Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Published in

Tư liệu

14/07/2017

Người Hoa tại Việt Nam - Phụ lục

Nguyễn Văn Huy

4hoa1

Cộng đồng Hoa kiều Đông Nam Á ít được nhiều người biết tới. Đó là một tập hợp của nhiều nhóm địa phương khác nhau có cùng địa dư xuất thân : nước Trung Hoa.

**************************************

Phụ Lục

Phụ lục 1 : Người Hoa Đông Nam Á

I. Dân số

A. Dân số gốc Hoa tại hải ngoại (1946/1955)

 

Năm Dân số Năm Dân số
1946 8.700.804 1951 12.126.874
1947 8.483.820 1952 12.536.206
1948 8.721.204 1953 13.330.192
1949 10.779.018 1954

13.472.312

 

1950 11.693.979 1955

11.693.979

 

Nguồn : C.N.A.C.O.M., Đài Bắc, 1956 (trích Tsai Maw Kuey : Les Chinois au Sud Viêt Nam, Paris 1968, tr.17)

Tòa Đại sứ Trung Hoa Dân Quốc tại Paris năm 1961 cho biết có 15.709.667 người Hoa sinh sống tại hải ngoại. Trong khi đó những giới chức có thẩm quyền tại Bắc Kinh cho biết có khoảng 7,5 triệu người Hoa sinh sống tại hải ngoại (sinh viên học sinh và kiều dân). Con số chính thức Hoa kiều vào tháng 6/1953 là 7.591.298 người.

Cũng nên nói thêm là những con số của chính quyền Đài Bắc (Trung Hoa Dân Quốc hay Đài Loan) không trùng hợp với những con số được đưa ra từ Bắc Kinh (Trung Quốc). Đối với Đài Loan, người Hoa sinh sống tại Hồng Kông và Singapore hay tại bất cức nơi nào có quan hệ với Đài Loan là người Hoa hải ngoại.

B. Dân số gốc Hoa tại các quốc gia ASEAN

Năm 1961, dân số người Hoa tại năm quốc gia Đông Nam Á có đông cư dân gốc Hoa được ghi nhận như sau :

                   - Việt Nam  :    1.035.000

                   - Thái Lan   :    3.690.000

                   - Hồng Kông :   2.780.000

                   - Malaysia   :    2.286.883

                   - Indonesia :    2.000.000

Năm 1989 dân số gốc Hoa trong cộng đồng ASEAN được ghi nhận như sau :

                   - Brunei        :         60.000

                   - Indonesia   :     5.300.000

                   - Malaysia    :     5.600.000

                   - Philippines :        700.000

                   - Singapore  :     1.900.000

                   - Thái Lan    :     4.500.000

                                    -------------------------

                   Tổng cộng  :     18.060.000 người

Dân số gốc Hoa trong vùng đại diện 6% dân số trên một tổng số khoảng 300 triệu người. Nhưng tỷ lệ nhỏ bé này không thể che giấu khối lượng quan trọng về kinh tế mà cộng đồng này chiếm giữ. Tuy giữ một địa vị kinh tế quan trọng nhưng cộng đồng Hoa kiều ít được nhiều người biết tới. Đó là một tập hợp của nhiều nhóm địa phương khác nhau có cùng địa dư xuất thân : nước Trung Hoa. Ảnh hưởng của cộng đồng Hoa kiều này, tùy hoàn cảnh kinh tế, chính, trị văn hóa không nhiều thì ít đã ghi những nét đậm trong sinh hoạt của từng quốc gia.

4hoa2

Một gốc chợ Tết của người Hoa tại Singapore

C. Dân số gốc Hoa tại các nước khác (những con số của năm 1990 được tính tròn)

Người gốc Hoa sinh sống trên địa bàn các quốc gia Châu Á có trên hai triệu người :

     - Việt Nam       : 1.300.000 (năm 1970 2,2 triệu)

     - Kampuchea   :  400.000

     - Birmanie       :  300.000     

     - Ấn Độ           :  130.000

     - Nhật Bản       :  80.000

     - Saudi Arabia  :  30.000

     - Nam Hàn        :  20.000

Người Hoa sinh sống tại các quốc gia Tây Phương khoảng ba triệu người :

     - Hoa Kỳ          : + 1.000.000

     - Canada          :       600.000

     - Brasil             :       100.000

     - Anh Quốc       :       250.000

     - Pháp              :       150.000

     - Hòa Lan         :         60.000

     - Australia        :       200.000

     - New Zealand  :         60.000

Tại Châu Phi, Hoa kiều đến lập nghiệp rất ít, và chỉ tập trung trên một số hải đảo ngoài khơi Ấn Độ Dương, dân số khoảng 60.000 người :

     - Maurice          :  30.000

     - La Réunion     :  20.000

     - Madagascar    :  10.000

II. Quá trình du nhập vào lãnh thổ các quốc gia ASEAN

Một cách vắn tắt, người Hoa du nhập vào các quốc gia trong vùng Đông Nam Á qua ba giai đoạn :

Một là từ cuối thế kỷ thứ 14, những người Hoa tị nạn nhà Nguyên (Mông Cổ) chạy vào đảo Java, xứ Xiêm La và vương quốc Brunei.

Hai là từ thế kỷ 16-17, khi những người cựu nhà Minh (1368-1644) tị nạn nhà Thanh, đa số là những quan quân, binh sĩ, thương nhân xuất phát từ các tỉnh Phúc Kiến, Triều Châu và Quảng Đông, đi bằng đường biển xuống phía nam định cư và gầy dựng được nhiều cơ sở thương mại dọc các bờ biển và hải cảng lớn trong vùng. Cùng thời gian này (cuối thế kỷ 18), sau nhiều đợt chống đối nhà Mãn Thanh nhưng đều bị thất bại, rất nhiều người Hoa khác đã di cư sang Hoa Kỳ (San Francisco), Canada (Vancouver), Úc (Melbourne).

Ba là từ thế kỷ thứ 19, khi Tây Phương bắt đầu tấn công Trung Hoa và do hậu quả của cuộc chiến tranh nha phiến (1840-1842 và 1856-1860), các cường quốc Tây Phương ép triều đình Mãn Thanh ký những hiệp ước "bất công", trong dó có quyền tuyển mộ nhân công Trung Hoa sang khai thác những vùng đất thuộc địa.

A. Hậu quả của những hiệp ước bất công

Thực dân Tây phương mua mỗi đầu người từ 25 đến 30 lạng bạc. Thời đó Tây Phương gọi những người bị mua này là dân cu-li (coolies), người Hoa gọi họ là heo (tchoutze). Người ta chở những người này đi khắp các vùng đất thuộc địa trên thế giới : Đông Nam Á, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Nam Phi. Phong trào mua cu-li chỉ chấm dứt sau 1914 khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ, người ta ước tính có gần nửa triệu cu-li đã được xuất cảng.

Đây là một quốc nhục cho tất cả người Hoa. Chính vì thế sau khi Tôn Văn (Tôn Dật Tiên) và Hưng Trung Hội (tiền thân của Quốc Dân Đảng) tổ chức thành công cuộc cách mạng Tân Hợi (1911), tân chính quyền Trung Hoa Dân Quốc luôn tìm cách gỡ mối nhục này bằng cách làm áp lực với các quốc gia có đông di dân Trung Hoa cư ngụ tôn trọng nhân phẩm con dân họ. Tôn Văn cũng là một người Hoa di cư. Suốt những năm lưu lạc, ông đi chu du rất nhiều nước và đã thấm nhuần cái hay của văn minh Tây Phương và đem phổ biến cho những lưu dân, sau đó truyền bá vào trong nước. Triều đình nhà Mãn Thanh rất sợ sự giao lưu giữa hai cộng đồng quốc nội và hải ngoại, với những tư tưởng cách mạng của Tôn Văn (chủ nghĩa Tam Dân) có thể dẫn đến âm mưu lật đổ ngai vàng, nên năm 1893 đã cấm không cho con dân ly hương về nước. Tôn Văn khuyến khích người Hoa hải ngoại tập trung vào thương mại và dùng số tiền kiếm được phát triển thêm cộng đồng ly hương, phục vụ tổ quốc. Hưng Trung Hội từ đó đã thiết lập những đường giây liên hệ giữa những cộng đồng ly hương người Hoa hải ngoại, và vẫn còn giữ cho đến ngày nay.

Cũng trong thế kỷ 19, rất đông người Hoa do đói kém, lũ lụt, nạn nhân mãn, bị áp chế bởi sức mạnh quân sự của các quốc gia Tây phương, theo phong trào di dân xuống các quốc gia phía nam để sinh sống và kéo dài mãi tới những năm 1930. Trong những năm 1940, nhiều đợt di dân nhỏ khác chạy trốn quân Nhật đã diễn ra và kéo dài cho tới sau năm 1945. Sau năm 1949, khi Trung Hoa lục địa bị cộng sản hóa toàn bộ, nhiều đợt di cư khác chạy ra Đài Loan và xuống các nước Đông Nam Á.

Những Hoa kiều này thích ứng rất nhanh vào đời sống của các sắc dân địa phương. Từ đầu thế kỷ thứ 16 số Hoa kiều di cư chưa vượt quá con số 100.000, đến cuối thế kỷ 19 ước lượng có trên 10 triệu, không kể dân cư trên đảo Đài Loan. Đa số vẫn thích lập nghiệp tại Đông Nam Á vì cùng điều kiện thiên nhiên, địa dư gần và nhất là có cùng những quan niệm về đạo lý và tín ngưỡng. Do cần cù làm việc và nhất là từ khi kinh đào Suez (năm 1870) được sử dụng, rút ngắn độ dài của đường giao thương giữa Đông và Tây phương, Hoa kiều Đông Nam Á có cơ hội thăng hoa thêm những khả năng thiên phú về thương mại.

B. Thái độ của dân cư bản địa, thực dân và chính quyền Trung Hoa

Từ thế kỷ 17, người Hoa nhà Minh tị nạn khi đến đâu cũng được đón tiếp nồng hậu. Người ta cảm mến những người này, có lẽ phần lớn là do ảnh hưởng của vương triều nhà Minh lúc còn đương quyền : văn minh và hùng mạnh. Nhất là tại các quốc gia như Chiêm Thành, Chân Lạp và Việt Nam, lúc đó còn chịu nhiều áp lực của đế quốc Trung Hoa, người Hoa tị nạn rất được kính nể và sợ hãi.

Sợ hãi là vì những binh lính và dân chúng nhà Minh tị nạn mang theo tất cả những thứ đã tạo nên quyền lực nhà Minh, văn hóa và quân sự, đến vùng đất mới. Rất nhiều vương triều Đông Nam Á thời đó đã cậy nhờ sức mạnh và kỹ thuật quân sự của họ để giải quyết những vấn đề tranh chấp nội bộ.

Những vùng đất đã bị thuộc địa hóa như Philippines, Malaysia, Indonésia, người Hoa tị nạn lúc ban đầu rất được trọng đãi. Nhưng càng về sau, thực dân Tây Ban Nha và Hòa Lan bắt đều e sợ. Người Hoa thành công quá nhanh trong việc khai khẩn và làm thăng hoa những vùng đất mới. Thêm vào đó, đối với những chính quyền thực dân đang cai trị, những di dân gốc Hoa mới này không dễ chịu bị khuất phục bởi nền văn minh Tây phương. Họ sợ dân bản địa bị người Hoa ảnh hưởng đứng lên chống đối chính sách cai trị hà khắc của họ. Nhất là người Hoa có một tín ngưỡng khác với tín ngưỡng mà Tây phương muốn truyền bá cho dân bản địa. Trong suốt thế kỷ 17 và 18, nhiều vụ tàn sát tập thể người Hoa đã xảy ra trên khắp các lãnh thổ thuộc địa.

Người Hoa hải ngoại đã bị tàn sát từ thế kỷ 16. Vụ đầu tiên xảy ra năm 1592 tại Philippines khi 218 thủy thủ Trung Hoa, trong tổng số 250 người trên một chiếc tàu của Tây Ban Nha, bị giết. Vụ thảm sát này vang đến tai quan tổng trấn Phúc Kiến, Hsu Fou-yuan. Họ Hsu, sau khi cho người đi điều tra, đã bỏ qua với lý do "đó là những tên vô loài cấu kết và chịu làm tôi mọi cho ngoại bang, chúng chết là xứng đáng".

Cũng nên biết thêm thời đó triều đình nhà Minh cấm không cho người Hoa di cư ra khỏi lãnh thổ. Nhà Minh xếp những người di cư thành hai loại. Loại thứ nhất là những tên vô loài, làm nhục quốc thể, mạng sống của họ không đáng kể. Loại thứ hai là những người tị nạn chính trị, một mối nguy cho thiên triều, cần phải tiêu diệt cho dù họ có trốn ở bất cứ nơi đâu và ai giết cũng được. Do đó những người Hoa tị nạn chính trị tại Đông Nam Á trong thế kỷ 16-17 không dám để lộ tông tích và chấp nhận sống dưới sự bảo hộ của những quốc gia địa phương. Khi bị bạc đãi họ không biết kêu ca cùng ai, chỉ biết chịu đựng.

Vụ thảm sát lớn nhất xảy ra vào năm 1603, người Tây Ban Nha đã giết hại 27.000 người trong tổng số 30.000 người Hoa đang định cư tại Philippines. Quan tổng trấn Phúc Kiến, Tsu Sué-su, cũng sau khi điều tra, đã kết luận rằng những người này chết là xứng đáng vì đó là bọn vô loài, phản quốc.

Người Tây Ban Nha được thể tiếp tục tàn sát di dân Trung Hoa. Năm 1639 gần như tất cả 24.000 người Hoa vừa mới đến định cư đều bị giết. Gần 60.000 người Hoa khác đã bị giết trong những năm 1660, 1662 và 1668 tại Philippines. Năm 1755 hàng chục ngàn người khác bị giết vì từ chối không chịu theo đạo của người Tây Ban Nha.

Tại Đông Ấn (Indonésia và Malaysia), người Hòa Lan cũng không nhân nhượng đối với người Hoa di cư. Năm 1740 theo người Hòa Lan có hơn 10.000 người Hoa đã bị giết (theo sử gia Trung Hoa, Huang Kiao-tche, có đến hàng chục ngàn bị giết). Năm 1763, 6.000 người đã bị giết tại Pangasinan.

Tại Thái Lan, năm 1733, hàng ngàn người Hoa cũng bị giết vì dám nổi lên chống lại sự cai trị hà khắc của vương triều Xiêm La do Trịnh Quốc Anh cai trị.

Tại Việt Nam trong những năm 1771-1775, cũng đã có hơn 10.000 người bị giết tại Đồng Nai vì đã theo các chúa Nguyễn chống lại quân Tây Sơn. Trong những năm 1833-1835, người Hoa theo Lê Văn Khôi bị binh lực của vua Minh Mạng giết hại rất nhiều.

III. Một cộng đồng đa dạng

Nếu quan sát kỹ, nơi nào có đông người Hoa cư ngụ nơi đó kinh tế phát triển mạnh và trở nên giàu có, trừ trường hợp vương quốc Brunei, sự giàu có do lợi tức của dầu hỏa mang lại.

A. Singapore

Singapore là một tiểu vương quốc (trước đó có tên là Singapura) được tách khỏi Liên Bang Malaysia năm 1965. Năm 1990, lợi tức trung bình đầu người tại Singapore là 9.100 USD/năm. Người Hoa chiếm 76% dân số, và thủ tướng là một người gốc Hoa tên Lý Quang Diệu. Từ khi có độc lập đến nay, người gốc Hoa giữ những địa vị quan trọng trong chính trị và kinh tế ; tích cực chủ động trong việc làm phát triển vùng đất này.

Mặc dầu có nguồn gốc xuất phát từ Trung Hoa, người Singapore không thích bị đồng hóa với người Hoa lục địa và Đài Loan, họ là một dân tộc của một quốc gia riêng biệt. Người gốc Hoa tại đây có khuynh hướng chỉ lập gia đình với những người đồng hương.

Từ ngày có độc lập đến nay, Singapore không ngừng phát triển. Singapore hiện nay là một trong "tứ long" của Châu Á và là trục phân phối tài chánh và hàng hóa chính của các quốc gia ASEAN. Có thể nói Singapore là trung tâm kinh tế của toàn vùng Đông Nam Á trong đó doanh nhân gốc Hoa giữ những địa vị then chốt. Không có quốc gia nào trong vùng có thể phát triển kinh tế nếu không có sự giúp đỡ tài chánh và tín dụng của tư bản Singapore.

B. Malaysia

Liên Bang Malaysia là một tập hợp của nhiều tiểu vương quốc. Lợi tức đầu người năm 1990 là 2.250 USD. Người Hoa tại đây chiếm 1/3 dân số (35%), đã góp rất nhiều công sức trong việc bảo vệ Malaysia chống lại quân Nhật hồi Đệ nhị Thế chiến. Người gốc Hoa có đại diện trong chính phủ liên hiệp các chủng tộc bởi qui ước của Hội Mã Hoa nhưng quyền chính trị vẫn do người Malaysia, "bumiputra" (con của đất), nắm giữ.

Chính Sách Tân Kinh Tế của chính quyền Malaysia mới đây nhằm giảm tỷ lệ tư bản đầu tư của xí nghiệp gốc Hoa xuống còn 40%, giới hạn vốn đầu tư ngoại quốc ở mức 30% và dành cho người Malaysia 30% vốn đầu tư còn lại. Trong thực tế, người gốc Hoa vẫn nắm những khâu quan trọng nhất trong nền kinh tế vì họ chiếm lĩnh khu vực thứ ba (tài chánh và thương mại), danh từ "vốn đầu tư ngoại quốc" thực ra cũng chỉ là vốn do người Hoa ở Singapore bỏ ra.

Người Hoa đa số định cư tại bờ biển phía tây Malaysia, vùng đất đã được kỹ nghệ hóa. Họ cũng chiếm đa số trên quần đảo Penang (phía tây-bắc) và phân nửa dân số tại thủ đô Kuala Lumpur là người gốc Hoa. Tại các phần đất ít trù phú khác họ là thiểu số như tại các tiểu quốc Kelantan và Trengganu (phía đông-bắc).

Người Hoa sống rất khép kín và chỉ lập gia đình với những người đồng hương. Nhiều tranh chấp chủng tộc giữa người gốc Hoa và người Malaysia xảy ra thường xuyên một phần do văn hóa, tôn giáo, ngôn ngữ, chủng tộc bất đồng và nhất là do sự bất cân đối về lợi tức và lối sống.

C. Thái Lan

Thái Lan là tên gọi mới của vương quốc Xiêm La từ 1939. Người Thái trước kia là một chủng tộc từ Trung Hoa di dân năm 1220 thành lập vương triều Xiêm La. Sự di cư của người Hoa từ lục địa vào đất Thái Lan đã diễn ra từ lâu đời, và đã góp phần tạo nên sự trù phú và hùng mạnh cho Thái Lan. Lợi tức đầu người tại đây (trên 1.000 USD/năm) thấp hơn Singapore và Malaysia nhưng đó là lợi tức trung bình của vùng. Người Hoa chiếm tỷ lệ từ 6 đến 8% dân số.

Tại Thái Lan, người Hoa có đời sống dễ chịu hơn các nơi khác, có lẽ một phần nhờ đạo Phật là đạo chung của người Thái và người Hoa, phần khác cũng do không có sự khác biệt gay gắt về diện mạo chủng tộc (Thái và Hoa). Nhiều người Thái và Hoa đã lấy nhau, sinh con đẻ cái mang hai giòng máu. Những thế hệ con cái này đến đời thứ ba hay thứ tư không còn biết nói hay đọc tiếng Hoa, mặc dầu có một số cố gắng dạy tiếng Hoa ở một vài thành phố phía bắc Thái Lan do phe Quốc Dân Đảng thành lập từ năm 1949.

Người gốc Hoa chiếm phân nửa dân số thủ đô Bangkok, giữ những địa vị cao trong các trường đại học và khống chế lãnh vực kinh tế tư nhân (như nhóm Charoen Pokphand và ngân hàng Bangkok Bank).

D. Indonesia và Philippines

 Tại Indonesia người Hoa chỉ chiếm 3% dân số và tại Philippines 1,5%. Lợi tức đầu người tại hai quốc gia này năm 1990 trên 500 USD/năm.

Người Hoa tại hai quốc gia này đa số là người Phúc Kiến. Những người này được sự bảo vệ của các chính quyền địa phương và giữ độc quyền một số ngành thương mại. Được biết đến nhiều nhất là các gia đình Lucio Tan và Marcos tại Philippines, gia đình Liem Sioe Liong và Suharto tại Indonesia.

Mặc dầu vậy, sự phát triển của cộng đồng Hoa kiều tại hai quốc gia này cũng gặp nhiều hạn chế. Tại Indonesia, chữ Hoa bị cấm phổ biến tại những nơi công cộng, người Hoa và dân bản xứ gặp nhiều trắc trở khi lấy nhau vì những ràng buộc của đạo Hồi. Tại Philippines, việc cưới hỏi được tự do đã làm giảm đi tính chất cực đoan về giống nòi giữa hai chủng tộc.

Indonesia vẫn giữ thái độ nghi ngờ Trung Quốc, từ khi có cuộc nổi dậy của phe cộng sản âm mưu lật đổ chính quyền Sukarno trong những năm 1965/1966 (hơn 1 triệu đảng viên cộng sản thân Trung Quốc đã bị giết), và đơn phương thiết lập bang giao với Việt Nam sau 1975.

Ngược lại Philippines dành cho Đài Loan nhiều đặc quyền về kinh tế cho đến những năm 1970, sau đó cựu tổng thống Ferdinand Marcos quay qua giao thương với Trung Quốc. Những gia đình gốc Hoa quản lý gần như độc quyền lãnh vực kinh tế tư nhân, mặc dầu có lúc bị buộc phải hùn hạp với những người bản xứ.

Tại Philippines, những đại gia đình gốc Hoa như John Gokongwei, Alfredo Ramos hay Henry Sy phải cạnh tranh một cách chật vật với những đại gia đình chủng tộc gốc Tây Ban Nha khác như Soriano (bia San Miguel), Zobel de Ayala (quản lý chặt chẽ ngân hàng tư lớn nhất Bank of the Philippines Islands).

IV. Những nhóm địa phương lớn

A. Một cộng đồng ngôn ngữ phong phú

     

Các cộng đồng Hoa kiều tại các quốc gia ASEAN không nói cùng ngôn ngữ.

Những nhóm ngôn ngữ gốc Hoa tại ASEAN (1989)

 

Quốc gia ASEAN Tổng số người Hoa Phúc Kiến Tiều Châu Quảng Đông Hạ Phương Hải Nàm Nhóm khác
Singa-pore 1,9 M 40% 20% 20% 05% 07% 08%
Malay-sia 5,6 M  30% 10% 25% 25% 06% 04%
Thái Lan 4,5 M 07% 55% 07% 15% 10% 06%
Philip-pines 0,7 M 70% 03% 20% 02% 03% 02%
Indo-nesia 5,3 M 50% 08% 05% 15% 03% 09%
Brunei (*) 0,06 M (-) (-) (-) (-) (-) (-)
Tổng cộng 18,06 M 6 M 4 M 3 M 3 M 1,2 M 0,8 M

Ghi chú : M = triệu người

(*) Không có số liệu rõ ràng. Người gốc Hoa hoạt động rất mạnh trong sinh hoạt kinh tế nhất là trong các dịch vụ tài chánh, xuất nhập cảng và thương mại, nhưng thường thì họ hoạt động với những cơ sở có sẵn tại Malaysia hay Singapore. Người Hoa tại Brunei chiếm 25% dân số.

Nguồn : Tập san Industrie et Développement International, Paris, tháng 9/1989.

Ba ngôn ngữ chính được sử dụng trong vùng là tiếng Bắc Kinh (thật ra là ngôn ngữ Phúc Kiến, còn gọi là tiếng Phổ thông hay Quan thoại), Quảng Đông và Triều Châu. Những nhóm Hoa khác khi giao dịch phải biết một trong ba ngôn ngữ trên. Thường thì tiếng Phổ thông là ngôn ngữ chính khi giao thiệp với Đài Loan hay Trung Quốc.

B. Những trắc trở về văn hóa và ngôn ngữ

Trong các quốc gia này, những va chạm về lối sống, văn hóa và quyền lợi thường xuyên xảy ra giữa những người gốc Hoa (tiếng Malaysia gọi là "baba", tiếng Indonesia "peranakan") có tổ tiên đến lập nghiệp từ nhiều thế kỷ trước và hội nhập hoàn toàn vào đời sống của quốc gia địa phương, với những Hoa kiều khác (85%) đến từ thế kỷ thứ 19-20 (gọi là "totok" hay "xinke").

Thêm vào đó, do ảnh hưởng của văn hóa tây phương phát triển mạnh trong vùng, có một sự ngăn cách về trình độ văn hóa và giáo dục giữa những người Hoa có văn hóa Tây phương (chủ yếu là văn hóa Anh Quốc) và người Hoa có văn hóa cổ truyền Trung Hoa. Tại Singapore, hệ thống giáo dục thuần túy Trung Hoa đã biến mất (Đại học tiếng Hoa Nanyang đóng cửa năm 1980) nhưng tại Malaysia vẫn còn hoạt động mạnh.

Sự cứng nhắc về văn hóa đặt ra nhiều vấn đề cho Hội Mã Hoa (Malaysian Chinese Association) có đại diện trong chính quyền tại Kuala Lumpur. Hội viên của hội, đa số có văn hóa Anh, một mặt phải giữ thái độ ôn hòa, thông cảm với chính quyền Malaysia, mặt khác phải duy trì những sinh hoạt cổ truyền của những bang hội để được ủng hộ trong các cuộc đầu phiếu.

Sau cùng sự chuyên môn trong sinh hoạt kinh tế của từng cộng đồng Hoa kiều tiêu biểu cho những sắc thái riêng biệt của từng địa phương nước Trung Hoa. Tại Singapore và Malaysia, những Phòng Thương Mại được tổ chức theo những nhóm ngôn ngữ hay những nhóm địa phương gốc lục địa như Phúc Kiến , Triều Châu, Quảng Đông, Hải Nàm, Hạ Phương... Những bang hội hay gia đình lớn quyết định phần lớn sinh hoạt kinh tế của mỗi quốc gia.

C. Hệ thống làm ăn của nhóm Phúc Kiến

Tỉnh Phúc Kiến nằm ở phía bắc Quảng Đông, đối diện và chỉ cách đảo Đài Loan 150 km đường biển. Người Phúc Kiến do tiếp cận với bờ biển đã nhanh chóng phát triển giao dịch thương mại bằng đường biển với các quốc gia lân cận. Người Phúc Kiến cũng rất có khiếu trong các lãnh vực kinh doanh lớn như công nghiệp nặng, công nghiệp chế biến, nhất là về kim khí, và dịch vụ tài chánh.

Biết rõ ưu điểm này, chính quyền Trung Quốc đã thành lập tại thành phố Kim Môn (Xiamen hay Amoy) một khu kinh tế đặc biệt để hấp dẫn tư bản Đài Loan và Singapore mà đa số là người gốc Phúc Kiến. Các khu chế xuất ven duyên Trung Quốc, đa số đều dộa vào gương thành công của Singapore : ưu đãi đầu tư quốc tế và hàng hóa sản xuất chủ yếu chỉ để xuất cảng thu về ngoại tệ.

Hiện nay người Phúc Kiến đại diện gần 1/3 Hoa kiều trong vùng Đông Nam Á. Hoa kiều thuộc nhóm này chiếm đa số tại Philippines và Indonesia, rất mạnh tại Malaysia và Singapore, nhưng bị người Triều Châu lấn lướt tại Thái Lan. Người Phúc Kiến đại diện 60% dân số Hoa kiều trong các quốc gia không cộng sản tại Đông Nam Á, khoảng 25 triệu người.

Trục kinh tế tài chánh Singapore-Malaysia-Indonesia :

Người Phúc Kiến gây dựng một trục kinh tế chặc chẽ giữa Singapore - Malaysia - Indonesia và được Đài Loan dành cho những tiếp trợ ưu tiên về tư bản. Tại Singapore vốn của những người Phúc Kiến được gom lại từ ba quốc gia nói trên. Điều này gây khá nhiều khó khăn cho các chính phủ trong vùng.

Ví dụ một công ty của người Phúc Kiến tại Indonesia, họ có thể vay vốn hoặc tại Singapore, hoặc ngay tại Indonesia tùy theo điều kiện chính trị của quốc gia này và có thể tránh né những khoảng thuế cao hoặc tại Indonesia, hoặc tại Singapore vì khi khai vốn họ có thể khai tại hai nơi (nhiều công ty nhỏ trong một công ty mẹ). Công ty có tích sản tại Singapore do vay vốn ở Indonesia có thể khai vốn chung khi vay ở những định chế tín dụng khác.

Thêm vào đó, tài phiệt Đài Loan hỗ trợ và cung cấp tư bản và kỹ thuật cho những người Phúc Kiến tại các quốc gia khác. Quốc Dân Đảng Đài Loan nhúng tay phần lớn vào những chương trình lớn của con dân họ tại Đông Nam Á. Đặc biệt là hiện nay Quốc Dân Đảng Đài Loan đang dành nhiều nỗ lực khuyến khích và tổ chức nhiều cuộc viếng thăm cho doanh nhân Đài Loan vào Việt Nam nghiên cứu thị trường.

Trục kinh tế tài chánh Philippines - Đài Loan :

Trục kinh tế quan trọng thứ hai là giữa Philippines với Đài Loan. Định chế của mối giao hảo này là Liên Phòng Thương Mại và Kỹ Nghệ thành lập tại Philippines trong những năm 1950, được Quốc Dân Đảng Trung Hoa khởi xướng với mục đích tập hợp các Hoa kiều tại đây đứng dưới trướng và ủng hộ Đài Loan. Chủ tịch Liên Phòng hiện nay là ông Domingo Lee, cựu đại diện ngoại giao của Philippines tại Đài Bắc, là cố vấn của bà tổng thống Cory Aquino, và đang giữ quyền quản lý ngân hàng Philbanking lấy từ tay gia đình Laurel với sự tài trợ của nhóm tài phiệt Phúc Kiến. Phó chủ tịch của Liên Phòng, nhà triệu phú Lucio Tan, làm thăng hoa thêm những quan hệ đã có giữa những viên chức chính quyền Manilla và giới kinh doanh Hoa - Phi.

Một người khác tên là Tan Yu, một nhà tư bản Phi sinh trưởng tại Phúc Kiến trong những năm 1930, sau đó hoạt động tại Đài Loan, hiện là chủ tịch liên doanh tài chánh và bất động sản AIC Development, vừa thành lập một công ty với số vốn 250 triệu USD để thực hiện một dự án xây cất tại Manilla. Những cơ sở dịch vụ tài chánh lớn của Philippines đều có vốn của tư bản người Phúc Kiến.

     

Những ngành đầu tư chính :

Tại Singapore và Malaysia, người Phúc Kiến đầu tư vào các ngành cao su, buôn bán sĩ, khách sạn và ngân hàng. Một trong những gia đình giàu nhất trong vùng là gia đình Lee Seng Wee giữ trong tay khoảng 20% vốn của nhóm Overseas Chinese Banking Corporation (OCBC), thành trì tư bản của người Phúc Kiến tại Đông Nam Á, dưới tên các tổ hợp Lee Rubber và Lee Foundation.

Ngoài ra còn phải kể thêm những gia đình Phúc Kiến giàu có khác như Lee Choon Seng (chủ các công ty Thye Hong Biscuit, Thye Aun Investment) và Tan Chin Tuan, mỗi gia đình giữ 5% vốn của OCBC. Chủ tịch bang Phúc Kiến tại Singapore, ông Wee Cho Yaw, là chủ nhân của nhóm ngân hàng lớn nhất tại nước này, United Overseas Bank.

Có hai nhóm Phúc Kiến nhỏ sinh hoạt tương đối độc lập là nhóm Fuzhou hay Hockchiu, phần lớn làm nghề bán lẽ hay chủ nhân các nhà hàng (anh em họ Kuok và công ty) và nhóm Xinghua hay Henghua rất chuyên môn trong ngành buôn bán đồ phụ tùng, xe đạp, xe hơi, và ngư nghiệp (tại Malacca và Kuching, Sarawak).

D. Hệ thống làm ăn của người Triều Châu

Về hành chánh, Triều Châu trực thuộc tỉnh Nam Quảng Đông, nhưng có ngôn ngữ gần giống với nhóm Bắc Phúc Kiến. Tỉnh Chaozhou (hay Toechew) là địa phương gốc của các nhóm Hoa kiều tại Thái Lan, Việt Nam, Kampuchea và từ năm 1975 tại Pháp.

Người Triều Châu có sở trường kinh doanh trong các ngành kỹ nghệ nhưng mạnh nhất là nông sản thc phẩm (đặc biệt là gạo, đường mía và chăn nuôi gà vịt).

Nổi tiếng nhất là liên doanh Hoa Thái Charoen Pokphand được thành lập từ 1921 bởi gia đình họ Chia. Ngoài ra người Triều Châu còn nắm quyền kiểm soát các nhóm ngân hàng như Bangkok Bank và Overseas Union Bank (ngân hàng thứ tư tại Singapore).

Từ sau 1975, công việc kinh doanh của người Triều Châu tại Đông Dương (Việt Miên Lào) đã chuyển sang Bangkok và Singapore, nhờ đó đã quân bình phần nào sự yếu kém về dân số và ngạch số thương mại của họ so với các nhóm Phúc Kiến và Quảng Đông tại ASEAN.

E. Những nhóm ngôn ngữ khác

Trừ tại Kuala Lumpur, người Quảng Đông tập trung vào các ngành kinh doanh bán lẽ (tạp hóa), may mặc, nữ trang, thủ công nghệ và rất mạnh trong ngành phục vụ ăn uống (nhà hàng).

Người Quảng Đông, từ những năm 1960, qua trục Hồng Kông - Singapore, đầu tư rất nhiều vào kỹ nghệ dệt và điện tử. Lo âu trước viễn ảnh Hồng Kông (đa số là người Quảng Đông) bị lục địa hóa vào năm 1996, những nhà tư bản lớn tại đây đã và đang chuyển dần cơ sở làm ăn sang Singapore (họ thành lập rất nhiều nhóm công ty kỹ nghệ nhỏ và xây cất), Úc Đại Lợi, Pháp, Canada và Hoa Kỳ.

Gần phân nửa nhóm người Hoa gốc Hạ Phương (Hakka) còn được gọi là Hẹ, tại Đông Nam Á sống tập trung tại Malaysia. Từ những năm 1850, họ đã di cư ồ ạt vào vùng đất này để khai thác các mỏ thau tại các tiểu quốc Salagor và Perak.

Nguyên gốc người Hạ phương là ở các vùng nông thôn thành phố Thượng Hải, những người ở phía bắc (gần Bắc Kinh) được gọi là Thượng Phương, gần bờ biển là Hạ Phương, tiếng gọi chung là Hẹ. Ngôn ngữ người Hẹ pha lẫn âm Quảng Đông và Triều Châu.

Nghề chuyên môn của người Hạ Phương là đúc thép, dệt, đồ dùng bằng thau, nghề da giầy, thuốc bắc và trồng hoa. Những gia đình Hạ Phương nổi tiếng tại Malaysia là các gia đình Lee Loy Seng, kiểm soát liên doanh Kuala Lumpur Kepong (đồn điền cao su), gia đình Aw (dầu cù là Con Cọp). Singapore có gia đình Robin Loh (nhóm Robin), gia đình Hong Leong, Kwek Hong Pong (chủ nhân các định chế tài chánh). Thái Lan có nhóm Thailand Bancha Lamsam gồm nhiều nhóm nhỏ khác như Thai Farmers Bank, Muang Thai Life Insurance, Phatra Insurance, công ty Loxley Trading và nhiều gia đình khác kinh doanh bất động sản và nông sản thực phẩm.

Người Hải Nàm (Hainan) là nhóm đến muộn nhất trong vùng và là nhóm bị thua sút nhất trong các nhóm. Địa phương gốc của người Hải Nàm ở phía nam Trung Quốc, trên đảo Hải Nàm (phía đông-đông bắc bờ biển Việt Nam). Ngôn ngữ của họ pha lẫn âm Quảng Đông và tiếng địa phương trên đảo.

Người Hải Nàm đa số làm công nhân nông trường, bồi bàn khách sạn và nhà hàng, nội dịch. Những người thành công nhất chỉ có thể làm chủ quán cà phê, cố gắng hơn nữa một số đầu tư vào con cái để tiếp tục học hết bậc đại học sau đó trở thành bác sĩ, nha sĩ, kỹ sư... và hành nghề tự do.

Sinh hoạt kinh doanh của người Hải Nàm được biết đến nhiều nhất là nhóm Sukri Bodhiratanangkura, một trong những liên doanh dệt lớn nhất tại Thái Lan, với sự hợp tác của Nhật Bản. Lối sống và suy nghĩ của người Hải Nàm gần giống lối sống và suy nghĩ của người Việt Nam, ít có khiếu về kinh doanh, an phận trong những nghề tự do và luôn có mặc cảm tự ti với các nhóm chủng tộc giàu có.

V. Khối Kinh Tế Trung Hoa

Tuy không được công khai ra đời một cách chính thức, Khối Kinh Tế Trung Hoa (CEA : Chinese Economic Area) đã được thành lập giữa ba nước : Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông năm 1978, tức sau ngày Trung Quốc cải tổ kinh tế, mở cửa kêu gọi đầu tư quốc tế. Khối bao gồm một diện tích trên 9,6 triệu Km2 và hơn 1,4 tỷ người. Khối này được nhiều người gọi tắt là Đại Trung Hoa, hay Đại Hán, vì nó chỉ gồm ba quốc gia thuần túy Trung Hoa. Đảng Cộng Sản Trung Quốc từ bỏ phần giáo điều của chủ nghĩa Mác, Lênin về sinh hoạt kinh tế, chấp nhận sinh hoạt kinh tế thị trường kiểu tư bản. Quốc Dân Đảng Đài Loan cũng bãi bỏ độc quyền kinh tế trên đảo để tư nhân có quyền mang vốn liếng đầu tư tại Trung Quốc. Chính quyền Anh cũng cho phép doanh nhân Hồng Kông và Trung Quốc liên lạc và hợp tắc với nhau. Tuy nhiên về chính trị, Trung Quốc và Đài Loan vẫn giữ nguyên những nguyên tắc cứng rắn về lãnh thổ và quốc phòng.

Singapore không được gia nhập vào khối kinh tế Đại Hán này vì không phải là một quốc gia thuần túy Trung Hoa, chỉ có 76% dân số Singapore là người gốc Hoa, hơn nữa ngôn ngữ chính thức không phải là chữ Hán mà là tiếng Anh. Hồng Kông được kết nạp, mặc dù còn là nhượng địa của Anh Quốc, vì là phần đất sẽ được Trung Quốc thu hồi lại vào năm 1997.

Thành phần nhân sự của khối này chỉ gồm những nhà kinh doanh lớn của ba nước, không có nhân sự chính trị. Đường lối chính sách của khối hoàn toàn độc lập với các chính sách của chính quyền. Mục tiêu chính của khối là phục vụ nền kinh tế Trung Hoa, hay đúng hơn của người Hoa. Khối này liên lạc và sinh hoạt chặt chẽ với các cộng đồng người Hoa hải ngoại tại Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi và Châu Á. Cộng đồng người Hoa hải ngoại là đầu cầu phát triển kinh tế của Khối Kinh Tế Trung Hoa.

Nền kinh tế của Trung Quốc lớn gấp 2,5 lần nền kinh tế của Đài Loan và 6 lần hơn Hồng Kông. Nhưng nhân sự của ba quốc gia đều bình đẳng khi đại diện khối liên lạc với các quốc gia phát triển khác. Doanh nhân của ba quốc gia Trung Hoa không cạnh tranh lẫn trên các thị trường quốc tế, họ chỉ giúp đỡ và phân chia thị trường với nhau như sinh hoạt của các bang hội nhưng trên một qui mô lớn hơn. Lúc khởi đầu, khối chỉ chiếm 1,8% thị trường quốc tế, ngày nay (1992), Khối Kinh Tế Trung Hoa chiếm 4,5% thị trường quốc tế, chỉ thua Hoa Kỳ, Đức và Nhật Bản, và tỷ lệ này không ngừng gia tăng trong những năm tháng tới. Thị trường chính của khối là Hoa Kỳ, Canada và Nhật Bản. Các quốc gia Châu Á khác như Singapore, Đại Hàn, Thái Lan buộc phải hạ giá bán thành phẳm sang Tây phương mới cạnh tranh nổi và giữ vững được thị trường.

Khối lượng trao đổi nội bộ giữa ba quốc gia với nhau rất lớn, 1/3 tổng sản lượng xuất khẩu, tăng gấp ba lần so với năm 1978. Những đầu tư qua lại giữa ba quốc gia gia tăng nhanh chóng. Tổng trị giá lượng hàng trao đổi của Trung Quốc với Hồng Kông năm 1992 là 8 tỷ USD, với Đài Loan từ 50 triệu USD (1978) lên 7 tỷ (1992). Tổng số vốn của doanh nhân Trung Quốc đầu tư vào Hồng Kông là 9 tỷ USD, doanh nhân Hồng Kông cũng đầu tư một số tiền tương đương vào Trung Quốc. Tổng số vốn mà doanh nhân Đài Loan đầu tư vào Trung Quốc năm 1992 là 3 tỷ USD, đứng hàng thứ tư về vốn đầu tư nước ngoài tại Trung Quốc. Chính quyền Đài Loan đã bãi bỏ lệnh cấm chuyển ngân vào lục địa từ năm 1990, chấm dứt 40 năm thù địch. Bốn trong năm ngân hàng thương mại lớn nhất của Trung Quốc đã có chi nhánh tại Hồng Kông. Đài Loan cũng đã trích 120 triệu USD để thiết lập một hệ thống ngân hàng tại Trung Quốc từ năm 1990. Hồng Kông đã sử dụng trên 3 triệu nhân công của tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.

Thế mạnh của ba quốc gia Trung Hoa là biết tận dụng những sở trường, sở đoản của nhau để đưa nền kinh tế của khối đi lên. Đài Loan cung ứng khả năng tài chánh, kỹ thuật và cách thức quản trị khoa học vào sản xuất và giao dịch quốc tế. Trung Quốc cung ứng nhân công rẻ tiền và tài nguyên thiên nhiên phong phú. Hồng Kông cung ứng thành phần doanh nhân thực dụng giỏi quản trị xí nghiệp, nhân công thạo nghề và một hải cảng quốc tế thuận lợi. Cả ba quốc gia tạo thành một khối doanh nhân thống nhất với sự xuất hiện của những đại gia tộc văn hóa và tài chánh. Có lẽ cả ba quốc gia Trung Hoa để thành phần doanh nhân chuyển hóa dần lục địa và hải đảo từ những chế độ độc tài chuyên chính sang một thể chế thích hợp với dân tộc Trung Hoa.

 *******************************


Phụ lục 2 : Một vài nhân vật gốc Hoa

I. Thời Thượng cổ

- Lý Ông Trọng, quê huyện Từ Liêm, quận Giao Chỉ, sinh ra cuối đời vua Hùng Vương. Ông tên thật là Lý Thân, người to lớn khác thường và sức mạnh vô địch.

Tần Thủy Hoàng (214-207 trước công nguyên), vua đất Trung Hoa, muốn xua quân sang đánh chiếm nước Âu Lạc, Thục vương (An Dương Vương) sợ hãi bèn đem Lý Thân hiến cho vua Tần. Được Lý Thân, Tần Thủy Hoàng mừng lắm, phong làm Tư lệ Hiệu úy. Sau vua Tần sai Lý Thân mang quân ra trấn Lâm Thao, quân Hung Nô thấy hình thù to lớn của Lý Thân tỏ ra khiếp sợ, rút về không dám quấy phá.

Sau Lý Thân được phong làm Vạn Tín hầu rồi cho phép trở về Nam thăm xứ sở. Ít lâu sau quân Hung Nô lại quấy rối biên thùy nước Trung Hoa, Tần Thủy Hoàng cho sứ sang vời Lý Thân. Ông không chịu đi làm tôi nước người một lần nữa, đã bỏ trốn vào rừng. Thục vương nói dối là đã chết, vua Tần đòi giao xác. Không còn cớ để thối thác, Lý Thân phải tự tử để vĩnh viễn ở lại quê hương. Nhận được xác, Tần Thủy Hoàng cho đúc tượng đồng hình dáng của Lý Thân mang ra trấn biên cương, quân Hung Nô tưởng Lý Thân còn sống đã tự động rút về không dám xâm nhập đất Trung Hoa.

Sang đời nhà Đường (618-907), Triệu Xương sang đô hộ đất Giao Châu, có lập đền thờ Lý Thân ở làng Thụy Hương. Rồi khi Cao Biền qua đánh Nam Chiếu, cho trùng tu ngôi đền và tạc tượng để thờ, gọi là đền Lý Hiệu úy ở làng Từ Liêm, bên bờ sông Cái, cách thành Đại La (Hà Nội ngày nay) 50 dặm về phía tây. Vua Lê Thánh Tôn có để lại bài vịnh Lý Ông Trọng trong tập "Hồng Đức Quốc Âm thi tập" như sau :

      Tầm cả tầm cao chỉn xuất quần,

      Khí thiên quang nhạc cấu mười phân,

      Phò nam dẹp bắc, tài văn võ,

      Trấn nước đầy non, sức quỷ thần,

      Vòi vọi Thụy Hương, từ đà dựng,

      Nhơn nhơn Tư Mã, tiếng còn rân,

      Chàng Cao, gã Triệu, chiêm bao tỏ,

      Càng sợ An Nam có thánh nhân.

- Hoàng Quang Hưng, người nhà Hán sống dưới triều vua triệu Vũ Đế (207-137 trước công nguyên), đã truyền dại nghề làm đồ gốm và đồ sành cho một người Giao Chỉ, quận Cửu Chân, ông Trương Trung Ái. Trương Trung Ái sau này được tôn là ông tổ nghề đồ gốm và đồ sành tại Việt Nam. Đến đời hà Lê, con cháu Trương Trung Ái lập một hàng đồ gốm tại làng Thổ Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Ninh.

- Triệu Đà, là Quan úy quận Nam Hải, năm 208 trước công nguyên, đem quân đánh quận Âu Lạc. Âu Lạc là một trong ba quận của đất Bách Việt : Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Quảng Tây) và Tượng Quận (Âu Lạc). Thời đó An Dương Vương thần phục nhà Tần. An Dương Vương bị Triệu Đà đánh bại phải bỏ chạy rồi tự vận. Năm 207 trước công nguyên, Triệu Đà sáp nhập Âu Lạc vào với Nam Hải thành một nước gọi là Nam Việt, tự xưng làm vua, hiệu là Vũ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung, gần thành Quảng Châu bây giờ.

Nhà Triệu làm vua được 5 đời (Vũ Vương, Văn Vương, Minh Vương, Ai Vương và Dương Vương). Đến năm 111 trước công nguyên, nhà Hán đem quân đánh chiếm Nam Việt. Triệu Đà đã chống trả mãnh liệt để bảo vệ vùng đất tự trị của mình nhưng đánh không lại, nước Nam Việt bị nhà Hán chiếm và sát nhập vào Trung Hoa, sau đó bị cải tên là Giao Chỉ bộ và bị đô hộ suốt gần ngàn năm.

II. Thời Bắc thuộc

- Sĩ Nhiếp (137-226), là một quan cai trị của nhà Hán nhưng ông đã hành xử như con dân của nước Nam. Năm 203, ông đã xin nhà Hán cải tên Giao Chỉ bộ thành Giao Châu. Sĩ Nhiếp có ý muốn tạo một vùng đất riêng biệt, có chủ quyền độc lập với nhà Hán.

Ông đã khôn khéo tránh né tham gia vào các cuộc tranh chấp quyền lực của thời Tam Quốc bên Trung Hoa, gồm có Bắc Ngụy, Tây Thục và Đông Ngô. Giao Châu thuộc Đông Ngô từ năm 220.

Sĩ Nhiếp đã giữ đất Giao Châu thời đó tránh được nhiều cảnh chiến tranh, chết chóc và loạn lạc. Suốt thời gian cai trị, ông là một người khoan dung, trung hậu trị dân có phép tắc, lo mở mang văn học, truyền bá đạo Nho và cho phổ biến nhiều kinh sử có xuất xứ từ Trung Hoa, thời đó dân chúng tôn ông là Sĩ Vương.

Có nhiều thuyết cho rằng chữ Nôm đã được đặt ra từ đời Sĩ Vương.

- Lý Tiến, người Giao Chỉ đầu tiên được bổ nhiệm làm Thứ sử đất Giao Châu dưới triều Hán Linh Đế. Ông là trường hợp của những người Hoa đầu tiên nhận dãi đất này làm quê hương, và đã chứng tỏ lòng yêu nước thiết tha. Ông đã từng dâng sớ xin cho người đồng hương (người Giao Chỉ) hưởng những quyền lợi như người Trung Hoa nhưng không được vua Hán chấp thuận.

- Phùng Hưng, quận Đường Lâm (Sơn Tây bây giờ), là người thuộc dòng dõi quan lang.

Năm 791, thấy dân tình sống quá cơ khổ vì sưu cao thuế nặng và muốn tách khỏi sự cai trị khắc nghiệt của nhà Đường (618-907), Phùng Hưng cùng em trai, Phùng Hải, phất cờ khởi nghĩa. Phùng Hưng đổi tên là Cự Lão, tự xưng là Đô quận, còn Phùng Hải đổi tên là Cự Lực, tự xưng là Đô bảo, rồi cả hai đem quân về đem phá La Thành, thủ phủ của An Nam đô hộ phủ (Giao Châu). Quan đô hộ là Cao Chính Bình, quá khiếp sợ, đã lâm bệnh mà chết. Nhưng quân của ông chỉ chiếm giữ La Thành vài tháng rồi ông mất.

Con là Phùng An lên nối nghiệp, liệu thế không chống nổi với quân nhà Đường dưới quyền điều khiển của tướng Triệu Xương, quan đô hộ mới, chịu xin phục tùng Trung Hoa như trước.

Để tỏ lòng ái mộ, dân chúng lập đền thờ ông ở mé tây phủ La Thành và gọi ông là Bố Cái đại vương. Các triều sau phong tặng Phùng Hưng chức hiệu là Phụ hựu Chương tín Sùng nghĩa Đại vương.

III. Thời quân chủ

- Hồ Quí Ly, còn có tên là Lê Quí Ly. Quí Ly là dòng dõi người Hoa ở Chiết Giang, tổ là Hồ Hưng Dật từ đời Ngũ Quí sang Việt Nam định cư tại làng Bào Đột, huyện Quỳnh Lưu. Sau ông tổ tứ đại là Hồ Liêm dời ra Thanh Hóa, làm con nuôi nhà Lê Huấn và đổi họ là Lê.

Lê Quí Ly có hai người cô lấy vua Trần Minh Tông (1314- 1329). Một người sinh ra vua Trần Nghệ Tông (1370-1372), một người sinh ra vua Trần Duệ Tông (1372-1377). Từ đó Lê Quí Ly rất được vua Nghệ Tông tin dùng. Nghệ Tông là một ông vua nhu nhược, đồng tính luyến ái, suốt ngày chỉ biết nghe lời Quí Ly và để y quyết định hết mọi việc của triều đình.

Lê Quí Ly xuất thân làm Chỉ hậu Chánh trưởng (1372), chẳng bao lâu được phong làm Khu mật đại sứ, gia tước Trung tuyên hầu. Dòng họ của Quí Ly về sau đều được đưa vào làm quan trong triều đình, con gái thì gả cho những vua quan, con trai thì được phong giữ những chức vị cao. Vua Duệ Tông lấy em họ Quí Ly, Lê Thị được phong làm hoàng hậu.

Trong suốt thời gian 1370-1400, Lê Quí Ly quyết đoán hết mọi chuyện trong triều đình và gây rất nhiều oán thù, sát hại rất nhiều thân bằng quyến thuộc của nhà vua và quan trong triều đình. Khi Duệ Tông mất (1377), Lê Quí Ly tự xưng Phụ Chính Cai giáo Hoàng Đế điều khiển Trần Thuận Tông (1388-1398), dời kinh đô vào Thanh Hóa. Sau đó, Quí Ly tự xưng Khâm đức Hưng liệt Đại vương (phụ chính vua Trần Thiếu Đế là cháu ngoại mới 3 tuổi), sau lại xưng Quốc tổ Chương hoàng.

Năm 1400, Lê Quí Ly bỏ Thiếu Đế rồi tự xưng làm vua thay ngôi nhà Trần. Khi lên ngôi, Quí Ly bỏ họ Lê đổi lại họ Hồ. Nguyên họ Hồ là dòng dõi nhà Ngu bên Trung Hoa, nên Hồ Quí Ly đặt quốc hiệu là Đại Ngu để tưởng nhớ quê hương cũ.

Về mặt cải tổ hành chánh và kinh tế, Hồ Quí Ly đã làm nhiều điều hữu ích, được rất nhiều người khâm phục.

Trước hết là chỉnh đốn việc võ bị đề phong nhà Minh (lúc đó lộ ý muốn thôn tính nước Đại Ngu). Hồ Quí Ly cho lập sổ hộ tịch để nắm rõ số dân đinh để mộ binh. Ông cải tổ việc đoàn ngũ hóa quân đội (lập thành đại quân, doanh, vệ, đội), cải tiến cách đóng chiến thuyền (hai tầng :một tầng để chèo, một tần để thủy quân đi lại), lập kho chứa.

Điểm nổi bật của Hồ Quí Ly là cho phát hành tiền giấy. Tờ giấy 30 tiền vẽ sóng, 10 tiền vẽ rêu, 5 tiền vẽ phượng, 3 tiền vẽ lân, 2 tiền vẽ rùa, 1 tiền vẽ mây, 1 quan vẽ rồng. Đây là một hình thức tịch thu tài sản công dân vào ngân khố nhà nước. Những ai còn lưu giữ vàng bạc đều bị chém đầu, do đó ai cũng phải dâng nạp nhà vua.

Hồ Quí Ly còn cho ban hành những dụng cụ đo lường mới như thước (ta), đấu, đặt ra các điều luật bảo vệ nhà buôn và giữ giá đồng tiền, đặt y tỳ (y tế) coi việc thuốc thang, định lại việc thu thuế. Ông cho sửa đổi hình luật và việc học hành, thi cử, thêm môn toán học, áp dụng lối học thực dụng hơn từ chương, cho dịch Kinh Xuân Thư, Kinh Thi ra chữ Nôm.

Hồ Quí Ly trong suốt thời gian cầm quyền đã chứng tỏ là một nhà quản trị giỏi hơn là một vị tướng. Khi ra trận, ông không có tài điều quân, dũng cảm và mưu lược của một vị tướng giỏi, khi thấy địch mạnh hơn liệu chống không nổi ông cho rút quân về hay bỏ chạy. Vì thế Chế Bồng Nga luôn đánh thắng trận nhờ mưu lược và dũng cảm. Khi Nhà Minh tấn công, quân của ông chỉ biết bỏ chạy. Hồ Quí bị cầm tù, bị đày làm lính tuần và chết già ở Quảng Tây. Nhà Minh đô hộ Việt Nam hơn 20 năm.

- Dương Ngạn Địch Trần Thượng Xuyên là hai vị tướng của Nhà Minh trấn thủ các thị trấn Long Môn (tỉnh Quảng Đông) và Cao -Lôi- Liêm (Quảng Tây).

Năm 1679, Dương Ngạn Địch (Tổng binh Long Môn) cùng phó tướng Hoàng Tiến ở đất Long Môn (Quảng Tây, Trung Hoa) và Trần Thượng Xuyên (Tổng binh Cao Lôi Liêm) với phó tướng Trần An Bình không chịu hàng nhà Thanh, mang 3.000 quân bản bộ đi trên 50 chiến thuyền tới bể Tu Dung và Đà Nẵng xin tị nạn ở nước Nam.

Chúa Hiền cho di cư vào ở đất Đông Phố (Mỹ Tho) và Biên Hòa (Đồng Nai),Thủy Chân Lạp khẩn hoang lập ấp. Chúa Nguyễn cho hai vị tướng này giữ y chức cũ. Từ đó hai đoàn di dân vỡ đất phá rừng, cất phố lập chợ, đưa văn hóa, văn minh và kỹ thuật cao của Trung Hoa vào thẳng miền Nam, thương thuyền các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Java qua lại tấp nập. Những binh lính theo hai vị tướng này, trừ một số thủ lãnh, trong lúc chạy loạn không mang theo gia đình, đã lấy vợ người địa phương và sinh con đẻ cái.

Dương Ngạn Địch quyết trung thành với chúa Nguyễn, không chiều ý của phó tướng muốn thành lập một vùng tự trị. Sau ông bị Hoàng Tiến cùng binh sĩ ly khai nổi loạn giết năm 1688. Nghĩa vương Nguyễn Phúc Trăn cùng Trần Thượng Xuyên cho quân đánh dẹp, dùng mưu bắt được Hoàng Tiến rồi giết đi.

Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai ông Nguyễn Hữu Kính làm Kinh lược đất Chân Lạp (miền Nam ngày nay), lấy đất Đồng Nai đặt làm hai huyện Phước Long, Tân Bình, lập Trấn Biên Dinh (Biên Hòa) và Phan Trấn Dinh (Gia Định), chiêu mộ những người dân ở Quảng Bình vào khai khẩn. Những người Hoa theo Dương Ngạn Địch tị nạn và người Hoa di cư dưới triều nhà Thanh thì gom lại thành xã Thanh Hà ở Trấn Biên, còn những người Hoa Minh Hương theo Trần Thượng Xuyên vào xã Minh Hương ở Gia Định rồi giao cho Trần Thượng Xuyên, Tổng trấn Gia Định thành quản lý.

- Trần Đại Định, con của Trần Thượng Xuyên, được chúa Nguyễn phong chức Thống binh để chỉ huy đạo quân Long Môn (người Hoa) bình định vùng đất miền Đông. Khi vương quốc Chân Lạp chống lại triều Nguyễn, Trần Đại Định mang quân đánh dẹp, hao tổn rất nhiều binh sĩ nhưng không diệt được vì bị tướng tư lệnh người Việt, tên Trương Phước Vĩnh, nhận tiền hối lộ của quân địch cản trở. Khi bị chúa Nguyễn khiển trách, Trương Phước Vĩnh, quá hoãng sợ, vu cho Trần Đại Định tư thông với địch không chịu tiến quân. Khi biết mình bị vu oan, các phụ tá khuyên Trần Đại Định nên bỏ trốn về Trung Hoa.

Trần Đại Định nói rằng : "Cha ta là Trần Thượng Xuyên đã từng mang ơn nặng của triều đình, vua từng có lời dụ rằng : "Họ Nguyễn làm vua, họ Trần làm tướng, công khanh đời đời không dứt". Vinh hạnh biết chừng nào. Nay vì biên súy che lấp, bất công, nếu chẳng đến triều đình nhờ thẩm xét, ta sẽ mang tội phản nghịch. Bao nhiêu công nghiệp ông cha như non như núi sẽ sụp đổ xuống hang, xuống sông. Chẳng những ta mang tội làm tôi bất trung mà cũng mang tội làm con bất hiếu nữa, còn mặt mũi nào đứng vững trong trời đất ?".

Trần Đại Định bỏ quân, ban đêm xuống thuyền đi thẳng ra miền Trung minh oan. Khi đến gần cửa Hàn, một tùy tướng cầm lái quá lo sợ cho tính mạng của chủ tướng, định bẻ lái cho thuyền đi lên hướng Bắc, Trần Đại Định rút gươm chém đầu rồi tự mình cầm lái vào cửa Hàn. Nhưng khi đến triều đình, vì thế lực của Trương Phước Vĩnh quá lớn, Trần Đại Định bị tống giam và cả gia quyến ở Biên Hòa cũng bị bắt. Chúa Nguyễn nhận thấy chuyện không bình thường bèn cho người vào Nam điều tra.

Khi biết Trần Đại Định bị vu oan thì đã quá trễ. Vì bị giam quá lâu, ông uất ức thổ huyết chết trong ngục. Trần Đại Định sau đó được phục hồi danh dự và truy tặng hàm Đô Đốc đồng trị, gia quyến được hưởng bổng lộc như trước.

Về sau, dân chúng gốc Hoa sinh sống tại miền Nam lập đền nhiều đền Vũ Miếu để thờ những vị anh hùng người Hoa khai quốc tại Biên Hòa, Chợ Lớn và Gia Định.

- Mạc Cửu (1655-1735) tên thật Mạc Kính Cửu, nguyên quán ở Lôi Châu (Trung Hoa), là một vị tướng nhà Minh vì không phục nhà Thanh nên theo tướng Trịnh Thành Công ra đảo Đài Loan tử thủ. Về sau liệu chống không nổi quân Thanh, ông đem gia quyến và tùy tùng (khoảng 400 người) đi rất nhiều ngày trên mươi chiến thuyền xuống phía nam. Ban đầu ông cập bến ở Philippines, rồi Indonesia, kế là Malaysia và sau cùng đến đất Chân Lạp năm 1671. Thủy thủ đoàn đã mệt lã, Mạc Cửu quyết định chọn vùng đất Hà Tiên lập nghiệp. Mạc Cửu là người có công nới rộng bờ cỏi Việt Nam xuống tận vịnh Thái Lan.

Khi đã an cư, Mạc Cửu cho người về Trung Hoa đón mẹ già, họ Thái về Hà Tiên phụng dưỡng. Dân chúng thời đó để tỏ lòng kính mến Mạc Cửu, gọi là Thái bà bà. Thái bà bà sau khi chết được con cái và dân chúng thờ trong chùa Tam Bảo ở Hà Tiên.

Mặc Cửu có hai vợ. Người vợ đầu tiên người Hoa theo Mạc Cửu đến định cư tại Hà Tiên nhưng không có con trai nối dõi. Năm 1710, lúc đó đã 55 tuổi, ông cưới một người vợ Việt tên Bùi Thị Lẫm (người huyện Đồng Môn, tỉnh Biên Hòa) và sinh được con trai đầu lòng nối dõi tên Mạc Sĩ Lân (Mạc Thiên Tứ). Bà Bùi Thị Lẫm sau khi chết được dân chúng thờ trong chùa Phù Dung.

Năm 1714, Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn và được phong cho làm Tổng binh, giữ đất Hà Tiên. Đến năm 1735 Mạc Cửu mất (thọ 81 tuổi), giao cơ đồ lại cho con là Mạc Thiên Tứ. Chúa Nguyễn phong tặng ông hàm Đại tướng quân Võ nghi công. Đến đời vua Minh Mạng được phong hàm Thọ công Thuận mỹ trung đảng thần.

Mạc Cửu là người có công khai khẩn phủ Sài Mạt của Chân Lạp, lấy tiền chiêu mộ lưu dân (gốc Hoa) lập ra 7 xã gọi là Căn Cáo (thị trấn Hà Tiên ngày nay). Sự thành công của Mặc Cửu lan rộng khắp nơi trong vùng. Thời đó người ta gọi Hà Tiên là Căn Khẩu Quốc và đảo Koh Tral là Phú Quốc (nước giàu).

Để đền đáp công lao lớn đó, năm 1736, chúa Nguyễn Phúc Chu tặng cho dòng họ Mạc bảy từ hoàng tộc (thất diệp phiên hàn) để làm chữ lót khi đặt tên con cái : Thiên Tử Công Hầu Bá Tử Nam. Từ đó con trai của Mạc Cửu có tên Mạc Thiên Tứ, con của Tứ là Mạc Tử Sinh, con của Sinh là Mạc Công Du, con của Du là Mạc Hầu Lâm, con của Lâm là Mạc Bá Binh, con của Binh là Mạc Tử Khâm, con của Khâm là con gái tên Mạc Nam Lan. Bà Nam Lan tuyệt tự hết người nối dỏi, chấm dứt bảy đời họ Mạc.

Năm 1951, tại Hà Tiên người ta tìm thấy một bé trai mồ côi 13 tuổi, không biết nói tiếng Hoa, tự xưng là hậu thân thứ bảy của dòng họ Mạc tên Mạc Tiến Sĩ. Dân chúng gốc Hoa và chính quyền địa phương gom tiền của nuôi em này để tưởng nhớ công lao của họ Mạc.

- Mạc Thiên Tứ (1710-1780), tên Sĩ Lân, còn có tên là Mạc Thiên Tích, con quan Tổng binh Mạc Cửu. Khi Mạc Cửu mất, ông được chúa Nguyễn Phúc Trú phong chức Đô đốc.

Thiên Tứ cũng có hai vợ. Vợ thứ hai tên Nguyễn Nghi, con một vị quan văn của Thiên Tứ. Bà Nguyễn Nghi nổi tiếng là ghen tương. Một hôm lúc Thiên Tứ bận chuyện chiến chinh, bà Nghi cho người bắt cóc bà vợ cả và nhốt trong một chậu sứ. Lúc Mạc Thiên Tứ hành quân về, nghe tiếng kêu văng vẳng trong chậu úp, ông liền dở lên thì thấy bà Ái cơ bị nhốt suýt bị chết ngộp. Từ đó có chuyện tích "Nàng Ái cơ trong chậu úp" do nhà thơ Đông Hồ biên soạn. Bà Nghi sau đó xin Thiên Tứ cho xuống tóc đi tu ở chùa Phù Dung.

Đồn rằng người con gái thứ bảy Mạc Thiên Tứ lúc mới sinh tóc đã dài một thước (khoảng 40 cm). Mạc Thiên Tứ cho đó là điềm xấu, liền cho đem chôn sống. Từ đó cô gái này xuất hiện nhiều lần phù hộ cha. Dân chúng thờ cô gái thứ bảy này trong chùa Thất Mẫu. Năm 1945, thành phố Hà Tiên bị quân đội Mỹ ném bom, bà Thất Mẫu xuất hiện che chở dân chúng Hà Tiên, tất cả 61 trái bom đều rơi xuống biển và chỉ làm một người chết.

Tính khí khái, thông minh hơn người, học thức uyên bác, giỏi ngoại giao, Mạc Thiên Tứ lo việc đắp thành, xây lũy, mở chợ, làm đường và rước thầy về dạy nho học để khai hóa dân chúng.

Chính nhờ Mạc Thiên Tứ mà lần lược chúa Nguyễn có thêm được đất 2 phủ Tầm Bôn và Lôi Lạp (Cần Thơ và Long Xuyên) do vua Chân Lạp Nặc Nguyên dâng tặng, rồi đất Tầm Phong Long(Châu Đốc) và 5 phủ Hương Úc, Cần Bộ, Trực Sâm, Sài Mạt, Linh Quỳnh (bờ biển miền Nam Kampuchea) do vua Chân Lạp Nặc Tôn dâng.

Năm 1775, Định Vương Nguyễn Phúc Thuần bỏ thành Phú Xuân chạy vào Gia Định, ông theo giúp. Con là Mạc Tử Duyên đã chống cự với Tây Sơn rất anh dũng tại Cần Thơ. Khi Định vương bị Tây Sơn bắt giết năm 1777, ông chạy sang Xiêm la cầu viện. Chẳng may bị vua Xiêm, vì nghe lời dèm pha, nghi ông lập cơ mưu chiếm nước đoạt ngôi. Bị hàm oan, ông cùng với hai con (Mạc Tử Hoàng và Mạc Tử Thượng) và tướng Tôn Thất Xuân với 53 quân tử tiết năm 1780. Sau được vua Minh Mạng phong tặng ông làm Đạt nghĩa chi thần.

Ngoài việc quan, Mạc Thiên Tứ còn là thi sĩ, ông là tác giả nhiều thi phẩm hay của thế kỷ 18 : "Minh Bột Di Ngư thi thảo", "Hà Tiên vịnh vật thi tuyển", "Châu Thị trinh liệt tặng ngôn", "Thi truyện tặng Lưu tiết phụ", "Thi thảo cánh ngôn vị tập", nổi tiếng nhất với "Hà Tiên thập vịnh tập". Mười bài thơ này vẫn còn được dân chúng Hà Tiên truyền tụng và lời thơ được dịch nôm như sau :

1. Kim Dự lan đào (Đảo Vàng chắn sóng)

Pháo Đài (trong thơ gọi là Đảo Vàng) là một núi nhỏ ở ngay cửa sông Hà Tiên, khi có ánh mặt trời, nhìn từ xa, trái núi này có ánh sáng màu vàng. Từ thời chúa Nguyễn đến thời Pháp thuộc nó là cứ điểm quân sự trấn giữ biển cả, trên có vị trí trọng pháo nên dân chúng gọi là Pháo Đài. Thời Mạc Cửu, vị trí Pháo Đài ở ngay giữa hải cảng Hà Tiên ngó ra vịnh Thái Lan, hình thể ví như cửa thành thiên nhiên để che chở nội địa. Mạc Thiên Tứ đã so sánh vị trí Pháo Đài với mình, vị tướng giữ trọng trách bảo vệ biên cương.

      Kim Dự này là núi chốt then

      Xanh xanh dành trấn cửa Hà Tiên

      Ngăn ngừa nước dữ khôn vùng vẫy

      Che chở dân lành khỏi ngữa nghiêng

      Thế cả vững vàng trên Bắc Hải

      Công cao đồ sộ giữa Nam Thiên

      Nước yên chẳng chút lòng thụ động

      Rông bủa nhơn xa tiếp bách xuyên.

Đối diện với mũi Pháo Đài là một gò đất, trên có miếu thờ Cá Ông, hàng năm các dân chài đến cúng kiến rất lớn (một phong tục cổ truyền của dân chài Trung Hoa).

2. Bình Sơn điệp thúy (Núi Bình Sơn xanh biếc)

Bình Sơn là một núi nhỏ do Mạc Thiên Tứ đặt tên, cao 53 m và cách chợ Hà Tiên 800 thước. Dân địa phương thường gọi là núi Lăng vì trên núi có lăng tẩm họ Mạc và các phu nhân, các tướng sĩ họ Mạc, hiện nay còn 45 ngôi mộ có bia đá rõ ràng. Bình Sơn có bốn mùa hoa cỏ xanh tươi, mỗi độ xuân về Mạc Thiên Tứ đến tế trời cầu an cho trăm họ.

3. Tiêu Tự thần chung (Tiếng chuông chùa Tiêu Tự)

Đây là ngôi chùa cổ do Mạc Cửu xây vào năm 1720 cho mẹ là Thái Bà Bà tu niệm. Chùa bị hư hại nặng vào những năm 1929 và 1951 do các cơn bão nhiệt đới, hiện nay chùa đã được dân chúng tu sửa lại hoàn toàn mới, nhưng chung quanh vẫn còn vết tích của những thành quách cao lớn bao bọc một thời xa xưa. Tục truyền năm 1720, Thái bà bà vào chùa nhưng chưa tìm được người chân tu truyền đạo, một đêm nằm mơ thấy rồng vàng quấn lấy cột chùa có mây bạc bao phủ. Sáng hôm sau có một lão đạo sĩ mặc áo cà sa vàng, đầu chít khăn trắng, tay chống gậy trúc vào chùa xin tu, xưng hiệu là Bạch Vân. Nghiệm thấy đúng như điềm mộng, Thái Bà Bà liền mời đạo sĩ này làm sư phụ và xin Mạc Thiên Tứ phong cho đạo hiệu là Bạch Vân hòa thượng, sau gọi là Huỳnh Long chơn nhơn. Trong chùa có một cái chuông đồng thật lớn, mỗi lần công chuông âm thanh vang dội khắp cả vùng nên chùa có tên là Tiêu Tự thần chung.

4. Giang Thành dạ cổ (Tiếng trống đêm ở Giang Thành)

Dọc theo biên giới Việt-Miên phía tây bắc, rạch Giang Thành phát nguồn từ Kampuchea, giòng nước uốn khúc chảy vào Đông Hồ. Kinh Vĩnh Tế nối liền Giang Thành với Châu Đốc. Mạc Thiên Tứ xây đắp bờ Đồn Lớn chạy dài đến Giang Thành và đêm đêm lính trú phòng đánh trống canh nghiêm nhặt khiến quân địch không dám đến khuấy động biên cương.

      Trống quân giang thú nỗi uy phong

      Nghiêm gióng đồn canh ỏi núi sông

      Đánh phá mặt gian người biết tiếng

      Vang truyền lệnh sấm chúng nghiêng lòng

      Phao tuôn đã thấy yên ba vạc

      Nghiêm nhặt chi cho lọt mảy lông

      Thỏ lụn sớm hầu trưa bóng ác

      Tiếng xe sầm sạt mới nên công.

5. Thạch Động thốn vân (Mây luồn Thạch Động)

Thạch Động là một hang động cao 98 thước có hình giống mũ lông của lính Anh, cách Châu thành ba cây số. Trong hang có chùa thờ Phật gọi là Tiên Sơn tự. Nóc hang có nhiều thạch nhũ, đôi lúc giống hình Phật nên gọi là Phật Nổi. Trong hang có đường lên Trời mây bao phủ, trên có thờ Ngọc Hoàng, dưới có đường xuống êm Ty. Truyền rằng có người lấy trái dừa khô khắc tên mình làm dấu ném xuống hang, ít lâu sau gặp dừa trôi trên mặt biển, ý nói hang có lối thông ra biển.

6. Châu Nham hạc bộ (Châu Nham cò đậu)

Núi Châu Nham có hình dáng một tản đá dựng cao 83 thước ở giữa đồng Kỳ Lộ cách Thạch Động 2 cây số. Trong núi có nhiều hang, thời trước những hang này có nhiều tu sĩ đến ở, tên hang do các vị tu sĩ đặt tùy theo mỗi người như Cội Hang Da, Bồng Lai tiên cảnh, Phật Cậu, Điện Bà... Trong hang phần nhiều thiếu ánh sáng phải dùng đuốc soi mới rõ đường đi. Riêng Cội Hang Da còn có chuyện cổ tích Thạch Sanh chém thuồng luồng cứu công chúa ra khỏi hang, sau đó gãy đàn 5 dây ca rằng : "Đàn kêu tích tịch tình tang, ai đem công chúa lên hàng mà về ?".

7. Đông Hồ ấn nguyệt (Đông Hồ trăng soi)

Đông Hồ là một vịnh lớn của vàm sông Giang Thành nằm ở phía đông Châu thành Hà Tiên, hữu ngạn có núi Ngũ Hổ, tả ngạn có núi Tô Châu. Hồ đẹp về đêm khi có trăng, nhất là những đêm trăng soi mặt nước còn lớp sương đêm chưa tan. Văn nhân tao khách hay dừng chân lại Đông Hồ, ngay cả tiên trên trời cũng ghé xuống đây để ngâm vịnh, do đó mới có tên Hà Tiên. Có một nhà thơ sinh trưởng trong vùng sau này cũng lấy bút hiệu là Đông Hồ (Lâm Tấn Phác).

      Lơ thơ kìa núi nọ non,

      Đời bao mấy lũ, cảnh còn nhưng nhưng,

      Mắt láo lưng, ngắm nhìn hoa cỏ,

      Một Đông Hồ là thú võng xuyên.

      Vũng bằng nước trải trời liền,

      Chén quỳnh, rượu cúc dòng thuyền giúp vui.

      Nguyệt sao soi một vùng vãn vãn,

      Tượng giữa dòng in sẵn cung nga. [...]

8. Nam Phố trừng ba (Sóng trong Nam Phố)

Nam Phố cách Hà Tiên độ 10 cây số, có hai bãi biển cát trắng để du khách tắm biển, có Hòn Một làm bình phong ngăn chặn sóng gió, nên ngay lúc biển động bãi vẫn yên lặng. Do đó Mạc Thiên Tứ còn đặt tên "Bãi Nam lặng sóng".

9. Lộc Trĩ thôn cư (Xóm dân ở Lộc Trĩ)

Lộc Trĩ là một cảnh u nhàn trên non dưới nước, một nơi nghỉ mát thích thú cách Châu Thành 4 cây số, trên có núi cao 123 thước, dưới có hai bãi tắm là Bãi Nò và Bãi Mũi Nai (xa xa trông chi chích các đảo lớn nhỏ như Phú Quốc, quần đảo Hải Tặc, Bãi Kép, núi Tà Lơn...).

10. Lư Khê ngư bạc (Cảnh chài cá ở Lư Khê)

Thuận Yên (trước kia tên Lư Khê) là tên một làng nằm dọc trên đường Hà Tiên - Rạch Giá, gần làng có nhiều ghềnh đá thiên nhiên nối liền với ngọn đồi, trên có chùa Sơn Hải. Dân cư tại đây sống bằng nghề chài, Mạc Thiên Tứ tả cảnh chài lưới thuyền bè nhộn nhịp khi chiều buông.

      Bát ngát trong xanh ngậm bóng chiều.

      Lư Khê khói điểm ngọn đèn chài,

      Sóng tràn nhấp nháy thuyền ghe đậu.

      Trăng xế lô xô lưới đó bầy.

Ngoài ra Mạc Thiên Tứ cùng các văn nhân lập ra "Chiêu Anh các" để xướng họa. Nguyễn Cư Trinh, thời bấy giờ giữ chức Gia Định Khẩn súy Tham mưu Nghi biểu hầu, là một trong những bạn văn thơ của Mạc Thiên Tứ.

Địa danh Hà Tiên đắn liền với Mạc Thiên Tứ. Hai chữ Hà Tiên được nhiều người hiểu là nơi có nhiều thắng cảnh đẹp, xứng đáng là cảnh tiên hay nơi tiên giáng trần. Hà Tiên cũng có nghĩa là giòng sông bất tử. Theo truyền thuyết địa phương, lúc bà Bùi Thị Lẫm mang thai, một đêm nằm mơ thấy Phật bà cao tới hai mươi trượng hiện ra tại đồn Long Kỳ, nước sông bỗng dâng lên cao và đổi màu, sau đó rẽ ra làm hai bên rồi biến mất. Ngày hôm sau, bà Lẫm sinh hạ một tuấn nam, tên Mặc Sỉ Lân (sau này lấy tên Mạc Thiên Tứ). Người Hoa địa phương liền đặt tên địa danh đó là Hà Tiên, có nghĩa là giòng sông nơi tiên nữ giáng trần.

Hà Tiên trước kia còn có tên Phương Thành (thành phố của hương thơm). Nhà văn thi sĩ Đông Hồ mô tả Hà Tiên như sau : "Thành này là một nơi văn chương văn vật, có cái khí nhẹ nhàng, thơm tho như một cái thành đầy kỳ hoa đị thảo phấn hương". Hà Tiên có rất nhiều hoa sen trắng nhụy vàng, được dân chúng gọi là hoa Phù Dung hay Phù Cừ, tỏa hương thơm ngát trong những đêm hè quanh chùa Phu Dung.

Hà Tiên có một tên khác là Trúc Băng Thành (thành phố có bờ đồn tre). Hà Tiên trước kia có hai bờ tường thành mọc đầy loại tre già có gai bao bọc, che chở. Một là Bờ Đồn Lớn dài độ 30 cây số, và Bờ Đồn Nhỏ dài khoảng ba cây số.

Gia đình họ Mạc, rất sùng đạo, đã cho xây cất tại đây 33 ngôi đình và chùa thờ Phật (tất cả đều bị quân Xiêm vào cướp và đốt phá năm 1771). Sau này dân địa phương chỉ xây và phục hồi lại được hai mươi chùa. Tên Hà Tiên do Mạc Thiên Tứ đặt ra để tưởng nhớ tới vị Phật Bà đã xuất hiện khi ra đời. Năm 1784 Nguyễn Phúc Ánh đặt tên vĩnh viễn là Hà Tiên, nhưng dân chúng địa phương người Hoa vẫn thích giữ tên cũ là Căn Khẩu Quốc.

Thị xã Hà Tiên trước kia rất đông người Hoa cư ngụ, đa số là người Quảng Đông và Phúc Kiến. Ngày nay chỉ còn khoảng 2.000 người, trong đó 800 sống ngay trong thị xã, được phân chia như sau : Triều Châu 70%, Hẹ 17%, Hải Nàm 13%. Người Hoa sở hữu hai hãng làm nước mắm, một hãng làm nước đá (duy nhất) và 70 trong tổng số 100 cửa hàng được gọi là lớn của thị xã.

- Võ Trường Toản, người gốc Hoa lánh nạn Mãn Thanh, trước sang ở tại làng Thanh Kệ, tỉnh Thừa Thiên, sau dời vào Nam ở tại Bình Dương, Gia Định. Thiên tư thông minh, học sâu biết rộng và có chí cao khiết, gặp lúc nước nhà loạn lạc, ông lánh ẩn tại Bình Dương chuyên tâm nghiên cứu học hỏi và dạy học trò. Nhiều danh thần của vua Gia Long là môn đệ của Võ trường Toản như Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tịnh, Ngô Tùng Châu, Phạm Đăng Hưng, v.v...

Chúa Nguyễn Phúc Ánh lúc còn ở Gia Định, nghe tiếng ông là người tài đức, đã mời đến để giao quan chức nhưng ông nhất mực từ chối. Để đáp ơn tri ngộ, ông có dâng lên Nguyễn Phúc Ánh 10 điều về cách bình định xứ sở. Từ đó ông luôn được Nguyễn vương mời đến để bàn luận về kinh điển và chính trị. Võ Trường Toản mất năm 1792.

Nguyễn Vương rất thương tiếc, ban cho tên hiệu là "Gia Định xử sĩ Sùng đức Võ tiên sinh" và một đôi liễn điếu như sau :

      Triều hữu huân danh, bán thuộc Hà phần cựu học

      Đẩu nam phong giáo, tề khâm Nhạc lộc dư uy.

Hài cốt lúc đầu chôn tại Hòa Hưng (Bình Dương), đến năm 1865, sau khi mất ba tỉnh miền Đông vào tay quân Pháp, mộ ông được cải tán đem về xóm Gành Mù U trong làng Bảo Thạnh, quận Ba Tri (Bến Tre). Tại Hòa Hưng có miếu thờ Võ Trường Toản theo lời xin của Phó kinh lược sứ Phan Thanh Giản năm 1855 (năm Tự Đức thứ 8).

Về văn thơ của Võ Trường Toản, hiện nay chỉ còn lưu truyền lại một bài phú "Hoài Cổ" bằng chữ quốc âm (chữ nôm).

Gia Định tam gia thi : Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhân Tịnh

1. Trịnh Hoài Đức, còn có tên là An, tự Chỉ Sơn, hiệu Cấn Trai, đến ở tại đất Trấn Biên (Biên Hòa). Là người thông minh, lại được thụ giáo với bậc cự nho Võ Trường Toản, ông thi đỗ và được bổ làm Hàn lâm viện Chế cáo, rồi sung chức Điền tuấn quan trông coi việc khai khấn đất đai ở Gia Định.

Ông đã giúp vua Gia Long rất nhiều trong các công việc chính trị, ngoại giao, kinh tế và lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng. Năm 1793 được cử làm Đông cung thị giảng để dạy hoàng tử Cảnh, thăng Ký lục dinh Trấn Định (1794), Hộ bộ hữu tham tri (1794), Thượng thơ bộ Hộ (1795), sung chức Chánh sứ cầm đầu phái bộ sang Tàu đưa quốc thư và nộp lại ấn sách nhà Thanh phong cho Tây Sơn (1802), Hiệp tổng trấn Gia Định thành (1812), quyền Tổng trấn Gia Định thành (1820), Thượng thư bộ Lại sung Phó tổng tài Quốc sử quán, kiêm Binh Bộ (1820). Năm 1823, đời Minh Mạng ông dâng sớ cáo lão về hưu và từ trần năm 1825, thọ 61 tuổi, được truy tặng hàm Thiếu phó, Cần chánh điện Đại học sĩ và tên thụy là Văn Khúc, sau được dự thờ tại Miếu Trung Hưng công thần. Mộ ông được chôn tại làng Bình Tước, Biên Hòa.

Ngoài tài chính trị, Trịnh Hoài Đức còn là một nhà sử học lỗi lạc, đã để lại một sử liệu giá trị, quyển "Gia Định thành thông chí", mô tả rất kỹ về lịch sử của Sài Gòn.

Theo bản dịch của Aubaret năm 1863 : "Sài Gòn là danh từ để gọi thành phố của người Hoa, phát âm theo giọng Quảng Đông là "Xí-Coón" hay "Xây-Cóon", viết ra Hán tự thành "Tây Cống", (Chợ Lớn ngày nay). Sau khi bị quân Tây Sơn nhiều lần bách hại (1773, 1782, 1783), người Hoa gầy dựng lại đất Chợ Lớn càng ngày càng sung túc hơn. Thời đó Chợ Lớn vẫn còn là một vùng sình lầy, còn được người Hoa gọi là "Tai-ngon" hay "Tin-gan", mà phát âm theo giọng Quảng Đông là "Thầy-nguồn" hay "Thì-ngòn", đọc theo giọng Việt là "Đề Ngạn" (Đề là cái bờ đê, Ngạn là bờ sông cao dốc). Đề Ngạn là vùng Chợ Lớn ngày nay, còn Sài Gòn thật ra là tên cũ của thành Gia Định tức danh Bến Nghé (lấy tên sông Bến Nghé tức sông Sài Gòn ngày nay)".

 Theo Trịnh Hoài Đức mô tả trong sách thì năm 1788, Nguyễn Ánh lấy lại thành Gia Định từ tay quân Tây Sơn, và với người Pháp dựng lại thành Gia Định với hình bát quái. Nguyễn Ánh đổi phủ Gia Định thành trấn Gia Định, rồi từ đó thành bát quái này được gọi là thành Gia Định, cai quản năm trấn (quận) trên đất này. Trịnh Hoài Đức cũng mô tả sinh hoạt của người gốc Hoa tại đây và những đóng góp của họ vào nền thương mại của thành phố này.

Sau khi ông mất, thành phố này không ngừng biến cải. Sài Gòn thời bấy giờ gồm hai thành phố riêng biệt cách nhau khoảng ba dặm. Bến Nghé là trị sở của chính phủ và địa điểm của thành nằm bên bờ phía Tây của sông lớn, còn Sài Gòn nằm trên khúc sông nhỏ thông thẳng với Bến Nghé. Đến năm 1832, khi Quan Lớn Thượng, tức Tả Quân Lê Văn Duyệt, chết thành Gia Định bị bỏ ngỏ, không còn ai quản hạt năm trấn nữa mà chỉ còn làm trị sở cho trấn Phiên An. Trong những năm 1833-1835, thành Phiên An dùng làm căn cứ địa cho cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi nhưng bị thất bại, vua Minh Mạng triệt hạ thành và cho xây lại năm 1837 ở góc phía Bắc thành cũ. Năm 1859, quân Pháp triệt hạ thành này và cho tới tháng 2-1861, đồn Chí Hòa của thành bị thất thủ. Sài Gòn hoàn toàn lọt vào tay quân Pháp.

Ngày nay, nhiều người đã thống nhất về tên gọi của Sài Gòn. Nhưng trước đó, năm 1680, Sài Gòn có tên là Prei Nokor (tên gọi thời cổ Thủy Chân Lạp), năm 1778 tên là Đề Ngạn (nơi tụ tập của người Hoa) và từ năm 1790 mang tên Bến Nghé và đến thời Pháp thuộc mang tên Sài Gòn. Hồi thời giám mục Bá Đa Lộc (Béhaigne de Pigneau), tên Sài Gòn thường được trích gọi trong thư từ, nhưng đến năm 1860, tên này mới được phổ biến rộng và thống nhất trở lại.

Trịnh Hoài Đức, lúc sinh thời đã cùng với hai bạn thơ Ngô Nhân Tịnh và Lê Quang Định thường xướng họa mua vui, thơ văn của ba ông hợp thành một bộ gọi là "Gia Định tam gia thi" và cùng nhau lập ra "Bình Dương thi xã"' còn gọi là nhóm "Sơn Hội" với sự tham gia của nhiều văn nhân thi sĩ đương thời khác như Hối Sơn Hoàng Ngọc Uẩn, Kỳ Sơn Diệp Minh Phụng, v.v...

2. Lê Quang Định (1760-1813), tự Tri Chỉ, hiệu Tấn Trai, người Minh Hương, nguyên quán tại huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Lúc nhỏ, vì mồ côi cha, nghèo, nên phải theo anh vào Gia Định. Lớn lên, rất ham học, có tài văn thơ, Lê Quang Định kết bạn với Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tịnh, cùng thành lập hội thơ văn gọi là "Bình Dương Thi Xã". Năm 1788, ông đỗ khoa thi mở tại Gia Định khi chúa Nguyễn Phúc Ánh xưng vương và được bổ dụng vào chức Hàn lâm viện Chế cáo. Sau đó, ông sung chức Điền tuấn quan cùng với Trịnh Hoài Đức, Ngô Tùng Châu trông coi việc khai khẩn điền thổ.

Năm 1800, ông được thăng Binh bộ hữu tham tri, rồi cùng với Nguyễn Văn Nhân phụng mạng phò hoàng tử Cảnh giữ thành Gia Định. Đến năm 1802, được thăng Binh Bộ thương thư, sau đó được cử làm Chánh sứ sang Trung Hoa cầu phong và xin đổi quốc hiệu. Năm 1806, phụng mạng soạn sách "Đại Việt nhất thống dư địa chí" (10 quyển), ghi rõ phong tục, thổ sản, sông núi và đường sá trong nước hết sức tường tận. Năm 1810, làm Hộ Bộ thượng thư kiêm coi Khâm thiên giám. Năm 1811, được cử coi việc lập số dinh điền và chia hạng ruộng đất. Năm 1813, ông mất, thọ 54 tuổi. Năm 1852, Lê Quang Định được dự thờ vào Trung Hưng Công Thần Miếu.

Ngoài bộ "Đại Việt nhất thống Dư Địa chí", Lê Quang Định còn để lại một ít thơ văn in chung với thơ văn của hai ông Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tịnh trong tập "Gia Định tam gia thi".

3. Ngô Nhân Tịnh, tự Nhữ Đơn, người Minh Hương. Ông là môn đệ của danh sĩ Võ Trường Toản và là văn thần triều Nguyễn, đời Gia Long. Ra giúp chúa Nguyễn cùng với Lê Quang Định và Trịnh Hoài Đức, được phong chức Hàn lâm viện thi độc. Hai lần đi sứ Tàu : năm 1798, đang làm Binh bộ Hữu tham tri, ông được cử đi sứ sang Trung Hoa với mục đích dọ thám mọi việc ; năm 1802, sau khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua, ông được cử làm Giáp phó sứ theo Trịnh Hoài Đức và Hoàng Ngọc Uẩn sang Trung Hoa đưa quốc thư và nộp lại những ấn sách của nhà Thanh trước đây phong cho Tây Sơn. Năm 1807, được sung chức Chánh sứ, ông cùng với Phó sứ Trần Công Đàn đem ấn sắc vào thành La Bích phong cho Nặc Ông Chân làm vua Chân Lạp.

Năm 1811, lãnh chức Hiệp trấn Nghệ An, ông tâu vua rõ cảnh dân tình đói khổ nơi ông trị nhậm và tìm đủ mọi cách để xin triều đình cứu giúp. Trong dịp này, ông đã cùng với Đốc học Nghệ An, Bùi Dương Lịch, soạn quyển "Nghệ An phong thổ ký". Năm 1812, khi Tả Quân Lê Văn Duyệt vào làm Tổng trấn Gia Định thành, ông được cử giữ chức Hiệp tổng trấn. Năm 1813, ông cùng Lê Văn Duyệt phụng chiếu đem binh đưa vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân về Chân Lạp. Cũng năm ấy, vì bị gièm pha và bị vua Gia Long nghi ngờ, ông buồn phiền lâm bệnh rồi mất. Thi thể ông được mai táng tại Chí Hòa (Gia Định), sau được phong tặng Kim tử Đại phu, Chính trị Vinh lộc Thượng khanh, tước Viễn hầu, thụy Túc Gian.

Ngô Nhân Tịnh đã để lại nhiều bài thơ trong tập "Gia Định tam gia thi" cùng với Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định.

Gia Định tam hùng : Đỗ Thành Nhân, Võ Tánh và Châu Văn Tiếp

1. Đỗ Thành Nhân, còn có tên là Hữu Phương, người làng Minh Hương, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, vào Nam ngụ tại Phiên An trấn. Sau trở thành danh tướng, anh hùng đất Ba Giồng (Định Tường), được xưng tụng là một trong "Gia Định tam hùng".

Nhân thời loạn, Đỗ Thành Nhân tập hợp được hơn 3.000 nghĩa quân gọi là binh đoàn Đông Sơn, tự xưng là Phương Danh hầu, chống lại Tây Sơn. Năm 1776, Đỗ Thành Nhân về theo chúa Nguyễn (Định vương Nguyễn Phúc Thuần). Năm 1778, ông đánh thắng Tây Sơn ở sông Bến Nghé, giết được tướng Tư Khấu Oai. Cũng năm đó, ông cùng Phó tướng Hồ Văn Lân, phụng mạng chúa Nguyễn Phúc Ánh sang dẹp loạn ở Chân Lạp. Năm 1780, khi Nguyễn Phúc Ánh xưng vương ở Gia Định, ông được phong chức Ngoại hữu Phụ chính Thượng tướng quân, tước Quận công. Sau vì việc bắt dân nạp lương, bị Nguyễn Phúc Ánh nghị kyï và lập mưu giết đi (cuối tháng 3/1781).

Đỗ Thành Nhân là một người rất giỏi về kỹ thuật đóng tàu chiến. Năm 1780, ông cho đóng thủy sư hai bánh lái : bánh lái hình dài để đi biển, bánh lái tròn để đi sông. Số lượng tàu chiến của Nguyễn Phúc Ánh, năm 1766, được Đỗ Thành Nhân nâng lên 500 chiếc. Những tàu chiến này đã góp phần quyết định trong việc chiếm lại thành Gia Định từ tay quân Tây Sơn.

Nhiều sử gia nói Nguyễn Phúc Ánh đã phá hũy cơ may chấm dứt nhà Tây Sơn sớm hơn khi cho người ám hại Đỗ Thành Nhân. Nguyên do cuộc ám sát phi lý này vẫn còn nằm trong bóng tối. Người ta thường suy luận rằng vị danh tướng này án bóng Nguyễn Phúc Ánh, làm danh vị vương trẻ tuổi lu mờ. Có lẽ đây là hành động thiếu chính trị nhất của Nguyễn Phúc Ánh. Đỗ Thành Nhân là vị tướng mà nhà Tây Sơn thực sự nễ sợ. Người ta thuật lại rằng, Nguyễn Nhạc reo mừng khi hay tin Đỗ Thành Nhân bị Nguyễn Ánh sát hại. Quân của Đỗ Thành Nhân nổi loạn sau đó, uy thế của Nguyễn vương suy yếu khiến quân Tây Sơn chiếm lại được thành Gia Định.

2. Võ Tánh, người Minh Hương, tổ tiên trước kia ở làng Phước An (Biên Hòa) sau dời về Bình Dương, Gia Định. Thuở còn thanh niên, ông luyện tập võ nghệ, nổi tiếng là một võ sư cao cường có sức mạnh hơn người, một mình Võ Tánh đã dùng tay không đánh cọp tại 18 thôn Vườn Trầu . Đương thời, ông cùng với Đỗ Thành Nhân và Châu Văn Tiếp họp thành Gia Định tam hùng. Quân Tây Sơn thường nói rằng : "Trong bọn tam hùng đất Gia Định, Võ Tánh là anh hùng bậc nhất, không nên phạm đến".

Vì không chịu khuất phục Tây Sơn, Võ Tánh chiêu tập nghĩa binh cùng với anh là Võ Nhân phất cờ khởi nghĩa tại 18 thôn Vườn Trầu (Gia Định), rồi kéo binh chiếm giữ cả vùng đất Gò Công. Võ Nhân là thuộc tướng của Đỗ Thành Nhân. Sau Đỗ Thành Nhân bị giết, Võ Nhân tụ quân Đông Sơn làm phản, đánh lại chúa Nguyễn, nhưng chẳng bao lâu cũng bị bắt và bị giết. Võ Tánh đem tàn quân của anh chạy về án giữ thôn Vườn Trầu. Quân Đông Sơn dưới tay Võ Tánh có đến mấy vạn người, chia thành 5 đoàn, được đặt hiệu là đạo quân Kiến Hòa. Võ Tánh tự xưng là Tổng nhung.

Khi Nguyễn Phúc Ánh từ Xiêm La trở về nước có sai Nguyễn Đức Xuyên đến mời Võ Tánh về giúp. Khi Nguyễn vương về đóng ở Nước Xoáy, Võ Tánh đem bộ hạ đánh đuổi tướng Tây Sơn, Phạm Văn Tham, rồi đến tháng 4/1788 mới đem bộ tướng : Võ Văn Lượng, Nguyễn Văn Hiếu, Mạc Văn Tô, Trần Văn Tín đến bái kiến Nguyễn vương. Nguyễn Phúc Ánh quá mừng rỡ phong Võ Tánh làm Tiền phong dinh Chưởng cơ và gả em gái là Ngọc Du công chúa. Các thuộc tướng đều được phong làm cai cơ.

Ngay từ buổi đầu, Võ Tánh đã giúp Nguyễn Phúc Ánh nhiều công trạng : vây đánh và bắt được tướng của Tây Sơn tên Phạm Văn Tham (1789), đánh bại tướng Đào Văn Hổ và thu phục thành Diên khánh (1790). Năm 1793 Võ Tánh được thăng làm Khâm sai Quản suất Hậu quân dinh, Bình tây Tham thặng Tướng quân Hộ giá. Năm 1794 làm Trấn thủ thành Diên Khánh, sau đó về lại Gia Định và được phong tước Quận công, cùng thăng chức Đại tướng quân. Năm 1797, ông theo Nguyễn vương ra đánh Quảng Nam, thắng được tướng Nguyễn Văn Ngụ tại cửa Đại Chiêm (Cửa Đại), quân sĩ Tây Sơn về hàng rất đông. Sau đó đánh bại Đô đốc Nguyễn Văn Giáp tại sông Mỹ Khê (Quảng Ngãi). Năm 1799, Võ Tánh theo Nguyễn Phúc Ánh ra đánh Qui Nhơn, ông cùng với tướng Nguyễn Huỳnh Đức đánh thắng nhiều trận tại Thị Gia, Tân An, giết được Đô đốc Nguyễn Thiệt và chiêu hàng Đô đốc Lê Chất, chận đánh Thái phó Lê Văn Ưng tại Kha Đạo, bắt hơn 6.000 tù binh và tịch thu 50 voi chiến, các tướng Tây Sơn khác : Lê Văn Thanh, Nguyễn Đại Phát phải xin hàng. Thành Qui Nhơn được đổi tên là Bình Định và giao cho Võ Tánh và Ngô Tùng Châu ở lại trấn giữ. Lúc Võ Tánh cầm chân quân Tây Sơn tại thành Bình Định, Nguyễn Phúc Ánh đánh chiếm thành Phú Yên rất dễ dàng.

Ngày 7/7/1801, trong lúc bị vây ngặt, có người khuyên Võ Tánh bỏ thành mà chạy nhưng ông không chịu. Võ Tánh nói : "Không thể được. Ta phụng mạng giữ thành này, nên thề với thành cùng sống chết. Nếu bỏ thành mà hèn nhát trốn lấy một mình, thời sau này còn mặt mũi nào trông thấy Chúa thượng". Sau đó ông trao cho tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu một bức thư đại ý nói rằng : "Phận sự ta làm chủ tướng thì đành liều chết ở dưới cờ, ta đâu có ngại. Còn như các quân sĩ không có tội tình gì, xin chớ nên giết hại". Tiếp theo ông lấy rơm cỏ chất dưới lầu Bát Giác (Bình Định), đổ thuốc súng rồi tự đốt mà chết. Quan Hiệp trấn Ngô Tùng Châu cũng uống thuốc độc tự tử. Trần Quang Diệu đem quân vào thành, xúc động trước tấm gương tiết liệt của Võ Tánh, sai người làm lễ liệm tang tử tế và không làm tội hay giết hại một ai. Quân Tây Sơn đem đại quân đến bao vây thành suốt 3 năm mới hạ được thành.

Vua Gia Long, sau khi lên ngôi Hoàng đế, tưởng nhớ đến công lao của Võ Tánh cho lập đền thờ ở nền cũ lầu Bát Giác, sai người đưa di cốt của ông về chôn tại Phú Nhuận (Gia Định) và truy tặng tước Dực vận Công thần, Phụ quốc Thượng tướng công, Trụ quốc úy Thái trung liệt. Vua Minh Mạng truy phong làm Hoài quốc công.

Tới nay, người Bình Định còn lưu truyền câu hát nói lên cảm tình của dân chúng đối với cái chết anh dũng của Hậu quân Võ Tánh :

      Ngó lên ngọn tháp Cánh Tiên

      Cảm thương quan Hậu thủ thiền ba năm !

3. Châu Văn Tiếp (1738-1784), người Minh Hương huyện Đông Xuân, tỉnh Bình Định (sau thuộc Phú Yên). Là danh tướng từng giúp chúa Nguyễn Phúc Ánh lập được nhiều công trạng, Châu Văn Tiếp được mọi người xưng tụng là một trong Gia Định tam hùng.

Theo truyền thống của gia đình, trung thành với chúa Nguyễn, khi quân Tây Sơn tiến về Qui Nhơn, ông đã mộ quân đánh lại quân Tây Sơn. Châu Văn Tiếp chiếm giữ núi Trà Lang cản đà tiến quân của Nguyễn Nhạc. Đến khi chúa Nguyễn bỏ Phú Xuân chạy vào Gia Định, Châu Văn Tiếp đem binh ra giúp. Chúa Nguyễn Phúc Thuần và Đông Cung bị Tây Sơn sát hại, Nguyễn Phúc Ánh lên nối nghiệp, Châu Văn Tiếp được phong làm Chưởng cơ, đem binh ra Phú Yên đánh Tây Sơn, bị thua phải bỏ về giữ núi Trà Lang.

Nghe tin Gia Định thất thủ, ông đem quân từ Phú Yên về hợp với quân các đạo chiếm lại thành Gia Định (1782), rồi cho người ra tận Phú Quốc đón Nguyễn Phúc Ánh về. Thành Gia Định lại thất thủ (1783), ông đưa Nguyễn Vương chạy ra Phú Quốc, Côn Lôn, rồi về lại Phú Quốc, sau cùng qua Xiêm cầu viện. Trở về nước, ông đã cùng chúa Nguyễn Phúc Ánh thu phục các vùng Rạch Giá, Ba Thắc, Trà Ôn, Mân Thít (Vĩnh Long) và Sa Đéc. Tháng 10/1784, ông bị tử thương khi giao tranh với quân Tây Sơn tại Mân Thít. Nguyễn vương thương tiếc vô cùng, truy phong ông chức Tả quân Đô đốc Chưởng phú sự. Về sau được thờ tại Hiền trung từ (Sài Gòn), Trung hưng Công thần miếu (Huế) và được liệt vào hạng Đệ nhất công thần. Tại huyện Vĩnh Trị (Vĩnh Long), dân chúng có lập đền thờ Châu quận công.

- Ngô Tùng Châu, người Minh Hương huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, sau vào Nam định cư ở Gia Định. Ông là môn đệ của Võ Trường Toản, xuất thân thụ chức Hàn lâm. Khi chúa Nguyễn Phúc Ánh xưng vương tại Gia Định, ông được phong chức Điền tuấn quan cùng với các bạn đồng môn là Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức... tất cả gồm 12 người coi việc điền thổ. Sau ông được thăng lên chức Lễ bộ Tham tri kiêm Phụ đạo Đông cung Thái tử Nguyễn Phúc Cảnh.

Năm 1799, Ngô Tùng Châu được phong làm Hiệp trấn cùng trấn thủ thành Bình Định với Võ Tánh. Mặc dù đã cố sức chống giữ nhưng binh sĩ mệt mõi sau 3 năm bị quân Tây Sơn bao vây, ông uống thuốc độc tự tử. Về sau ông được vua Gia Long truy tặng làm Tán tri Công thần, Thái tử Thái sư Quận công. Sang đời Minh Mạng lại được truy phong là Ninh hòa Quận công, được thờ tại Thế miếu và liệt vào miếu Trung Hưng công thần.

- Trần Tiễn Thành, người làng Minh Hương, huyện Hương Trà (Thừa Thiên), vốn tên Thời Mẫn, được vua Tự Đức mến chuộng ban tên Tiễn Thành. Thân sinh là Trần Triều Dực (Tri phủ Tân Bình, Gia Định) mất hồi ông 12 tuổi, ông ở với bà cô tại Chợ Dinh thuộc vùng ngoại ô Phú Xuân. Năm 21 tuổi, vào học trường Quốc tử giám. Năm 25 tuổi đỗ cử nhân và 26 tuổi đỗ tiến sĩ.

Ra làm quan và dưới thời Tự Đức lần lượt được thăng đến hàm Văn minh điện Đại học sĩ, chức Binh Bộ thượng thư. Năm 1859, ông được cử cùng với Thự thống chế Vũ Lâm Dinh, Hữu dực Nguyễn Như Thăng trông coi việc xây đắp đồn lũy phòng thủ cửa biển Thuận An gần Huế. Sau khi vua Tự Đức mất, ông được cử làm Phụ chánh Đại thần. Vì bênh vực cho Thoại quốc công êng Chân, người được vua Tự Đức cử kế vị, và không chịu theo mưu của hai quan Phụ chánh Đại đồng là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, ông bị hai người này làm tội và cách chức.

Khi vua Hiệp Hòa lên ngôi, nghĩ ông là bậc cựu thần trải thờ 4 đời vua, chỉ giáng 2 cấp lưu, song lại cho được khoan miễn trước khi có ân xá. Sau đó ông lấy cớ già yếu, xin nghĩ việc và về ở Chợ Dinh. Do có người gian mật tấu đầy ác ý, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết sai người ám sát Trần Tiễn Thành, và còn tâu vua xin giáng họ Trần xuống hàm Binh Bộ thượng thư. Sang đời vua Đồng Khánh, Trần Tiễn Thành mới được phục hồi hàm Văn minh điện Đại học sĩ.

- Phan Thanh Giản (1795-1867), tự Tịnh Bá và Đạm Như, hiệu Lương Khê, biệt hiệu Mai Xuyên, là một danh thần triều Nguyễn. Phan Thanh Giản quê ở Bến Tre. Ông nội là Phan Thanh Tập, người nhà Minh chạy nạn nhà Thanh (Trung Hoa) di cư sang Việt Nam ở vùng Bình Định, lấy vợ người Việt sinh ra Phan Thanh Ngạn. Trong cuộc chiến giữa Tây Sơn và chúa Nguyễn, gia đình ông Ngạn di cư một lần nữa vào miền Nam, ở làng Bảo Thạnh, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long (nay là quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Ông Phan Thanh Ngạn lấy vợ người Việt, năm 1795 sinh ra Phan Thanh Giản.

Đời Minh Mạng thứ 6, ông thi hương đỗ cử nhân tại Gia Định, năm sau thi đình đỗ tiến sĩ (ông là người duy nhất ở Nam Kỳ đỗ tiến sĩ trong hội thi năm 1826). Sau đó ông làm quan trải ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức.

Ông lần lượt được phong Hàn lâm viện Biên tu, Lang trung Bộ Hình, Tham hiệp tại Quảng Bình, quyền Trấn thủ Nghệ An (1828), Thự phủ doãn Thừa Thiên (1829), Hiệp trấn tỉnh Ninh Bình (1830), Hiệp trấn tỉnh Quảng Nam (1831), sau bị giáng xuống Tiền quân Hiệu lực (1862) đi dẹp loạn Katu ở Quảng Nam. Năm 1862 được sung chức Hàn lâm viện Kiểm thảo Nội các Hành tấu, Viên ngoại Bộ Hộ, Phó sứ sang Trung Hoa (1833), Đại lý Tự khanh (1834), Cơ Mật viện Đại thần, Khâm trấn miền Trấn Tây (Bình Định), Bố Chánh, Hộ Lý tuần vũ Quảng Nam. Năm 1836 bị giáng xuống làm Lục phẩm thuộc viên (quét dọn công đường) vì đã dám cản một chuyến du hành của vua tại Ngũ Hành sơn để dân có dịp làm mùa, sau được bổ Thừ chỉ Nội các, Lang trung, Biện lý Bộ Hộ, Thị lang Viện Cơ Mật. Năm 1838 vì sơ ý làm phật lòng vua, ông bị giáng chức đi coi việc khai thác mỏ vàng ở Quảng Nam và mỏ bạc ở Bắc kỳ. Năm 1839 được xung chức Phó sử sở Thông Chánh, Hộ Bộ thị lang, sau bị đổi làm Hộ lý ở Thương Trưởng, v.v...

Sau đến đời vua Tự Đức, ông được sung chức Hiệp biện Đại học sĩ (1853), Thượng thơ Bộ Hình, Kinh diên Giảng quan kiêm Tổng tài Quốc sử Quán sung Cơ Mật viện đại thần. Ông có đi sứ nhà Thanh và giữ chức Quốc sử quán Tổng tài, thời Tự Đức, soạn ra bộ Khâm Định Việt Sử.

Từ 1862 đến 1867, Pháp lần lượt chiếm 6 tỉnh miền Tây Nam kỳ, Phan Thanh Giản được cử làm Như tây Chánh sứ (1863) sang Pháp thương lượng, sau làm Kinh lược sứ vào Nam (1866), trấn nhậm Vĩnh Long để đối phó với tình thế nguy ngập. Trước sự uy hiếp quân sự của quân Pháp, cảm thấy không hoàn thành sứ mạng mà vua giao phó, ông viết một tờ sớ dâng lên vua đại ý như sau : "...Nay gặp thời gian bĩ, việc dữ khởi ở trong cõi, khí xấu hiện ở biên thùy, việc cõi Nam Kỳ một chốc đã thế này, không thể ngăn cản nổi, nghĩa tôi đáng chết không dám sống cẩu thả để cái nhục cho quân phụ. Đức Hoàng thượng rộng xét xưa nay, biết rõ trị loạn : người thân kẻ hiền trong nước cung lòng giúp đỡ, kính cẩn phép trời, thương người cùng khổ, lo trước tính sau, đổi dây thay bánh, thế lực còn có thể làm được. Tôi tới lúc tắt nghỉ, nghẹn ngào không biết nói sao, chỉ gạt nước mắt tỏ lòng quyến luyến, trông mong khôn xiết...". Viết xong, ông xếp triều phục và các đạo sắc phong cho người đem về Kinh, rồi tuyệt thực. Thấy con cháu khóc lóc, ông cười mà dạy : "Ta nay ra người vô dụng, sống không lợi ích cho quê hương, thác cũng không thiệt thòi cho xã hội. Chỉ khuyên các con chẳng nên đục lợi cầu vinh mà làm điều nhẫn tâm hại lý. Hãy cố học cho bằng người Âu Tây..., họa may sau này đặng vẻ vang cho Tổ quốc". Nhịn ăn 17 ngày mà không chết, ông uống thuốc độc để kết liễu đời mình. Ông mất ngày 5/7/1867, năm Đinh Mão. Triều đình lên án ông gắt gao, đục tên trên bia Tiến sĩ, mãi đến đời vua Đồng Khánh (1886), ông mới được khôi phục nguyên hàm và tên được khắc lại trên bia đá.

Về thơ văn, Phan Thanh giản đã để lại nhiều tác phẩm cho đời sau. Viết bằng Hán tự có tập Du Kinh (1826), Toái Cầm, Kim Đài Thi Tập (1832), Sứ Trình nhật ký (1863), Khảo Cổ ‰ưc thuyết. Viết bằng chữ Nôm : Lương Khê thi thảo. Ngoài ra ông còn soạn chung những sách : Minh Mạng chính yếu (1837) và Khâm Định thông giám cương mục (1853).

- Lý Văn Phức, tự Lân Chi, hiệu Khắc Trai, lánh nạn nhà Mãn Thanh đến định cư tại làng Hồ Khẩu, huyện Vĩnh Thuận, Hà Đông. Năm 1819 đỗ cử nhân, tham chính trải 3 đời vua (Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức). Làm quan đến chức Tham Tri thì bị cách chức, đến năm 1830 được vua Minh Mạng miễn tội và phụng mạng đi sứ các nơi như Tiểu Tây Dương, Tân Gia Ba, Lữ Tống, Quảng Đông và Áo Môn. Năm 1834, được khai phục chức Chủ sự rồi thăng Quang lộc Tự khanh. Năm 1835 được cử đi sứ Tàu. Ông mất năm 1849, thọ 64 tuổi.

Lý Văn Phức để lại nhiều tác phẩm : bằng Hán văn : có Tây Hành kiến văn lục (hay Kỷ lược), Việt Hành ngâm (hay Thi thảo), Việt Hành tục ngâm, Kính Hải tục ngâm, Học Ngâm tồn thảo, Chu Nguyên tạp vịnh thảo, Tiên Thành lữ hoại, Lý Thị gia phả ; bằng văn quốc âm (chữ nôm) : Nhị Thập Tứ Hiếu diễn âm, Phụ Châm tiện lãm, Tự Thuật ký, Bất Phong lưu truyện, Sứ trình tiện lãm khúc...

IV. Thời Pháp thuộc

- Ông Khuông Việt, trong sách khảo về Tôn Thọ Tường, ghi rằng năm 1866 có cuộc đấu xảo (exposition) đầu tiên trong xứ và qua ngày 4-3 có bày lẽ phát phần thưởng trước mặt quí ông Tôn Thọ Tường, tri phủ Trần Tử Ca, tri huyện Nguyễn Văn Thi, giáo sư Trương Vĩnh Ký, cùng những ông : Carneiro, Sémane, Manheimdorff, Dunlop, Mettler, Wang Tai và Tấn Phát.

Người ta suy diễn hai ông, Tấn Phát và Wang Tai, là người gốc Hoa. Có người đoán ông Wang Tai là họ Vương đọc theo lối phát âm Tây Phương, có người viết là họ Hoàng, nhưng tên tuổi của ông "Vương Tài" này được rất nhiều người biết tiếng thời đó.

- Lý Liễu, người Minh Hương quê ở Tam Bình (Vĩnh Long), là một chiến sĩ cách mạng miền Nam trong phong trào Đông Du. Ông xuất dương năm 1907, theo học Trung-Anh học đường tại Trung Hoa, bị chính quyền Anh bắt giữ tại Hồng Kông và bị đày sang Guyane (Nam Mỹ). Năm 1917, ông vượt ngục, trốn sang đảo Trinidad lấy quốc tịch Trung Hoa, cùng với một số đồng chí khác là Nguyễn Quang Diệu, Đinh Hữu Thuật định cư lập nghiệp. Giữa năm 1920, các nhà cách mạng quyết định trở về nước để tiếp tục cuộc đấu tranh chống bạo quyền thực dân Pháp. Lý Liễu rời bỏ vợ (người Anh) và con, về lại Việt Nam hoạt động chính trị. Chẳng bao lâu, ông bị bắt và bị đày ra Côn Đảo rồi mất tại đó.

- Châu Thượng Văn, người Minh Hương, quê ở Hội An (Đà Nẵng), là nhà chí sĩ hăng hái hoạt động cho việc duy tân xứ sở. Sau cuộc dân biến năm 1908 tại Quảng Nam bị thất bại, ông bị bắt. Khi bị tra hỏi, ông tự nhận đã chủ mưu đưa người trong nước xuất dương cầu học tại Nhật Bản và xúi hạt dân xin giảm thuế. Ông bị kết án và đày đi Lao Bảo, nhưng ông tuyệt thực và chết tại đề lao Thừa Phủ (Huế).

Huỳnh Thúc Kháng, một bạn đồng chí, đã cảm tác câu đối điếu dịch nôm như sau :

      "Cái chết ai không sợ, ngươi lại không tham cái sống suông ;

      Tám thước mày râu, thẹn với non sông dành bữa gạo".

      "Phần khó để ai đương, ngươi bổn lãnh ngay phần dễ ;

      Một phần gánh vác, đều đem tâm huyết cáo bà con".

- Hồ Dzếnh, tên thật là Hà Triệu Anh, người Minh Hương, sinh năm 1917 tại Thanh Hóa, là một nhà thơ nổi tiếng thời tiền chiến, đã xuất bản nhiều truyện văn xuôi chữ quốc ngữ như "Quê Ngoại" (1943), "Hoa Xuân Đất Việt" (1945). Tập hồi ký "Chân Trời Cũ" (1942) kể những truyện về gia đình ông : cha người Hoa, mẹ người Việt, làm người đọc hình dung được những tình cảnh của làng quê Việt Nam ngày xưa : lam lũ, nghèo đói, heo hút, với những người đàn bà chịu thương, chịu khó và rất đỗi nhân hậu thủy chung.

Mỗi truyện là một thứ thơ buồn hướng về dĩ vãng đau đớn. Điều cảm động nhất là cái tình của nhà văn đối với quê ngoại "giải đất cần lao, giải đất thoát được ra ngoài sự lọc lừa, phản trắc, cái giải đất chỉ bị bạc đãi mà không bạc đãi ai bao giờ".

Ngoài ra ông còn xuất bản nhiều tác phẩm khác như "Một Chuyện Tình 15 Năm Về Trước", "Những Vành Khăn Trắng"... với bút hiệu Lưu Thị Hạnh. Hồ Dzếnh được biết nhiều với những bài thơ "Ngập Ngừng" và "Mầu Cây Trong Khói" (được phổ nhạc dưới tên Chiều và còn hát đến ngày nay).

Trần Tuấn Kiệt viết về Hồ Dzếnh như sau : "Một Lưu Trọng Lư thật thanh cao thơ mộng, đạt được tiếng thơ nhẹ mà sâu vang vọng tự cõi bờ sương tuyết nào trong sương mơ đã để vào nền thi ca Việt một vóc dáng ung dung mờ ảo kể ra cũng đầy đủ lắm, rồi hôm nay thi ca Việt lại vang ngân lên một hồn lưu lạc của một người mang giòng máu Minh Hương, sống trên cảnh sông núi miền Nam và mối sầu được giăng đến nghìn xưa ở những xứ thơ mộng lạ thường của đất Trung Hoa ngày nọ. [...] Mà cũng là một thi nhân đa tình ghê gớm, mơ mộng lững lơ như khói chiều, tha thiết mà dũng cám như người dong thuyền nghe lời vọng của đám nhân ngư kỳ dị...".

Hồ Dzếnh mất ngày 13/8/1991 tại phố Hàng Mã, phường Ngô Thời Nhậm, Hà Nội, thọ 74 tuổi.

      Ngập Ngừng

      Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé

      Để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân

      Ngó trên tay thuốc lá cháy lụi dần

      Tôi nói khẽ gớm làm sao nhớ thế

      Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé

      Em tôi ơi! Tình có nghĩa gì đâu?

      Nếu là không lưu luyến buổi sơ đầu

      Thưở ân ái mong manh hơn nắng lụa

      Hoa bướm ngập ngừng, cỏ cây lần lữa

      Hẹn ngày mai mùa đến sẽ vui tươi

      Chỉ ngày mai mới đẹp ngày mai thôi

      Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé

      Tôi sẽ tránh, cố nhiên, nhưng rất nhẹ

      Nếu trót đi, em hãy gắng quay về

      Tình mất vui khi đã vẹn câu thề

      Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở

     

      Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ

      Cho nghìn sau lơ lửng với nghìn xưa.

      Lời Về

      Thuở trước quê em ở Bắc

      Vô Nam từ độ lên mười

      Mây trắng ngày ngày xa tấp

      Thương quê em buồn khôn nguôi...

      Mái tóc dừa xanh Thủ Đức

      Ngọt ngào thay trái Sầu Riêng,

      Gió bãi phù sa Bến Lức

      Nay thuần sữa mẹ linh thiêng.

      Em dẫu chỉ là con gái,

      Quê xinh soi bóng sông lành,

      Theo mẹ, băng chừng quan tài

      Bao giờ quên lũy tre xanh.

     

      Anh nhé dùm em nhắn với

      Nhớ quê em ngại thăm quê

      Lửa phương trời duyên Khánh Hội

      Bạc Liêu dễ ở, khó về.

      Vó ngựa từ ngày vỗ xuống Nam

      Truông mòn đưa lối Hải Vân San

      Áo nâu phai nhạt màu cây cỏ

      Lá rụng hoa rơi đất nước Chàm.

      Nước Chảy Chân Cầu

      Quê em xa thẳm màu mây gió

      Buồn vít không gian mất định kỳ

      Em có mơ về năm tháng cũ

      êm thầm nghe tiếc phút giây đi [...]

      Mầu cây trong khói

      Trên đường về nhớ đầy

      Chiều chậm đưa chân ngày

      Tiếng buồn vang trong mây

      Chim rừng quên cất cánh

      Gió say tình ngây ngây

      Có phải sầu vạn cổ

      Chất trong hồn chiều nay

      Tôi là người lữ khách

      Mầu chịu khó làm khuây

      Ngỡ lòng mình là rừng

      Ngỡ hồn mình là mây

      Nhớ nhà châm điếu thuốc

      Khói huyền bay lên cây

[Bài này được Dương Thiệu Tước phổ nhạc dưới tên Chiều]

Tứ trụ miền Nam : Nhất Hỏa, nhì Đàm, Tam Xường, tứ Ích

1. Hứa Bồn Hoa, tục danh là chú Hỏa, là một người giàu có nhất miền Nam trong thời Pháp thuộc. Mặc dầu danh vọng vang lừng, địa vị cao nhưng chú Hỏa không muốn ai gọi mình là "Ông Hỏa" cả nên mọi người đều sử dụng tục danh của như lúc còn hàn vi : chú Hỏa. Hui Bon Hoa là tên ký âm Pháp ngữ của chú Hỏa.

Chú Hỏa là một huyền thoại về người Hoa tại Việt Nam cho đến nay vẫn còn được nhiều người nhắc đến. Huyền thoại về chú Hỏa tiêu biểu cho đức tính, khả năng và đời sống của người Hoa sinh sống ở miền Nam vào đầu thế kỷ 20.

Tiếng đồn rằng thuở hàn vi, Chú Hỏa làm việc rất khổ cực, lúc thì lượm ve chai, lúc thì làm hầu bàn nhưng với ý chí muốn thành công, ông đã dành dụm và gây dựng lần hồi cơ sở làm ăn. Với số tiền dành dụm đó ông cho thân hữu vay lấy lãi để tăng thêm nguồn vốn, cơ sở của ông ngày một phát đạt.

Khi cơ sở phát triển mạnh, Hứa Bồn Hoa hùn vốn với một người Pháp mở tiệm cầm đồ ở khắp Nam Kỳ. Người Pháp đó chẳng may bị chết trong một tai nạn không người kế nghiệp. Vợ con của người này ở bên Pháp và con cháu từ chối qua Việt Nam tiếp tục công việc của cha. Chú Hỏa mua lại phần hùn và toàn bộ tài sản của Pháp kiều này và còn để cho con cháu của Pháp kiều, mặc dầu vẫn ở Pháp, quyền sở hữu vĩnh viễn một số bất động sản ở Lục Tỉnh.

Giai thoại kể lại rằng một hôm chú Hỏa muốn bán bớt một số đồ đạc của Pháp kiều, trong đó có một tấm thảm trải nền nhà đã cũ nhưng còn xài được. Khi chải bui cho sạch sẽ, chú Hóa khám phá một kho tàng gồm toàn vàng lá, tiền vàng, giấy bạc loại lớn cùng một số kim cương lót giữa hai mặt của tấm thảm. Với số tiền trời cho này, chú Hỏa mua sắm nhà cửa, đất đai, xây nhà cho thuê, đầu tư vào một số ngành kinh doanh lớn. Khác với những người Hoa khác, chú Hỏa muốn xây dựng nhà ở tại ngay trung tâm Sài Gòn, cạnh những cơ quan hành chánh của Pháp như một hình thức biết ơn và tin tưởng. Gia đình của chú Hỏa đều mang quốc tịch Pháp.

Năm 1936, có 46.000 ha ruộng đất do người Hoa sở hữu, riêng chú Hỏa đã làm chủ hơn một nửa. Cho đến năm 1975, gia đình họ Hứa làm chủ một bất động sản rất lớn : các phố xá chính ở Sài Gòn, nhất là ở khu Chợ Bến Thành, Chợ Cầu Ông Lãnh, Chợ Cầu Muối (tức gần như toàn bộ Quận Hai cũ nay được xáp nhập vào Quận Một) đều là của Chú Hỏa. Công ty họ Hứa quản trị bất động sản rất có tình có lý, ai không trả nổi tiền nhà thì cho khất kỳ sau và không ai biết được giá mướn của mỗi căn nhà là bao nhiêu.

Khi trở nên giàu có, chú Hỏa làm rất nhiều việc thiện như cứu giúp người nghèo, nuôi cơm những người vô gia cư, giúp tiền xây cất những cô nhi viện, bệnh viện... Chú Hỏa đã làm gương cho các bang trưởng, chủ nhà máy xay gạo, lò gạch, tiệm buôn lớn : những tay cự phú gốc Hoa khác nên chứng tỏ bằng hành động cụ thể sự biết ơn của mình đối với một đất nước đã đón nhận tổ tiên của họ trong lúc gian truân, hoạn nạn, mất quê hương. Chú Hỏa là một trong những người Hoa đã giúp ích rất nhiều cho sự phát triển kinh tế miền Nam.

Nhà riêng của chú Hỏa rấy nguy nga và đồ sộ chiếm cả một khu vực rộng lớn gần 2 hecta ở quận Nhất, chiếm cả khu tứ giác Phó Đức Chính, Nguyễn Công Trứ, Hồ Văn Ngà và Calmette. Sau 1975 đó chỉ còn là một lâu đài bỏ hoang, con cháu ít khi lui tới và hiện nay bị nhà nước cộng sản quản lý. Năm 1980, ngôi nhà này được cải biến thành Cung Thiếu Nhi quận Một, năm 1982 là Câu Lạc Bộ Văn Hóa Quận Một.

Nhân gian đồn rằng ngôi nhà của chú Hỏa có ma, "Con Ma Nhà Họ Hứa", khiến nhiều người yếu bóng vía không dám bén mảng đến vòng đai căn nhà này để quấy phá hay trộm cắp. Có người xấu miệng còn đồn rằng con ma đó là cô con gái út của họ Hứa - vì mang tật từ thuở nhỏ, rất xấu xí - bị cấm xuất hiện ban ngày, do đó đêm đêm cô này lẻn ra ngoài vườn hóng gió, hành tung rất kỳ quái.

2. Quách Đàm, là một di dân nhà Thanh đến Việt Nam lập nghiệp. Thuở hàn vi Quách Đàm mua bán ve chai, mua da trâu, vi cá và bong bóng cá. Ngày ngày Quách Đàm đi rong trong các hang cùn ngõ hẻm mua ve chai bất kể trời mưa hay gió và đôi khi còn bị bọn côn đồ lấy hết tiền bạc. Nhờ óc thông minh và bản tính lanh lợi, Quách Đàm gia nhập vào nghề thương mãi, lập ra hãng buôn Thông Hiệp, với thời gian ông trở nên giàu có và gian manh cũng không ai sánh kịp. Thống đốc Nam Kỳ thời đó, de Cognac, một người rất phách lối và trịch thượng, phải hạ mình kết thân với Quách Đàm để được mời đãi tiệc sang trọng.

Quách Đàm mua đất ruộng sình lầy tại Bình Tây để cất lên một phố chợ bằng chính tiền bạc của mình, gọi là Chợ Quách Đàm, mà ngày nay người ta quen gọi là Chợ Bình Tây. Chính phủ thuộc địa thời đó cho phép dân chúng tạc tượng của ông để tại cửa chánh môn. Tượng do Quách Đàm bỏ tiền ra làm và cho ăn mặc triều phục Mãn Thanh, tay cầm một bản đồ, dưới bệ đá có mấy con giao long bằng đồng phun nước (ý muốn nói khi trở nên giàu sang, Quách Đàm vẫn tưởng nhớ đến quê hương cũ và muốn trở thành một người quyền quí). Ngoài ra Quách Đàm còn có tham vọng dời Chợ Lớn về Bình Tây, nhưng mộng này không thành sau nhiều đợt vận động. Tiếng đồn rằng Quách Đàm rất dị đoan, ông luôn trách cứ ai đã bít con kinh trước nhà, như vậy là lắp mạch rồng của gia đình họ Quách, khiến ông phải tiêu tan sự nghiệp. Trong những năm 1929/1930, ông đứng ra bảo lãnh cho con nợ của Ngân Hàng Đông Dương vào đúng năm thế giới bị khủng hoảng tài chánh, ngân hàng không trả nổi, ông bị sạt nghiệp luôn từ đó. Đám tang của Quách Đàm rất lớn nhưng một thời gian sau mộ phần của ông bị bỏ bê không người chăm sóc và trở thành một bãi đất hoang.

- Hộ Xường là tục danh của Lý Tường Quan, tự là Phước Trai. Hồi đầu thế kỷ, Hộ Xường được xếp vào hạng thứ ba về giàu có : nhất Sĩ (ông Lê Phát Đạt, người Cầu Kho, thuở nhỏ tên Sĩ, khi chết vì có xuất tiền xây một nhà thờ nên được chôn trong nhà thờ Chợ Đũi, còn gọi là nhà thờ Huyện Sĩ) ; nhì Phương (Đỗ Hữu Phương, Chợ Lớn, sự nghiệp đồ sộ nhất nhì miền Nam, phần lớn do tay phu nhân, bà Trần Thị gây dựng) ; tam Xường (lãnh thầu cung cấp thức ăn cho thị xã, nhờ khéo tay rồi gặp thời đã trở nên giàu có) ; tứ Định (họ Trần, làm hộ trưởng tại Chợ Lớn, tục danh là Hộ Định).

Huyền thoại về sự giàu có của những nhân vật kể trên ngày nay đã bị sửa đổi nhiều, có người nói Nhất Sĩ, nhì Phương, Tam Xường, tứ Định, nhưng cũng người nói "nhất Hỏa, nhì Đàm, tam Xường, tứ Ích.

- Trần Ích (không rõ tiểu sử) là một trong bốn người được xếp hạng giàu có nhất miền Nam thời Pháp thuộc.

- Triệu Tường, theo thứ tự Tứ Trụ có lẽ người Hoa thứ ba về giàu có. Theo lối phát âm Trung Hoa Tường với Xường đọc tương tự như nhau, nhất là đối với người Việt. Triệu Tường là một người Hoa nổi tiếng làm chủ sòng bài lớn nhất Đông Nam Á thời đó : Đại Thế Giới. Người ta đồn rằng, trong thời gian từ 1945/1950, mỗi ngày Triệu Tường phải trả cho chính quyền thực dân tại Sài Gòn một triệu đồng bạc Đông Dương tiền thuế để được phép tiếp tục tổ chức sòng bạc. Ông Tường đã cho xây bằng tiền riêng hàng ngàn căn nhà tại Sài Gòn-Chợ Lớn để dân nghèo thuê lại với giá rẻ. Triệu Tường là người thành lập ra khu chợ An Đông ngày nay. Thời đó "đại ca Bảy Viễn" là một trong những đàn em thân tín của Triệu Tường để bảo vệ an ninh cho sòng bạc. Khi Triệu Tường chết Bảy Viễn vẫn tiếp tục kinh doanh khu Đại Thế Giới cho đến năm 1955.

- Chú Hỷ là tên gọi của một chủ hãng vận tải đường sông lớn nhất của người bản xứ so với các công ty vận tải của Pháp. Tên thật của Chú Hỷ là gì không ai rõ (sau này có người cho là Mã Hỷ?). Tiếng đồn rằng, mặc dầu về kỹ thuật và giờ giấc, đoàn tàu của Chú Hỷ thua xa tàu vận tải và chuyên chở của Pháp, nhưng Chú Hỷ đã cạnh tranh bằng cách bán giá vé rẻ hơn, cơm nước phục vụ dễ chịu, hành khách được tiếp đãi ân cần. Dân chúng miền Nam rất thích đi tàu của hãng Chú Hỷ. Thời đó dân chúng có câu : "Đi tàu Chú Hỷ, ở nhà Chú Hỏa".

- Nam Long là tên của một nhà máy xay gạo rất lớn và tối tân do một người gốc Hoa làm chủ chuyên xay gạo để xuất cảng.

- Nam Hải là một thương gia giàu có tiếng, có nhà rất lớn ở đường Nguyễn Văn Sâm (Quận Hai cũ hay Quận Một, phương 18 bây giờ).

- Di Sanh Long là chủ nhân nhiều tiệm thuốc bắc lớn hiệu Bướm Vàng, Ông Tiên.

               

- Lâm Thọ Vinh là chủ nhân hãng dầu Nhị Thiên Đường, một loại dầu trị bá chứng (đau bụng, nhức đầu,say sóng, buồn nôn và nhất là được dùng để cạo gió) rất được dân chúng miền Nam ưa chuộng.

- Dầu cù là Macphsu do một người Hoa tên Mạc Phúc Sử làm chủ. Macphsu là tên ký âm bằng Pháp ngữ khi Mạc Phú Sử ra cầu chứng tại tòa. Vì không biết đọc, biết viết tiếng Pháp nên khi được hỏi dầu cù là cầu chứng tên gì, ông tưởng là nhân viên tòa hỏi tên mình là gì, ông bèn nói Mạc Phúc Sử và được người Pháp viết theo phiên âm Pháp ngữ là Macphsu. Sản lượng và tiếng tăm dầu cù là Macphsu rất lớn, ngoài thị trường miền Nam, Mạc Phúc Sử còn xuất cảng sang Lào, Cambodge, Singapore và Thái Lan.

- Trương Văn Bền, là con cháu của một gia đình người Hoa gốc Triều Châu đến Việt Nam lập nghiệp hồi đầu thế kỷ. Trương Văn Bền có dịp đi sang Pháp du học và đã học được nghề sản xuất xà bông. Về nước ông thành lập một xưởng sản xuất nhỏ tại Gia Định chuyên sản xuất xà bông cục cho nhu cầu rửa ráy, giặt giũ của dân chúng hằng ngày. Khi cơ sở phát triển, ông cho xây một hãng lớn hơn và làm chủ nhân hãng xà bông Việt Nam hiệu Cô Ba. Trương Văn Bền độc quyền phân phối xà bông cục trên khắp thị trường Đông Dương.

- Đồng Thạnh làm chủ nhiều tiệm vàng lớn có tiếng. Vàng lá hiệu Kim Mã đầu tiên do Đồng Thạnh làm ra, đây là một loại vàng y 24 karat, cán thành từng lá mỏng gồm ba lá có khắc chữ Tàu, cân nặng 1 lượng (34,7g), ngoài gói giấy trắng, trong gói một lớp giấy bạc và một loại giấy đỏ có in hình con ngựa. Sau này nhiều tiệm kim hoàn khác bắt chước theo đó sản xuất loại vàng lá hiệu Kim Thành gồm hai lá rưởi (có hình trái núi ở đầu lá vàng hay nhiều sọc theo chiều dọc), vẫn còn thông dụng đến ngày nay, nhưng cách thức bao bì đã giản dị và khiêm nhường hơn. Vàng lá hiệu Kim Thành là đơn vị tồn trữ hay trao đổi không bao giờ mất giá trị.

- Vi Kính Trang là một nhà tướng số nổi tiếng nhất thời Pháp thuộc tại Sài Gòn. Muốn được ông này xem tướng số, người được xem chỉ trả năm cắc nhưng tìm được nhà ông để xem không phải dễ. Ông Vi ở trên gác một ngõ hẻm rue des Artisans, phía đường Cháo Muối (rue des Marins) gần chợ Bến Thành, sau này là đường Yersin gần Chợ Dân Sinh.

- Tạ Má Dảnh là một người rất giàu có ở Chợ Lớn. Ông làm chủ rất nhiều nhà máy xay gạo và phương tiện chuyên chở lúa gạo tại miền Nam.

- Diệp Văn Cương, quê ở An Nhơn, Gia Định, là một trí thức lớn của miền Nam, hiệu Thọ Sơn, sau lấy bút hiệu Yên Sa. Diệp Văn Cương thông làu Hán học, du học tại Pháp, đỗ tú tài Pháp. Về nước dạy học tại trường Chasseloup Laubat một thời gian, sau đó ra giúp việc ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Trong thời gian công tác tại Huế, ông làm thầy dạy học cho vua Đồng Khánh, sau lấy một công chúa, con của Thoại vương Hồng y. Năm 1868, ông làm chủ tờ Phan Yên báo tại Sài Gòn. Tác phẩm của Thọ Sơn Diệp Văn Cương gồm có : Syllabaire quốc ngữ (1919), Recueil de morale annamite (1917), dịch tập Phong Hóa ra chữ quốc ngữ.

- Diệp Văn Kỳ, con trai của Diệp Văn Cương, luật sư, cũng là một tay viết báo tiền phong rất có tiếng tăm, làm chủ bút tờ "Đông Pháp thời báo" và sáng lập nhật báo "Thần Chung", sau bị ám sát tại Trảng Bàng (Tây Ninh).

- Phan Xích Long, là biệt danh của Phan Phát Sanh, con của Phan Núi, một người gốc Hoa tại Chợ Lớn. Từ thuở nhỏ Phan Phát Sanh đã tỏ ra là một tay anh chị hảo hán, trừ gian diệt bạo, nhờ đó đã kết nạp rất nhiều đàn em và trở thành đại ca. Năm 1913 (Quý Sửu), "đại ca" Phan Phát Sanh tự xưng Phan Xích Long, tự nhận là Đông Cung con vua Hàm Nghi và tự tôn làm Hoàng Đế cùng với một số đàn em làm cách mạng chống Pháp. Họ chế tạo lựu đạn, trái phá, dán truyền đơn khắp chợ Sài Gòn, Chợ Lớn, Bình Tây kêu gọi dân chúng nổi dậy. Phong trào bị tan vỡ, Phan Xích Long bị bắt tại Phan Thiết. Phan Xích Long bị xử án tử hình về tội khủng bố, phá rối trị an và bị giam tại nhà lao Chí Hòa chờ ngày hành quyết.

Vụ án Phan Xích Long làm chấn động giới anh chị giang hồ mã thượng thời đó. Tháng 3/1916, thừa dịp Pháp đang bị Đức đánh tại mẫu quốc, một số đàn em trong "Thiên Địa Hội" (mặc áo đen, quần trắng), mặc áo giáp da, trang bị bùa chú, xông vào đánh phá Khám Lớn Sài Gòn để cứu "đại ca". Nhưng họ không chống nổi súng đạn, ngoài một số bị chết tại trận, hầu như tất cả đều bị bắt, tất cả gồm 56 người. Vài ngày sau 56 "anh hùng" và "đại ca" đều bị xử tử và chôn chung trong một mộ ở Đất Thánh Chà (đường Hiền Vương, Chợ Lớn). Tiếng thơm vẫn còn lưu truyền trong giới giang hồ Chợ Lớn, làm xấu hổ rất nhiều người trí thức, tự nhận làm cách mạng nhưng không có cái can đảm của những tay giang hồ hảo hán dám làm - làm tới cùng, và dám chịu - cùng chịu chết chung với nhau chứ không bỏ chạy.

Giai thoại về "tướng cướp" Phan Xích Long là đề tài của nhiều vỡ hát bội, hồ quảng hay cải lương sau này.

V. Thời Việt Nam Cộng Hòa

- Trần Thành, "vua vương quốc Chợ Lớn", là bang trưởng Triều Châu khu vực Chợ Lớn. Lúc ban đầu ông chỉ làm "vua cung cấp mễ cốc" (đậu phọng, đậu nành), năm 1960 ông nổi tiếng là "vua bột ngọt", chủ hãng bột ngọt và mì ăn liền Vị Hương Tố, với các hiệu mì gói hiệu Hai Con Tôm. Về sau Trần Thành tiếp tục đầu tư thêm vào nhiều ngành nghề khác như ngũ cốc, khách sạn, nhà hàng. Ông xuất thân là một công nhận cạo rửa các nồi ép dầu, sau nhờ sự cần cù, lòng ngay thẳng đã trở nên giàu có. Dưới sự quản trị của ông, công nhân và nhân viên hết lòng yêu mến và xem như người cha, người anh trong gia đình. Trần Thành khi giàu có đã bỏ tiền ra xây cất nhiều trường học, bệnh viện và trạm y tế trong các xóm lao động lo cho dân nghèo. Trong những năm 1956-1957, Trần Thành đã thay mặt cộng đồng người Hoa miền Nam thương thảo tay đôi với cố vấn Ngô Đình Nhu về các vấn đề quốc tịch và quyền kinh doanh.

- Lý Long Thân làm chủ 11 ngành sản xuất và dịch vụ, 23 hãng xưởng lớn : hãng dệt Vinatexco, Vimytex, hãng nhuộm Vinatefinco, hãng cán sắt Vicasa, hãng dầu ăn Nakyco, hãng bánh ngọt Lubico, Ngân Hàng Nam Việt, Ngân Hàng Trung Nam, khách sạn Arc en Ciel, hãng tàu Rạng Đông v.v...

- Lâm Huê Hồ được nhiều người gọi là "chủ nợ của các ông chủ". Lâm Huê Hồ là người giữ nhiều tiền mặt nhất miền Nam, số tiền ông có tay bằng vốn của nhiều ngân hàng tư nhân cở nhỏ như Nam Đô, Trung Việt gộp lại. Lâm Huê Hồ còn nổi tiếng là "vua phế liệu", ông chuyên thầu quân cụ và võ khí phế thải rồi bán lại cho những doanh nhân trong ngành luyện cán sắt hay bán lại cho Nhật Bản. Người ta thường nói "Trần Thành, Lý Long Thân có tiếng, Lâm Huê Hồ có miếng".

- Mã Hí, nổi tiếng là "vua lúa gạo", nắm trong tay mạng lưới thu mua và phân phối lúa gạo lớn nhất miền Tây và miền Trung. Mã Hí làm chủ các kho hàng rộng lớn nằm rải rác ở các bến cảng dọc sông Sài Gòn thuộc địa phận các quận 6, 8 Sài Gòn. Ông là chủ thầu cung cấp gạo cho Tổng Cục Tiếp Tế và Quân Tiếp Vụ Việt Nam Cộng Hòa.

- Lại Kim Dung là "nữ hoàng gạo" miền Nam. Giá gạo tại miền Nam là do công ty bà Kim Dung ấn định. Chính quyền miền Nam có lúc phải hợp tác với nữ hoàng gạo Kim Dung ổn định giá gạo trên thị trường. Trong các buổi tiếp tân lớn không mang tính chính trị, bà Kim Dung luôn xuất hiện bên cạnh các phu nhân tổng thống, thủ tướng hay các tướng lãnh chỉ huy các vùng chiến thuật.

- Vương Đạo Nghĩa, chủ hàng kem Hynos, là một người có óc làm ăn cấp tiến kiểu Tây Phương. Ông là người có rất nhiều sáng kiến để quảng cáo hàng của hãng ông trên các cửa hàng ăn uống, chợ búa, hệ thống truyền thanh và truyền hình. Ông cũng là người đầu tiên biết vận dụng phim võ hiệp và tình báo kiểu Trung Hoa vào quảng cáo. Người dân miền Nam không thể quên hình ảnh tài tử "Vương Vũ giải thoát các xe hàng do đoàn bảo tiêu hộ tống thoát khỏi quân cướp" hay "anh Bảy Chà cười toe với hàm răng trắng chói" có mặt khắp nơi trên các đường phố, ngõ hẻm. Sản phẩm của hãng kem đánh răng Hynos có mặt khắp nơi tại Việt Nam, Kampuchea, Lào, Singapore, Thái Lan, Hồng Kông.

      - Trương Vĩ Nhiên,"vua ciné", là chủ nhân hãng phim Viễn Đông và gần 20 rạp ciné đầy đủ tiện nghi tại Sài Gòn - Chợ Lớn : Eden, Đại Nam, Opéra, Oscar, Lệ Thanh, Hoàng Cung, Đại Quang, Palace, Thủ Đô... Năm 1966, Trương Vĩ Nhiên nhập cảng các loại phim võ hiệp Hồng Kông và Đài Loan, sau là phim tình cảm phỏng theo các truyện của các tác giả nổi tiếng như Kim Dung, Ngọa Long tiên sinh, Quỳnh Dao... rất được thanh niên miền Nam ưa chuộng. Trương Vĩ Nhiên làm đại lý độc quyền cho Tân Kiệt Y Oan tại Việt Nam về việc phát hành phim của các hãng Shaw Brothers (Đài Loan) và Golden Harvest (Hồng Kông).

- Trương Đông Lương, còn gọi là "vua sắt", độc quyền cung cấp tôn sắt cán mỏng cho các nhà sản xuất lớn nhỏ tại quận 11và trên toàn quốc để làm các thùng chứa bằng kim khí và hàng gia dụng.

- Trương Văn Khôi, chủ hãng bột giặt Viso, là người có óc tổ chức và biết canh tân kỹ thuật để cạnh tranh với hàng ngoại quốc. Phẩm chất bột giặt Viso tốt ngang với sản phẩm Tây Phương, chiếm lĩnh các thị trường nội địa, Singapore, Thái Lan, Lào và Kampuchea.

- Lưu Kiệt Lưu Trung, "vua nông cụ", chủ hãng nông cơ Vikyno, là đại diện độc quyền hiệu máy cày John Deer của Mỹ, máy tàu và máy đuôi tôm hiệu Yanmar của Nhật cho toàn miền Nam.

- Lý Hoa, "vua xăng dầu", là đại diện độc quyền các hãng Esso, Caltex, Shell phân phối nhiên liệu cho thị trường nội địa. Lý Hoa làm chủ nhiều bồn xăng dầu lớn tại Nhà Bè.

- Lý Sen, "vua cán sắt", là chủ nhân hãng Sadakimco, chuyên sản xuất và cung cấp tôn nhôm, sắt cho thị trường miền Nam.

- Trần Thoại Hà, người Triều Châu, là "vua trà" chuyên sản xuất các loại trà lá cao cấp ướp lài, ướp sen trong hộp hay bao bì bọc giấy kiếng để làm quà biếu trong các dịp lễ lạc.

- Đào Mậu, "vua ngân hàng", là bang trưởng bang Triều Châu khu vực Sài Gòn. Ông là tổng giám đốc Trung Hoa Ngân Hàng, một trong hai ngân hàng Châu Á lớn nhất tại Sài Gòn (cùng với Thượng Hải Ngân Hàng).

- Tăng Tài, "vua vận tải đường sông" là chủ nhân hàng chục xà lan, tàu kéo, hàng trăm ghe bầu loại lớn chuyên chở lúa gạo, nông sản thực phẩm và hành khách từ Lục Tỉnh về Sài Gòn-Chợ Lớn hay ngược lại.

                 

- La Thành Nghệ, "vua thuốc đỏ", là chủ nhân viện bào chế La Thành tại Sài Gòn. La Thành Nghệ làm đại lý độc quyền nhập cảng và phân phối thuốc đỏ cho toàn miền Nam. Ông La Thành Nghệ được bầu làm thượng nghị sĩ năm 1967 trong liên danh Bạch Tượng của dược sư Trần Văn Lắm (sau này làm chủ tịch Ủy Ban Ngoại Giao, chủ tịch Thượng Viện, tổng trưởng Ngoại Giao). Có lúc ông được bầu làm chủ tịch Hồng thập tự Việt Nam và là hội viên Hội từ thiện Quốc tế.

- Gia đình họ Ông, chủ hiệu dầu cù là Con Cọp, có mặt trong hầu hết các ngành kinh thương lớn tại miền Nam, nhiều người gọi đùa là "những con cọp Sài Gòn". Ngoài ra còn phải kể đến những gia đình tỷ phú họ Mã, họ Tạ, họ Trương (Trương Vĩ Hùng, Trương Vĩ Trí), họ Trịnh (Trịnh Đức)...

- Nhạc sĩ La Hối là tác giả bài nhạc "Xuân và Tuổi Trẻ" mà nhiều người đến nay vẫn còn ưa thích.

 - Tạ Vinh là một thương gia người Hoa, gốc Phúc Kiến. Năm 1964, Tạ Vinh bị Ủy Ban Hành Pháp Trung êơng, do thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ lãnh đạo, xử bắn tại pháp trường cát trước chợ Bến Thành Sài Gòn về tội "gian thương, đầu cơ tích trữ gạo, gây xáo trộn thị trường". Dân chúng và báo chí gọi Tạ Vinh là "hạm gạo". Nguyễn Cao Kỳ muốn cảnh cáo giới tài phiệt gốc Hoa không nên quá lạm dụng tình trạng chiến tranh làm giàu phi pháp, ông đã tổ chức một cuộc họp kín gồm đủ thành phần tài phiệt lớn (đại xì thẩu) tại Sài Gòn-Chợ Lớn để cảnh cáo. Hội Đồng quân Nhân Cách Mạng quyết định thi hành một bản án tử hình để làm gương, người lãnh án sẽ là một trong những tài phiệt đang có mặt trong phòng họp qua một cuộc rút thăm. Tạ Vinh rút trúng thăm tử nên sau đó bị truy tố và đem xử bắn. Sau vụ này pháp trường cát đi vào quên lãng, những "hạm" khác vẫn sống nhỡn nhơ vì biết chia đều cho các viên chức cao cấp tham nhũng khác trong chính quyền. Danh từ "hạm" từ đó mang một nghĩa xấu, ý muốn nói đó là những gian thương tham lam - bao nhiêu tiền của cũng không đủ chứa lòng tham vô đáy, có sức chứa như một chiếc hạm (tàu chiến lớn) - không đếm xỉa gì đến sự nghèo khó chung của dân chúng.

Thật ra Tạ Vinh là một "hạm" sắt, chuyên thầu sắt phế thải của quân đội. Thời đó báo chí loan tin đồn người bị bắn đó không phải là Tạ Vinh. Tạ Vinh thật đã được lo lót để trốn ra ngoại quốc, một tù nhân nào đó đã được tráo để chết thay cho Tạ Vinh. Lúc bị dẫn từ trại giam Chí Hòa ra pháp trường, Tạ Vinh mặc bộ vét màu xám và không chịu cởi ra, khi xe bít bùng chở tới pháp trường thì người bị xử bắn mặc bộ đồ trắng, đầu bịt khăn đen che hết mặt mũi. Xác chết liền được chôn cất ngay sau đó.

- Những hiệu sản phẩm do người Hoa làm chủ được nhiều người biết đến tên hiệu như pin Con Ó, giầy Bata, Sakybomi, kem Perlon, kem Leyna, gạch men Thiên Thanh, Thanh Thanh, Da Bình Lợi v.v...

 ************************


Phụ lục 3 : Người Hoa tại miền Bắc

Hồi ký về người Hoa ở Việt Nam của Nguyễn Anh Tuấn

[Nguyễn Anh Tuấn, 60 tuổi, người gốc Hoa, cựu giáo sư ngữ học tại Hải Phòng, hiện nay là giáo sư ngôn ngữ Language lecturer của trường Đại Học London].

Tôi vẫn còn rất nhớ vào những ngày đầu Cách Mạng Tháng Tám 1945, quê tôi rợp bóng cờ đỏ sao vàng với những cán bộ cấp huyện, cấp tỉnh nườm nượp đổ về dựng nên những buổi mít-tinh trọng thể cho ra đời bản hiến pháp của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Hồi ấy quê tôi có một cán bộ cộng sản Trung Hoa cấp bộ tỉnh ủy viên từ Trung Quốc chạy sang Việt Nam lánh nạn truy lùng của chính quyền Tưởng Giới Thạch. Tên ông là Phùng Đạt Kiên, có bà vợ, dáng người mảnh khảnh rất dịu hiền và cũng là đồng chí của ông Phùng, hoạt động chính trị trong giới trí thức Trung Hoa cùng chồng chạy sang Việt Nam lánh nạn. Hai vợ chồng chính trị gia cộng sản Trung Hoa này đã tình nguyện ở lại quê tôi dạy một nhóm trẻ con người Hoa học tiếng Trung Hoa. Và trong những tháng đầu tiên của Cách Mạng Tháng Tám, các cán bộ Việt Nam địa phương đã hết sức tôn sùng đôi vợ chồng trí thức cộng sản Trung Hoa này. Họ kéo đến nhà riêng để hỏi ý kiến về hiến pháp Việt Nam, về đường lối đấu tranh cách mạng, và trong những buổi mít-tinh trọng thể ở huyện lyï, vợ chồng ông Phùng được mời tham dự như những vị thượng khách, được mời đăng dàn diễn thuyết bằng tiếng Trung Hoa, và đích thân vị bí thư huyện ủy đứng ra làm phiên dịch.

Lúc ấy tôi còn nhỏ lắm, nhưng tôi cũng hiểu được đôi chút về nội dung những cuộc đàm thoại giữa những người cách mạngViệt Nam và Trung Quốc. Họ nói rằng nhìn vào lịch sử dựng nước Việt Nam, ông cha ta thuở xưa chính là những người miền Nam Trung Quốc di cư xuống phía nam hợp lực với dân bản xứ tạo thành nước Việt Nam ngày nay. Những năm đầy đen tối của cách mạng Việt Nam, dưới sự cai trị hà khắc khủng bố tàn nhẫn của thực dân Pháp, những đứa con của cách mạng Việt Nam đã được nhân dân Trung Quốc che chở ở phía bên kia biên giới. Có người được học ở trường võ bị Hoàng Phố, tỉnh Quảng Châu, có người theo hồng quân Trung Hoa đánh Nhật, cùng chịu đựng gian truân trong cuộc trường chinh vượt vòng vây của quân Tưởng Giới Thạch, cùng với Mao Trạch Đông lên Diên An lập căn cứ kháng chiến. Tình nghĩa ấm lòng người dân Hoa - Việt.

Nhưng cũng vào thời kỳ giao điểm đó, đoàn quân của tướng Lư Hán từ Vân Nam kéo vào miền Bắc Việt Nam để tước khí giới quân đội Nhật. Những người lính quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch này không phải là bạn đồng chí của cách mạng Việt Nam như vợ chồng nhà cách mạng Phùng Đạt Kiên, nên đã bị cách mạng Việt Nam tiếp đãi bằng những thái độ thù địch, bằng những vụ thủ tiêu ngầm hoặc xúi dục dân chúng quá khích giết hại những tên lính Trung Hoa Tưởng Giới Thạch trên các đường phố. Tôi đã được chứng kiến cảnh đánh giết lẫn nhau giữa lính Trung Hoa quốc dân đảng với bộ đội Việt Minh ở thị xã Thái Bình và thị xã Hải Dương.

Quả thật có những chú lính Trung Hoa tuổi đời còn rất trẻ, rất ngô nghê khi mới đến Việt Nam, chỉ vì ngôn ngữ bất đồng, không được minh bạch trong khi mua bán nên đã xảy ra cãi vã và dẫn đến đánh chém lẫn nhau. Nhiều người đã bị giết oan trong những vụ xô xát đó.

Ở Huyện Thụy Anh, tỉnh Thái Bình có một người Hoa tên Thập Nhất chỉ vì làm thông ngôn cho quân Tưởng Giới Thạch mà bị nghi là Hán gian và bị chính quyền Việt Minh lôi đi xử bắn, để lại một vợ trẻ và hai đứa con thơ. Bố anh Thập Nhất, chủ hiệu Tá Sinh Đường, vì quá uất ức đã thắt cổ tự tử. Hồi đó người lớn dạy bọn trẻ con hát nhạo quên tàu Tưởng như sau : "Đoàn quân tàu ô đi đâu mà ốm thế, bước chân phù lang thang trên khắp đất nước Việt Nam...".

Những người Hoa ở miền Bắc Việt Nam lúc ấy rất dễ bị chết oan một khi bị vu là thổ phỉ hay Hán gian. Ở huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Phòng, có một người Hoa có tên thầy Măng, vì ông ta bán thuốc bắc và chữa bệnh cho người Việt Nam ở chợ Măng nên thiên hạ gọi là thầy Măng. Cái ông thầy Măng này cũng đã từng bị du kích xích tay sắp đem ra bắn vì bị nghi là Hán gian. Ông ta không nói được thạo tiếng Việt để trình bày thân phận lang y của mình khi ngao du sơn thủy một mình để đi chữa bệnh cứu người. May có một phụ nữ Việt Nam đã kịp thời chạy ra nhận ông là chồng, vì trước kia ông đã có công cứu sống bà. Nhờ đó mà ông thầy Măng thoát chết và được ở lại chợ Măng tiếp tục làm nghề bốc thuốc chữa bệnh cho dân bản xứ.

Hồi đó bọn trẻ con chúng tôi rất khoái được chạy theo đoàn biểu tình xem hình nộm ông Nguyễn Hải Thần nằm dài dí đôi tai bẹp xuống gối, rụt cổ rít thuốc phiện với cái tẩu to quá khổ trông đến nực cười. Bọn trẻ con chỉ biết mang máng rằng Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam là tay sai quân tàu Tưởng, là bọn nghiện hút, ăn hại, chứ chúng tôi hoàn toàn không biết ông ta là nhà cách mạng, và làm phó chủ tịch nước bên cạnh Hồ Chí Minh.

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, từ 1945 đến 1949, do thái độ hằn thù và chính sách phân biệt đối xử của chính quyền Việt Minh, hầu hết những người Hoa ở miền Bắc không hợp tác với Việt Minh, và tìm cách chạy vào vùng Pháp tạm chiếm để làm ăn buôn bán. Có những gia đình người Hoa buôn bán ở thị trấn Diêm Điền, Thụy Anh, tỉnh Thái Bình, như gia đình anh Cầm Quốc Quang đã bỏ đất Việt Minh chạy vào Hải Phòng làm ăn buôn bán và mở tiệm bán vải rất lớn ở phố Phan Bội Châu, lấy tên hiệu là Phương Thái. Năm 1955, gia đình Phương Thái lại chạy nạn cộng sản vào Sài Gòn và tiếp tục kinh doanh rất thành đạt. Sau khi Sài Gòn rơi vào tay cộng sản, gia đình Phương Thái đã đi Mỹ. Anh Cầm Quốc Quang, con trai duy nhất của gia đình này, đỗ bằng tiến sĩ kinh tế học ở Tokyo, lấy vợ Nhật, hiện nay kinh doanh buôn bán ở Tokyo. Em gái anh là Cầm Quốc Chân, đỗ thạc sĩ toán học ở Pháp và đang dạy học ở Pháp.

Năm 1949, luồng gió bài Hoa của Việt Minh đã đổi chiều khi quân quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch bị hồng quân Trung Hoa hất ra ngoài biển và giải phóng một vùng rộng lớn gần biên giới Việt - Trung. Các chiến dịch Cao Bắc Lạng, Hà Nam Ninh, chiến dịch Hòa Bình, rồi chiến dịch Điện Biên Phủ của Việt Minh đều có sự hỗ trợ đắc lực của hồng quân Trung Hoa. Trong những năm từ 1949 đến 1954, hàng loạt cán bộ trung cao cấp của đảng cộng sản Việt Nam đã được đưa sang bên kia biên giới Trung Quốc để chỉnh huấn, chỉnh quân, chỉnh đảng. Các cán bộ cộng sản Việt Nam được Trung Quốc bồi dưỡng, ăn uống, thuốc men rất chu đáo, được học tập trang bị lý luận Mác-Lê và tư tưởng Mao Trạch Đông để trở về nước tiếp tục kháng chiến. Những cán bộ đảng viên này rất biết ơn Trung Quốc và ca ngợi tình hữu nghị Việt - Trung như "răng với môi, núi liền núi, sông liền sông, mối tình hữu nghị Việt - Trung như biển Đông...". Những bài hát ca ngợi hồng quân Trung Hoa, ca ngợi đảng cộng sản Trung Quốc, ca ngợi Mao Trạch Đông được truyền tụng trong quảng đại quần chúng. Họ bắt đầu tìm đến những người Hoa còn sót lại trong các căn cứ địa Việt Minh và cố lôi những ông, những bà người Hoa ra công tác để lấy lòng đảng cộng sản Trung Quốc. Một trong những người Hoa bất đắc dĩ này phải ra nhận công tác của Việt Minh là ông Long Vân, chủ hiệu tạp hóa thuốc bắc ở Hải Dương đã bị sa sút vì kháng chiến và loạn lạc. Ông Trần Khải Nhân, tỉnh ủy viên đặc trách Hoa vận của tỉnh đã đến tận nhà nài nỉ ông Vân ra công tác, để rồi một ngày kia cả hai ông Nhân và Vân bị Pháp sục hầm bí mật bắt được. Ông Nhân bị bắn chết tại chỗ vì không chịu chui ra khỏi hầm bí mật, ông Vân bị bắt đưa lên thị xã Hải Dương, bị Deuxième Bureau, tức Phòng Nhì Sở Mật Thám Pháp, đánh đập, tra tấn, sau đó bị đưa xuống Phòng Nhì và Phòng Phản Gián Hải Phòng, Hà Nội để tiếp tục bị tra tấn lấy khẩu cung. Mãi về sau khi nhận thấy ông Vân đã gần chết, chân bị què, Sở Mật Thám Pháp mới cho phép người nhà bảo lãnh và bị quản thúc tại gia ở thị xã Hải Dương, chấm dứt thời kỳ làm chủ nhiệm Hoa vận tỉnh và ủy viên Liên Việt, tỉnh Hải Dương.

Không phải chỉ có một trường hợp như ông Long Vân được trên tín nhiệm giao công tác để chuốc lấy những tù đầy, tra tấn, mà nhiều người Việt gốc Hoa khác cũng cùng chung một số phận. Ở các thành phố Hải Phòng, Hà Nội, lúc đó là nơi tập trung nhiều người gốc Hoa nhất. Việt Minh đã khéo léo sử dụng những người gốc Hoa ở vùng nông thôn Thái Bình, Quảng Ninh, Hải Dương xâm nhập vào nội thành để tìm đường bắt mối lập ra các tổ chức ngầm hoạt động ngay trong vùng Pháp tạm chiếm.

Những tổ chức quần chúng của Hoa Kiều Tân Dân Chủ Liên Hiệp Hội đã được thành hình và hoạt động ở ngay trong các thành phố bị Pháp chiếm đóng như Hà Nội, Hải Phòng. Đồng thời Việt Minh cũng tuyển lựa nhiều người Hoa ở Quảng Ninh, Bắc Giang đưa vào quân đội để đánh Pháp. Có những đơn vị người Hoa chiến đấu rất dũng cảm và một số người Hoa được đề bạt lên cấp chỉ huy đại đội và tiểu đoàn. Rất nhiều người Hoa đã bỏ mình trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Chị Cao Anh, nữ công nhân xưởng làm đèn pin Quang Minh ở Hải Phòng, là một trong những người Hoa đã hy sinh cho cách mạng Việt Nam. Chị hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ, mới 18 tuổi xuân đã bị thực dân Pháp đánh chết trong nhà giam của Deuxième Bureau Hải Phòng. Gương liệt sĩ Cao Anh đã được truyền tụng, suy tôn một thời để động viên những người Hoa còn lại tích cực tham gia phong trào Việt Minh chống Pháp. Nhiều người Hoa ở miền Bắc đã hy sinh đóng góp cho việc đánh thắng quân đội Pháp, giải phóng quê hương. Nhưng ngay sau ngày Hải Phòng giải phóng, người anh trai của liệt sĩ Cao Anh, tên Cao Nhị, bị bắt đưa đi cải tạo ở trong rừng vì bị nghi oan là gián điệp. Anh Cao Nhị trước đây là sĩ quan tình báo của Tưởng Giới Thạch, nhưng đã theo đảng cộng sản Trung Quốc và được đảng cộng sản Trung Quốc cử sang Việt Nam để giúp đỡ cách mạng Việt Nam. Anh là cán bộ tuyên huấn tham gia huấn luyện những cán bộ trẻ người Hoa ở vùng căn cứ để đưa vào hoạt động trong nội thành Hải Phòng. Vợ anh Cao Nhị là chị Đàm, biên tập viên tòa báo Lao Động ở Hà Nội, cũng bị bắt vì bị nghi là gián điệp. Năm 1979, anh Cao Nhị chạy về được Trung Quốc để sống cho hết những ngày tàn già nua với đồng lương hưu nho nhỏ của chính phủ Trung Quốc ban cho. Còn chị Đàm vì quá khẳng khái nên không được tha. Khi cán bộ công an bắt chị Đàm làm bản tự thú nhận tội lỗi để được tha, chị đã trả lời rằng : "Tôi không có tội gì mà nhận. Chính các anh mới là người có tội vì đã bắt oan và bỏ tù oan tôi hơn chục năm trời". Kết quả là chị không được tha và đã chết ở trong tù, mang theo nỗi uất hận xuống suối vàng để giải bày với em chồng là liệt sĩ Cao Anh.

Trong số cán bộ quân đội tỉnh Quảng Ninh, có anh đại úy Quan Dung (tên gọi tiếng Trung Quốc là Cún Đồng). Anh Dung là sĩ quan quân đội trong kháng chiến chống Pháp, và được Đảng cử về Hà Nội, Hải Phòng làm cán bộ công an. Năm 1979, anh Dung được Bộ Công An cử vào Nam để tổ chức cho người Hoa giàu có ở Sài Gòn ra nước ngoài bằng con đường bán công khai, nộp vàng cho nhà nứớc. Sau khi làm xong nhiệm vụ, anh Dung cũng bị bắt luôn và nghe nói anh đã chết trong tù. Vợ anh là chị Tôn Thúy hiện nay cùng các con tị nạn ở Úc Đại Lợi.

Trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, những nhà kinh doanh gốc Hoa ở miền Bắc chỉ có thể hoạt động được trong các thành phố Pháp tạm chiếm như Hà Nội, Hải Phòng. Những nhà kinh doanh lớn như Liên Hưng, Liên Hưng Xương, Lai Thành, Lễ Hòa, Phương Thái đều di cư vào Nam trong những năm 1954-1955. Những người Hoa buôn bán khác, ở lại miền Bắc, đã điêu tàn qua các trận đánh tư sản bằng thuế tồn kho, bằng cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh. Một tư sản người Hoa là chủ hãng tàu chạy đường sông đã nhảy xuống sông tự tử. Những người khác, gặp thời thế thế thời phải thế, chịu uốn mình nhận lỗi với Đảng là có bóc lột nên mới giàu, được sống sót để chờ cơ hội cao bay xa chạy như trường hợp nhà tư sản xuất nhập khẩu Lưu Chấn Quang. Ông Quang đã tình nguyện hiến tài sản và còn nhận làm chủ nhiệm tổng hội Hoa Liên Hải Phòng để chờ thời chạy sang Mỹ và làm giàu ở bên đó.

Cái thời điểm vàng son của mối tình hữu nghị Việt - Trung là vào lúc Trung Quốc bắt dân nhịn đói để viện trợ lương thực và vũ khí đạn dược cho quân đội Việt Nam đánh Pháp. Khi bộ đội Việt Minh vào tiếp quản các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, người ta nhận thấy từ đầu đến chân anh bộ đội Việt Nam đều trang bị bằng quân trang, quân dụng của Trung Quốc. Từ chiếc mũ nan, đôi giầy vải, bộ quần áo kaki, khẩu súng AK đến cả cái ca uống nước cũng đều do Trung Quốc cung cấp. Những người Hoa trong các thành phố mới được giải phóng cũng vui mừng hớn hở dựng nên những chiếc cổng chào thật lộng lẩy, cầm cờ hoa ra đón chào bộ đội vào giải phóng quê hương. Họ có ngờ đâu sau đó họ lại bị đuổi ra khỏi quê hương mà từ nay người ta bảo rằng đó không phải là quê hương của họ, và bảo họ tốt hơn là hãy ra đi.

Những quan hệ bất hòa giữa hai đảng cộng sản Việt Nam và Trung Quốc đã âm ỉ từ lâu, và đã bùng lên bằng trận chiến tranh biên giới tháng 2 năm 1979. Nhưng người Hoa ở miền Bắc Việt Nam là những nạn nhân của sự mâu thuẫn thù địch đó của hai đảng cộng sản cầm quyền. Khi nghe cô phát thanh viên của đài Hà Nội loan tin quân Trung Quốc xâm lược Việt Nam, nhiều người Hoa ở miền Bắc Việt Nam đã khóc. Họ khóc vì không biết cuộc đời mình sẽ ra sao. Họ khóc vì thương đau cho cảnh hai nước anh em, hai dân tộc anh em sẽ chém giết lẫn nhau ở vùng biên giới, làm vật hy sinh cho những kẻ cầm quyền.

Một người Hoa ở Đông Triều đang đêm thoát chết, bồng con chạy rạt xuống Hải Phòng để quỳ xuống lạy ông chủ thuyền Lý Duy Man xin một chỗ để đi ra biển. Trong lúc hốt hoảng chạy loạn, ông không kịp mang theo tiền bạc, chỉ kịp ôm được đứa con hai tuổi chạy bán sống bán chết xuống được Hải Phòng để tìm đường ra biển. Vì sao người Hoa này lại sợ hãi làm vậy? Theo như ông kể : Ông đã nhìn thấy bộ đội và công an, du kích Việt Nam bắt trói hàng loạt người Hoa mang đi biệt tích. Những người Hoa bất hạnh đó bị trói giựt cánh khuỷu ra phía sau, bị vất lên xe quân đội và chở đi đâu không ai biết.

Những cán bộ gốc Hoa đang giữ những cương vị cao, quan trọng đều bị hạ tầng công tác, và bị làm nhục bằng cách cho làm lao công ngay ở cái cơ quan anh ta đã từng làm thủ trưởng. Nhà nước cộng sản Việt Nam ra sắc lệnh cấm những người Hoa không được làm những nghề như cán bộ khoa học, giáo sư, và những ngành nghề quan trọng trong các cơ quan nhà nước. Luồng gió độc bài Hoa do những chính sách thù địch, phân biệt đối xử và những đợt truyền thanh báo chí chống Trung Quốc của chính quyền cộng sản Việt Nam đã bùng lên mạnh mẽ. Ngọn gió độc này đã cuốn đi từng mảnh lớn dân cư người Hoa ở các vùng nông thôn và ven biển thuộc tỉnh Quảng Ninh, và quét đi sạch sành sanh dân cư gốc Hoa ở vùng biên giới như Đồng Đăng, Lạng Sơn, Móng Cái, Quảng Ninh. Những dân cư gốc Hoa này từ lâu đã được coi như là người bản xứ. Nhưng nay phải bồng bế nhau, dắt trâu, dắt bò, gồng gồng gánh gánh chạy loạn sang bên kia biên giới hoặc rong buồm chạy trốn sang Hồng Kông. Ở các thành phố Hải Phòng, Hà Nội, người Hoa đem đồ đạc bán la liệt ở chợ trời và ở trước cửa nhà họ để chuẩn bị ra khơi, liều thân với biển cả. Nhiều chiếc thuyền bé bỏng được đóng hoặc tu sửa vội vã để ra khơi, những người may mắn đã đến bờ đến bến, những người bất hạnh bị chết chìm ngoài biển khơi.

Khi ngòi lửa chiến tranh sắp bùng nổ, cửa biên giới bỗng nhiên đóng sập lại. Hàng vạn người, đang nao nức lo âu chạy về Trung Quốc, bị kẹt lại giữa gọng kìm của quân đội hai bên đang giàn quân chuẩn bị một trận chém giết. Họ bị thiếu nước, thiếu cơm và còn bị những phần tử xấu xúi giục làm loạn nên đã xảy ra những vụ đánh giết lẫn nhau với quân đội, công an biên phòng Việt Nam. Nhiều người Hoa bị chém giết. Về phía công an Việt Nam có thượng sĩ Lê Đình Chinh bị dao quắm của bọn gây loạn đâm chết.

Ngọn lửa căm thù người Hoa và Trung Quốc bùng lên dữ dội sau một chiến dịch tố cáo trên đài phát thanh, báo chí và phim ảnh Việt Nam. Trong không khí sục sôi căm thù đó, những người Hoa còn lại ở Việt Nam không dám ra đường. Phải giả câm, giả điếc, cúi mặt, cúi đầu mỗi khi nghe tiếng người chửi. Anh Cách Sinh, một cán bộ gốc Hoa cũ của biệt động đội Hải Phòng, người đã góp công rất nhiều trong công cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam, bị chết chém trong các vụ xô xát đẩm máu ở vùng biên giới. Anh Lý Tâm Minh, cán bộ của Ban Thể Thao Thể Dục Trung êơng bị bắt và buộc phải đọc lời thú tội chống phá cách mạng Việt Nam trước màn ảnh trong cuốn phim "Sự Thật Lên Tiếng", tố cáo những người Hoa làm tay sai cho Trung Quốc chống phá Việt Nam. Anh Lý Tâm Minh đã từng là đảng viên đảng cộng sản Việt Nam và đã từng được dụ làm tổng thư ký Tổng Hội Hoa Liên Trung Ương.

Cuộc chiến tranh đẩm máu đã nổ ra trên vùng biên giới. Nó giết đi hàng chục vạn cuộc đời son trẻ của hai nước Việt - Hoa. Nó đã reo đau thương cho những mái nhà người Hoa đang sống êm ấm trong tình nghĩa vợ chồng, bạn bè xóm láng. Những người Hoa nặng tình nhất đối với đất nước Việt Nam đã phải gạt lệ ra đi. Đó là những người Hoa sống lâu đời ở Việt Nam và đã trở thành người Việt Nam từ lâu. Nhiều người không biết nói một câu tiếng Trung Quốc. Họ lấy vợ, lấy chồng, sinh con trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nhưng họ đã bị nhà cầm quyền moi móc lý lịch từ mấy đời về trước, tìm xem họ có nguồn gốc Trung Quốc hay không, rồi xếp họ vào loại cần phải theo dõi. Ngay những người này cũng bị chửi bới, mạt sát thậm tệ và bị ngược đãi bất công nên họ đã phải cắn răng gạt lệ tìm đường ra biển. Có nhiều cảnh vợ ở chồng đi, vợ đi chồng ở. Những cảnh chia tay vĩnh biệt của những đôi vợ chồng, của những đứa con vĩnh biệt song thân mới não nùng ai oán làm sao! Ai mà biết được sẽ còn có một ngày về, một ngày trở lại để được ôm lấy nhau đoàn tụ. Ai mà biết được khi trở về thăm quê, cha mẹ liệu có còn không hay đã an nghỉ ngàn thu nơi chín suối. Có những người vợ muốn đi theo chồng đã bị gia đình bắt giữ lại. Có những người chồng muốn theo vợ ra đi đã bị người ta chửi mắng là đồ hèn bám theo gấu quần phụ nữ, quên cả tổ tiên, non sông đất nước.

Thật là :

      Buồn thay những tối tháng năm

      Đường ra bến cảng âm thầm tiễn nhau

      Xạc xào gió vuốt cành lau

      Trùng dương sóng vỗ một màu xanh xanh.

Lịch sử mỗi dân tộc đều mang trên mình những vết thương đau đó. Chính những đứa con trong lòng nó mang lại những hiểu lầm, những tranh chấp về ý thức hệ, những ganh đua về quyền lợi. Nếu chúng ta không biết tha thứ cho nhau, quên đi những bóng đen của dĩ vãng, hướng nhìn về tương lai để cùng nắm tay nhau tiến bước, thì những vết thương cũ sẽ không bao giờ lành và còn tiếp tục nữa những điều bất hạnh.

Nếu chúng ta nhìn vào nước Mỹ, một nước được coi là hợp chủng quốc Hoa Kỳ với đầy đủ ý nghĩa của nó, chính ở nơi đây những người da trắng từ Anh, Pháp, Tây Ban Nha kéo sang đã tiêu diệt những người địa phương da đỏ và có những trận lùng bắt những người da đen Châu Phi mang sang bán làm nô lệ ở Mỹ nên đã hình thành một nước Mỹ có nhiều sắc tộc. Nếu con cháu những người Mỹ không biết tha thứ những lỗi lầm của quá khứ để cùng nhau chung sức, chung lòng xây dựng đất nước thì nước Mỹ không bao giờ được là một siêu cường quốc như ngày nay.

Nhìn vào lịch sử Việt Nam, sự hội nhập của các sắc tộc trong đại cộng đồng dân tộc không đến nỗi đau thương như nước Mỹ. Đã từ lâu nước Việt Nam là một khối cộng đồng của nhiều sắc tộc, trong đó người Hoa ở Việt Nam là một sắc tộc hợp thành dân tộc từ mấy ngàn năm lịch sử, và có công đấu tranh dựng nước, bảo vệ tổ quốc.

Nếu ai đã từng sống ở miền Bắc Việt Nam, đã từng đi viếng thăm những nơi người Hoa ở, các bạn sẽ thấy sắc tộc người Hoa trong cộng đồng dân tộc Việt Nam là những người lao động cần cù, là những con người sống rất có tình, có nghĩa, là những người đã cùng gian khó có nhau, cùng chia ngọt sẻ bùi với những sắc tộc khác trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Từ các tỉnh biên giới phía Bắc : Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, ở miền núi đến tỉnh Quảng Ninh, vùng ven biển, những bản làng của người gốc Hoa sống yên vui bên cạnh những bản làng các sắc tộc khác. Sáng sáng, họ cùng vác dao vác cuốc, đánh trâu ra đồng ra nương, phát rừng khai phá đất hoang, cày sâu cấy lúa trên ruộng đồng, đốt nương, trồng khoai, trồng sắn trên nương trên rẫy. Họ nói những ngôn ngữ địa phương khác nhau nhưng họ đều là những sắc tộc trong cộng đồng dân tộc và họ đã và đang dùng sức lao động của mình để làm ra lúa gạo, sắn khoai, góp phần cho toàn dân được cơm no, áo ấm.

Dọc theo con sông Hồng, bắt nguồn từ đại lục Trung Quốc, sẽ đưa bạn đi qua các tỉnh Hoàng Liên Sơn, Vĩnh Phú, qua các thị xã Lào Cai, Yên Bái, Vĩnh Yên, rồi xuôi buồm chảy về Hà Nội, xuống Hà Nam vào Thanh Hóa, xuôi dòng xuống phía Nam. Ở những vùng ven con sông vĩ đại đó, những người dân gốc Hoa và Việt đã sống bên nhau, nương tựa vào nhau để khai phá đất đai, lập nên những vùng dân cư trù phú. Họ thương yêu nhau, kết hôn với nhau và nuôi dạy con cái trở thành những công dân có ích cho đất nước.

Tôi đã từng đi thăm vùng mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả. Ở các vùng mỏ, làm ăn vất vã sớm chiều, mồ hôi nước mắt trộn chung cùng sỏi đá này, đều có mặt những người Hoa làm ăn quần quật để kiếm sống, để dựng nên những xóm làng, phố xá, cùng chung sống thân thương với những người sắc tộc gốc Kinh. Sáng sáng những con người còn nhiều sinh lực, sau một đêm dài ngủ say dưỡng sức, hăng hái vác xà-beng, cuốc chim chui vào những hầm than đen ngòm, sâu thẳm, khi chiều đến những con đường hầm sâu hoắm này lại nhả ra những thân hình còm cõi, đen nhẻm đen nhem, mệt nhoài sau một ngày lao động cực nhọc dưới hầm sâu. Khó có ai nhận ra ai là người gốc Hoa, gốc Kinh, gốc Nùng, gốc Thái, thậm chí cả thân nhân của họ cũng khó nhận ra ai là chồng, ai là cha nếu không nhìn vào đôi mắt tinh anh đang tươi cười hướng về phía họ. Chính những con người đen thủi đen thui như hòn than dưới mỏ này đã góp phần làm giàu cho đất nước Việt Nam bằng sức lao động cần cù dũng cảm của họ. Họ chung vai, chung sức hùng hục đào than dưới hầm sâu, vợ con họ còng lưng đẩy những chiếc xe goòng đầy ắp than đá dưới ánh nắng hầm hập, mồ hôi vã ra như tắm, trong những trưa hè trời nắng như thiêu.

      Ăn cơm với cá mòi he

      Lấy chồng thợ mỏ đun xe suốt đời.

Cuộc đời của những anh chị thợ mỏ cay đắng nhiều hơn là ngọt bùi. Thảm thương thay khi có tin sập hầm, chôn sống những người chồng, người con thân yêu của họ. Ai có thể cầm được lòng để khỏi xót xa rơi lệ khi chứng kiến những người vợ trẻ lăn lộn, ôm lấy xác chồng bám đầy than bụi, mới được móc ở hầm lên. Ai mà chẳng xót thương khi nghe tiếng khóc than của những trẻ thơ mất cha, những mẹ già mất con trong các tai nạn sập hầm khủng khiếp. Nhiều người thợ mỏ gốc Hoa, gốc Kinh, gốc Nùng, gốc Thượng cùng nằm chung trong một huyệt dưới tận đáy sâu của lòng đất Việt Nam trong khu mỏ than nổi tiếng một thời có loại than đá cực tốt xuất khẩu để làm giàu cho đất nước, để cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện Hải Phòng, Hà Nội mang ánh sáng cho rất nhiều người.

Bạn ơi, bạn đã từng đến thăm thành phố Hải Phòng, một trong những nơi tập trung nhiều người Hoa nhất ở miền Bắc hay chưa? Ở nơi đây, nơi được mệnh danh là đồng chua nước mặn này, đời sống của những công nhân gốc Hoa cảng Hải Phòng không hơn gì đời sống công nhân vùng mỏ.

Trước hết xin bạn hãy đến thăm cảng Hải Phòng, bạn sẽ thấy số công nhân bốc vác ở nơi này hầu hết là người gốc Hoa. Đây có phải đâu là một thứ nghề được trọng đãi, đây là một loại lao động cực khổ mà nhiều người gốc Kinh sợ không dám làm. Những công nhân bốc vác này trước đây bị người ta gọi một cách khinh mạn là phu bốc vác, cu-li. Những phu bốc vác này, mình trần, da xạm nắng, vắt trên vai một cái khăn màu thẩm, nối đuôi nhau leo xuống các cầu tàu vác lên những kiện hàng to và nặng gấp hai lần cơ thể họ, còng lưng leo một cách khó nhọc lên boong xếp thành những núi hàng hóa trên bến Sáu Kho để cho các xe tải vào ăn hàng. Có người đã chết vì những kiện hàng lớn đổ xuống đè phải, nhiều người khác bị cần cẩu vô ý quệt vào hất xuống chết chìm trong dòng sông Bính Sáu Kho. Những tai nạn như vậy vẫn thường xảy ra ngay cả khi chính phủ mới Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có cho thi hành những biện pháp bảo vệ an toàn lao động.

Tôi đã vào thăm nhà máy xi-măng Hải Phòng. Nơi có những lò nung sức nóng lên tới ngàn độ. Những ống khói nhà máy xi-măng hằng ngày phun ra những luồng khói đen đầy bụi bặm, làm ô nhiễm cả một vùng rộng lớn của thành phố và vùng lân cận. Những công nhân xi-măng có rất nhiều người là gốc Hoa. Có những gia đình làm việc tới mấy đời trong cái nhà máy khốn khổ này. Những công nhân lò nung của nhà máy xi-măng Hải Phòng phải làm việc với cái nóng hầm hập suốt ngày đêm đến nghẹt thở. Hầu hết họ để mình trần, mặc độc một chiếc quần cộc, đầu đội mũ ca-nô xếp bằng bao giấy xi-măng, tóc tai, người ngợm phủ kín một màng bụi xi-măng màu xanh nhạt. Bát cơm, chén nước của họ cũng phủ đầy chất bụi cát xi-măng nên nhiều người trong bọn họ đã bị lao lực, nhiễm độc mà chết.

      Ai ơi có đến Hải Phòng

      Lò nung, bến cảng xin đừng có vô.

Đó là những lời nhắc nhở của những con người đã từng chịu đựng nỗi khổ cực trong cảng Hải Phòng và nhà máy xi-măng.

Ở Hải Phòng và Hà Nội, hai thành phố to nhất miền Bắc Việt Nam, có những hiệu buôn người Hoa giang ra tấp nập đông vui ở các phố Hàng Buồm, Hàng Đào, Hàng Ngang (Hà Nội), ở các phố trù phú sầm uất như Phan Bội Châu, Phố Khách (Hải Phòng). Ở những nơi ấy, quả thật có những ông "lẩu pản" bụng phệ rất giàu, dễ có những người ganh ghét đặt vè nói xấu : "Cái nỉ là nỉ pến tàu. Cái nỉ là nỉ mới sang... Sáng sang Nam Việt pán puôn, pán puôn làm giàu...". Những người hay ghét ghen khác lại đặt vè nói xấu thêm : "Cái nỉ là nỉ pán thoòng khếu. Cái nỉ là nỉ táo dầm. Cái nỉ là nỉ đi vô thùng...".

Thật vậy, có những người Hoa đã kinh doanh thành đạt và trở nên giàu có, nhưng cũng có vô vàn người Hoa ở hai cái thành phố lớn này lam lũ làm ăn rất cơ cực, đánh vật với đời để đổi lấy miếng cơm. Họ không ngần ngại làm bất cứ việc gì để tự nuôi sống chờ ngày vươn kịp bằng người. Sự cần cù nhẫn nại của họ trong lao động là những gì đáng học tập chứ phải đâu là một thứ riễu cợt mang đầy ác ý chia rẽ.

Nếu như mùa hè năm 1979, chính quyền cộng sản Việt Nam cố tình dồn ép người Hoa phải bỏ nhà cửa, ruộng vườn lao ra biển tìm tự do đến nỗi nhiều gia đình phải tan cửa nát nhà, kẻ chết ngoài khơi như mẹ anh Tô Như Sinh (hiện nay ở London, Anh Quốc), hay con trai ông Trương Hữu Quý (hiện đang làm ăn ở Mỹ), kẻ bị thất tán chết trong đám loạn quân ở trong rừng như em ông Lý Hồng Phi (ở London)... thì liệu có lúc nào đó họ nghĩ đến công lao của những người gốc Hoa ở Việt Nam đã từng chung lưng lao động, làm ăn vất vã bên cạnh những sắc tộc khác ra sao. Liệu họ có còn nhớ đến những người đã hy sinh, nằm xuống cho cách mạng Việt Nam tiến lên trong thời kỳ Pháp thuộc, trong kháng chiến chống Pháp. Liệu họ còn nhớ đến những công nhân gốc Hoa như anh Nguyễn Văn Vi đã tan mất xác khi đang làm việc ở lò nung trong nhà máy xi-măng vì bị bom Mỹ ném trúng!

Xin hãy để cho lương tâm của thời đại suy ngẫm và trả lời. Nếu một dân tộc không lấy hòa giải và hòa hợp dân tộc làm phương châm hành động thì dân tộc ấy sẽ còn bị phân hóa. Những vết thương sẽ còn hằn rất lâu trên mình lịch sử và sẽ còn tiếp tục rỉ máu mãi đến những thế hệ mai sau.

Tôi nghĩ rằng : Một người Việt Nam yêu nước, trước hết, phải là một người tán thành đường lối hòa giải hoà hợp dân tộc để cùng với khối cộng đồng dân tộc nắm tay nhau xây dựng lại đất nước.

Nguyễn Anh Tuấn

London, ngày 3/4/1992

 **************************

Lồng tre cũi sắt, Lê Việt

(Lê Việt là bút hiệu của Nguyễn Anh Tuấn, Viết theo lời kể của Trần Thị Ngọc Kim)

Lời tác giả : Người tị nạn đi từ Việt Nam, mặc dù thuộc nhiều nguồn gốc nhưng đều có cùng một lý do : thoát khỏi sự kềm kẹp, áp bức của một chế độ cực kỳ hung bạo, thiếu lòng nhân. Nhờ mẫu số chung này mà vấn đề tổ chức, kết nạp vào các đoàn thể ở tại nước ngoài không gặp khó khăn lắm, và đã không thiếu những cộng đồng, hội đoàn trong đó người gốc Việt, gốc Hoa, gốc Chàm, gốc Thượng v.v... đã cùng sát cánh với nhau hướng về một tổ quốc chung mà trước kia họ đành phải gạt lệ tạm ra đi. Tuy nhiên, trong ánh sáng của tình thương và sự đoàn kết ấy không khỏi không có vài bóng mây mờ, chỉ vì lý do thiếu sự thông cảm, hoặc vì không biết rõ hoàn cảnh của một số người. Bài dưới đây nói lên khía cạnh thương tâm và đau khổ của số người đó.

Chắc các bạn sẽ ngạc nhiên khi biết rằng tác giả nội dung bài viết này không được cái may mắn như các bạn đang sống trong thế giới tự do.

Tôi đang sống trong một nông trường tại đại lục Trung Quốc, nơi mà cha ông tôi đã sinh ra, rồi từ bỏ quê hương ra đi làm ăn sinh sống ở Việt Nam. Cha tôi lớn lên ở đất nước Việt Nam, lấy mẹ tôi là người Việt, và chỉ sinh được một mình tôi, nâng niu chiều quí như vàng như ngọc, nên mới đặt tên tôi là Ngọc Kim. Tôi chỉ được sống sung sướng có mười năm. Mẹ tôi mất khi tôi mới lên mười và từ đó là cảnh gà trống nuôi con.

Theo nguồn gốc, tôi là con gái người Hoa, nhưng tôi hoàn toàn không biết tiếng Hoa, không biết viết ngay cả tên mình bằng tiếng Hoa. Tôi theo học trường phổ thông Việt Nam và chẳng bao giờ nghĩ mình là người Trung Quốc. Sau khi học xong trung học, tôi xin vào làm ở một nhà máy Hải Phòng. Tôi sống chan hòa với các bạn Việt Nam, cùng tham gia tập tự vệ, và cùng được kết nạp vào Đoàn Thanh Niên.

Tôi sống thoải mái vui tươi trong tình nghĩa đồng bào, bè bạn. Nhưng cũng có lúc thoáng buồn khi nghĩ đến mẹ mất sớm, bố tôi đang là ông chủ hãng buôn xuất khẩu nay hạ xuống làm một chân "bảo vệ" cho một cơ quan. Ở nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, người ta dùng danh từ "bảo vệ" để chỉ những người làm công việc gác cổng, trông nom kho tàng, tài sản những cơ quan nhà nước. Cũng như người ta khéo đặt tên cho những anh, những chị nấu cơm trong quân đội hoặc cơ quan là "anh nuôi", "chị nuôi" để động viên những con người suốt ngày làm việc với nồi, niêu, bát đĩa.

Khi tôi đã lớn khôn, tôi hiểu rằng cha tôi có những nỗi buồn khó nói. Ông âm thầm chịu đựng một mình, sợ nói ra lại bị quy là thành phần bất mãn. Ông cũng không muốn mang lại nỗi buồn cho tôi nên cũng không bao giờ tâm sự cùng con gái.

Tôi đã sống hồn nhiên như những con chim non tung tăng bay nhảy trên những lùm cây xanh lá dưới ánh nắng mặt trời của những buổi sáng mùa xuân nắng đẹp. Tôi nào có biết bão tố của cuộc đời đang ập đến sau lưng.

Một hôm, tôi được Đảng ủy nhà máy gọi lên văn phòng và tuyên bố rằng tôi là người Hoa, từ nay không được tham gia đội tự vệ, không được sinh hoạt Đoàn. Tôi cảm thấy như có ai đánh mạnh vào thái dương, choáng váng chừng như muốn quyï xuống. Nhưng không tôi vẫn đứng trơ trơ, không khóc và cũng không nói một lời. Tôi từ từ gỡ tấm huy hiệu đoàn viên đặt trên bàn trả lại cho Đảng ủy và lầm lũi ra về. Tôi thôi việc từ ngày đó vì biết rằng có đến làm cũng chẳng vui gì, và chắc gì người ta cho tôi làm nữa, vì cuộc chiến tranh ở biên giới Việt - Hoa đã nổ, và luồng gió độc bài Hoa đã dấy lên ở khắp mọi nơi.

Ngày xưa, khi hai nước cộng sản thân nhau, người ta đã đặt ra bài hát có những lời ca như sau : "Việt Nam, Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông, mối tình hữu nghị sáng như trời đông". Nhưng bây giờ họ giết nhau, một bài hát mới chống Trung Quốc đã được lưu hành rộng rãi : "Quân xâm lược Trung Quốc dã man, chúng chà đạp lên mảnh đất tiền phương. Máu đã đổ trên những vùng biên giới yêu thương...".

Cơn gió lốc hiểm độc của thù hận và chia rẽ dân tộc quét đi những mảnh lớn dân cư gốc Hoa trên bản đồ miền Bắc Việt Nam. Những người dân gốc Hoa thuộc tỉnh Quảng Ninh và Lạng Sơn là những nạn nhân đầu tiên của trận bão đời đó. Cảnh chia ly mới đau khổ làm sao, vì bao đời nay những người Việt gốc Hoa sống bên nhau với tình cảm đồng bào, bè bạn. Phần đông họ lại có quan hệ máu mủ họ hàng với nhau, nên khi thấy những người Hoa dìu cha mẹ già, bồng bế con thơ, gồng gánh xách mang từ bỏ chốn chôn nhau cắt rốn, sinh sống đã bao đời để chạy loạn, nhào về với "Tổ quốc Trung Hoa". Họ tự ví như từ cái lồng tre chui vào cũi sắt, để lại những mảnh đất mà họ đã đổ mồ hôi cuốc cày tưới bón, nhìn những cây lúa đang trổ bông mà như muốn níu chân người trở lại. Họ đã khóc khi phải xa nhau và cảm thấy xóm làng trở nên trống trải, mất đi cái ấm áp nhộn nhịp vui tươi của những ngày mùa.

Chiến tranh biên giới tháng 2/1979 bùng nổ. Người ta đồn rằng quân Trung Quốc đã đánh bất ngờ và đã tiêu diệt sư đoàn 308 chủ lực quân oanh liệt của cộng sản Việt Nam. Người ta nói rằng quân Trung Quốc tàn sát dã man, giết cả đàn bà con trẻ và phá hết những gì là công trình xây dựng trong khu vực chúng chiếm đóng. Người ta còn cho biết thêm rằng không thể tin được những cán bộ gốc Hoa, vì nhiều người đã phản bội, làm gián điệp cho Trung Quốc, dẫn lối chỉ đường để tiêu diệt quân Việt Nam. Thế là lửa cháy lên, đầu rơi, máu đổ!

Làn sóng căm thù hừng hực dâng lên. Bộ đội, công an tỉnh Quảng Ninh, nơi chiến tranh đang bốc lửa, ập đến từng nhà, bắt trói những người Hoa còn lại ở Đông Triều mang đi. Những người chưa bị bắt chạy xuống Hải Phòng. Như tiếng bom nổ trong tim, người Hoa ở hai thành phố lớn nhất ở miền Bắc lau khô nước mắt, sau khi đã khóc suốt đêm khuya, đem đồ đạc ra chợ trời bán vội bán vàng, hối hả đóng thuyền chuẩn bị ra khơi "chạy loạn".

Có nhiều người hăng hái tuyên bố : "Tôi sẽ về với tổ quốc tôi [Trung Quốc], dù có phơi nắm xương tàn trên quê nội cũng cam lòng". Nhưng cũng có nhiều người chẳng muốn ra đi, họ nói : "Từ Việt Nam chạy về Trung Quốc có khác gì từ cái lồng tre chui vào cũi sắt", vì vậy, họ đã chọn con đường ra biển để tìm tự do. Tự do hay là chết, chứ không có lồng tre và cũi sắt. Nhưng than ôi, không phải ai cũng biết như vậy và làm được như vậy. Những người quá nghèo làm sao có đủ tiền chung đóng tàu to thuyền lớn ra biển cả. Tai hại hơn là họ nghe theo lời tuyên truyền lừa phỉnh của đại sứ quán Trung Quốc : nào là về nước sẽ được ưu đãi, sẽ được phân phối công tác theo khả năng chuyên môn, sẽ được định cư theo yêu cầu và theo nguyện vọng của đồng bào.

Tin tức người Hoa về nước được tiếp đón ân cần ở các chiêu đãi sở vùng giáp giới Việt Nam, được phát quần áo mới, được học tập, ăn uống tốt v.v... đã khích lệ những người do dự chưa muốn rời bỏ đất nước Việt Nam trở về tổ quốc. Trong lúc đó, công an Việt cộng lùng bắt những người Hoa tình nghi làm tay sai cho Trung Quốc, bỏ lỏng trật tự trị an, thả sức cho bọn lưu manh, mất dạy làm nhục người Hoa còn lại, những người tha thiết nhất đối với dân tộc Việt Nam thì lại là những người bị nhục nhiều nhất. Đó là những người như tôi, thực chất là một người Việt Nam nhưng trong giờ phút lịch sử ấy, bị quản chế ở nông trường, không ai được ra làm ăn ở thành phố.

Có tính cách nhục mạ như "quân Tàu ô", "thằng Tàu", "con Tàu", "thằng bán táo dầm"... và những tên thiếu giáo dục, những kẻ có hiềm khích cũ với người Hoa tha hồ được phép lăng mạ, chửi rủa và khủng bố đánh đâp.

Tôi đã ở lại Việt Nam vào những giờ phút kinh hoàng đó. Nhưng tôi vẫn chưa muốn ra đi. Tôi khóc nói với ba tôi : "Con không biết một câu tiếng Trung Quốc, con chẳng quen ai ở bên đó, con không muốn về...". Tôi không về thì ba tôi cũng không thể bỏ tôi mà đi được, và tôi cũng không nỡ lòng nào để ba tôi chịu đau khổ, nhục nhằn trước làn sóng dư luận độc ác, trước sức thúc ép của công an chính quyền, nên tôi đã quyết định rời khỏi đất nước Việt Nam, quê mẹ của tôi.

Hai bố con âm thầm mang hoa và lễ vật ra nghĩa trang Phi Liệt để giả từ mẹ tôi đang an nghỉ ngàn thu trong lòng đất Việt, và biết bao giờ mới lại được về đây thắp nén hương thơm cầu nguyện cho hương hồn mẹ phiêu diêu nơi nơi cõi Phật. Tôi đã khóc nhiều và nói chuyện nhiều với mẹ tôi, với nấm mồ cỏ xanh bao bọc mà sao cảm tưởng như đang nằm gọn bên người như hồi còn bé dại, nói thầm thì rất lâu với hương hồn người đã khuất. Mặt trời đã ngả về tây, một làn gió nhẹ làm xào xạc lá cây mà tôi tưởng như mẹ tôi đã hiện về đứng đó. Đôi mắt người hiền dịu làm sao, người vuốt ve mái tóc của tôi, dặn tôi phải theo ba, trông nom giúp đỡ cho ba, như thế mới là con có hiếu. Tôi được ba tôi dìu ra khỏi nghĩa trang để trở lại Hải Phòng chuẩn bị cho cuộc hành trình không hẹn ngày trở lại.

Tôi đã ra đi trong nước mắt tiễn đưa của họ hàng bên mẹ, của những đứa bạn thân và nước mắt của chính mình. Tôi đã đến chào những gia đình Việt Nam quen thân, có người vừa khóc, vứa dúi cho một món tiền nho nhỏ, có người cho một cái phao, vài chiếc mù-xoa, và ai cũng cầu chúc cho bố con tôi "thượng lộ bình an", "thuận buồm xuôi gió".

Tôi quên làm sao được mẹ tôi, một người mẹ Việt Nam dịu hiền, nhân hậu, đã thương quí tôi hơn chính cả đời mình. Tôi quên sao được những khuôn mặt hiền lành, tình bạn chân thành của những người Việt Nam chân chính. Tôi quên sao được quê hương tôi, thành phố Hải Phòng rực màu hoa phượng, nơi tôi đã được sinh ra, khóc ba tiếng chào đời, chào cuộc đời Việt Nam đã nâng dắt tôi đi từng bước một để rồi đến lúc này đây, tôi bước xa hơn, xa nơi mẹ hiền còn nằm lại đó, xa bao bạn hữu từ thuở ấu thơ, xa mái trường xưa nơi tôi đã từng ngày cắp sách đến nghe thầy cô dạy cho cách sống, cách làm người. Xin giả từ Hải Phòng bến cảng, những bến Bính, Xi-măng, Thượng Lý, Lạc Viên, những cầu Rào, cầu Tre, Hồng Bàng, Mê Linh, Quang Trung, Trại Câu, Cầu Đất... Những phố xá, những ngôi nhà, những mái trường hiền lành xinh xắn của quê tôi, con sông Cấm nối liền thành phố với biển khơi, đưa những con tàu của thế giới bên ngoài vào thăm đất Việt. Nhà Hát Lớn vẫn còn đây, nơi các chiến sĩ của đội nam bắc Thành Tô đã anh dũng hy sinh trong những ngày đầu Hải Phòng kháng chiến. Đây là vườn trẻ với Cung Thiếu Nhi, nơi ngày xưa cha mẹ tôi đã đưa tôi đến cho tập cưởi trên những con ngựa bằng gỗ quay tít mù, vừa thích vừa sợ...

Tôi đã âm thầm đi khắp mọi nơi, âm thầm từ biệt từng con đường góc phố của quê hương thân yêu, tất cả những gì ở đây, ở mảnh đất Việt Nam thân thương này sẽ mãi mãi là những kỷ niệm không bao giờ phai nhạt ở trong tôi.

* * *

Tôi trở về đất nước Trung Hoa, quê nội của ông cha và lòng bồi hồi nhớ đến mấy câu thơ của người bạn thân đã về từ trước.

      Tôi đã về đây Quảng Tây Hợp Phố,

      Mảnh đất nghèo nhưng sao thầy thân thương.

      Tôi đã đi trên những con đường,

      Nơi cha ông tôi đã từng in dấu gót...

Trung Quốc cũng nghèo, chẳng hơn gì Việt Nam, nhưng một công dân chân chính của một đất nước thông thường không bao giờ chê đất nước của mình, cũng như những đứa con hiếu thảo không bao giờ chê cha mẹ nghèo, có chăng là họ tự chê mình chưa giỏi, chưa làm được gì để báo hiếu mẹ cha, xây dựng đất nước thân yêu giàu mạnh. Nếu họ có trách là trách những kẻ cầm quyền, nắm vận mệnh dân tộc trong tay đã lái con thuyền quốc gia lại đi ngược với trào lưu xã hội để mang lại những gian khổ nhục nhằn cho cả dân tộc.

Những đứa con tha hương từ đất Việt trở về, cũng có những tình cảm đáng quí đối với đất nước Trung Hoa. Họ cũng muốn đem tài năng và trí tuệ của mình làm rạng rỡ cho non sông, đất nước, nhưng hỡi ôi! Liệu làm được gì, khi người ta đem xếp tài năng vào một xó, gom toàn bộ những người Hoa về nước vào các nông trường xa xôi hẻo lánh, bắt những "thiên tài" phải làm quen với cuốc cày, đồng ruộng. Tất cả đều làm ruộng ở nông trường, đó là quốc sách của Trung Quốc dùng để đối phó với những trái tim yêu nước muốn làm một cái gì để đóng góp phần nhỏ bé của mình xây dựng một nước Trung Hoa hùng cường.

"Các anh bảo anh là người Hoa, cộng sản Việt Nam đuổi các anh đi ; nhưng về nước, Trung Quốc lại bảo các anh là người An Nam, lại còn nghi trong các anh có những tên gián điệp cộng sản Việt Nam gài vào. Vì chính sách bảo vệ đất nước, xin các anh miễn kêu ca, hãy cắn răng mà vác cuốc ra đồng làm ruộng. Chúng tôi không thiếu nhân tài, nhiều nhân tài Trung Hoa chính gốc còn nằm co ở nhà chờ xin việc...".

Những âm hưởng đó cứ dội mãi vào thính giác của tôi. Đó là những lời bàn tán của những đứa con đã từng tuyên bố dù về nước có phải làm kiếp trâu ngựa, phơi nắm xương tàn trên quê nội cũng cam lòng, nhưng nay thì bất mãn thật sự với quốc sách "lồng tre cũi sắt" của Trung Quốc.

Có một trí thức trẻ từ Việt Nam về không làm được ruộng nên được "trên" chiếu cố cho đi chăn trâu, và anh đã từ bỏ cuộc đời bằng cách tự sát, không đủ sức chịu đựng để thực hiện câu nói nổi tiếng cộng sản trẻ tuổi Nicolai Astropski, tác giả cuốn "Thép Đã Tôi Thế Đấy". Câu đó như sau : "Hãy sống ngay cả khi cuộc sống đà trở nên không thể nào chịu đựng được nữa".

Đứng về phương diện nào đó thì câu nói đó có phần đáng được ngợi khen. Không những hàng trăm ngàn người dân gốc Hoa từ Việt Nam trở về phải sống "cuộc sống không thể nào chịu đựng được nữa trong bức màn sắt", mà gần một tỷ dân Trung Quốc đã phải chịu đựng như vậy từ lâu rồi. Có điều là họ không chỉ có âm thầm chịu đựng mà còn âm thầm đấu tranh, phản kháng, đòi từng bước cải thiện dân sinh. Đó là lý do vì sao có Đặng Tiểu Bình và chính sách cải cách của cộng sản Trung Quốc, chứ không phải là "Trung Quốc có "sĩ, nông, công, thương" mà Việt Nam chỉ có "sĩ, nông và công". Trung Quốc có những thương nhân giỏi buôn bán thì bao giờ cũng linh động, không thể giáo điều được". Đó là những lý giải thật hàm hồ của một học giả Việt Nam cho rằng vì sao Trung Quốc có Đặng Tiểu Bình, có cải cách mà Việt Nam không có.

Tất cả những người bị đè nén, áp bức ở thế giới cộng sản đều phải tự vùng lên đấu tranh thì mới có được những thay đổi trong chính sách cai trị khắc nghiệt của cộng sản. Những cải cách bước đầu của cộng sản Trung Quốc hoặc cộng sản Liên Xô đều là do kết quả đấu tranh của chính nhân dân các nước đó mang lại. Với ý niệm đó, nên những người Hoa về nứớc cũng đã từng đấu tranh để đòi cải thiện đời sống cho chính họ.

Có những người là gốc giáo viên, là thợ in, thợ điện, nên nhất định không chịu làm ruộng và hàng ngày kéo lên nông trường bộ, cãi lý với lãnh đạo nông trường. Cuối cùng ban "lãnh đạo" cũng phải thu xếp cho một ít người làm theo ngành nghề cũ, nhưng chỉ hạn chế ở nông trường, không ai được ra làm ăn ở thành phố.

Nhưng không phải ai cũng gặp may được "trên" xếp việc theo ngành nghề. Tôi là một trong những số phận hẩm hiu đó. Vì vậy hai bố con tôi ngày ngày vác cuốc ra đồng, cuốc ruộng đến chảy máu tay mà năng suất vẫn chưa đạt chỉ tiêu như "trên" qui định. Làm vất vả mà ăn thì không có gì, nên cái tuổi mười chín đang độ thanh xuân của tôi héo khô như chiếc lá mùa thu vàng khô rụng xuống. Tôi ốm nặng vì không chịu được phong sương, vì thiếu dinh dưỡng, vì đau buồn, vì phẫn uất. Nhưng ốm mà nằm nhà thì càng chết vì sẽ bị vu cáo là "đấu tranh lảng công" và họ sẽ thực hiện lý luận kinh tế học của Mác - Lê "không làm không ăn", có nghĩa là họ sẽ cắt sổ gạo. Không có gạo ăn thì sẽ chết vì đói trước khi chết vì bệnh. Muốn được sống thì người bệnh phải cố mà lết lên y tá nông trường bộ, nhắm chặt mắt lại, mặc kệ cho họ nghe, họ sờ, họ mó. Và kệ thay họ muốn tiêm thức thuốc gì cũng được, sau đó cố nằn nỉ xin cho được giấy ốm để được nghỉ lao động. Có thế thì mới không bị cắt gạo và còn được hưởng chút tiền nghỉ ốm. Nhưng bọn cán bộ y tế cũng tinh quái lắm, chẳng cho ai được nghỉ lấy quá hai ngày, thường cứ cách một ngày là phải lên khám lại. Khi họ thấy ai còn nói to được, còn đỏ được mặt lên cãi nhau với họ khi họ lợi dụng làm càn sờ mó lung tung, không chịu cho giấy nghỉ ốm. Đối với những "con bệnh ngoan cố" đó, họ trả lời như tát vào mặt : "Đồ lười biếng, không chịu lao động, giả vờ ốm để ăn công không của nhà nước mà không biết xấu hổ à!...".

Những loại cán bộ y tế "lương y như từ mẫu" ở Trung Quốc và trong chế độ cộng sản Việt Nam sao mà giống thế. Tôi không lạ gì những tên cán bộ y tế như vậy nên đành mang bệnh trong người, phải vác cuốc ra đồng để rồi có một hôm tôi bị nôn ra máu, ngã quyï trong vũng nước bùn, chết đi một thời gian sau được bà con tiếp cứu mới trở về lại với thế giới người sống. Từ đó ba tôi không cho tôi ra đồng, bắt phải ở nhà đi kiếm củi trên rừng và nuôi gà, trồng rau. Riêng ba tôi, ông cứ nghĩ rằng mình dù đã tuổi cao nhưng vốn dĩ là người tráng kiện vẫn có thể quen dần với lao động cấy cày. Nhưng mọi việc đã trái ngược với ước vọng của ông. Ba tôi bị ốm nặng và đã qua đời, để lại một mình tôi bơ vơ trên dương thế.

Sau khi cha mất, tôi cũng chẳng còn thiết sống, và dù có muốn sống cũng không biết lấy gì để sống. Hỏa thiêu và an táng ba tôi xong, tôi đóng chặt cửa buồng và toan quyên sinh bằng một sợi giây thừng đã chuẩn bị sẵn. Nhưng ở đâu cũng vậy, có lắm kẻ bất nhân thì cũng có nhiều người lương thiện. Những bà con tị nạn Việt Nam cùng nông trường đã đến cứu tôi, họ mang cho tôi đủ thứ và phân công nhau canh gác, không cho tôi có dịp quyên sinh nữa.

Có người khuyên tôi nên lấy chồng để có chỗ nương tựa, nhưng tôi lại rất sợ nói đến chuyện này. Vì cha mới mất, trên đầu còn mảnh khăn tang, đạo làm con chưa làm tròn chữ hiếu, còn đâu dám nói tới chuyện xuất giá. Hơn nữa, chính sách hạn chế sinh đẻ thực hiện một cách thô bạo ở Trung Quốc làm tôi phát sợ. Có những cặp vợ chồng vì đã "trót" đẻ thêm một đứa con đã bị công an đến tận nhà bắt mang về bệnh viện "hoạn". Có người bị buộc phải phá thai và đã chết ngay trên bàn phẩu thuật của bệnh viện. Có những cặp vợ chồng chỉ vì không có con trai, đẻ được mỗi đứa con gái và bị cấm đẻ tiếp, sinh cãi nhau nhau để rồi người vợ phải thắt cổ tự tử... Nhìn thấy mà ghê. Tôi chưa có gan đem cả cuộc đời còn trong trắng của mình nhận vào vũng bùn hôi tanh đó. Tôi phản kháng kịch liệt những ai dụ dỗ tôi lấy chồng, và xua đuổi tất cả những anh chàng "nhà quê mê gái" và những anh "lẩu pản" trẻ tuổi từ Hồng Kông lao về đại lục tìm vợ. Mọi người cho tôi là gàn dở, là tự cao. Có kẻ "không được ăn thì đạp đổ" đã tung dư luận bảo tôi bị bệnh tâm thàn, điên dở.

Kể ra họ cũng có lý, bởi vì sau khi ba tôi mất, tôi hay cười nói bất thường, người lúc nào cũng như ngây như dại. Có lần soi gương, tôi thấy giật mình vì tôi cũng chẳng nhận ra tôi nữa. Tôi nhìn lại tấm ảnh chụp hồi ở Việt Nam mới hai năm trước đây so với tôi giờ này như hai người khác biệt. Đâu còn nữa cô Ngọc Kim duyên dáng đẹp tươi, mái tóc xanh dài, mượt mà óng ả, phủ xuống đôi má hồng mơn mởn của cái tuổi dậy thì mười bảy. Còn đâu nữa đôi mắt nhung đen thoảng vẻ mơ buồn nhưng rất nên thơ đã vô tình làm nhiều trái tim xao xuyến khi đón nhận một cái nhìn thật hồn nhiên của người con gái chưa biết gì đến hương vị của tình yêu. Giờ đây, đôi mắt ấy vẫn còn đẹp, vẫn có lực hấp dẫn đối với các chàng trai, nhưng sao nó buồn sâu thẳm, làm những con người cương nghị nhất cũng cảm thấy lòng dạ xót xa. Đôi má hồng mơn mởn của hai năm về trước nay được thay vào đôi má gầy xanh, lưỡng quyền nhô cao. Đôi môi đỏ thắm thuở nào nay được thay bằng một màu đen nhạt như tố cáo cảnh nghèo hèn không dinh dưỡng của một chứng bệnh hiểm nghèo : đau tim, thiếu máu...

Hỡi các chàng trai, xin hãy để tôi yên. Nếu có lấy tôi về cũng chỉ mang thêm gánh nặng, trong lúc chính các anh cũng phải còng lưng vì lao động nhục nhằn như kiếp ngựa trâu ở những nông trường tăm tối. Nếu có thương nhau thì hãy để cho nhau tự do và giúp nhau bằng tình bạn.

Có một việc tôi không bao giờ sao lãng là việc thắp hương trên bàn thờ cha mẹ và ngồi im lặng chiêm ngưỡng chân dung người, nói chuyện thầm thì với hương hồn người đã khuất, trong lúc tôi có thể quên đi mọi sự kể cả việc ăn uống. Tôi cầu nguyện, mong cho cha mẹ được gặp lại nhau, sống vui như những ngày tôi còn thơ ấu ở Việt Nam, và ước gì bên kia thế giới của loài người có một thiên đường dành cho những linh hồn lương thiện như cha mẹ tôi. Nhiều đêm nằm mơ thấy cha mẹ tôi đến đón và tôi sung sướng gọi tên người, vùng dậy chạy theo... Nhưng đó chỉ là một giấc mơ, giấc mê sảng của người đang ốm nặng.

Tôi không muốn chết, nhưng cũng không còn muốn sống, vì thấy cuộc đời sao tăm tối thê lương. Trong những lúc tâm hồn yếu đuối, tôi đã được những bàn tay đôn hậu của đồng bào cùng cảnh ngộ nâng đỡ tôi lên. Họ cũng nghèo thôi nhưng tình nghĩa thật nhiều, họ cho tôi từng nắm gạo để nấu cháo. Có người dám hy sinh cả con gà nuôi để dành Tết mang giết thịt để bồi dưỡng cho tôi. Tôi đã sống bằng tình thương của đồng bào tị nạn mình như vậy cho đến lúc tôi có được những cứu cánh mới. Đồng bào đã tranh đấu thật quyết liệt với "cấp trên" và họ buộc phải chấp nhận cho tôi vào làm ở nhà máy của nông trường, một nhà máy do chủ người Hồng Kông bỏ tiền xây dựng. Tin có việc làm như một luồng gió mát làm dịu đi những vết bỏng của trái tim đang rỉ máu. Rồi sau đó là những lá thư từ thế giới tự do bay về như những con chim én bay về khi mùa đông giá lạnh đã qua đi nhường chỗ cho một mùa xuân mới. Những lá thư, rồi kèm theo là những món tiền nho nhỏ của bạn bè từ Canada, từ Mỹ, từ Anh Quốc gửi về động viên tôi, giữ tôi dừng lại trước cái hố diệt vong của cuộc đời.

Nhựa sống của lứa tuổi hai mươi không dễ gì bị tàn lụi, héo khô. Nó như một thân cây mang trong mình những sinh lực vô biên đã hiên ngang trỗi lên làm nứt rạn những tảng băng cứng trong mùa đông giá lạnh, và khi gặp hơi ấm của mùa xuân, nó đã nẩy lộc, đâm cành, khai hoa, kết quả.

Nào tôi có ước gì hơn, chỉ mong sao có được việc làm hợp với khả năng và sức khỏe, để có thể tự nuôi sống mình, không phải phiền lụy đến ai. Và giờ đây tôi đã có việc làm, tôi bắt đầu thấy vui trong lao động. Tôi đã có tiền lương, lại thỉnh thoảng có tiền chi viện ở nước ngoài nên cuộc đời bắt đầu xanh tươi trở lại.

Tôi vui mừng đón những người thân từ nước ngoài về thăm, và được người nhà đưa đi chơi, du ngoạn những danh lam, thắng cảnh ở Trung Quốc. Tôi đã được đi thăm những dinh thự nguy nga của triều đình cung vua ở Bắc Kinh, đứng trên Vạn Lý Trường Thành để phóng tầm mắt ra tận nơi xa xăm, hình dung những trận đánh của quân Ngoại Mông hung hãn xung phong bằng ngựa chiến để liên tưởng tới những danh tướng quân Nguyên Mông, những Thành Cát Tư Hãn, Hốt Tất Liệt và con cháu hắn đã tàn phá Trung Hoa rộng lớn, cưỡi trên lưng con sư tử Trung Hoa ngái ngủ nên bị kẻ thù chinh phục. Nhưng thật kỳ lạ thay, sao những tướng sĩ của quân Nguyên Mông lại thua đau khi vấp phải sức kháng cự của một dân tộc anh hùng giòng Lạc Việt !

Tôi cũng được đi thăm Quế Lâm, một trong những nơi nổi tiếng sơn thủy hữu tình của đất nước Trung Hoa. Ta có thể ngồi trên thuyền máy đi dọc trên giòng sông dài hàng trăm cây số và cảnh núi non hai bên quả như thiên thai trong trần thế. Đất nước Trung Hoa cũng như đất nước Việt Nam đều rất đẹp, thiên nhiên đã ưu đãi hai nước Việt - Hoa, cộng với công trình sáng tạo của dân tộc nên đã có được những thắng cảnh đẹp, vừa nên thơ vừa hùng tráng.

Một trong những nơi để lại trong tôi những kỷ niệm đó là chuyến đi thăm thắng cảnh huyện Phú Sơn, thuộc tỉnh Phúc Kiến. Đó là một hòn đảo giờ đây đã gắn liền với đại lục bằng một con đường dài lấp eo biển. Cảnh ở đây sao so được với Quế Lâm, với Bắc Kinh, nhưng có lại có những nét đặc thù mà không nơi nào có được. Nơi đây có một miếu nhỏ quanh năm hương khói, đó là một hiện tượng mới lạ trong cái xã hội cộng sản vô thần. Ở đây cũng có một đoạn trường thành giả, dường như đó là biểu tượng của nhà cầm quyền Trung Quốc nhắc nhở mọi người là phía trước mặt, bên kia Biển Đông, hạm đội của quân Đài Loan có thể tiến công vào lục địa bất cứ lúc nào. Một cảnh thiên nhiên được du khách chú ý nhiều là một tảng đá khổng lồ, to nặng hàng trăm tấn nhưng chỉ gắn liền với mặt đất bằng một trụ nhỏ, trông thật chênh vênh, tưởng như chỉ cần dùng sức của mấy người đẩy mạnh là lăn tòm xuống biển. Ấy vậy mà hải quân Trung Quốc đã dùng tàu chiến móc dây cáp định kéo tảng đá xuống biển mà không sao kéo được. Nhân dân địa phương trọng vọng tảng đá này như một vị thần linh, đã ngang nhiên đứng giữa trời như thách thức bạo quyền. Trên tảng đá có khắc bốn chữ Hán lớn "Nam Thiên Nhất Trụ". Không ai biết những chữ này do ai khắc, và từ bao giờ, nhưng chữ rất đẹp, ăn rất sâu vào tảng đá, không ai có thể cạo đi được. Đó là một kỳ quan nho nhỏ mà nhiều du khách từ khắp nơi tò mò muốn biết. Nhưng những du khách được hấp dẫn đến đây còn vì một lý do khác : Đứng trên đảo này vào những ngày trời đẹp, có thể nhìn thấy ở xa xa một vệt dài mờ mờ huyền ảo. Đó là đảo Đài Loan, mảnh đất của tự do.

Đứng trên bờ biển Phú Sơn, tỉnh Phúc Kiến, dùng ống nhòm của anh tôi họ tôi ở Canada về cho mượn, tôi đã nhìn rõ hơn đảo Đài Loan, niềm ước vọng của nhiều người dân đại lục Trung Quốc. Chính ở nơi đây, trên hòn đảo Phú Sơn này đã xảy ra trận tập kích bất ngờ của quân Đài Loan đổ bộ vào đại lục, tiêu diệt quân canh phòng bờ biển của Trung Quốc và đã mang theo toàn bộ dân cư của đảo này về Đài Loan. Đó là một hòn đảo mà Trung Quốc không bao giờ quên. Và người dân lục địa cũng không bao giờ quên. Họ mong ước có thêm nhiều trận tập kích như vậy nữa để tạo điều kiện làm rạn nứt những bức tường thép đang ngăn cách họ với thế giới tự do, để có một ngày nào đó họ có thể phối hợp với lực lượng tự do dân chủ ở nước ngoài đập tan gông xiềng đang xiết chặt trên đầu cổ họ.

* * *

Thực ra không có chuyện lòng tre cũi sắt. Những chế độ độc tài, hà khắc, áp bức nhân dân đều là những gông xiềng của tự do, đều là những chiếc cũi sắt khổng lồ, nó thật giống nhau về bản chất : Thiếu chất oxy để nuôi sống con người. Phải đập nát nó ra để giải phóng cho con người. Nếu chưa đủ sức thì ít ra cũng phải phá được những lỗ thông hơi cho người dân có oxy để thở.

Lê Việt

22/11/1988

 

******************************


 

Phụ lục 4 : Một vài số liệu về người Hoa tại miền Nam trước 1975

I. Dân số

1. Người Hoa tại Đông Dương (1921/1931)

Địa danh 1921 1931 Tăng- Giảm Tỷ lệ
Nam Kỳ 156.000 205.000 49.000 - 31%
Trung Kỳ 7.000 10.000 3.000 +43%
Bắc Kỳ 32.000 52.000 20.000 +62%
Cam Bốt