từ Ban tuyên giáo, vì vậy chuyện truyền thông mạnh hay yếu đều do một ‘đạo diễn’. Việt Nam không có báo chí tư nhân mà chỉ là tiếng nói của Nhà nước, của đảng. Ông nói :

"Năm nay có một yếu tố khách quan là không phải năm chẵn nên họ không tổ chức lễ rầm rộ, nhưng yếu tố đó cũng không đến nỗi phải tổ chức một cách lặng lẽ như năm nay".

Ảnh hưởng bởi quan hệ Việt - Mỹ

Là một người dân sống ở Sài Gòn từ trước năm 1975, chứng kiến việc tổ chức lễ kỷ niệm ngày "giải phóng đất nước" mấy chục năm qua, anh Linh cho rằng năm nay Nhà nước không tổ chức rình rang như mọi năm vì nhiều nguyên nhân. Thứ nhất là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sắp đi Mỹ ; thứ hai là chính quyền đã có một cách tiếp cận xã hội khác, có nghĩa là chính quyền hiểu tâm lý người dân nên đã hạn chế tuyên truyền.

giaiphong2

Hình minh họa. Tổng thống Mỹ Barack Obama và Chủ tịch Trương Tấn Sang (trái) ở Nhà Trắng hôm 25/7/2013 AFP

Đánh giá về các nguyên nhân khiến chính quyền Việt Nam hạn chế tuyên truyền cho ngày 30/4 năm nay, nhà báo Phạm Chí Dũng cho rằng, đó là do quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam đã thay đổi, và điều đặc biệt quan trọng là chuyến đi của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tới Mỹ trong thời gian tới :

"Càng về sau này tư tưởng và quan điểm ngả về Mỹ trong giới quan chức ở Việt Nam ngày càng lộ rõ, đặc biệt là dàn quan chức cấp Bộ trưởng, Thứ trưởng và cấp Bí thư, Chủ tịch tỉnh, thành. Họ có thân nhân và tài sản ở nước ngoài, chủ yếu là ở Mỹ cho nên họ cần bảo đảm sinh mạng chính trị, sinh mạng sinh học cũng như tài sản của họ. Nhưng họ cũng rất e sợ Trung Quốc cho nên họ dựa vào quan điểm gần đây của Nguyễn Phú Trọng là giãn và ngả dần về Mỹ, do đó họ không còn hào hứng với việc tuyên tuyền cho ngày 30 tháng 4".

Ông Dũng dẫn ra một so sánh về việc tuyên truyền cho ngày 30 tháng 4 năm nay và việc tuyên truyền cho ngày Trung Quốc xâm lược biên giới phía Bắc, ngày 17 tháng 2 trong cùng năm 2019 :

"Khi mật độ và liều lượng tuyên truyền cho ngày 30 tháng 4 năm nay giảm hẳn thì việc tuyên truyền cho ngày Trung Quốc xâm lược biên giới phía Bắc, ngày 17 tháng 2 lại rộ lên. Báo chí Nhà nước đồng loạt lên tiếng tố cáo giặc Trung Quốc xâm lược Việt Nam và mô tả chi tiết một số trận đánh xâm lược của Trung Quốc. Đây là điều trước đây không có.

So sánh như vậy để thấy quan điểm đối ngoại của ĐViệt Nam đang có một sự thay đổi và tôi cho rằng đây là sự thay đổi mang tính chất bước ngoặt".

Từng là cựu thù trong thời gian chiến tranh Việt Nam và trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, Việt Nam và Mỹ giờ đây đã trở thành các đối tác. Hai nước đã chính thức bình thường hoá quan hệ từ năm 1995 và đến năm 2013 hai nước nâng tầm quan hệ lên đối tác toàn diện.

Những căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc liên quan đến những tranh chấp về chủ quyền ở Biển Đông cũng khiến quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam thêm gần. Trong chiến lược an ninh quốc gia của Hoa Kỳ công bố hồi năm 2017, Hoa Kỳ đã xác định Việt Nam là một đối tác đang lên về an ninh và kinh tế.

Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 được Nhà nước Việt Nam gọi là Ngày giải phóng miền Nam, Thống nhất Đất nước, nhưng cũng là ngày khiến hàng triệu người phải bỏ nước ra đi. Cuộc chiến cũng đã cướp đi sinh mạng của gần 3 triệu người Việt và 58.000 người Mỹ.

Cố Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt cũng đã từng thừa nhận việc nhắc lại cuộc chiến theo cách quen thuộc của chính quyền Việt Nam sẽ có "hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn".

Diễm Thi

Nguồn : RFA, 30/04/2019

Published in Diễn đàn
mardi, 01 mai 2018 21:52

Vệt đen 30 tháng 4

Có những vết thương liền sẹo và trở nên hiền lành, người ta nhìn vết thương như một kỉ niệm buồn (mà có thể đẹp !). Có những vết thương cứ sưng tấy theo thời gian và càng cố xoa dịu, thời tiết, khí độc lại càng làm cho nó mưng đau. Tôi gọi 30 tháng 4 là một vết thương mưng đau. Bởi lẽ…

vet1

Hiện trạng Việt Nam là hiện trạng của tiền, tiền và tiền.

Nếu nhìn suốt chiều dài đất nước hình chữ S này, mốc thời gian 30 tháng 4 là một mốc lịch sử vừa đáng nhớ vừa kinh hoàng. Đáng nhớ bởi từ giây phút ấy, người Nam kẻ Bắc được gặp nhau, cho dù gặp nhau trong hận thù hay gặp nhau trong nước mắt đoàn tụ thì một cuộc gặp như vậy cũng giải quyết được hàng hàng lớp lớp mọi ẩn ức của một dân tộc đã sống và chết trong phân ly Nam – Bắc.

Nhưng đằng sau sự gặp nhau ấy là gì ? Là sự mất mát quá lớn mà lẽ ra nó không xảy ra đối với người miền Nam cũng như sự vui mừng, hãnh tiến quá đà của người phía Bắc mà lẽ ra nó cũng không nên có. Sự mất mát quá lớn ấy nhanh chóng làm sụp đổ một nền văn minh, văn hóa non trẻ mà người miền Nam đã cố gắng xây dựng được trong khói lửa chiến tranh. Sự hãnh tiến, reo hò và có phần chụp giật, manh động, đẩy đến tầng suất cướp bóc của người miền Bắc đã nhanh chóng lấy đi toàn bộ cái ý nghĩa ban đầu của hàng triệu người là "cứu người miền Nam khỏi ách đô hộ…", đẩy họ đến cánh rừng tâm thức tập thể bầy đàn.

Và cái vệt bầy đàn kể từ sau 30 tháng 4 năm 1975 với cướp bóc, giết tróc, trả thù, reo hò chiến thắng, đẩy người khác ra đường, xuống biển, vào trại cải tạo hay lên vùng kinh tế mới… không hề ngừng, nó vẫn kéo dài cho đến bây giờ, phát triển mức độ tàn bạo của nó với màu sắc, hình hài khác. Điều này chẳng khác nào vết thương không những được chăm chuốt cho lành lặn mà còn bị tác động gây đau liên tục cho đến ngày sưng tấy và hoại tử của dân tộc.

Hiện trạng đất nước, nếu nhìn từ bề ngoài thì nhà cửa xây càng ngày càng nhiều, càng cao, đường sá mở ra ngày càng nhiều, bê tông hóa liên tục, đô thị hóa liên tục… Nhưng, giả sử như Việt Nam cố gắng để trở thành một đô thị lớn trong khu vực, thì du khách, nhà kinh doanh từ các nước văn minh, thậm chí cả những du khách vốn ồn ào, hành xử thô lỗ như Trung Quốc sẽ tìm gì ở cái thành thị của khu vực này ?

Đương nhiên, tiêu chuẩn của một đô thị hay vùng quê nào cũng là chiều sâu văn hóa, cung cách ứng xử thương mại và mức độ văn minh của con người bản địa. Người ta không chỉ tìm đến Việt Nam để ăn hải sản, để tìm gái, để thả sức vung tiền vào những tửu quán hay các hộp đêm giả cầy chuyên chặt chém. Thứ mà người ta cần tìm là con người và văn hóa bản địa. Đi du lịch hay đi kinh doanh không có nghĩa là tìm những căn nhà, những khách sạn, những khu giải trí tiêu chuẩn 5 sao, 5 sao + về mặt xây dựng, kiến trúc để rồi gặp những con người trống rỗng, vô cảm, chỉ biết tiền, tiền và tiền… !

Hiện trạng Việt Nam là hiện trạng của tiền, tiền và tiền. Nếu muốn có danh dự, muốn có sức nặng của tiếng nói, bạn không cần phải có nhiều tri thức hoặc bạn không cần phải là người tỉnh thức. Bạn có thể nói năng lớ mớ, bổ bả, vô hồn những điều hết sức nhảm nhí nhưng tiền của bạn chi ra thật nhiều thì mọi thứ lớ mớ, nhảm nhí và bổ bả của bạn sẽ thành chân lý của một đám đông khổng lồ, bởi những con người hưởng "mưa móc" từ tiền của bạn.

Và trên đất nước này, qui luật cá lớn nuốt cá bé đang là qui luật chung, có tính phổ quát. Một người nghèo, không có danh phận trong xã hội, cho dù chỉ ăn cắp một ổ bánh mì và biết ăn năn, hối lỗi thì vẫn bị phạt tù ba năm, năm năm… Một kẻ có quyền thế, địa vị, thì y/thị có thể ăn cắp cả một cánh rừng gỗ quí, thậm chí ăn cắp bí mật quốc gia hay ăn cắp sinh mệnh, tương lai của người khác… Y/thị vẫn nhơn nhơn sống trong "danh dự, uy tín và quyền lực". Đó là sự thật !

Và đất nước cứ dần thay đổi màu sắc một cách lạnh lùng, xơ cứng, giả tạo, bê tông hóa. Tâm hồn con người cũng dần bị xơ cứng, bê tông hóa, trí tuệ của con người bị mụ mị trong công cuộc đánh tráo khái niệm. Giá trị tri thức và danh dự được hoán đổi bằng giá trị tiền bạc… Ngay cả tôi, người viết bài này, khi gặp cha mẹ vợ, anh em vợ, thay vì tôi ngồi tâm tình với họ những gì sâu thẳm của tôi, của con người với con người, tội buộc lòng phải chọn kể cho họ nghe tôi đã sắm được những gì, giàu có cỡ nào… Bởi họ thích nghe câu chuyện đó hơn là ngồi tâm tình, bình luận hay bàn thảo về xã hội, nghệ thuật… Bởi những thứ đó đối với họ quá xa lạ, họ chỉ cần nhìn cái nhà, cái xe, bộ áo quần tôi mặc. Đó là sự thật đau lòng, nhưng tôi cũng đành bó tay !

Và tuổi trẻ, phần đông, phải nói là rất đông tuổi trẻ Việt Nam đều có mối quan tâm về tiền bạc, gia tài của cha mẹ để lại lớn cỡ nào chứ chẳng mấy ai quan tâm về đạo đức, văn chương, nghệ thuật hay triết học… Bởi những thứ ấy xa xỉ và vô bổ đối với họ. Đối với những đứa em vợ của tôi, chúng trẻ, học hành có bằng này bằng nọ, và cả bạn của chúng cũng như thế hệ của chúng, khi nói ra, tôi chỉ nghe tiền, nhà cửa, xe cộ, ngồi ăn nhà hàng nào, uống quán nào, giá bao nhiêu… Tất cả là danh dự, đẳng cấp và vị thế, giá trị làm con người của chúng. Chấm hết !

Đất nước trở nên khốn đốn, khốn nạn và đồi bại như này hôm nay là do đâu ? Hãy nhìn lại những tháng ngày xếp hàng, giành giật từng miếng ăn như bầy đàn của các thế hệ trước trong thời kinh tế tập trung bao cấp ! Hãy nhìn vào công cuộc thao túng quyền lực bằng lợi ích nhóm của gần đây và hiện tại ! Hãy nhìn vào chương trình giáo dục, đào tạo con người xã hội chủ nghĩa cũng như những thanh âm cuồng nộ của nó sau mỗi dư chấn giáo dục tỉ như Sầm Đức Xương, cải cách giáo dục, thầy giáo yêu râu xanh, dạy thêm, học thêm, tham nhũng, hối lộ (kể cả hối lộ tình dục) trong ngành giáo dục !

Và hãy nhìn cung cách hành xử của người Trung Quốc ngay trên đất nước Việt Nam cũng như những gì gọi là "biện pháp đối phó" của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đối với họ ! Hãy nhìn tương lai tự do cho người dân Việt Nam ! Hãy nhìn vào thẳng lòng yêu thương đã bị tổn thương bởi tiếng reo hò của kẻ thắng cuộc và giọt nước mắt của nhiều thế hệ đã nhỏ xuống mặt trái của trang lịch sử ! Hãy nhìn và hãy nhìn… !

Mọi thứ bạn và tôi nhìn được sẽ không giải quyết được bất kì thứ gì ngoài việc làm cho chúng ta nguôi ngoai nỗi đau, nỗi cô đơn khi bạn tìm một tiếng nói hay một hơi thở tâm hồn đồng điệu, đồng cảm. Và cái điều đáng sợ nhất là hiện nay, khi mà đất nước đã trở nên rối ren và tao loạn, thì việc triệt hạ cường quyền ác bá cho dù có thực hiện được cũng không làm thay đổi thực trạng một cách nhanh chóng hay rốt rào mà cái vệt đen này còn kéo dài qua nhiều thế hệ !

Tôi xin gọi đây là cái vệt 30 tháng 4, kể từ khi đất nước nối liền Nam – Bắc và chịu chung một luật chơi mới đầy manh động, máu lạnh cho đến bây giờ và không biết mãi cho đến bao giờ !

Viết từ Sài Gòn

Nguồn : RFA, 01/05/2018 (VietTuSaiGon's blog)

Published in Diễn đàn

Lần kỷ niệm thứ 43 ngày "30 tháng 4" năm 2018 ở Việt Nam không còn được người dân quan tâm bằng những cuộc vui chơi, tắm biển và giải trí, nhưng hận thù dân tộc lại được phe Tuyên giáo và Quân đội khơi lên gay gắt hơn bao giờ hết.

Ở Trung ương, đảng và nhà nước đã thay việc tổ chức các lễ kỷ niệm hào nhoáng và tốn phí bằng những buổi ca nhạc để phô trương thành tích đã mờ nhạt và phản cảm gọi là "giải phóng miền Nam, thồng nhất đất nước". Các buổi lễ ở địa phương cũng chỉ bày ra để cho các viên chức lãnh đạo xếp hàng chụp ảnh để báo cáo nhưng rất ít có dân tham dự.

kyniem1

Hàng ngàn người dân Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đổ xô đến các công viên vui chơi dịp 30/4

Trong khi ấy thì hàng triệu người dân đã lợi dụng 4 ngày nghỉ lễ dịp 30/04 và Lao động 01/05 (từ 28/04 – 01/05/2018) để trốn khỏi cảnh sống chật hẹp và oi bức ngộp hơi ở thành phố đến những nơi có biển tắm mát và nghỉ ngơi thoải mái.

Tuy nhiên, có nhiều người ra đi mà không bao giờ trở lại. Theo báo cáo của Bộ Công an thì : "Trong bốn ngày nghỉ lễ, từ 28/4 đến 1/5, cả nước xảy ra 113 vụ tai nạn giao thông, làm chết 79 người, bị thương 79 người. Riêng ngày cuối cùng kỳ nghỉ lễ 1/5 có 27 người chết, 33 người bị thương".

So với bốn ngày nghỉ lễ năm 2017 (29/4 đến 2/5/2017), tai nạn giao thông năm nay, giảm 12 vụ (9,6%) ; giảm 19 người chết (19,4%), giảm 11 người bị thương (12,2%).

Đó là những chuyện bề nổi của ngày đã được cơ quan tuyên truyền của đảng tô son vẽ phấn gọi là "Đại thắng mùa Xuân 1975", một bi hài kịch tự kiêu cộng sản.

Nhưng khác với các năm trước, lần đầu tiên trong 43 năm kỷ niệm ngày Quân đội cộng sản vào Sài Gòn ngày 30/04/1975, Ban Tuyên giáo và Tổng cục Chính trị quân đội đã phải tập hợp một số người viết bài đề cao ý nghĩa của "Đại thắng mùa Xuân". Mục đích là để bác bỏ những quan điểm cho rằng, dù phải vừa chiến đấu và xây dựng, nhưng "chế độ Việt Nam Cộng Hòa" ở miền Nam trước 1975, vẫn có nhiều lĩnh vực thành công và đáng trân trọng hơn Chính phủ cộng sản của thời bình.

Báo Quân đội nhân dân

Báo Quân đội nhân dân viết : "Chiến tranh đã lùi xa, Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam mong muốn khép lại quá khứ để nhìn về tương lai hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển. Đại thắng mùa xuân năm 1975 thực sự là động lực để chúng ta vượt qua mọi gian nan, thử thách, vững bước tiến lên vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho hôm nay và muôn đời sau.

Thế nhưng đến nay vẫn có những kẻ cố lừa phỉnh dư luận qua việc ngợi ca chế độ dân chủ, tự do và kinh tế phát triển dưới thời chính quyền Sài Gòn, phủ nhận giá trị của chiến thắng trong thời kỳ mới. Những luận điệu ấy lan truyền trên internet dưới nhiều hình thức, như bài viết, clip hòng đánh lừa những người ít thông tin, thiếu hiểu biết, đặc biệt là nhắm vào thế hệ trẻ" (Quân đội nhân dân, ngày 01/05/2018).

Ăn nói như thế là tự lừa dối mình, bởi vì, dù có xuyên tạc đến đâu thì cũng không thế phủ nhận :

1. Việt Nam Cộng Hòa, từ 1954 đến 1975, không hề có chủ trương "đảng cử dân bầu". Dù bị chiến tranh tàn phá và đe dọa, khủng bố, chế độ ứng cử và tranh cử ở miền Nam hoàn toàn tự do. Ở miền Bắc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong giai đoạn này không có ứng cử và bầu cử dự do. Chỉ có một đảng cộng sản cầm quyền toàn trị.

Ngay đến bây giờ, sau 43 năm thống nhất đất nước, cả nước Việt Nam vẫn chỉ có một đảng cầm quyền và chỉ có đảng viên cộng sản hay những cảm tình viên cộng sản mới được bầu vào các chưc vụ đại diện dân ở Quốc hội và trong các Hội đồng nhân dân. Đảng tiếp tục không chấp nhận đa nguyên, đa đảng.

2. Nền kinh tế ở miền Nam là "kinh tế thị trường, tự do kinh doanh và phát triển". Và mặc dù phải lệ thuộc vào viện trợ kinh tế của Mỹ để tồn tại và phát triển trong khi cùng lúc phải chiến đấu chống cộng sản miền Bắc xâm lược , người dân miền Nam cũng chưa bao giờ phải xếp hàng trước các cửa hàng quốc doanh hay hợp tác xã để mua từng lon gạo, lạng thịt, cân đường, bó rau hay sợi chỉ cây kim bằng tem phiếu như người dân miền Bắc.

Tiến sĩ Bùi Kiến Thành

Riêng trong lĩnh vực kinh tế, bài viết của Quân đội nhân dân đã trích lờichuyên gia kinh tế Việt kiều Mỹ, ông Bùi Kiến Thành để cố ý hạ thấp giá trị chính sách kinh tế thời Việt Nam Cộng Hòa.

Quân đội nhân dân nói trong cuộc phỏng vấn của BBC tiếng Việt, ông Thành đã : "Từng đánh giá, kinh tế dưới chế độ Sài Gòn là "nền kinh tế phát triển ảo", "không vững chắc", "không dựa vào cơ sở kinh tế mà chỉ dựa vào chiến tranh là chính". Ông Bùi Kiến Thành nhận định đây là nền kinh tế "chưa trong sáng", cụm từ chỉ tình trạng tham nhũng tràn lan của chính quyền Sài Gòn".

Trích dẫn mà chắp vá và cắt xén như thế là "không có đạo đức" và suy diễn thiếu nghiêm chỉnh. Sự thật thì Tiến sĩ  Bùi Kiến Thành đã nói nguyên văn ý của ông trong vế "chưa trong sáng" như thế này : "Trong những năm dưới Đệ nhị Cộng hòa thì có khó khăn do cơ chế quản lý nhà nước vẫn chưa có những kinh nghiệm trong vận hành kinh tế thị trường, quản lý nhà nước vẫn chưa hoàn toàn trong sáng" (BBC Tiếng Việt, phát thanh ngày 25/4/2015).

Như vậy thì những chữ "cụm từ chỉ tình trạng tham nhũng tràn lan của chính quyền Sài Gòn", được ráp vào sau 3 chữ "chưa trong sáng" là của báo Quân đội nhân dân tự chế ra để nhét vào miệng Tiến sĩ Bùi Kiến Thành, con bác sĩ  nổi tiếng Bùi Kiến Tín, bạn thân của cố Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm, chủ hãng dầu Khuynh Diệp, với chủ ý xuyên tạc Chính phủ thời Việt Nam Cộng Hòa.

Đáng chú ý là báo Quân đội nhân dân đã bỏ qua mấy câu nói khác của ông Thành như : "Việt Nam ngày nay nên học chế độ Việt Nam Cộng Hòa trong cách nhìn về kinh tế thị trường cũng như cách đào tạo, trọng dụng nhân tài".

BBC viết tiếp : "Ông Thành cũng cho rằng "dư âm của nền kinh tế tập trung" đang hạn chế sự phát triển của Việt Nam trong thời điểm hiện tại, cũng như trong tương lai".

BBC : Ông có thể cho biết một số đặc trưng của nền kinh tế miền Nam trước năm 1975 ?

Bùi Kiến Thành : "Trước 1975 thì kinh tế miền Nam, dù có những khó khăn do chiến tranh, nhưng vẫn là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường.

Vì trong bối cảnh chiến tranh nên chính sách thời đó là mở rộng tất cả những gì có thể. Nông nghiệp thì gặp khó khăn về chiến tranh, thương mại cũng chỉ trao đổi hàng hóa, chứ việc phát triển công nghiệp thì chưa được bao nhiêu.

Nhưng nó vẫn là nền kinh tế cho phép nhân dân tự do tham gia, để những người có ý chí muốn làm kinh tế được tạo điều kiện tốt".

Ông Thành, hiện đang làm việc ở Việt Nam bảo thẳng : "Nói chung nền kinh tế Việt Nam Cộng Hòa là một nền kinh tế thị trường có nhiều tiềm năng, nếu được phát triển trong hòa bình thì sẽ có nhiều khả năng phát triển tốt hơn là chính sách phát triển tập trung sau 30/4/1975.

Nếu Việt Nam có hòa bình thì những chính sách phát triển kinh tế bắt đầu từ nền Đệ nhất Cộng hòa vẫn được duy trì, như khu công nghiệp Biên Hòa, các trung tâm phát triển công nghiệp. Khi đó chúng ta học dần dần thì bắt đầu tích lũy kinh nghiệm và bắt đầu đi lên.

Tuy nhiên, sau 30/4 thì tất cả những kinh nghiệm đó bị chặn đứng, áp dụng kế hoạch tập trung của miền Bắc vào miền Nam, bao nhiêu doanh nghiệp bị quốc hữu hóa, doanh nhân thì vào trại cải tạo hoặc bỏ xứ ra đi.

Nền kinh tế tan vỡ ra hết và nền kinh tế tập trung không phát triển được, việc ngăn sông cấm chợ khiến nền kinh tế đi vào ngõ cụt.

Đến khi đó nhà nước cộng sản mới áp dụng chinh sách Đổi Mới. Nhưng Đổi Mới không phải là kinh tế thị trường mà là nền kinh tế 'nhiều thành phần vận hành theo kinh tế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước".

Cho đến nay định nghĩa của nền kinh tế Việt Nam sau Đổi Mới vẫn chưa có gì mới hơn là định nghĩa năm 1986, là kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước.

Vì vậy nên đến 2015, chúng ta vẫn bị sự chi phối nặng nề của các doanh nghiệp nhà nước, không thoát ra được tư duy kế hoạch tập trung của một số lãnh đạo, và không thoát ra khỏi sự vận hành của kinh tế nhà nước, trì trệ và không có hiệu quả.

Từ năm 1985 đến giờ ta không bắt kịp các nền kinh tế khác vì tư duy không rõ ràng, không ai biết kinh tế xã hội chủ nghĩa là cái gì.

Một mặt thì nói là kinh tế thị trường, một mặt thì nói là có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta đã mất hết 30 năm mà vẫn còn loay hoay trong những việc làm không rõ ràng".

Giáo dục - Văn hóa

3. Bước sang lĩnh vực giáo dục và Văn hóa thì dù một hay trăm thợ viết thuê của Ban Tuyến giáo hay Tổng cục Chính trị quân đội cũng không thể đổi trắng thay đen để xóa đi những thành tựu sáng chói và tính nhân văn của nền giáo dục và nhân bản của văn hóa dân tộc thời Việt Nam Cộng Hòa trước 1975.

Trước hết, hãy nghe Tiến sĩ  Bùi Kiến Thành phát biểu trên BBC ngày 25/04/2015 : "Ở miền Nam trước 75 thì là một nền giáo dục rất mở, người sinh viên và các thầy giáo được quyền tiếp cận các nền giáo dục tư tưởng, dù là tư bản hay cộng sản, không hạn chế".

Bỏ qua những chương trình giáo dục học vẹt, vừa hồng vừa chuyên, chỉ biết thầy đọc trò viết cho đầy tập, chạy điểm, mua bằng thật và bằng giả và những tệ trạng "muốn lên lớp, được điểm cao" thì phải "ngủ với Thầy" v.v…đã và đang diễn ra ở Việt Nam mà hãy nhìn vào khả năng lao động của công nhân Việt Nam để thấy tương lai đang đi về đâu.

Theo bà Saranya Skontanarak, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Thái Lan (TBA) thì năng suất lao động của người Việt Nam khá thấp so với các quốc gia xung quanh. Một số kết quả nghiên cứu cho thấy năng suất lao động của một người Singapore cao gấp 20 lần năng suất lao động của một người Việt Nam.

Ngay người Thái Lan cũng có năng suất lao động gấp 3 lần người Việt Nam.

Bà Saranya Skontanarak đã đưa ra nhận xét tại cuộc gặp gỡ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh ngày 21/4/2018.

Và tại cuộc Hội thảo chuyên đề "Cải thiện năng suất trong bối cảnh công nghiệp hóa", ông Ngô Văn Tuấn, Phó trưởng ban Kinh tế trung ương, cho biết : "Năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 7% năng suất lao động của Singapore ; 17,6% của Malaysia và đặc biệt chỉ tương đương với 87,4% của Lào" (VietnamNet, 13/01/2018).

Trong khi ấy thì Hiệp hội Bia - rượu - nước giải khát Việt Nam, báo cáo năm 2017 lượng bia các loại tiêu thụ trên cả nước đạt hơn 4 tỉ lít, tăng 6% so với năm 2016.

Con số này chưa xấu hổ cho bằng đánh giá trong sáng trong kinh doanh của Thế giới đã đặt Việt Nam xếp hạng 141/180 với 53,1 điểm, mức tổng điểm thấp hơn điểm bình quân khu vực và thế giới. Trong 43 nền kinh tế khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Việt Nam đứng hạng 35, thua Lào (53,6 điểm, hạng 34), Myanmar (53,9 điểm, hạng 33) và Campuchia (58,7, điểm hạng 22).

Về số thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam năm 2017, theo lời Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng thì rất thấp, tương đương 2.385 USD. Ông nói với báo Tuổi Trẻ : "Trong khối ASEAN, con số này thua Lào, chỉ hơn Campuchia và Myanmar" (Miến Điện).

Như vậy thì vinh hạnh gì, nếu so với thời Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam trước năm 1975 ?

Văn hóa đồi trụy ?

4. Trong lĩnh vực Văn hóa, hãy tạm gác sang hành động "gục mặt bước dồn" của những nhóm cán bộ lãnh đạo thiếu học, vô văn hóa, kém văn minh khi họ ra lệnh đốt sách, bắt giam các Văn nghệ sĩ  miền Nam sau ngày vào Sài Gòn 1975, mà hãy nói đến phong trào "hát nhạc vàng", hay dòng nhạc Bolero của miền Nam đang lên cơn sốt ở khắp miền đất nước, sau 43 năm mấy anh Bộ đội mũ tai mèo, dép râu bước vào Sài Gòn hoa lệ.

Những cán bộ tuyên giáo, dân vận hãy tự hỏi mình xem tại sao bây giờ nhân dân lại say mê những dòng nhạc của Đoàn Chuẩn và Từ Linh, Văn Cao một thời bị cấm ? Hay vì sao mà nhạc Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Anh Bằng, Minh Kỳ, Lê Dinh, Ngô Thụy Miên, Duy Khánh, Nhật Trường Trần Thiện Thanh v.v… của miền Nam đã được ưa chuộng hơn nhiều nhạc sĩ  miền Bắc, kể cả Phạm Tuyên, con Nhà văn hóa Phạm Quỳnh ?

Luôn tiện những người còn mê ngủ của Tuyên giáo cũng nên tự vấnlương tâm xem do đâu mà Mầu Tím Hoa Sim của nhà Thơ Hữu Loan, người đã can đảm bỏ đảng và công khai mạt sát đám "cai thầu văn nghệ" làm tay sai cho đảng thời Nhân văn Giai phẩm,đã đi vào lịch sử văn học và được hàng triệu người yêu mến gấp triệu lần hơn những vần Thơ thờ nhà độc tài cộng sản (Joseph Vissarionovich) Stalin, hay chứa đầy dao găm mã tấu thời Cải cách Ruộng đất của Tố Hữu và Xuân Diệu ?

Ôn lại những chuyện cũ để thấy sự so sánh thành công và thất bại ở miền Nam thời Việt Nam Cộng Hòa, trước vào sau ngày gọi là "Đại thắng mùa Xuân 1975", không phài là không có lý.

Bởi vì, sau 43 năm của cái gọi là "giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước" ấy, nhân dân miền Nam đã hoàn toàn mất hết các quyền : Tự do ngôn luận và Tự do báo chí ; Tự do Lập hội và Biểu tình ; Tự do Ứng cử và Bầu cử. Và trong nhiều trường hợp, quyền tự do Tín ngưỡng và Tôn giáo đã bị qủan chế khe khắt.

Thời Việt Nam Cộng Hòa, khi ra đường người dân không sợ bị cướp giật và xâm phạm an ninh cá nhân như thời cộng sản. Họ cũng không phải đem theo tiền để hối lộ dọc đường hay mánh mung chạy chức chạy quyền, lo đút lót để cho con được điểm cao hay tốt nghiệp ra trường, và có việc làm ổn định.

Cũng dưới thời Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam, làm gì có chuyện truyền thống "tôn sư trọng đạo" trong giáo dục đã bị bị xúc phạm trắng trợn như vụ Cô giáo phải qùy xin lỗi phụ huynh tại Long An tháng 2/2018. Rồi sau đó vào tháng 3/2018 cô giáo mang thai Phan Thị Hiên, tập sự tại trường mầm non Việt-Lào ở Nghệ An, cũng đã phài qùy gối van xin tha đánh bởi một phụ huynh, chỉ vì trước đó cô giáo đã xử phạt kỷ luật con người này.

Chỉ kể sơ ra đây ít chuyện làm quà để thấy thời Việt Nam Cộng Hòa, tuy chưa có dân chủ như nhiều nước khác vì có chiến tranh, cũng đáng sống hơn thời tham nhũng ngập đầu và xã hội có nhiều trộm cắp và giết người như ngóe mất an ninh ở Việt Nam thời Xã hội Chủ nghĩa.

Gay gắt hù họa

Thế mà cán bộ tuyên giáo vẫn có thể bô bô nói rằng : "Chiến tranh đã lùi xa, Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam mong muốn khép lại quá khứ để nhìn về tương lai hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển. Đại thắng mùa xuân năm 1975 thực sự là động lực để chúng ta vượt qua mọi gian nan, thử thách, vững bước tiến lên vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho hôm nay và muôn đời sau.

Thế nhưng đến nay vẫn có những kẻ cố lừa phỉnh dư luận qua việc ngợi ca chế độ dân chủ, tự do và kinh tế phát triển dưới thời chính quyền Sài Gòn, phủ nhận giá trị của chiến thắng trong thời kỳ mới. Những luận điệu ấy lan truyền trên internet dưới nhiều hình thức, như bài viết, clip hòng đánh lừa những người ít thông tin, thiếu hiểu biết, đặc biệt là nhắm vào thế hệ trẻ (Quân đội Nhân dân, 01/05/2018).

Phân bua như thế xong, báo này quay sang hù họa : "Đảng, Nhà nước ta đã chủ động đề ra và thực hiện phương châm "khép lại quá khứ, hướng tới tương lai", "Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển", nhưng trong bối cảnh mới, hoàn cảnh mới, mỗi người dân của "con Lạc cháu Hồng" dù ở trong nước hay đang định cư, học tập, công tác ở nước ngoài, không bao giờ được lãng quên lịch sử hào hùng chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam ; càng không được vào hùa với các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội, bất mãn để bóp méo, bôi nhọ, xuyên tạc, đòi đánh giá lại lịch sử, phủ nhận tầm vóc vĩ đại của Đại thắng mùa xuân năm 1975 nhằm phục vụ cho những mưu đồ đen tối (báo Quân đội Nhân dân, 30/04/2018).

Cũng tát nước theo mưa là bài viết trên Tạp chí Quốc phòng toàn dân của Phó giáo sư, Tiến sĩ  Nguyễn Mạnh Hưởng, cũng đưa ra luận điểm bảo vệ cho cái gọi là "chiến thắng" mùa Xuân 1975.

Ông Hưởng cảnh giác hiện vẫn có "những ý kiến lạc lõng xuyên tạc về ý nghĩa lịch sử của Chiến thắng đó, cần phải cảnh giác, kiên quyết đấu tranh, bác bỏ".

Ông viết : "Suốt hơn bốn thập kỷ qua, những luận điệu xuyên tạc bản chất, tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhân dân ta ; những mưu đồ bóp méo, hạ thấp, phủ định ý nghĩa và giá trị của Đại thắng mùa Xuân 1975 liên tiếp được các thế lực chống đối, thù địch tung lên trên mọi phương tiện thông tin với nhiều hình thức, cả ở trong nước và nước ngoài. Họ thường "thảng thốt" rằng, chiến thắng lịch sử của nhân dân ta ngày 30/4/1975 đối với họ là "tháng 4 đen" ; "ngày quốc hận". Đồng thời, xuyên tạc bản chất, tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, rằng đó là cuộc chiến tranh "huynh đệ tương tàn" giữa hai miền Nam - Bắc" (theo Quốc phòng toàn dân, ngày 26/04/2018).

Viết như thế, nhưng liệu ông Hưởng có sờ lên gáy xem những dư luận không đồng tình với mấy chữ "Đại thắng mùa Xuân 1975" có phản ảnh sự thật trong đời sống nhân dân như mọi ngưởi chưa được "no cơm ấm áo" và đất nước chưa thật sự "có độc lập tự do" , hay những thứ này mới chỉ dành cho một thiểu số có chức, có quyền và những tay sai của đảng cầm quyền ?

Hay xa hơn, vẫn đang có những kẻ nội thù và tay sai ngoại bang muốn phân hóa dân tộc ?

Đó là lý do tại sao sau 43 năm mà "kẻ thắng" và "người thua" vẫn còn xa mặt cách lòng bởi những con người "kêu ngạo cộng sản" tiếp tục giáo điều, lạc hậu và chỉ biết đặt quyền lợi cá nhân và phe nhóm trên quyền lợi tối cao của dân tộc.

Phạm Trần

(03/05/2018)

Published in Diễn đàn

Chính phủ Việt Nam nói về hòa giải nhân ngày 30/4 (RFA, 30/04/2018)

Nhà nước và Đảng cộng sản Việt Nam đã có nhiều chính sách về hòa hợp và hòa giải dân tộc trong suốt 43 năm qua.

hoagiai1

Người Việt tại Dallas, Texas, Hoa Kỳ, tưởng niệm Ngày Quốc Hận hôm 30/4/2018. Photo courtesy of facebook Luan Dang

Đó là lời ông Lương Thanh Nghị, Phó Chủ nhiệm Ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, được báo Tuổi Trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh dẫn lời, trong số ra ngày 30/4/2018, tròn 43 năm ngày chiến tranh Việt Nam kết thúc.

Ông Lương Thanh Nghị liệt kê những hoạt động mà Nhà nước Việt Nam tổ chức hướng tới cộng đồng người Việt tại hải ngoại, như là tổ chức hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài toàn thế giới, tổ chức trại hè tại Việt Nam cho thế hệ trẻ người Việt ở hải ngoại, tổ chức đưa người Việt sống tại nước ngoài thăm quân đảo Trường Sa nơi đang có tranh chấp căng thẳng với Trung Quốc.

Theo ông Lương Thanh Nghị, nhiều kiều bào có định kiến với nhà nước Việt Nam đã thay đổi nhận thức và chính kiến sau khi tham gia những chương trình như vậy.

Tuy nhiên ông Lương Thanh Nghị cũng nói rằng dù có những cố gắng hòa hợp hòa giải nhưng chưa đạt được kết quả như mong muốn. Ông không nói rõ thêm là những điều chưa đạt được là gì.

Sau khi quân đội cộng sản tiến vào Sài Gòn, thống nhất nước Việt Nam, hơn hai triệu người tại Miền Nam Việt Nam đã bỏ nước ra đi, đa số đi bằng đường biển. Họ đã đến định cư tại nhiều quốc gia phương Tây, quan trọng nhất là các cộng đồng tại Hoa Kỳ, Pháp, Úc, Canada.

Hàng năm cứ đến ngày 30/4 thì những cộng đồng này lại tổ chức lễ tưởng niệm ngày được gọi là tháng tư đen, và tổ chức những cuộc biểu tình phản đối trước các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại những quốc gia mà họ đang sống.

RFA tiếng Việt, 30/04/2018 

*****************

Một số trí thức Việt có cái nhìn ‘xét lại’ ngày 30/4 (VOA, 30/04/2018)

Một s trí thc Vit Nam có nhiu nh hưởng trên mng xã hi mi đây đưa ra nhng quan đim có tính cht "xét li" s kin 30/4, ngày Vit Nam gi là "gii phóng miền Nam" nhưng nhiu người li coi là "ngày quc hn", thu hút hàng nghìn lượt phn ng và chia s trên mng.

hoagiai2

Họa sĩ Thành Chương t hi có nên vt b các huân chương, huy chương thi "chiến tranh chng M"

Họa sĩ Thành Chương hôm 28/4 đăng mt bài ngn trên Facebook cá nhân, cho biết, năm 1967 ông đã t chi đi hc Đc đ nhp ngũ, "sn sàng hy sinh, chiến đu cho lý tưởng Cng Sn cao đp và s nghip Chng M Cu Nước vĩ đi !"

Đăng cùng bài là tấm nh cho thấy mt s huân chương, huy chương mà ông được trao, ghi nhn ông "có công" trong quân ngũ. Song ha sĩ ni tiếng hin sng Hà Ni viết : "Xưa nhng tm huân chương, huy chương này là nim vinh d t hào ! Nay thy chúng tht v vn, vô nghĩa !". Ông cũng tự hi "nên gi hay vt chúng đi đây ???".

Trong một đon khác, ông Chương nói 43 năm qua, c đến ngày 30/4, "luôn có mt đám" mà ông mô t rng không ch "ăn mày dĩ vãng, gi chúng Ăn Cướp c qúa kh và dĩ vãng đ mưu cu danh li !".

Họa sĩ không nói c th nhng người ông gi là "mt đám" đó là ai. Ông kêu gi "Xin gác cái quá kh hào hùng y li ! Sng cho hin ti và hướng ti mt tương lai tt đp hơn !".

Bài viết 171 t ca ông đã nhn được ít nht 5000 phn ng ng h ln chia s trên mng.

Tiến sĩ Nguyn Xuân Diện, mt blogger có nhiu nh hưởng qua các bài viết phn bin v chính quyn, nói vi VOA rng ông thy "bàng hoàng" v nhng ý kiến "gay gt" ca ha sĩ 69 tui, vn tng có thi gian dài làm báo và sut đi không "va chm gì vi chính tr".

Ông Diện cho rằng quan đim mi th hin ca ông Chương cho thy trong lòng cá nhân ha sĩ, và rng hơn là nhiu trí thc Vit Nam, h "nui tiếc" nhng hy sinh tui thanh xuân đ ri nhn li là mt đt nước sau nhiu thp k còn kém phát trin, cùng vi tham nhũng tràn lan.

Ông Diện nói vi VOA :

"Họ hy sinh xương máu như vy là đ phn đu cho mt đt nước giang sơn lin mt di, dân ch, giàu mnh, văn minh, tiến kp các nước. Nhưng cung cách qun lý, điu hành đt nước ca nhà cm quyn hin nay khiến h bun quá. Phản ng đó là không phi là vi quá kh ca cuc chiến, mà đy là s phn ng ca người trí thc tng tham gia cuc chiến đi vi cách điu hành và lãnh đo đt nước ca nhà cm quyn hin ti".

hoagiai3

Thành phố H Chí Minh đã phát trin hơn nhiu sau 43 năm song vn thp hơn kỳ vọng ca nhiu người

Các con số thng kê chính thc ca Vit Nam và các t chc quc tế cho hay GDP đu người ca Vit Nam năm 2017 mc 2.385 đôla. Trong khi ASEAN, con s này thua Lào, ch hơn Campuchia và Myanmar.

Nếu so sánh vi GDP đu người ca Hàn Quốc, con s ca Vit Nam ch bng 8% ca mc 29.780 đôla mà người Hàn đt được năm 2017.

Bác sĩ Võ Xuân Sơn, người hay bình lun v đi sng chính tr, xã hi Vit Nam trên mng xã hi, đã bàn v "cái giá ca s thng nht" trong bài viết đăng hôm 27/4 trên trang Facebook cá nhân có hơn 50.000 người theo dõi.

Ông viết rng thi nh khi ông hi người ln rng ti sao Đc và Triu Tiên không có "chiến tranh gii phóng dân tc", ông thường nhn được câu tr li là "chúng ta yêu nước hơn h".

Cuộc chiến mà những người cng sn Vit Nam gi là "chng M cu nước" kết thúc năm 1975, vi chiến thng li cho người cng sn toàn quyn cai tr nước Vit Nam thng nht.

Giờ đây, đ tui trung niên, bác sĩ Sơn thành ph H Chí Minh tóm tt li thc trng đt nước : "Đạo đc xã hi băng hoi, đt nước b chia r sâu sc, xã hi ngày càng mt n đnh, nhng k trong b máy cm quyn càng ngày càng tham lam, đc ác, người dân càng ngày càng cm thy bế tc, hoang mang".

Ông cũng nhắc đến mt thc tế là hàng triu người đã b đt nước ra đi "vì kinh tế, vì bc bách, vì chán chường, vì mong mun mt tương lai cho con, cháu..".

Theo báo chí trong nước, ch riêng năm 2017, có gn 135.000 người "lao đng xut khu" Vit Nam được đưa ra nước ngoài, nâng tng s người đi làm việc theo hình thc này lên đến khong 500.000.

Con số chính thc đó không bao gm hàng vn người khác đi làm vic "chui" nhiu nước.

Trong khi đó, ở trong nước, gii chuyên gia kinh tế dn các s liu khng đnh khu vc doanh nghip đu tư nước ngoài (FDI) đang thể hin vai trò quan trng trong nn kinh tế Vit Nam. H đóng góp đến 1/5 GDP, 3/4 cho xut khu và 1/4 vn đu tư toàn xã hi. Trong s các doanh nghip FDI có nhiu hãng ca Hàn Quc và Đc thuê hàng trăm ngàn người lao đng Vit Nam.

Đề cp đến hơn 3,3 triu người Vit Nam thit mng trong chiến tranh, bác sĩ Võ Xuân Sơn nêu ra kết lun : "Cái giá mà chúng ta phi tr cho thng nht đt nước tht s là quá đt. Đy là chưa k, chúng ta đang tr thành nhng k làm thuê r mt, đang b chính những k ‘không yêu nước bng chúng ta’ sai khiến, bóc lt".

hoagiai4

Chủ tch Vit Nam Trn Đi Quang không nhắc đến hòa hp, hòa gii trong bài viết hôm 27/4/2-18 v s kin 30/4/1975

Bên cạnh nhng cái nhìn bày t tht vng, đã xut hin ý kiến kêu gi nhà nước và xã hi k nim ngày 30/4 theo hình thc khác.

Luật sư Nguyn Danh Huế đ xut qua Facebook cá nhân rằng nên ly tên gi chính thc là "ngày thng nht" và cũng là "ngày đi đoàn kết toàn dân".

Theo ông, thay vào "tổ chc k nim tưng bng chiến thng" s là các l tưởng nim nhng nn nhân ca chiến tranh trên khp đt nước, thp hương tưởng nh nhng

Ông cũng gợi ý nên thăm hi, chăm sóc các thương binh và nhng người chu mt mát do chiến tranh "bt k h phía nào ca cuc chiến". Vic tìm kiếm và quy tp hài ct nhng người lính mt tích cũng cn được tiến hành "không phân bit h thuc phía nào".

Luật sư cho rng nhng vic nêu trên "nếu không làm ngay thì s mun".

Nhưng dưới con mt tiến sĩ Nguyn Xuân Din, đ xut ca ông Huế - dù được chia s nhiu trên mng xã hi - dường như vn ch là nhng lý tưởng đp khó tr thành hin thc, dù nó nói lên khát vọng ca đông đo nhng người c hai phía.

Ông Diện đưa ra lý do :

"Khó lắm. Bi vì là người cng sn khi h đã nghĩ điu gì thì h không bao gi thay đi. Và nó như mt cái đinh đã đóng chết vào mt bc tường. Không bao gi h thay đi. Cái đó rt khó. Và chúng tôi cũng không thấy du hiu nào v vic hòa hp hòa gii".

Hôm 27/4, báo chí Việt Nam đăng mt bài viết dài ca ch tch nước Trn Đi Quang v "k nim 43 năm Ngày Gii phóng min Nam, thng nht đt nước".

Bài viết dài hàng nghìn t, như thường l, dành phn ln đ ca ngi thng li do Đảng cộng sản lãnh đo. Toàn bài ch có mt câu ngn nói v "xây dng con người Vit Nam yêu nước, đoàn kết, có năng lc sáng to, trung thc, trách nhim và nhân ái", trong khi không có bt c t "hòa hp" hay "hòa giải" nào.

VOA tiếng Việt, 30/04/2018 

Published in Diễn đàn