Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Hoàng Bách trò chuyện cùng Nguyễn Gia Kiểng

+ EU khe khắc với Trung Quốc hơn là Hoa Kỳ.

+ Trung Quốc ỷ mạnh hiếp yếu, không có đồng minh.

+ Trung Quốc không phải là một quốc gia, mà là một đế quốc.

Nguồn : Hoangbach Channel, 01/06/2020

Published in Video

Hoàng Bách trò chuyện cùng Đinh Xuân Quân và Nguyễn Gia Kiểng

+ Biểu tình đòi công lý, tôn trọng bình đẳng, nhân quyền là điều cần làm. Chống gây bạo loạn và hôi của. Giới trẻ Việt Nam cùng các sắc dân trắng, đen, vàng, đỏ đều có tham gia.

+ Biểu tình để đạo đạt nguyện vọng của người dân, của xã hội… Chính quyền có cơ hội điều chỉnh.

+ Chỉ các chế độ độc tài, đảng trị như Việt Nam mới cấm biểu tình mà thôi.

Nguồn : Hoangbach Channel, 09/06/2020

Published in Video
samedi, 04 avril 2020 11:49

Tương lai nào sau Covid-19 ?

Việt Nam cho đến nay có vẻ là một trong những nước may mắn nhất. Đại dịch Covid-19 hình như tha cho nước ta. Tuy vậy sẽ là một sai lầm lớn, rất lớn, nếu vui mừng vì đất nước thoát hiểm. Thực ra có lẽ chúng ta là nước bị thiệt hại nhất vì Covid-19.

covid01

Bản đồ những quốc gia và lãnh thổ bị lây nhiễm bởi đại dịch Covid-19

Một nửa nhân loại bị câu lưu. Mọi hoạt động ngừng lại hoặc chậm lại. Nhiều ngàn người chết mỗi ngày. Thiệt hại kinh tế đã rất bất ngờ và lớn hơn hẳn cuộc khủng hoảng 2008 dù vẫn còn đang tăng vụt. Donald Trump không phải là người lãnh đạo quốc gia duy nhất đánh giá sai sức tàn phá của đại dịch Covid-19. Cho đến đầu tháng 03/2020, các nước Tây Âu vẫn không thể ngờ rằng chỉ một tuần sau họ sẽ trở thành trung tâm của dịch và phải ngừng gần hết mọi hoạt động. Bây giờ đến lượt Mỹ.

Một bài học khiêm tốn đắt giá

Điều đầu tiên đáng nói là thảm họa này không do một sai lầm của con người, dù là các chính quyền hay các thế lực tài phiệt, như trong quá khứ.

Cuộc khủng hoảng 1929 - 1933 đã do lòng tham của các ngân hàng lớn và sự thiển cận của chính sách America First (nước Mỹ trước hết) của chính quyền Harding - Coolidge mà Donald Trump đang lặp lại. (America First đã là khẩu hiệu tranh cử của Harding với kết quả là một thảm kịch cho cả thế giới lẫn chính nước Mỹ). Hai cuộc Thế chiến I và II đã do chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi (nationalism) của các chính quyền quân phiệt, phát xít, quốc xã. Nội chiến Việt Nam 1945 - 1975 đã do sự mê muội của Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và nhóm cầm quyền trong Đảng cộng sản Việt Nam. Cuộc khủng hoảng 2008 gần đây đã là hậu quả của chủ nghĩa Tân phóng khoáng (Neoliberalism) được đẩy quá xa từ thời Bill Clinton.

Covid-19 không như thế. Không ai muốn cũng chẳng ai gây ra. Nó là một thiên tai tự nhiên mà đến và sẽ giết chết cả triệu người và phá hủy thành quả kinh tế của hàng chục năm. Nó nhắc nhở chúng ta rằng cuộc sống trên trái đất này rất mỏng manh, đã từng mấy lần suýt bị hủy diệt vì những thay đổi khí hậu và những đột biến hoàn toàn không do con người. Trên quy mô vũ trụ chúng ta cũng chỉ là những vi khuẩn. Có khác chăng là chúng ta có chút trí khôn. Trí khôn đó phải giúp chúng ta hiểu rằng cố gắng chính của loài người phải là tìm cách sống với nhau một cách khiêm tốn và thân thiện. Mọi thái độ huênh hoang, đắc thắng đều chỉ là mê muội. Mọi quyền lực chỉ chính đáng nếu biết khiêm tốn tự thu gọn ở mức tối thiểu cần thiết để bảo vệ và cải tiến môi trường và đời sống con người.

covid02

Trên 40 thị trường chứng khoán lớn, 30.000 tỷ USD đã bốc hơi trong vài tuần vì các cổ phiếu sụt giá trung bình 30% trong tháng 3/2020.

Thiệt hại về kinh tế đã hơn hẳn cuộc khủng hoảng 2008. Cả cung lẫn cầu đều bị tê liệt. Trên 40 thị trường chứng khoán lớn, 30.000 tỷ USD đã bốc hơi trong vài tuần vì các cổ phiếu sụt giá trung bình 30% trong tháng 3/2020. Số tiền khổng lồ này là sự mất giá của phần cổ phiếu mà các công ty đem bán trên các sàn chứng khoán để huy động vốn, nó trước hết là sự thiệt hại của những ngân hàng, quỹ và cá nhân đầu tư vào các cổ phiếu. Nếu chúng ta ý thức rằng đại đa số các công ty tầm vóc trung bình và nhiều công ty lớn không đăng ký trên các thị trường chứng khoán và các công ty lớn có đăng ký cũng chỉ đem bán cho công chúng một phần nhỏ tổng số cổ phiếu của mình thì thiệt hại thực cho kinh tế thế giới lớn hơn nhiều, rất nhiều. Và đó mới chỉ là những thiệt hại ban đầu, Covid-19 vẫn còn đang tiếp tục tàn phá. Chưa biết bao giờ nó mới có thể được xem là đã qua đi để có thể tổng kết các thiệt hại. Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới vẫn còn đang thực hiện các biện pháp cách ly (confinement), với hậu quả trung bình là mỗi tháng cách ly gây thiệt hại khoảng 3% GDP.

covid03

Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới vẫn còn đang thực hiện các biện pháp cách ly (confinement) - Ảnh Đại lộ 5th Avenue, Thành phố New York vắng bóng người và xe cộ qua lại

Cuối tháng 3/2020, gần hai tháng sau khi bệnh dịch được nhìn nhận tại Trung Quốc và vào lúc nó đã chuyển trung tâm qua Châu Âu đồng thời đang lan mạnh tại Mỹ, môt hội nghị thượng đỉnh G20 của 20 nước phát triển nhất mới "họp khẩn cấp" qua truyền hình đi đến thỏa thuận là sẽ cùng bơm vào 5.000 tỷ USD để cứu nguy hoạt động kinh tế thế giới. Quốc hội Mỹ biểu quyết một ngân sách 2.200 tỷ USD, Ngân hàng Trung ương Châu Âu và các nước Châu Âu cùng biểu quyết các khoản cứu nguy khoảng 4.000 tỷ USD. Các biện pháp cứu nguy này, được đánh giá là "quá trễ quá ít", chỉ có khả năng xoa dịu những đau nhức nhất thời, như giúp các công ty trả lương công nhân trong khi phải cho họ tạm nghỉ, trợ giúp những người mất việc làm, tăng cường thiết bị chống dịch cho các nhà thương, săn sóc các bệnh nhân v.v. Chúng sẽ còn phải được bổ túc thêm và đàng nào cũng chỉ có tác dụng cấp cứu chứ hoàn toàn không thể có tham vọng hồi phục lại tình trạng kinh tế trước Covid-19. Thế giới sẽ cần nhiều năm để gượng dậy và xây dựng lại những gì đã bị tàn phá.

Cho tới hôm 03/04/2020 đã có hơn 52.000 chết trong số hơn một triệu người bị nhiễm, nhưng chúng ta mới chỉ ở trong giai đoạn đầu. Theo bác sĩ Anthony Fauci, chuyên gia chính của Mỹ trong bộ tham mưu chống đại dịch, thì từ nay đến khi Covid-19 khắc phục được tổng số người bị thiệt mạng riêng tại Mỹ sẽ là từ 100.000 đến 200.000. Nếu như thế thì số người thiệt mạng trên thế giới sẽ phải hơn một triệu người mặc dù những cố gắng và tốn kém lớn đã đổ ra.

Thế giới đã văn minh và gần gũi hơn

Những con số tử vong thật là kinh khủng nhưng chúng ta hãy thử bình tĩnh để so sánh với một vài con số khác. Thí dụ như số người chết hàng năm vì các bệnh cúm quen biết trên thế giới cũng là hơn một triệu người. Số người chết vì tai nạn giao thông trên thế giới hàng năm cũng tương tự (1.250.000 năm 2016). Còn thua xa số người chết hàng năm vì thuốc lá (6.000.000) hoặc rượu (2.500.000). Riêng tại Mỹ tổng số số tử vong vì Covid-19 theo ước lượng của bác sĩ Fauci tương đương với số người thiệt mạng hàng năm vì opioid (70.000) và vì súng (40.000), những thiệt hại mà Mỹ luôn luôn phải chịu và dầu vậy kinh tế vẫn tiếp tục tăng trưởng.

Những so sánh này không khỏi khiến những người thực dụng đặt câu hỏi nếu vẫn tận tình phấn đấu ngăn chặn Covid-19 nhưng không cách ly thì sao ? Câu hỏi này không có câu trả lời chính xác của các chuyên gia bởi vì nó đã bị gạt đi ngay khi vừa được đặt ra.

Ít nhất đã có hai người lãnh đạo hai quốc gia lớn đăt ra câu hỏi này, mỗi người một cách. Tại Mỹ Donald Trump lấy lập trường thuần túy thực dụng : biện pháp cách ly quá tốn kém, nó còn hại hơn cả Covid-19, thuốc còn hại hơn bệnh. Donald Trump coi kinh tế và chỉ số Dow Jones là quan trọng hơn cả và trong suy nghĩ của ông nếu không cách ly và giả thử vì thế mà số tử vong cao gấp đôi, thậm chí gấp ba, thì cũng chỉ tương đương với số người chết trong một năm vì rượu nhưng tránh được thiệt hại quá lớn cho kinh tế và cho hy vọng tái đắc cử của ông. Boris Johnson lý luận một cách khác : cứ để cho dịch cúm lan rộng ra, lúc đó cơ thể con người sẽ tự nhiên tạo ra một kháng thể cộng đồng để triệt tiêu nó, thay vì cách ly và chịu những thiệt hại quá lớn.

Cả hai nhà lãnh đạo này đã lập tức bị lên án và đều phải từ bỏ lập luận của họ. Thế giới đã văn minh và chính quyền không thể đùa với mạng sống của con người như Boris Johnson, hay từ chối làm tất cả những gì có thể làm dù tốn kém tới đâu để cứu vãn tối đa các công dân đang bị đe dọa tính mạng như Donald Trump. Không thể so sánh số người thiệt mạng vì rượu hay thuốc lá, trên đó chính quyền đã làm tất cả những gì có thể làm để giảm thiểu, với số người sẽ chết vì chính quyền từ chối làm tất cả những gì có thể làm.

Covid-19 vừa tiết lộ một tiến bộ về tư duy của thế giới : con người từ nay phải là giá trị cao nhất, không thể bị hy sinh vì bất cứ một lý do thực tiễn nào.

Nhưng tại sao cả Boris Johnson lẫn Donald Trump đều phải lập tức nhượng bộ sau khi bị phản đối dù cả hai đều là những lãnh tụ dân túy nổi tiếng ngang ngược ?

Đó là vì họ bị bắt buộc, không muốn nhượng bộ cũng không được. Phong trào toàn cầu hóa đã tiến sâu hơn họ tưởng. Khi phần lớn các quốc gia Châu Á và Châu Âu đã quyết định cách ly thì dù không cách ly đi nữa họ cũng phải chịu mọi hậu quả như các nước khác và số người bị chết thêm sẽ chỉ chết oan chứ thiệt hại kinh tế vẫn không giảm. Hoạt động kinh tế của các quốc gia đã quá đan xen với nhau. Thí dụ trung bình một chiếc xe hơi sản xuất tại Mỹ hoặc tại Châu Âu sử dụng những bộ phận rời đến từ 40 quốc gia khác, chỉ cần một trong 40 nước này không cung cấp được là dây sản xuất bị ngưng trệ. Tình trạng cũng tương tự như trong hầu hết các ngành sản xuất khác, đặc biệt là dược phẩm và điện tử.

Phát giác của Covid-19 là không làm gì còn nước nào độc lập nữa, ngay cả những nước mạnh nhất. Chúng ta đang sống trong một thế giới liên thuộc, trái đất đã nhỏ lại để trở thành mái nhà chung của nhân loại. Tiết lộ đó đồng thời cũng là một cảnh báo cụ thể để tăng cường một khuynh hướng đã xuất hiện gần đây và đang mạnh lên là khu vực hóa sản xuất công nghiệp. Những chiếc xe hơi được dự trù bán tại Châu Âu sẽ chủ yếu gồm những bộ phận sản xuất tại Châu Âu, tương tự như vậy cho Châu Á và Châu Mỹ và cũng tương tự cho mọi ngành sản xuất. Phong trào toàn cầu hóa sẽ vẫn tiếp tục tiến tới nhưng không bỏ qua giai đoạn hợp tác khu vực như có lúc nhiều người đã nghĩ.

Thế giới nào sau Covid-19 ?

Cùng với Covid-19, một ám ảnh lớn đã được giải tỏa. Trong những năm gần đây những tiến bộ chóng mặt của truyền thông, tự động và trí khôn nhân tạo bên cạnh những tiện nghi rất lớn và rất mới không thể chối cãi cũng đồng thời tạo ra một đe dọa. Qua những điện thoại di động và đồng hồ đeo tay điện tử, người ta có thể biết nhiệt độ, áp huyết, nhịp tim v.v. của một người để biết người đó có cần được săn sóc không. Khi tổng hợp những thông tin từ nhiều cá nhân, người ta cũng có thể biết liệu có nguy cơ xuất hiện một bệnh dịch mới không. Nhưng người ta cũng có thể biết người đó đã đi những đâu trong thời gian nào, gặp những ai, xem các website, blog, video nào với cảm giác nào. Với những trí liệu (software) ngày càng tinh vi người ta cũng có thể biết lập trường chính trị, mong ước và ý định của mỗi cá nhân (kể cả có ý muốn chửi thề khi đi ngang tượng chủ tịch Mao Trạch Đông hay Tập Cận Bình không). Một câu hỏi tự nhiên được đặt ra là như vậy liệu con người có đang tạo ra những phương tiện để xóa bỏ tự do của chính mình không ?

Covid-19 gần như đã trả lời là KHÔNG. Đã không hề có một chính quyền nào trong lúc đối phó với đại dịch này mảy may tỏ ý định muốn theo gương Trung Quốc dùng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để kiểm soát con người cả. Mặc dù vẫn luôn luôn phải cảnh giác, chúng ta có thể tạm yên tâm : con người sẽ được săn sóc và phục vụ hiệu quả hơn nhưng không sợ mất tự do và không gian cá nhân.

Tác dụng nhìn thấy rõ nhất của Covid-19 là đã khiến đường phố vắng tanh ngay cả tại những thành phố nhộn nhịp nhất như Paris, Berlin, New York. Một nửa nhân loại, 2/3 trong các nước phát triển nhất, bị câu lưu tại gia.

Trong Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai, dự án chính trị 2015 của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên, chúng tôi đã tiên liệu :

"Cả một thế giới ảo đã hình thành với tầm quan trọng gia tăng nhanh chóng. Ngay lúc này những trao đổi văn hóa, khoa học, kỹ thuật tài chính và thương mại trong thế giới ảo này, qua mạng lưới Internet, đã rất quan trọng. Trong một tương lai không xa thế giới ảo này sẽ lấn át thế giới thực, biến thế giới thực thành một trong những biểu hiện của nó" (1).

Coviq-19 đã đem tương lai này tới rất gần. Đại đa số công nhân viên đang bị bắt buộc phải làm việc tại nhà qua mạng internet. Một phần đáng kể sẽ còn tiếp tục cách làm việc này sau Covid-19, bởi vì các cơ quan và xí nghiệp đã được tổ chức lại để thích nghi với nó và phần này sẽ tiếp tục tăng lên vì cách làm việc qua mạng tiện cho cả chủ nhân lẫn công nhân viên. Những công việc bắt buộc sự hiện diện thân xác cũng sẽ chỉ đòi hỏi sự hiện diện này vài ngày mỗi tuần hay mỗi tháng. Sinh viên và học sinh cũng có thể chỉ đến trường cho một số môn học và trong một vài dịp. Nếp sống bình thường sáng đi làm tối về nhà -và những giờ kẹt xe- trong một tương lai gần sẽ thuộc về quá khứ. Ngay bây giờ đã có những dàn nhạc hòa tấu thuần túy qua mạng. Tác động trên hoạt động kinh tế và sinh hoạt hàng ngày sẽ rất lớn. Người ta sẽ không còn cần nhiều xe ôtô, nhu cầu di chuyển hàng ngày sẽ giảm, các công ty cũng không cần những văn phòng lớn.

Ngay bây giờ đã có những dàn nhạc hòa tấu thuần túy qua mạng. Hãy nghe những nhạc sĩ thuộc Dàn nhạc hòa tấu quốc gia Pháp (Orchestre national de France) trình diễn, mỗi người tại gia, nhạc khúc Boléro của Maurice Ravel. © Radio France

Quan hệ gia đình và bạn bè cũng sẽ thay đổi. Tại Pháp sau một tháng câu lưu, số bạo hành trong gia đình và số hồ sơ ly dị đã tăng gấp đôi, tại các nước khác chắc cũng tương tự. Nhiều cặp vợ chồng khám phá ra rằng họ tuy lấy nhau nhưng không thực sự chia sẻ cuộc sống và do đó thực ra không hiểu nhau. Các xã hội sẽ không bao giờ trở lại như trước.

Một khác biệt lớn giữa Covid-19 và các cuộc khủng hoảng trước đây là đã không hề có một phối hợp nào giữa các quốc gia để có những hành động chung, trong khi đáng lẽ ra hơn bao giờ hết thế giới cần một kế hoạch toàn cầu. Phải đợi đến hơn hai tháng sau khi Covid-19 tàn phá mới có cuộc hội ý G20 ngắn ngủi qua truyền hình, trong đó không một người lãnh đạo quốc gia nào nói gì với Donald Trump hay đưa ra một đề nghị phối hợp nào. Các nước G20 đồng ý là cần 5.000 tỷ USD để cứu nguy kinh tế thế giới nhưng không quy định ai sẽ bỏ ra bao nhiêu và để sử dụng như thế nào.

Mỹ đã không đảm nhiệm vai trò lãnh đạo thế giới như trong quá khứ và điều này đã không làm ai ngạc nhiên. Sau ba năm dưới sự lãnh đạo của Donald Trump, với chủ trương America First, Mỹ đã từ chối vai trò lãnh đạo thế giới và sự từ nhiệm này đã được chấp nhận. Dù Joe Biden có đắc cử tổng thống Mỹ trong cuộc bầu cử tháng 11 sắp tới, ông cũng sẽ không thay đổi được thực trạng này. Sự từ nhiệm và giải nhiệm này sẽ có những hậu quả lớn trong tương lai. Cụ thể là đồng Dollar Mỹ sẽ mất dần lý do để được sử dụng làm đồng tiền thanh toán và dự trữ quốc tế, và cho phép Mỹ được tùy tiện phát hành thêm tiền để tiêu xài cho mình dù cả thế giới phải chia sẻ hậu quả. Kinh tế Mỹ sẽ mất vũ khí quyết định nhất.

Còn Trung Quốc ? Đại dịch Covid-19 đã khiến hầu như mọi hoạt động tại Trung Quốc ngừng lại trong gần ba tháng. Ngân hàng Thế giới ước lượng tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc trong năm 2020 này sẽ là 0,10%, nghĩa là sát số không. Tuy vậy ước lượng này không đáng tin. Nó dựa trên con số tăng trưởng 6,1% năm 2019 do Trung Quốc đưa ra mà ai cũng biết là sai, kể cả chính thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường. Kinh tế Trung Quốc chắc chắn sẽ suy sụp nặng hơn nhiều, may lắm là ở cùng mức độ dự trù cho kinh tế Đức, nghĩa là -5%.

Hậu quả sẽ như thế nào ? Cựu thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo từng tuyên bố sau cuộc khủng hoảng 2008 rằng, nếu mức tăng trưởng xuống dưới mức 8% mỗi năm thì Trung Quốc sẽ lâm vào bạo loạn. Không ai, kể cả Giang Trạch Dân, Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường phản bác Ôn Gia Bảo, bởi vì ông này chỉ nhắc lại một khế ước bất thành văn nhưng rất được biết đến giữa Đảng cộng sản Trung Quốc và nhân dân Trung Quốc, theo đó nhân dân Trung Quốc chấp nhận chế độ toàn trị với điều kiện là đời sống của họ được cải thiện nhanh chóng. Mức độ cải thiện nhanh chóng đó được cụ thể hóa bằng tỷ lệ tăng trưởng trên 8%. Tỷ lệ suy thoái -5% là một sự phản bội và một thách đố. Tuy vậy, nó không phải là mối nguy lớn nhất đối với Bắc Kinh.

Mối nguy lớn nhất là từ nay Bắc Kinh không còn đảo nợ -nghĩa là vay nợ mới để trả nợ cũ- được nữa, trong khi khối nợ tổng cộng của họ đã tới mức kinh khủng 40.000 tỷ USD, hay 350% GDP, và các quỹ đầu tư cũng không còn tiền để cho vay nữa. Nhiều đại công ty sẽ phá sản theo chân tổ hợp HNA (2). Khủng hoảng kinh tế là chắc chắn. Tình hình càng nguy hiểm vì các dấu hiệu bất phục tùng đã xuất hiện khắp nơi và ngay trong nội bộ Đảng cộng sản Trung Quốc, uy tín của Tập Cận Bình đã bắt đầu bị thách thức.

Lối thoát duy nhất của chế độ cộng sản Trung Quốc là co cụm lại và dùng bạo lực để cố duy trì sự thống nhất, ít nhất trên danh nghĩa. Nếu thành công, giải pháp này sẽ biến Trung Quốc thành một thế giới riêng, một đế quốc biệt lập với thế giới bên ngoài, tuy nghèo nhưng mức sống cũng đã cao hơn nhiều so với 40 năm về trước khi Đặng Tiểu Bình bắt đầu chính sách kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Giải pháp này cùng lắm chỉ giúp chế độ cộng sản Trung Quốc kéo dài thêm được một thời gian.

Như vậy thế giới sẽ không phải lo ngại một cuộc tranh hùng Mỹ - Trung để giành ngôi bá chủ. Cả hai đều sẽ lúng túng tự lo cho mình dù Trung Quốc khốn đốn hơn nhiều. Chúng ta sẽ không phải lo ngại nguy cơ Trung Quốc uy hiếp các nước trong khu vực và lộng hành trên Biển Đông.

Việt Nam : đang may bỗng rủi

Trong cơn đại họa này Việt Nam cho đến nay có vẻ là một trong những nước may mắn nhất. Đại dịch Covid-19 hình như tha cho nước ta. Tuy vậy sẽ là một sai lầm lớn, rất lớn, nếu vui mừng vì đất nước thoát hiểm. Thực ra có lẽ chúng ta là nước bị thiệt hại nhất vì Covid-19.

covid05

Thị trường bất động sản 2020 sẽ gặp nhiều khó khăn. Các đại công trình xây dựng bất động sản dỡ dang tại Hà Nội - Ảnh minh họa

Cuối năm 2019, trước khi dịch Covid-19 được biết tới, tất cả các chuyên gia và các viện nghiên cứu đều đồng ý rằng, vì nhiều lý do năm 2020, tăng trưởng kinh tế trên toàn thế giới sẽ chậm lại trừ một ngoại lệ : Việt Nam. Họ dự đoán kinh tế Việt Nam sẽ không chỉ giữ được mức tăng trưởng 7% mà còn tiến nhanh hơn nữa, có thể rất nhanh. Vì hai lý do. Một là nhiều công ty lớn đang dời các đơn vị sản xuất khỏi Trung Quốc sang Việt Nam. Hai là Hoa Kỳ và mọi nước dân chủ đã nhận ra Trung Quốc là một mối nguy cho hòa bình thế giới và cho an ninh trên Biển Đông, nơi 40% hàng hóa qua lại trong trao đổi quốc tế, do đó họ đều thấy cần phải giúp Việt Nam mạnh lên để thoát khỏi ảnh hưởng Trung Quốc và đóng góp bảo đảm an ninh trên Biển Đông, nhất là khi Việt Nam đã tỏ rõ ý định thoát Trung. Người ta có thể thấy là Donald Trump dù nói rằng Việt Nam còn lợi dụng Mỹ hơn cả Trung Quốc cũng không hề có bất cứ một hành động trả đũa nào. Các quan sát viên có mọi lý do để chờ đợi nhiều dự án đầu tư từ khắp nơi dồn vào Việt Nam.

Nhưng Covid-19 đã bất ngờ ập tới. Lý do để giúp Việt Nam không còn vì Trung Quốc sẽ co cụm lại và không còn là mối nguy cho hòa bình thế giới và an ninh trên Biển Đông nữa. Các công ty lớn cũng đều điêu đứng và không còn vốn để đầu tư. Việc chuyển các nhà máy từ Trung Quốc sang Việt Nam cũng sẽ chậm lại. Không những thế, kinh tế Việt Nam còn sẽ rất khốn đốn vì quá lệ thuộc vào ngoại thương và du lịch, hai hoạt động bị tê liệt nhất trong lúc này và thời gian sắp tới. Đời sống sẽ rất khó khăn và bất mãn sẽ lên rất cao. Tương lai sán lạn biến đi nhường chỗ cho thực tại đen tối.

Như vậy phải chăng cơ hội lớn cho đất nước và dân chủ đã tan biến ?

Câu trả lời là tuy đất nước vừa bắt đầu một giai đoạn rất khó khăn nhưng tiến trình dân chủ không bị thương tổn vì chế độ toàn trị còn khốn đốn hơn nhiều. Ngay trước dịch Covid-19, các cấp lãnh đạo cộng sản đã cảnh báo rằng vấn đề nhân sự của Đại hội 13 sắp tới có thể làm Đảng cộng sản tan vỡ, một cách để nhìn nhận rằng đang có chia rẽ nội bộ nghiêm trọng. Sự chia rẽ này sẽ chỉ nghiêm trọng hơn khi không còn gì để chia nhau ngoài những tiếng gào thét của quần chúng phẫn nộ. Sự ly dị giữa hai đảng cộng sản Việt Nam và Trung Quốc cũng không còn đảo ngược được nữa. Dù muốn hay không Việt Nam cũng vẫn phải sáp lại gần hơn với các nước dân chủ. Áp lực dân chủ hóa từ bên ngoài có thể sẽ không lớn như nếu không có Covid-19 vì đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sẽ khựng lại và các nước dân chủ sẽ phải chật vật với nhiều vấn đề khác nhưng vẫn còn. Mặt khác, sự suy sụp nhanh chóng sắp tới của Trung Quốc sẽ khiến rất nhiều đảng viên cộng sản hiểu rằng chủ nghĩa Mác-Lênin là một thây ma đã rữa mà họ phải khẩn cấp tránh xa.

Vào lúc này, chưa thể nói Covid-19 sẽ đẩy nhanh hơn hay làm chậm lại tiến trình dân chủ hóa đất nước. Điều chắc chắn là cuộc vận động dân chủ vẫn tiến tới và đòi hỏi những người dân chủ vất bỏ lối đấu tranh nhân sĩ để kết hợp với nhau trong một tổ chức, chung quanh một dự án chính trị.

Nguyễn Gia Kiểng

(04/03/2020)

 --------------

(1) Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai

(2) COVID-19 và kịch bản HNA : khủng hoảng có thể rất lớn

Published in Quan điểm
vendredi, 20 mars 2020 22:15

Joe Biden có thể làm gì ?

Có mọi triển vọng Joe Biden sẽ đánh bại dễ dàng Donald Trump trong cuộc bầu cử tháng 11 sắp tới để trở thành tổng thống thứ 46 của Hoa Kỳ. Ở tuổi 78 cũng có mọi triển vọng ông sẽ chỉ tại chức một nhiệm kỳ và chủ yếu sẽ cố gắng hàn gắn những đổ vỡ do Trump gây ra đồng thời dành cho nước Mỹ bốn năm tương đối bình yên để nghĩ về mình và chuẩn bị cho đoạn đường tương lai.

 

joe1

Có mọi triển vọng Joe Biden sẽ đánh bại dễ dàng Donald Trump trong cuộc bầu cử tháng 11 sắp tới để trở thành tổng thống thứ 46 của Hoa Kỳ.

 

Dịch cúm Covid-19 đã có tác dụng kết thúc nhanh chóng cuộc tranh cử sơ bộ trong Đảng Dân Chủ Mỹ và giáng một đòn chí tử vào hy vọng tái đắc cử của Donald Trump.

Joe Biden bất ngờ trỗi dậy mạnh mẽ sau khi thất bại trong ba cuộc bầu cử sơ bộ đầu tiên. Ông thắng lớn tại South Carolina và thắng liên tục sau đó, vượt xa đối thủ duy nhất còn lại, Bernie Sanders. Mới đây lại vừa thắng thêm ba cuộc bầu cử sơ bộ tại Florida, Illinois và Arizona. Rồi dịch Covid-19 ập đến Mỹ khiến những cuộc mít tinh tranh cử không còn sôi nổi nữa để có thể thay đổi tình thế. Trừ một bất ngờ không thể tưởng tượng được Joe Biden sẽ được chọn làm ứng cử viên của Đảng Dân Chủ và sau đó sẽ đánh bại Donald Trump trong cuộc bầu cử tổng thống tháng 11/2020 sắp tới.

Dow Jones xuống, một "mặt trận thống nhất" mạnh lên

Lý do đầu tiên khiến Donald Trump gần như chắc chắn sẽ thất bại chính là Covid-19. Trump đã hành xử quá tệ. Mới đầu nói ông đây chỉ là một trò đùa của Đảng Dân Chủ, rồi nói dịch này chẳng có gì đáng ngại, tự nó sẽ qua đi khi trời ấm lại, rồi tuyên bố sẽ tìm ra vacxin nhanh chóng trong vài tháng, sau cùng là tuyên bố tình trạng khẩn cấp. Liên tục khoe khoang và liên tục bị lố bịch hóa mà không hề biết ngượng. Nhưng nếu chỉ có thế thì thế đứng của Trump cũng không hề hấn gì. Trump có một khối cử tri cơ sở ủng hộ ông một cách gần như không điều kiện dù ông có nói bậy hay làm bậy đến đâu đi nữa, miễn là kinh tế Mỹ vẫn khả quan.

Đối với Trump kinh tế thể hiện qua ba con số : tỷ lệ tăng trưởng của GDP, tỷ lệ thất nghiệp và chỉ số chứng khoán Dow Jones, trong đó chỉ số Dow Jones là quan trọng nhất. Kinh tế dĩ nhiên không đơn giản như vậy nhưng đó là niềm tin của Trump và khối người ủng hộ ông. Trump có vẻ tin rằng thắng lợi hay thất bại của ông chủ yếu tùy thuộc chỉ số Dow Jones.

joe2

Trong bài Diễn văn về Tình hình Liên bang Trump khoe rằng trong ba năm cầm quyền ông đã làm cho chỉ số Dow Jones tăng lên 70%...

Trong bài Diễn văn về Tình hình Liên bang (State of the Union Address), làm bà chủ tịch Hạ Viện Nancy Pelosi nổi giận xé bỏ ngay trước các ống kính truyền hình vì đánh giá nó gian dối, Trump huênh hoang khoe rằng trong ba năm cầm quyền ông đã làm cho chỉ số Dow Jones tăng lên 70%. (Thực ra Dow Jones có tăng mạnh thật, cũng như mọi chỉ số chứng khoán khác trên thế giới, nhưng tăng 46% chứ không phải 70%). Nhưng Covid-19 đã đến và trong hai tuần lễ đã xóa sạch những thành quả tích lũy trong ba năm, đưa Dow Jones xuống mức thấp hơn lúc Trump lên cầm quyền và hy vọng phục hồi, dù chỉ là một phần, rất mong manh. Trump trắng tay. Khủng hoảng do dịch Covid-19 gây ra sẽ còn kéo dài ít nhất đến tháng 5 và từ tháng 5 cho đến hết mùa hè là giai đoạn mà hoạt động kinh tế cũng như các thị trường chứng khoán lắng xuống. Giới chơi chứng khoán Mỹ có câu "Sell in May and go away" (Tháng 5 bán hết, rồi đi). Đối với Trump đây là một đòn chí tử, ông có thể mất một phần những cử tri trung thành.

Lý do thứ hai và quan trọng không kém là một thành quả của chính Trump. Người ta có thể ngạc nhiên là các ứng cử viên khác của Đảng Dân Chủ đã nhanh chóng rút lui và tuyên bố ủng hộ Biden. Bà Elisabeth Warren tuy chưa chính thức ủng hộ nhưng cũng bày tỏ thiện cảm, Bernie Sanders tuyên bố nếu không được chỉ định làm ứng cử viên của Đảng Dân Chủ sẽ ủng hộ Biden. Có thể nói là có sự đoàn kết chặt chẽ chưa từng thấy của phe Dân Chủ sau lưng Joe Biden trong quyết tâm đánh bại Trump, trái ngược hẳn với sự hờ hững dành cho Hillary Clinton năm 2016.  Số người tham gia bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử sơ bộ, trước khi dịch cúm Covid-19 xẩy ra, đã đông đảo hơn hẳn so với năm 2016. Điều này chứng tỏ rằng cử tri Dân Chủ cũng đã được động viên.

joe3

Bernie Sanders (phải) tuyên bố nếu không được chỉ định làm ứng cử viên của Đảng Dân Chủ sẽ ủng hộ Biden.

Donald Trump chỉ có thể tự trách mình. Khác hẳn với các tổng thống khác, ngay từ khi đắc cử Trump đã chỉ tự coi là tổng thống của một thiểu số người Mỹ, những cử tri cơ sở của ông, phần lớn là những người da trắng ít học (non college-educated Whites). Trump từng nói là ngay cả nếu ông ta có ra đường bắn chết một người nào đi nữa thì ông cũng không mất đi một phiếu nào. Trump không tự coi là tổng thống của cả nước Mỹ, ông lúc nào cũng sử dụng ngôn ngữ thù địch và xúc phạm đối với Đảng Dân Chủ và những người không ủng hộ ông, cũng như đối với các nước đồng minh của Mỹ, kể cả các đồng minh truyền thống, để chỉ khai thác sự hằn học của khối cử tri cơ sở của ông. Khối người này theo nhiều nghiên cứu chỉ vào khoảng 25% người Mỹ nhưng với sự tăng viện của những thành phần bất mãn khác -và với một tỷ lệ tham gia bầu cử ở mức 55% - có thể giúp ông giành được đa số đại cử tri và đắc cử nhờ thể thức bầu cử rất đặc biệt của Mỹ, ngay cả nếu thua về số phiếu trên cả nước. Đó là điều đã xẩy ra năm 2016. Nhưng cũng chính vì chỉ cố gắng giữ cho bằng được cảm tình của một thiểu số mà Donald Trump dần dần đã khiêu khích quá nhiều người và tạo ra cả một "mặt trận thống nhất" chống lại ông và mặt trận này đang mạnh lên, động viên được cả những người bình thường không đi bầu. Các cuộc bầu cử sơ bộ của Đảng Dân Chủ vừa qua cho phép dự đoán rằng số người tham gia bầu cử tháng 11 sắp tới sẽ đông hơn và nhiều người chỉ đi bầu để chống Trump. Cơn ác mộng của Trump (trên 60% người Mỹ sẽ đi bầu) rất có thể sẽ thành sự thực.

Đối thủ mà Trump lo ngại nhất

Joe Biden đã đoàn kết được mọi người chống Trump bởi vì ông là mẫu người lý tưởng để đánh bại Trump. Ông là người có kiến thức sâu rộng về chính trị nước Mỹ cũng như về tình hình thế giới. Giáo sư đại học về luật hiến pháp, ông đã từng làm chủ tịch các ủy ban pháp lý và đối ngoại tại Thượng Viện trong khoảng mười năm ở mỗi chức vụ. Có lúc đã từng bị chê trách là quan tâm tới tình hình thế giới nhiều hơn là tới bang Delaware của ông. Bây giờ, sau khi Trump đã phơi bày một cách lộ liễu sự thiếu hiểu biết về thế giới và gây những thiệt hại lớn cho uy tín của Mỹ, lý do trách móc ngày xưa trở thành một ưu điểm.

Joe Biden sau hơn 40 năm hoạt động chính trị cũng được mọi người nhìn nhận là có tài năng cao, thực thà, lương thiện và khiêm tốn, dù không mấy hùng biện và nhiều lúc phát biểu lỡ lời, hơn nữa còn có tật nói hơi cà lăm. Ông là một người hoàn toàn trái ngược với Donald Trump hời hợt, thô lỗ, dối trá, vô trách nhiệm và huênh hoang nhưng bảnh bao và hoạt bát. Joe Biden có khả năng mà Hillary Clinton trước đây không có là làm nổi bật những thói xấu không thể chấp nhận nơi Trump.

joe4

Đối mặt với Trump, Biden có ưu thế của một con người thực.

Thế mạnh của Donald Trump cho tới nay là khả năng thu hút sự ngưỡng mộ của những người nông cạn. Đẹp trai và giầu sang, Trump cũng là một diễn viên màn ảnh tài giỏi và quyến rũ. Trái với sự ngộ nhận của nhiều người, Trump không dị ứng với các Media mà còn là sản phẩm của Media. Chương trình The Apprentice mà ông hoạt náo và được chiếu trên các đài truyền hình bình dân là một bộ phim tập rất thành công. Nếu chọn nghề tài tử cinema Donald Trump không thua gì Clark Gable, Paul Newman hay Brad Pitt. Các diễn viên màn ảnh không bao giờ ngượng vì vai trò mà họ đóng và họ có tài khiến cái Giả quyến rũ hơn cái Thực. Anthony Quinn từng đóng vai một giáo hoàng và trông còn đạo mạo hơn mọi giáo hoàng thực. Cũng tương tự, Donald Trump vừa làm tổng thống Mỹ vừa là một tài tử đóng vai tổng thống Mỹ.

Đối mặt với Trump, Biden có ưu thế của một con người thực. Ông đã thực sự phấn đấu và thành công. Joe Biden đã thực sự vượt qua những khó khăn của một gia đình nghèo để trở thành một người uyên bác, tài giỏi và thành công lớn, rồi đã vượt qua những thảm kịch gia đình để tiếp tục thành công trong khi vẫn là một người trung thực. (Một thí dụ là năm 1988, giữa lúc đang tranh cử tổng thống, ông bị phát giác là đã đạo văn nguyên một câu của lãnh tụ Lao Động Anh Neil Kinnock. Dù theo bộ tham mưu của ông bài diễn văn đó chỉ là do một cộng sự viên viết cho ông nhưng Biden đã thẳng thắn nhận lỗi và rút lui khỏi cuộc tranh cử).

Người ta có thể nhận xét là những người ủng hộ Trump thường ủng hộ một cách rất cuồng nhiệt nhưng lại chẳng có lập luận nào vững vàng mà chỉ biết thóa mạ những người phê phán Trump. Đó là vì sự ái mộ mà họ dành cho Trump không do lý trí mà là một quan hệ thể xác. Họ bị quyến rũ bởi hình ảnh và ngôn ngữ của Trump và ái mộ Trump như ái mộ một tài tử màn ảnh. Họ yêu Trump vì cái giả của màn ảnh có sức quyến rũ hơn hẳn cái thực của đời thường. Với điều kiện là nó không phải đối mặt trực tiếp với cái thực. Đó là điều mà Trump sẽ gặp khi tranh cử tay đôi với Biden.

Cũng không may cho Trump là Biden giầu kinh nghiệm tranh cử. Ngay từ tuổi 30 ông đã đắc cử vào Thượng Viện và từ đó liên tục tái đắc cử với tỷ lệ cao, cho đến khi trở thành phó tổng thống. Trump và bộ tham mưu rất lo ngại Biden. Họ đã tìm mọi cách để triệt hạ ông, kể cả làm áp lực buộc chính quyền Ukraine phải bôi nhọ ông, với hậu quả là chính Trump bị luận tội.

joe5

Cả hai bà Jill Biden (trái) và Melania Trump (phải) đều đẹp và đều từng là người mẫu, nhưng…

Khó khăn của Donald Trump không dừng ở đó. Một nguy cơ khác là bà Jill Biden. Bà này chắc chắn sẽ được đem so sánh với Melania Trump xem trong hai người ai xứng đáng là đệ nhất phu nhân hơn. Sự so sánh này sẽ có kết quả dứt khoát và tức khắc. Cả hai bà đều đẹp và đều từng là người mẫu, nhưng Jill Biden đã từ chối sự nghiệp người mẫu để đi học và dạy học và để chăm sóc trẻ em khuyết tật. Bà là một tiến sĩ về ngành giáo dục, nói chuyện duyên dáng và thuyết phục, trong khi Melania Trump chỉ có nhan sắc. Sự so sánh giữa hai bà sẽ rất tàn nhẫn và càng khiến người Mỹ so sánh giữa hai ông chồng.

Chờ đợi gì ở Joe Biden ?

Có mọi triển vọng Joe Biden sẽ đánh bại dễ dàng Donald Trump trong cuộc bầu cử tháng 11 sắp tới để trở thành tổng thống thứ 46 của Hoa Kỳ. Ở tuổi 78 cũng có mọi triển vọng ông sẽ chỉ tại chức một nhiệm kỳ và chủ yếu sẽ cố gắng hàn gắn những đổ vỡ do Trump gây ra đồng thời dành cho nước Mỹ bốn năm tương đối bình yên để nghĩ về mình và chuẩn bị cho đoạn đường tương lai.

Với tài năng và kinh nghiệm của ông Joe Biden có thể thành công trong việc gắn bó lại người Mỹ với nhau sau khi đã bị chia rẽ thành những người ghét Trump thậm tệ và những người mê Trump cuồng nhiệt. Cuộc tranh hùng Mỹ-Trung Quốc -bắt đầu từ thời Obama mà chính Biden tham gia khởi xướng- sẽ có bài bản hơn. Ông cũng sẽ hòa giải được nước Mỹ với các đồng minh để cùng bảo đảm một trật tự dân chủ trên thế giới, dù chén nước đã đổ xuống đất không thể nào hốt đầy lại được và Mỹ sẽ được nhìn từ nay như một nước đã có thể bầu một tổng thống như Donald Trump.

Điều mà Joe Biden sẽ không thể làm được là lấy lại cho Mỹ vai trò lãnh đạo liên minh các nước dân chủ, chưa nói vài trò lãnh đạo thế giới. Trọng lượng kinh tế của Mỹ : 21% GDP thế giới hiện nay, 15% vào năm 2030 và sẽ còn tiếp tục xuống, không còn cho phép Mỹ đảm nhiệm vai trò này nữa. Văn hóa dân chủ của Mỹ càng không tương xứng với vai trò lãnh đạo mà vả lại chính người Mỹ cũng không muốn nữa. Bằng chứng cụ thể là ngày 29/02/2020 vừa qua, không một chính khách Mỹ nào -dù Cộng Hòa hay Dân Chủ- bày tỏ một cảm xúc nào khi Mỹ đơn phương thỏa hiệp với quân khủng bố Taliban để rút hết quân Mỹ khỏi Afghanistan trong vòng 14 tháng bất chấp chính quyền dân chủ Kaboul do chính Mỹ lập ra. Không khác bao nhiêu so với cách ứng xử tồi tệ của Mỹ với chế độ Việt Nam Cộng Hòa trước đây, hay với người Kurd gần đây.

Sau cùng có lẽ điều cần nhất và cấp bách nhất mà Joe Biden phải làm là giúp các nhà tư tưởng chính trị phát động mạnh mẽ cuộc thảo luận mà họ đã khỏi xướng từ vài năm nay và không ngừng gào thét lên sự cần thiết để xét lại và cải tiến mô hình dân chủ của nước Mỹ. Dù muốn hay không trong bốn năm tới Mỹ sẽ phải lo cho mình trước hết.

Còn đối với người Việt Nam chúng ta ?

Thỏa hiệp Mỹ-Taliban vừa nhắc lại một lần nữa rằng từ nay các dân tộc cần đấu tranh để có dân chủ như chúng ta sẽ phải trông cậy trước hết vào cố gắng của chính mình. Nói như thế không có nghĩa là bối cảnh quốc tế sẽ không thuận lợi. Trái lại, chúng ta cần chuẩn bị để tận dụng làn sóng dân chủ thứ tư đang sắp mạnh trở lại và sẽ cuốn đi các chế độ cộng sản cuối cùng, tại cả Trung Quốc lẫn Việt Nam.

Chúng ta không cần dựa vào Mỹ hay một cường quốc nào khác bởi vì chúng ta có sức đẩy toàn cầu mạnh hơn nhiều.

Nguyễn Gia Kiểng

(20/03/2020)

Published in Quan điểm

Kịch bản HNA gần như chắc chắn sẽ được dùng cho nhiều tổ hợp và tổng công ty khác để Trung Quốc chạy nợ rồi sau đó co cụm lại trong một thế giới riêng khép kín, điều mà với diện tích và dân số của mình Trung Quốc có thể làm. Bắc Kinh không có giải pháp nào khác. Trên thực tế kinh tế Trung Quốc đã phá sản dù chưa nhìn nhận.

shen1

Trụ sở Trung tâm giao dịch sàn chứng khoán Thâm Quyến-Hồng Kông - Ảnh minh họa

Tôi hy vọng mình lầm. Cả thế giới đang xôn xao vì dịch cúm COVID-19, hay Coronavirus, nhưng điều nghịch lý nhất là một sự kiện chưa được các chuyên gia bình luận. Nó có thể rất quan trọng và đánh dấu một khúc quanh lớn của thế giới. Mọi thị trường chứng khoán trên thế giới đều suy sụp trong một tuần qua, các chỉ số chứng khoán trên khắp thế giới đều xuống 10%, hoặc hơn, trong khi chỉ số của Thâm Quyến đáng lẽ phải chao đảo hơn hẳn lại mạnh lên. Có một điều gì đó rất không bình thường cần được nhìn rõ.

Thực trạng như thế này : Dịch COVID-19 cho đến hôm nay, 28/02/2020, đã làm hơn 85.000 người nhiễm trùng và gần 3.000 người chết. Khoảng 95% nạn nhân, nhiễm trùng cũng như tử vong, là người Hoa tại Hoa Lục. Mọi hoạt động tại Trung Quốc đều dừng lại, các thành phố lớn vắng tanh như những thành phố chết. Dịch COVID-19 lan truyền khá nhanh, cho đến nay đã có hơn 50 nước có người mắc bệnh. Trong gần một tháng kể từ khi bệnh dịch này được Bắc Kinh chính thức công bố, các thị trường chứng khoán hình như coi nó là không nghiêm trọng và các chỉ số vẫn gia tăng đều đặn cho đến ngày 19/02. Từ ngay 21/02 tất cả đều suy giảm nhanh chóng. Hôm nay, 28/02/2020, so với ngày đầu năm 2020 chỉ số Dow Jones (Mỹ) đã mất -9,71%, Nikkei (Nhật) mất -10,63%, FTSE (Anh) mất -12,87, CAC 40 (Pháp) -11,62. Điều đáng ngạc nhiên là tại Trung Quốc, nơi phát sinh bệnh dịch và tập trung 95% nạn nhân, thay vì bị sa sút dữ dội nhất, 30% hay 40%, các chỉ số chứng khoán lại rất vững vàng, riêng chỉ số Thâm Quyến còn tăng lên ở mức khó tưởng tượng +10,60%. Chỉ số Thương Hải chỉ sụt 3% trong ngày hôm nay 28/02, khi cả thế giới hốt hoảng, trước đó không hề bị dao động. Phải giải thích thế nào tình trạng vô lý này ?

Giải thích hợp lý nhất là dịch COVID-19 đang cống hiến cho các công ty Trung Quốc, đặc biệt là tại Thâm Quyến, trung tâm công nghiệp của Trung Quốc, một cơ hội để xóa nợ.

Kịch bản HNA

Các thị trường chứng khoán trên thế giới bắt đầu dao động khi chính quyền Trung Quốc quyết định cho phá sản tổ hợp HNA. Ngay lập tức trị giá cổ phiếu của một số công ty con của HNA tăng vọt 10% trong khi các chỉ số chứng khoán thế giới đều sụt giá và từ đó tiếp tục sụt giá, trừ Thượng Hải và nhất là Thâm Quyến . Kich bản HNA giúp ta hiểu những gì đang xảy ra.

shen2

Các thị trường chứng khoán trên thế giới bắt đầu dao động khi chính quyền Trung Quốc quyết định cho phá sản tổ hợp HNA. Ảnh Trụ sở Tổ hợp HNA tại Hải Nam (Getty Images)

Từ công ty Hàng Không Hải Nam (Hainan Airlines) HNA đã được nâng lên thành một tổ hợp ít lâu sau khi Tập Cận Bình lên cầm quyền với tham vọng biến Trung Quốc thành cường quốc số 1 thế giới. Một trong những dự án lớn của Tập là biến đảo Hải Nam thành trung tâm du lịch lớn chưa từng có với tất cả những phương tiện giải trí hiện đại nhất, kể cả các sòng bài. Theo tham vọng này, Hải Nam trong một tương lai gần sẽ giầu sang ngang với Singapore nhưng lớn gấp 50 lần. Hàng trăm tỷ đô la đã được đổ vào đảo này và một trong những cột trụ của dự án vĩ cuồng này là phát triển HNA thành tổ hợp du lịch và chuyên chở lớn nhất thế giới.

HNA bành trướng một cách chóng mặt, mua vô số tích sản đủ loại, công ty hàng không, khách sạn, nhà hàng, phi trường, hải cảng, ngân hàng, địa ốc v.v. và cả IT. Vào năm 2018 Tổ hợp HNA được biết tới như là một trong những tổ hợp lớn nhất thế giới với tích sản 230 tỷ USD, gồm hơn 20 công ty hàng không, hơn 2.000 khách sạn và hàng trăm công ty con đủ loại. Nhưng lỗ nặng. Số thương vụ chỉ hơn 50 tỷ USD mà nợ gần 100 tỷ USD, hàng năm phải trả hơn 5 tỷ USD tiền lãi các món nợ. Tình trạng khó khăn đến nỗi không vay được nữa và phải bán dần tích sản để trả nợ. Tổ hợp đang bế tắc thì chủ tịch Vương Kiện (Wang Jian) chết vì ngã vách núi tại Pháp một cách khó hiểu. Tình trạng ngày càng phức tạp hơn. Rồi hai tuần trước đây chính quyền Hải Nam (thực tế là Bắc Kinh) thông báo quyết định giải thể tổ hợp hợp doanh này. Ngay lập tức cổ phần của các công ty con tăng vọt lên hơn 10%.

Tình trạng ngộ nghĩnh này thực ra không khó hiểu. Lý do giản dị là phần lớn tài sản của HNA đã được chuyển sang các công ty con và các công ty này từ nay không còn phải chịu gánh nặng của một bà mẹ hấp hối nữa, thí dụ như đóng góp để trả nợ. Các ngân hàng và quỹ đầu tư chủ nợ của HNA có thể đòi nợ nhưng thủ tục sẽ kéo dài nhiều năm và đàng nào cũng chi đòi lại được môt phần rất nhỏ vì chính quyền Trung Quốc được quyền ưu tiên sai áp.

shen3

Tổ hợp HNA đang bế tắc thì chủ tịch Vương Kiện chết vì ngã vách núi tại Pháp ngày 4/7/2018 một cách khó hiểu.

Nhưng bằng cách nào HNA đã có thể chuyển giao tài sản sang các công ty con ? Đó là phương thức "trao đổi nội bộ" mà các tổ hợp đa quốc thường dùng để chạy thuế. Thí dụ một công ty con A ở một nước X có tỷ lệ thuế 40% tiền lời được lời 100 triệu. Công ty này bình thường phải trả 40 triệu tiền thuế. Công ty A này có thể nhận lệnh của tổ hợp mẹ để mua của một công ty con B của tổ hợp, ở một nước Y nào đó mà tỷ lệ thuế trên tiền lời chỉ là 10%, một số sản phẩm hay dich vụ trị giá 50 triệu nhưng giá thực chỉ là 10 triệu. Như thế tổ hợp đa quốc đã chuyển 40 triệu từ công ty con A sang công ty con B và "chạy" được 12 triệu tiền thuế. Trao đổi nội bộ là phương thức chạy thuế mà hầu như tổ hợp đa quốc nào cũng dùng. Trong thí dụ này tổ công ty A có thể là chính tổ hợp HNA và công ty B có thể là một công ty Trung Quốc ở Thâm Quyến. Trao đổi nội bộ trong trường hợp này đồng nghĩa với tẩu tán tài sản trước khi giải tán và quỵt nợ. Đó chắc chắn là điều mà Bắc Kinh đã làm trước khi cho HNA phá sản. Số tiền nợ gần 100 tỷ USD coi như mất hết. Nếu các chủ nợ đòi lại được 10 tỷ sau nhiều năm tranh tụng cũng là rất may.

Chạy nợ rồi co cụm lại, hậu quả sẽ ra sao ?

Kịch bản HNA gần như chắc chắn sẽ được dùng cho nhiều tổ hợp và tổng công ty khác để Trung Quốc chạy nợ rồi sau đó co cụm lại trong một thế giới riêng khép kín, điều mà với diện tích và dân số của mình Trung Quốc có thể làm. Bắc Kinh không có giải pháp nào khác. Khối nợ của Trung Quốc có mọi triển vọng đã vượt quá 40.000 tỷ USD, gấp 3,5 lần GDP và không thể chịu đựng được nữa trong một nước mà thu nhập bình quân trên mỗi đầu người chỉ xấp xỉ 8.000 USD mỗi năm. Trên thực tế kinh tế Trung Quốc đã phá sản dù chưa nhìn nhận.

Trong một loạt bài trước đây (1) tôi đã nhận định rằng kinh tế Trung Quốc không tránh khỏi sụp đổ vì những sai lầm quá lớn về chính sách. Dịch COVID-19 là một lý cớ để biện minh cho sự suy sụp đồng thời cũng là một cơ hội để xóa nợ rồi co cụm lại. Người ta có thể nhận xét là Bắc Kinh đã bắt đầu co cụm lại từ hơn một năm nay. Sáng Kiến Vành Đai và Con Đường (Belt and Road Initiative) từng được khoa trương rầm rộ như là một sáng kiến thiên tài sẽ đưa Trung Quốc lên ngôi bá chủ hoàn cầu không còn được nhắc tới nữa.

Một câu hỏi có thể được đặt ra là có gì khác biệt giữa Thâm Quyến và Thượng Hải khiến chỉ số chứng khoán Thâm Quyến tăng hơn 10% trong khi Thượng Hải chỉ giữ được mức ổn định ? Câu trả lời là đáng lẽ cả hai thị trường chứng khoán này đều phải sụp ít nhất 30%, cả hai đều đã rất may mắn, nhưng Thâm Quyến còn được ưu đãi hơn. Từ một làng đánh cá nhỏ, Thâm Quyến đã được khai sinh ra cùng với chính sách Hiện Đại Hóa của Đặng Tiểu Bình năm 1980 để làm biểu tượng và niềm tự hào của sự trỗi dậy của Trung Quốc. Vì thế Thâm Quyến cũng là căn cứ tử thủ của Đảng và Chế độ cộng sản Trung Quốc. Kinh tế Trung Quốc là kinh tế hoạch định và Bắc Kinh có thể ra lệnh cho các tổ hợp và tổng công ty phải đặc biệt ưu đãi nhưng công ty con tại Thâm Quyến.

Trở lại với khối nợ 40.000 tỷ USD mà Trung Quốc không thể trả, chủ nhân khối nợ này là những ai ?

Không thể chỉ là các ngân hàng hay các công ty hay thường dân Trung Quốc. Trung Quốc đã khánh tận đến mức chết đói sau cuộc phiêu lưu Bước Nhảy Vọt rồi cuộc Cách Mạng Văn Hóa và chỉ bắt đầu phát triển từ 1980 nhờ chính sách mở cửa của Đặng Tiểu Bình. Những gì đã làm ra và tích lũy được từ năm 1980 họ đã tiêu hao trong chính sách kinh tế chạy trốn về phía trước từ sau cuộc khủng hoảng 2008 và trong cuộc đào thoát ồ ạt ra nước ngoài của tư bản từ nhiều năm nay. Trung Quốc không đào đâu ra được 40.000 tỷ USD. Một phần lớn khối nợ này là tiền vay, một cách trực tiếp hay gián tiếp, từ những ngân hàng và quỹ đầu tư nước ngoài, đa số là Mỹ. Sự kiện nhiều quỹ đầu tư Mỹ cho Trung Quốc vay tiền là những quỹ hưu bổng cũng tạo ra nguy cơ bất ổn xã hội tại Mỹ khi Trung Quốc quỵt nợ làm các quỹ này khốn đốn.

Chúng ta có thể sắp chứng kiến một cuộc khủng hoảng rất lớn khi thực tế đã chứng tỏ một cách không thể chối cãi rằng Trung Quốc đã chọn quỵt nợ để sau đó co cụm lại. Đừng quên rằng cuộc khủng hoảng 2008 đã nổ ra khi chỉ một ngân hàng đầu tư Lehman Brothers phá sản.

Nguyễn Gia Kiểng

(28/02/2020)

(1) Hồ sơ về sự sụp đổ của Trung Quốc (Nguyễn Gia Kiểng)

Published in Quan điểm
dimanche, 02 février 2020 09:11

Nước Mỹ nào sau Donald Trump ?

Cho tới nay nước Mỹ vẫn vững vàng sau những sai lầm lớn vì quá giầu mạnh, tương tự như một võ sĩ dở nhưng quá khỏe nên vẫn chịu được đòn và sau cùng vẫn thắng. Thế giới chứ không phải Mỹ gánh chịu hậu quả. Nhưng thế giới đã thay đổi.

my1

Ai cũng biết Donald Trump có tội nhưng ai cũng biết trước là ông sẽ được trắng án vì Đảng Cộng Hòa có đa số trong Thượng Viện. Ảnh minh họa một phiên xử luận tội Tổng thống Donald Trump tại Thượng Viện Mỹ 

Nước Mỹ bắt đầu một năm mới và một thập niên mới với vụ án Donald Trump. Đây là lần thứ ba trong lịch sử mà Thượng Viện Mỹ biến thành tòa án để xét xử tổng thống và truất phế nếu thấy có tội. Nhưng đây cũng là lần đầu tiên mà một tổng thống Mỹ bị xử án ngay trong nhiệm kỳ đầu. Một biến cố lịch sử đặc biệt quan trọng đồng thời cũng là một trò hề vì công lý hoàn toàn vắng mặt. Các thẩm phán, chính xác là các thượng nghị sĩ đảm nhiệm vai trò bồi thẩm, không xét xử theo luật pháp và lương tâm mà theo thẻ đảng. Ai cũng biết Donald Trump có tội nhưng ai cũng biết trước là ông sẽ được trắng án vì Đảng Cộng Hòa có đa số trong Thượng Viện.

Tóm lược : Donald Trump bị truy tố vì lạm dụng chức vụ tổng thống cho lợi ích cá nhân, khi buộc tổng thống Zelensky của Ukraine phải bôi bẩn cựu phó tổng thống Joe Biden, đối thủ của ông trong cuộc bầu cử tổng thống 2020, nếu muốn có hỏa tiễn chống xe tăng Javelin và được tháo khoán số tiền viện trợ 391 triệu USD mà Ukraine đang rất cần để đương đầu với cuộc xâm lăng từ Nga. Đây là một tội nghiêm trọng mà chính các cộng sự viên của Trump đã xác nhận. Môt tội khác của Trump là đã cản trở mọi cuộc điều tra của quốc hội về những hành động của ông, điều mà quốc hội có quyền và ông không được chống lại. Donald Trump không cung cấp tài liệu nào mà còn cấm các cộng sự viên hợp tác với quốc hội. Đây cũng là một vi phạm trắng trợn và nghiêm trọng. Dầu vậy Donald Trump có bị coi là có tội và bị truất phế hay không là do Thượng Viện Hoa Kỳ biểu quyết với đa số 66/100 và chắc chắn ông sẽ được biểu quyết Not Guilty, nghĩa là vô tội. Không những thế số phiếu bênh vực Donald Trump có thể còn lớn hơn số phiếu buộc tội ông bởi vì Đảng Cộng Hòa đang có đa số 53/47 tại Thượng Viện và các thượng nghị sĩ Cộng Hòa đều đã cho biết trước là họ sẽ ủng hộ Trump. Như vậy Donald Trump không những sẽ không bị truất phế mà còn được một cơ hội để khoe khoang chiến thắng, điều mà ông đã bắt đầu làm.

Sự nhảm nhí ở đây là "thể thức dân chủ". Có tội hay không có tội là tùy ở một biểu quyết phe phái chứ không phải vì đã thực sự làm đúng hay sai.

Luật pháp, lẽ phải và danh dự

Các thượng nghị sĩ Cộng Hòa có đáng bị lên án vì đã biểu quyết trái với sự thực và lẽ phải không ? Chắc chắn là có bởi vì họ thừa biết là Trump có tội. Điển hình là trường hợp của thượng nghị sĩ Lindsey Graham, chủ tịch ủy ban pháp lý Thượng Viện. Ông này tuyên bố một cách lúng túng rằng "theo tổng thống Trump thì ông ấy không có tội". Lindsey Graham cũng chính là người từng hùng hồn buộc tội và đòi truất phế Bill Clinton cách đây 20 năm vì tội trai gái trong Nhà Trắng, một tội tuy đáng khinh và lên án nhưng vẫn nhẹ hơn nhiều so với Donald Trump. Tuy vậy các thượng nghị sĩ dân chủ cũng không đủ tư cách để lên án và khinh thường các đồng viện Cộng Hòa vì họ cũng đã biểu quyết bênh vực Bill Clinton.

Tại sao Donald Trump lại từ chối cung cấp các tài liệu mà Hạ Viện đòi hỏi và không những thế còn cấm các cộng sự viên điều trần trước Hạ Viện ? Chắc chắn là vì sự thực không có lợi cho ông, nhưng tại sao Trump có thể ngang ngược như vậy dù Hạ Viện theo luật pháp và hiến pháp có quyền đòi hỏi các tài liệu và triệu tập các nhân chứng ? Lý do là vì luật pháp Mỹ tuy quy định các quyền của Quốc hội nhưng lại không quy định các biện pháp trừng phạt nếu tổng thống không tôn trọng những quyền này. Luật pháp của Mỹ, và của các nước Anglo - Saxon nói chung, là luật pháp thực nghiệm không rõ ràng như luật pháp thành văn ; nó dựa trên giả thuyết là những người lãnh đạo nói chung –chưa nói tổng thống- đều là những người lương thiện và có danh dự tối thiểu và các thẩm phán đều xét xử theo luật pháp và lương tâm. Nhưng Donald Trump không lương thiện và các thượng nghị sĩ Mỹ đóng vai trò thẩm phán trong trường hợp này cũng không xét xử theo luật pháp và lương tâm mà theo thẻ đảng. Họ thừa biết Trump có tội nhưng họ vẫn biểu quyết Trump vô tội.

Hạ Viện có thể làm gì được Trump ? Cùng lắm là kiện lên Pháp Viện Tối Cao nhưng chính Pháp Viện Tối Cao ngày nay cũng đã xuống cấp. Có mọi triển vọng nó cũng sẽ biểu quyết theo phe phái và phe hữu khuynh ủng hộ Trump đang chiếm đa số. Hơn nữa thủ tục này đòi hỏi nhiều thời giờ trong khi cuộc bầu cử tổng thống đã gần kề. Bế tắc.

Câu hỏi quan trọng nhất và giải thích sự bế tắc này là tại sao các dân biểu và nghị sĩ Cộng Hòa lại phải ủng hộ Donald Trump đến độ bất chấp luật pháp, lẽ phải và danh dự như vậy ? Đó là vì Trump đã tranh thủ được một số cử tri nòng cốt -khoảng 20% cử tri Mỹ- ủng hộ ông một cách cuồng nhiệt và phần lớn sẽ tẩy chay các ứng cử viên bị coi là chống Trump. Chống Trump tương đương với chấp nhận thất cử trong cuộc bầu cử sắp tới và các dân biểu và nghị sĩ Cộng Hòa trước hết nghĩ đến cái ghế của họ, không khác các đối thủ Dân Chủ của họ. Đạo đức không còn trong chính trị Mỹ.

Tại sao Donald Trump ?

Trump đã làm gì để có được khối cử tri không điều kiện này ? Câu trả lời khó tưởng tượng nhưng đúng lả ông ta đã nói bậy và làm bậy một cách thẳng thừng và vì thế đã thu hút được cả một khối đông đảo người Mỹ đang cuồng nộ vì cảm thấy bị bỏ rơi và khinh thường. Không một nước nào đã thay đổi về tâm lý và cấu trúc nhân xã (social fabric) bằng Hoa Kỳ trong 40 năm qua với cuộc cách mạng vi tính và tự động, nhất là sau khi bức tường Berlin sụp đổ và chủ nghĩa phóng khoáng (liberalism) chiếm vị thế độc tôn.

Phong trào toàn cầu hóa và sự chuyển dịch công nghiệp sản xuất sang các nước đang phát triển đã gạt một số đông người ra ngoài lề xã hội. Không phải vì họ lâm vào cảnh thất nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ rất thấp, chưa tới mức 5% được coi là lành mạnh trong một nước bình thường. Họ có thể tìm được việc làm một cách tương đối dễ dàng nhưng công việc không bền vững và không được đánh giá cao, tạo cho họ mặc cảm là những người thua kém và không cần thiết.

Sự ngạo mạn không kềm chế của chủ nghĩa phóng khoáng cũng đã đồng hóa chính trị với tài chính, biến đồng tiền thành giá trị cao nhất, khuyến khích sự tranh giành triệt để và chia rẽ xã hội thành hai loại người, một bên thành công hãnh tiến và một bên thất bại lầm lũi. Trong vòng 40 năm tài sản của nhóm 1% những người giầu nhất đã gia tăng 21.000 tỷ USD trong khi tài sản của khối 50% những người ở "nửa dưới" đã giảm 900 tỷ USD và chênh lệch giầu nghèo vẫn tiếp tục tăng lên. Những người thất bại lầm lũi đó, phần lớn là những người được gọi là "da trắng ít học" (non college whites), chiếm thành phần chủ yếu những người ủng hộ Trump. Họ cảm thấy mất nước ngay trên quê hương mà ông cha họ đã tạo dựng ra. Tôn giáo của họ cũng dần dần biến thành niềm tin lạc hậu của một thiểu số, các giáo đường ngày xưa chật ních bây giờ vắng dần. Và họ cũng không thể tranh cãi để thuyết phục được ai vì không có kiến thức và cũng không có tiền trong một xã hội mà tiền đồng nghĩa với lý. Trump đã là cứu tinh của họ.

Đúng là Trump đã nói bậy và làm bậy.

Ông ta phát ngôn bừa bãi, bất chấp sự kiện và lý luận, nói dối hoặc nói sai sự thực hơn 15.000 lần trong ba năm, chửi các đối thủ chính trị bằng ngôn ngữ hạ cấp thay vì tranh luận, nói người Kurd, đồng minh Mỹ, là khủng bố hơn cả ISIS, gọi các nước nghèo ở Nam Mỹ là các hố phân v.v. Trong các phát biểu Trump chỉ khẳng định bằng những tính từ dao to búa lớn, như tuyệt vời (wonderful), vĩ đại (tremendous), ngoại hoạng (exceptional), chưa từng có (unprecedented, never before) v.v. chứ không trình bày và phân tích. Đây là một đặc tính của những người thiếu văn hóa. Mỗi tính từ đều là một kết luận và những người thiếu văn hóa đi tới kết luận bằng cảm xúc chứ không qua suy nghĩ và lý luận nên họ không thể trình bày. Có lẽ chính vì thế mà Trump được những người da trắng ít học nhiệt tình ủng hộ. Ông giống họ và cùng trình độ với họ ; sự kiện ông đắc cử tổng thống khiến họ lấy lại được tự tin và giải tỏa cho họ mặc cảm thua kém. Trump cũng có khiếu mỵ dân khi lấy những thái độ như chống phá thai, chống hôn nhân đồng tính mà trong thâm tâm một người sống trác táng như ông chắc là không quan tâm. Sau cùng lý do quan trọng nhất khiến Trump tranh thủ được thành phần da trắng ít học là ngôn ngữ kỳ thị đối với những người di dân da mầu, nó gián tiếp bày tỏ niềm tin rằng người da trắng là một chủng loại tinh anh, lý do tự hào duy nhất còn lại của họ.

Không thể kể hết những thiệt hại Trump gây ra cho nước Mỹ và thế giới vì làm bậy. Ông đã làm tê liệt liên minh các nước dân chủ vào giữa lúc phải đương đầu với mối nguy Trung Quốc, một nước lớn đang mạnh lên và công khai phơi bày giấc mộng làm bá chủ thế giới nhưng vẫn ngoan cố duy trì chủ nghĩa toàn trị và trắng trợn chà đạp nhân quyền. Trump đã khiến gần hết khối Hồi giáo Trung Đông trở thành thù địch với nước Mỹ, nhất là Iraq mà Mỹ đã tốn rất nhiều tiền của và sinh mệnh để tranh thủ làm một đồng minh.

Nước Mỹ chưa bao giờ bị cô lập như bây giờ, ngay cả với những đồng minh truyền thống và cũng chưa bao giờ chia rẽ nội bộ thành hai phe thù ghét nhau như bây giờ, gần như một tình trạng nội chiến. Mỹ yếu đi đến nỗi không giải quyết nổi số phận của chế độ Muduro đã hoàn toàn phá sản tại Venezuela. Từ chỗ là biểu tượng đẹp của thế giới dân chủ hình ảnh của nước Mỹ trên thế giới hiện nay còn xấu hơn cả Trung Quốc. Nhưng cũng chính vì thế mà Trump được lòng thành phần hữu khuynh tự coi là bị hắt hủi. Mỹ bị cô lập càng tốt vì đó chính là điều họ muốn, Mỹ yếu đi cũng không sao vì không còn là đất nước của họ nữa, họ muốn một nước Mỹ của riêng họ.

Căn bệnh mang tên "chủ nghĩa thực tiễn"

Tuy vậy Donald Trump chỉ là triệu chứng chứ không phải là căn bệnh. Nước Mỹ đã bệnh hoạn từ lâu rồi. Từ gần 30 năm qua, chính xác là từ năm 1992, Mỹ đã chỉ có những tổng thống tồi dở, khai thác và lợi dụng dân trí thấp thay vì cố gắng nâng cao.

Bill Clinton, một thanh niên bệ rạc trốn lính, với chủ trương chỉ làm kinh tế (economy, stupid) đã bỏ các biện pháp trừng phạt Trung Quốc sau vụ thảm sát Thiên An Môn, mở thị trường Mỹ và Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế (WTO) cho Trung Quốc, giúp Trung Quốc mạnh lên chặn đứng làn sóng dân chủ thứ ba đang tàn phá các chế độ cộng sản. Bill Clinton sau cùng góp phần quyết định gây ra hai cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2001 và 2008, một kỷ lục đối với một người chủ trương chỉ làm kinh tế. George W. Bush tuy lương thiện nhưng là một con số không về chính trị, chỉ được bầu nhờ uy tín của cha. Barack Obama đã là một đại họa. Quyết định rút quân hấp tấp khỏi Iraq của ông (vào lúc mà tình hình đã ổn định và Mỹ đã thắng dù sau khi phải trả giá rất đắt) đã khai sinh ra lực lương ISIS khiến vùng Trung Đông chìm trong khói lửa, làm hơn 400.000 người chết và hơn ba triệu người phải di tản. Obama nhát như thỏ, không dám tấn công chế độ Bachar al Assad như đã cam kết khi chế độ này dùng vũ khi hóa học để tàn sát dân chúng nổi dậy, cũng không dám can thiệp khi Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Scarborough của Philippines dù Philippines và Mỹ có liên minh quân sự, vì vậy mà sau đó Philippines sáp lại với Trung Quốc.

Trong gần 30 năm qua người Mỹ đã được chọn lựa tổng thống giữa một người giỏi và một người dở -giữa Bush Cha và Clinton, giữa Al Gore và Bush Con, giữa McCain và Obama- và họ luôn luôn chọn người dở. Sau cùng chính trị Mỹ đã xuống cấp đến nỗi họ chỉ còn chọn lựa giữa hai người tồi dở Hillary Clinton và Donald Trump.

Trump xét cho cùng đã chỉ phơi bày một cách rõ nét những tật nguyền có sẵn của nước Mỹ.

Trước hết người Mỹ, ngay cả các chính trị gia Mỹ, rất ít quan tâm đến thế giới. Guồng máy nhà nước, đặc biệt là cơ quan trung ương tình báo CIA, có nhiều chuyên viên giỏi nhưng các chính trị gia, những người lấy quyết định, lại hiểu biết rất ít về thế giới. Đó là một mâu thuẫn đặc biệt của nước Mỹ : một bộ máy nhà nước mạnh và tốt điều khiển bởi các cấp lãnh đạo tồi dở. Và vì địa lý, nhất là địa lý nhân văn, là cốt lõi của chính trị nên kiến thức chính trị của họ cũng rất sơ sài. Geoge W. Bush lúc ra ứng cử tổng thống không biết tổng thống Pakistan là ai dù tình hình Pakistan lúc đó đang rất sôi động và Pakistan là một đồng minh chiến lược của Mỹ. Quá phân nửa thượng nghị sĩ Mỹ không có hộ chiếu vì không bao giờ ra nước ngoài. Sự yếu kém về văn hóa chính trị này khiến nước Mỹ đã phạm những sai lầm rất lớn. Phần trên bài này đã đưa một số thí dụ. Một thí dụ khác là cho tới bây giờ Mỹ chỉ coi các nước Châu Mỹ La Tinh như là một sân sau để cho các công ty Mỹ mặc tình khai thác.

Sự thiếu hiểu biết về thế giới và chính trị nói chung của người Mỹ và các cấp lãnh đạo chính trị có một nguyên nhân : người Mỹ rất thực tiễn. Đây là một điểm tế nhị cần được nhìn một cách điềm tĩnh. Người Mỹ đáng quý ở chỗ họ thực thà, thông minh và cần mẫn nhưng họ quá thực tiễn. Họ quan tâm trước hết tới những gì có lợi, nghĩa là có tiền, ngay tức khắc trong khi địa lý cũng như tư tưởng chính trị không đem lại lợi nhuận nhanh chóng. Thực tiễn là một tính tốt và có lợi nhưng nếu đẩy xa quá thì dễ đồng nghĩa với ích kỷ và thiển cận, và thực tế là chủ nghĩa thực tiễn của người Mỹ đã được đẩy đi hơi xa, nếu không muốn nói là quá xa. Phối hợp với sự thiếu hiểu biết về thế giới nó trở thành một mối nguy cho thế giới và chính nước Mỹ.

Năm 1945 chính quyền Mỹ đã thả hai trái bom nguyên tử xuống Nhật, mở đầu một kỷ nguyên vũ khí nguyên tử trong đó loài người có thể bị tiêu diệt, chỉ để chấm dứt sớm hơn một cuộc chiến mà kết quả đã hoàn toàn chắc chắn. Cho đến nay chưa thấy chính trị gia Mỹ nào tỏ ý hối tiếc quyết định "thực tiễn" kinh khủng này. Riêng tổng thống Harry Truman thì đến lúc chết vẫn tin rằng mình hoàn toàn đúng. Trước đó tại Yalta, nếu Franklin Roosevelt cứng rắn hơn trước một nước Nga đã kiệt lực vì chiến tranh thì Đông Âu, hay ít nhất Ba Lan, Tiệp Khắc và các nước Baltic, đã không bị nộp cho Stalin, phong trào cộng sản đã không bùng lên mạnh mẽ và có lẽ Trung Quốc cũng không bị cộng sản hóa. Cũng chỉ đã có các chính trị gia Châu Âu phiền lòng vì nhượng bộ không cần thiết này.

Năm 1973 Mỹ ký hiệp định Paris và quyết định bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa dù chế độ cộng sản Hà Nội đã kiệt quệ. Cựu ngoại trưởng John Kerry không phải là người duy nhất nói rằng tuy vào năm 1973 tình hình Việt Nam đã thuận lợi nhưng vào lúc đó người Mỹ đã lấy quyết định rồi. Cũng tương tự như Obama đã làm tại Iraq sau này. Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa không chỉ là một thảm kịch cho miền Nam Việt Nam mà còn kéo theo hàng loạt các nước Lào, Campuchia, Angola, Afghanistan, Nicaragua vào quỹ đạo cộng sản và làm cả thế giới dân chủ chao đảo và hoảng hốt. Cũng vì chủ nghĩa thực tiễn mà Bill Clinton đã giúp Trung Quốc mạnh lên và chặn đứng làn sóng dân chủ thứ ba.

Chủ nghĩa thực tiễn trên quy mô quốc gia là một thảm kịch cho thế giới và nó cũng khiến chính trị Mỹ trở thành tồi tệ. Người dân, ngoài những tiêu chuẩn hời hợt như trẻ đẹp và duyên dáng, chỉ bầu tổng thống theo tình hình kinh tế trước mắt, nhiều khi chỉ là một tình trạng tạm thời của chu kỳ kinh tế không liên quan đến hành động của tổng thống ; một người như Bill Clinton cũng có thể đánh bại được một tổng thống tài ba như Bush Cha vì tình hình kinh tế đang khó khăn. Các nghị sĩ và dân biểu, Cộng Hòa cũng như Dân Chủ, cũng vì chủ nghĩa thực tiễn mà nghĩ tới cái ghế của mình trước hết và chạy theo thay vì hướng dẫn dư luận. Họ kiếm phiếu thay vì chống lại cái sai và phục vụ cái đúng cho nước Mỹ.

Chủ nghĩa thực tiễn về bản chất không có gì là sâu sắc. Nó chỉ là một cách hành động giản dị và ngắn hạn, nhưng ngày nay các vấn đề của thế giới và mọi quốc gia đã trở thành phức tạp, sự giản dị không chấp nhận được nữa. Một thí dụ là chính trường hợp Donald Trump. Ông Trump huênh hoang là đã thành công vì đã làm cho kinh tế Mỹ tăng trưởng đều đặn gần 3% mỗi năm trong ba năm liền (2,5% năm 2017, 2,9% năm 2018, 2,3% năm 2019) và nhiều người tin ông. Nhưng nếu nhìn kỹ hơn thì sự thực không giản dị như vậy. Theo chính những số liệu này thì trong ba năm kinh tế Mỹ đã tăng trưởng gần 8%. Với một GDP sấp sỉ 20.000 tỷ USD điều này có nghĩa là nước Mỹ đã giầu thêm thêm 1.600 tỷ USD. Trong cùng ba năm đó khối nợ công đã tăng lên gần 3.000 tỷ USD, như vậy thực ra kinh tế Mỹ đã sút giảm chứ không tăng trưởng. Điều khác biệt là khối tăng trưởng 1.600 tỷ USD có tác dụng ngay tức khắc trong khi khối nợ thêm 3.000 tỷ USD là một gánh nặng cho mai sau.

Cho tới nay nước Mỹ vẫn vững vàng sau những sai lầm lớn vì quá giầu mạnh, tương tự như một võ sĩ dở nhưng quá khỏe nên vẫn chịu được đòn và sau cùng vẫn thắng. Thế giới chứ không phải Mỹ gánh chịu hậu quả. Nhưng thế giới đã thay đổi. Sau Thế Chiến II GDP của Mỹ bằng 52% GDP thế giới, ngày nay tỷ lệ này chỉ còn là 25%, trọng lượng kinh tế của Mỹ liên tục giảm, sẽ chỉ còn là 16% kinh tế thế giới vào năm 2030 theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF). Mỹ vẫn còn mạnh nhất nhưng không còn mạnh đến độ muốn làm gì cũng không sao.

Liệu Mỹ có thể thích nghi với tình huống mới này không ? Câu trả lời là không nếu chính trị Mỹ vẫn như hiện nay. Mỹ chỉ đứng vững nhờ giầu mạnh nhất thế giới chứ không phải là một dân tộc gắn bó, trái lại nó chia rẽ một cách đáng sợ. Trong 50 bang chỉ có sáu (6) bang được gọi là các Swing States nghĩa là các bang có thể bầu theo chương trình và nhân cách của các ứng cử viên, các bang khác hoặc chỉ bầu cho đảng Cộng Hòa hoặc chỉ bầu cho đảng Dân Chủ bất kể chương trình nào và ứng cử viên nào. Sự chia rẽ này tự nó đã rất bệnh hoạn lại đột ngột gia tăng mức độ hung hăng kể từ khi Trump lên cầm quyền và công khai mạt sát đảng Dân Chủ. Thêm vào đó là sự chênh lệch giầu nghèo ngày càng thách đố và Mỹ lại là nước cho mua bán súng tự do. Tương lai có thể rất nguy hiểm.

Một truyện thuyết mới, nhưng bằng cách nào ?

Xét cho cùng thì việc Donald Trump đắc cử thay vì Hillary Clinton đỡ hại hơn. Ít ra Trump cũng đã là một cảnh báo để nước Mỹ trấn tĩnh lại. Với Hillary Clinton chính trị Mỹ sẽ tiếp tục chìm sâu thêm trong sự giả dối và tầm thường cho đến khi không còn chữa chạy được nữa.

Nhưng chữa chạy như thế nào ?

Hầu như tất cả các nhà tư tưởng có uy tín của Mỹ đều đồng ý trên một điểm : phải thức tỉnh dân Mỹ và khôi phục lại các giá trị đạo đức mà những Người Cha Lập Quốc (Founding Fathers) đã lấy làm nền tảng dựng nước, đồng thời phải dành cho Bình Đẳng một chỗ đứng ngang hàng với Tự Do. Nước Mỹ (cũng như mọi quốc gia trên thế giới nhưng khẩn cấp hơn) đang rất cần một truyện thuyết mới trong đó quốc gia không chỉ được nhìn một cách giản đơn như một thị trường hay một đấu trường mà như một tình cảm, một không gian liên đới và một dự án tương lai chung.

Và bằng cách nào ?

Họ cũng đều đồng ý rằng phải phát động một cuộc thảo luận mạnh mẽ về truyện thuyết mới này tại khắp nơi. Họ đã bắt đầu từ vài năm nay rồi và đã nhân lên cố gắng sau thắng lợi của Donald Trump, trong các trường đại học, các viện nghiên cứu và các câu lạc bộ trí thức, cũng như trên các mạng xã hội.

Cho đến nay kết quả của những cố gắng tuy còn khiêm tốn nhưng đã có hiệu quả ngày càng lớn. Các bài thuyết trình rất có giá trị của các nhà tư tưởng đầy uy tín được đưa lên YouTube sau vài năm chỉ được vài chục ngàn lượt coi so với vài triệu, thậm chí vài chục triệu, lượt coi của các bản nhạc và các trận bóng đá trong cùng thời gian. Tuy vậy mức độ quan tâm đang gia tăng nhanh chóng. Patrick Deneen, giáo sư Đại học Notre Dame và một trong những nhà tư tưởng chính trị có uy tín nhất tại Mỹ, mới đây được mời thuyết trình tại Đại học Chicago nhân dịp ra mất cuốn sách Why Liberalism failed (Tại sao chủ nghĩa phóng khoáng đã thất bại) của ông. Gần 200 người đã tham dự. Deneen hài lòng và nhắc lại rằng trước đây khi ông tới phòng họp này để giới thiệu cuốn The odyssey of political theoy (Cuộc phiêu lưu tư tưởng chính trị) chỉ có sáu (6) người tham dự. Kết quả còn khiêm tốn nhưng khích lệ.

Những cố gắng này cũng đã bắt đầu giúp các trí thức chính trị Mỹ nhân diện ra một nguyên nhân quan trọng khác của sự băng hoại của nền chính trị Mỹ : chế độ tổng thống. Chế độ này trút dần nội dung, sau cùng vô hiệu hóa và làm tan nát các chính đảng. Nước Mỹ thực ra không còn chính đảng đúng nghĩa. Hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ thực ra chỉ là hai chợ trời chính trị. Chính vì thế mà đã có những hiện tượng như Bill Clinton và Donald Trump. Các chính đảng đúng nghĩa cần cho một sinh hoạt chính trị lành mạnh bởi vì chúng chính là những môi trường sản xuất và sàng lọc các ý kiến chính trị, đồng thời cũng là những lò đào tạo ra nhân sự chính trị cần có. Quan trọng hơn chúng là những cỗ xe chuyên chở tư tưởng và kiến thức chính trị tới quần chúng, vai trò mà các nhà tư tưởng, các trường đại học và các câu lạc bộ không thể đảm nhiệm. Sẽ không có lối thoát cho nước Mỹ nếu chế độ tổng thống vẫn được duy trì nguyên vẹn.

Nước Mỹ không thiếu những người ưu tú để nhận ra những gì cần làm và với tiềm năng bao la nó chỉ có thể khá hơn sau cú sốc Donald Trump để đương đầu với những thử thách mới.

Nguyễn Gia Kiểng

(02/02/2020)

Published in Quan điểm
vendredi, 10 janvier 2020 09:17

2020, năm của một khúc quanh rất lớn

Quyết định ra khỏi thế lệ thuộc Trung Quốc để hội nhập vào thế giới dân chủ là quyết định đúng duy nhất trong suốt quá trình hiện hữu của Đảng cộng sản. Vậy tại sao nó lại khiến Đảng cộng sản chao đảo ? Như vậy phải hiểu rằng Đảng cộng sản tự nó đã là một sai trái và do đó mâu thuẫn với tất cả những gì đúng. Cuộc chuyển hóa này là một cơ may vô cùng lớn cho đất nước, tại sao nó lại khiến Đảng cộng sản lâm nguy ? Như vậy phải hiểu rằng Đảng cộng sản đối nghịch với đất nước Việt Nam. Một chính đảng như vậy không có lý do để tồn tại, chưa nói để cầm quyền.

khucquanh1

Mỹ và các nước dân chủ, nhất là Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan và Ấn Độ, cũng không thể để cho Trung Quốc làm chủ Biển Đông vì gần một nửa hàng hóa thế giới được vận chuyển qua đây.

Chúng ta vừa bước vào một năm mới đòi hỏi sáng suốt và cảnh giác ở mức độ tối cao. Nó đến vào lúc mà quyết định thay đổi đồng minh, quay lưng lại với Trung Quốc và đến hẳn với các nước dân chủ, trước hết là Mỹ, của Đảng cộng sản Việt Nam tuy chưa được công khai tuyên bố nhưng đã rõ rệt và không thể đảo ngược được nữa.

Trong một bài viết gần đây tôi đã giải thích lý do tại sao Đảng cộng sản Việt Nam phải quyết định "thoát Trung, theo Mỹ" (1). Một cách vắn tắt, lý do quan trọng nhất là Biển Đông. Trung Quốc phải chiếm Biển Đông để giải tỏa thế bị vây bọc của họ trong khi Việt Nam không thể để mất Biển Đông vì đối với Việt Nam Biển Đông là tất cả. Mặt khác, Mỹ và các nước dân chủ, nhất là Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan và Ấn Độ, cũng không thể để cho Trung Quốc làm chủ Biển Đông vì gần một nửa hàng hóa thế giới được vận chuyển qua đây. Tóm lại tham vọng của Trung Quốc đối nghịch với sự sống còn của Việt Nam và quyền lợi của thế giới và đẩy Việt Nam vào thế đồng minh với Mỹ. Một lý do khác là do bản chất đế quốc của nó và nhu cầu làm chủ Biển Đông Trung Quốc cũng bắt buộc phải kiểm soát một cách tuyệt đối quân lực Việt Nam, điều mà những người lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam không thể chấp nhận bởi vì nó tương đương với một bản án tử hình cho chính họ.

Đảng cộng sản sẽ rất hỗn loạn

Đây không phải là lần đầu tiên mà Đảng cộng sản Việt Nam thay đổi đồng minh. Đầu thập niên 1960 họ tách xa "Anh cả Liên Xô" để sáp lại với "Anh hai Trung Quốc". Sang đầu thập niên 1970 họ lại bỏ Trung Quốc để theo Liên Xô, sự trở mặt này căng thẳng đến độ dẫn đến chiến tranh biên giới Việt Trung năm 1979. Nhưng rồi từ năm 1985 họ lại quỳ xuống hàng phục Trung Quốc, dâng hơn 10.000 km² hải phận Biển Đông, một số đảo và đá trên quần đảo Trường Sa, chịu mất khoảng 700 km² đất ở biên giới phía Bắc, trong đó có phần lớn thác Bản Giốc.

Tuy nhiên cho đến nay những chuyển trục này chỉ là những thay đổi quan thầy trong nội bộ khối cộng sản và đều diễn ra một cách rất âm thầm cho đến khi tất cả đã xong, chỉ một nhóm chủ mưu nhỏ có thực quyền trong đảng được biết. Những thành phần bị coi là trở ngại cho "đường lối mới" bị thanh trừng mà cũng không biết tại sao. Họ bị buộc những tội chẳng liên quan gì tới lý do thực sự như "xét lại chống đảng", vi phạm kỷ luật, hoặc tham nhũng v.v., có khi chỉ vì quá tin tưởng và hăng say phục vụ đường lối chính thức của đảng mà không biết rằng nhóm chóp bu đang chuyển hướng.

Lần này khác hẳn. Sự đổi hướng không còn là một thay đổi trong "gia đình cộng sản" nữa mà là từ bỏ phe cộng sản. Hậu quả của nó là sau một thời gian cả chủ nghĩa cộng sản lẫn chế độ cộng sản sẽ bị xóa bỏ và thời gian này, trái với hy vọng của ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam, có thể rất ngắn vì thế giới đang chuyển động rất nhanh chóng và Việt Nam đã chín muồi cho một thay đổi chế độ. Hơn nữa Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã quá phân hóa cho nên ngay khi các đảng viên biết chắc rằng đảng sắp tan, nghĩa là đã có quyết định "bỏ Tầu theo Mỹ", họ sẽ ồ ạt bỏ con tầu sắp chìm. Nó cũng không còn bí mật như những lần trước nữa, nhiều người đã biết và chẳng bao lâu nữa mọi người đều sẽ biết, vào ngay giữa lúc mà đảng đang chuẩn bị cho Đại hội 13 dự trù vào tháng 01/2021.

Như vậy họ sẽ soạn thảo cương lĩnh chính trị mới thế nào ? Giấu quyết định chuyển hướng này thì Đại hội 13 sẽ chỉ còn là một trò hề trong đó mọi người đều nói dối và biết rằng mình cũng như toàn đảng đang nói dối. Hơn nữa phe thân Trung Quốc cũng chưa chắc sẽ thụ động để bị đào thải một cách êm thấm và sống những ngày cuối đời trong ê chề, không chừng trong nhà tù vì tội tham nhũng. Họ sẽ phản ứng và sẽ có sức mạnh của người nói thực trong khi phe cầm quyền sẽ bị đặt vào thế yếu của kẻ nói dối bị lật tẩy, của những kẻ miệng nói chống tự diễn biến, tự chuyển hóa dù chính mình đang tự diễn biến, tự chuyển hóa. Họ sẽ không đảo ngược được tình thế nhưng sẽ làm cho "đảng cầm quyền trong đảng" chao đảo. Điều hợp lý nhất là công khai xác nhận sự đổi hướng, nhưng giải pháp này đòi hỏi một sự dũng cảm lớn mà ban lãnh đạo đảng không có. Họ sẽ phải trả lời những câu hỏi gai góc, như "danh xưng Đảng cộng sản Việt Nam còn đúng nữa không ?", "quốc hiệu Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn ý nghĩa gì ?", "bao nhiêu xương máu đổ ra trong cuộc chiến tranh chống Mỹ rốt cuộc chỉ là để được theo Mỹ ?" v.v. Và nhất là câu hỏi "số phận Đảng sẽ ra sao ?". Sẽ chỉ có những câu trả lời lúng túng và ngược ngạo không thỏa mãn được ai mà còn gây phẫn nộ. Đàng nào cũng sẽ có xung đột.

Tình trạng xung đột này sẽ nhân lên nhiều lần mức độ nghiêm trọng của một vấn đề tự nó vốn đã nghiêm trọng từ nhiều năm nay : nhân sự. Khi một đảng không còn lý tưởng chung, nó không thể có đoàn kết. Khi một tập thể không đặt nền tảng trên một tư tưởng lành mạnh và những giá trị đúng thì nó không thể có những con người thực sự tốt, vì vậy bộ máy sàng lọc của Đảng đã loại bỏ hết những người có nhân cách, tài năng và tầm nhìn. Chỉ còn lại những cấp lãnh đạo ganh tỵ nhau mà thành tích lớn nhất là đã không có hoặc không dám có ý kiến trước những sai lầm và tội ác của Đảng, hay đã mua bằng cách này hay cách khác được địa vị đang có. Vấn đề nhân sự tự nó vốn đã rất nghiêm trọng, nhưng lần này còn có thêm xung đột ý thức hệ, do việc từ bỏ một chủ nghĩa tuy không còn ai tin nữa nhưng vẫn còn là biện minh duy nhất cho chế độ độc tài đảng trị, sau khi đã là biện minh cho vô số sai lầm và tội ác.

khucquanh2

Khi một đảng không còn lý tưởng chung, nó không thể có đoàn kết. Khi một tập thể không đặt nền tảng trên một tư tưởng lành mạnh và những giá trị đúng thì nó không thể có những con người thực sự tốt

Thêm vào đó, việc thay thế ông Nguyễn Phú Trọng cũng sẽ rất khó khăn và có mọi triển vọng sẽ gây đấu đá dữ dội. Trong những năm qua Đảng cộng sản đã tập trung mọi quyền lực vào một người nhưng bây giờ họ chỉ còn những con người tầm vóc trung bình như nhau và không có lý do gì để phục nhau. Năm 2020 sẽ là một năm rất bối rối cho Đảng cộng sản và Đại hội 13, trong trường hợp may mắn nhất, sẽ kết thúc với một ban lãnh đạo mới rất yếu để đương đầu với những vấn đề rất lớn.

Cơ hội của một bước nhẩy vọt

Một trong những vấn đề lớn là quản lý một cơ hội chưa từng có của đất nước. Từ hơn một năm nay, các nguồn đầu tư dồn dập đổ vào Việt Nam. Một phần đáng kể là những công ty chuyển hoạt động từ Trung Quốc sang nhưng cũng có những đầu tư mới. Nhịp độ này sẽ còn gia tăng mạnh trong năm nay và những năm sắp tới. Thế giới, nhất là Mỹ, đặc biệt muốn giúp Việt Nam. Người ta có thể nhận thấy một điều lạ là chính phủ Donald Trump gây sự với cả thế giới, tăng thuế nhập khẩu trên hàng hóa không chỉ từ Trung Quốc mà từ mọi nước đồng minh Châu Âu nhưng lại không hề gây một khó khăn nào cho Việt Nam, dù Việt Nam là nước có tỷ lệ thặng dư mậu dịch lớn nhất với Mỹ. Trị giá xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ năm 2019 tăng 35%, lớn hơn trị giá xuất khẩu sang Mỹ của mọi nước Châu Âu trừ Đức. Donald Trump nói rằng Việt Nam là nước lợi dụng Mỹ nhất nhưng ông ta chỉ nói vậy chứ không làm gì (việc Mỹ đánh thuế 456% trên thép nhập khẩu từ Việt Nam không nhắm hàng Việt Nam vì đó là thép Trung Quốc chuyển sang Việt Nam theo ngả Hàn Quốc và Đài Loan). Theo các viện nghiên cứu thì trong năm 2020 mức tăng trưởng kinh tế của tất cả các nước Châu Á sẽ sút giảm trừ Việt Nam, mức tăng trưởng của Việt Nam không những không giảm mà còn tăng và tăng mạnh.

Lý do khiến Việt Nam tăng trưởng mạnh là vì thế giới, nhất là Mỹ, cần giúp Việt Nam trong chiến lược đối đầu với Trung Quốc. Cuộc đối đầu này không chỉ giản dị là một cuộc tranh hùng giữa Trung Quốc và Mỹ, một bên cố giành và một bên cố giữ ngôi bá chủ hoàn cầu, theo kịch bản cổ điển mà sử gia Graham Allison gọi là "bẫy Thucydides". Nó còn là phản ứng tự vệ của cả thế giới dân chủ trước một Trung Quốc đã mạnh lên, đã tăng cường sức mạnh quân sự, đã công khai tuyên bố tham vọng làm bá chủ thế giới trong khi vẫn tiếp tục phủ nhận các giá trị dân chủ và nhân quyền. Trung Quốc vì vậy trở thành một đe dọa chung cho các nước dân chủ chứ không phải chỉ riêng cho Mỹ.

Ngoài tranh giành ảnh hưởng còn có xung đột giá trị, ngoài chiến tranh kinh tế và thương mại còn có chiến tranh ý thức hệ. Vì thế cuộc đụng độ sẽ chỉ gia tăng cường độ cho đến khi sự thắng bại đã rõ ràng. Và kẻ bại chỉ có thể là Trung Quốc vì tương quan lực lượng quá chênh lệch về tất cả mọi mặt. Sẽ không có đụng độ quân sự và vì thế cuộc đối đầu sẽ kéo dài khá lâu cho đến khi Trung Quốc vì suy kiệt phải co cụm lại để chỉ còn lo giải quyết các vấn đề nội bộ. Trong thời gian đó, do vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, Việt Nam sẽ được các cường quốc dân chủ tận tình giúp đỡ để mạnh lên, làm đối trọng với Trung Quốc. Sự hỗ trợ này đã bắt đầu rồi và sẽ còn gia tăng mạnh trong năm 2020 trừ trường hợp phe bảo thủ thân Trung Quốc trong Đảng cộng sản mạnh trở lại trước Đại hội 13, một điều rất khó xẩy ra. Như vậy Việt Nam đang được một cơ hội ngàn năm một thuở để bắt kịp sự chậm trễ và trở thành giầu mạnh.

Có phải lo ngại một phản ứng dữ dội từ Trung Quốc không ? Có, nhưng không nhiều vì Trung Quốc là một đế quốc chứ không phải một quốc gia và, khác với một quốc gia, một đế quốc cọ cụm lại chứ không gây hấn với bên ngoài khi gặp khó khăn nội bộ. Các khó khăn của Trung Quốc đang dần dần hiện rõ.

khucquanh3

Theo ước lượng của các viện nghiên cứu tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc chỉ là 2% hay thấp hơn.

Theo số liệu của chính Trung Quốc thì tỷ lệ tăng trưởng kinh tế không ngừng sút giảm trong mười năm qua, từ 8% xuống dần tới 7% rồi 6% trong năm 2019, dự trù 5,8% cho năm 2020. Nhưng đây chỉ là những con số chính thức mà chính thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường cũng không tin. Theo ước lượng của các viện nghiên cứu tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc chỉ là 2% hay thấp hơn. Nếu lấy thời điểm kinh tế Trung Quốc thực sự suy thoái kéo theo những bất ổn nội bộ là lúc tỷ lệ ước lượng này xuống tới số không thì thời điểm đó có thể là cuối năm nay. Người ta cũng có thể nhận xét là Sáng Kiến Vành Đai và Con Đường được phô trương rầm rộ mới vài năm trước ít còn được nhắc tới nữa, chi phí của nó đã giảm gần 25% trong năm qua. Như vậy chỉ cần một sự khôn ngoan vừa phải Việt Nam cũng tránh được những phản ứng dữ dội từ Trung Quốc khi quyết định quay lưng lại với họ để đến với các nước dân chủ. Sự khôn ngoan đó là làm cho Trung Quốc hiểu rằng chúng ta không còn lệ thuộc họ nhưng cũng không vì thế mà chống họ, Việt Nam chọn một mô hình xã hội khác và bảo vệ những quyền lợi chính đáng của mình những vẫn là bạn của họ. Mỹ và các nước dân chủ cũng không đòi hỏi gì hơn ở Việt Nam.

Tương lai chính trị của Việt Nam sẽ ra sao ?

Hy vọng của ban lãnh đạo cộng sản trong lúc này là Mỹ và các nước dân chủ vì cần họ nên sẽ phải để mặc họ tiếp tục chế độ độc tài đảng trị trong một thời gian khá dài, đủ để họ tự chuyển hóa. Đó chỉ là một hy vọng hão huyền để tự trấn an khi bị bắt buộc phải lấy một quyết định mà mình hoàn toàn không muốn, vì thừa biết nó sẽ chắc chắn đưa tới sự đào thải của chế độ. Hy vọng đó có thể phần nào đúng với một Donald Trump bất chấp các giá trị nhân quyền trong Nhà Trắng nhưng giai đoạn Trump sắp chấm dứt, khả năng tái đắc cử cuối năm nay của ông ta rất mong manh. Nhưng ngay cả nếu tái cử ông ta cũng sẽ là một tổng thống rất suy yếu để có thể quyết định tùy tiện. Các diễn biến sẽ nhanh chóng làm những người lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam vỡ mộng và áp giải họ về với thực tế.

Năm 2020 và các năm kế tiếp sẽ chứng kiến các cuộc thảo luận về cải tiến và tăng cường dân chủ, đã bắt đầu từ hơn một năm nay, rộ lên tại mọi nước dân chủ. Cuối năm vừa qua, ngày 09/12/2019, Liên Hiệp Châu Âu đã thông qua đạo luật Magnisky trừng phạt các quan chức vi phạm nhân quyền tại mọi nước. Mới cách đây hai ngày, 07/01/2020, Thierry Breton, ủy viên công nghiệp, thị trường, quốc phòng và không gian của Liên Hiệp Châu Âu tuyên bố muốn tham gia thị trường Châu Âu thì phải tôn trọng những quy luật của Châu Âu. Một trong những quy luật đó là Nghị quyết 1481 lên án chủ nghĩa Mác-Lênin như là một tội ác đối với nhân loại. Làn sóng dân chủ thứ tư đang mạnh trở lại. Các chính quyền dân chủ dưới áp lực của xã hội dân sự sẽ không có chọn lựa nào khác ngoài buộc Việt Nam phải dân chủ hóa trong khi chính quyền cộng sản Việt Nam không thể chống cự vì quá lệ thuộc bên ngoài, với một ngoại thương gần bằng 250% GDP, nghĩa là cao gấp năm lần mức báo động.

Tóm lại chúng ta đang đứng trước một cơ may chưa từng có và sẽ không bao giờ lặp lại để trở thành một nước dân chủ phát triển. Vấn đề là chúng ta có những chính sách và những con người cần thiết để nắm lấy cơ hội đó không.

Khiêm tốn nghĩ lại mình để vươn lên

Quyết định ra khỏi thế lệ thuộc Trung Quốc để hội nhập vào thế giới dân chủ là quyết định đúng duy nhất trong suốt quá trình hiện hữu của Đảng cộng sản. Vậy tại sao nó lại khiến Đảng cộng sản chao đảo ? Như vậy phải hiểu rằng Đảng cộng sản tự nó đã là một sai trái và do đó mâu thuẫn với tất cả những gì đúng. Cuộc chuyển hóa này là một cơ may vô cùng lớn cho đất nước, tại sao nó lại khiến Đảng cộng sản lâm nguy ? Như vậy phải hiểu rằng Đảng cộng sản đối nghịch với đất nước Việt Nam. Một chính đảng như vậy không có lý do để tồn tại, chưa nói để cầm quyền.

khucquanh4

Chúng ta cần một tập hợp dân chủ qui tụ mọi người yêu nước thuộc mọi quá khứ chính trị.

Trong nước Việt Nam dân chủ tương lai chắc chắn sẽ phải có chỗ cho những người cộng sản nhưng không thể có chỗ cho đảng cộng sản, không phải vì nó sẽ bị trừng trị hay đàn áp mà chỉ giản dị là nó sẽ tự nhanh chóng bốc hơi như các đảng cộng sản Đông Âu trước đây. Nó không phù hợp với dân chủ và lẽ phải, như con đỉa không sống được trong vôi.

Dầu vậy, nó đã cầm quyền trên cả nước trong gần một nửa thế kỷ mà không phải đương đầu với một lực lượng đối lập có tầm vóc nào dù đã thất bại trong tất cả mọi địa hạt, trên tất cả mọi phương diện và theo tất cả mọi tiêu chuẩn. Tại sao ?

Câu trả lời không khó nếu chúng ta chịu nghe. Đó là dân tộc nào cũng phải do trí thức hướng dẫn, cuộc cách mạng nào cũng phải do trí thức khởi động và lãnh đạo nhưng trí thức Việt Nam quá kém. Chúng ta chỉ có những người khoa bảng chứ không có những trí thức đúng nghĩa. Trí thức là một khái niệm chính trị trong khi tuyệt đại đa số những người Việt Nam được coi hay tự coi là trí thức không hiểu và cũng không chịu học hỏi để hiểu chính trị. Và đặc điểm của người ít hiểu biết là họ có thể tin chắc nịch vào những điều mà thực ra họ chẳng có lý do xác đáng nào để tin, và tin đến độ muốn ăn thua đủ với những người nghĩ ngược lại, như những người "cuồng Trump" hiện nay. Chúng ta bế tắc vì thế.

Điều đáng mừng là cơ may lớn hiện nay của đất nước đến vào lúc thế hệ của các trí thức nhân sĩ, thế hệ của chính kẻ viết bài này, gần như đã qua đi và một loại người mà đất nước chưa từng có đang dần dần xuất hiện : những trí thức chính trị. Họ sẽ là những anh hùng của một truyện thuyết Việt Nam mới, biến giấc mơ Việt Nam thành sự thực.

Họ cần hiểu thật rõ rằng trình độ văn minh của một dân tộc thể hiện qua văn hóa tổ chức và khả năng kết hợp, đức tính đáng tôn vinh nhất của một con người là khả năng sinh hoạt trong một tổ chức.

Họ cũng cần hiểu rằng không thể xây dựng tương lai mà bất chấp thực tại dù là một thực tại đáng buồn. Thực tại của đất nước ngày nay là, một mặt, Đảng cộng sản không còn tư cách nào để tiếp tục cầm quyền nhưng, mặt khác, nó đã cầm quyền một cách tuyệt đối trong gần hai thế hệ trên cả nước và ba thế hệ trên nửa nước phía Bắc cho nên những người cộng sản cũng là những người duy nhất có điều kiện để tiếp xúc với những vấn đề chính trị, nghĩa là có kinh nghiêm quản lý những việc chung của đất nước.

Những người dân chủ phần lớn ở ngoài cuộc và vì thế dù có tài năng và thiện chí đến đâu cũng thiếu kinh nghiệm và thiếu nhiều hiểu biết hiện trường cần thiết. Họ cần khiêm tốn hiểu rằng có rất nhiều người tốt đã chỉ gia nhập Đảng cộng sản vì hoàn cảnh xã hội và cũng nhờ gia nhập Đảng cộng sản mà họ có được kiến thức và khả năng hiện nay. Vả lại sự chuyển hướng tốt đẹp mà chúng ta đang chứng kiến, dù tự nhiên và bắt buộc tới đâu, đã chỉ có được vì đã có những người cộng sản lương thiện và sáng suốt ở mọi cấp. Ngược lại những người này cũng cần khiêm tốn nhìn nhận rằng trong khi luồn lách để tiến lên họ cũng đã tiếp tay kéo dài thảm họa của dân tộc. Quan trọng hơn trong lúc này họ phải vất bỏ cái khẩu hiệu hù dọa "còn đảng còn mình". Ở một thời điểm không còn xa nữa Đảng cộng sản sẽ bốc hơi và tan biến nhưng họ vẫn còn và không những thế vẫn còn trong vinh quang để đóng vai trò chủ động đưa đất nước vào kỷ nguyên dân chủ và phồn vinh. Như vậy, để tận dụng cơ hội lịch sử này, chúng ta cần một tập hợp dân chủ qui tụ mọi người yêu nước thuộc mọi quá khứ chính trị. Hòa giải và hòa hợp dân tộc là điều kiện bắt buộc.

Quên đi những thảm kịch trong quá khứ để nhìn nhau là anh em và cùng bắt tay nhau làm lại đất nước sẽ dễ hơn nếu chúng ta hiểu rằng đất nước đã sa vào tai họa cộng sản không phải chỉ vì tham vọng tội lỗi của một vài cá nhân. Có những người đã thực tình say mê chủ nghĩa cộng sản vì tưởng nó là một lý tưởng cao đẹp. Lý do thực sự là chúng ta đã thiếu những trí thức chính trị và do đó đã không có tư tưởng chính trị. Một dân tộc như thế không khác một con tầu đi biển không có la bàn, không đụng phải đá ngầm này cũng đâm vào băng đảo khác, tai họa là điều chắc chắn. Thảm kịch cộng sản và sự kéo của nó phải được nhìn như hậu quả của sự mê muội của dân tộc ta sau một lịch sử dài tôn thờ Khổng giáo, một sự mê muội mà chúng ta phải thoát ra bằng lòng quảng đại thay vì chìm sâu vào bằng sự hận thù. Dù sao cuồng Marx năm 1920 như Hồ Chí Minh cũng còn dễ hiểu hơn cuồng Trump năm 2020 như khá nhiều trí thức hiện nay.

Nguyễn Gia Kiểng

(10/01/2020)

(1) Một cơ hội lớn cho đất nước và dân chủ

Published in Quan điểm

Điều mà những người lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam hoàn toàn không muốn là hòa nhập với các nước dân chủ. Họ thừa biết như thế chế độ sẽ bị đào thải. Điều mà họ muốn là thần phục Trung Quốc để có chỗ dựa và tiếp tục kéo dài chế độ toàn trị. Tuy vậy họ vẫn bị bắt buộc phải tách khỏi ảnh hưởng Trung Quốc và đứng hẳn về phía Mỹ và các nước dân chủ. Tại sao ?

Many hands raised up against the blue sky. Friendship, Teamwork concept.

Chúng ta cần một kết họp dân chủ mạnh với một dự án chính trị vừa đúng và khả thi vừa có thể động viên mọi khối ốc và mọi bàn tay trong cố gắng xây dựng một đất nước Việt Nam dân chủ, hòa giải, giầu mạnh, đáng yêu và đáng tự hào.

 

Đối với những ai theo dõi sát tình hình đất nước và thế giới thì không còn gì để ngờ vực nữa : ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã chọn ra khỏi thế lệ thuộc Trung Quốc để sáp lại với Mỹ và các nước dân chủ. Nói một cách nôm na là "bỏ Tầu theo Mỹ". Câu hỏi mà nhiều người có thể đặt ra là tại sao họ lại chọn con đường mà từ hơn ba thập niên qua họ không ngừng khẳng định là sẽ khiến Đảng cộng sản tiêu vong ?

"Đi với Tầu thì mất nước, đi với Mỹ thì mất đảng" là câu ngạn ngữ thời đại mà mọi đảng viên cộng sản Việt Nam đều biết. Dầu vậy các ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam kế tiếp nhau từ 1985 đã chọn thà mất nước chứ không để mất đảng. Họ chỉ bắt đầu nghĩ lại, có lẽ từ năm 2014, giữa nhiệm kỳ khóa 11, khi Việt Nam đã trở thành một bãi rác công nghiệp của Trung Quốc khiến họ nhận ra rằng lệ thuộc Trung Quốc chỉ mắc tội bán nước chứ không giữ được Đảng, hơn thế nữa còn mất Đảng sớm hơn và bi đát hơn. Đây đã là chọn lựa nhức nhối nhất trong lịch sử Đảng cộng sản.

Không thể tiếp tục đu dây nữa

Bối cảnh thế giới đã bắt đầu thay đổi từ cuối năm 2012 khi Tập Cận Bình lên cầm quyền tại Trung Quốc sau đại hội 18 của Đảng cộng sản Trung Quốc. Lúc đó thế giới đang dần dần phục hồi sau cuộc khủng hoảng 2008 nhưng Trung Quốc lại đang cực kỳ bối rối. Họ đã chọn giải pháp chạy trốn về phía trước trong suốt bốn năm. Thay vì nhìn nhận thực tại khó khăn và đương đầu với nó một cách thận trọng như mọi quốc gia khác họ đã gia tăng ồ ạt chi tiêu công cộng và đầu tư, chủ yếu vào xây dựng. Chính sách này chẳng có gì là độc đáo. Nó chỉ chứng tỏ Hồ Cẩm Đào và bộ tham mưu không dám thẳng thắn đương đầu với những thách đố quá lớn. Kết quả là kinh tế Trung Quốc vẫn tăng trưởng 8% mỗi năm sau 2008 trong khi mọi nước khác đều suy trầm. Cái giá phải trả là nền tảng của kinh tế Trung Quốc trở thành bệnh hoạn. Khối nợ tăng vọt, tồn kho ứ đọng, năng xuất giảm, khả năng và phương tiện xây dựng quá dư thừa. Nói chung là nguy ngập.

Vấn đề đặt ra cho Trung Quốc vào năm 2012 là phải làm gì trong tình trạng nguy ngập này. Ngừng bơm tiền để duy trì một mức độ tăng trưởng giả tạo thì chắc chắn là không được bởi vì nếu được thì Hồ Cẩm Đào đã làm rồi. Lý do là vì từ năm 1978, khi Đặng Tiểu Bình bắt đầu chính sách mở cửa, chế độ cộng sản Trung Quốc đặt nền tảng trên một hợp đồng bất thành văn với xã hội Trung Quốc theo đó người dân Trung Quốc chấp nhận sự lãnh đạo độc quyền và tuyệt đối của đảng cộng sản đổi lại với cam kết của đảng cộng sản là cải thiện nhanh chóng mức sống với một tỷ lệ tăng trưởng cao. Ôn Gia Bảo, thủ tướng Trung Quốc vào lúc đó, đã nhắc lại hợp đồng này khi nói rằng nếu tăng trưởng kinh tế thụt xuống dưới 8% thì sẽ có bạo loạn.

Như vậy vẫn phải tiếp tục bơm tiền vào kinh tế, vấn đề chỉ là bơm như thế nào để có thể tiếp tục che giấu tình trạng tuyệt vọng và trì hoãn khủng hoảng. Trong hoàn cảnh đó Tập Cận Bình đã xuất hiện như một thiên tài và một cứu tinh của chế độ. Sáng kiến Vành Đai và Con Đường được đưa ra và trình bày như một sáng kiến không những khiến Trung Quốc không suy sụp mà còn vươn lên mạnh mẽ và trở thành bá chủ thế giới. Còn gì đẹp hơn ? Chỉ cần một chút bình tĩnh cũng có thể thấy dự án này chắc chắn thất bại vì nó chỉ làm mạnh hơn với một tên gọi hoành tráng những gì mà Hồ Cẩm Đào đã làm và đưa Trung Quốc vào thế nguy. Sự khác biệt chỉ là tình thế nguy kịch hơn buộc Tập Cận Bình phải cường điệu hơn. Chính Tập cũng ý thức được như vậy nên người ta có thể thấy là ông luôn luôn cố gắng tỏ ra hòa hoãn với thế giới bên ngoài sau khi đã bị bắt buộc phải cường điệu trong đảng.

Một thí dụ là bài diễn văn đầy thiện chí tại diễn đàn Davos tháng 01/2017. Điều mà Tập Cận Bình có lẽ không ý thức được một cách đầy đủ là ngay cả một hành động điên rồ cũng có logic riêng của nó và ông bị bắt buộc phải ngày một cường điệu hơn, cao điểm là Đại hội 19 của Đảng cộng sản Trung Quốc cuối năm 2017 trong đó ông công khai nói ra tham vọng làm bá chủ thế giới của Trung Quốc cả về quân sự vào năm 2049. Cuộc tranh hùng Mỹ - Trung như vậy trở thành đương nhiên. Nghiêm trọng hơn, đây không chỉ là tranh hùng với Mỹ mà còn là một thách thức với cả thế giới dân chủ -Châu Âu, Nhật, Ấn Độ v.v.- bởi vì Trung Quốc đồng thời cũng khẳng định trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin và lập các Viện Khổng Tử khắp nơi để truyền bá chủ nghĩa này.

Sai lầm lớn của nhiều người Việt Nam là cho rằng Donald Trump đã khởi xướng cuộc đối đầu Mỹ - Trung. Sự thực trái hẳn. Cuộc đối đầu này đã manh nha ngay từ khi Hồ Cẩm Đào chọn chính sách bung ra sau cuộc khủng hoảng 2008 và được tăng cường dồn dập từ 2012 khi Tập Cận Bình chuẩn bị lên cầm quyền và bộc lộ tham vọng bành trướng. Chính quyền Obama tuyên bố chuyển trục về Châu Á và đẩy mạnh sáng kiến thành lập khối Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà mục đích công khai là cô lập Trung Quốc. Obama quyết liệt đến độ yêu cầu Quốc hội Mỹ biểu quyết thông qua TPP theo thủ tục cấp tốc (fast track) năm 2015. Sau đó mời Nguyễn Phú Trọng qua bàn bạc. Có những chi tiết của cuộc thăm viếng này cho phép kết luận chắc chắn rằng hai bên đã thỏa thuận. Cũng chính Obama đã tươi cười tới Việt Nam ăn bún chả, uống bia Hà Nội và mượn câu thơ Kiều "rằng trăm năm cũng là đây" để cam kết Mỹ sẽ luôn luôn có mặt bên cạnh Việt Nam.

thoat02

Tổng thống Obama phát biểu tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, ngày 24/5/2016 (Ảnh Vietnamnet)

Nếu TPP và chiến lược Obama được thực hiện tới cùng thì chắc chắn Trung Quốc sẽ rất khốn đốn. Nhưng ngay khi lên cầm quyền Donald Trump đã rút Mỹ khỏi TPP. Donald Trump chỉ quan tâm tới ngoại thương và cũng chỉ muốn giải quyết khối thâm thủng mậu dịch cũng như vấn đề quyền sở hữu trí tuệ qua thỏa hiệp song phương với Bắc Kinh. Donald Trump không chống Trung Quốc như nhiều người nghĩ. Ông chỉ dần dần hiểu điều mà người tiền nhiệm của ông đã hiểu và các nước dân chủ lớn cũng đều đã hiểu, đó là phải ngăn chặn sự bành trướng của một chế độ độc tài khổng lồ đang phủ nhận những giá trị phổ cập của nhân loại và lại còn muốn làm bá chủ thế giới.

Cuộc đối đầu này hiện đã khá gay go và sẽ ngày càng gay go hơn. Chính sách đu dây vừa phục tùng Trung Quốc vừa muốn lợi dụng các nước dân chủ của Đảng cộng sản Việt Nam không còn tiếp tục được nữa. Phải chọn một trong hai bên.

Những lý do của một chọn lựa bắt buộc

Các dự đoán chính trị thường có rủi ro là có thể sai, trừ khi người ta lý luận trên những gì mà các tác nhân bắt buộc phải làm dù không muốn. Thí dụ như cả Hồ Cẩm Đào và Tập Cận Bình đều muốn tiếp tục chính sách âm thầm phát triển của Đặng Tiểu Bình nhưng vẫn bị bắt buộc phải chọn chính sách bành trướng và trên thực tế khiêu khích thế giới. Lý do là họ phải cố duy trì một mức tăng trưởng giả tạo vì nếu không Trung Quốc sẽ hỗn loạn.

Cũng tương tự, điều mà những người lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam hoàn toàn không muốn là hòa nhập với các nước dân chủ. Họ thừa biết như thế chế độ sẽ bị đào thải. Điều mà họ muốn là thần phục Trung Quốc để có chỗ dựa và tiếp tục kéo dài chế độ toàn trị. Tuy vậy họ vẫn bị bắt buộc phải tách khỏi ảnh hưởng Trung Quốc và đứng hẳn về phía Mỹ và các nước dân chủ. Tại sao ?

thoat03

Biển Đông cũng là sự sống còn của Việt Nam, mất Biển Đông là mất tất cả.

Lý do đầu tiên và quan trọng nhất là Biển Đông. Trung Quốc trong suốt dòng lịch sử đã luôn luôn chỉ là một đế quốc lục địa không hề có một tham vọng đại dương nào và do đó hầu như không có sức mạnh hải quân. Hậu quả là tuy có hơn 15.000 km bờ biển nhưng Trung Quốc hoàn toàn bị vây bọc về phía Đông, bởi Hàn Quốc, Nhật và dải Điếu Ngư, rồi Đài Loan và Philippines. Tất cả đều là những nước dân chủ đồng minh của Mỹ. Trung Quốc sẽ lập tức bị cô lập trong trường hợp có xung đột. Lối thoát duy nhất của Trung Quốc là Biển Đông (hay Biển Hoa Nam theo cách gọi của họ). Hơn thế nữa nếu làm chủ được Biển Đông Trung Quốc còn có thế để mặc cả giải tỏa thế bị vây bởi vì Biển Đông là đường vận chuyển của gần một nửa hàng hóa của thế giới. Như vậy thế chiến lược buộc Trung Quốc phải chiếm Biển Đông. Đó là lý do khiến họ đã vẽ ra Đường Chín Đoạn (hay Đường Lưỡi Bò) xấc xược tự cho mình là chủ Biển Đông. Nhưng Biển Đông cũng là sự sống còn của Việt Nam. Đối với Việt Nam mất Biển Đông là mất tất cả. Dù muốn hay không những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam cũng không thể và không dám nhượng bộ ; họ sẽ bị lật đổ bởi một cuộc nổi loạn ngay trong nội bộ đảng cộng sản trước sự phẫn nộ bốc lửa của nhân dân và số phận họ sẽ rất bi đát. Một lý do Biển Đông cũng quá đủ để Đảng cộng sản Việt Nam phải quyết định thoát Trung.

Một lý do khác quan trọng không kém đến từ bản chất đế quốc của Trung Quốc. Cụm từ "bản chất đế quốc" ở đây không có ý tố cáo mà chỉ là một nhận xét. Trung Quốc có đặc tính duy nhất là từ ngày thành lập luôn luôn là một đế quốc như chính nó tự gọi mình. Đế quốc hiểu theo nghĩa khách quan là một số nước phục tùng một trung tâm ; trung tâm này áp đặt một ý thức hệ chung và dành độc quyền quân lực hoặc nắm một quân lực đủ mạnh để đập tan dễ dàng và nhanh chóng mọi ý đồ bất phục tùng. Đối với Trung Quốc ý thức hệ đó là Khổng Giáo, ngày nay là chủ nghĩa Mác-Lênin mà kẻ viết bài này đã nhiều lần giải thích rằng đó chỉ là một văn bản cải tiến của Khổng Giáo.

Sự thống nhất của Trung Quốc luôn luôn chỉ được áp đặt và duy trì bằng bạo lực và tàn sát, lần cuối cùng là vào giữa thế kỷ 19 khi nhà Thanh tàn sát 70% dân chúng các tỉnh Vân Nam, Quý Châu, Quảng Đông và Quảng Tây để dẹp tan cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc của Hồng Tú Toàn. Các tỉnh của Trung Quốc trên thực tế là những quốc gia bị khuất phục. Gần đây trước những ý đồ ly khai manh nha Bắc Kinh đã xây các xa lộ trên khắp lãnh thổ vừa để duy trì một tỷ lệ tăng trưởng giả tạo vừa để có thể điều động nhanh chóng tới bất cứ nơi nào một đội quân đủ mạnh để đập tan mọi cuộc nổi dậy đòi độc lập. Các tỉnh tự trị của Trung Quốc -như Quảng Tây, Vân Nam, Tân Cương và Tây Tạng- đều không được quyền có lực lượng vũ trang. Công an và quân đội hoàn toàn thuộc Bắc Kinh. Trong tinh thần và truyền thống đó Bắc Kinh không thể dung túng một chư hầu có quân đội mạnh. Đối với Việt Nam họ lại càng cần nắm quân đội để bảo đảm quyền kiểm soát Biển Đông. Họ phải khống chế được một cách tuyệt đối quân đội Việt Nam để trong tương lai thay thế bằng một quân đội của Bắc Kinh khi cần. Điều này ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam cũng không thể chấp nhận nếu không muốn bị đảo chính lật đổ. Lý do này, cũng như Biển Đông, tự nó cũng đủ để khiến họ phải tìm cách thoát Trung.

thoat04

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cụng ly cùng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại lễ ký kết ở Đại lễ đường Nhân dân, Bắc Kinh, ngày 19/6/2013.

Hai lý do này khiến bất cứ một chính quyền Việt Nam nào cũng không thể chấp nhận lệ thuộc Trung Quốc. Đảng cộng sản Việt Nam đã khá nhẫn nhục. Tuyên bố chung của hai bên trong chuyến đi Trung Quốc năm 2013 của Trương Tấn Sang cho thấy là họ đã chấp nhận tham khảo Bắc Kinh –trên thực tế là nhận chỉ thị- trong các quan hệ đối ngoại, ngay cả trong khối ASEAN. Họ cũng đã chấp nhận để Trung Quốc huấn luyện các sĩ quan Việt Nam. Nhưng Trung Quốc không thể hài lòng với mức độ phục tùng này và còn đòi hơn thế. Họ muốn Việt Nam chấp nhận chủ quyền của họ trên Biển Đông và đặt các lực lượng vũ trang dưới sự kiểm soát của họ. Ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam không thể chấp nhận vì chấp nhận đồng nghĩa với lãnh bản án tử hình, theo nghĩa đen, cho chính họ. Sự ly dị là không tránh khỏi và chỉ chờ một tình thế bắt buộc hoặc thuận lợi.

Và một tình thế vừa bắt buộc vừa thuận lợi đã đến khi Trung Quốc trở thành một đe dọa cho thế giới và một đối thủ thực sự của Hoa Kỳ và các nước dân chủ.

Bắt buộc vì không thể đu dây được nữa. Phải chọn lựa và phải chọn đứng hẳn về phía Hoa Kỳ và các nước dân chủ vì tương quan lực lượng quá chênh lệch cả về kinh tế lẫn quân sự. Chọn Trung Quốc đồng nghĩa với chọn một thảm bại chắc chắn. Hơn nữa kinh tế Việt Nam hoàn toàn lệ thuộc vào Mỹ và các nước dân chủ. Xuất nhập khẩu của Việt Nam vào năm 2019 sấp xỉ bằng 250% GDP, nghĩa là gấp năm lần mức độ báo động về lệ thuộc kinh tế vào bên ngoài, và xuất khẩu chủ yếu sang Mỹ và các nước dân chủ.

Thuận lợi vì Việt Nam là nước có vị thế chiến lược quan trọng nhất trong cuộc đối đầu này. Các nước dân chủ, trước hết là Mỹ, bắt buộc phải tận tình bảo vệ Việt Nam và giúp Việt Nam mạnh lên để làm đối trọng với Trung Quốc. Một cách cụ thể xuất khẩu của Việt Nam sang đã Mỹ tăng gần 40% trong năm 2019, từ khi sự thay đổi đồng minh được coi là không thể đảo ngược. Rất nhiều công ty đã hoặc đang rời Trung Quốc để sang Việt Nam. Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng vọt. Các công ty và vốn đầu tư này chỉ rời Trung Quốc để tới Việt Nam khi được bảo đảm rằng Việt Nam không còn nằm trong ảnh hưởng Trung Quốc. Một thuận lợi đồng thời cũng đòi hỏi một cam kết thoát Trung. Cam kết này chẳng có gì là nhức nhối bởi vì Trung Quốc là một gánh nặng ngoại thương cho Việt Nam, thâm thủng mậu dịch của Việt Nam với Trung Quốc lên tới gần 40 tỷ USD năm nay.

Sự thay đổi đồng minh không chỉ vừa bắt buộc vừa thuận lợi mà còn dễ dàng bởi vì Trung Quốc là một đế quốc về bản chất. Các đế quốc đều muốn bành trướng, như Trung Quốc đã chứng tỏ tại Việt Nam và qua Sáng Kiến Vành Đai và Con Đường, nhưng đặc tính của chúng là co cụm lại để cố giữ vững nội bộ chứ không cố bành trướng ra ngoài khi gặp khó khăn. Và thực tế Trung Quốc đang gặp những khó khăn rất lớn, họ không còn lòng dạ nào để chuốc thêm một khó khăn lớn khác tại Việt Nam. Họ sẽ không phản ứng mạnh khi Việt Nam thay đổi đồng minh. Cùng lắm là một vài bài báo chửi Đảng cộng sản Việt Nam là đồ lật lọng, điều mà họ đã bắt đầu làm trên Nhân Dân Nhật BáoToàn Cầu Thời Báo.

Một cơ hội lớn cho đất nước và dân chủ

Những người lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam chắc chắn không đặt quyền lợi đất nước trên tham vọng quyền lực của họ. Họ đã chọn lệ thuộc Trung Quốc dù đã gây thiệt hại lớn cho đất nước. Họ đã chỉ thay đổi đồng minh khi không còn chọn lựa nào khác. Họ cũng thừa hiểu là không thể duy trì chế độ độc tài đảng trị một khi đã liên kết với Mỹ và các nước dân chủ.

Tuy vậy lúc này họ đang cố tìm mọi lý do để tự trấn an. Họ lý luận rằng Mỹ và các nước dân chủ đang rất cần họ và do đó vừa phải tận tình giúp đỡ họ vừa phải chấp nhận để họ duy trì chế độ độc tài ít nhất trong một thời gian khá dài. Ngoài ra, với sự ưu ái của Mỹ và các nước dân chủ, kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng mạnh, đời sống người dân sẽ được cải thiện đáng kể và những lý do bất mãn cũng sẽ giảm xuống. Hơn nữa họ cũng có lý do để không đánh giá cao đối lập dân chủ Việt Nam về khả năng hình thành một tổ chức mạnh ngay cả nếu họ phải chấp nhận đa đảng. Hãy cứ để cho họ tự khám phá ra rằng sự thực không phải như thế. Đàng nào thì tiến trình thoát Trung cũng không thể đảo ngược được nữa.

Tình hình mới này buộc Mỹ, Nhật, Châu Âu và nhiều nước dân chủ khác nâng đỡ và hợp tác chặt chẽ với Việt Nam. Đây là một cơ hội có một không hai cho nước ta để trở thành giầu mạnh. Việt Nam cũng hoàn toàn có thể vừa giữ được trọn vẹn các quyền lợi hợp pháp chính đáng trên Biển Đông vừa có một quan hệ hòa bình và hữu nghị với Trung Quốc để bình tĩnh chờ đợi những diễn biến sẽ rất phức tạp tại đây trong một tương lai không xa.

thoat5

Dân chúng Sài Gòn vui mừng chào đón Tổng thống Mỹ Barack Obama ngày 24/5/2016.

Cuộc đấu tranh cho dân chủ sẽ đi vào một giai đoạn mới đầy triển vọng bởi vì chắc chắn Đảng cộng sản sẽ phải làm những nhượng bộ quan trọng và ngày càng quan trọng hơn về dân chủ và nhân quyền. Tiến trình dân chủ hóa có thể nhanh chóng hơn hẳn dự đoán của Đảng cộng sản, với điều kiện là chúng ta có được một kết hợp dân chủ mạnh với một dự án chính trị vừa đúng và khả thi vừa có thể động viên mọi khối ốc và mọi bàn tay trong cố gắng xây dựng một đất nước Việt Nam dân chủ, hòa giải, giầu mạnh, đáng yêu và đáng tự hào. Đảng cộng sản tin là sẽ không có kết hợp này, chúng ta tin là sẽ có. Tương lai sẽ cho biết ai có lý.

Có thể nói gì với những người cộng sản vào lúc này ?

Mặc dù những điều kiện khách quan đặc biệt may mắn, sự chuyển hướng thoát Trung để đến với các nước dân chủ đã chỉ có được vì đã có những người yêu nước và sáng suốt ngay trong nội bộ Đảng cộng sản, kể cả ở những cấp cao. Điều này mọi người Việt Nam phải ghi nhận với sự trân trọng. Nhưng các anh em này cũng cần đi thêm một bước quả quyết nữa về tư tưởng và thái độ. Đó là thẳng thắn khẳng định lập trường dân chủ. Để chủ động thay vì chỉ chịu đựng một thay đổi lịch sử phải có và sắp đến.

Nguyễn Gia Kiểng

(17/12/2019)

Published in Quan điểm

Đất nước đang thay đổi tác nhân và trong lớp trẻ hôm nay, những tác nhân mới, có một thành phần mà nước ta chưa bao giờ có : những trí thức chính trị, những người đầu tư thời giờ và cố gắng để hiểu rõ những vấn đề của đất nước, dám có ý kiến của mình và sẵn sàng trả giá để dấn thân tranh đấu cho những gì mình nghĩ là đúng cho đất nước. Họ là những người hướng dẫn quần chúng và là trí tuệ của dân tộc.

truyenthuyet1

Truyện thuyết Việt Nam cho tới nay có thể nói một cách vắn tắt là một truyện thuyết Nho Giáo.

Ba mươi chín thanh niên trong tuổi xuân của đời chết ngạt trong một thùng xe đông lạnh. Ai không rơi nước mắt ? Họ đã trả một số tiền tương đương với tài sản của một gia đình Việt Nam trung bình cho cuộc phiêu lưu hiểm nghèo này chỉ để được rời Việt Nam sang Anh và sống cuộc đời lầm lũi của những "người rơm" theo cách gọi của chính họ. Đây không phải là một ngoại lệ mà là một trào lưu đã diễn ra từ nhiều năm. Mộng ước hiện nay của rất nhiều người Việt Nam chỉ giản dị là được ra đi và sống tại một nước khác. Họ không còn hy vọng vào đất nước. Chúng ta đang cần khẩn cấp một truyện thuyết đổi đời.

Trong một thế giới hoang mang

Những ai theo dõi các cuộc thảo luận chính trị đang sôi nổi hiện nay về chủ đề "làm thế nào để thoát khỏi ngõ cụt của chủ nghĩa phóng khoáng (liberalism) và tránh cho thế giới một cuộc khủng hoảng lớn ?" đều có thể thấy là các nhà tư tưởng có uy tín đều đồng ý trên ít nhất một điều : thế giới đang rất cần một truyện thuyết (story, récit) mới để thay thế chủ nghĩa phóng khoáng (liberalism) đã tích lũy quá nhiều mâu thuẫn và tật nguyền.

truyenthuyet2

Thế giới đang rất cần một truyện thuyết (story, récit) mới để thay thế chủ nghĩa phóng khoáng (liberalism) đã tích lũy quá nhiều mâu thuẫn và tật nguyền.

Chúng ta sẽ nói về đề tài này trong một dịp khác, trong bài này hãy tạm chỉ nêu những nét chính cần thiết. Một cách rất vắn tắt chủ nghĩa phóng khoáng (liberalism), mà nhiều người gọi là tân phóng khoáng (neoliberalism) từ cuối thập niên 1970, là một trong ba ý thức hệ xung đột dữ dội với nhau trong thế kỷ 20. Chủ nghĩa phát xít bị đánh gục sau Thế Chiến II và chủ nghĩa cộng sản sụp đổ cùng với bức tường Berlin năm 1989. Từ ba mươi năm qua chủ nghĩa phóng khoáng là chủ nghĩa duy nhất còn lại. Nhưng kể từ khi đắc thắng, nó đã liên tục trầm trọng hóa những tật nguyền vốn có từ trong bản chất khiến chênh lệch giầu nghèo gia tăng nhanh chóng trong trong mọi quốc gia ; đồng tiền trở thành chúa tể và lấn áp quyền lực chính trị, lợi nhuận trở thành mục tiêu duy nhất ; ý niệm quốc gia mất dần ý nghĩa tạo ra phản ứng ngược là phong trào dân túy bùng lên khắp nơi, kể cả tại Mỹ cho đến nay vẫn được coi là trung tâm của trật tự dân chủ ; các chế độ hung bạo chà đạp nhân quyền không còn bị lên án, Trung Quốc mạnh lên và ngày càng để lộ tham vọng bá quyền đồng thời khẳng định chế độ cộng sản chuyên chính. Ngay cả kinh tế, cứu cánh và niềm tự hào của chủ nghĩa phóng khoáng, cũng ngày càng nguy ngập, các hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính 2008 vẫn chưa khắc phục được trong khi một nguy cơ khủng hoảng mới đang ló dạng. Câu hỏi mà các nhà tư tưởng đặt ra là tại sao chủ nghĩa phóng khoáng vẫn còn ngự trị dù đã bộc lộ quá rõ những sai lầm về mặt tư tưởng và dù đang tiếp tục xô đẩy thế giới vào một cuộc khủng hoảng mới ? Câu trả lời của họ là chủ nghĩa phóng khoáng –cũng như chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản- không chỉ là một tư tưởng hay một lý luận, hay một phương pháp mà còn là một truyện thuyết, và một truyện thuyết chỉ có thể thay thế được bởi một truyện thuyết mới đang cần được tìm ra.

Vậy thế nào là một truyện thuyết ?

Trước hết đó là một câu chuyện, nghĩa là một chuỗi những sự kiện kế tiếp nhau theo. Có những câu chuyện ngắn ngủi không ảnh hưởng gì tới cách sống như khi ra đường thấy một người hối hả chạy theo cái nón bị gió thổi bay, nhưng cũng có những câu chuyện dài hơn và diễn tả một ý nghĩa nào đó. Mỗi đời người là một câu chuyện, mỗi quãng đời trong một đời người cũng là một câu chuyện. Mỗi xã hội cũng là một câu chuyện chứa đựng nhiều câu chuyện khác. Những câu chuyện đó có thể khiến người ta bỡ ngỡ trong một thời gian nhưng sau đó vẫn hiểu được trong bối cảnh văn hóa và xã hội mình đang sống. Điều cần được nhấn mạnh là con người dù ở lục địa nào cũng đều sống và nhận định các diễn biến theo trình tự của những câu chuyện. Khi chúng ta muốn hiểu một sự việc nào đó, dù để tán thành hay ngờ vực, thì câu hỏi đầu tiên chúng ta đặt ra, dù có ý thức được hay không, là nó có phù hợp với cách ứng xử của con người và xã hội mà chúng ta chờ đợi hay không, có nằm trong một câu chuyện "có đầu có đuôi" nào không. Con người sống và nhận thức theo khuôn khổ của những câu chuyện. Chúng ta thích đọc tiểu thuyết, coi phim, xem kịch vì đó là những câu chuyện.

truyenthuyet3

Mỗi đời người là một câu chuyện, mỗi quãng đời trong một đời người cũng là một câu chuyện. Mỗi xã hội cũng là một câu chuyện chứa đựng nhiều câu chuyện khác.

Truyện thuyết là một câu chuyện lớn về cuộc sống của một khối người –một cộng đồng, một quốc gia hay cả thế giới- trong khuôn khổ của một chủ thuyết được mọi người chấp nhận. Chủ thuyết được hiểu như là một cách tổng hợp của một số giá trị được đề cao ; sự chấp nhận có thể là vì được thuyết phục hay bị áp đặt và không thể chống lại. Dần dần chủ thuyết tạo ra cho khối người đó một nếp sống và một cách ứng xử. Lịch sử dù góp phần quan trọng tạo ra con người không hẳn là một truyện thuyết vì chỉ tường thuật quá khứ. Một truyện thuyết giải thích quá khứ và hiện tại nhưng đồng thời cũng vạch ra lối đi về tương lai với sự gắn bó của một câu chuyện.

Nói như thế có vẻ phức tạp và mông lung, vậy ta hãy lấy vài thí dụ. Chủ nghĩa phóng khoáng, với hệ luận quyền tư hữu và kinh tế thị trường tối đa của nó, là nền tảng của truyện thuyết chung của các nước dân chủ tư bản từ thế kỷ 19 và trở thành truyện thuyết chung của thế giới từ 30 năm qua sau khi bức tường Berlin sụp đổ, vì là yếu tố nền tảng quyết định chính sách của các quốc gia. Một cách tương tự, chủ nghĩa cộng sản đã là nền tảng của truyện thuyết của các nước cộng sản trước đây, chủ nghĩa phát xít đã là nền tảng của truyện thuyết của các nước Đức, Ý và Nhật cho đến sau Thế Chiến II.

Người ta có thể hỏi có gì khác biệt giữa một truyện thuyết và một lý thuyết, hay một chính sách, hay một kế hoạch, hay một chương trình ? Câu trả lời là không bao nhiêu về nội dung, nhưng rất to lớn về hiệu ứng và hậu quả. Một truyện thuyết có thể rất sai, thậm chí độc hại -như các chủ nghĩa khổng giáo, cộng sản và phát xít- nhưng có tác dụng trên cuộc sống và nếp sống của cả tỷ người trong khi một lý thuyết và một chương trình có thể rất có giá trị, như lý thuyết nước cộng hòa của Plato, nhưng không có ảnh hưởng bao nhiêu. Sự khác biệt là một truyện thuyết không chỉ lý luận mà còn chuyên chở một câu chuyện giải thích quá khứ và vạch ra hình ảnh tương lai.

Một truyện thuyết chứa đựng những phân tích và đề nghị nhưng cũng có cấu trúc của một câu chuyện và do đó có khả năng xâm nhập được nhiều người bởi vì, như vừa nói, con người suy nghĩ và hành động theo trình tự của những câu chuyện. Những lý luận, những sự kiện và những con số dù chính xác tới đâu cũng khó thay đổi được một truyện thuyết, người ta vẫn sống, suy nghĩ và hành xử theo đường xưa lối cũ. Chỉ có một truyện thuyết mới thay thế được một truyện thuyết. Điều mà các nhà tư tưởng đang cố gắng làm là tìm ra một truyện thuyết mới thay thế cho truyện thuyết phóng khoáng, hay tân phóng khoáng, đã lỗi thời và đang dẫn thế giới tới khủng hoảng. Họ chưa tìm ra nhưng họ đã hiểu là truyện thuyết mới đó phải đặt nền tảng trên một tư tưởng chính trị đặt kinh tế và tài chính ở dưới quyền lực chính trị và đề cao con người, tự do cá nhân, hòa bình, liên đới xã hội và môi trường.

Còn truyện thuyết đổi đời ?

Mỗi cố gắng thay đổi truyện thuyết này tự nó cũng là một truyện thuyết. Một truyện thuyết đổi đời, hay một truyện thuyết cách mạng. Nó diễn ra như sau :

Chủ thuyết hiện hành đã bộc lộ sự sai lầm và cho phép một thế lực độc hại thao túng, đưa xã hội tới khủng hoảng và bế tắc. Những anh hùng của kỷ nguyên mới xuất hiện chống lại trật tự cũ nhân danh một truyện thuyết mới hợp tình hợp lý hơn, đánh bại được lực lượng cầm quyền bằng cách phế truất nó hay buộc nó phải thay đổi, thiết lập một trật tự mới, bắt đầu một truyện thuyết mới và hướng dẫn xã hội về một tương lai khác.

Đó đã là kịch bản của cuộc cách mạng dân chủ tại Mỹ và Châu Âu. Đó cũng đã là kịch bản của phong trào cộng sản tại nhiều nước và của các chế độ phát xít tại Đức, ý và Nhật. Nét đậm của các truyện thuyết đổi đời là chúng luôn luôn cần những anh hùng (heros), anh hùng hiểu theo nghĩa "nhân vật chính". Đó là những người kể chuyện, những người chấp nhận một cách nhiệt tình truyện thuyết mới và nỗ lực truyền bá nó vào quần chúng.

Đến đây xin mở một ngoặc đơn ngắn về phong trào dân túy hiện nay. Phong trào này chống lại câu chuyện toàn cầu hóa thể hiện qua các công ty đa quốc và các thỏa ước hợp tác giữa các quốc gia. Nó đã bùng nổ khá mạnh, đưa được Donald Trump, Erdogan, Bolsanero, Dutarte lên cầm quyền. Lý do vì tác động tổng hợp của chủ nghĩa phóng khoáng và phong trào toàn cầu hóa không chỉ tạo ra một khối người bất mãn quá đông đảo mà còn công phá cả khái niệm quốc gia, một khái niệm vừa là phát minh chính trị lớn nhất trong lịch sử thế giới vừa là nền tảng của dân chủ. Tuy vậy phong trào dân túy này sẽ không đi xa bởi vì nó không phải là một truyện thuyết ; nó không có một tư tưởng chính trị mới nào mà chỉ lặp lại một cách gượng gạo và lúng túng chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi đã từng là một tai họa cho nhân loại.

Và truyện thuyết Việt Nam ?

Chúng ta sẽ thảo luận thêm về một truyện thuyết mới cho thế giới trong một dịp khác nếu cần. Bây giờ hãy trở lại với trường hợp của nước ta.

truyenthuyet4

Cuộc đổi đời tại Việt Nam trong suốt dòng lịch sử hàng ngàn năm qua chỉ là những truyện thuyết nghèo nàn, chỉ có thay đổi người cầm quyền chứ không có thay đổi tư tưởng và mô hình chính trị. Trước sau vẫn là truyện thuyết Khổng Giáo.

Truyện thuyết Việt Nam cho tới nay có thể nói một cách vắn tắt là một truyện thuyết Nho Giáo. Chủ nghĩa cộng sản về bản chất cũng chỉ là một thứ Khổng Giáo cải tiến. Cũng độc tôn giáo điều, cũng cai trị bằng bạo lực, cũng trung ương tập quyền, cũng phân chia giai cấp, cũng bưng bít thông tin, cũng quan niệm pháp luật như một dụng cụ đàn áp, cũng dị ứng với tư doanh. Cả hai đều là những chủ thuyết nửa chính trị nửa tôn giáo. Cả hai có thể gọi bằng một tên chung là chủ nghĩa luồn lách bởi vì chúng đều buộc con người phải cúi rạp và luồn lách để sống. Cải tiến của chủ nghĩa Mác-Lênin so với Khổng Giáo chỉ vụn vặt như xét lý lịch ba đời thay vì chu di tam tộc. Chính sự liên tục đó giữa chủ nghĩa Khổng Giáo và chủ nghĩa cộng sản đã giúp ba chế độ cộng sản Trung Quốc, Việt Nam và Triều Tiên tồn tại được sau khi phong trào cộng sản thế giới sụp đổ. Trong ba thập niên gần đây, sau khi bức tường bưng bít không còn đủ kiên cố để che đậy sự phá sản toàn diện, hai chế độ cộng sản Trung Quốc và Việt Nam đã phải chấp nhận chính sách "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" với hậu quả là xã hội không còn bị khống chế chặt chẽ như trước nhưng vẫn ngoan cố tôn sùng chủ nghĩa Mác-Lênin. Trong chiều sâu "chính sách đổi mới" này chỉ là một triệt thoái về gần hơn chế độ Khổng Giáo. Không phải là một sự tình cờ mà Trung Quốc phục hồi Khổng Giáo và lập các "Viện Khổng Tử" tại khắp nơi.

Trong bối cảnh ý thức hệ đó, các cuộc đổi đời tại Trung Quốc cũng như Việt Nam trong suốt dòng lịch sử hàng ngàn năm qua chỉ là những truyện thuyết nghèo nàn, chỉ thay đổi người cầm quyền mà vẫn giữ nguyên chủ thuyết nền tảng. Lý do của sự thay đổi chính quyền có thể là vì bị ngoại bang chinh phục, hay vì chính quyền suy nhược và bị đảo chính cung đình, hay đôi khi bị một cuộc nổi loạn đánh gục. Chỉ có thay đổi người cầm quyền chứ không có thay đổi tư tưởng và mô hình chính trị. Trước sau vẫn là truyện thuyết Khổng Giáo. Di sản lịch sử này khiến chúng ta thiếu cả hai yếu tố của một truyện thuyết đổi đời : một truyện thuyết mới và những người kể chuyện. Trong truyện thuyết của chúng ta cho tới nay chính trị chỉ có nghĩa là làm quan chức, và làm quan chức đồng nghĩa với hy sinh lẽ phải và phẩm giá của chính mình để làm những tay sai ngoan ngoãn cho một bạo quyền. Những tay sai này không thể có tư tưởng chính trị vì không được quyền có. Tình thế chỉ thay đổi phần nào rất gần đây khi thế giới bước vào kỷ nguyên thông tin và toàn cầu hóa buộc chế độ cộng sản phải miễn cưỡng nới lỏng ách thống trị.

Ai sẽ kể truyện thuyết đổi đời nào cho đất nước ?

Trước khi viết bài này tôi đã trao đổi với nhiều bạn bè trong cũng như ngoài nước để cùng với họ kiểm điểm những khuôn mặt trí thức còn có thể có ít nhiều ảnh hưởng lên cuộc vận động dân chủ. Tôi làm như vậy vì nếu một điều cần được nhận định thật dứt khoát thì đó là cuộc cách mạng nào -cách mạng hiểu theo nghĩa là thay đổi cả chính quyền lẫn triết lý cầm quyền- cũng đều phải do các trí thức chủ xướng. Các bạn tôi đều rất bi quan.

Trong nước các nhân vật từng gây được sự chú ý và hy vọng đều đã già yếu, đa số đã ngưng hoạt động, nhiều vị đã qua đời. Ảnh hưởng họ để lại không nhiều bởi vì trừ một vài ngoại lệ rất hiếm hoi họ là những người phản biện trung thành chỉ lên tiếng ở mức độ họ nghĩ là được phép. Phần lớn vẫn còn hãnh diện với những chức vụ "nguyên là" đáng lẽ phải là lý do để xấu hổ cho một quãng đời phải hy sinh lẽ phải và danh dự của mình để phục vụ một chính quyền vừa tồi dở vừa gian ác.

Tình trạng hải ngoại không khá hơn, có lẽ còn đáng buồn hơn. Rất nhiều trí thức có chút tài năng và tiếng tăm đã chết mà không để lại được gì đáng kể. Những người còn lại chỉ sống với quá khứ trong những năm chót của cuộc đời hoặc không còn nuôi một mộng ước nào cho đất nước. Những ngoại lệ cũng hiếm hoi như trong nước.

Trái với các bạn này, tôi không hề bi quan mà còn lạc quan hơn trước. Lớp trí thức cũ, trừ một vài "Phan Châu Trinh mới", ngay cả khi có tấm lòng đáng quý thực ra không có khả năng thúc đẩy cuộc cách mạng dân chủ, dù họ đã đóng góp hâm nóng ý chí đấu tranh, một điều cần được ghi nhận và trân trọng. Có lúc họ còn tạo ra ảo tưởng làm tuổi trẻ yên tâm và mất đi sự bồn chồn cần thiết cho cố gắng đổi đời. Về bản chất họ vẫn là những nhân sĩ, nghĩa là những con người của truyện thuyết cũ. Họ không thể kể truyện thuyết đổi đời. Bây giờ họ rút lui và đặt tuổi trẻ trước trách nhiệm của mình. Đây là một tin mừng : đất nước đang thay đổi tác nhân.

Mừng vì trong lớp "trẻ" hôm nay –những người trưởng thành sau năm 1975- có một thành phần mà nước ta chưa bao giờ có : những trí thức chính trị. Đó là những người đầu tư thời giờ và cố gắng để học hỏi kiến thức chính trị và để hiểu rõ những vấn đề của đất nước, dám có ý kiến của mình và sẵn sàng trả giá để dấn thân tranh đấu cho những gì mình nghĩ là đúng cho đất nước. Họ hiểu rằng đấu tranh chính trị không bao giờ là đấu tranh cá nhân cả mà chỉ có thể là đấu tranh có tổ chức. Họ khinh bỉ chủ nghĩa luồn lách và vất bỏ lối đấu tranh nhân sĩ. Họ là những người hướng dẫn quần chúng và là trí tuệ của dân tộc. Chính sự thiếu vắng thành phần trí thức chính trị này trong suốt dòng lịch sử đã khiến nước ta thua kém và trôi dạt từ sai lầm này đến thảm kịch khác. Họ đã bắt đầu xuất hiện và sẽ là những anh hùng của truyện thuyết đổi đời. Họ đến đúng lúc bởi vì đất nước sắp sống một thay đổi lớn. Chế độ cộng sản sắp bắt buộc phải trải qua một cuộc giải phẫu rất lớn và hiểm nghèo là tách khỏi ảnh hưởng Trung Quốc và sáp lại với các nước dân chủ, vào giữa lúc nó đang rất yếu bệnh.

Truyện thuyết đổi đời của họ sẽ phải là một tư tưởng chính trị lành mạnh và phong phú làm nền tảng cho một dự án chính trị vừa đúng vừa khả thi lại vừa có khả năng tranh thủ sự hưởng ứng nồng nhiệt của tất cả mọi người không phân biệt thành phần xã hội, địa phương và quá khứ chính trị. Nó cũng sẽ phải dự đoán được những thay đổi sẽ tới trên thế giới, nhất là sau cố gắng xét lại chủ nghĩa phóng khoáng.

Một cách cụ thể, nó phải cho phép chúng ta chuyển đổi từ một hệ thống nhất nguyên, tập trung và chuyên quyền sang một chế độ đa nguyên, tản quyền và phân quyền ; thay thế một kinh tế hoạch định đặt nền tảng trên các xí nghiệp quốc doanh bằng một kinh tế thị trường lấy các xí nghiệp tư làm sức mạnh ; thay thế một guồng máy chính quyền tham nhũng, quan liêu, bàn giấy, công cụ của một đảng thành một nhà nước hữu hiệu, trách nhiệm, lành mạnh, phục vụ cho công ích. Nó phải phải nói lên quyết tâm chấm dứt lối quản lý tùy tiện bằng nghị quyết và chỉ thị để thiết lập một nhà nước dân chủ pháp trị đúng nghĩa ; thay thế bộ máy công an được quan niệm và tổ chức như một dụng cụ đàn áp của Đảng Cộng Sản bằng một bộ máy công an bảo vệ trật tự an ninh và dân quyền ; thay thế các tòa án được coi như cánh tay nối dài của công an bằng những tòa án độc lập chỉ có sứ mạng thể hiện luật pháp ; thay thế một nền giáo dục tuyên truyền, nhồi sọ và thiếu phẩm chất bằng một nền giáo dục khách quan, khai phóng và phẩm chất cao, bởi vì giáo dục và đào tạo là cuộc đấu sống còn của đất nước.

Khó khăn lớn nhất là chúng ta kế thừa một đất nước chồng chất hận thù, chia rẽ và thất vọng. Chúng ta sẽ phải hàn gắn những đổ vỡ mà không gây ra những đổ vỡ mới. Chúng ta sẽ phải hòa giải người Việt Nam với nhau và với đất nước Việt Nam để cùng lạc quan bắt tay nhau xây dựng và chia sẻ một tương lai chung trong một đất nước Việt Nam đáng sống, đáng yêu và đáng tự hào.

truyenthuyet5

Có quá khó để tìm ra một truyện thuyết như vậy không ?

Dứt khoát là không. Bằng cớ là đã có một truyện thuyết như vậy : dự án chính trị Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai. Đó là một truyện thuyết để thay thế truyện thuyết độc hại cũ mà dân tộc ta đã phải chịu đựng quá lâu và để đưa đất nước Việt Nam từ bóng đêm của nô lệ và nghèo khổ sang ánh sáng của tự do và phồn vinh.

Trí thức chính trị Việt Nam, những anh hùng của hôm nay và ngay mai, sẽ ngày càng nhận ra rằng đó là một truyện thuyết xứng đáng để họ góp ý kiện toàn và kể cho nhân dân Việt Nam nghe.

Nguyễn Gia Kiểng

(13/11/2019)

---------------

Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai có thể đọc và tải xuống với các link này :

https://www.thongluan-rdp.org/thdcdn/item/602-khai-sang-k-nguyen-th-hai

hoặc :

https://drive.google.com/file/d/0B5AGQAxywdFkeGxRU3U3MFBSekk/edit?fbclid=IwAR1hVCA1Aunc4z36_vpB7XbHyCLJK4EgjTrPKsQezGFGfSaAzhL42IQXjqI

Bạn đọc cũng có thể mua sách trên AMAZON theo chỉ dẫn tại đây :

https://www.thongluan-rdp.org/thdcdn/item/6197-khai-sang-k-nguyen-th-2

Published in Quan điểm
jeudi, 03 octobre 2019 09:24

Về ngoại lệ Hồng Kông

Các biến động tại Hồng Kông đã được nhiều người dân chủ Việt Nam theo dõi một cách phấn khởi. Nhiều kết luận được rút ra làm nổi bật một lần nữa một phản xạ có trong mọi dân tộc nhưng đặc biệt thông thường nơi người Việt, đó là chỉ cố tìm những lý do để củng cố một lập trường hợp ý mình. Tình trạng nghiêm trọng của đất nước vẫn chưa khiến nhiều người thấy rằng phải suy nghĩ và phát biểu một cách trách nhiệm.

hong1

Vấn đề của người Hồng Kông là họ phải rất cảnh giác trước những mưu toan gia tăng kiểm soát của Bắc Kinh trong khi chờ hạn kỳ 2047. 

Ngoại lệ Hồng Kông

Trước hết chúng ta không thể rút ra một bài học trực tiếp nào từ Hồng Kông vì Hồng Kông là một ngoại lệ lớn. Năm 1997, giữa cao điểm của một giai đoạn trong lịch sử thế giới được coi là làn sóng dân chủ thứ ba trong đó chủ nghĩa cộng sản sụp đổ và đa số các chế độ cộng sản chuyển hóa về dân chủ thì Hồng Kông đang có dân chủ được bàn giao cho chế độ cộng sản Trung Quốc. Đó là một sự kiện cực kỳ vô lý của di sản lịch sử.

Người ta thực hiện một giao ước trước đó một thế kỷ, trong một bối cảnh lịch sử hoàn toàn khác. Sự vô lý này khiến Hồng Kông không giống với thực tại của bất cứ dân tộc nào. Trong khi nhiều dân tộc, như Việt Nam, phải tranh đấu loại bỏ ách độc tài để có tự do thì người Hồng Kông tranh đấu để đừng bị áp đặt ách độc tài và giữ nguyên cuộc sống tự do đang có.

Sau đó Hồng Kông giống như một cái chợ hơn là một cộng đồng, càng không phải là một quốc gia. Có một thiểu số rất giầu, trong đó có một số tỷ phú cực kỳ giầu lập nghiệp từ lâu tại Hồng Kông hay vừa đến từ Hoa Lục; những người này làm giầu nhờ Hồng Kông nhưng họ cũng có thể di cư bất cứ lúc nào sang một nước khác, đối với họ Hồng Kông trước hết là một cơ sở kinh doanh. Tiếp theo là một thành phần trung lưu gắn bó với Hồng Kông và lo sợ trước viễn ảnh Hồng Kông bị sáp nhập vào Trung Quốc dưới chế độ toàn trị. Cả hai thành phần này, tổng cộng non một nửa dân số, đều tích cực chống lại mọi toan tính gia tăng quyền kiểm soát của Bắc Kinh lên Hồng Kông. Họ là những người đã xuống đường biểu tình. Nhưng còn cả một khối người nghèo đông đảo hơn, trong đó có hơn một triệu người mới đến từ lục địa sau năm 1997, phần lớn chỉ sống tại Hồng Kông vì không có chọn lựa nào tốt hơn. Họ sống chen chúc trong những căn nhà chật hẹp, trên những thuyền hay những căn "buồng hộp" rộng 2 m² với giá thuê 300 USD mỗi tháng. Những người này chỉ nhìn những cuộc biểu tình, cũng như cuộc sống hàng ngày tại Hồng Kông, với con mắt của những người ngoài cuộc. GDP bình quân trên mỗi đầu người của Hồng Kông là 45.000 USD/năm, cao hơn Châu Âu, nhưng 20% dân chúng và 45% người già trên 65 tuổi sống với thu nhập thấp hơn 15 USD mỗi ngày, trong khi có gần 200.000 triệu phú. Chênh lệch giầu nghèo thách đố và hầu như không có liên đới xã hội. Hồng Kông không giống và cũng không thể trở thành một quốc gia.

hong2

Nhưng Hồng Kông còn cả một khối người nghèo đông đảo hơn, họ sống chen chúc trong những căn nhà chật hẹp, trên những thuyền hay những căn "buồng hộp" rộng 2 m² với giá thuê 300 USD mỗi tháng.

Một điều oái oăm khác là Hồng Kông lệ thuộc nặng nề vào Trung Quốc và giầu có chủ yếu vì Trung Quốc là một chế độ cộng sản. Đó là cửa ra vào Trung Quốc của hàng hóa đồng thời là một trung tâm tài chính nhờ vai trò trung gian giữa Trung Quốc và nhiều nước tư bản lớn. Trung Quốc mở cửa ra với thế giới bao nhiêu thì vai trò trung gian kinh tế và lợi nhuận của Hồng Kông giảm đi bấy nhiêu. Điều này có thể nhận thấy rất rõ trong bốn thập niên qua. Vào năm 1978, khi Trung Quốc bắt đầu mở cửa về kinh tế thị trường, GDP của Hồng Kông gần bằng 40% GDP của Trung Quốc, ngày nay tỷ lệ này là 3%. Hồng Kông giầu có bởi vì Trung Quốc là một chế độ cộng sản. Như thế cuộc đấu tranh của Hồng Kông chỉ là để giữ nguyên tình trạng hiện nay chứ không phải là để tiến tới một tương lai dân chủ như cuộc đấu tranh của Việt Nam.

Vấn đề của người Hồng Kông là họ phải rất cảnh giác trước những mưu toan gia tăng kiểm soát của Bắc Kinh trong khi chờ hạn kỳ 2047. Họ đã liên tục đấu tranh chống lại những toan tính đó. Cuộc đấu tranh của người Hồng Kông tương đối giản dị. Họ luôn luôn biết phải biểu tình ở chỗ nào và vì lý do nào, hơn nữa đấu tranh để chống lại một đe dọa ghê rợn trước mắt dễ động viên hơn nhiều so với đấu tranh cho một tương lai khác.

Năm 2003 tất cả các tổ chức chính trị và xã hội dân sự đã đoàn kết biểu tình rầm rộ chống lại việc Bắc Kinh đòi sửa đổi Luật Căn Bản tương đương với hiến pháp của Hồng Kông.

Năm 2012 họ lại xuống đường chống lại việc Bắc Kinh đòi thêm mục "giáo dục yêu nước", trên thực tế là một tuyên truyền cho Đảng Cộng Sản Trung Quốc, vào chương trình trung học.

Năm 2014, họ biểu tình quyết liệt hơn nữa chống lại quyết định của Bắc Kinh giành quyền chọn trước các ứng cử viên vào chức vụ đặc khu trưởng (thị trưởng). Cuộc biểu tình lần này rất quy mô, đươc tổ chức rất chu đáo và mang tên Chiếm Lĩnh Trung Hoàn Với Tình Yêu và Hạnh Phúc (Occupy Central with Love and Peace). Nó cũng còn được gọi là cuộc Biểu Tình Dù Vàng. Năm 2014 đã đánh dấu một bước tiến rất ngoạn mục của cuộc đấu tranh bảo vệ tự do của người Hồng Kông cần được nhìn rõ.

Đầu năm 2016 người Hồng Kông lại xuống đường phản đối việc Bắc Kinh bắt một số công dân lục địa có hoạt động tại Hồng Kông trong lãnh vực sách báo. Cuộc biểu tình này không liên quan đến vấn đề tự quản của Hồng Kông nhưng cũng đã khiến chính quyền Bắc Kinh bối rối.

Mùa hè năm nay các cuộc biểu tình nhắm chống lại một dự luật dẫn độ cho phép chính quyền đặc khu hành chính Hồng Kông giải giao cho Bắc Kinh những công dân Hoa Lục bị truy tố về tội hình sự nghiêm trọng và trốn qua Hồng Kông. Trên nguyên tắc đây là một luật không chỉ chính đáng mà còn cần thiết. Hồng Kông đã có thỏa thuận dẫn độ với rất nhiều nước. Vấn đề là chế độ cộng sản Trung Quốc không đáng tin về mặt công lý. Họ có thể dựng đứng những tội hình sự không hề có để bách hại những người khác chính kiến. Những cuộc biểu tình năm nay -vẫn còn diễn ra trong lúc này- thực ra không chống lại việc dẫn độ mà chỉ phủ nhận sự lương thiện và tính chính đáng của chính quyền Bắc Kinh. Chính vì thế mà nhượng bộ là một quyết định rất mất thể diện cho Bắc Kinh. Họ đã chỉ chấp nhận rút lại dự luật sau ba tháng căng thẳng, năm tháng nếu kể cả giai đoạn có tính chuẩn bị hành động của đối lập Hồng Kông. Các cuộc biểu tình đã đạt quy mô và cường độ chưa bao giờ thấy và khó hình dung : hơn một triệu người ngày 9 tháng 6, gần hai triệu người một tuần sau.

Luôn luôn thắng lợi vượt mục tiêu, nhưng…

Ngoại trừ cuộc biểu tình tháng 01/2016 chỉ nhắm mục đích tố giác những vi phạm nhân quyền tại Hoa Lục, các đợt biểu tình khác đều nhắm bảo vệ hiện trạng Hồng Kông và đều thành công hơn cả mức được coi là trọn vẹn. Sau cuộc tranh đấu năm 2003, Bắc Kinh không chỉ rút lại dự định sửa đổi luật căn bản của Hồng Kông mà vấn đề sửa đổi không đặt ra nữa. Cũng thế, sau năm 2012 việc giảng dạy công dân giáo dục kiểu cộng sản không chỉ được rút lại mà không đặt ra nữa. Sau cuộc đấu tranh năm 2014, Bắc Kinh không chỉ phải rút lại việc đòi chỉ định trước các ứng cử viên vào chức vụ đặc khu trưởng mà còn phải hứa sẽ để cho người dân Hồng Kông trực tiếp bầu ra đặc khu trưởng trong tương lai, dù là lời hứa chưa được thực hiện. Bây giờ, 2019, họ lại còn phải chịu mất mặt bỏ hẳn yêu cầu dẫn độ mà Hồng Kông đã chấp nhận với nhiều nước khác.

Bắc Kinh cứ phải liên tục nhượng bộ mỗi lần người dân Hồng Kông biểu tình không phải vì họ thiếu sự hung bạo. Họ đã chứng tỏ tại quảng trường Thiên An Môn 30 năm trước là họ không hề ngần ngại trước tội ác, nhưng đàn áp như vậy tại Hồng Kông sẽ có hậu quả nghiêm trọng gấp nhiều lần. Các nước dân chủ sẽ bắt buộc phải phản ứng một cách rất cụ thể và quyết liệt trước sự kiện Bắc Kinh tự ý tiêu diệt một nền dân chủ. Hồng Kông sẽ không còn là một con bò sữa nữa mà chỉ còn là lý do của các biện pháp trừng phạt. Hơn nữa giới tài phiệt Hồng Kông đứng sau lưng các cuộc biểu tình này cho đến nay đã đầu tư rất nhiều vào lục địa, họ sẽ trả đũa bằng cách không chỉ rút vốn ra mà còn cố gắng gây thiệt hại tối đa cho Bắc Kinh. Hậu quả là chắc chắn Trung Quốc sẽ lâm vào khủng hoảng. Thực ra Bắc Kinh không có chọn lựa.

Điều cần được lưu ý trong đợt phản kháng vẫn còn đang tiếp tục hiện nay, sau hơn ba tháng sôi sục, là người Hồng Kông vẫn tiếp tục tranh đấu dù đã thắng lợi hoàn toàn. Dự luật dẫn độ đã bị tuyên bố hủy bỏ và sẽ không còn được đặt ra trong tương lai nữa, nhưng họ vẫn biểu tình và bây giờ là biểu tình chống Bắc Kinh.

Nhưng người Hồng Kông có thể đòi gì ? Họ không thể đòi tự trị hay độc lập vì Bắc Kinh không thể nhượng bộ và thế giới cũng không sẵn sàng hỗ trợ họ trong tham vọng này. Chuyến du thuyết của anh thanh niên Hoàng Chí Phong đã không thành công một phần cũng vì anh không đưa ra được những đòi hỏi mà thế giới có thể ủng hộ. Có lẽ trong thâm tâm người Hồng Kông cũng hiểu là họ không thể mong muốn gì khác hơn là giữ nguyên tình trạng hiện nay và họ chỉ làm mạnh để Bắc Kinh từ nay đừng toan tính kiểm soát và khống chế họ nữa.

Tương lai của Hồng Kông sẽ ra sao ?

Trên nguyên tắc vào năm 2047 qui chế đặc khu sẽ chấm dứt và Hồng Kông sẽ hoàn toàn thuộc quyền cai trị của Bắc Kinh theo thỏa thuận giữa Anh và Trung Quốc. Nhưng có mọi triển vọng chế độ cộng sản Trung Quốc sẽ không còn tồn tại vào lúc đó. Nó sẽ sụp đổ trong một tương lai gần và Trung Quốc có thể sẽ bị phân chia thành nhiều khối trong đó Hồng Kông sẽ là một thành viên trong khối phát triển nhất ở phía Đông Nam cùng với Đài Loan, Quảng Đông, Phúc Kiến, Chiết Giang và Hải Nam. Cuộc đấu tranh của người Hồng Kông như vậy chủ yếu là để đừng có thay đổi. Nhưng đàng nào Hồng Kông cũng sẽ bắt buộc phải tự thay đổi để có thể tiếp tục tồn tại vì không thể duy trì mức độ bất công xã hội thách đố hiện nay.

Bài học thực sự từ Hồng Kông

Một trong những "bài học Hồng Kông" được nhiều người rút ra một cách vội vàng là Hồng Kông đã chứng tỏ rằng có thể đấu tranh cho dân chủ mà chỉ cần những khuôn mặt biểu tượng chứ không cần tổ chức và lãnh đạo. Kết luận này rất sai.

Như đã nói trong đầu bài này Hồng Kông là một ngoại lệ của thế giới, do đó chúng ta không thể rút ra một bài học trực tiếp nào. Tuy vậy Hồng Kông vẫn nhắc lại một lần nữa một quy luật căn bản đúng ở mọi nơi và mọi thời : đấu tranh chính trị chỉ có thể là đấu tranh có tổ chức.

Thực sự là những đợt biểu tình tại Hồng Kông đã rất có chuẩn bị và tổ chức và cũng có những phương tiện rất dồi dào. Các tài phiệt, như Jimmy Lai hay Quách Văn Quý, đầu tư rất nhiều vào phong trào dân chủ vì tài sản và an ninh của họ. Cuộc đấu tranh của người Hồng Kông là do sự phối hợp của tất cả các tổ chức chính trị và xã hội dân sự trong một mặt trận chung, Mặt Trận Dân Sự Nhân Quyền (CHRF, Civil Human Rights Front), những khuôn mặt thanh niên biểu tượng chỉ là những khuôn mặt trẻ do họ chọn lựa. Những người lãnh đạo không ra mặt không có nghĩa là họ không có. Và họ đã rút kinh nghiệm từ các đợt biểu tình 2003 và 2012.

Theo tiết lộ của đài BBC và được nhiều cơ quan truyền thông lặp lại thì để chuẩn bị cho đợt biểu tình Chiếm Lĩnh Trung Hoàn năm 2014 họ đã gửi khoảng 10.000 thanh niên tham dự các khóa huấn luyện đấu tranh bất bạo động do tổ chức OFF (Oslo Freedom Forum) đảm nhiệm, phần lớn tại New York. Đây là một chương trình huấn luyện rất lớn và tốn kém mà chỉ có một tổ chức rất mạnh và rất giầu mới có thể thực hiện được. Ngay cả các dù vàng cũng không phải ngẫu nhiên mà có. Năm nay, trong hai tuần lễ đầu tháng 6 cuốn phim Lửa Mùa Đông (Fire in Winter) đã được đem chiếu trên 300 lần tại các công trường để thanh niên Hồng Kông học tập cách tranh đấu bất bạo động của cuộc Cách Mạng Mầu tại Ukraine.

hong3

Hồng Kông vừa nhắc lại một lần nữa rằng ngay cả những cuộc đấu tranh chính trị giản dị nhất cũng phải có một tổ chức lãnh đạo.

Hồng Kông có khoảng một triệu công nhân từ Hoa Lục được phép qua đây sinh sống. Ai có thể ngây thơ đến độ nghĩ rằng trong số này không có vài trăm ngàn người được gửi sang để hỗ trợ Bắc Kinh bằng cách phá rối những cuộc biểu tình, tạo lý cớ cho công an đàn áp ? Dùng côn đồ để đánh phá những người không cùng chính kiến nằm trong tập quán của các chế độ cộng sản. Trên thực tế các phần tử này đã hành động nhưng chúng đã bất lực bởi vì những cuộc biểu tình đã được chuẩn bị và tổ chức quá chu đáo.

Hãy thử so sánh Hồng Kông với Paris. Từ một năm nay Paris -và nhiều thành phố khác tại Pháp- đã có những cuộc biểu tình Áo Vàng mỗi thứ bẩy. Đây là quả là những cuộc biểu tình không có tổ chức và lãnh đạo, tuy vậy vẫn có những meneurs (những người dẫn dắt). Tôi quen thân với Joelle, một trong những người dẫn dắt này. Dù chỉ quy tụ trung bình vài ngàn người nhưng luôn luôn xẩy ra bạo động và đốt phá vì có một bọn tự gọi là Black Bloc phá đám và không ai dẹp được chúng dù cảnh sát Pháp đàn áp không nương tay.

Chúng ta có thể tưởng tượng cố gắng và lực lượng của ban tổ chức các cuộc biểu tình tại Hồng Kông để đương đầu với hàng trăm ngàn "hiệp sĩ" của Bắc Kinh, ngoài việc tiếp tế ăn uống, lo cứu thương và dịch vụ vệ sinh cho hai triệu người. Làm sao có thể nói những cuộc biểu tình Hồng Kông không có tổ chức ? Đó chỉ là một cách nhìn các sự kiện theo ý mình muốn.

Vậy thì bài học thật sự mà những người dân chủ Việt Nam có thể rút ra từ các biến động tại Hồng Kông là gì ? Có lẽ đó là phải khiêm tốn nhìn các sự kiện một cách trung thực để có thể rút ra những kết luận đúng thay vì nói dối với chính mình. Hồng Kông vừa nhắc lại một lần nữa rằng ngay cả những cuộc đấu tranh chính trị giản dị nhất cũng phải có một tổ chức lãnh đạo.

Nguyễn Gia Kiểng

(02/10/2019)

Published in Quan điểm
Trang 1 đến 7