Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Bộ Ngoại giao Việt Nam đã kín đáo bắn tiếng muốn Mỹ nhảy vào giải quyết xung đột ở Biển Đông, nhưng Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị của Trung Quốc đã cảnh giác Việt Nam "không dành bất cứ cơ hội nào cho sự quấy rối và phá hoại của thế lực bên ngoài".
Đề nghị bán chính thức của Việt Nam đưa ra ngày 17/07/2020, bốn ngày sau khi Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, Mike Pompeo gọi hành động đe dọa các nước nhỏ để chiếm đoạt và mưu toan cướp chủ quyền nguồn tài nguyên ở phần lớn Biển Đông của Trung Quốc là "phi pháp".

tq1

Ông Vương Nghị, Bộ trưởng Ngoại giao của Trung Quốc cảnh giác Việt Nam "không dành bất cứ cơ hội nào cho sự quấy rối và phá hoại của thế lực bên ngoài".

Dưới tiêu đề "Quan hệ Việt-Mỹ và vấn đề Biển Đông", Tiến sĩ Lại Thái Bình của Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao thuộc Bộ Ngoại giao Việt Nam đã đề nghị 2 khả năng hợp tác, chưa từng được nêu lên trước đây giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Đó là :

1. "Việt Nam và Mỹ cũng có thể cùng các quốc gia khu vực và trên thế giới tạo dựng một diễn đàn an ninh cấp cao thường niên để thảo luận và giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan Biển Đông".

2. "Hai nước cũng có thể thúc đẩy những hợp tác liên quan việc tăng cường năng lực cho mỗi bên về đào tạo, huấn luyện, diễn tập chung, trao đổi thông tin liên quan sự phát triển của Biển Đông, hợp tác kinh tế, nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường biển, phòng chống khủng bố, cướp biển, cứu trợ thiên tai…".

Về đề nghị thứ nhất, có vẻ như Việt Nam muốn "quốc tế hóa" vấn đề Biển Đông, điều mà phía Trung Quốc không tán thành. Lập trường của Bắc Kinh chỉ muốn giải quyết tranh chấp biển đảo "song phương" với từng nước có xung đột với Trung Quốc gồm Việt Nam, Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai và Brunei.

Trung Quốc cũng không muốn nói chuyện Biển Đông với ASEAN như một khối 10 quốc gia vì có 5 nước không có quyền lợi ở Biển Đông và không có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc gồm Thái Lan, Tân Gia Ba, Miến Điện, Lào và Cao Miên.

Đây là nguyên nhân tại sao ASEAN không thể đoàn kết và thống nhất quan điểm trong khi thảo luận tìm giải pháp cho xung đột Biển Đông với Trung Quốc.

Nhưng liệu Mỹ có sẵn sàng đứng mũi chịu sào đứng ra làm đầu tầu để tổ chức "một diễn đàn an ninh cấp cao thường niên" với khối ASEAN và các nước lớn khác để giải quyết vấn đề Biển Đông ?

Hay liệu Trung Quốc có từ bỏ lập trường "chỉ thảo luận song phương với nước nào có tranh chấp" để tham gia một diễn đàn quốc tế về Biển Đông ?

Đề nghị thứ 2 của Tiến sĩ Lại Thái Bình có vẽ táo bạo vì ông muốn Mỹ không chỉ "tăng cường năng lực cho mỗi bên liên quan đào tạo, huấn luyện" mà còn muốn hai nước "diễn tập chung" và " trao đổi thông tin liên quan sự phát triển của Biển Đông".

Rõ ràng sáng kiến này liên quan đến chính sách quốc phòng của Việt Nam và Hoa Kỳ. Nhưng sách trắng Quốc phòng 2019 của Việt Nam đã minh thị "4 không", thay đổi từ "3 không" trước đây.

Sách trắng viết rằng : "Việt Nam chủ trương :

1. không tham gia liên minh quân sự ;

2. không liên kết với nước này để chống nước kia ;

3. không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác ;

4. không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế".

Nhưng "điểm 4 mới" nên được hiểu như thế nào trong hoàn cảnh của Việt Nam ? Phải chăng lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam muốn bắn tiếng với đàn anh Trung Quốc rằng "chúng em sẽ không gây chiến với bất kỳ nước nào, vì chúng em chỉ muốn được yên thân" ?

Nhưng nếu Bắc Kinh hành quân xâm lược Việt Nam cả trên bộ lẫn ngoài khơi thì Việt Nam làm gì ?

Chắc chắn chế độ cộng sản Việt Nam sẽ không được Mỹ "tự động yểm trợ và bảo vệ" như Mỹ hứa sẽ bảo vệ Phi Luật Tân khi bị nước ngoài tấn công. Thỏa hiệp quốc phòng Mỹ-Phi ký ngày 30/08/1951 tại Hoa Thịnh Đốn gồm 8 điều đã minh thị rằng : "Hai nước sẽ yểm trợ nhau nếu Phi Luật Tân hay Hoa Kỳ bị tấn công bởi lực lượng bên ngoài" (1).

Trung Quốc cảnh cáo Việt Nam

Cũng đáng chú ý là bốn ngày sau khi bài viết của Tiến sĩ Lại Thái Bình xuất hiện trên báo Thế giới & Việt Nam của Bộ Ngoại giao, Phó Thủ tướng, Bộ trường Ngoại giao Phạm Bình Minh đã có Hội nghị trực tuyến lần thứ 12 của Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc, ngày 21/07/2020, với Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị của Trung Quốc.

Tại diễn đàn này, theo tin Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Minh "đã nêu quan ngại trước những diễn biến phức tạp ở Biển Đông gần đây ; đề nghị hai bên kiểm soát tốt bất đồng trên biển, không có hành động làm phức tạp tình hình, mở rộng tranh chấp, tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam, duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông. Hai bên nhất trí tuân thủ nhận thức chung cấp cao và Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc ; tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 ; thúc đẩy các cơ chế đàm phán về vấn đề trên biển đạt kết quả thực chất ; thực hiện toàn diện, hiệu quả DOC ; thúc đẩy đàm phán COC sớm đạt kết quả thực chất".

Tuy nhiên, phía Việt Nam đã giấu nhẹm phát biểu lên lớp Việt Nam của Vương Nghị.

Đài Phát thanh quốc tế Trung Hoa (CRI, China Radio International) đưa tin trong bản tiếng Việt ngày 22/07/2020 : "Về vấn đề Nam Hải, Ủy viên Quốc vụ, Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị cho biết, Nam Hải là quê nhà chung của chúng ta, Trung Quốc và ASEAN vĩnh viễn là láng giềng, tìm kiếm hòa bình, thúc đẩy phát triển là nguyện vọng chung của chúng ta. Chính sách Nam Hải của Trung Quốc không thay đổi, giữ bền vững".

Sau khi giáo đầu như thế, họ Vương lên án Mỹ : "Xuất phát từ nhu cầu địa chiến lược, Mỹ châm ngòi thổi gió ở khắp nơi, liên tục cử tàu chiến và máy bay diễu võ dương oai tại Nam Hải, mục đích là nhằm gây ra sự bấp bênh căng thẳng trên Nam Hải, phá hoại đoàn kết giữa các nước trong khu vực, làm hỏng triển vọng phát triển của các nước và khu vực, các nước trong khu vực cần nêu cao cảnh giác".

Vương Nghị nói với ông Phạm Bình Minh : "Trung Quốc và Việt Nam cần kiên trì kiểm soát bất đồng thông qua đối thoại và hiệp thương song phương theo nhận thức chung đạt được giữa Lãnh đạo tối cao hai đảng và hai nước, tìm kiếm giải pháp công bằng và hợp lý theo một loạt thỏa thuận ký giữa hai bên. Trung Quốc và Việt Nam còn cần cùng các nước ASEAN, tuân thủ "Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Nam Hải" (DOC, Declaration on the Conduct of the Parties in the South China Sea), thúc đẩy tham vấn về "Bộ Quy tắc ứng xử trên Nam Hải" (COC, Code of Conduct), không dành bất cứ cơ hội nào cho sự quấy rối và phá hoại của thế lực bên ngoài".

Vương Nghị nói đến COC, nhưng sự thật là Trung Quốc đã tìm mọi cách trì hoãn thảo luận nghiệm chỉnh để hoàn tất văn kiện có tính ràng buộc pháp lý đối với các bên vi phạm.

Nhưng tại sao cuộc thương thảo giữa khối ASEAN và Trung Quốc đã kéo dài gần 4 năm mà chưa đi đến đâu ?

Theo quan điểm của Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng, một học giả về bang giao quốc tế, thì : "Trở ngại chính là các nước ASEAN không đoàn kết và nhất trí vì quyền lợi bất đồng và bị Trung Quốc chi phối, trong khi đó Trung Quốc muốn kéo dài việc ký kết để có thời gian thực hiện các "việc đã rồi" hầu có thế thượng phong trong việc thương thuyết. Ngoài ra trong khi ASEAN muốn bộ Quy tắc Ứng xử có tính cách ràng buộc thì Trung Quốc không muốn thế. Việt Nam muốn bộ Quy tắc Ứng xử áp dụng cho cả Trường Sa lẫn Hoàng Sa, điều mà Trung Quốc không muốn. Đó là chưa kể những bất đồng về cơ chế giải quyết tranh chấp và cách tiếp cận trong việc xử lý tranh chấp".

Vậy ông Minh đã nói gì với Vương Nghị ? CRI viết : "Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã giới thiệu lập trường của Việt Nam trong vấn đề trên biển, cho biết sẵn sàng cùng Trung Quốc giữ gìn hòa bình và ổn định của Nam Hải, thúc đẩy sự hợp tác cùng phát triển trên biển, điều này phù hợp lợi ích của Việt Nam và Trung Quốc, cũng là nguyện vọng phổ biến của các nước trong và ngoài khu vực".

Rõ ràng trong tuyên bố của Vượng Nghị, ông ta đã cảnh giác khối ASEAN và riêng Việt Nam phải tỉnh táo trước các hành động của Mỹ ở Biển Đông, và "không dành bất cứ cơ hội nào cho sự quấy rối và phá hoại của thế lực bên ngoài".

Phía Trung Quốc cũng cố ý không nói đến việc ông Phạm Bình Minh đã "quan ngại trước những diễn biến phức tạp ở Biển Đông gần đây" với Vương Nghị.

Nên biết Trung Quốc đã chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam ngày 19/01/1974 và sau đó từ 1988 đến 1995, chính thức chiếm thêm 7 đá gồm Châu Viên, Chữ Thập, Ga Ven, Gạc Ma, Tư Nghĩa, Xu Bi và Vành Khăn trong Quần đảo Trường Sa.

Sau Vành Khăn bị mất năm 1995, Việt Nam coi như mất luôn quyền kiểm soát bãi Cỏ Mây, một rạn san hô vòng thuộc cụm Bình Nguyên của quần đảo Trường Sa nằm về phía đông nam của đá Vành Khăn. Hiện bãi Cỏ Mây đang bị tranh chấp giữa Phi Luât Tân và Trung Quốc.

Ngoài ra, Đài Loan cũng đã chiếm đảo Ba Bình (Itu Aba Island), lớn nhất ở Trường Sa từ sau năm 1956. Đảo này có diện tích tối đa 0,4896 cây số vuông với chiều dài 1.400 mét, rộng 379 mét. Có tài liệu nói Đài Loan đã chính thức đem quân đội và dân cư đến sống và bảo vệ đảo từ năm 1971.

Như vậy, cho đến nay, Trung Quốc và Đài Loan đã chiếm 9 đảo và đá của Việt Nam thuộc Trường Sa.

Mất quyền dầu khí

Trong khi đó, theo tài liệu của Bách khoa toàn thư mở thì Việt Nam đang thực thi chủ quyền hợp pháp tại 21 điểm đảo. Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ, đã chia thành thành 2 nhóm đảo, tuyến Bắc Trường Sa và Nam Trường Sa.

Ông nói : "Các đảo phía Bắc Trường Sa mà Việt Nam đang canh giữ, thực thi chủ quyền gồm 10 đảo, đá : Song Tử Tây, Đá Nam, Đá Thị, Sơn Ca, Nam Yết, Len Đao, Cô Lin, Sinh Tồn, Sinh Tồn Đông, Đá Lớn. Các đảo phía Nam Trường Sa mà Việt Nam đang bảo vệ gồm 11 đảo, đá : Trường Sa, Trường Sa Đông, An Bang, Phan Vinh, Thuyền Chài, Tiên Nữ, Núi Le, Tốc Tan, Đá Tây, Đá Đông, Đá Lát" (theo Infonet).

Tuy kiểm soát nhiều vị trí nhưng quân đội Việt Nam vẫn không có sức mạnh quân sự như Trung Quốc ở Biển Đông. Ngược lại Trung Quốc đã bồi đắp, tân tạo và xây dựng các vị trí ở Trường Sa thành căn cứ quân sự với bến cảng và sân bay. Ít nhất Bắc Kinh đã biến các đá Chữ Thập, Vành Khăn và Subi thành căn cứ quân sự với sân bay và doanh trại kiên cố để đe dọa trực tiếp vào quân trú phòng Việt Nam.

Riêng đảo Gạc Ma, nơi đã xẩy ra cuộc thảm sát đẫm máu ngày 14/03/1988 khiến 64 binh sĩ cộng sản Việt Nam bởi hải quân Trung Quốc. Được biết, chính cố Đại tướng Lê Đức Anh, khi ấy là Bộ trưởng Quốc phòng, đã ra lệnh cho bộ đội Việt Nam không được nổ súng.

Ngày nay, Gạc Ma đã được Trung Quốc tân tạo và xây dựng thành căn cứ quân sự kiên cố với sân bay, doanh trại 6 tầng và hệ thống radar tối tân. Gạc Ma sẽ là nút thắt cắt đường liên lạc và tiếp vận từ đất liền với binh sĩ Việt Nam đồn trú ở Trường Sa, nếu xẩy ra chiến tranh.

Trung Quốc cũng đã áp lực Việt Nam phải hủy bỏ một số dự án tìm kiếm dầu khí ở khu vục nam Hoàng Sa và ở Trường Sa, trong số này có nhiều đại công ty đã bỏ Việt Nam gồm BP (Anh, 2008), ConocoPhillips (2012), Chevron (Mỹ, 2015), Repsol (Tây Ban Nha, 2018).

Mới đây, ngày 9/7/2020, liên doanh dầu khí Rosneft PetroVietnam đã hủy hợp đồng khoan dầu với công ty Noble Corporation tại Lô 06-01 vì bị áp lực từ Trung Quốc.

Vị trí Lô 06-01 nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tại Bãi Tư Chính, cách bờ biển Vũng Tầu 160 hải lý (370 cây số) hướng Đông-Nam. Trung Quốc tự coi bãi Tư Chính nằm trong khu vực Đường Chín Đoạn, hay Đường lưỡi bò do Bắc Kinh tự vẽ để giành quyền chủ quyền.

Với tình hình vừa kể, liệu bài viết của Tiến sĩ Lại Thái Bình muốn Mỹ nhảy vào giúp giải quyết xung đột Biển Đông với Trung Quốc có nên được coi là Việt Nam muốn Mỹ cứu nguy, hay Ban lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam đã vượt qua nỗi sợ Trung Quốc ?

Phạm Trần

(27/07/2020)

(1) "The overall accord contains eight articles and dictates that both nations would support each other if either the Philippines or the United States are attacked by an external party"

Published in Diễn đàn

Ngoại trưởng Mỹ lên án Trung Quốc "xâm lược" Ấn Độ (RFI, 09/07/2020)

Vụ đụng độ giữa quân đội Ấn Độ và Trung Quốc ở Ladakh, khiến 20 người chết bên phía Ấn Độ, là "hành vi xâm lược" của Trung Quốc, theo nhận định của ngoại trưởng Mỹ trong buổi họp báo ngày 08/07/2020. Ngoài ra, ông Pompeo còn lên án "cách hành động hung hăng không thể tin nổi" của Trung Quốc.

antrung1

Ngoại trưởng Mike Pompeo họp báo tại bộ Ngoại Giao Mỹ, Washington, Hoa Kỳ, ngày 08/07/2020. Reuters - Tom Brenner

Theo AFP, vấn đề căng thẳng biên giới ở khu vực Ladakh đã được ông Pompeo đề cập nhiều lần với đồng nhiệm Ấn Độ Subrahmanyam Jaishankar. Trong lần đụng độ vừa qua, ngoại trưởng Mỹ cho rằng "Ấn Độ đã đáp trả một cách tốt nhất".

Không chỉ hung hăng với Ấn Độ, Bắc Kinh còn có chính sách "hăm dọa" Butan nhỏ bé khi phản đối việc quốc gia nhỏ bé này vay một khoản tín dụng quốc tế để lập khu bảo tồn thiên nhiên ở phía đông Butan, nằm trên dãy Himalaya.

Ngoại trưởng Mỹ cho rằng "thế giới không thể cho phép những hành vi hăm dọa như vậy… từ dãy Himalaya đến vùng biển của Việt Nam hoặc ở quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, cũng như những nơi khác".

Trong bối cảnh căng thẳng Mỹ-Trung trên mọi lĩnh vực, Bắc Kinh kêu gọi cải thiện quan hệ ngoại giao với Washington, vì chính sách của Mỹ hiện nay dựa trên "những đánh giá sai lầm chiến lược thiếu cơ sở thực tế". Thông điệp được đăng trên trang web của bộ Ngoại Giao Trung Quốc ngày 09/07 và được Reuters trích dẫn, còn đề nghị hai bên "cùng khai thác những cách chung sống hòa bình".

Thu Hằng

**********************

Ấn Độ tẩy chay hàng Trung Quốc : Nói dễ, làm khó (RFI, 07/07/2020)

Dùng đòn kinh tế để trả đũa Bắc Kinh sau xung đột ở biên giới Ấn - Trung là một bàn thua được báo trước đối với chính quyền New Delhi. Trên đây là nhận định của nhà báo Patrick de Jacquelot, nguyên là phóng viên của báo kinh tế Les Echos tại Ấn Độ về chiến dịch vận động quần chúng "tuyên chiến" với hàng Made in China.

antrung2

Ấn Độ và Trung Quốc : tranh chấp lãnh thổ không ngăn cản đôi bên hợp tác về kinh tế. Reuters/Kim Kyung-Hoon

Chỉ vài giờ sau xung đột ở biên giới Ấn - Trung trong vùng thung lũng Ladakh trên dãy Himalaya, đã rộ lên những lời kêu gọi tẩy chay các công ty và hàng Trung Quốc. Rồi lời nói đi đôi với hành động : Hình ảnh một cư dân tại bang Gujarat liệng màn hình tivi Made in China qua cửa sổ đã được truyền thông Ấn Độ loan tải ra khắp thế giới. Tại thủ đô New Delhi, một quan chức địa phương trên mạng xã hội Whatsapp "tuyên chiến" với những sản phẩm xuất xứ từ Trung Quốc. Một viên tướng về hưu xem việc tẩy chay hàng Trung Quốc là hình thức cụ thể nhất để "tấn công vào cột sống" của nước láng giềng muốn xâm lấn lãnh thổ của Ấn Độ.

Cố gắng trả đũa để giữ thể diện quốc gia ?

Về mặt chính thức, hai tuần sau vụ đụng độ đẫm máu trên dãy Himalaya, New Delhi tìm nhiều cách để "trả đũa" Bắc Kinh. Biện pháp thứ nhất là ban hành lệnh cấm người dân Ấn Độ sử dụng 59 ứng dụng do các tập đoàn Trung Quốc cung cấp, trong lúc 65% điện thoại di động đang lưu hành tại quốc gia Nam Á này đều mang nhãn hiệu Trung Quốc. Chỉ riêng ứng dụng chia sẻ video như TikTok cũng của Trung Quốc đang thu hút đến 120 triệu thanh niên Ấn Độ và đây cũng là thị trường lớn nhất của TikTok ngoài Hoa lục. 

Kế tới là việc tăng cường các hàng rào thuế quan nhắm vào 300 mặt hàng nhập từ Trung Quốc. Chính quyền Modi cũng đã "mạnh mẽ khuyến khích" cơ quan Nhà nước "giảm mức độ lệ thuộc" vào hàng Trung Quốc. Cổng mua bán trên mạng Government E-market của Nhà nước yêu cầu các nhà cung cấp ghi rõ xuất xứ những mặt hàng bán ra ở địa chỉ này.

Gần như cùng lúc, New Delhi tăng tốc thắt chặt luật đầu tư nước ngoài mà chủ yếu là nhằm cản đường các nhà đầu tư Trung Quốc muốn mở thêm địa bàn trên xứ sở của Bollywood. Cũng chính quyền của thủ tướng Narendra Modi kêu gọi các tập đoàn viễn thông Ấn Độ "tránh" mua trang thiết bị của Hoa Vi. Một phương tiện khác nữa cho phép Ấn Độ "thọc gậy bánh xe" nước láng giềng là kéo dài thủ tục hành chính ở hải quan mỗi khi hàng của Trung Quốc cập các cảng Ấn Độ trước khi được chuyển đi tiếp sang một quốc gia thứ ba.

Hiệu quả nào khi đang lệ thuộc vào giao thương với Trung Quốc về nhiều mặt ?

Câu hỏi đặt ra liệu Ấn Độ có đủ sức dùng đòn kinh tế trả đũa Trung Quốc vụ giao tranh đẫm máu, cướp đi sinh mạng 20 quân nhân Ấn Độ ở đường biên giới chung giữa hai nước hay không ?

RFI Việt ngữ đặt câu hỏi với nhà báo độc lập Patrick de Jacquelot của báo Asialyst. Ông từng là thông tín viên thường trực của nhật báo kinh tế Les Echos tại New Delhi trong nhiều năm.

"Trao đổi mậu dịch Ấn-Trung cho đến năm 2019 là như sau : Ấn Độ xuất khẩu 16,3 tỷ đô la sang Trung Quốc và mua vào 65,3 tỷ hàng Trung Quốc. Như vậy Ấn Độ bị thâm hụt mậu dịch với Trung Quốc gần 50 tỷ đô la và đó là một số tiền rất lớn. Nhìn qua, có vẻ như việc tẩy chay hàng Trung Quốc có hại cho phía Bắc Kinh. Sự thật hoàn toàn ngược lại bởi vì 14 % hàng của Ấn Độ làm ra để bán cho Trung Quốc. Trong chiều ngược lại thì Ấn Độ chỉ chiếm có từ 1 đến 2 % tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc. Thành thử Ấn Độ có tẩy chay hàng Trung Quốc đi chăng nữa, cỗ máy xuất khẩu Trung Quốc không hề hấn gì bởi thị trường Ấn Độ không chiếm một vị trí quá lớn trong số những khách hàng của Trung Quốc. Ở chiều ngược lại, nếu Trung Quốc ngưng mua hàng của Ấn thì các công ty Ấn Độ sẽ rất kẹt".

Trung Quốc là đối tác thương mại thứ nhì của Ấn Độ chỉ sau có Mỹ. Ấn Độ và Trung Quốc là hai mắt xích quan trọng trong dây chuyền cung ứng của toàn cầu. Về thương mại, hai nước đông dân nhất địa cầu này rất cần lẫn nhau vậy về mặt cơ cấu đôi bên trao đổi với nhau những gì ? Patrick de Jacquelot đi sâu thêm vào chi tiết.

"Có thể nói Ấn Độ chủ yếu bán nguyên liệu cho Trung Quốc và mua vào những mặt hàng có giá trị gia tăng. Thí dụ như bán sắt cho Trung Quốc nhưng mua vào thép, mua vào đồ điện và máy móc, vi tính… mà Trung Quốc làm ra. Những mặt hàng đó tối cần thiết cho đời sống hàng ngày của mỗi người dân Ấn Độ. Nhìn đến công nghệ cao, Trung Quốc là nhà cung cấp hàng đầu cho Ấn Độ. 80 % trang thiết bị năng lượng mặt trời của Ấn Độ được mua từ Trung Quốc ; 40 % trang thiết bị điện tử của Ấn Độ được nhập từ Trung Quốc và ngành công nghiệp xe hơi Ấn Độ lệ thuộc đến 25 % vào phụ tùng của Trung Quốc. Nói cách khác, cho dù là một ngành công nghiệp mũi nhọn, nhưng nếu không có Trung Quốc thì sẽ không có xe hơi Ấn Độ".

Thỏa mãn niềm tự hào dân tộc

Theo quan điểm của nhà báo Jacquelot, kêu gọi tẩy chay hàng Trung Quốc chỉ nhằm mục đích xoa dịu công luận Ấn Độ phẫn nộ vì cái chết của 20 người lính ở biên giới Ấn - Trung. Ông giải thích tiếp :

"Chẳng vậy mà từ khi New Delhi kêu gọi tẩy chay hàng Trung Quốc, chỉ trong vỏn vẹn khoảng một chục ngày, chính phủ đã hai lần nới lỏng biện pháp trả đũa Bắc Kinh gây hấn ở biên giới Ấn Trung. Hôm 30 tháng 6 chính quyền Ấn Độ đã nới lỏng các biện pháp cấm vận nhắm vào các sản phẩm cần thiết nhất trong ngành dược phẩm. Tuy rằng đây là một công nghệ xuất khẩu quan trọng của Ấn Độ nhưng các hãng dược phẩm Ấn lại lệ thuộc đến 60 % vào nguyên liệu nhập từ Trung Quốc. Cùng một ngày New Delhi cũng đã rút lại biện pháp đòi trừng phạt các tập đoàn nước ngoài hiện diện tại Ấn Độ làm ăn với Trung Quốc. Các tên tuổi như Samsung, Honda hay Toyota bị đưa vào danh sách này nhưng trừng phạt các tập đoàn nói trên thì chính nền công nghiệp của Ấn Độ bị thiệt hại trước hết".

Từ công nghệ cao cho đến dược phẩm và ngay cả những mặt hàng điện tử thông dụng nhất, hay đầu tư nước ngoài, Ấn Độ đều cần Trung Quốc. Nhà báo Patrick de Jacquelot nhấn mạnh kinh tế không là yếu tố gây căng thẳng giữa New Delhi và Bắc Kinh. Xung đột giữa hai ông khổng lồ Châu Á này nằm ở vế ngoại giao và tranh chấp lãnh thổ :

"Vấn đề cốt lõi không nằm trong địa hạt kinh tế, mà xung đột Ấn - Trung thuộc về phạm trù ngoại giao và nhất là tranh chấp biên giới. Ấn Độ và Trung Quốc hoàn toàn không có tranh chấp về kinh tế hay thương mại. Nếu như trong những ngày sắp tới New Delhi và Bắc Kinh thu xếp được với nhau để làm dịu tình hình, thì sẽ không còn mấy ai chú ý tới kêu gọi tẩy chay hàng Trung Quốc nữa. Ngược lại, nếu tình hình xấu đi thêm Ấn Độ bắt buộc phải cứng giọng hơn nữa. Nhưng như tôi vừa trình bày, khả năng hành động của New Delhi về mặt này rất hạn hẹp. Về kinh tế, Ấn Độ và Trung Quốc đang cần lẫn nhau. Ấn Độ cần hàng của Trung Quốc. Còn với Bắc Kinh, Ấn Độ là một thị trường đầy tiềm năng không thể bỏ qua".

Tranh chấp lãnh thổ và lợi ích kinh tế 

Đây là lần đầu tiên từ năm 1975 máu lại đổ vì xung đột ở đường biên giới. Nhưng căng thẳng Ấn - Trung thì từ hơn 50 năm qua vẫn âm ỉ. Tình hình đã căng lên trở lại từ đầu tháng 5/2020 và đỉnh điểm là đêm 15 rạng sáng 16/06/2020 khi hàng trăm binh lính đôi bên lao vào một trận giáp lá cà. Chuyên gia quân sự Abhijit Iyer Mitra thuộc Viện Nghiên cứu về Hòa bình và các cuộc xung đột (IPCS) của Ấn Độ lưu ý tình hình tại biên giới Ấn - Trung nóng lên đúng vào lúc New Delhi vừa cấp giấy phép cho một tập đoàn Úc khoan ba đường hầm lớn trong khu vực thung lũng Ladakh, đồng thời chính quyền cũng đã bật đèn xanh cho các dự án xây dựng hơn 60 trục lộ dài tổng cộng hơn 3.300 cây số dọc theo đường biên giới Ấn - Trung. Tất cả các dự án đó cho phép Ấn Độ mở rộng cơ sở hạ tầng tại một vùng lãnh thổ mang tính chiến lược này đối với Bắc Kinh.

Đành rằng Ấn Độ và Trung Quốc không có hiềm khích về kinh tế hay thương mại, nhưng dự án của New Delhi phát triển vùng thung lũng Ladakh tại một địa điểm nhậy cảm trên dãy Himalaya phần nào châm ngòi cho xung đột đẫm máu hôm 15/06/2020. Vấn đề còn lại là đôi bên liệu sẽ có dừng lại đúng lúc trước khi bước qua lằn ranh đỏ của một sự can thiệp quân sự hay không ?

Thanh Hà

Published in Châu Á

Tổng thống Trump thay đổi lập trường, tuyên bố ‘hoàn toàn ủng hộ đeo khẩu trang’ (VOA, 02/07/2020)

Tổng thng Hoa Kỳ Donald Trump dường như đã thay đi lp trường v vic đeo khu trang nơi công cng khi ông nói trong mt cuc phng vn rng ông "hoàn toàn ng h vic đeo khu trang".

covi1

Tổng thng Donald Trump cm khu trang trên tay trong lúc nói chuyn ti nhà máy ca hãng Ford Rawsonville ngày 21/5/2020.

Thậm chí, nhà lãnh đo M còn nói vi Fox Business rng ông nghĩ đeo khu trang khiến ông trông ging nhân vt hư cu "K sĩ cô đc" (Lone Ranger).

"Tôi hoàn toàn ủng h đeo khu trang. Tôi nghĩ đeo khu trang là tt. Mi người đã thy tôi đeo mt ln", AP dẫn li li ông Trump nói vi Fox Business.

Bình luận ca ông Trump được đưa ra mt ngày sau khi các nhà lp pháp đng Cng hòa đ ngh ông đeo khu trang nơi công cng đ làm gương tt cho người M.

Ông Trump lâu nay không mặn mà vi vic đeo khu trang.

Đầu tháng 4, Trung tâm kim soát và phòng nga dch bnh M (CDC) khuyến cáo mi người nên đeo khu trang nhng nơi công cng, là nhng nơi khó có th duy trì các bin pháp giãn cách xã hi.

Ông Trump ngay lập tc nói h gim v hướng dn ca CDC vi lời tuyên b thng thng rng ông s không tuân theo, nói rng tng thng đeo khu trang là không lch s khi gp các nguyên th quc gia.

Hôm 1/7, ông Trump thay đổi ging điu và nói rng : "Tôi đã đeo khu trang. Tôi cũng thích din mo đeo khu trang của mình. Được. Tôi nghĩ rng chuyn đó n. Đó là mt đ che mt màu đen và tôi nghĩ rng nó trông n".

"Trông giống như Lone Ranger", Tông thng M nói thêm, đ cp đến mt nhân vt đeo mt n đen trong phim Vin Tây M.

"Tôi không có vấn đ gì vi chuyn đó. Nếu mi người cm thy tt thì h nên làm".

Gần đây, nhiu đng viên Cng hòa và thành viên ca lc lượng chuyên trách v chng virus corona ca Nhà Trng đã thng thn hơn trong vic ng h người M đeo khu trang nơi công cng khi tình trng dch bnh đã lan khắp min nam và min tây nước M.

ng c viên tng thng ca đng Dân ch, cu Phó Tng thng Joe Biden, tun trước nói rng ông s quy đnh bt buc đeo khu trang nếu đc c.

Trong cuộc phng vn hôm 1/7, ông Trump cho rng mt quy đnh bt buc là không cần thiết và tiếp tc bo lưu ý kiến cho rng đeo khu trang là la chn ca mi người.

*********************

Mỹ : Số ca nhiễm Covid-19 hàng ngày tăng kỷ lục (VOA, 02/07/2020)

Hoa Kỳ ngày 30/6 loan báo số ca Covid-19 tăng k lc : 47.000 ca, mc tăng ln nht trong mt ngày k t khi đi dch bt đu.

covi2

Bác sĩ Anthony Fauci, người đng đu Vin D ng và Bnh Truyn nhim Quc gia Hoa Kỳ, điu trn ti mt y ban Thượng vin hôm 30/6/2020

Các ca nhiễm mi tri dài t các tiu bang min tây nam Arizona và Texas đến tiu bang min tây California, s ca nhim tăng cao cũng được ghi nhn ti các tiu bang đông nam Florida, Georgia và South Carolina.

Số ca nhim Covid-19 tăng cao trên toàn nước M khiến bác sĩ Anthony Fauci, người đng đu Vin D ng và Bnh Truyn nhim Quc gia, tuyên b ti mt y ban Thượng vin hôm 30/6 rng theo t l hin nay thì có th lên ti 100.000 ca mt ngày nếu không có bin pháp chế ng.

"Rõ ràng hiện nay chúng ta không hoàn toàn kiểm soát được", bác sĩ Fauci điu trn. Ông cnh báo là nếu ch chú trng đến nhng tiu bang đang có nhng ca nhim mi tăng cao nht thì "đt toàn th đt nước trong vòng nguy him".

Trong lúc bác sỉ Fauci điu trn ti Đin Capitol, thng đc New York, New Jersey và Connecticut, ba tiểu bang vùng đông bc lúc đu chu nh hưởng đi dch nng n nht, b sung vào danh sách du khách phi t cách ly 14 ngày khi đến đây tên ca 8 tiu bang gm California, Georgia, Idaho, Iowa, Louisiana, Mississippi, Nevada và Tennessee.

Danh sách trước đó bao gm Alabama, Arizona, Arkansas, Florida, North Carolina, South Carolina, Texas và Utah.

Đợt lây nhim mi tăng cao khiến thng đc Florida, Texas, và California làm chm li kế hoch tái m ca nn kinh tế, ra lnh các quán rượu và nhà hàng đóng ca và buc tt c cư dân phi mang khu trang.

Với vic M dn đu thế gii v s ca virus corona, vượt quá 2,6 triu và 127.000 người chết, hành khách t M b gt ra khi danh sách các nước được EU d b lnh cm nhp cnh.

Gần 10,5 triu người xét nghim dương tính vi Covid-19 k t khi virus được phát hin đu tiên ti Trung Quc cui năm ngoái, trên 500.000 người thit mng.

Published in Quốc tế

Ngu dốt : Nguyên do tại sao mỗi ngày Hoa Kỳ có thêm 100.000 người nhiễm Covid-19

"Chúng ta không nên giả định rằng một cách nào đó một nhóm chuyên gia mới biết được điều gì là tốt nhất".

Thượng nghị sĩ Mỹ Rand Paul (thuộc đảng Cộng hòa) đã than phiền như thế vào hôm mùng Hai tháng Bảy 2020. Covid-19 hiện đang ở ngoài tầm kiểm soát của Hoa Kỳ. Và một sự khinh thường sâu xa như thế đối với sự hiểu biết có thể là lý do tại sao.

ngudot1

Thượng nghị sĩ Rand Paul, đảng Cộng hòa bang Kentucky, điều trần trước ủy ban y tế Thượng viện về đại dịch và cho rằng các chuyên gia luôn luôn biết rõ nhất. Ảnh : Al Drago / POOL / AFP. Nguồn : AFP

Thượng nghị sĩ Paul không phải là người duy nhất bác bỏ lời khuyên của các chuyên gia về dịch tể học. Một cựu bác sĩ nhãn khoa (như ông) mà không tin ở kinh nghiệm, giáo dục và hiểu biết chuyên môn là một thứ dịch bệnh cho Hoa Kỳ.

Đây là một thái độ vốn gia tăng nhanh chóng trên khắp thế giới. Thái độ này cũng tồn tại ngay cả khi đứng trước sự thật hiển nhiên không thể phủ nhận được.

Các chính trị gia kỳ cựu như ông Paul tại Hoa Thịnh Đốn lập luận rằng Hoa Kỳ cần phải nhanh chóng mở cửa lại nền kinh tế của đất nước. Họ lập luận như thế mặc dù hết tiểu bang này đến tiểu bang khác đều báo cáo rẳng các bệnh viện của họ đã quá tải, rằng ngày càng có nhiều người bị nhiễm Covid-19, rằng việc truy tìm điểm xuất phát đã thất bại, rằng dân chúng không màng tới lời khuyên phải đeo khẩu trang và rửa tay. Và dân chúng, cách riêng những người có tuổi và những người có tiền sử bệnh lý, đang chết.

Tại sao lại xảy ra như thế ? Chúng ta đang sống trong một thế giới với lượng thông tin quá tải. Và như Giáo sư Tom Nichols chuyên giảng dạy về An ninh Quốc gia tại Học viện Hải quân Hoa kỳ giải thích, tình trạng này hiện đang bị những kẻ hoạt đầu thương mại và chính trị triệt để khai thác. Giáo sư Nichols viết : "Vì không hiểu được tất cả mọi vấn đề phức tạp xung quanh mình, họ (dân chúng và các chính trị gia) chọn lựa thà đừng hiểu gần như mọi điều và giận dữ đổ tội cho những thành phần ưu tú vì kiểm soát cuộc sống của họ".

Những kẻ phủ nhận siêu vi

Các chuyên gia là những người đưa ra các đề nghị. Còn quyết định là việc của các vị dân cử. Nhưng rất hiếm khi các chính trị gia được dân bầu lên là chuyên gia, nhất là theo cơ chế đảng phái chính trị hiện nay. Ông Paul là thượng nghị sĩ Mỹ đầu tiên nhiễm Covid-19. Nay ông lại bảo rằng các chuyên gia y tế phải "tỏ ra dè dặt trong việc chẩn đoán của họ", ngay cả miền Nam và miền Tây Hoa kỳ đang phải vất vả chiến đấu trước đợt tấn công thứ hai của dịch bệnh.

ngudot2

Bác sĩ Anthony Fauci, giám đốc Viện quốc gia về dị ứng và bệnh truyền nhiễm. Ảnh / AP

Thượng nghị sĩ Paul đã tuyên bố rằng người Mỹ "chỉ cần có thêm lạc quan" mỗi khi nghe khuyến cáo của một ủy ban (phòng chống) đại dịch, kể cả giám đốc của Viện Quốc gia về Dị ứng và Dịch bệnh là Tiến sĩ Anthony Fauci. Tiến sĩ Fauci vừa mới cảnh cáo rằng Hoa Kỳ đang trên đà mỗi ngày có thêm 100.000 người nhiễm Covid-19.

Thượng nghị sĩ Paul muốn các trường học phải mở cửa lại. Ông muốn các câu lạc bộ và tiệm ăn mở cửa lại. Ông muốn các cuộc thi đấu thể thao cũng phải được cho tổ chức lại. Thượng nghị sĩ Paul nói : "Tất cả những gì mà tôi nghe được là "Tiến sĩ Fauci nói : "Chúng ta không thể làm điều này. Chúng ta không thể làm điều kia. Chúng ta không thể chơi bóng chày".

Vị thượng nghị sĩ của Tiểu bang Kentucky này cho rằng các công dân Mỹ sẽ trở thành một thứ "bày đàn được một vài người ở Hoa Thịnh Đốn bảo phải làm gì và chúng ta chẳng khác nào những con cừu phải mù quáng đi theo họ".

Ông đã không đá động đến kịch bản được những mục tử không chuyên môn đưa ra. Và theo Giáo sư Nichols, đây là một dấu hiệu cho thấy nguy hiểm biết chừng nào khi các chuyên gia đề nghị một đàng và các vị dân cử quyết định một nẻo.

Một bác sĩ nhãn khoa không phải là một nhà siêu vi học. Một nhân viên địa ốc không phải là một nhà ngoại giao. Một giám đốc tiếp thị không phải là một chuyên gia kinh tế. Tuy nhiên, chỉ cần một chút cố gắng, những người như thế cũng có thể hiểu và cân nhắc những lập luận của mình. Giáo sư Nichols viết : "Những người không có hiểu biết chuyên môn không thể làm mà không cần các chuyên gia và họ cần phải chấp nhận thực tế đó chứ không phải ngậm đắng nuốt cay. Các chuyên gia cũng vậy, cũng phải chấp nhận lắng nghe, chứ không phải phủ nhận và lời khuyên của họ không phải lúc nào cũng được đón nhận".

Vui mừng trong ngu dốt

Đối với nhiều người, ngu dốt là một đức tính. Đặc biệt trong chính trị. Thà mù quáng và hùng hổ tuyên bố ủng hộ "tín điều" đã được thiết lập, dù có lỗi thời, của phe nhóm mình hơn là phải thay đổi. Người ta không bao giờ cho rằng mình có thể sai lầm.

ngudot3

Người biểu tình trương biểu ngữ và cờ Mỹ để phản đối các biện pháp cách ly và đeo khẩu trang ở Huntington Beach. Ảnh / AP

Giáo sư Nichols nói : "Lập luận có nguyên tắc và dựa trên sự hiểu biết là một dấu hiệu của trí tuệ lành mạnh và sức sinh động của một nền dân chủ. Tôi cảm thấy lo là bởi vì chúng ta không còn có những lập luận như thế nữa, mà chỉ là những đấu đá hò hét và giân dữ".

Thái độ này là một siêu vi đang lây lan trên các trang mạng xã hội truyền thống, trong các cuộc tranh luận chính trị và trong các tiệm ăn trên khắp thế giới. "Khước từ lời khuyên của các chuyên gia để khẳng định sự tự trị của mình, đây là cách người Mỹ muốn chứng minh sự độc lập của họ đối với những thành phần ưu tú (có hiểu biết) và cô lập cái tôi mong manh của họ để khỏi nghe nói rằng họ sai lầm".

Vấn đề không phải là bày tỏ ý kiến của mình mà là suy nghĩ với óc phê phán. Và sẽ không có suy nghĩ với óc phê phán nếu không thể chấp mình rằng mình có thể sai lầm.

Giáo sư Nichols giải thích : "Ngờ vực là một điều tự nhiên, nhưng tôi sợ rằng chúng ta đang vượt qua làn ranh của thái độ ngờ vực tự nhiên ấy khi từ ý kiến của các chuyên gia chúng ta tuyên án tử cho chính lý tưởng của sự chuyên môn. Được Google nuôi dưỡng, dựa trên Wikipedia và no say vì các Blog, người ta không còn phân biệt giữa các chuyên gia và những người không có hiểu biết chuyên môn, giữa giáo viên và học sinh, giữa những người có kiến thức và người không có kiến thức, nói cách khác, giữa những người đã thành đạt trong một lãnh vực và những người không có bất cứ thành đạt nào".

Hiểu biết chuyên môn đã bị "loạt khỏi quày hàng" của những tiện nghi. Giáo sư Nichols giải thích : chẳng hạn người ta thích tìm đến một bác sĩ để xin toa thuốc chữa trị bệnh tiểu đường, nhưng lại không muốn nghe dẫn giải về dinh dưỡng và nếp sống vốn là nguyên nhân chính gây ra bệnh tật.

"Người ta muốn ý kiến của mình phải được tôn trọng và những chọn lựa ưu tiên của mình được nhìn nhận không phải dựa trên sức mạnh của những lập luận của mình hay trên bằng chứng hiển nhiên mình đưa ra mà dựa trên cảm xúc và bất cứ thông tin sai lạc nào mình nhặt được nơi này nơi nọ".

Những sự thật gây khó chịu

Thượng nghị sĩ Paul xem ra không nghe chính lời khuyên của ông. Tại một phiên điều trần ở Thượng Viện, ông thách thức Tiến sĩ Fauci khi nói rằng : "Chúng tôi có thể lắng nghe lời khuyên của ông, nhưng phía bên kia cũng có những người nói rằng sẽ không hề có sự gia tăng (số người bị nhiễm Covid-19) và như vậy chúng ta có thể mở cửa kinh tế một cách an toàn. Và các sự kiện sẽ chứng minh điều đó".

ngudot4

Một nhân viên pha rót bia trong khi đeo mặt nạ và che chắn mặt giữa đại dịch coronavirus tại Slater's 50/50 ở Santa Clarita. Ảnh / AP

Và đây là các sự kiện. Một quán rượu ở Tiểu bang Michigan đã được nhận diện là trung tâm điểm phát xuất của 110 ca nhiễm mới. Một phòng tập thể dục ở Tiểu bang West Virginia đã gây thêm 100 ca nhiễm mới. Trên 230 người đã nhiễm siêu vi khi tham dự một buổi thờ phượng tại Tiểu bang Oregon. Và đây chỉ là một vài thí dụ điển hình.

Nhưng một cuộc thăm dò được cho phổ biến hồi cuối tuần đã cho thấy sức mạnh của làn sóng phủ nhận đại dịch. Theo cuộc thăm dò, hiện có khoảng 40 phần trăm người Mỹ tin rằng tình trạng (đại dịch) đang được kiểm soát, rằng điều tệ hại nhất đã qua rồi, rằng đại dịch đã chấm dứt rồi.

ngudot6

Những người biểu tình diễu hành gần Trung tâm BOK nơi Tổng thống Mỹ Donald Trump tổ chức một buổi mít-tinh những người ủng hộ mình tại Tulsa, Oklahoma ngày 2006/2020. Ảnh : Ảnh của SETH HITHD / AFP.

Họ sai lầm. Covid-19 đang tăng tốc hành hoành trên khắp thế giới. Hoa Kỳ hiện đang là trọng tâm của đại dịch : tính từ lúc đại dịch bùng phát tới nay Hoa Kỳ đã có trên 2.7 triệu người bị nhiễm, trong số này có 130.000 người thiệt mạng. Nay, dịch bệnh đang bùng phát dữ dội trên cả nước. Chỉ mới hôm qua (02/07/2020) thôi, theo ghi nhận đã có thêm 44.000 người bị nhiễm.

Hệ thống y tế của Tiểu bang Arizona đã bó tay. Các bệnh viện của tiểu bang đang phải cho áp dụng các biện pháp "tuyển chọn" : chọn ai cần được chữa trị và ai phải bị loại bỏ. Tiểu bang Texas cũng đang cảnh cáo rằng các phòng cấp cứu trong các bệnh viện của tiểu bang hiện đang gần như đầy ứ vì mỗi ngày có đến 8.000 ca mới. Tiểu bang California hiện đang ghi nhận mỗi ngày có thêm 5000 ca mới. Hôm qua thống đốc của tiểu bang đã ra lệnh đóng cửa các tiệm ăn, rạp chiếu bóng và các quán rượu.

Trong một tình trạng như thế, Thượng nghị sĩ Paul vẫn tỏ ra thù nghịch với lời khuyên của các chuyên gia, cho dẫu đó là một lời khuyên chính xác. Hôm qua, ông đã tuyên bố : "Cần phải biết rằng nếu xã hội chiều theo lời khuyên của một chuyên gia và nếu chuyên gia ấy sai lầm, thì nhiều thiệt hại có thể xảy ra. Chúng ta không nên giả định rằng một cách nào đó một nhóm chuyên gia biết điều gì là tốt nhất cho mọi người".

Khiên thuẩn của sự thật

Các chuyên gia y tế thừa nhận rằng họ chưa biết chính xác siêu vi hoạt động như thế nào hay sức mạnh và những yếu nhược của nó như thế nào. Hiện vẫn chưa có thuốc chữa. Đây là lý do tại sao trước khi tìm ra được một thuốc chủng hữu hiệu, thế giới chỉ mới có 4 vũ khí để chống lại đại dịch. Dĩ nhiên nhờ các chuyên gia. Đã có bằng chứng cho thấy các biện pháp này hữu hiệu.

ngudot5

Nhân viên y tế điều chỉnh thiết bị bảo vệ cá nhân của họ khi làm việc tại khoa cấp cứu tại NYC Health + bệnh viện Metropolitan ở New York. Ảnh / AP

Trước tiên là việc xét nghiệm. Điều này có nghĩa là nhận diện được nguy cơ. Điều này cũng cho thấy siêu vi đã xâm nhập sâu xa vào một cộng đồng như thế nào. Nó cũng cho phép nhận diện được những cá nhân bị nhiễm nhưng không có triệu chứng và nhờ đó cách ly tức khắc cũng như chữa trị người mắc bệnh.

Biện pháp thứ hai là truy tìm tông tích của việc lây lan. Đây là một công việc khó khăn đòi hỏi nhiều thời gian. Nhưng nó cho phép giảm bớt tốn kém mà vẫn có được hiệu quả tốt. Những người bị nhiễm được phỏng vấn và điều tra. Từng bước di chuyển của họ khi họ có thể lây cho người khác được kiểm tra chặt chẽ. Biện pháp này dẫn đến những người, những nhóm và nơi chốn có tiếp xúc với người bị nhiễm. Việc xét nghiệm sau đó lại hướng đến việc lây lan của siêu vị.

Biện pháp thứ ba là cách ly. Đây là điều tự nhiên phải làm và tốn kém. Nhưng đây là khí cụ duy nhất hữu hiệu mà các cơ quan y tế đang có để chống lại sự bùng phát của Covid-19. Và nếu như một cộng đồng bị cách ly đủ lâu thì siêu vi sẽ bị tiêu diệt. Nó sẽ "chết đói" vì không có những người khách mới !

Biện pháp thứ tư là vệ sinh cá nhân. Một cái ho trong một câu lạc bộ, một quán rượu, một tiệm ăn, một tiệm cà phê hay một cửa tiệm cũng có thể lây cho cả một vùng chỉ trong vài giờ đồng hồ. Chỉ cần vô tình tiếp xúc với một mặt bằng bị nhiễm rồi sờ lên mặt mình cũng đủ để bị nhiễm. Đây là lý do tại sao rửa tay và đeo khẩu trang là biện pháp phòng thủ cuối cùng.

Nếu cả bốn biện pháp trên đây không được áp dụng một cách đúng đắn, việc phòng chống dịch bệnh sẽ thất bại. Và đây là chính kinh nghiệm của Hoa Kỳ sau khi các chính trị gia và các nhà lãnh đạo doanh nghiệp xem thường lời khuyên của các chuyên gia y tế. Và điều này sẽ có những hậu quả nghiêm trọng trong tương lai.

Giáo sư Nichols viết : "Bao lâu sự tin tưởng và tương kính không được tái lập thì công luận sẽ bị tiêm nhiễm bởi niềm tin mù quáng đối với những ý kiến không có nền tảng. Và trong một bầu khí như thế thì bất cứ điều gì và mọi thứ cũng đều có thể xảy ra, kể cả cái chết của nền dân chủ".

Jamie Seidel

Nguyên tác : Ignorance is why US faces 100.000 new infections every day, New Zealand Herald, 02/07/2020

Chu Văn chuyển ngữ

(03/07/2020)

Jamie Seidel là một ký giả tự do chuyên viết bình luận cho News Corporations, Australia.

 

Published in Diễn đàn

Mùa bầu cử 2020 đang sôi động. Chỉ còn hơn bốn tháng nữa là đến ngày bầu cử tổng thống Hoa Kỳ. Joe Biden sẽ là ứng cử viên tổng thống chính thức của Đảng Dân chủ. Do đó trong những ngày gần đây những người ủng h Tổng thống Trump dựng lên mẩu tin rằng ông Biden là người chống tị nạn Việt Nam vào giữa thập niên 1970 để lấy phiếu của người Việt cho ông Trump. Vì ông Biden là một thượng nghị sĩ rất trẻ từ khi mới 30, vừa đủ tuổi tối thiểu để nhậm chức, cho nên kiểm lại hồ sơ của Quốc hội có thể sẽ biết thực hư như thế nào.  Đây cũng sẽ là cơ hội để xem lại những dự luật về việc cứu trợ người Việt tị nạn và tin tức thời sự liên quan vào khoảng thập niên 1970. 

joe1

Đạo luật di tản và cứu trợ người tị nạn cộng sản

Trong hồ sơ pháp luật của Quốc hội Hoa Kỳ, tôi tìm thấy ba tài liệu chính liên quan đến việc di tản và cứu trợ người Việt tị nạn vào 1975. Thứ nhất là dự luật S. 1484 (Vietnam Contigency Act) được Thượng viện chấp thuận với số phiếu 75-17 vào ngày 24/4/1975.  Trong số 17 phiếu chống có phiếu của ông Joe Biden. Ngay từ khi tranh cử vào thượng viện khi vừa 30 tuổi vào 1972 ông đã ủng hộ việc rút quân Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam. 

Khi chuyển xuống Ha Viện, dự luật S. 1484 bị bác bỏ chung với dự luật cũa Hạ viện H.R. 6096 (Vietnam Humanitarian Assistance and Evacuation Act of 1975) với 162 phiếu thuận và 246 phiếu chống vào ngày 1/5/1975. 

Rất tiếc tôi chì tìm thấy một vài chi tiết giải thích những lý do những dự luật trên đây bị Quốc hội bác bỏ. Lý do đầu tiên là chính quyền Ford muốn Quốc hội cho ông quyền sử dụng quân đội Mỹ nếu cần thiết để bảo vệ việc di tản người Mỹ và người Việt ra khỏi Việt Nam. 

Nghị sĩ Robert C. Byrd (Dân chủ, West Virginia) chống việc dùng quân đội Mỹ để di tản người Việt vì biện pháp này "không thiết thực và nguy hiểm". Ông nói "Nếu chúng ta bắt đầu làm như vậy, chúng ta sẽ nhập vào cuộc chiến trở lại".

Dân Biểu Bob Carr (Dân chủ, Michigan) nói rằng Tổng thống Ford biết Quốc hội sẽ không bao giờ chấp thuận viện trợ quân sự, cho nên Tổng thống cho di tản ngay những người còn ở đó và chấm dứt chơi trò chính tri với họ". 

Ngoài ra, Thư ký Báo chí Ron Nessen của Nhà Trắng thừa nhận rằng đa số điện báo (1,125 – 443) và điện thoại (342 – 290) gọi vào chống lại kế hoạch của Tổng thống Ford. 

Chính quyền Ford chủ tâm liên kết việc di tản người Mỹ và người Việt với khoản xin viện trợ quân sự cho Việt Nam mà Tổng thống Ford cho là cần thiết để ổn định tình thế và nhờ vậy việc di tản sẽ trở nên dễ dàng hơn. 

Sau khi bị thất bại tại Hạ viện với dự luật H.R. 6096, Tổng thống Gerald Ford vào ngày 6/5/1975, qua Ủy ban Ngoại giao Thượng viện, đã đệ trình Quốc hội dự luật mới có tên là Indochina Migration and Refugee Assistance Act (S. 1661). Dự luật này được đa số Thượng viện chấp thuận với 77 phiếu thuận và hai phiếu chống của hai nghị sĩ Cộng hòa là Jesse Helm (North Carolina) và William Scott (Virginia). Ngoài ra có 20 nghị sĩ không bỏ phiếu. 

Dự luật của Thượng viện S. 1661 được sát nhập vào một dự luật của Hạ viện có tên là Authorizing Funds for Assistance to Refugees from South Vietnam and Cambodia (H.R. 6755). Dự luật này được đệ trình Hạ viện vào ngày 7/5/1975 và đã được thông qua với 381 phiếu thuận và 31 phiếu chống.  Tổng thống Ford ký thành luật vào ngày 23/5/1975. Quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận cho Tổng thống Ford dành một ngân khoản là 455 triệu USD để di tản và cứu trợ những người tị nạn từ Việt Nam và Campuchia, không kể một ngân khoản $98 triệu để chi vào việc di tản và hỗ trợ người tị nạn.  Trong đạo luật này không có một ngân khoản nào dành cho viện trợ quân sự. Và nếu có cũng đã quá trễ vì Saigon đã thất thủ vào 30/4/1975. 

Ngoài ra, Thượng viện Hoa Kỳ có ra một nghị quyết (resolution) S. Res. 148 có tên là "Chào mừng những người tị nạn mới nhất đến đất nước chúng tôi" (Welcome the latest refugees to our shores) vào ngày 8/5/1975 với 92 phiếu thuận trong đó có Nghị sĩ Joe Biden, một phiếu chống của Nghị sĩ William Scott (Cộng hòa, Virginia) và bẩy nghị sĩ vắng mặt. 

Buổi họp tại Nhà Trắng vào ngày 14/4/1975 

joe2

Tôi cũng đã tìm thấy trong kho hồ sơ lịch sử đã được giải mật của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ một tài liệu về buổi họp vào ngày 14/4/1975 tại Tòa Bạch Cung giữa Tổng thống Gerald Ford, Ngoại trưởng Henry Kissinger, Bộ trưởng Quốc phòng James R. Schlesinger và Ủy ban Ngoại  giao Thượng viện trong đó có Nghị sĩ Joe Biden và một số viên chức cao cấp trong chính quyền.     

Trong tài liệu này, tất cả mọi người, đặc biệt là Tổng thống Ford, Ngoại trưởng Kissinger, xem ra đều đồng thuận về hai việc quan trọng : 1) Mang người Mỹ ra khỏi Việt Nam an toàn ; 2) Di tản khoảng 175.000 người Việt. Riêng việc viện trơ quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa được đề cập tới nhưng không đưa đến một quyết định nào cả. 

Theo Ngoại trưởng Kissinger kế hoạch di tản người Mỹ đã được chuẩn bị kỹ lưỡng. Di tản số người Việt lớn lao là một bổn phận của Hoa Kỳ (obligation) sẽ phức tạp hơn, cần sự hợp tác của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và và có thể của cả Bắc Việt. Cũng theo ông Kissinger, "Tổng cộng số người Việt bị nguy hiểm lên đến trên một triệu. Danh sách không thể giảm bớt là 174.000 người. Điều này không có nghĩa là chúng ta có thể di tản hết những người ở trong tình trạng cực kỳ nguy khốn này. Chúng ta phải tập trung họ lại ở nơi mà chúng ta có điều kiện để di chuyển họ". 

Nghị sĩ Frank Church (Dân chủ, Idaho) góp ý rằng về mặt pháp lý rõ ràng không có khó khăn gì để di tản người Việt cùng với người Mỹ, nhưng với 175.000 người cần có hàng ngàn quân Mỹ bảo vệ.

Nghị sĩ Stuart Symington (Dân chủ, Missouri) đặt câu hỏi về người Việt tị nạn sẽ định cư ở đâu, Nghị sĩ Clairborne Pell (Dân chủ, Rhode Island) góp ý rằng "Chúng ta có thể đưa họ đến Borneo, cùng một vĩ độ, cùng một khí hậu, và đón nhận những người chống cộng sản". 

joe3

Tổng thống Ford ngay lập tức đáp lại rằng "Chúng ta đã mở cửa đón người Hung. Tôi không muốn nói rằng tình trạng giống nhau nhưng truyền thống của chúng ta là tiếp nhận những người bị đàn áp. Tôi không nghĩ rằng những người này nên được đối sử khác biệt với những người khác - người Hung, người Cuba, người Do Thái từ Liên Xô". 

Ý kiến của Tổng thống Ford là quyết định sau cùng vì sau đó không ai đem vấn đề này ra bàn thêm. 

Trong buổi họp, Nghị sĩ Biden chỉ phát biểu ba lần ngắn gọn. Ông than phiền rằng Bộ Ngoại giao chưa cho xem kế hoạch [di tản]. Ông Biden muốn tách riêng ba vấn đề đã nêu trên là di tản người Mỹ, di tản người Việt và viện trợ quân sự. Ông muốn tập trung ngay vào việc di tản người Mỹ vì việc này dễ dàng và đã chuẩn bị đầy đủ. Cũng như đa số ở Quốc hội ông Biden không ủng hộ viện trợ quân sự cho Việt Nam. 

Ông Biden nói nguyên văn bằng tiếng Anh như sau "We should focus on getting them out. Getting the Vietnamese out and military aid for the GVN are totally different". Vài phút sau ông nói tiếp "I don’t want to have to vote to buy it all or not at all. I will vote for any amount for getting the Americans out. I don’t want it mixed with getting the Vietnamese out". 

Tuy nhiên Jerry Dunleavy của báo The Washington Examiner đã bẻ quẹo lời ông Biden vừa phát biểu "Biden said U.S. allies should not be rescued". Tại buổi họp không ai nói câu nào như vậy. 

Cũng trong buổi họp tại White House, Tổng thống Ford tỏ ra bực tức với Nghị sĩ Clairborne Pell khi ông này đề nghị định cư người Việt ở đảo Borneo của Nam Dương. 

"Pell : We could put these people in Borneo. It has the same latitude, the same climate, and would welcome some anti-Communists". 

"President : Let me comment on where they would go: We opened our door to the Hungarians. I am not saying the situation is identical but our tradition is to welcome the oppressed. I don’t think these people should be treated any differently from any other people—the Hungarians, Cubans, Jews from the Soviet Union". 

Một cách tồi tệ, thiếu lương tâm nghề nghiệp, nhà báo Dunleavy đã thay thế câu nói của ông Pell bằng một phát biểu trước đó của ông Biden không liên quan gì đến nơi định cư của người tị nạn Việt : 

"I will vote for any amount for getting the Americans Out. I don’t want it mixed with getting the Vietnamese out". 

Dunleavy muốn độc giả hiểu lầm rằng Biden không muốn di tản người Việt và Tổng thống Ford bực tức ông Biden chứ không phải ông Pell. 

Ngoại trưởng Kissinger trả lời Nghị sĩ Biden rằng đây là một vấn đề hết sức tế nhị. Hoa Kỳ không thể di tản những người tị nạn trong điều kiện khủng hoảng. Không ai nghĩ cần có một thời gian dài để di tản những người này. Chỉ có 10 ngày hay hai tuần mà thôi. 

Tổng thống Ford nói "Chúng ta không muốn mang quân đội Hoa Kỳ vào nhưng chúng ta cần có đủ ngân khoản để làm như chúng ta dự định cầm cự một thời gian… Nếu đây là một buổi họp để chuẩn bị di tản, nó sẽ làm chính phủ Việt Nam hoảng sợ. Nghị sĩ Jacob Javits (Cộng Hòa, New York) đề nghị nói với báo chí 200 triệu USD. 

Toàn bộ buổi thảo luận tại Nhà Trắng vào ngày 14/4/1975 có thể tìm đọc : 232. Memorandum of Conversation

Viện trợ quân sự

joe4

Cũng trong buổi họp tại Nhà Trắng vào ngày 14/4/1975, Bộ trưởng Quốc phòng James R. Schlesinger nói rằng "Có những tiến bộ trong những ngày vừa qua. Họ [quân đội Việt Nam Cộng Hòa] đã chiến đấu tốt tại Xuân Lộc và vùng châu thổ [sông Cửu Long] nhưng tình trạng này là tạm bợ hay không tùy thuộc vào Bắc Việt và yêu cầu [viện trợ quân sự] của Tổng thống. Tại vùng quân sự, Bắc Việt có tám sư đoàn, chính phủ Việt Nam có bẩy sư đoàn. Họ chiến đấu tốt nhưng họ đang thiếu đạn dược. Nói một cách tổng quát, nếu Bắc Việt tung hết lực lượng ra họ sẽ có ưu thế, nhưng quân đội miền Nam biết địa thế và bị dồn vào chân tường".   

Bộ trưởng Schlesinger yêu cầu 722 triệu USD viện trợ quân sự. Trong đó 140 triệu USD để trang bị bốn sư đoàn bộ binh, 120 triệu USD để cải tổ bốn đơn vị biệt động quân và 190 triệu USD cho đạn dược.  Tổng thống Ford nhắc tới một ngân khoản thứ hai là 300 triệu USD đã được Quốc hội chấp thuận nhưng chưa có ngân khoản. 

Nghị sĩ Richard Clark (Dân chủ, Iowa) nêu một câu hỏi về mục đích của viện trợ quân sự mà Tổng thống Ford yêu cầu.  Một lần nữa Tổng thống Ford xác nhận rằng ông muốn dùng viện trợ quân sự để ổn định tình hình quân sự và tạo cơ hội thương thuyết và cho phép di tản người Mỹ và người Việt. 

Theo tường thuật của New York Times vào ngày 18/4/1975, Ngoại trưởng Kissinger, tại buổi điều trần trước Ủy ban Ngoại giao Hạ viện, tiên đoán rằng nếu không có viện trợ quân sự quân lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ cạn hết đạn dược vào cuối tháng 5.  Tướng Frederick C. Weyand, Tham mưu trưởng Bộ binh cũng có một nhận định tương tự trước Ủy ban Quân sự Hạ viện. 

Sau cùng Quốc hội Hoa Kỳ đã không chấp thuận một ngân khoản viện trợ quân sự nào cho Việt Nam Cộng Hòa theo yêu cầu của Tổng thống Ford. Ông cũng chịu chung một số phận như Tổng thống Nixon. 

Cả hai Đảng Cộng hòa và Dân chủ trong Quốc hội Hoa Kỳ đều tiếp tay gây áp lực để ép Nixon chấm dứt chiến tranh qua luật ngân sách quốc phòng. Hai nghị sĩ John Sherman Cooper (Cộng hòa) và Frank Church (Dân chủ) đã đệ trình một số tu chính án cho luật ngân sách quốc phòng để cấm Nixon chi tiền không những vào chiến tranh Việt Nam mà còn cả ở Thái Lan, Lào và Campuchia. Có đến 73 nghị sĩ trên tổng số 100 ủng hộ, không phải chỉ có nghị sĩ Dân chủ mà thôi. 

Một tu chánh án khác do hai nghị sĩ Mark Hatfield (Cộng hòa) George McGovern (Dân chủ) bảo trợ đòi chấm dứt hoạt động quân sự vào 31/12/1970 và rút quân ra khỏi Việt Nam vào 31/12/1971, nhưng tu chánh án này không đạt được đa số phiếu ủng hộ (39/55). 

Tổng thống Nixon xin viện trợ cho Việt Nam trong tài khóa 1/7/1974 đến 30/6/1975 một ngân khoản là 1,45 tỉ USD nhưng chỉ được Quốc hội chấp thuận 700 triệu USD. 

Tóm lại cả hai đảng Cộng hòa và Dân chủ đã bỏ rơi Việt Nam.

Hiệp định Paris 1973 

Để trả lời một câu hỏi của Nghị sĩ John Sparkman (Dân chủ, Alabama) về trách nhiệm của Hoa Kỳ theo Hiệp định Paris 1973, Tổng thống Ford nói rằng Hoa Kỳ đã ký và ủng hộ Hiệp định Paris 1973 thiết lập do sáng kiến của Hoa Kỳ. 

Ngoại trưởng Kissinger giải thích rằng với Hiệp định Paris Hoa Kỳ không có bổn phận gì cả nhưng có thẩm quyền đó là Điều 7. Hoa Kỳ có quyền cung cấp viện trợ và ép buộc thi hành những thỏa hiệp.

Ông Kissinger trình bầy tiếp rằng đối với chính quyền Việt Nam, Hoa Kỳ đã nói nếu họ để quân đội Hoa Kỳ rút ra khỏi Việt Nam, chính phủ Hoa Kỳ sẽ có nhiều may mắn hơn để trợ giúp Việt Nam và buộc phải thi hành Hiệp định Paris. Một vài người gọi đó là trách nhiệm tinh thần. Tuy nhiên, Hoa Kỳ không bao giờ tự cho rằng có bổn phận, không bao giờ nhận trách nhiệm theo Hiệp định Paris.

Điều 7 của Hiệp định Paris nói rằng cả hai phe của miền Nam Việt Nam không được phép tiếp nhận nhận binh sĩ, cố vấn và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên kỹ thuật quân sự, súng đạn và vật liệu chiến tranh vào miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên đôi bên có quyền thay thế những những vũ khi, đạn dược bị phá hủy, hư hại hay hao mòn. 

Câu nói của Ngoại trưởng Kissinger rất quan trọng. Do đó tôi chép lại nguyên văn bằng tiếng Anh như sau : 

"The Accords had not obligations but authorities, that is, Article 7.  President Nixon and others judged that permitting the United States to extricate itself would permit the United States to provide aid and enforce the agreements. Under the Paris Accords, we have no obligation. To the GVN we said that if they let us get our forces out it would enhance our chances of getting aid for them and enforcing the agreement. It was in this context, not that of a legal obligation. We never claimed an obligation ; we never pleaded an obligation. But some of us think there is a moral obligation". 

Không ít hội đoàn và một số nhân vật chính trị và tôn giáo Việt Nam ở hải ngoại trên 10 năm nay bám vào Hiệp định Paris 1973 để nuôi hi vọng lấy lại miền Nam Việt Nam, phục hồi chế độ Việt Nam Cộng Hòa để đòi lại Hoàng Sa và Trường Sa, không những nên nghiên cứu lại nội dung của Hiệp định mà quan trọng hơn cả là nên tìm hiểu kỹ về chính giới Hoa Kỳ trước đây và hiện nay quan niệm như thế nào về trách nhiệm của Hoa Kỳ đối với Hiệp định này.  Nếu thấy đây đã là ngõ cụt, thời nên tính chuyện làm ăn khác. 

Kết luận

joe5

Trên thực tế, tình hình chiến sự biến chuyển rất nhanh tại Việt Nam. Chỉ hơn hai tuần sau buổi họp ở Nhà Trắng, Sài Gòn thất thủ. Cuộc di tản người Mỹ hoàn tất. Một số người Việt làm việc với các cơ quan của Mỹ tại Việt Nam được đưa đi cùng lúc với người Mỹ. Nhưng nói chung cuộc di tản người Việt đã diễn ra trong hỗn loạn hầu hết bằng cách vượt biên. Khoảng hơn 120.000 người Việt tị nạn đã đến Hoa Kỳ trong năm 1975. 

Những năm sau này Hoa Kỳ có những chương trình tị nạn cho người Việt là Humanitarian Operation (HO), Orderly Departure Program (ODP), Resettlement Opportunity for Vietnamese Returnees (ROVR), Amerasian Homecoming (AH) và Humanitarian Resettlement (HR). Theo U.S. Census Bureau, dân số người Mỹ Việt là 2.104.217 vào năm 2017. 

Bình tĩnh và công bình mà nói, những tài liệu lịch sử đã được phổ biến Hoa Kỳ cho thấy một phần nào rằng chiến tranh Việt Nam không thể thắng được ngay từ 1964. Chính Tổng thống Johnson cũng rất do dự về việc đem quân vào Việt Nam vào 1965. Ngay sau biến cố Tết Mậu Thân 1968, Tổng thống Johnson nhìn xa trông rộng, tuyên bố không ra tranh cử nhiệm kỳ 2. 

Vào đầu năm 1969, Hoa Kỳ có gần 550.000 quân ở Việt Nam. Không đợi đến 1973, Tổng thống Nixon đã bắt đầu rút quân và thực hiện chương trình Việt Nam hóa chiến tranh. Số phận của miền Nam Việt Nam đã an bài từ khi Nixon ép Việt Nam Cộng Hòa ký vào Hiệp định Paris vào tháng Giêng 1973, không phải vì Quốc hội không chấp thuận 722 triệu USD hay 300 triệu USD viện trợ quân sự vào những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa. 

Chỉ có người Việt mới chậm hiểu và tiếp tục bản chất đó cho đến bây giờ, nên đã, đang và sẽ bị thiệt thòi. Cái giá phải trả đôi khi rất cao như vài triệu người chết trên chiến trường, vài trăm ngàn người chết chìm dưới biển cả.

joe6

Mặc dù ông bà nội là người Đức, mẹ ông là người Scottish, hai người trong ba người vợ là người gốc Tiệp và Slovenia, Tổng thống Trump đối xử tàn nhẫn đối với người tị nạn và cực kỳ khắt khe đối với di dân. Ông ra lệnh tách riêng và tập trung 15.000 con cái của những người di dân bất hợp pháp trong vài năm gần đây vào 9 trại giam lỏng, thiếu vệ sinh và chăm sóc cần thiết và bị lam dụng. Ngày 26/6/2020 Tòa án liên bang tại District of Columbia đã ra lệnh cho chính quyền Trump phải thả tất cả những trẻ em đang bị giam giữ một phần vì đại dịch Covid-19.

Tổng thống Trump và Đảng Cộng hòa chủ trương trục xuất khoảng 650.000 di dân được cha mẹ đưa vào Mỹ bất hợp pháp từ khi còn là trẻ con. Tuy nhiên Tối cao Pháp viện Liên bang vừa bác bỏ yêu cầu của chính quyền Trump đòi chấm dứt chương trình Defered Action for Childhood Arrivals (DACA) do chính quyền Obama thiết lập để tạm thời cho phép họ lưu trú tại Hoa Kỳ và được phép đi làm.

Ông Trump còn ra những quyết định hành pháp để hạn chế số di dân vào nước Mỹ trái với luật định, đặt thêm những điều kiện khắt khe về lợi tức, trình độ Anh ngữ, kỹ năng chuyên môn, tuổi tác, sức khỏe và tình trạng gia đình để giới hạn số người vào Mỹ và cơ hội trở thành người thường trú và công dân Mỹ. Những sắc dân da mầu chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Khoảng 49% người theo Đảng Cộng hòa xem di dân là một gánh nặng xã hội so với 38% xem di dân là một lợi ích cho quốc gia.

Trái lại, ông Joe Biden và Đảng Dân chủ xem Hoa Kỳ là một nước của di dân, nên đón nhận, đối xử nhân đạo và công bằng hơn với người tị nạn và tôn trọng những di dân hợp pháp. Khoảng 83% số người theo Đảng Dân chủ nghĩ rằng di dân làm cho dất nước mạnh hơn, không phải là mối đe dọa an ninh quốc gia hay trở nên gánh nặng cho xã hội về việc làm, nhà ở và dịch vụ y tế. Những công đoàn lao động Hoa Kỳ ngày nay cũng không còn xem di dân là một mối đe dọa về việc làm và lương bổng mà là vấn đề quyền dân sự.

Nếu là người Việt tị nạn hay là di dân, tôn trọng chính sách di dân công bằng và nhân đạo, chống kỳ thị sắc tộc, ông Joe Biden là người đáng được ủng hộ trong cuộc bầu cử vào ngày 3, tháng 11 năm nay.

Nguyễn Quốc Khải

(26/06/2020)

Published in Diễn đàn

Nước Mỹ và những vấn đề không mới

Nước Mỹ đang nóng vì những cuộc biểu tình phản đối nạn phân biệt chủng tộc, sự bất công trong xã hội đối với người da màu, nạn sử dụng bạo quá tay trong một số nhân viên cảnh sát sau cái chết của người đàn ông da đen George Floyd dưới tay viên cảnh sát da trắng Derek Chauvin tại Thành phố Minneapolis ngày 25.5 vừa qua. Một số cuộc biểu tình đã bị một số người lợi dụng biến thành bạo loạn, cướp bóc. Trong khi đó, phong trào biểu tình với những tấm biểu ngữ "I can’t breath" lập lại lời van xin của George Floyd hay "Black Lives Matters" cũng đang lan ra một số quốc gia Châu Âu khác.

usa1

Mâu thuẫn-xung đột chủng tộc nặng nề đã tồn tại từ lâu giữa người da trắng và người da đen, da màu trong xã hội Mỹ

Đây không phải là lần đầu tiên những cuộc biểu tình và cả bạo loạn với cùng mục đích xảy ra trên đất Mỹ. Vụ George Floyd chỉ là thêm một lần nữa phản ánh mâu thuẫn-xung đột chủng tộc nặng nề đã tồn tại từ lâu giữa người da trắng và người da đen, da màu trong xã hội Mỹ, bắt nguồn từ lịch sử nước Mỹ khi vào thế kỷ 16, hàng trăm ngàn, hàng triệu người da đen ở Châu Phi bị bắt cóc, bị bán và đưa sang Mỹ làm nô lệ. Công cuộc tranh đấu đòi quyền bình đẳng của người Mỹ da đen chưa bao giờ ngưng nghỉ, bắt đầu từ đó. Mặc dù sau khi cuộc nội chiến ở Hoa Kỳ kết thúc vào năm 1865, luật pháp Hoa Kỳ chính thức bãi bỏ chế độ nô lệ nhưng sự kỳ thị, bất bình đẳng giữa người da trắng với người da đen trên đất Mỹ chưa bao giờ thực sự chấm dứt.

Không phải vô cớ mà cho đến tận ngày hôm nay, mâu thuẫn-xung đột da đen, da trắng vẫn tiếp tục là đề tài nóng trong những cuốn sách, bộ phim của Mỹ. Chỉ nói sơ sơ trong lĩnh vực phim ảnh và chỉ trong vòng 20 năm trở lại đây, có nhiều phim được đề cử hoặc đoạt giải Phim hay nhất của Oscars là về chủ đề này. Ví dụ "12 years a slave"- đoạt giải phim hay nhất tại Oscar 2013, "Django Unchained" đã thắng 2 Oscar và được đề cử hạng mục Phim hay nhất năm 2013", Selma" làm về Martin Luther King Jr. đề cử Phim hay nhất 2014, "Moonlight"- Phim hay nhất Oscar 2017, "Get Out"- đề cử Oscar phim hay nhất 2017, "Green Book"- Phim hay nhất 2019...

Nói như thế không có nghĩa là sự phân biệt chủng tộc, sự bất bình đẳng giữa người da trắng và người da đen, da màu không có ở những quốc gia khác, nhưng ở Mỹ nó dai dẳng, âm ỹ là do vấn đề lịch sử như vừa nói trên.

Thứ hai, nạn sử dụng bạo lực quá đà của một số nhân viên cảnh sát nhưng lại không bị trừng phạt thỏa đáng cũng là một thực tế. Từ năm 1991 đến 2020, có ít nhất gần 20 vụ cảnh sát dử dụng bạo lực quá đà hoặc bắn chết người da đen với những lý do trời ơi đất hỡi, tại các thành phố khác nhau khắp nước Mỹ, kể từ vụ của Rodney King, Los Angeles, 1991 cho tới vụ mới nhất, George Floyd, Minneapolis, 2020. Những vụ nào có người chứng kiến hoặc quay video và dư luận làm ầm ỹ thì các cảnh sát mới bị truy tố, còn không thì chỉ bị kỷ luật, cùng lắm cho nghỉ việc.

Thêm vào đó đại dịch Covid-19 với con số người bị nhiễm và chết cao nhất thế giới của nước Mỹ (gần 2 triệu người nhiễm và gần 110.000 người chết, tính đến ngày 4/6), hàng chục triệu người bị thất nghiệp, đã khiến sự bức bối trong nhiều người dâng lên và chỉ chờ dịp để xả ra.

Nước Mỹ và người Việt

Là một người dân của một quốc gia nghèo và đang sống trong một chế độ độc tài đảng trị, tôi cũng như rất nhiều người Việt khác thường hướng về nước Mỹ không chỉ như một biểu tượng của sức mạnh quân sự, khoa học, kỹ thuật, của các giá trị về tự do, dân chủ, nhân quyền nhưng quan trọng nhất là vai trò lãnh đạo thế giới tự do, khi nước Mỹ thường xuyên lên tiếng và can thiệp để ngăn chặn chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa cộng sản, các tổ chức khủng bố Hồi giáo cực đoan v.v…

Nhưng từ hơn ba năm qua thì niềm tin vào nước Mỹ đã trở nên mong manh nhiều khi nhìn thấy uy tín, sức mạnh mềm, ảnh hưởng cũng như vai trò lãnh đạo đó của nước Mỹ đang giảm sút hẳn trên thế giới ; sự kiện George Floyd cùng với những lời kêu gọi mang tính chia rẽ, kích động bạo lực của người đứng đầu Nhà Trắng khiến hình ảnh nước Mỹ mất đẹp đi nhiều. Tuy nhiên, khi đọc những phản ứng, những bài viết mạnh mẽ của Cha James Martin-một linh mục Dòng Tên người Mỹ, chủ bút tờ "Jesuit Magazine America" ("The Bible is not a prop" : Religious leaders, lawmakers outraged over Trump church visit", NBC News), của tướng bốn sao Mike Mullen ("I Cannot Remain Silent", The Atlantic), tướng James Mattis cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ ("James Mattis Denounces President Trump, Describes Him as a Threat to the Constitution", The Atlantic)… niềm tin đó lại phần nào trở lại trong tôi.

Không có một quốc gia nào, xã hội nào là hoàn hảo trên trái đất này. Quốc gia nào, xã hội nào cũng có những khuyết điểm, những vấn đề nội tại của nó cũng như những thời điểm khó khăn, những chọn lựa/quyết định sai lầm. Nhưng nước Mỹ sẽ vượt qua như đã từng vượt qua những thời điểm khó khăn, đi xuống, chính vì luôn luôn có những con người chính trực dám lên tiếng, dám hành động để bảo vệ Hiến pháp và bảo vệ những giá trị tốt đẹp chung của nhân loại, có hàng ngàn hàng vạn con người dám xuống đường biểu tình phản đối v.v…

Nước Mỹ sẽ vượt qua nhưng để giải quyết tận gốc rễ vấn đề, có lẽ cũng là lúc người Mỹ nên nhìn lại hệ thống chính trị, hệ thống bầu cử, ứng cử, quyền hạn quá lớn của Tổng thống cho tới vấn đề phân biệt chủng tộc và sự bất bình đẳng tạo nên những cuộc đời thất bại và những nỗi tức giận bị dồn nén…

Và như chúng ta từng chứng kiến trong lịch sử nước Mỹ, cứ mỗi lần khủng hoảng, thay đổi là nước Mỹ sẽ lại trở nên mạnh mẽ hơn.

Trong khi đó, có biết bao nhiêu cái chết tức tưởi do bị cảnh sát bạo hành trong thời gian xét hỏi hoặc bị tạm giam ở Việt Nam, bao nhiêu cuộc biểu tình ôn hòa của dân oan bị cảnh sát, thậm chí quân đội đàn áp, và có những người dân bị giết một cách dã man, bao nhiêu cuộc đời bị mất đi oan uổng do những bản án oan sai, bao nhiêu việc làm, chính sách sai lầm phản dân hại nước của nhà cầm quyền… nhưng người dân không thể lên tiếng vì nếu lên tiếng sẽ bị đàn áp, bắt bớ, tù đày, và nhà nước Việt Nam thì cứ tiếp tục coi đất nước này, dân tộc này như thuộc quyền sở hữu riêng của đảng, muốn làm gì thì làm, luôn luôn đặt quyền lợi của đảng lên trên quyền lợi của đất nước, dân tộc. Điều đáng nói nhất là từ những cá nhân cho tới toàn bộ cái bộ máy vận hành cơ chế ấy không muốn, không dám và cũng không có khả năng thay đổi !

Đó là điểm khác biệt cơ bản giữa một quốc gia tự do dân chủ tam quyền pháp trị với một quốc gia độc tài độc đảng !

Song Chi

Nguồn : RFA, 04/06/2020 ( songchi's blog)

Published in Diễn đàn

Tôi chuyển đến Baltimore vào tháng Tám năm 2013. Trước thời điểm đó, tôi khá thờ ơ với trải nghiệm của người Mỹ gốc Phi Châu. Tôi đã đọc Túp Lều của Chú Tom hồi ở trường và tôi còn nhớ là nó đã tạo ra một ấn tượng mạnh với tôi. Tôi cũng là một chú mọt sách về lịch sử nên tôi đã đọc một ít về buôn bán nô lệ, về thời Tái thiết (chú thích người dịch : Reconstruction Age thuộc giai đoạn nội chiến Hoa Kỳ) và Jim Crow (chú thích : thuật ngữ chỉ các luật phân biệt chủng tộc, áp chế lên người da đen tại các tiểu bang miền Nam, dựa theo tên một nhân vật hư cấu Jim Crow).

black1

Một siêu thị ở Baltimore bị bốc cháy - Ảnh minh họa

Nhưng tôi không nghĩ tôi đã từng có một cuộc trò chuyện thật sự nào về chủng tộc với một người da đen trước đây. Vài tháng sau khi chuyển đến Baltimore, vốn là một thành phố có đa số người da đen, tôi kết bạn với một anh chàng tên là Mani. Mani là một người Mỹ gốc Phi sinh ra và lớn lên tại Baltimore. Chúng tôi gặp nhau, nói chuyện về đức tin và âm nhạc. Lần đầu tiên tôi đến chỗ anh ta ở, tôi nhớ đã thấy ba thứ. 

Thứ nhất là tấm ảnh của Martin Luther King, Jr. Thứ nhì là tấm ảnh của Malcolm X. Và thứ ba là túi kẹo Skittles cùng một lon nước ngọt trên bàn. Mỗi lần tôi ghé đến, tôi luôn thấy ba điều đó. Có lẽ cũng ghé lần thứ ba hay thứ tư gì đó, tôi mới hỏi Mani rằng tại sao luôn có gói kẹo trên bàn. Anh ta lập tức trả lời với giọng đầy xác quyết rằng, "đó là thứ mà Trayvon Martin đang cầm khi bị bắn". 

Thoáng qua trong tôi khi nghe điều đó là, "Trayvon Martin, cái tên nghe quen quen". Về đến nhà, tôi tìm ngay cái tên đó. Tất nhiên là tôi đã rất xấu hổ nếu nói mình không biết cái tên đó. Tôi đã không muốn để Mani biết rằng tôi rất dốt. Nhưng ngay lúc đó và ở đó, tôi nhận ra rằng có một sự khác biệt lớn giữa trải nghiệm của tôi trong tư cách một người Mỹ gốc Á và Mani, một người Mỹ gốc Phi.

Vì vậy trong vài năm theo sau, khi tôi càng biết nhiều hơn về Mani, tôi đã quyết định đọc thêm về người Mỹ đen tại Mỹ hôm nay. Tôi tìm hiểu về hệ thống tư pháp hình sự, hệ thống nhà tù, bạo lực cảnh sát, sự tử vong nơi trẻ sơ sinh, khả năng vận động xã hội, phân bố của cải, tuyển sinh đại học... và dần nhận thức được những bất lợi mang tính cấu trúc đã liên tục đặt lên người Mỹ gốc Phi tại nước Mỹ. Thêm nữa, càng học thì tôi càng sốc khi biết rằng mình chẳng biết gì trước đây. Đồng thời, tôi cũng theo dõi như cả thế giới khi mạng sống của Eric Garner, Tamir Rice, Walter Scott, Freddie Gray, Philando Castile, Botham Jean, Atatiana Jefferson và Ahmaud Arbery bị tước đoạt. 

Tuần này, một mạng sống khác đã bị lấy đi : George Floyd. Tôi đã xem video về vụ việc vào thứ ba, và một lần nữa tôi kinh hoàng khi chứng kiến cái chết khác của một người da đen. Nhưng với đoạn phim này, có một điều khác đã làm tôi xáo động. 

Đó là trong khi viên cảnh sát da trắng đang dùng gối đè chặt cổ Floyd, thì một cảnh sát Châu Á đã đứng im lặng và thậm chí nhiều lúc còn ngăn cản người phản đối can thiệp. Đối với tôi, đó là sự đại diện hoàn hảo cho sự đồng lõa của người Mỹ gốc Á trong phân biệt chủng tộc. 

Tôi thừa nhận rằng có những người Mỹ gốc Á đã đấu tranh cùng những người láng giềng Mỹ gốc Phi chống lại sự phân biệt chủng tộc trong suốt lịch sử. Tuy nhiên, họ chẳng bao nhiêu so với những người Mỹ gốc Á đã chọn cách thờ ơ tối đa hoặc đồng lõa một cách tồi tệ nhất trong nạn phân biệt chủng tộc. 

Có nhiều lý do lịch sử và văn hóa phức tạp cho hiện trạng này của người Mỹ gốc Á mà nói hoài không dứt. Chúng ta có thể nói về thực tế rằng nhiều người Châu Á coi trọng sự hòa hoãn và thua thiệt, thậm chí phải trả giá bằng sự chính trực và công bằng. Chúng ta có thể nói về một thực tế là nhiều người di dân Châu Á đã đến từ các quốc gia cai trị bởi các kẻ độc tài, nơi mà những ai sinh hoạt chính trị ngoài luồng có thể bị bắt và dẫn đến tù đày hoặc cái chết. 

Nhưng có một sự thật là, thường thường thì người Mỹ gốc Á đã chọn đứng về phía người da trắng phân biệt chủng tộc đối với nạn nhân da đen. Phần lớn cuộc đàm luận quốc gia về chủng tộc là tập trung vào mối quan hệ giữa người da trắng và người da đen. Kết quả là người Châu Á thường được thấy là nằm giữa sự xáo trộn đó. Tuy nhiên, phần lớn người Châu Á đều không muốn ở giữa. 

Mặc dù chúng ta cũng đã bị trải qua một lịch sử lâu dài bị kỳ thị chủng tộc dưới tay của những người hàng xóm da trắng, nhưng nhiều người trong chúng ta vẫn xem chuyện đồng hóa vào văn hóa da trắng là con đường để thực hiện giấc mơ Mỹ. Và vì vậy chúng ta làm việc, học hành chăm chỉ, chúng ta không dám đụng chạm ai. Chúng ta tiếp tục sống theo tình trạng của khuôn mẫu thiểu số, mà phần lớn có được là nhờ sự trả giá của người Mỹ gốc Phi. 

Người Mỹ gốc Á chúng ta có thể không nói ra nhưng nhiều người đã nhập tâm sự kỳ thị. Chúng ta tin rằng cách để thành công là làm việc chăm chỉ và chúng ta hãnh diện vì đã làm được điều đó. Chúng ta đến đất nước này tay trắng, nói tiếng nước mình, làm việc chăm chỉ, dành dụm tiền của rồi đạt được giấc mơ Mỹ. Và vì thế, khi nhìn tình trạng của người Mỹ gốc Phi thì chúng ta cho rằng họ không siêng năng như chúng ta để kết luận rằng, chỉ có họ mới đáng trách. 

Đáng tiếc là, cách nghĩ này đã khiến người Mỹ gốc Á rơi vào tình trạng bất hòa về chính trị xã hội với người Mỹ gốc Phi. Sự phân chia này là rõ ràng nhất trong các cuộc tranh luận về chính sách ưu đãi người thiểu số (affirmation action), điều đã trở thành vấn đề chính trị xác quyết với nhiều người Mỹ gốc Á. Trong nhiều trường đại học, sinh viên gốc Á chiếm quá đông trong khi người Mỹ gốc Phi lại quá ít, vì vậy chính sách ưu đãi người thiểu số này lại chống người Mỹ gốc Á nhưng có lợi cho người Mỹ gốc Phi. 

Sự chia rẽ chính trị này được thấy rõ qua các sự kiện như vụ bạo động tại Los Angeles, mà phần lớn những kẻ bạo loạn là người Mỹ gốc Phi đã gây ra thiệt hại đáng kể cho các cửa tiệm của người Mỹ gốc Á, và vụ bắn chết Akai Gurley do một cảnh sát người Mỹ gốc Á đã vô tình nổ súng và giết chết một người Mỹ gốc Phi. 

Tuy nhiên, cách nghĩ vậy là một bức tranh rất không đầy đủ. Điều mà nhiều người Mỹ gốc Á không nhận ra được là sự thành công của chúng ta chủ yếu được xây dựng trên lưng của chính người Mỹ gốc Phi. Xét cho cùng, nếu chế độ nô lệ của người Mỹ gốc Phi không tồn tại, Hoa Kỳ có thể không phải là một quốc gia được mong muốn để di dân đến như vậy. Chính nhờ sự nô lệ của người Mỹ gốc Phi mà người Mỹ đã xây dựng được sự thịnh vượng ngay từ đầu. Thêm vào đó, nếu không phải nhiều thế hệ người Mỹ gốc Phi đã tranh đấu cho quyền lợi của họ trước khi hầu hết chúng ta đến đây, thì có thể người Mỹ gốc Á cũng sẽ không dễ dàng được chấp nhận tại xứ này. Cho dù có thế nào thì cộng đồng người Mỹ gốc Phi cũng đã lót đường cho các sắc dân thiểu số khác đến Mỹ.

Sự thực là người Mỹ gốc Á của chúng ta đã vô tình gặt hái thành công từ những đau khổ của những người Mỹ gốc Phi. Điều tối thiểu mà chúng ta có thể làm là sát cánh cùng họ khi họ vẫn còn tiếp tục chịu đựng. 

Có lẽ một số người trong chúng ta, giống như tôi trước kia, sẵn sàng thú nhận rằng chúng ta không hiểu biết hoặc không được học về trải nghiệm của người Mỹ gốc Phi, nhưng điều đó không biến chúng ta thành đồng lõa với nạn phân biệt chủng tộc. Suy cho cùng, chúng ta chẳng thực sự sát hại ai, nhưng đôi khi chính sự thụ động của những người ngoài cuộc như chúng ta đã kéo dài nạn phân biệt chủng tộc trong xã hội Mỹ. 

Martin Luther King, Jr. đã từng viết trong Tâm thư từ Ngục tù Birmingham rằng, "Tôi phải thú nhận rằng, tôi đã thất vọng nặng nề với những người da trắng ôn hòa trong vài năm qua. Tôi hầu như đạt đến kết luận đáng tiếc rằng, sự ngăn chặn to lớn trong cuộc tranh đấu tự do của người da đen không phải là ủy viên công dân da trắng hay một kẻ Ku Klux Klan, mà là người da trắng ôn hòa, những người hết lòng với "trật tự" hơn là công lý, những người thích một nền hòa bình tiêu cực không có bóng dáng sự căng thẳng để đạt đến một nền hòa bình tích cực hiện diện trong công lý, những người liên tục nói "tôi đồng ý với bạn trong mục tiêu nhưng tôi không thể đồng ý với những phương pháp hành động trực tiếp của bạn", người ta tin rằng anh ta có thể đặt thời gian biểu cho sự tự do của người khác một cách gia trưởng ; những người sống trong một khái niệm thời gian huyền hoặc và không ngừng khuyên người da đen chờ đợi đến dịp thuận tiện hơn. Sự hiểu biết nông cạn từ những người có thiện chí sẽ khó chịu hơn là sự hiểu lầm tuyệt đối của những kẻ có tâm địa xấu. Chấp nhận sự thờ ơ gây nhiều bối rối hơn nhiều so với sự chối bỏ thẳng thừng". 

Ở đây, Mục sư King đang mô tả về người đàn ông da trắng ôn hòa trong thời của mình, những người hiểu biết nông cạn, rất tận tâm với trật tự hơn là công lý và thích sự hòa bình tiêu cực hơn so với sự hiện diện của công lý. Một mô tả thật thích hợp với rất nhiều người Mỹ gốc Á ngày nay. 

Một tình cảm tương tự được thể hiện trong Phúc âm Gia-cơ 2 : 1-7 rằng, "Hỡi anh chị em yêu dấu là tín hữu của Chúa Cứu Thế Giê-su vinh hiển, đừng thiên vị người nào. Giả sử có một người mặc áo quần sang trọng, đeo nhẫn vàng bước vào lúc đang thờ phụng, đồng thời cũng có một người nghèo mặc áo quần rách rưới, dơ bẩn cũng bước vào. Anh chị em niềm nở nói với người mặc áo quần sang trọng, "Mời ông ngồi chỗ tốt nầy". Rồi bảo người nghèo, "Đứng sang đàng kia", hoặc "Ngồi dưới đất nơi chân ta". Vậy nghĩa là sao ? Anh chị em đã thiên vị, do ác tưởng trong lòng, trọng người nầy khinh người kia. Anh chị em yêu dấu, hãy nghe đây ! Thượng Đế đã chọn những người nghèo trên thế gian để họ giàu có trong đức tin và nhận được Nước Trời mà Ngài đã hứa cho những ai yêu mến Ngài. Nhưng anh chị em xem thường người nghèo. Chính kẻ giàu là những người muốn cai quản cuộc đời anh chị em, lôi anh chị em ra tòa. Họ cũng là những người báng bổ đến danh Chúa Giê-su là Đấng chủ tể của anh chị em".

Chúng ta có thể nói, "Chúng tôi đâu tham gia làm hại người nghèo nào", nhưng há không phải sự thiên vị của chúng ta với người giàu đã duy trì sự bất bình đẳng giữa người giàu kẻ nghèo ? Tôi tin rằng nguyên tắc tương tự có thể được áp dụng cho vấn đề chủng tộc. Nhiều người Mỹ gốc Á đã thể hiện phần nào đó bằng cách tôn vinh những người da trắng trong khi coi khinh những người da đen. Không phải sự thiên vị của chúng ta dành cho những người da trắng đã duy trì sự bất bình đẳng giữa người da trắng và người da đen hay sao ? 

Thú thật rằng, tôi, giống viên cảnh sát gốc Á tại hiện trường cái chết của George Floyd, là một phần của vấn đề. Trong phần lớn cuộc đời mình, tôi đã đồng lõa với nạn phân biệt chủng tộc đối với người Mỹ gốc Phi và tôi hoàn toàn không biết gì về sự phân biệt chủng tộc đó. Tôi hướng về trật tự hơn là công lý. Tôi tìm cách tôn vinh quyền lực, không nhận ra rằng làm như vậy là coi khinh của những người yếu thế. 

Nhưng đó không phải cách trong kinh thánh. Thánh Gia-cơ nói, "không phải đó là những kẻ giàu có áp bức và lôi anh chị em ra tòa sao ?" mà tôi cũng xin thêm rằng, "không phải những kẻ kỳ thị với người Mỹ gốc Phi cũng kỳ thị cả với người Mỹ gốc Á sao ?".

Tôi không muốn u mê nữa. Tôi không muốn im lặng nữa. Tôi không muốn đồng lõa nữa. Các bạn người Mỹ gốc Á, hãy dừng chuyện bảo vệ nạn kỳ thị trong văn hóa của chúng ta. Hãy cùng đứng lên đoàn kết với những người bạn Mỹ gốc Phi.

Larry Lin

Nguyên tác : Asian American Complicity in Racism - Reformed Margings, 28/05/2020

Nhã Duy chuyển dịch

(04/06/2020)

Published in Diễn đàn

Hoa Kỳ đối mặt với nạn kỳ thị chủng tộc và bạo lực cảnh sát

Hồ sơ được các nhật báo lớn tại Pháp ra ngày hôm nay, 03/06/2020 đề cập đến nhiều nhất là các cuộc biểu tình bạo động tại Mỹ, được Le Monde nêu thành tựa lớn trang nhất.

hoaky1

Chân dung George Floyd được trương lên trong cuộc biểu tình bên ngoài Nhà Trắng (Washington D.C.- Hoa Kỳ) ngày 02/06/2020. Reuters - Jonathan Ernst

Một chủ đề quan trọng khác chiếm lĩnh trang nhất hai tờ Libération và Le Figaro là vòng 2 cuộc bầu cử hội đồng thành phố và thị xã Pháp, được dự trù vào ngày 28/06 tới đây sau hai tháng bị hoãn vì dịch Covid-19. Riêng nhật báo công giáo La Croix như đã trở về nguồn, với một đề tài tôn giáo, cũng như tờ báo kinh tế Les Echos, nhấn mạnh một vấn đề thương mại.

Ở ngay trang nhất, bên trên một tấm ảnh sốc cho thấy hai nhân viên cảnh sát Mỹ, súng phóng lựu đạn cay trên tay, một người ra hiệu cho một người da đen ra khỏi xe, phía dưới là hai cô gái đang nằm mọp dưới đất, tay giơ lên khỏi đầu, Le Monde chạy hàng tựa lớn : "Trước những cuộc biểu tình phản đối, Trump chọn (biện pháp dùng) võ lực".

Tờ báo giải thích : Vào lúc làn sóng phẫn nộ có quy mô lịch sử đang lay động nước Mỹ, hôm thứ Hai vừa qua, Donald Trump đã đe dọa triển khai quân đội để dẹp tan "những vụ bạo loạn" bị ông đồng hóa với nạn "khủng bố trong nước".

Le Monde ghi nhận là các cuộc biểu tình phản đối các hành vi bạo lực của cảnh sát đã lan rộng ra toàn bộ các thành phố lớn của Mỹ, tập hợp cả người da trắng lẫn da đen, kèm theo nhiều vụ cướp phá hôi của ở một số nơi.

Tờ báo nhận định : "Một tuần lễ sau cái chết của George Floyd, một người Mỹ gốc Châu Phi, ngay trong lúc bị cảnh sát bang Minnesota (Hoa Kỳ) bắt giữ một cách thô bạo, tình trạng rạn nứt giữa các chủng tộc đã nổi cộm lên trong cuộc vận động tranh cử tại Mỹ.

Sử gia Pháp : Dư luận đã nhiều lần phẫn nộ, nhưng vô hiệu

Le Monde cũng giới thiệu trên trang nhất nội dung bài phỏng vấn sử gia Pháp Christian Delage, giám đốc Viện Nghiên cứu Lịch sử Thời hiện tại IHTP, giải thích làn sóng phẫn nộ hiện nay, theo đó, cho đến nay, các đoạn video về các hành vi bạo lực nhắm vào người Mỹ gốc Châu Phi đã nhiều lần khuấy động dư luận, nhưng không làm cho tác giả các hành vi đó bị kết án.

Riêng về các hình ảnh liên quan đến cái chết của George Floyd, sử gia Pháp cho rằng thái độ của thủ phạm là viên cảnh sát Derek Chauvin, lạnh lùng và kiên quyết, bất chấp tiếng kêu của nạn nhân, thể hiện một tâm lý "không xem người khác là con người" không thể chấp nhận được.

Trump "đặt cược" trên võ lực để chống biểu tình

Nhật báo thiên hữu Le Figaro cũng nêu bật tình hình nước Mỹ trên trang nhất, dù không dành tựa chính cho đề tài này.

Trên nền một bức ảnh cho thấy tổng thống Mỹ đi ngang qua một toán cảnh sát chống bạo động được trang bị đầy đủ, Le Figaro chạy hàng tựa : "Donald Trump đặt cược trên võ lực, phong trào phản đối đang cực đoan hóa".

Theo tờ báo Pháp, 8 ngày sau cái chết của George Floyd, một người da đen bị một sĩ quan cảnh sát da trắng sát hại, làn sóng giận dữ chống phân biệt chủng tộc và các hành vi bạo lực của cảnh sát tiếp tục gia tăng bất chấp giọng điệu đanh thép của tổng thống Donald Trump.

Le Figaro đã dành hai trang báo để phân tích sự kiện này, đặc biệt ghi nhận việc tổng thống Mỹ bị tố cáo là cố tình khiêu khích, kích động phong trào phản đối thay vì tìm cách xoa dịu tình hình.

Khủng hoảng niềm tin tại Mỹ

Tình hình bạo động ở Mỹ đã được nhật báo Les Echos phân tích dưới góc độ kinh tế, gợi lên một cuộc "khủng hoảng niềm tin" trong một hàng tựa nhỏ ở trang nhất.

Theo tờ báo kinh tế Pháp, vốn đã bị dịch Covid-19 làm tê liệt, hai ngành thương mại và du lịch Mỹ giờ đây lại lo ngại về hậu quả kinh tế của các vụ biểu tình, bạo động đang bùng lên sau cái chết của George Floyd tại Minneapolis.

Những thương hiệu lớn như Target, Adidas, Nike, Walmart, Starbucks thậm chí McDonald đã cho các cửa hiệu của mình tại nhiều thành phố đóng cửa vì "an toàn cho các nhân viên".

Trong địa hạt Chính trị, ứng viên tổng thống đảng Dân chủ Joe Biden vào hôm Thứ Ba, đã cố gắng kêu gọi đoàn kết, nhưng theo Les Echos, cuộc tranh luận về kỳ thị chủng tộc và bạo lực của cảnh sát vẫn tiếp tục bùng lên gay gắt.

Nhật báo La Croix cũng đề cập đến làn sóng phẫn nộ tại Hoa Kỳ với một nhận định bi quan được nêu lên trong một hàng tựa nhỏ ở trang nhất : "Công cuộc cải cách bất khả thi của ngành cảnh sát Mỹ". 

Cánh tả Pháp đoàn kết tại vòng 2 cuộc bầu cử địa phương

Như nói ở trên, Libération đã dành tựa lớn trang nhất cho vòng 2 cuộc bầu cử hội đồng thành phố và thị xã sắp mở ra tại Pháp.

Libération quan tâm trước tiên hết đến sự kiện các đảng cánh tả Pháp đã thành công được trong việc liên minh với nhau nhằm giành thắng lợi nhân vòng hai cuộc bầu cử sắp tới đây. Tờ báo thiên tả Pháp tương đối lạc quan khi ghi nhận : "Tại nhiều thành phố lớn, cánh tả hy vọng giành được chiến thắng vào ngày 28 tháng Sáu tới đây, một thắng lợi đánh dấu một bước khởi đầu mới".

Dựa trên danh sách các liên danh tranh cử đã được đăng ký vào hôm qua, 02/06, tờ báo nhận thấy là tại đại đa số các thành phố lớn, trung bình và nhỏ, các đảng xanh (Sinh thái) hồng (Xã hội) và đỏ (Cộng sản) đã đồng ý "tiến bước tay trong tay để giành thắng lợi, trước hết làm giữ lại cứ địa của mình (Paris, Nantes, Rennes, Clermont-Ferrand…), và tiếp đến là thực hiện được mơ ước giành được đất của cánh hữu".

Tuy nhiên Libération cũng nhìn thấy là mặt trời không chiếu sáng ở mọi nơi đối với cánh tả. Việc hòa chung danh sách ứng cử viên đã thất bại ở Strasbourg, thủ phủ miền Đông Pháp sau nhiều tiếng đồng hồ thương lượng, hay tại Lille, thủ phủ miền Bắc. Tại hai nơi này, những tranh chấp trong quá khứ cũng như tham vọng cá nhân đã khiến cho đàm phán liên minh thất bại, và hai đảng sinh thái và Xã Hội đã đổ lỗi cho nhau.

Trong bài xã luận mang tựa đề "Bài học", Libération nhận thấy là người ta dự đoán trước, với một xác suất cao, là sẽ có một người thắng và một người thua trong vòng 2 này.

Bên thắng là đảng cánh hữu Những người Cộng hòa (LR), đã nắm được nhiều thành phố và thị xã, và lần này sẽ chiếm thêm được nhiều đơn vị khác, và bên thua là đảng Cộng hòa Tiến bước LREM, không có được cơ sở ở địa phương, lại mất đi thiện cảm của dân chúng do việc dư luận chung đang bất bình với tổng thống Macron của đảng Cộng hòa Tiến bước.

Còn cánh tả thì sao, Libération đã tự hỏi để trả lời ngay rằng : "Những ai nghĩ rằng cánh tả đang hấp hối lần này sẽ thất vọng. Đội ngũ đại biểu mãn nhiệm cũng có thể khoe thành tích như ở Rennes, Nantes, hay Grenoble. Xu hướng sinh thái cũng đang vươn lên như đã thấy trong cuộc bầu cử Nghị Viện Châu Âu gần đây, và thành tích của đảng Xanh có lẽ sẽ được lập lại nhân kỳ bầu cử này.

Bầu cử địa phương tại Pháp : Đảng cầm quyền bất lợi

Không hẹn mà gặp, Le Figaro cũng dành tựa chính trang nhất cuộc bầu cử sắp tới tại Pháp : "Tại từng thành phố, các chìa khóa (để hiểu) các trận đấu nhân vòng 2".

Tờ báo cho biết là để dự đoán ai là người có triển vọng đắc cử sáp tới đây, họ đã nghiên cứu tương quan lực lượng tại 240 thành phố Pháp có trên 20.000 dân, phân tích các yếu tố thuận lợi hay bất lợi cho các đảng phái chính.

Cũng như Libération, tờ báo thiên hữu Pháp cho rằng đảng Cộng Hòa Tiến Bước của tổng thống Macron đã nhìn thấy trước thất bại nặng nề, trong lúc đảng cánh hữu Những Người Cộng Hòa hy vọng vươn lên trở lại, làm bệ phóng cho cuộc bầu cử tổng thống năm 2022.

Riêng về cảnh tả, Le Figaro cho rằng phe sinh thái, môi trường có thể sẽ thấy hy vọng không thành.

Trong bài xã luận, Le Figaro tập trung phân tích về tình thế của tổng thống Pháp Macron đang nhìn thấy trước thất bại của đảng do ông thành lập.

Theo phân tích của tờ báo trong cuộc bầu cử này, cục diện chính trị Pháp sẽ trở lại như thời trước khi phong trào Cộng hòa Tiến bước vươn lên, với đảng cầm quyền bị kẹt giữa gọng kềm tả hữu, và phải tự bằng lòng với mức trung bình thường lệ của cánh trung tại Pháp : khoảng 15%, tùy theo ứng viên và tình huống tại các đơn vị bầu cử.

Amazon đại thắng nhờ Covid-19

Tựa trang nhất của nhật báo Les Echos hôm nay nêu bật tình hình tập đoàn bán hàng trên mạng Mỹ Amazon, được tờ báo cho là "Kẻ đại thắng trong cuộc khủng hoảng (Covid-19)".

Theo Les Echos, giá trị của tập đoàn của nhà tỷ phú Jeff Bezos đã tăng khoảng 30% kể từ tháng Giêng, và đã vượt quá 1.200 tỷ đô la. Một trong những hệ quả là Amazon đã được vay tiền với tỷ lệ thấp nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.

Vấn đề là đại dịch vừa qua đồng thời làm trầm trọng thêm các mối căng thẳng xã hội giữa nhân viên và giới lãnh đạo.

Trọng Nghĩa

Published in Quốc tế

Bộ Quốc phòng Mỹ đầu tư lớn cho công nghiệp y tế để không lệ thuộc Trung Quốc (RFI, 01/05/2020)

Theo AFP ngày 01/05/2020, Bộ Quốc phòng Mỹ đã chi hàng trăm triệu đô la cho chương trình phục hồi cơ sở ngành công nghiệp sản xuất dụng cụ y tế, bị bỏ rơi trong nhiều năm qua, khiến Mỹ bị lệ thuộc vào Trung Quốc.

my1

Nhân viên một nhà máy của General Motors lắp ráp máy trợ thở điều trị bệnh Covid-19, tại Kokomo, bang Indiana, Mỹ, ngày 30/04/2020. Reuters - CHRIS BERGIN

Nguồn ngân quỹ của Bộ Quốc phòng được huy động trong khuôn khổ cơ sở Đạo luật Sản xuất quốc phòng (Defense Production Act) lên tới 1 tỷ đô la, đã được phân bổ cho chính quyền các bang nhằm huy động khu vực công nghiệp tư nhân tham gia vào việc bảo đảm nhu cầu an ninh quốc gia.

Trong trận dịch Covid-19, từ nguồn quỹ này, Bộ Quốc phòng Mỹ đã chi hàng trăm triệu đô la để mua khẩu trang, dụng cụ xét nghiệm và nhiều dược phẩm khác để chống dịch.

Trong một cuộc họp báo hôm 30/04/2020, điều phối viên các hoạt động chi tiêu của Lầu Năm Góc, bà Ellen Lord, cho biết nguồn đầu tư đó giúp Hoa Kỳ có đủ khả năng tự sản xuất các mặt hàng phục vụ cho nhu cầu chăm sóc y tế của quốc gia về lâu dài.

Bà cũng nhấn mạnh : "Giai đoạn này, chúng tôi đang có những vấn đề về an ninh quốc gia với Trung Quốc và tôi cho rằng chúng ta phải hiểu sự lệ thuộc vào Trung Quốc của chúng ta đã cao hơn mức cho phép".

Rất nhiều hợp đồng đã được ký trong tháng 4, trong đó đặc biệt có hợp đồng trị giá 133 triệu đô la trao cho các công ty 3M, Honeywell và Owens & Minor để sản xuất khẩu trang dùng trong phẫu thuật loại N95, để sản xuất 13 triệu chiếc một tháng.

Trước khi xảy ra khủng hoảng dịch virus corona, một nửa số khẩu trang nhập khẩu của Mỹ đến từ Trung Quốc. Khi dịch bùng lên tại Mỹ, trang thiết bị bảo hộ và chăm sóc y tế của Mỹ, từ chiếc khẩu trang cho tới bộ xét nghiệm hay máy trợ thở, đã nhanh chóng rơi vào tình trạng khan hiếm trầm trọng.

Ngoài ngân quỹ trong phạm vi Defense Production Act, Bộ Quốc phòng Mỹ còn huy động các nguồn tiền riêng để thúc đẩy nguồn cung ứng trang thiết bị y tế và nghiên cứu phục vụ chống dịch Covid-19. Theo bà Allen Lord, chương trình đầu tư của Bộ Quốc phòng có mục tiêu đáp ứng các nhu cầu trước mắt và sau đó khôi phục nguồn dự trữ chiến lược của đất nước, tiến tới sản xuất đủ trong nước các vật tư y tế để không bị lệ thuộc vào nhập khẩu.

Theo AFP, ngoài các dụng cụ xét nghiệm, Mỹ vẫn còn lệ thuộc rất nhiều vào Trung Quốc và Ấn Độ về nguyên liệu cơ bản sản xuất thuốc. Một cuộc điều trần tại Quốc hội năm 2019 cho biết Mỹ vẫn phải nhập khẩu 80% thành phần để bào chế thuốc.

Anh Vũ

****************

Covid-19 : Mỹ thiệt hại nặng về nhân mạng và kinh tế (RFI, 01/05/2020)

Ngày 30/04/2020, tại Hoa Kỳ đã có thêm 2.053 bệnh nhân Covid-19 tử vong, và đây là ngày thứ ba liên tiếp dịch bệnh cướp đi mạng sống của hơn 2.000 người trong 24 giờ, theo ghi nhận của đại học John Hopkins. Như vậy, đã có gần 63.000 trong số trên một triệu người Mỹ bị nhiễm virus corona đã qua đời.

my2

Dân nghèo xếp hàng chờ nhận đồ ăn miễn phí do Hiệp hội Tế bần Thiên Chúa giáo Brooklyn and Queens phân phát, Brooklyn, Thành phố New York, Mỹ, ngày 24/04/2020 Reuters - Mike Segar

Dịch Covid-19 không chỉ là một tai họa về y tế mà còn đang tiếp tục tàn phá kinh tế Hoa Kỳ : hơn 30 triệu người lao động bị mất việc.

Thông tín viên Anne Corpet từ Washington cho biết :

"Đây là một kỷ lục lịch sử : Trong sáu tuần lễ, 30,3 triệu người đăng ký xin trợ cấp thất nghiệp, tương đương với một người đi làm trên sáu. Đội ngũ thất nghiệp này đông bằng dân số của hai thành phố Chicago và New York cộng lại.

Số người đăng ký thất nghiệp tăng chậm lại so với hồi tháng 3/2020, nhưng các chuyên gia dự báo tỷ lệ thất nghiệp sẽ còn tiếp tục tăng lên, và có thể đạt đến 20% trong tháng Tư. Đây là mức cao nhất được ghi nhận tại Mỹ kể từ cuộc Đại Suy thoái của những năm 1930.

Các biện pháp dỡ bỏ phong tỏa từng bước tại khoảng 15 bang chưa đủ để khởi động lại kinh tế. Các ngành công nghiệp chật vật mở cửa trở lại. Phần lớn dân Mỹ không đi du lịch và giới hạn tối đa các khoản chi tiêu.

Theo thống kê công bố vào thứ Năm 30/04, chỉ số tiêu thụ của các hộ gia đình, vốn chiếm đến hơn 2/3 các sinh hoạt kinh tế, đã giảm 7,5% trong tháng 3 vừa qua".

Thanh Hà

********************

Tổng thống Trump : Virus corona xuất phát từ một phòng thí nghiệm Trung Quốc (RFI, 01/05/2020)

Trả lời một phóng viên ngày 30/04/2020, tổng thống Mỹ khẳng định có bằng chứng cho thấy siêu vi corona chủng mới xuất phát từ một phòng thí nghiệm Trung Quốc tại Vũ Hán. Chủ nhân Nhà Trắng đồng thời cho biết ý định áp dụng lại các biện pháp thuế quan để trừng phạt Bắc Kinh.

my3

Tổng thống Mỹ Donald Trump phát biểu tại phòng Bầu Dục, Nhà Trắng, Washington, ngày 30/04/2020 Carlos Barria/Reuters

Thông tín viên đài RFI Eric de Salve từ San Francisco tường trình :

Khi một nhà báo hỏi ông có những bằng chứng cho phép tin tưởng một cách chắc chắn rằng virus corona xuất phát từ một phòng thí nghiệm tại Vũ Hán hay không, Donald Trump không do dự trả lời : "Vâng, tôi có" và nói luôn là ông không thể đi sâu hơn vào chi tiết.

Cho đến nay, tổng thống Mỹ chỉ trích Trung Quốc thiếu minh bạch, tố cáo Bắc Kinh che giấu thông tin liên quan đến virus corona. Nhưng lần này tổng thống Hoa Kỳ đã đi xa hơn khi nêu lên khả năng Trung Quốc cố tình phát tán virus. Ông nói : "Nhẽ ra Trung Quốc có thể ngăn chặn virus lây lan nhưng Bắc Kinh đã không làm điều đó. Có thể do không có khả năng ngăn chặn virus, nhưng cũng có thể là Trung Quốc đã để mặc cho siêu vi lây lan".

Tổng thống Mỹ phát biểu như trên chỉ vài giờ sau khi tình báo Mỹ ra thông cáo, sau khi đã điều tra, với kết luận "virus corona không phải do con người tạo ra và không bị biến đổi gen", trái với những tin đồn trước đó.

Điều đó không cấm cản tổng thống Trump ám chỉ rằng Covid-19 có thể là một đòn để Bắc Kinh trả đũa Washington đã tiến hành chiến tranh thương mại. Vẫn theo Donald Trump, Trung Quốc muốn tạo điều kiện thuận lợi cho đối thủ của ông là Joe Biden đắc cử tổng thống Hoa Kỳ vào tháng 11 tới đây, bởi như chính Trump tuyên bố "Trung Quốc không muốn tôi tái đắc cử".

Thanh Hà

Published in Quốc tế

Thiếu đầu ra, thừa nguồn cung, khả năng cất trữ bão hòa… thị trường dầu lửa từ nhiều tuần qua không ngừng biến động. Đỉnh điểm là vào ngày 20/04/2020, giá dầu thô WTI của Mỹ niêm yết trên sàn chứng khoán New York, lao dốc xuống dưới ngưỡng 0 USD/thùng dầu và dừng ở đỉnh giá gần -38 USD cho một thùng dầu 159 lít. Thế mạnh cường quốc dầu hỏa hàng đầu thế giới của Mỹ bị lung lay. Kế hoạch chấn hưng kinh tế sau đại dịch của nguyên thủ Mỹ cũng bị đe dọa.

oil1

Giá dầu thô WTI của Mỹ ngày 20/04/2020 là -37,63 USD/thùng Reuters - DADO RUVIC

"Đại phong tỏa" : Đại hạn của ngành dầu hỏa

Thị trường dầu lửa thế giới và nhất là tại Mỹ giờ chẳng khác gì trong trạng thái "trợ thở nhân tạo". Virus corona hoành hành khiến dầu thô trên thị trường thế giới liên tục rớt giá từ nhiều tháng nay : 63 đô la/thùng (tháng Giêng năm 2020), rồi 35 đô la/thùng (tháng Ba), 22 đô la/thùng (trung tuần tháng Tư).

Nhưng có lẽ thê thảm nhất là giá dầu thô WTI (West Texas Intermediate) của Mỹ. Khởi động đầu năm 2020 ở mức 60 USD/thùng, dầu thô WTI cũng lần lượt rớt giá như đối thủ cạnh tranh Brent để rồi đến cuối ngày thứ Hai 20/04, dừng lại ở mức -37,63 USD/thùng. Điều đó có nghĩa là người bán phải trả tiền cho người mua để tống khứ hàng.

Vì đâu nên nỗi ? Trước hết, giới chuyên gia đều có chung một nhận định : Virus corona chủng mới là "thủ phạm" đầu tiên. Dịch Covid-19, bùng lên từ Vũ Hán Trung Quốc, hoành hành trên khắp các Châu lục đẩy thế giới vào một trạng thái chưa từng có trong lịch sử nhân loại : Đại Phong Tỏa.

Hơn 4,4 tỷ người dân trên khắp thế giới được yêu cầu phải ở trong nhà, các hoạt động đi lại từ trên bộ, hàng không, hàng hải và sản xuất trên thế giới hầu như bị ngưng trệ nhất là tại các quốc gia phát triển, làm tê liệt nền kinh tế toàn cầu. Hệ quả là mức tiêu thụ nhiên liệu giảm, nhu cầu mua dầu lửa giảm.

Ông Vincent Collen, nhà báo chuyên trách mục Dầu hỏa của nhật báo kinh tế Les Echos đưa ra con số ước tính : "Ở quý hai, các nhà phân tích dự báo mức cầu thế giới giảm từ 20 – 30%, thậm chí một số nhà quan sát còn cho đến 35%, nghĩa là giảm từ 20 – 30 triệu thùng/ngày so với một mức tiêu thụ lúc bình thường là 100 triệu thùng/ngày. Đây tuyệt đối là điều chưa từng thấy !"

Moskva – Riyad đọ sức, Washington lãnh đạn ?

Tình hình càng thêm trầm trọng khi Nga và Saudi Arabia lao vào cuộc chiến giá cả hồi trung tuần tháng 3/2020. Tức giận trước việc Nga từ chối cùng giảm bớt sản lượng là 10 triệu thùng/ngày, mức cao nhất chưa từng có trong lịch sử OPEC, Saudi Arabia thông báo mở thêm van dầu, tăng mức khai thác kể từ ngày 01/04, đẩy giá dầu lao dốc nhanh hơn nữa.

Vì sao Nga và Saudi Arabia lại đối đầu nhau vào lúc thị trường dầu lửa đang trong giai đoạn căng thẳng ? Theo các nhà quan sát, câu trả lời nằm ở phía Mỹ. Các hãng khai thác dầu khí Nga bất mãn vì phải giảm sản lượng. Họ cho rằng trong quá khứ đã giảm nhiều lần. Moskva chỉ trích Washington tiếp tục tăng mức sản xuất và như vậy đe dọa thị phần của Nga.

Về phía Saudi Arabia, giới phân tích lấy làm ngạc nhiên về phản ứng khó hiểu của thái tử Mohammed Ben Salman. Quyết định mở van dầu có thể làm tổn hại đến Mỹ, đồng minh chiến lược của Saudi Arabia tại vùng Vịnh. Nhà báo Vincent Collen nhận định như sau :

"Khi Nga sập cửa tại cuộc họp OPEC ngày 06/03, Saudi Arabia đã có một thái độ cứng rắn, không chỉ không giảm sản lượng, không duy trì mức khai thác hiện có, mà còn tăng sản lượng lên từ gần 10 triệu thùng/ngày lên hơn 12 triệu thùng/ngày và như vậy, còn làm gia tăng hơn nữa hiện tượng dư thừa nguồn cung so với mức cầu.

Đúng là người ta bắt đầu thắc mắc về chiến lược này của Saudi Arabia, bởi vì đồng minh chính của nước này là Hoa Kỳ. Vương quốc dầu hỏa này rất cần sự hỗ trợ về mặt quân sự của Mỹ trong vùng Vịnh để đối phó với Iran. Họ tăng mức sản xuất lên đến ngần ấy để rồi làm cho giá dầu bị giảm đến mức như vậy, và một trong những nạn nhân đầu tiên chính là ngành sản xuất dầu lửa của Mỹ. Thế nên, người ta không khỏi thắc mắc về động cơ của Saudi Arabia.

Có một điều chắc chắn, không có gì khác, đó là những quyết định chính trị. Một số chuyên gia khẳng định là Nga cũng như Saudi Arabia, bề ngoài có vẻ đang đọ sức với nhau, nhưng trên thực tế, cả hai đều có lợi về những gì đang diễn ra lúc này".

Cuộc chiến giá dầu lần này buộc Hoa Kỳ quay trở lại với bàn cờ địa chính trị dầu lửa. Thị trường rớt giá nhanh chóng khiến tổng thống Trump lo lắng. Theo quan sát của nhà báo Collen, thông thường ông Donald Trump chỉ can thiệp vào các cuộc họp của OPEC qua mạng xã hội quen thuộc Twitter nhằm hạn chế giá dầu tăng vọt gây tổn hại cho người tiêu dùng Mỹ.

Vậy thì lần này giá dầu thấp, tại sao tổng thống Mỹ lại can thiệp ? Nguyên thủ Mỹ cho rằng trong bối cảnh phong tỏa hiện nay, người dân Mỹ không được hưởng lợi, nhưng nhiều doanh nghiệp Mỹ tại những bang chiến lược, bị đe dọa và có nguy cơ phá sản.

Do vậy, tổng thống Mỹ đã mời gọi Nga, Saudi Arabia và các đồng minh của hai nước này, cùng họp lại để thương thảo. Cuối cùng, OPEC và Nga đã quyết định giảm bớt 10 triệu thùng/ngày trong sản lượng hiện có ngay trong tháng 05 và 06/2020. Sau đó, sẽ giảm 8 triệu thùng/ngày đến cuối 2020, rồi 6 triệu thùng/ngày từ 01/2021 đến 04/2022.

Một thỏa thuận "lịch sử" như tuyên bố của ông Donald Trump. Hay đúng hơn là một thỏa hiệp ngầm giữa ba "ông" dầu hỏa lớn nhất hành tinh : Hoa Kỳ - quốc gia sản xuất hàng đầu thế giới, Nga và Saudi Arabia. Chỉ riêng ba nước này đã chiếm đến 40% sản lượng thế giới.

"Thánh" Trump không cứu được WTI

Chỉ có điều tỷ lệ giảm này lại quá ít không đủ để bù đắp cho mức giảm cầu đến 30% (30 triệu thùng/ngày). Trong khi chờ đợi đến ngày bắt đầu áp dụng chính thức giảm mức sản xuất (01/5), nhu cầu tiêu thụ và mua dầu tiếp tục đà giảm, nhưng các nhà sản xuất lại không mấy hào hứng với việc khóa bớt van dầu. Hệ quả là việc dư thừa sản xuất bắt đầu dẫn đến tình trạng thiếu kho bãi cất trữ như ghi nhận của nhà báo Collen :

"Vấn đề ở chỗ việc khóa van dầu đòi hỏi nhiều thời gian. Đóng một giếng dầu không đơn giản chút nào, rất là tốn kém. Trong một số trường hợp, họ có nguy cơ làm hỏng các trang thiết bị khi buộc phải ngưng sản xuất, bất kể nguyên nhân là gì điều này có nghĩa là giếng dầu đó phải bị đóng vĩnh viễn. Điều đó giải thích vì sao rất nhiều nước sản xuất do dự giảm sản lượng.

Nhưng dẫu sao thì, việc này rồi cũng sẽ phải đến vì một lý do chính đáng đó là người ta không còn chỗ để trữ dầu nữa. Chi phí để cất trữ tăng vọt khắp nơi trên thế giới. Họ bắt đầu phải cất trữ dầu trên các ʺsupertankerʺ, những loại tầu thường dùng để chở dầu. Giờ thì chúng được biến đổi thành những kho trữ dầu nổi. Tiền thuê những chiếc tầu dầu đó tăng vọt : Đầu tháng Ba, giá thuê một chiếc tầu có sức chứa 2 triệu thùng tầm khoảng 30.000 đô la/ngày nay đã lên thành 150.000 đô la/ngày".

Và chuyện gì đến phải đến. Cung vượt quá cầu. Hệ thống kho bãi thiếu thốn – một trong những điểm yếu của ngành dầu lửa Mỹ, không tìm được khách hàng, lượng "vàng đen" quá thừa thãi của Mỹ đành phải được bán tống bán tháo trong ngày thứ Hai 20/04, cho đợt giao hàng tháng Năm gây khủng hoảng trên thị trường dầu lửa.

Theo chuyên gia Francis Perrin, Viện Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược IRIS trên kênh truyền hình quốc tế Pháp France 24, cuộc khủng hoảng vừa qua tuy chỉ là nhất thời, nhưng sẽ ảnh hưởng phần nào kinh tế và việc làm người dân Mỹ, vốn là một trong những ưu tiên trong chương trình tái tranh cử của ông Donald Trump.

"Dầu gì đi chăng nữa, cuộc khủng hoảng dầu lửa này đe dọa đến lĩnh vực dầu khí tại Mỹ. Đây là một lĩnh vực cực kỳ quan trọng. Đừng quên rằng Hoa Kỳ là quốc gia sản xuất dầu lửa hàng đầu thế giới và là nước sản xuất khí ga tự nhiên hàng đầu. Do vậy, có rất nhiều việc làm tại Mỹ có liên quan đến các ngành khai thác, phát triển và sản xuất dầu và khí ga. Và những hoạt động và việc làm này đang bị cuộc khủng hoảng dầu lửa mà chúng ta đang chứng kiến giáng cho một đòn đau.

Bản thân cuộc khủng hoảng dầu lửa này là hệ quả của cuộc khủng hoảng kinh tế, vốn dĩ cũng do từ cuộc khủng hoảng dịch tễ virus corona mà ra. Thế nên, đối với một quốc gia như Mỹ, đây là một mối họa. Dĩ nhiên, mối họa này là không như nhau trên toàn lãnh thổ nước Mỹ, Texas hay Bắc Dakota quan trọng hơn là New York, nhưng vụ việc ảnh hưởng đến hàng triệu việc làm ở Mỹ.

Đương nhiên tổng thống Mỹ phải lo lắng cho nền kinh tế đất nước, cho việc tái tranh cử của ông, kỳ hạn là vào tháng 11 năm nay, do vậy hành động chính yếu của ông Trump là phải duy trì một nền kinh tế Mỹ khỏe mạnh, kể cả trong lĩnh vực dầu khí, hiện đang bị suy sụp, nhưng tình trạng này sẽ không kéo dài bao lâu".

Trong trước mắt, nhu cầu thế giới chưa thể sớm trở lại ở mức tiêu thụ bình thường cho dù hoạt động kinh tế đang dần hồi phục tại một số nước. Các nhà kinh tế dự báo mức tiêu thụ dầu giảm 10 triệu thùng/ngày cho toàn năm 2020. Giá dầu vẫn sẽ tiếp tục dao động khó lường. Trước cuộc khủng hoảng này, bộ trưởng các nước thành viên khối OPEC đã có cuộc họp trực tuyến ngày thứ Ba 21/04. Saudi Arabia cho biết sẵn sàng giảm tiếp sản lượng để "bình ổn thị trường dầu lửa" khi phối hợp cùng với Nga và các nước đồng minh.

Về phần mình, tổng thống Donald Trump thông báo mua 75 triệu thùng dầu cho kho dự trữ chiến lược quốc gia. Một hình thức hỗ trợ các ngành công nghiệp dầu khí, đồng thời bảo đảm lá phiếu cử tri theo phe Cộng Hòa, nhất là tại bang Texas, vùng bị ảnh hưởng nặng nề nhất từ cuộc khủng hoảng dầu lửa này.

Minh Anh

Published in Diễn đàn
Trang 1 đến 5