Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

mardi, 17 novembre 2020 17:20

Tương lai nào cho ASEAN ?

ASEAN cần nương theo cao trào Nhân Bản Hóa Toàn Cầu. Nguyên tắc : Phát triển kinh tế bền vững phải đi đôi với nhân bản hóa xã hội.

asean1

ASEAN - Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á là một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của các quốc gia khu vực Đông Nam Á.

Thành lập tại Bangkok ngày 8/8/1967 gồm 5 nước : Indonesia, Malaysia, Singapore, Philippine và Thái Lan. Trụ sở ở Jakarta (Indonesia). Hiện lên 10 nước : Brunei (1984), Việt Nam (07/1995), Lào và Myanmar (07/1997), Campuchia (04/1999).

Từ 1967 – 1975 : tổ chức non trẻ, hợp tác lỏng lẻo, chưa có vị trí trên trường quốc tế . Thực sự khởi sắc sau khi ký nguyên tắc chung Bali (2/1976) : (a) Tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ ; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau ; (b) Không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực với nhau ; (c) Giải quyết các tranh chấp bằng phương pháp hòa bình ; (d) Hợp tác phát triển có hiệu quả trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội.

Sau 1975, ASEAN cải thiện quan hệ với Đông Dương. Tuy nhiên, từ 1979 – 1989, quan hệ giữa hai nhóm nước trở nên căng thẳng do vấn đề Campuchia. Đến 1989, hai bên bắt đầu quá trình đối thoại, tình hình chính trị khu vực cải thiện căn bản. Thời kỳ này kinh tế ASEAN tăng trưởng mạnh. Sau khi phát triển thành 10 thành viên (1999), ASEAN đẩy mạnh hoạt động hợp tác kinh tế, xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định để cùng phát triển.


Bối catnh quốc tế đang có khuynh hướng xoay chuyển từ đối đầu Đông – Tây sang hợp tác Bắc – Nam :

– Bắc gồm khoảng 20 nước đã phát triển, hàng đầu là 5 trung tâm quyền lực : Mỹ – Trung – Nhật – Đức – Nga đang tiến hành mạnh mẽ cách mạng Số trong xã hội của họ.

– Nam khoảng gần 180 nước đang phát triển, chiếm 2/3 dân số toàn cầu, từ lâu vẫn ấp ủ giấc mộng kỹ nghệ hóa nhưng yếu kém về vốn – kỹ thuật – quản lý ; khả năng lại hạn chế, tham nhũng, thiếu dân chủ, không được lòng dân.

Hố sâu giữa các nước đã và đang phát triển không khéo thu xếp sẽ sâu thêm, đe dọa an ninh và tương lai của cả nhân loại, nhất là vào lúc mà cách mạng Số đang diễn ra vũ bão trong xã hội các đã phát triển. Thế kỷ XXI có nhiều vấn đề toàn cầu phải giải quyết vượt xa khả năng của bất kỳ siêu cường nào dù giầu mạnh đến đâu. Do đó, 5 trung tâm quyền lực Mỹ – Trung – Nhật – Đức – Nga buộc phải chấp nhận một thế chiến lược liên hoàn chung, để : 

– Một măt, giữ vững thế không chế của các nước đã phát triển (Bắc) khi tiến hành cách mạng Số trong xã hội của họ.

– Mặt khác, chuyển giao ở qui mô toàn cầu cách mạng kỹ nghệ hóa cho các nước đang phát triển (Nam) để lấp bớt hố xa cách giầu – nghèo.

Mỹ – Trung – Nhật – Đức – Nga cạnh tranh qua đầu tư & thương mại với các đối tác Nam. Cách làm & hiệu quả trong lấp bớt hố giầu – nghèo, sẽ xác định uy tín, vị trí của siêu cường đó trong thế liên hoàn. Không đối đầu nên không có nhu cầu lôi kéo ‘đồng minh’ theo kiểu cũ ; tất cả chỉ là đối tác thuận mua vừa bán.

Về khía cạnh quân sự : Nhật, Đức bắt đầu tái võ trang ; 5 siêu cường trong thế liên hoàn tiến đến quân bình về võ khí thông thường ; tái bố trí chiến lược nhằm duy trì hòa bình bền vững. 

Về thương mại : Qua WTO, hợp lý hóa thương mại trao đổi hàng kỹ thuật Số (Bắc) với hàng kỹ nghệ hóa (Nam). Làm sao trong tiến bộ chung, cách biệt quan hệ Bắc – Nam càng ngày càng được thu hẹp.

Hiệp ước đối tác kinh tế toàn diện (RCEP) vừa ký ngày 15/11/2020 theo hình thức trực tuyến sau 8 năm đàm phán. Bao gồm mười thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), cùng 5 nước khác là : Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand.

Các thành viên RCEP chiếm gần một phần ba dân số thế giới và chiếm 29% GDP toàn cầu.

RCEP dự kiến sẽ loại bỏ một loạt thuế nhập khẩu trong vòng 20 năm.

Hiệp định này cũng bao gồm các điều khoản về sở hữu trí tuệ, viễn thông, dịch vụ tài chính, thương mại điện tử và các dịch vụ chuyên nghiệp. Theo RCEP, các linh kiện từ bất kỳ quốc gia thành viên nào sẽ được đối xử bình đẳng, điều này có thể làm cho các công ty ở các quốc gia RCEP kiếm nhà cung cấp trong khu vực thương mại của khối này.

Ngoài RCEP còn CPTPP : Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) với 11 thành viên, gồm Nhật + 4 nước ĐNÁ là Mã Lai, Singapore, VN, Brunei + Úc, Tân Tây Lan + Canada, Mexico, Peru. Chi lê. Đã có 7 quốc gia phê chuẩn. Khi áp dụng đầy đủ, CPTPP sẽ bao gồm 495 triệu dân, chiếm 13,5% GDP toàn cầu.

Mặc dù bao gồm ít quốc gia thành viên hơn, nhưng CPTPP cắt giảm thuế quan nhiều hơn và bao gồm các điều khoản về lao động và môi trường so với RCEP.

Đa số các nước ASEAN trong tình trạng thiếu vốn, thiếu kỹ thuật, phương cách quản lý không chuyên nghiệp. Nay đứng trước công cuộc chuyển giao cách mạng kỹ nghệ hóa, qui mô toàn cầu chưa từng có, nên tranh nhau giành giật vốn đầu tư. Kết quả là : chính quyền không kham nổi, lúng túng thảm hại, quay ra làm ăn gian dối, tham nhũng tràn lan từ trên xuống dưới. Dân chúng mất niềm tin, hốt hoảng, than van trong cơn lốc đổi thay này, vì cho rằng nhà đầu tư cấu kết với chính quyền gây xáo trộn, khốn khó cho cuộc sống của họ.

Lý do chính yếu : Thể chế chính trị không còn đáp ứng được với những đảo lộn xã hội trong nước và với những thay đổi lớn lao cấp vùng và quốc tế.

ASEAN cần nương theo cao trào Nhân Bản Hóa Toàn Cầu. Nguyên tắc : Phát triển kinh tế bền vững phải đi đôi với nhân bản hóa xã hội.

Tổng quan

– Thế của Châu Á đang lên.

– Châu Á – Thái Bình Dương quan trọng hơn phía Châu Âu – Đại Tây Dương, cả về địa chính trị lẫn hải chính trị (đặc biệt là vấn đề khai thác tài nguyên dưới đáy biển trong hải phận quốc tế).

– Văn minh Đông Phương (chủ về tinh thần – hướng nội) cùng văn minh Tây Phương (chủ về khoa học – hướng ngoại) đang trở thành hai mặt của nền văn minh mới Nhân Bản. Giao thoa văn minh Đông – Tây sẽ giúp ‘giải tỏa’ dần chính sách về kinh tế của Bắc đối với Nam. ASEAN là thí điểm đầu tiên và quan trọng nhất.

16/11/2020

Bác sĩ Nguyễn Đan Quế

Chủ tịch Cao Trào Nhân Bản

Nguồn : VNTB, 17/11/2020

Published in Diễn đàn

Ngày 06/10/2020, cuộc họp các ngoại trưởng bốn nước trong Bộ Tứ - Quad, hay còn gọi là Đối thoại an ninh bốn bên, diễn ra ở Tokyo nhằm khẳng định một chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương "tự do và rộng mở" trong bối cảnh Trung Quốc hành xử ngày càng hung hăng trong khu vực.

indo1

Trang bìa đặc san Diplomatie dành nói về Ấn Độ - Thái Bình Dương.  © Ảnh minh họa

Trong chiến lược này, đâu là vị trí của khối ASEAN ? Kết quả bầu cử Mỹ 2020 có ảnh hưởng gì đến chiến lược của Bộ Tứ hay không ? Liệu ý tưởng thành lập một liên minh quân sự theo mô hình NATO có thể thực hiện được hay không ?

RFI tiếng Việt tiếp tục đặt câu hỏi với nhà nghiên cứu David Camroux, trường đại học Khoa học Chính trị (Sciences Po, Paris), giáo sư thỉnh giảng trường Đại học Quốc gia Hà Nội.

**********

RFI : Trong chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương, Bộ Tứ không thể bỏ qua vai trò của khối ASEAN. Bản thân khối 10 nước Đông Nam Á này cũng có một tầm nhìn riêng của mình về vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương. Ông có thể cho biết rõ hơn về tầm nhìn này ?

David Camroux : Từ năm 2013, Indonesia đã có nói đến Ấn Độ - Thái Bình Dương. Giống như nhiều khái niệm khác của Indonesia, khái niệm này trước hết là dành cho công luận trong nước. Nghĩa là, Indonesia, một nước Hồi giáo lớn nhất thế giới, tự đặt mình nằm giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Đó là một quốc gia quần đảo giống như Philippines. Dưới thời cựu tổng thống Yudhoyono, và bây giờ là Joko Widodo, Indonesia tự cho mình là một diễn đàn chính trị cả cho Ấn Độ Dương lẫn Thái Bình Dương, đó chính là một tầm nhìn của Indonesia về Ấn Độ-Thái Bình Dương.

Có thể nói chính Indonesia đã đưa ra khái niệm Nhà nước-quốc gia quần đảo. Chính Indonesia đã đi vận động rất nhiều cho Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển. Tuy nhiên, Indonesia dưới thời tổng thống Widodo và nhất là bà ngoại trưởng lấy làm lo lắng rằng khái niệm Ấn Độ-Thái Bình Dương có nguy cơ bị Hoa Kỳ, Úc, Nhật Bản hay Ấn Độ chiếm lấy và không dành một chỗ nào cho ASEAN.

Thế nên, Jakarta ngay từ năm 2018 đã bắt đầu khởi động các cuộc tham vấn với các nước thành viên trong khối ASEAN và lần mới nhất là hồi tháng 9/2019. Khái niệm Ấn Độ-Thái Bình Dương do Indonesia đề xuất dưới tên gọi "ASEAN Outlook on the Indo-Pacific" đã được các nước thành viên chấp nhận vào năm 2019. Theo đó, khái niệm "vai trò trung tâm" của ASEAN được xác định, nghĩa là trong khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương, ASEAN có một vị trí ở giữa.

RFI : Nhưng vai trò trung tâm này cũng bị lung lay vì những chia rẽ trong nội bộ ASEAN ?

David Camroux : Sự chia rẽ này được thấy rõ trong cuộc bỏ phiếu ở Liên Hiệp Quốc cách nay vài tuần liên quan đến các vấn đề Hồng Kông, người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, Trung Quốc. Phần lớn các nước ASEAN tỏ ra trung lập, nhưng có một số nước bày tỏ ủng hộ Trung Quốc, đó là Lào, Cam Bốt, Miến Điện.

Trên thực tế, trong số các nước ASEAN, Trung Quốc có những chế độ "khách hàng" như Cam Bốt, Lào và những nước ủng hộ chỉ đơn thuần vì lý do địa lý, đó là những quốc gia láng giềng như Miến Điện, Thái Lan, những nước này ít chống đối hơn. Ở phía bên kia là những nước có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, đặc biệt là Việt Nam.

RFI : Hệ quả của sự chia rẽ này là gì ?

David Camroux :Trước cuộc họp Bộ Tứ gần đây, đã có một cuộc họp hồi tháng Ba năm nay giữa các thứ trưởng ngoại giao ba nước New Zealand, Hàn Quốc và Việt Nam. Chúng ta thấy rõ là Việt Nam đang xích lại gần Mỹ hơn, cũng như là với các nước khác trong Bộ Tứ là Nhật Bản, vốn dĩ đã có một mối quan hệ truyền thống, Ấn Độ và cả Úc nữa.

Người ta cũng thấy là Việt Nam chơi rất tốt lá bài Nhật Bản và Hàn Quốc để cân đối với đầu tư của Trung Quốc. Trong cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, rõ ràng Việt Nam hưởng lợi nhiều nhất, đây cũng là nước thắng đại dịch Covid-19. Chúng ta thấy rõ là nếu người ta muốn tìm một cơ sở để có thể đi từ sản xuất đến xuất khẩu thì Việt Nam sẽ vượt lên hàng đầu trước các nước khác trong khu vực.

Những chia rẽ này, trước đây vốn dĩ hiện hữu, nay ngày càng gia tăng trong lòng khối ASEAN, khi Việt Nam là quốc gia Đông Nam Á đầu tiên được tham dự các cuộc đàm phán TPP (Trans-Pacific Partnership). Dĩ nhiên là tổng thống Trump đã rút Hoa Kỳ ra khỏi thỏa thuận tự do mậu dịch, nhưng thỏa thuận này vẫn tồn tại mà không có Mỹ. Đây lại là một sai lầm của Donald Trump, bởi vì TPP do ông Obama đề xướng được xem như là một công cụ để tăng cường ảnh hưởng của Mỹ tại Châu Á.

Nếu như sau kỳ bầu cử lần này, Joe Biden trở thành tổng thống, rất có thể Hoa Kỳ sẽ đánh giá lại thỏa thuận này. Nhìn chung, ngoài Việt Nam, Singapore và dường như là có cả Malaysia, thì đúng là có rất ít quốc gia thuộc khối ASEAN là thành viên của CTPP hiện nay. Rõ ràng là Việt Nam đã đặt quyền lợi kinh tế của mình lên trên cả tầm nhìn chung của cả khối ASEAN. Như vậy, trên bình diện kinh tế, chúng ta thấy rõ là đã có những rạn nứt trong khối ASEAN.

Còn trên bình diện chính trị, có một điểm quan trọng là cuộc họp cấp cao Bộ Tứ diễn ra hôm 06/10 giữa ngoại trưởng 4 nước Ấn Độ, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Úc, lần đầu tiên được tổ chức riêng. Những cuộc họp trước đây đều diễn ra bên lề các cuộc họp thượng đỉnh ASEAN. Lần này, cuộc họp được tổ chức riêng ngoài khuôn khổ ASEAN.

Như vậy, theo giới quan sát, "vị trí trung tâm" của ASEAN trong toàn bộ khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương dường như đang bị thách thức. Nhưng điều đó cũng không có nghĩa là ASEAN sẽ biến mất trong nay mai, nhưng người ta thấy rõ có những hạn chế về tình liên đới giữa các thành viên trong khối ASEAN.

RFI : Phải chăng đây cũng chính là điểm gây khó khăn cho Việt Nam trong vai trò chủ tịch luân phiên 2020 ?

David Camroux : Đúng là không dễ dàng cho Việt Nam chút nào trong năm nay. Thêm vào đó là Việt Nam còn phải chủ trì các cuộc họp "trực tuyến". Những dự án của Hà Nội trong năm chủ tịch này để xúc tiến những lợi ích của mình có thể nói là đã bị thu hẹp.

Dù vậy, Việt Nam cũng đã thành công trong việc đưa vấn đề Biển Đông vào trong các cuộc hội thảo, nhưng họ không đạt được một sự đồng thuận trong khối ASEAN chỉ vì một quốc gia duy nhất là Cam Bốt. Tuy nhiên, theo quan điểm của tôi, việc ASEAN có đề cập đến phán quyết của Tòa Trọng tài La Haye cũng đã là một thắng lợi ngoại giao cho Việt Nam.

RFI : Nước Mỹ đang trong mùa bầu cử tổng thống. Liệu rằng kết quả bầu chọn có tác động đến sự tiến triển của Bộ Tứ hay không ?

David Camroux : Nếu ông Trump tái đắc cử đây sẽ là một thảm họa cho hệ thống đa phương, cho nền dân chủ Mỹ và là một thảm họa cho sự tiến bộ dân chủ trên thế giới.

Tuy nhiên, tôi nghĩ là với ông Joe Biden, Bộ Tứ sẽ tiếp tục được duy trì, và có thể phối hợp với cả Pháp nữa nhưng theo một cách khác. Tôi cho rằng sẽ không có một tình bằng hữu thật sự giữa Donald Trump và ông Narendra Modi, thủ tướng Ấn Độ, hai nhân vật đầy quyền lực.

Dù vậy, Hoa Kỳ và Ấn Độ vẫn sẽ tiếp tục xích lại gần nhau hơn, thậm chí là sẽ được củng cố hơn nữa, trước hết đó là vì nếu ông Biden đắc cử, phó tổng thống Mỹ mới là một người Mỹ gốc Ấn, bà Kalama Harris, và ở Mỹ, sự ủng hộ của cộng đồng Ấn Độ là khá lớn, có thể làm thay đổi lá phiếu các cử tri tại nhiều bang như Texas.

Tôi cũng tin rằng sự đối đầu với Trung Quốc cũng không biến mất, trên bình diện kinh tế có thể nhẹ hơn, nhưng ngày càng gay gắt hơn trong các vấn đề như an ninh chẳng hạn, trong vấn đề tự do lưu thông hàng hải ở Biển Đông, hay như hồ sơ nhân quyền. Tôi nghĩ là ông Biden buộc phải tỏ ra cứng rắn với Trung Quốc, bởi vì ông Donald Trump cáo buộc ông ấy là "nhu nhược" trước Trung Quốc.

Giờ chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương được đưa vào trong tầm nhìn chiến lược của Hoa Kỳ, và nhiều nước trong khu vực nên liên minh không chính thức này vẫn sẽ tiếp tục, có thể là ít đối đầu với Trung Quốc chí ít là trong các phát biểu.

Nhưng tôi nhắc lại rằng, sự ủng hộ mạnh nhất dành cho Bộ Tứ chính là Tập Cận Bình. Chính các hành động của ông ấy, các chính sách đối ngoại hung hăng của ông ấy, các hành động của ông đối với Hồng Kông, thái độ của ông với Đài Loan cho thấy Trung Quốc không có đồng minh. Đây thật sự là một vấn đề cho Bắc Kinh.

Điều làm tôi khó hiểu là 20 năm chính sách đối ngoại của Trung Quốc tại Đông Nam Á đang bị phung phí. Hai mươi năm nỗ lực quyền lực mềm để chứng tỏ là "một láng giềng tử tế, một nước anh cả", tất cả những điều đó, cùng với dịch bệnh Covid-19, đã thúc đẩy nhanh hơn nữa tiến trình đó, tất cả đều bị lãng phí.

Do vậy, Bộ Tứ vẫn sẽ tiếp tục củng cố, khái niệm Ấn Độ-Thái Bình Dương cũng được tăng cường nhiều hơn.

RFI : Gần đây, ngoại trưởng Mike Pompeo có kêu gọi thành lập một kiểu liên minh quân sự giống như là NATO. Theo ông, liệu một liên minh quân sự như vậy có thể hình thành hay không ?

David Camroux : Đây sẽ là một sự ngây thơ và phản tác dụng. Một liên minh không chính thức với Hoa Kỳ dĩ nhiên là không có vấn đề gì, và mối liên minh không chính thức này giữa các nước vẫn sẽ tiếp tục. Nhưng không ai được lợi gì, kể cả Việt Nam, Úc hay ngay cả Ấn Độ lao vào một liên minh bị xem như là một hình thức phát động chiến tranh lạnh thứ hai để ngăn chận sức mạnh quân sự Trung Quốc. Thách thức đối với Việt Nam cũng như là các nước khác trong khu vực, là trong tình huống xung đột giữa các cường quốc, tốt nhất không phải chọn phe nào, ít ra là trong lúc này và có thể khôn khéo thoát khỏi tình huống khó xử này.

RFI tiếng Việt xin cảm ơn giáo sư David Camroux.

Minh Anh thực hiện

Nguồn : RFI, 22/10/2020

Published in Diễn đàn

Vit Nam hoan nghênh ý tưởng ‘B t’ hp tác vi ASEAN v t do trên bin

VOA, 16/10/2020

Vit Nam hôm 15/10 nói luôn "hoan nghênh" các ý tưởng và sáng kiến đóng góp cho hòa bình, n đnh và phn vinh chung khi được yêu cu bình lun v thông tin nhóm "B t" (bao gm Hoa K, Nht Bn, n Đ và Australia" mong mun tăng cường quan h vi các nước ASEAN v lĩnh vc t do trên bin.

indo1

Ngày 6/10/2020, "B t" cho biết đã xem xét nhng phát trin chiến lược gn đây trên khp n Đ Dương-Thái Bình Dương và tho lun v các cách thc đ tăng cường hp tác ca nhóm v nhiu lĩnh vc, trong đó có an ninh hàng hi. Ảnh minh họa

Phát biu ti cuc hp báo thường k, người phát ngôn B Ngoi giao Vit Nam Lê Th Thu Hng nói "Là Ch tch ASEAN 2020, Vit Nam đt nhim v chính trong năm là xây dng ASEAN gn kết và ch đng thích ng. Trên cơ s đó, Vit Nam đã và đang phát huy vai trò Ch tch ca mình, đy mnh xây dng Cng đng, khng đnh vai trò trung tâm ca ASEAN trong cu trúc khu vc và m rng quan h đi ngoi ca ASEAN".

Trước đó, trong cuc hp ca nhóm "B t" (hay còn gi là "B t kim cương") hôm 6/10, nhóm này cho biết đã xem xét nhng phát trin chiến lược gn đây trên khp n Đ Dương-Thái Bình Dương và tho lun v các cách thc đ tăng cường hp tác ca nhóm v nhiu lĩnh vc, trong đó có an ninh hàng hi.

"B t" cũng tái khng đnh s ng h mnh m đi vi vai trò trung tâm, vn đ ch quyn và cu trúc khu vc do ASEAN dn đu đi vi n Đ Dương - Thái Bình Dương, và cam kết tiếp tc tham vn thường xuyên đ thúc đy tm nhìn v mt n Đ Dương - Thái Bình Dương hòa bình, an ninh và thnh vượng, B Ngoi giao Hoa K cho biết.

Trước các din tiến căng thng gn đây do các hành đng quyết đoán nhm khng đnh ch quyn ca Trung Quc trên Bin Đông, Vit Nam, trong vai trò Ch tch ASEAN năm nay, được cho là đang có nhiu n lc trong vic thúc đy nh hưởng ca khi 10 quc gia Đông Nam Á cũng như mi quan h ca khi này vi các quc gia khác trong vic gii quyết các tranh chp ch quyn trên Bin Đông.

Hi cui tháng 6, vi Tuyên b Ch tch ASEAN 2020 sau Hi ngh cp cao ASEAN ln th 36, khi này khng đnh Bin Đông là vn đ h trng ca khu vc, và "bày t quan ngi v hot đng ci to đo, nhng din biến gn đây, trong đó có nhng hành đng và v vic hết sc nghiêm trng làm xói mòn nim tin, gia tăng căng thng và có th nh hưởng đến hoàn bình, an ninh và n đnh trong khu vc".

Tun trước, hôm 9/10, trong cuc hp trc tuyến gia các ngoi trưởng ASEAN vi ngoi trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo, B trưởng ngoi giao Vit Nam Phm Bình Minh tiếp tc tuyên b các nước Đông Nam Á mun M đóng mt vai trò trong vic duy trì hòa bình Bin Đông.

Mc dù không nêu tên Trung Quc, nhưng ông Phm Bình Minh đã đ cp đến "nhng s c nghiêm trng" và "vic tiếp tc quân s hóa vùng bin" vi phm đến quyn ca các nước nh và đi ngược li vi lut pháp quc tế.

*****************

Vit Nam phn đi Trung Quc lp doanh nghip trên đo Phú Lâm

VOA, 16/10/2020

Đi din ca B Ngoi giao Vit Nam va lên tiếng phn đi "cái gi là thành ph Tam Sa" vi hàng trăm doanh nghip mà Trung Quc thành lp trên đo Phú Lâm, thuc qun đo Hoàng Sa, nơi Vit Nam tuyên b ch quyn nhưng do Trung Quc kim soát trên thc tế.

indo2

"Thành ph Tam Sa" mà Trung Quc thành lp vào ngày 27/7/2012.

Phát biu ca người phát ngôn B Ngoi giao Vit Nam, bà Lê Th Thu Hng, được đưa ra trong cuc hp báo thường k hôm 15/10, khi phóng viên hi v thông tin có hơn 400 doanh nghip Trung Quc đăng ký kinh doanh trên đo Phú Lâm mà t chc Sáng kiến Minh bch Hàng hi (AMTI) công b gn đây.

"Lp trường nht quán ca Vit Nam là phn đi mnh m vic thành lp cái gi là thành ph Tam Sa và các hành vi có liên quan vì đã vi phm nghiêm trng ch quyn ca Vit Nam, không có giá tr và không được công nhn, không có li cho quan h gia các quc gia và gây thêm phc tp tình hình Bin Đông, khu vc và thế gii", truyn thông Vit Nam dn li bà Hng nói ti cuc hp báo.

Cui tháng trước, t chc Sáng kiến Minh bch Hàng hi ca M đưa thông tin cho biết trước khi thành lp thành ph Tam Sa vào năm 2012, ch có chưa đy 10 công ty đăng ký vi các cơ quan qun lý ca Trung Quc. Nhưng đến tháng 6/2019, đã có ti 446 doanh nghip tư nhân và nhà nước đăng ký ti thành ph Tam Sa, trong đó, 307 công ty báo cáo tng vn đăng ký tích lu là 1,2 t đôla.

T chc nghiên cu ca M cho rng các cơ quan qun lý ca Trung Quc đã s dng các chính sách "khôn ngoan" đ đt được "k tích" trong vic phát trin Tam Sa nhm khng đnh yêu sách ch quyn Hoàng Sa.

Các chính sách này bao gm cho phép các doanh nghip "đăng ký Tam Sa, np thuế cho Tam Sa, thương hiu Tam Sa, nhưng hot đng mi nơi" nhm tháo g nhng hn chế v vt lý và các rào cn khác ca đo Phú Lâm cho doanh nghip đăng ký hot đng. Nh chính sách này mà các công ty dù hot đng bên ngoài Tam Sa nhưng li đóng vai trò là s hin din v hành chính ca Trung Quc trên Bin Đông, ngoài vic vn có th đóng góp tài chính cho s phát trin ca thành ph, vi hơn 100 triu đô la tin thuế vào năm 2015.

Theo AMTI, nhiu công ty còn hp tác xây dng, cung cp cơ s h tng, thông tin và k c quân s, an ninh, hàng hi cho thành ph. Mt s công ty đã giúp nhà qun lý lp đt h thng 4G và 5G, đt cáp quang dưới bin hay phi hp vi ngư dân đa phương đ phát trin ngh nuôi cá lng bin sâu đ khuyến khích h chuyn đi khi ngh đánh bt truyn thng và thiết lp nơi cư trú bình thường trong thành ph.

Hi tháng 4, Trung Quc công khai thông báo thành lp "qun Tây Sa" và "qun Nam Sa" ti thành ph Tam Sa đ qun lý qun đo Hoàng Sa và Trường Sa. Vào thi đim đó, B Ngoi giao Vit Nam cũng lên tiếng phn đi và "yêu cu Trung Quc tôn trng ch quyn ca Vit Nam, hủy b các quyết đnh sai trái liên quan đến nhng vic làm đó và không có nhng vic làm tương t trong tương lai". Tuy nhiên, tin cho hay Bc Kinh vn tiếp tc các hot đng quyết đoán nhm khng đnh yêu sách ch quyn trên Bin Đông trong thi gian gn đây.

Hôm 26/8, B Thương mi Hoa K b sung 24 công ty ca Trung Quc vào mt danh sách đen có tên "Danh sách thc th" vì "vai trò ca h trong vic giúp quân đi Trung Quc xây dng và quân s hóa các đo nhân to b quc tế lên án Bin Đông". Cùng lúc, B Ngoi giao Hoa K cũng công b các hn chế th thc đi vi các cá nhân Trung Quc liên quan đến vic khai hoang, xây dng, quân s hóa và cưỡng chế Bin Đông.

Tin cho hay, ngoài các chính sách khuyến khích dành cho doanh nghip, cư dân Tam Sa cũng được gii hu trách to điu kin, cung cp các dch v h tr tài chính, vi các khon vay ưu đãi đ ci thin cht lượng cuc sng.

Published in Việt Nam

Liệu các nước Đông Nam Á có rơi vào bẫy của Trung Quốc

Trần Bạch Mai, RFA, 01/10/2020

Truyền thông quốc tế ngày 28/9 dẫn lời Đại sứ Trung Quốc tại Manila Hoàng Khê Liên (Huang Xilian) khẳng định Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Philippines Duterte đã đạt được ‘đồng thuận’ để ‘gác lại’ các đòi hỏi chủ quyền trên vùng biển đang tranh chấp.

bayno1

Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình bắt tay ở Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh hôm 25/4/2019 – AFP – Hình minh họa

Quan chức ngoại giao Trung Quốc xác nhận thông tin này chỉ vài ngày sau khi Duterte tuyên bố trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc rằng sẽ duy trì phán quyết mà Tòa trọng tài đưa ra năm 2016, trong đó vô hiệu các yêu sách của Trung Quốc về Biển Đông.

Tại hội thảo trực tuyến về quan hệ Trung Quốc-Philippines hôm 25/9, Hoàng Khê Liên cho biết : "Hai nhà lãnh đạo Tập Cận Bình và Duterte đã đạt được sự đồng thuận quan trọng về việc hai bên sẽ thực thi một cách mạnh mẽ nỗ lực gác lại tranh chấp trên biển, quản lý tình hình thông qua tham vấn song phương, tăng cường đối thoại và hợp tác – mục đích là để động lực vững chắc này của quan hệ song phương và cũng là kim chỉ nam cho con đường phía trước có thể được bảo tồn và phát huy.

Lập trường của Trung Quốc về cái gọi là ‘phán quyết trọng tài’ đã rất rõ ràng : chúng tôi không chấp nhận và không công nhận phán quyết này. Hai nhà lãnh đạo đã nhất trí rằng hai bên nên khép lại chương cũ và gác lại những khác biệt".

Tuy nhiên, Hoàng Khê Liên không cho biết hai bên đạt được thỏa thuận như vậy vào thời điểm nào. Hoàng Khê Liên nhắc lại rằng "vấn đề Biển Đông chỉ là một phần nhỏ của quan hệ Trung Quốc-Philippines, hay như Bộ trưởng Ngoại giao Teodoro Locsin nói, ‘chỉ là một viên sỏi nhỏ’ trên con đường dẫn đến mục tiêu kinh tế đôi bên cùng có lợi và chúng ta không được vấp phải viên sỏi nhỏ đó".

Ông cũng chỉ ra rằng số lượng các hợp đồng mới của Trung Quốc cho các dự án ở Philippines đã tăng "26,5% trong nửa đầu năm", bất chấp đại dịch Covid-19, và gọi đây là bằng chứng cho thấy mối quan hệ mang lại lợi ích cho cả hai bên.

Trả lời phỏng vấn trong chương trình tin tức trực tuyến Viewpoint hôm 27/9, người phát ngôn của Tổng thống Philippines xác nhận hai bên đã thực thi một thỏa thuận để "thực hiện các vấn đề mà chúng tôi có thể tiến hành, bao gồm thương mại và đầu tư" vì hai bên "không thể giải quyết tranh chấp lãnh thổ đang chờ giải quyết". Năm 2018, Bắc Kinh và Manila đã nhất trí về một thỏa thuận thăm dò dầu khí chung.

bayno2

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình bắt tay Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad trước cuộc gặp song phương ở diễn đàn Vành Đai Con Đường tại Bắc Kinh hôm 25/4/2019 Reuters

Trong dòng sự kiện đó, ngày 29/7/2020, phái đoàn thường trực của Malaysia tại Liên Hiệp Quốc đã gửi công hàm về quan điểm của họ về vấn đề Biển Đông lên Ủy ban Ranh giới Thềm Lục địa (CLCS), trong đó khẳng định rằng các yêu sách biển của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý theo luật quốc tế. Trước đó, bất luận các tuyên bố chủ quyền chồng lấn trên Biển Đông, cựu Thủ tướng Najib đã ký kết các thỏa thuận nhiều tỷ USD với Trung Quốc, bao gồm thỏa thuận thu mua trang thiết bị quân sự của Trung Quốc năm 2016 - thỏa thuận đầu tiên trong lịch sử Malaysia. Hơn nữa, Malaysia và Trung Quốc đã ký kết Biên bản Ghi nhớ về Hợp tác Quốc phòng, nêu bật hợp tác hải quân giữa hai nước. Không giống như ông Najib, người hoan nghênh Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) của Bắc Kinh và thúc đẩy quan hệ quân sự hơn nữa, người kế nhiệm ông - cựu Thủ tướng Mahathir - đã tìm cách đàm phán lại về các thỏa thuận với Trung Quốc dưới thời ông Najib. Ông Mahathir cũng nhấn mạnh rằng ông không muốn thấy các tàu chiến xuất hiện tại khu vực Biển Đông tranh chấp và Eo Malacca. Malaysia dường như đã chuyển hướng chính sách đối ngoại từ thời chính phủ ông Najib, vốn theo xu hướng nhân nhượng Trung Quốc, sang chính sách dưới thời chính phủ Mahathir, vốn ủng hộ chính sách đối ngoại "không liên kết", nhấn mạnh tầm quan trọng của chủ nghĩa đa phương và không quân sự hóa các khu vực biển đang tranh chấp.

Dưới thời chính phủ Liên minh Hy vọng (PH) của Thủ tướng Mahathir, Sách trắng quốc phòng (DWP) 2020 đầu tiên của Malaysia được công bố, trong đó nêu bật tầm nhìn chiến lược của Malaysia. Đặc biệt, văn bản này xác định các yêu sách biển của Malaysia tại Biển Đông là quan tâm an ninh hàng đầu của họ. Theo đó, công hàm của Malaysia thể hiện quan điểm cứng rắn nhất của Malaysia tại Biển Đông trong thời gian gần đây và đặt nó là ưu tiên hàng đầu trong DWP.

Cuộc khủng hoảng chính trị năm 2020 tại Malaysia, từ đó đã dẫn tới việc chỉ định Thủ tướng đương nhiệm Muhyiddin Yassin, kéo theo một số bất ổn nhất định trong quan điểm của Malaysia tại Biển Đông. Trong cuộc gặp của ông Yassin với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phượng Hòa hôm 7/9/2020, hai bên có trao đổi quan điểm về Biển Đông, tuy nhiên chưa rõ các bên bàn luận gì.

Trước đó, trong một cuộc họp vào tháng 9/2019, cựu Ngoại trưởng Malaysia Saifuddin Abdullah đã nhất trí với người đồng cấp Trung Quốc Vương Nghị về việc tiến hành đàm phán song phương trực tiếp.

Trong bối cảnh Mỹ và Trung Quốc gia tăng căng thẳng xung quanh vấn đề Biển Đông, Bắc Kinh đã hối thúc Kuala Lumpur đạt được bước đi đột phá này, tuy vậy, đã một năm qua, thỏa thuận này vẫn chưa có dấu hiệu tiến triển.

Trung Quốc và Malaysia duy trì liên lạc về cơ chế đàm phán 1-1, song không cho biết phạm vi hoặc chi tiết cơ chế. Mục đích của Trung Quốc là tìm cách áp đặt cơ chế đối thoại song phương với từng bên tranh chấp, triển khai chính sách "gác tranh chấp cùng khai thác" của họ. Bắc Kinh cũng áp dụng chính sách này với Brunei, Philippines và Việt Nam.

Từ năm 2014, Trung Quốc và Việt Nam đã có các cuộc đàm phán tương tự, cụ thể là việc phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và cùng khai thác các nguồn tài nguyên cá ở Vịnh Bắc Bộ. Theo Bộ Ngoại giao Trung Quốc, cuộc họp gần đây nhất được tổ chức vào ngày 9/9. Chỉ tính đến cuối năm 2019, Nhóm công tác về vùng biển cửa ngoài Vịnh Bắc Bộ giữa 2 nước đã tổ chức 11 vòng đàm phán về vấn đề cùng khai thác ở các vùng biển liên quan.

Chính sách "gác tranh chấp cùng khai thác" của Trung Quốc đã bị nhiều học giả trên thế giới phản bác rất nhiều. Mặc dù Trung Quốc đề nghị khai thác chung, nhưng mặt khác Trung Quốc vẫn khẳng định khu vực khai thác chung "chủ quyền lãnh thổ là thuộc Trung Quốc". Trên biển Đông, dù rất muốn khai thác chung, nhưng Trung Quốc vẫn duy trì yêu sách "đường lưỡi bò" chiếm gần 80% biển Đông và chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cùng với hai khu vực khác là Pratas và Macclesfield mà Trung Quốc gọi là quần đảo Đông Sa và quần đảo Trung Sa. Quan trọng hơn, phần lớn các khu vực mà Trung Quốc đề nghị khai thác chung đều nằm trên khu vực thuộc vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa hiển nhiên thuộc quyền chủ quyền của nước khác.

Một nhân vật nắm rõ công tác hoạch định chính sách của Malaysia nói : "Quan điểm chính thức của chúng tôi là cởi mở với điều này, song chúng tôi đã cố gắng hòa hoãn nhiều nhất có thể. Đại dịch đã cho chúng tôi một lý do chính đáng để ngăn chặn nó. Chúng tôi không nghĩ rằng đây sẽ là một thỏa thuận có lợi với chúng tôi, đặc biệt là khi nhìn sang trường hợp Philippines và Việt Nam".

Một người thông thạo chính sách khác của Malaysia nhất trí với quan điểm trên, cho rằng việc thiết lập cơ chế tham vấn song phương "là một tiền lệ nguy hiểm". Ông nói : "Chúng tôi muốn các cuộc thảo luận với Trung Quốc ở hình thức đa phương, không phải song phương. Hình thức song phương là những gì Trung Quốc muốn… Rốt cuộc, họ đang đưa chúng tôi dấn sâu từng bước một".

Trong trường hợp Philippines, Cựu thẩm phán Tòa án tối cao Antonio Carpio, cho rằng Duterte bị đang bị Trung Quốc "dắt mũi, bỏ qua phán quyết mà chẳng được gì". ông ta phát biểu trên báo chí rằng : "Duterte gác lại phán quyết đảm bảo các khoản cho vay và đầu tư từ Trung Quốc, nhưng trong số 24 tỷ USD mà Bắc Kinh đã hứa cho các khoản vay và đầu tư, chỉ có chưa đến 5% thành hiện thực khi nhiệm kỳ của ông Duterte chỉ còn chưa đầy hai năm nữa. Với tình hình đại dịch và tình trạng trì trệ của nền kinh tế Trung Quốc, Duterte không thể mong đợi gì hơn nữa từ Trung Quốc".

Có lẽ các quốc gia Đông Nam Á tham gia trực tiếp trong tranh chấp biển Đông cần thận trọng trước âm mưu và dã tâm này của Trung Quốc.

Trần Bạch Mai

Nguồn : RFA, 01/10/2020

*************************

Lãnh đạo Việt Nam cần đặt chủ quyền biển đảo và lợi ích dân tộc trên hết

Nguyễn Trường, RFA, 01/10/2020

Sự "tấn công" của Trung Quốc vào vùng Biển Đông đầy tranh cãi và tranh chấp không phải là một hiện tượng mới. Đó là một chiến lược dài hạn của Bắc Kinh nhằm đưa một vùng biển rộng lớn vào tầm ảnh hưởng của mình. Mục đích của chiến lược này chủ yếu là nhằm khai thác một cách độc quyền các nguồn tài nguyên. Gần đây hơn, vụ Trung Quốc phóng các tên lửa tầm trung vào vùng Biển Đông thể hiện một sự quyết đoán hơn nữa, chủ yếu nhằm phản ánh sức mạnh và sự đe doạ của họ đối với vùng biển tranh chấp này. Hành động như vậy của Trung Quốc là một nỗ lực thể hiện sự thống trị chiến lược của họ đối với toàn bộ khu vực Biển Đông.

bayno3

Một người lính hải quân Việt Nam đứng canh ở đảo Thuyền Chài thuộc quần đảo Trường Sa hôm 17/1/2013 - Reuters

Trung Quốc hiểu rõ ràng rằng việc sở hữu một quân đội và hải quân hùng mạnh sẽ giúp nước này trở nên đáng gờm trong các vấn đề toàn cầu. Trung Quốc bắt đầu hiện đại hóa hải quân sau khi đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng trong thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh. Tính đến nay, Trung Quốc sở hữu 360 tàu chiến, vượt qua hải quân Mỹ với 297 tàu. Nước này dự kiến có tổng cộng khoảng 400 tàu chiến vào năm 2025 và 425 tàu vào năm 2030. Trong khi đó, năng lực của đội tàu, máy bay và vũ khí của Hải quân Trung Quốc có thể so sánh với các hải quân lớn của Phương Tây. Bên cạnh đó, Hải quân Trung Quốc đang hiện đại hóa trên nhiều lĩnh vực, bao gồm bảo trì và hậu cần, học thuyết, chất lượng nhân sự, giáo dục - đào tạo, và các cuộc tập trận, đồng thời lực lượng này đang nhanh chóng giải quyết những khiếm khuyết và mở rộng Lực lượng cảnh sát biển của mình.

Hiện nay, có những bằng chứng cho thấy Biển Đông đang nhanh chóng bị quân sự hóa. Trong khi Mỹ tăng cường các chiến dịch tự do hàng hải (FONOP) trong năm nay, thì Trung Quốc cũng gia tăng các hoạt động quân sự, thể hiện ở việc quân đội nước này có phản ứng đối đầu với các tàu hải quân Mỹ đi qua Hoàng Sa và Trường Sa. Tình hình này đang làm tăng nguy cơ khiến quan hệ Mỹ-Trung "khủng hoảng" hơn do vấn đề Biển Đông.

Đã đến lúc các nước ASEAN cần có lập trường vững chắc của riêng mình hoặc đồng lòng với Mỹ, Australia, Nhật Bản, và Ấn Độ.

bayno4

Tàu sân bay Liêu Ninh của Trung Quốc cùng các tàu chiến khác của hải quân nước này tập trận ở Biển Đông vào tháng 12/2016 Reuters

Các nước Đông Nam Á cho rằng Bắc Kinh đã lợi dụng đại dịch để tiến tới và củng cố hơn nữa các tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông. Đây cũng sẽ là thời điểm thuận lợi để có được một số lợi ích từ Mỹ nhằm đối phó với một đối thủ như Trung Quốc về lâu dài, đặc biệt trong các cuộc đàm phán về Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Do sự chênh lệch lớn về sức mạnh và năng lực hải quân, các nước Đông Nam Á chỉ còn cách tự trang bị tốt hơn để kiểm soát các động thái của Trung Quốc trong các EEZ của họ.

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đang nỗ lực duy trì vai trò trung tâm của mình. Tháng 6 vừa qua, ASEAN đã bày tỏ lập trường ủng hộ Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) và yêu cầu các bên liên quan tuân thủ công ước này. Nỗ lực của Việt Nam nhằm củng cố vị thế của ASEAN trong năm 2020 có thể là điều đúng đắn, song Brunei - quốc gia sẽ giữ chức chủ tịch ASEAN năm 2021 - có thể sẽ không duy trì được động lực chống lại Trung Quốc.

Trong nhiều thập niên, Brunei đã dựa vào nguồn dự trữ dầu mỏ để duy trì nền kinh tế và chế độ quân chủ cầm quyền. Tuy nhiên, khi dự trữ trong nước không còn đủ để duy trì đất nước trong tương lai, Brunei phải tìm ra những hướng đi mới để duy trì nền kinh tế.

Trung Quốc đã tung ra chiến lược "tấn công quyến rũ", tận dụng nền kinh tế đang suy giảm của Brunei thông qua các khoản đầu tư và các dự án cơ sở hạ tầng.

Với 6 tỉ USD đầu tư vào một nhà máy lọc dầu và cơ sở hạ tầng địa phương, cùng với những lời hứa hẹn thúc đẩy hợp tác thương mại và nông nghiệp, Trung Quốc đã thực sự "mua" được sự im lặng của Brunei về Biển Đông cho đến bây giờ.

Là thành viên giàu thứ hai trong ASEAN, điều quan trọng nhất đối với Quốc vương Hassanal Bolkiah là duy trì nền kinh tế để đảm bảo sự ổn định của Vương quốc Brunei.

Brunei có các yêu sách đối với rạn san hô Louisa Reef, bãi ngầm Chim Biển (Owen Shoal) và bãi cạn Vũng Mây (Rifleman Bank). Tất cả đều được quốc gia này tuyên bố là những thực thể thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Brunei vào năm 1984.

Tuy nhiên, Brunei lại là quốc gia duy nhất trong số các quốc gia yêu sách không khẳng định chủ quyền đối với các hòn đảo này và cũng không có bất kỳ sự hiện diện quân sự nào ở đây.

Trong tuyên bố được phát ngày 20/7/2020, Bộ Ngoại giao Brunei nhấn mạnh nước này luôn cam kết duy trì hòa bình, ổn định và thịnh vượng trong khu vực.

Tuy nhiên, "Các vấn đề cụ thể cần được giải quyết song phương bởi các quốc gia liên quan trực tiếp thông qua đối thoại và tham vấn hòa bình".

Brunei đang cố gắng cân bằng giữa yêu sách chủ quyền trên Biển Đông và tiếp tục mối quan hệ bền chặt với Trung Quốc khi nhắc đến giải quyết song phương thay vì đa phương.

Các cuộc đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) giữa ASEAN và Trung Quốc được lên kế hoạch triển khai trong năm 2021 có thể sẽ bị trì hoãn. Tuy nhiên, điều này sẽ không ngăn được Trung Quốc áp đặt những cách giải thích của riêng họ về COC. Tệ hơn là xu hướng này có thể khiến các nước không còn nỗ lực tăng cường can dự vào khu vực. Theo như thực tế hiện nay, các nước Đông Nam Á đang phải tự mình hành động.

Cho đến nay, Trung Quốc thường áp dụng chiến lược chia rẽ và chinh phục đối với các thành viên ASEAN, đặc biệt là với các bên tranh chấp ở Biển Đông như Indonesia, Malaysia, Philippines và Việt Nam. Tuy nhiên, trung lập và thân thiện với tất cả các bên là điều làm nên hiệu quả của ASEAN. Liệu ASEAN có thể hiệu chuẩn lại một lần nữa hay không ?

Trường hợp Philippines là một thí dụ.

Chỉ 3 ngày sau khi Tổng thống Duterte cam kết trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc hôm 22/9/2020 rằng Manila sẽ duy trì phán quyết Biển Đông của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) năm 2016. "Phán quyết hiện là một phần của luật pháp quốc tế, vượt ra ngoài sự thỏa hiệp và ngoài tầm với của các chính phủ muốn buông lỏng hoặc không thừa nhận", ông Duterte nói. "Chúng tôi kiên quyết phản đối những nỗ lực chống lại phán quyết này", ngày 25/9/2020, Đại sứ Trung Quốc tại Philippines Hoàng Khê Liên nói rằng Chủ tịch Tập Cận Bình và Tổng thống Rodrigo Duterte đã đạt được "đồng thuận quan trọng" về việc "gạt tranh chấp trên biển sang một bên, quản lý tình hình thông qua tham vấn song phương và tăng cường đối thoại, hợp tác".

Tại sao Duterte thay đổi lập trường ? Bất chấp đại dịch Covid-19, những hợp đồng mới của Trung Quốc cho các dự án ở Philippines trong 6 tháng đầu năm 2020 đã tăng 26,5%, là bằng chứng cho thấy mối quan hệ kinh tế đã thay đổi lập trường chính trị của Philippines.

bayno5

29 thỏa thuận đã được ký kết ngày 20/11/2018 giữa Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có chuyến thăm 2 ngày tới Philippines (Nguồn : Reuters)

Nhưng thực tế như thế nào ? Duterte gác lại phán quyết để đảm bảo nhận được các khoản vay và đầu tư từ Trung Quốc, nhưng trong số 24 tỷ USD Bắc Kinh cam kết, chưa đến 5% trở thành hiện thực, trong khi nhiệm kỳ của Duterte chỉ còn chưa đầy hai năm. Xem ra Duterte thích đếm vịt trời hơn những gì mà Philippines đã đối phó với Trung Quốc trong quá khứ và nó sẽ còn tiếp diễn trong tương lai.

Mỹ bày tỏ sẵn sàng tăng cường hỗ trợ các nước có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông thông qua việc chuyển giao các thiết bị như radar, máy bay không người lái và tàu tuần tra nhằm giúp giám sát tốt hơn các hoạt động của Trung Quốc trong EEZ của các nước này, đặc biệt là hoạt động đánh bắt trái phép cũng như sự hiện diện của các tàu chính phủ Trung Quốc.

Gần đây, Mỹ đã hỗ trợ thêm cho Việt Nam một tàu tuần tra nhằm tăng cường năng lực cho cảnh sát biển Việt Nam. Mới đây, chính quyền của Tổng thống Mỹ Donald Trump đã thách thức Bắc Kinh khi giúp Việt Nam nâng cao năng lực hàng hải. Hai nước đã ký kết một Bản ghi nhớ chung (MOU). Có thể thấy, thành phần chính của MOU giữa Hà Nội và Washington bao gồm các hỗ trợ trực tiếp chống lại hành vi đe dọa ngư dân Việt Nam đánh bắt ở Biển Đông và thúc đẩy hợp tác để đảm bảo duy trì bền vững tài nguyên biển, chống lại các hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không được kiểm soát (IUU). Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo tuyên bố : "Thế giới không cho phép Bắc Kinh coi Biển Đông là đế chế biển của riêng họ. Mỹ sẽ sát cánh với các đồng minh và đối tác Đông Nam Á trong việc bảo vệ quyền chủ quyền của họ đối với các nguồn tài nguyên ngoài khơi, phù hợp với các quyền và nghĩa vụ của họ theo luật pháp quốc tế".

Việt Nam cần một "đại chiến lược" bền vững nếu như muốn có một chính sách độc lập đối phó với Trung Quốc.

Thứ nhất, "Một đại chiến lược" về kinh tế không phụ thuộc vào cường quốc nào, mà đầu tiên trong đó cần phải làm triệt để là không phải chờ đón đại bàng bay vào làm tổ mà phải lót sẵn tổ bằng những biện pháp cụ thể để triệt phá lợi ích nhóm, tham nhũng, quan liêu cửa quyền và bất nhất trong chính sách.

Thứ hai, "Một đại chiến lược" về quốc phòng và quân sự thực sự cần hướng tất cả các thể chế vào việc chuẩn bị sẵn sàng cho tình huống xảy ra một cuộc chiến tranh thông thường ; đầu tư mạnh vào năng lực tấn công chính xác cả trong môi trường đất liền, trên biển và trên không, với sự hỗ trợ của các năng lực phi quân sự và trong không gian mạng ; đồng thời phải củng cố mối quan hệ với các đối tác quốc phòng trong khu vực để có được nhận thức chung về không gian mạng, trên không và trên biển ; và cần hợp tác với Mỹ với tư cách là một đối tác đáng tin cậy cùng chung tầm nhìn.

Để đạt được các mục tiêu này, lãnh đạo Việt Nam cần phải thực sự đặt lợi ích của dân tộc và chủ quyền biển đảo của đất nước lên trên hết. Mặc dù các lãnh đạo Việt Nam luôn tuyên bố "chủ quyền biển đảo là thiêng liêng", "không đánh đổi chủ quyền bằng bất cứ thứ gì", "Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền và lợi ích chính đáng của mình bởi vì chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo là thiêng liêng. Việt Nam luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó".

Tuy nhiên trong thực tế thì có rất nhiều thứ mà người dân lo ngại. Với những gì đang diễn ra hiện nay, nhiều người dân tin rằng, Trung Quốc đang ráo riết can thiệp vào chính trị nội bộ của Việt Nam trong khi một bộ phận lãnh đạo Việt Nam đang tập trung cho Đại hội Đảng lần thứ 13 sắp tới và một bộ phận vẫn ôm khư khư lập trường về tư duy chính trị quốc tế không khác tư duy chính trị quốc tế thời chiến tranh lạnh, điều đó thể hiện trong nhiều phát biểu của lãnh đạo cấp cao vừa qua.

Nguyễn Trường

Nguồn : RFA, 01/10/2020

Published in Diễn đàn

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) gồm 10 nước : Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam. Đứng giữa hai cường quốc kinh tế đang trỗi dậy là Trung Quốc và Ấn Độ, các nước ASEAN đang đối diện trực tiếp với những cơ hội và thách thức rất lớn do sự trỗi dậy của hai người khổng lồ này mang lại trong môi trường toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng.

asean1

Các nghệ sĩ biểu diễn nhân bế mạc Thượng đỉnh ASEAN ở Hà Nội hôm 26/6/2020 - AFP

Với dân số hơn 650 triệu người, nền kinh tế ASEAN tương đối lớn, có thể so sánh với Ấn Độ về tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Tuy nhiên, 10 nước ASEAN có khác biệt rất lớn về thu nhập và trình độ phát triển, từ Myanmar và Campuchia là những nước nghèo nhất đến Singapore và Brunei nằm trong số những nước giàu có nhất

Những biến động đang nổi lên

Khi bối cảnh phát triển thay đổi có lợi cho sự biến đổi và tăng trưởng kinh tế ở các nước ASEAN, hai biến động lớn toàn cầu đã xuất hiện. Thứ nhất là cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung, bắt đầu vào năm 2018. Căng thẳng thương mại đã làm giảm tăng trưởng GDP của thế giới từ mức trung bình 3,5% giai đoạn 2016-2018 xuống còn 2,9% năm 2019, và tác động đến nhiều nền kinh tế. Thứ hai là đại dịch Covid-19, bắt nguồn từ thành phố Vũ Hán của Trung Quốc vào cuối năm 2019. Cuộc khủng hoảng này có tác động rộng lớn và nghiêm trọng chưa từng có, và nền kinh tế thế giới được cho là sẽ rơi vào suy thoái sâu trong năm 2020.

Vậy các biến động của thế giới mang tính lịch sử như vậy sẽ ảnh hưởng thế nào trước một ASEAN mới phát triển và dễ tổn thương ?

Thứ nhất, tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung đối với các nước ASEAN trong năm 2019 có kết quả tốt xấu lẫn lộn. Trong khi Singapore, Lào và Thái Lan có chỉ số âm, hàm ý mức độ thiệt hại nghiêm trọng, thì Việt Nam, Myanmar và Brunei lại đạt mức dương, điều cho thấy một số thành quả đáng chú ý mà những nước này đạt được. Ở cấp độ nhóm, khả năng dễ bị tổn thương của các nước ASEAN thấp hơn nhiều so với của hai nhóm Châu Á khác, cũng như của thế giới nói chung. Tác động lẫn lộn của cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung có thể được giải thích như sau : Dù căng thẳng thương mại gây nên tình trạng giảm sút nhu cầu toàn cầu, nhưng nó lại làm gia tăng các dòng FDI chảy vào các nước ASEAN, bởi ngày càng nhiều công ty đa quốc gia quyết định chuyển một số hoạt động sản xuất của họ ra khỏi Trung Quốc.

Thứ hai, các nước ASEAN đang chịu tác động nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng Covid-19. Với trường hợp ngoại lệ là Brunei, tất cả các nước trong khối đều bị tổn thương đáng kể, từ -4,3 đối với Việt Nam đến -10,2 đối với Thái Lan. Đặc biệt dự báo tăng trưởng GDP năm 2020 là âm đối với 4 nước (Thái Lan, Singapore, Malaysia và Campuchia) và giảm hơn 4 đến 5 điểm phần trăm đối với 5 nước còn lại (Việt Nam, Lào, Myanmar, Philippines và Indonesia). Ở cấp độ nhóm (dựa trên giá trị trung bình của chỉ số), khả năng dễ bị tổn thương của các nước ASEAN cũng nghiêm trọng hơn so với ở Nam Á, nhưng ít nghiêm trọng hơn so với ở Đông Bắc Á và thế giới nói chung.

Thứ ba, xét về chỉ số đánh giá khả năng dễ bị tổn thương trước tác động tổng hợp của cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung và đại dịch Covid-19, các nước ASEAN với tư cách là một khối lại dễ bị tổn thương hơn rất nhiều so với cả Nam Á và Đông Bắc Á. Phát hiện này hàm ý rằng con đường phát triển phía trước đối với các nền kinh tế ASEAN sẽ khó khăn hơn nhiều nếu những biến động mới nổi lên.

Triển vọng phát triển của ASEAN

Trong khi mức độ thiệt hại kinh tế do cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung và cuộc khủng hoảng Covid-19 gây ra đối với mỗi nước và mỗi khu vực là khác nhau, thì hai cú sốc nối tiếp nhau này truyền tải cùng một thông điệp đến tất cả mọi người : Thế giới đã đi đến ngã rẽ, đòi hỏi phải có những thay đổi căn bản. Thông điệp này đặc biệt đúng với các nước ASEAN, mô hình tăng trưởng phần lớn dựa vào những điều kiện có lợi, có được bởi sức mạnh mang tính biến đổi của ba lực lượng : toàn cầu hóa, cuộc cách mạng công nghệ thông tin và sự trỗi dậy của Châu Á. Trong môi trường đang thay đổi nhanh chóng này, các nước ASEAN, trừ Singapore, chủ yếu dựa vào khuôn khổ cơ bản chú trọng 5 ưu tiên để đạt được sự phát triển thịnh vượng : ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện môi trường kinh doanh, hội nhập toàn cầu, nâng cấp cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực.

Trong khi khuôn khổ cơ bản cho sự phát triển thịnh vượng được nhắc đến ở trên vẫn là điều có giá trị và thiết yếu, thì bối cảnh phát triển mới đòi hỏi phải có 3 sự thay đổi trong chiến lược phát triển của mỗi nước :

Thứ nhất là thay đổi trọng tâm quản lý, chuyển từ việc phản ứng trước các sự kiện sang chủ động xây dựng một nền tảng đảm bảo rằng nền kinh tế sẽ được chuẩn bị sẵn sàng, có khả năng cạnh tranh và thích ứng trong một môi trường dễ thay đổi, không chắc chắn, phức tạp và mơ hồ. Trong sự thay đổi chiến lược này, chuyển đổi số, tính hiệu quả của chính phủ, tính minh bạch, năng suất, đổi mới sáng tạo và xây dựng lòng tin cần phải là những ưu tiên hàng đầu trong những nỗ lực cải cách. Đối với gia tăng năng suất, việc thay đổi các nguồn lực từ hoạt động giá trị thấp sang hoạt động giá trị cao, với những nỗ lực mạnh mẽ trong tái cấu trúc và mua sắm công nghệ, cần phải được ưu tiên cao hơn so với việc thúc đẩy đầu tư cho mở rộng sản xuất giản đơn. Như những bài học về "phép màu kinh tế Châu Á" đã cho thấy, cách tiếp cận nhìn xa trông rộng này đóng một vai trò then chốt để một quốc gia nghèo bắt kịp về kinh tế.

Thứ hai là sự dịch chuyển trọng tâm phát triển, chuyển từ huy động các nguồn lực để nắm bắt cơ hội sang xây dựng những khả năng chiến lược để đối phó với những thách thức bất ngờ và tạo ra giá trị lâu dài. Trong sự thay đổi này, việc tận dụng những lợi thế sẵn có của đất nước phải đi cùng với những nỗ lực rất lớn để xây dựng sức mạnh chiến lược của mình, giải quyết một cách tích cực những điểm dễ tổn thương vốn có và mới xuất hiện. Chẳng hạn, Việt Nam đã nhiệt tình đón nhận sáng kiến Nhóm Bộ tứ mở rộng (gồm Mỹ, Australia, Nhật Bản, Ấn Độ và mời thêm 3 quốc gia khác là Hàn Quốc, New Zealand và Việt Nam cùng tham gia), như được thể hiện rõ trong quyết định của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thành lập một lực lượng đặc nhiệm để thu hút những làn sóng FDI mới vào Việt Nam. Tuy nhiên, chiến lược chủ động này chỉ có hiệu quả nếu Việt Nam có những nỗ lực chưa từng có nhằm khắc phục những điểm yếu cố hữu của mình, đặc biệt là việc thiếu tính minh bạch, tình trạng tham nhũng tràn lan và hoạt động thúc đẩy đổi mới công nghệ đạt hiệu quả thấp nhất.

Thứ ba là sự dịch chuyển trọng tâm xây dựng thịnh vượng từ quy mô hạn hẹp của cá nhân mỗi nước sang lợi ích rộng rãi của toàn bộ cộng đồng ASEAN. Điều này có thể nâng cấp địa vị và tính cạnh tranh của tất cả các nước thành viên. Trong sự thay đổi này, thúc đẩy hội nhập khu vực, tính hiệu quả của sự hiệp đồng và khả năng phối hợp có thể đem lại những lợi ích đáng kể cho từng quốc gia thành viên. Cần lưu ý rằng các nhà lãnh đạo ASEAN đã nhất trí thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN vào tháng 11/2015, coi đó là một kế hoạch chi tiết để biến đổi ASEAN thành một nền kinh tế chung. Mặc dù việc hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN đặt nền tảng cho đà phát triển của ASEAN nhưng nó vẫn còn là một quãng đường dài.

Đà phát triển mạnh mẽ có thể xuất hiện nếu các nước ASEAN có thể làm việc cùng nhau để thúc đẩy mô hình phát triển "đồng thuận ASEAN". Mô hình này đem lại sự lựa chọn thay thế có ý nghĩa cho hai mô hình phát triển đang cạnh tranh nhau hiện nay – "đồng thuận Washington" và "đồng thuận Bắc Kinh". Mô hình này nhấn mạnh 3 trụ cột chính của chiến lược phát triển kinh tế hiệu quả trong thế kỷ 21 : tính hiệp đồng, sự mạnh mẽ và tính bền vững.

Kết luận

Cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung và cuộc khủng hoảng Covid-19 không chỉ là những cú sốc toàn cầu với những hậu quả đáng kể trực tiếp mà còn là một dấu hiệu cho thấy con đường phát triển của khu vực sẽ phải đối diện với những tình huống đầy bất trắc và những thách thức đáng gờm trong thời gian tới. Khi tất cả các nước ASEAN đặt ra mục tiêu đầy tham vọng nhằm đạt được tiến bộ kinh tế đáng kể trong vài thập kỷ tới, họ cần biến những mối đe dọa đang nổi lên này thành cơ hội duy nhất để gia tăng nhận thức về tính cấp bách của việc cần phải thay đổi và làm sâu sắc cam kết của họ đối với những nỗ lực cải cách căn bản và có tầm nhìn. Các nước ASEAN cũng cần phải tập trung vào việc thiết lập một chiến lược hiệu quả để xây dựng khả năng hiệp đồng giữa các nước và với thế giới. Đặt mình vào vị trí là một nhóm các nước không chỉ quan tâm đến sự thịnh vượng của riêng mình mà cả sự thịnh vượng của các nước khác (của khu vực và thế giới nói chung) trong phát triển kinh tế hậu Covid-19 sẽ khiến ASEAN trở nên mạnh mẽ và gắn kết hơn rất nhiều.

ASEAN là một trong những "chiến trường" chính của căng thẳng Mỹ-Trung. Khi những căng thẳng này gia tăng mạnh mẽ hơn nữa trong bối cảnh đại dịch Covid-19, khu vực Đông Nam Á đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình đường hướng của mối quan hệ địa chính trị then chốt này. ASEAN không những cần phải tránh việc phải lựa chọn bên nào, mà còn cần phải có một cách tiếp cận chủ động để khiến mối quan hệ này trở nên hữu ích. Nguyên tắc cốt lõi cho hành động của ASEAN trong nỗ lực này là khuyến khích cả Mỹ và Trung Quốc không nên thể hiện ai là người có sức mạnh lớn hơn. Thay vào đó, vấn đề then chốt của họ là ai là người thích hợp hơn cho kỷ nguyên phát triển mới và có nhiều khả năng hơn trong việc thúc đẩy sự thịnh vượng của các nước ASEAN trong giai đoạn phát triển kinh tế toàn cầu sắp tới.

Nguyễn Trường

Nguồn : RFA, 25/08/2020

Published in Diễn đàn
samedi, 15 août 2020 09:18

ASEAN sẽ ngả theo ai ?

Bài phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo ngày 23/7 là bài cuối cùng trong chuỗi 4 bài mà giới chức Nhà Trắng đưa ra nhằm xác định lập trường của Mỹ về Trung Quốc. Trong bài phát biểu này, Pompeo đã kêu gọi các nước "yêu chuộng tự do trên thế giới" hãy hợp tác cùng nhau "buộc Trung Quốc phải thay đổi".

asean1

Bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị (giữa) cùng những người đồng nhiệm Teodoro Lopez (trái) của Philippines và Saleumxay Kommasith (Lào) tại họp báo của ASEAN và Trung Quốc ở Vientiane, Lào hôm 20/2/2020 - Reuters

Cả 4 bài phát biểu, khi được xâu chuỗi lại, có thể cho thấy Washington đã thay đổi chính sách đối với Trung Quốc trên bình diện tư tưởng, đồng thời tìm cách thống nhất các hành động của Mỹ chống Trung Quốc và coi đó là hạt nhân trong việc tạo lập kế hoạch ứng phó phối hợp toàn cầu. Bằng việc gợi lên hình ảnh Chiến tranh Lạnh, một cuộc chiến ý thức hệ giữa tự do và chuyên chế, Pompeo có niềm tin sẽ "bảo vệ được tự do bởi chính sự lôi cuốn ngọt ngào của tinh thần tự do". Thế nhưng ông cũng nhấn mạnh cách tiếp cận mới của Mỹ đối với Trung Quốc sẽ không theo kiểu kiềm chế thời Chiến tranh Lạnh.

Không giống với Liên bang Xô viết trước đây, Trung Quốc giờ đây đã gia nhập hệ thống quốc tế và một điều đơn giản là việc cô lập Trung Quốc là điều không thể. Để nhấn mạnh thêm về tình hình thế giới ngày càng phức tạp hiện nay trong bối cảnh Mỹ không còn mặn mà với vai trò dẫn dắt thế giới, Pompeo tuyên bố các nước sẽ tự phải quyết định theo cách của riêng mình trong vấn đề giữ gìn chủ quyền lãnh thổ, cũng như chủ quyền kinh tế trước sự bành trướng của Trung Quốc.

Về cơ bản, các bài phát biểu về lập trường của Mỹ đối với Trung Quốc lần này cho thấy hình ảnh một nước Mỹ đang đấu tranh vì tự do cho toàn cầu, đồng thời cũng chỉ ra rằng Trung Quốc đang tìm cách củng cố chế độ chuyên chế của họ và lợi dụng thế giới để làm lợi cho riêng họ.

Trên bình diện quốc tế, đã có những động thái muốn xét lại vai trò của Trung Quốc trên trường quốc tế, nhất là trong cuộc khủng hoảng Covid-19. Anh, Ấn Độ và Australia đều đã nghiêng theo lập trường của Mỹ. Cụ thể, London đã có những động thái ngăn cản hoạt động đầu tư kinh doanh của Huawei, tập đoàn công nghệ khổng lồ của Trung Quốc ; Canberra cũng noi theo Mỹ chính thức bác bỏ những đòi hỏi, yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông ; New Delhi cũng đang cân nhắc lại chính sách không liên kết mà họ đã theo đuổi từ lâu sau khi những cuộc đụng độ ở biên giới xảy ra gần đây với quân đội Trung Quốc và việc Trung Quốc tiến hành các hoạt động trong vùng biển Ấn Độ Dương. Danh sách đối đầu với Trung Quốc có cả Nhật Bản, mặc dù Nhật Bản đi theo con đường kín kẽ hơn, thông qua các hoạt động hợp tác kinh tế và quốc phòng với các nước Đông Nam Á để cảnh giác trước những chiêu mời gọi của Trung Quốc hay nhằm ứng phó với sự bành trướng của Trung Quốc.

asean2

Lãnh đạo các nước ASEAN chụp hình cùng Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence ở Singapore hôm 15/11/2018 Reuters

Bắc Kinh có "nỗi lo chiến lược" là cả thế giới sẽ đoàn kết lại để buộc Trung Quốc tuân thủ những tiêu chuẩn và thông lệ đang tồn tại theo quy chuẩn của một hệ thống toàn cầu do phương Tây dẫn dắt.

Bắc Kinh hiện đang chủ động tìm cách thay đổi hệ thống toàn cầu này sao cho phù hợp hơn với quan niệm của họ về mối quan hệ giữa các thành phần nhà nước, người dân và các ngành sản xuất. Bắc Kinh không muốn bị khóa trong một trật tự dựa trên những luật lệ được xây dựng trên nền tảng sự đồng thuận của các nước Bắc Đại Tây Dương vốn cổ xúy cho các hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội theo kiểu Mỹ và Tây Âu. Chính quyền Bắc Kinh tuyên truyền với người dân của họ rằng những luật lệ của Phương Tây này giống như sự kìm hãm họ, âm mưu thay đổi chế độ chính trị và từ đó can thiệp vào chủ quyền dân tộc của họ.

Ở Đông Nam Á, Trung Quốc thường xuyên sử dụng các mối quan hệ kinh tế với Campuchia và Lào để làm tổn hại tình đoàn kết của các nước thành viên trong Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) khi động chạm đến vấn đề biển Đông hay khi liên quan tới các hoạt động hàng hải của Trung Quốc. Trung Quốc cũng khai thác những mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ các nước kể cả khuyến khích hay can thiệp vào hoạt động của một số công ty nhất định nhằm gây ảnh hưởng tới các quyết định chính trị, cung cấp tài chính và hỗ trợ tinh thần cho các phe nhóm cạnh tranh nhau, đồng thời tham gia cuộc chiến thông tin, làm thổi bùng lên những chia rẽ xã hội và chính trị.

Trong bối cảnh căng thẳng Mỹ - Trung hiện nay, chính sách đối ngoại của các quốc gia ASEAN đang thể hiện sự ngập ngừng, do dự. Mặc dù vẫn nắm bắt các cơ hội mà Trung Quốc trao để thu lợi ích kinh tế, nhưng các quốc gia ASEAN vẫn phòng tránh các rủi ro chính trị và an ninh bằng cách cố gắng liên kết với Mỹ. Có 3 nhân tố cho thấy chiến lược cân bằng này của các quốc gia ASEAN : Thứ nhất là vị trí của ASEAN trong hệ thống an ninh khu vực, thường phụ thuộc vào việc liệu một nước thành viên có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc trên Biển Đông hay không, và liệu nước này có thể sử dụng hệ thống an ninh do Mỹ dẫn đầu để làm căn cứ xây dựng chính sách an ninh quốc gia của mình hay không.

Thứ hai là mức độ tham gia của mỗi quốc gia vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu, và mức độ phụ thuộc vào Trung Quốc về mặt kinh tế.

Thứ ba là liệu có sự luân chuyển năng động của giới tinh hoa ở mỗi quốc gia hay không.

Trong số 5 quốc gia biển vẫn dựa vào hệ thống an ninh do Mỹ dẫn đầu - gồm Brunei, Malaysia, Philippines, Indonesia và Singapore - 4 quốc gia có mâu thuẫn với Trung Quốc về vấn đề lãnh thổ hoặc quyền tiếp cận các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ). Cả 5 quốc gia này đều hội nhập tốt vào nền kinh tế toàn cầu và có sự luân chuyển đáng kể của giới tinh hoa, khiến Trung Quốc khó can thiệp vào quá trình hình thành các liên minh chính trị-kinh tế lâu dài, vốn sẽ tái định hình các nền kinh tế-chính trị của các nước này.

Trong khi đó, Việt Nam - một quốc gia độc đảng không thể dựa vào Mỹ về mặt an ninh nhưng lại có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc và đang lo lắng về việc phụ thuộc quá nhiều về mặt kinh tế vào Bắc Kinh. Điều đó giải thích mối quan hệ thận trọng của Việt Nam với Mỹ trong các vấn đề an ninh, cũng như các nỗ lực của nước này nhằm tăng cường hợp tác an ninh với Nga, Ấn Độ và Nhật Bản, và việc Việt Nam tham gia hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

Ngược lại, Thái Lan là một đồng minh của Mỹ không có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc. Đối mặt với một môi trường quốc tế thuận lợi với một nền kinh tế gắn bó chặt chẽ với chuỗi cung ứng toàn cầu, Thái Lan có thể có miếng bánh của mình và sử dụng nó. Có 3 quốc gia lục địa ở ASEAN - gồm Campuchia, Lào và Myanmar - không có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc nhưng gắn với một hệ thống mà giới tinh hoa chính trị và kinh doanh hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào Bắc Kinh.

Điểm chung của tất cả các quốc gia ASEAN là thách thức trong việc đáp ứng kỳ vọng của người dân. Về điểm này, các nước ASEAN chủ chốt đã làm tốt trong những năm 2010, với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người - theo giá cố định - tăng 23% ở Singapore, 29% ở Thái Lan, 36% ở Malaysia, 42 % ở Philippines, 46% ở Indonesia và 56% ở Việt Nam. Sự cải thiện về mức sống đương nhiên khiến mọi người mong đợi một cuộc sống tốt hơn nữa trong những năm tới. Dù dân chủ hay độc tài, các chính phủ này đã củng cố tính hợp pháp thông qua thành tích kinh tế của mình.

Tuy nhiên, sự kình địch ngày càng gia tăng giữa Mỹ và Trung Quốc khiến các quốc gia ASEAN này đang lâm vào tình trạng khó phát triển các chính sách đối ngoại của riêng mình. Dịch Covid-19 đang làm thay đổi kỳ vọng của người dân, khi người dân trông chờ chính phủ không chỉ cải thiện sinh kế mà còn bảo vệ cuộc sống của họ. Trong khi một số quốc gia ASEAN như Việt Nam, Thái Lan và Malaysia đã thành công trong việc kiểm soát dịch bệnh và các quốc gia khác như Indonesia và Philippines đang gặp khó khăn, điều đáng lo ngại hơn là thiệt hại kinh tế trong dài hạn. Sự gián đoạn đột ngột của nền kinh tế toàn cầu đã khiến nhu cầu hàng hóa và dịch vụ giảm mạnh, và tạo tiền đề cho sự suy thoái kinh tế toàn khu vực.

Hiện tại, các nước ASEAN đang tập trung vào việc bảo vệ sức khỏe của người dân, giảm thiểu thiệt hại kinh tế và vay thêm nhiều tiền để khôi phục tăng trưởng. Thế nhưng, nhìn về phía trước, nhiều quốc gia trong số này chắc chắn sẽ phải đối mặt với gánh nặng tài chính gia tăng do nguồn thu từ thuế giảm, chi tiêu xã hội cao hơn và nợ nần chồng chất.

Với gánh nặng nợ gia tăng, sa lầy trong suy thoái kinh tế dài hạn và không thể đáp ứng kỳ vọng của người dân về một cuộc sống tốt hơn, các nước ASEAN phải đối mặt với rủi ro cao hơn về thay đổi chế độ. Chính vì vậy, vấn đề này sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến chính sách đối ngoại của các quốc gia ASEAN. Vì thế, nếu Mỹ hoặc Trung Quốc tranh thủ được điều này thì các quốc gia ASEAN sẽ ngả theo để bảo đảm ổn định kinh tế, chính trị của họ.

Ngô Văn Dụng

Nguồn : RFA, 15/08/2020

Published in Diễn đàn

Biển Hoa Đông : Bắc Kinh đặt tên 50 thực thể ngầm trong vùng tranh chấp với Nhật (RFI, 25/06/2020)

Theo nhật báo Hồng Kông South China Morning Post hôm nay, 25/06/2020, Trung Quốc thông báo đặt một loạt tên mới cho các thực thể ngầm trong vùng biển Hoa Đông, đang có tranh chấp chủ quyền với Nhật.

china1

Một khu vực quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. Ảnh chụp năm 2012. © Reuters

Trang mạng bộ Tài Nguyên Trung Quốc tối 23/06, đăng thông báo về tên gọi mới cho 50 thực thể ngầm, bao gồm các đảo chìm, đảo nổi và bãi ngầm. Theo thông báo, mục đích của việc đặt lại tên gọi này là để "chuẩn hóa tên gọi địa hình bản đồ".

Các thực thể được đặt tên mới nằm trong quần đảo mà Trung Quốc gọi là "Điếu Ngư", Nhật gọi là "Senkaku". Trung Quốc, Đài Loan và Nhật Bản tranh chấp chủ quyền đối với chuỗi đảo không có người ở, nhưng nằm giữa vùng biển giàu tài nguyên. Đây là điểm nóng trong quan hệ Trung-Nhật.

Theo nhật báo Hồng Kông, quyết định trên được đưa ra sau khi Bắc Kinh cảnh báo sẽ trả đũa việc chính quyền thành phố Ishigaki của Nhật hôm 22/06 thông qua quyết định đặt tên lại cho một nhóm đảo trên biển Hoa Đông, trong đó có cả quần đảo Senkaku. Hội đồng thành phố đã thay đổi tên gọi "vùng hành chính phía nam" của Nhật thành "vùng Tonochiro Senkaku", quản lý cả quần đảo Senkaku. Động thái này của chính quyền Nhật bị cả Trung Quốc và Đài Loan nhìn nhận như là ý đồ xác quyết chủ quyền với các đảo Senkaku, theo tên gọi của Nhật.

Ngay hôm thứ Hai tuần này, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã lên tiếng phản ứng. Theo Bắc Kinh, việc thay đổi tên gọi địa phương nói trên của Nhật là "thách thức nghiêm trọng với chủ quyền lãnh thổ Trung Quốc", đồng thời cảnh báo sẽ trả đũa hành động mà Bắc Kinh gọi là "bất hợp pháp".

Hôm Thứ Ba, bộ trưởng Quốc Phòng Nhật Taro Kono thông báo đã phát hiện một tàu ngầm Trung Quốc gần một đảo ở phía tây nam Nhật hồi tuần trước.

Tranh chấp chủ quyền quần đảo Điếu Ngư/Senkaku, cách đảo Okinawa khoảng 200 km về phía tây nam, dấy lên từ cuối năm 2012, khi chính quyền Tokyo quyết định chuyển quyền quản lý quần đảo này, từ tư nhân sang Nhà nước.

Trong một động thái khác, theo AFP, hôm nay, 25/06/2020, Tokyo khẳng định hủy bỏ việc triển khai hệ thống phòng thủ chống tên lửa Mỹ Aegis Ashore trên lãnh thổ Nhật. Quyết định được bộ trưởng Quốc Phòng Nhật thông báo trong cuộc họp với đảng cầm quyền Tự Do Dân Chủ. Dự án trị giá 4,2 tỷ đô la trên đã được chính phủ Shinzo Abe thông qua năm 2017.

Anh Vũ

*******************

Việt Nam và Nhật Bản lên tiếng quan ngại về tình hình Biển Đông (RFA, 25/06/2020)

Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam, ông Phạm Bình Minh, bày tỏ quan ngại về những diễn biến gần đây tại Biển Đông.

china2

Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Taro Kono trong một họp báo ở Tokyo hôm 11/9/2019 -Reuters

Phát biểu về vấn đề Biển Đông như vừa nêu của ông Phạm Bình Minh được đưa ra tại cuộc họp trực tuyến Hội nghị Cộng đồng Chính trị- An ninh ASEAN lần thứ 21 diễn ra vào ngày 24 tháng 6. Cuộc họp có sự tham dự của bộ trưởng ngoại giao 10 nước ASEAN và Tổng thư ký ASEAN.

Tại cuộc họp, ông Phạm Bình Minh cho rằng các nước cần phát huy tinh thần trách nhiệm, đối thoại và hợp tác vì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không trên Biển Đông.

Cũng tin liên quan tình hình Biển Đông, Bộ trưởng quốc phòng Nhật Bản, ông Taro Kono, cho rằng hoạt động của Trung Quốc tại Biển Đông hiện nay là ‘đáng báo động’.

Vào ngày 23 tháng 6 vừa qua, hai tàu huấn luyện của Nhật Bản là JS Kashima và JS Shimayuki đã có cuộc diễn tập với tàu tác chiến cận bờ của Hải quân Hoa Kỳ, USS Gabrirlle Giffords, tại Biển Đông.

Động thái này chứng tỏ quan ngại của Nhật Bản về tình hình tại Biển Đông mà căng thẳng được nói do Trung Quốc gây nên.

********************

Thư ngỏ kêu gọi các lãnh đạo giải quyết quan ngại về nhân quyền tại thượng đỉnh ASEAN 36 (RFA, 25/06/2020)

Các lãnh đạo tham dự hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 36 phải giải quyết quan ngại về vấn đề nhân quyền trong đợt dịch Covid-19.

china3

Một người đàn ông đi qua tấm biển cổ động cho Thượng đỉnh ASEAN 36 ở Hà Nội hôm 25/6/2020 AFP

Đây là yêu cầu được nêu ra trong thư ngỏ ký bởi Chủ tịch Các Nghị Viên ASEAN về Nhân quyền, Charles Santiago, gửi đến Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc, và đồng gửi đến thủ tướng của 9 nước thành viên Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á còn lại.

Thư ngỏ được gửi đi nhân tuần diễn ra hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 36 mà Việt Nam năm nay là chủ tịch luân phiên. Theo đó, những nghị viên thuộc mạng lưới khu vực Đông Nam Á cam kết cổ xúy và bảo vệ nhân quyền, thúc giục các lãnh đạo ASEAN phải bảo đảm đặt nhân quyền là trọng tâm cho công tác ứng phó dịch Covid-19 và hậu quả của dịch này.

Theo thư ngỏ, khu vực ASEAN trong khi nên được khen ngợi về thành công trong công tác ngăn chặn dịch Covid-19, tuy nhiên lại để lộ ra những yếu kém lớn và bất nhất trong hệ thống điều hành. Khu vực ASEAN không bảo vệ được những người rơi vào hoàn cảnh bị tổn thương nhất ; đặc biệt là những công nhân nhập cư và người tỵ nạn.

Đợt dịch Covid-19 cũng là lúc gia tăng những hạn chế về quyền tự do biểu đạt và giọng điệu hận thù đối với những nhóm bị gạt ra bên lề xã hội.

Thư ngỏ cho rằng dịp họp cấp cao ASEAN 36 trong tuần này dưới sự chủ trì của Thủ tướng Việt Nam, Nguyễn Xuân Phúc, là cơ hội để khối ASEAN có thể học hỏi và trưởng thành qua thời kỳ đầy thử thách hiện nay, bằng cách bảo đảm rằng từ thời điểm này trở đi, các chính sách của khu vực không loại trừ bất cứ ai và cổ xúy cho một xã hội công bằng hơn, bình đẳng hơn và bền vững hơn.

Published in Châu Á

Trong bối cảnh các nước trên thế giới phải đương đầu với đại dịch viêm đường hô hấp cấp Covid-19, chính phủ các nước Đông Nam Á không những phải vật lộn đối phó với đại dịch mà còn phải đối phó với những mối đe dọa vốn tồn tại dai dẳng trên mặt trận biển.

asean1

Ảnh minh họa

Những mối đe dọa mà đại dịch Covid-19 gây ra đối với thủy thủ, ngư dân và tàu thuyền đã bị khuyếch đại khi các quốc gia Đông Nam Á vừa phải đối phó với các mối đe dọa phi truyền thống như di dân bất hợp pháp dọc lãnh hải của các nước này, vừa phải duy trì chủ quyền đối với các vùng biển của mình. Ví dụ, gần đây Hải quân Hoàng gia Malaysia, Không quân Hoàng gia Malaysia cùng Cơ quan Thực thi Hàng hải Malaysia đã phải ngăn chặn một tàu chở hơn 250 người tị nạn Rohingya khi họ tìm cách neo đậu tại huyện đảo Langkawi của Malaysia.

Trên mặt trận khác, những cuộc đối đầu nghiêm trọng đã gia tăng ở Biển Đông đang tranh chấp giữa Trung Quốc và một số quốc gia khác gồm Malaysia, Philippines, Việt Nam và Brunei. Các lực lượng của Trung Quốc gồm tàu khảo sát, tàu hải cảnh và lực lượng dân quân biển đã được phát hiện ở vùng biển được tuyên bố chủ quyền của Việt Nam. Ngày 17/4, tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 của Trung Quốc và nhóm tàu hộ tống đã xâm nhập trái phép vào vùng biển của Malaysia, bao gồm vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa. Tàu khảo sát cùng đội tàu hộ tống này có thể quấy nhiễu hoạt động khai thác dầu khí của tàu West Capella, tàu do công ty dầu khí quốc gia Malaysia PETRONAS thuê của Anh. Mặc dù Malaysia có thể đã lường trước được một số phản ứng từ phía Trung Quốc đối với các hoạt động khai thác dầu khí ở khu vực này, song quân đội Malaysia cũng như lực lượng tàu chấp pháp tuần tra của nước này đã không xem nhẹ hoạt động điều tàu hải cảnh và tàu khảo sát nói trên của Trung Quốc. Trước đó, đầu tháng 4/2020, một sự cố khác cũng xảy ra ở Biển Đông khi một tàu hải cảnh Trung Quốc đánh chìm tàu cá Việt Nam ở khu vực gần quần đảo Hoàng Sa.

Những diễn biến mới này đã nổi lên ở Biển Đông từ đầu năm 2020, trùng với thời điểm đại dịch Covid-19 bắt đầu bùng phát. Mặc dù không rõ có phải Trung Quốc có đang lợi dụng tình hình dịch bệnh để tăng cường hành động ở vùng biển tranh chấp này hay không, song một điều rõ ràng là không có một tình cảnh khó khăn và thách thức nào có thể khiến giới chức Bắc Kinh sao nhãng những hành động hung hăng ở Biển Đông. Ai có thể ngờ được rằng một đất nước là tâm dịch lại vẫn có thể đẩy mạnh các hoạt động triển khai tàu thuyền dồn dập nhằm duy trì những lợi ích biển cũng như những tuyên bố chủ quyền ở vùng biển xa xôi này ? Suy cho cùng, Trung Quốc đã tiến một bước xa ở Biển Đông, đủ để nước này không phải đối mặt với những mối đe dọa hiện hữu như làn sóng di cư bất hợp pháp, khủng bố, cướp biển và ô nhiễm môi trường biển, như những gì mà các nước Đông Nam Á khác cũng có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông phải đối mặt. Việc Trung Quốc điều lực lượng tàu chấp pháp xâm nhập EEZ của nước khác vào những thời điểm cam go này cho thấy quan điểm không nhượng bộ và cách hành xử "bắt nạt" của Bắc Kinh đối với các nước khác bất chấp quá trình đàm phán về Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) vẫn đang diễn ra.

Chuyến thăm của tàu sân bay Mỹ USS Theodore Roosevelt tới Việt Nam làm dấy lên nghi ngại rằng Washington và Hà Nội đang tăng cường quan hệ quân sự trong bối cảnh Việt Nam nắm giữ cương vị Chủ tịch luân phiên Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trong năm 2020. Các yếu tố khác kích động hành động của Bắc Kinh có thể bắt nguồn từ việc suy giảm mối quan hệ đồng minh Mỹ-Philippines sau khi Manila tuyên bố chấm dứt Thỏa thuận Các Lực lượng Thăm viếng kéo dài hơn 2 thập kỷ với Mỹ. Động thái này của Manila có thể đã khiến Bắc Kinh bạo trợn hơn trong việc thúc đẩy những tham vọng biển của mình ở khu vực.

Ngoài những hành động của tàu thuyền Trung Quốc tại vùng biển tranh chấp nói trên, một diễn biến khác liên quan đến mặt trận này là việc Bắc Kinh tiến hành một chiến dịch mới mang tên "Biển Xanh 2020". Nội dung của chiến dịch này không nhiều, song theo báo chí Trung Quốc, chiến dịch này, vốn do lực lượng hải cảnh Trung Quốc khởi xướng, chủ yếu nhằm bảo vệ môi trường biển và sẽ kéo dài từ ngày 1/4-30/11/2020. Tuy nhiên, các hoạt động của lực lượng chấp pháp trong khuôn khổ chiến dịch này sẽ nhằm vào "những hành động vi phạm" luật Trung Quốc trong những lĩnh vực như khai thác dầu khí, xây dựng gần bờ cũng như các hoạt động khai thác cát và khoáng sản biển.

Nhìn từ góc độ căng thẳng ở Biển Đông, người ta có thể đoán định rằng "Biển Xanh 2020" cũng sẽ nhắm vào các nước Đông Nam Á khác cũng có tuyên bố chủ quyền ở vùng biển này, và chiến dịch này được lợi dụng như một cái cớ để các lực lượng chấp pháp của Trung Quốc tiến hành các hoạt động phi pháp ở những vùng biển do các nước Đông Nam Á khác tuyên bố chủ quyền, bao gồm Malaysia.

Trong bối cảnh phải đối phó với đại dịch Covid-19, phần lớn các nước đặt ưu tiên vào việc đảm bảo cung ứng các dịch vụ thiết yếu như an ninh y tế, ngăn chặn nguy cơ suy thoái kinh tế quy mô lớn, duy trì chuỗi cung ứng toàn cầu, theo dõi các hoạt động di cư xuyên biển bất hợp pháp và các mối đe dọa khác. Vào thời điểm cam go này, thật đáng buồn là những nguồn tài nguyên sẵn có và hạn hẹp lại bị chuyển sang cho những nỗ lực ngăn chặn hoạt động xâm nhập biển cũng như ngăn chặn những mưu đồ đòi hỏi chủ quyền ở những vùng biển có tuyên bố chủ quyền chồng lấn.

Điều đáng ngại là một quốc gia nào đó sẽ lợi dụng sự phân tâm vì dịch bệnh và những khó khăn của các nước láng giềng để củng cố vị thế ở Biển Đông. Chắc chắn, những sức ép kiểu như vậy cần phải được đáp trả bằng những hành động tập thể và kiên quyết thông qua các cơ chế hiện hành của các nước liên quan. Có lẽ, ASEAN cần dẫn dắt một sự phản kháng khác nhằm lên án những hành động o ép và quấy nhiễu như vậy, nhất là khi hai bên đã đưa ra những cam kết tiến tới hoàn thiện COC.

Malaysia tỏ ra cứng rắn trong những vấn đề liên quan Biển Đông và trong việc thiết lập đường hướng cũng như những ưu tiên chính sách đối ngoại của mình, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ. Quân đội và các cơ quan chấp pháp của Malaysia hết sức cảnh giác trong công tác bảo vệ những lợi ích của đất nước thông qua các hoạt động tuần tra và giám sát thường xuyên do Hải quân, Không Quân và Cơ quan Thực thi hàng Hải của Malaysia tiến hành. Trong khi đó, ASEAN và Trung Quốc cần duy trì cam kết của mình với tinh thần hợp tác và tránh những hành động có thể gây ra thêm nhiều rủi ro, nhất là vào thời điểm các nước cần hợp tác với nhau để vượt qua cuộc khủng hoảng toàn cầu do đại dịch Covid-19 gây ra.

Sumathy Permal

Nguyên tác : Maritime Flashpoints and the Covid-19 Pandemic, The Diplomat, 20/04/2020

Minh Anh giới thiệu

Nguồn : Nghiên cứu Biển Đông, 08/05/2020

Sumathy Permal là nghiên cứu viên và là giám đốc Trung tâm Eo biển Malacca, Viện Nghiên cứu biển Malaysia. Bài viết được đăng trên The Diplomat

Published in Diễn đàn

Dịch Covid-19 có lẽ là cơ hội để các nước Đông Nam Á hạn chế sự phụ thuộc quá mức vào thị trường Trung Quốc và đa dạng hóa, tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu nhằm đạt được vị thế tốt hơn.

asean1

Công nhân Campuchia rời khỏi nhà máy của họ khi họ nghỉ trưa ở Phnom Penh, ngày 2 tháng 3 năm 2020. Ngành may mặc trị giá hàng tỷ đô la của Campuchia có nguy cơ bị gián đoạn chuỗi từ đột phá Covid-19, vì nó tác động đến các ngành công nghiệp chủ chốt của Đông Nam Á . (Tang Chhin Sothy / AFP)

Hiện nay, trong bối cảnh Covid-19 lây lan khắp nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, một Đông Nam Á vốn mở cửa và liên kết sâu rộng phải đối mặt với nguy cơ lớn là các ca bệnh Covid-19 nhập khẩu. Cuộc chiến chống đại dịch đang trở nên khốc liệt khi tình hình trong khu vực nhanh chóng xấu đi. Malaysia đã trở thành quốc gia chịu thiệt hại nặng nề nhất ở Đông Nam Á, với số ca được xác định mắc Covid-19 gia tăng nhanh chóng. Tính đến trưa 26/3/2020, tổng số ca được xác nhận ở 10 quốc gia ASEAN đã vượt qua con số 5.200 ca và đang tiếp tục gia tăng.

Do những khác biệt lớn trong hệ thống y tế công cộng cũng như các cơ sở và nguồn lực y tế giữa các quốc gia Đông Nam Á, mức độ sẵn sàng và năng lực triển khai nguồn lực của các nước này đối với những đợt bùng phát bệnh lây nhiễm trên diện rộng cũng có sự khác biệt. Theo Báo cáo cạnh tranh toàn cầu năm 2019 về 141 nền kinh tế của Diễn đàn kinh tế thế giới, các quốc gia ASEAN có sự chênh lệch rất lớn về năng lực y tế. Singapore đứng đầu thế giới về y tế và sở hữu hệ thống y tế tầm cỡ thế giới. Tuy nhiên, Lào (đứng thứ 109), Campuchia (đứng thứ 105) và Philippines (đứng thứ 102) lại tụt hậu rất xa. Nếu tình hình bùng phát dịch Covid-19 trở nên tồi tệ hơn trong ASEAN, dẫn tới sự gia tăng nhanh chóng và đột ngột số ca mắc giống như ở Trung Quốc và Hàn Quốc, thì dịch bệnh sẽ nhanh chóng nhấn chìm các quốc gia có hệ thống y tế công cộng yếu kém và tiêu chuẩn y tế thấp, nhất là Lào, Campuchia, Philippines và Indonesia.

Đối mặt với sự tấn công của Covid-19, các nước Đông Nam Á cần có ngay những biện pháp mạnh nhằm xét nghiệm cho tất cả các ca nghi nhiễm, cách ly và điều trị các bệnh nhân được xác định nhiễm bệnh nhằm giảm tỷ lệ tử vong, tiến hành điều tra truy tìm những người từng tiếp xúc với bệnh nhân và ngăn chặn sự lây nhiễm trong cộng đồng trên diện rộng. Ngày 17/3/2020, Giám đốc Tổ chức y tế thế giới khu vực Đông Nam Á đã hối thúc các quốc gia trong khu vực hành động khẩn trương và quyết liệt chống lại đại dịch nhằm ngăn chặn sự lây lan hơn nữa của Covid-19.

Sức ảnh hưởng của toàn cầu hóa và các tổ chức đa phương quốc tế bị giới hạn trong bối cảnh đại dịch bùng phát dữ dội. Do đó, sự chuẩn bị cho tình huống khẩn cấp và khả năng phục hồi của mỗi quốc gia có ý nghĩa trọng yếu, và một lần nữa sẽ trở nên quan trọng trong việc xác định tính cạnh tranh nói chung của mỗi quốc gia. Khả năng phục hồi của quốc gia bao gồm phản ứng trước các tình huống khẩn cấp, chỉ huy và phối hợp các cơ quan điều hành, hệ thống y tế và năng lực triển khai nguồn lực, năng lực phát triển công nghệ và sự cố kết xã hội và công cộng.

Chẳng hạn, chỉ sau chưa đầy một tháng, Hàn Quốc đã bước đầu kiểm soát được đại dịch sau khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn sự bùng phát của Covid-19 vào giữa tháng 2/2020. Để ngăn chặn dịch bệnh lây lan trên toàn quốc, Hàn Quốc về cơ bản đã giới hạn sự bùng phát trong phạm vi thành phố Daegu và tỉnh Bắc Gyeongsang. Điều đáng khen ngợi là Hàn Quốc đã không áp dụng những biện pháp cực đoan như phong tỏa thành phố hay đình chỉ giao thông, qua đó giảm thiểu sự bất tiện đối với người dân. Điểm nổi bật trong mô hình hiệu quả này của Hàn Quốc là sự sẵn sàng cho các tình huống khẩn cấp và khả năng phục hồi của nước này.

Là tâm chấn ban đầu của bệnh dịch và cũng là nguồn du khách quan trọng, trung tâm của chuỗi công nghiệp toàn cầu, đối tác thương mại và bên cấp vốn quan trọng, Trung Quốc có ý nghĩa trọng yếu đối với tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia Đông Nam Á. Do đó, đại dịch cũng tác động tới nền kinh tế khu vực thông qua du lịch, chuỗi công nghiệp và hoạt động đầu tư, đặc biệt là ở Việt Nam, Thái Lan và Singapore. Mức độ tác động kinh tế của đại dịch ở Đông Nam Á sẽ phụ thuộc vào tốc độ vượt qua đại dịch của Trung Quốc và Đông Nam Á.

Ngày 20/2/2020, bộ trưởng ngoại giao 10 nước ASEAN và Trung Quốc đã tổ chức cuộc họp đặc biệt các bộ trưởng ngoại giao ASEAN-Trung Quốc về Covid-19 tại Viêng Chăn, thủ đô Lào. Đây là cuộc họp đa phương đầu tiên giữa Trung Quốc và các quốc gia khác về Covid-19 và các vấn đề y tế công cộng kể từ khi dịch bệnh bùng phát. Với tư cách các đối tác chiến lược, Trung Quốc và ASEAN đã đưa ra tuyên bố chung sau cuộc họp về cam kết của họ trong việc tăng cường hợp tác chống Covid-19 bùng phát, thúc đẩy hợp tác khu vực trong lĩnh vực y tế công cộng, thiết lập các kênh chia sẻ thông tin về đại dịch, trao đổi kinh nghiệm giữa các chuyên gia y tế, với tầm nhìn nâng cao năng lực chuẩn bị và phản ứng trước các tình huống khẩn cấp.

Những liên kết thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN

Với tư cách láng giềng, Đông Nam Á có những liên kết thương mại gần gũi và tích cực nhất với Trung Quốc. Trung Quốc là quốc gia thương mại lớn nhất thế giới và là đối tác thương mại lớn nhất của hầu hết các nước thành viên ASEAN. Tỷ trọng của ASEAN trong xuất khẩu của Trung Quốc đang gia tăng. Đồng thời, tỷ trọng của ASEAN trong tổng lượng hàng nhập khẩu của Trung Quốc cũng đang trên đà tăng. Những dấu hiệu này chỉ ra mối quan hệ thương mại chặt chẽ giữa ASEAN và Trung Quốc, trung tâm của chuỗi công nghiệp toàn cầu. Năm 2019, tổng kim ngạch ngoại thương của ASEAN lên tới 2.799,2 tỷ USD, trong đó 18% là với Trung Quốc. Con số này cao hơn nhiều so với EU (10%) và Nhật Bản (8,1%).

Mặc dù đầu tư của Trung Quốc vào ASEAN vẫn thấp hơn vào Mỹ, EU và Nhật Bản, nhưng đầu tư của các công ty Trung Quốc vào Đông Nam Á đã có sự tăng trưởng đáng kể trong những năm gần đây. Năm 2019, đầu tư của Trung Quốc vào khu vực đã đạt 15,5 tỷ USD, chiếm hơn 13% đầu tư nước ngoài của Trung Quốc. Các doanh nghiệp Trung Quốc hoạt động rất tích cực ở Đông Nam Á và tham gia nhiều dự án cơ sở hạ tầng lớn trong khu vực, bao gồm đường sắt Trung-Lào từ tỉnh Vân Nam tới Viêng Chăn, các dự án thủy điện ở Lào, nhà máy điện ở Campuchia, nhà máy nhiệt điện than và đường sắt cao tốc Jakarta-Bandung ở Indonesia, các nhà máy sắt thép ở Malaysia và các dự án vận tải cao tốc ở Singapore. Ngoài ra, các nước Đông Nam Á cũng tiêu thụ đáng kể các sản phẩm sản xuất tại Trung Quốc trong thị trường trong nước, từ hàng hóa tiêu dùng, thực phẩm và đồ gia dụng đến hàng hóa cao cấp như động cơ xe, điện thoại thông minh và thiết bị truyền thông.

Tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 đối với nền kinh tế ASEAN

Ngày nay, mối quan hệ kinh tế Trung Quốc-ASEAN đang mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Trung Quốc và các nước thành viên ASEAN đã thiết lập quan hệ kinh tế và các mối liên kết thương mại chặt chẽ thông qua các chuỗi cung ứng toàn cầu. Trung Quốc hiện là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, chiếm 16% nền kinh tế toàn cầu và ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế của ASEAN theo hai hướng.

Thứ nhất, khách du lịch Trung Quốc đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng du lịch ở ASEAN. Trung Quốc đã trở thành nguồn khách du lịch ngoài nước lớn nhất thế giới, với tổng cộng 150 triệu lượt khách năm 2018, tương đương hơn 12% lượng du khách ngoài nước trên toàn cầu. Do tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng văn hóa, những điểm tham quan tự nhiên độc đáo và khoảng cách địa lý gần với Trung Quốc, ASEAN rất được các du khách Trung Quốc ưa chuộng.

Năm 2018, hơn 30 triệu du khách Trung Quốc đã tới ASEAN, chiếm phần rất lớn trong tổng số du khách nước ngoài, nhất là đối với Thái Lan, Việt Nam và Campuchia. Thu nhập của ASEAN từ du lịch đã trở nên phụ thuộc vào tiêu dùng của người Trung Quốc khi có thể thấy hàng đoàn du khách Trung Quốc tụ tập tại nhiều điểm đến du lịch khác nhau, các khu nghỉ mát ven biển, trung tâm mua sắm và nhà hàng. Theo dữ liệu được công bố trong Báo cáo về Trung Quốc và thế giới của Viện nghiên cứu toàn cầu McKinsey tháng 7/2019, mức chi tiêu của du khách Trung Quốc tương đương 7% tiêu dùng cá nhân trong nước ở Singapore và 9% ở Thái Lan.

Tuy nhiên, khi dịch Covid-19 lây lan nhanh chóng, Trung Quốc đã tạm ngưng các nhóm du lịch ra nước ngoài vào cuối tháng 1/2020. Ngoài ra, do nhiều quốc gia đã thực hiện lệnh cấm du lịch nhằm hạn chế du khách Trung Quốc vào đất nước, nhiều yêu cầu đặt tour đã bị hủy. Trong ngắn hạn, việc số lượng du khách Trung Quốc giảm mạnh sẽ tác động sâu sắc đến ngành du lịch, hàng không, dịch vụ ăn uống và các ngành dịch vụ khác ở ASEAN. Các nước phụ thuộc vào du lịch như Thái Lan và Campuchia sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Chẳng hạn, lượng du khách Trung Quốc đến Thái Lan vào tháng 2/2020 đã giảm hơn 90%. Tổng cục du lịch Thái Lan ước tính dịch Covid-19 sẽ khiến ngành du lịch Thái Lan thiệt hại ít nhất 3 tỷ USD.

Để giảm thiểu các tác động tiêu cực đối với ngành du lịch, các nước thành viên ASEAN hy vọng kích thích ngành du lịch trong nước và khai thác các thị trường nguồn mới. Tuy nhiên, sẽ cần phải có thời gian để các biện pháp này mang lại kết quả do dịch bệnh này tác động đến toàn cầu.

Thứ hai, các nước thành viên ASEAN tham gia chuỗi công nghiệp toàn cầu với Trung Quốc làm trung tâm phụ thuộc vào việc xuất khẩu nguyên liệu thô và sản phẩm trung gian sang Trung Quốc để xử lý và lắp ráp giai đoạn cuối. Trong số này có gỗ và nông sản từ Việt Nam, cao su và dầu cọ từ Malaysia, và các linh kiện điện tử từ Singapore. Viện toàn cầu McKinsey ước tính xuất khẩu sang Trung Quốc chiếm tới 11% sản lượng trong nước của Malaysia và Việt Nam.

Theo số liệu thống kê chính thức của Việt Nam, 16.000 nhà máy tại nước này đã ngừng sản xuất vào tháng 1-2/2020, tăng gần 20% so với cùng kỳ năm 2019. Để trở thành "công xưởng tiếp theo của thế giới", trong những năm gần đây, Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ ngành sản xuất định hướng xuất khẩu. Tuy nhiên, nhãn mác "Sản xuất tại Việt Nam" hiện vẫn phụ thuộc vào nguyên liệu thô và sản phẩm trung gian từ Trung Quốc. Chẳng hạn, hơn 50% nguyên liệu thô và sản phẩm trung gian cần thiết cho ngành dệt may của Việt Nam được nhập khẩu từ các nhà cung cấp Trung Quốc. Việt Nam và nhiều nước Đông Nam Á khác gần như không thể khắc phục được sự phụ thuộc này.

Các nước thành viên ASEAN có các hệ thống công nghiệp không tương xứng và thiếu các hoạt động đầu nguồn và cuối nguồn trong các chuỗi giá trị. Trừ Singapore, hầu hết các nước thành viên ASEAN đều có thâm hụt thương mại với Trung Quốc, đặc biệt là Việt Nam, Thái Lan, Indonesia và Philippines. Thâm hụt thương mại kéo dài sẽ gây tổn hại cho các nỗ lực công nghiệp hoá của các nước này.

Kể từ khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Trung Quốc đã tạo cho mình một lợi thế so sánh trong chuỗi công nghiệp toàn cầu. Lợi thế cạnh tranh của Trung Quốc bắt nguồn từ lực lượng lớn các lao động lành nghề và siêng năng, hệ thống giao thông vận tải hiệu quả, cơ sở hạ tầng điện tử, các chuỗi cung ứng đầu nguồn và cuối nguồn, nền chính trị ổn định trong nước và thị trường tiêu thụ khổng lồ.

Đối với ASEAN, hiện nay việc giảm sự tập trung vào Trung Quốc trong chuỗi công nghiệp toàn cầu là không thực tế và bất khả thi. Báo cáo về Trung Quốc và thế giới của Viện nghiên cứu toàn cầu McKinsey cho thấy thế giới ngày càng phụ thuộc vào nền kinh tế Trung Quốc, trong khi đó sự phụ thuộc của Trung Quốc vào nền kinh tế thế giới đã giảm đi do sự chuyển đổi kinh tế và sự phát triển của thị trường tiêu dùng nội địa.

Tái cơ cấu chuỗi công nghiệp và các cơ hội phát triển ở ASEAN

Trong những năm gần đây, để đối phó với chi phí sản xuất gia tăng ở Trung Quốc, sự chuyển đổi kinh tế và việc tăng thuế xuất khẩu do cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung gây ra, nhiều công ty đa quốc gia đang cân nhắc việc di dời hoặc thực sự di dời một phần năng lực sản xuất và chuỗi cung ứng của họ ra khỏi Trung Quốc như là một biện pháp trong chiến lược đa dạng hoá "Trung Quốc+1". Chẳng hạn, sau khi đóng cửa các nhà máy sản xuất ở Thâm Quyến và Thiên Tân năm 2018 và tại Huệ Châu, Quảng Đông vào tháng 10/2019, tập đoàn điện tử Samsung của Hàn Quốc đã hoàn thành mục tiêu chuyển các chuỗi cung ứng của họ ra khỏi Trung Quốc. Samsung hiện có 2 nhà máy sản xuất và lắp ráp lớn tai Việt Nam.

Dịch Covid-19 đã nhấn mạnh tính cấp thiết của việc đa dạng hoá và tái cơ cấu các chuỗi cung ứng toàn cầu. Việc tất yếu tái cơ cấu các chuỗi công nghiệp không còn bị nghi ngờ mà nay đã trở thành vấn đề về thời điểm và mức độ. Đại dịch hiện nay sẽ là một bước ngoặt quan trọng trong nỗ lực này. Theo Bộ Thương mại Trung Quốc, mức độ sử dụng thực tế các khoản đầu tư nước ngoài của nước này trong tháng 1/2/2020 đã giảm 8,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Tháng 2/2020, con số này đã giảm đáng kể 25,6% so với cùng kỳ năm 2019.

Một báo cáo khảo sát vào tháng 2/2020 do Văn phòng thương mại Mỹ tại Trung Quốc thực hiện đã cho thấy 1/3 các công ty Mỹ sẽ rời khỏi Trung Quốc nếu các nhà máy không thể khôi phục hoạt động. Nhiều công ty được khảo sát phàn nàn rằng luật pháp và quy chế của Trung Quốc không minh bạch và các thủ tục cách ly nhân viên đều cồng kềnh và không nhất quán, dẫn đến nhiều khó khăn trong việc khôi phục sản xuất. Tháng 2/2020, tờ Nikkei Asian Review đưa tin rằng tập đoàn công nghệ Foxconn, một công ty đúc kỹ thuật lớn lắp ráp điện thoại thông minh ở Trung Quốc, chỉ có thể khôi phục 50% công suất. Dựa trên các cuộc khảo sát và phân tích này, có thể dự đoán rằng ít nhất 30% doanh nghiệp có vốn nước ngoài sẽ chuyển một phần năng lực chuỗi cung ứng của họ ra khỏi Trung Quốc.

Việc nắm bắt các cơ hội trong thị trường Trung Quốc cũng như các khoản đầu tư của nước này quả thực là điều quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế của ASEAN. Tuy vậy, đại dịch Covid-19 là một hồi chuông cảnh tỉnh đối với ASEAN. Việc quá phụ thuộc vào Trung Quốc và chuỗi công nghiệp lấy Trung Quốc làm trung tâm nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế khu vực đi kèm với những nguy cơ to lớn. Dịch Covid-19 đã nêu bật nguy cơ "cú sốc Trung Quốc", một thuật ngữ trước đó được sử dụng để chỉ tác động của lượng hàng hoá nhập khẩu ngày càng nhiều từ Trung Quốc đối với việc làm trong ngành sản xuất ở các nước phương Tây sau khi Trung Quốc gia nhập WTO.

Theo kết quả của báo cáo thăm dò "Thực trạng của Đông Nam Á năm 2020" do Viện nghiên cứu Đông Nam Á Yusof Ishak tại Singapore thực hiện vào tháng 1/2020, thái độ của các nước thành viên ASEAN đối với Trung Quốc đã trở nên ngày càng phức tạp và thận trọng. Hầu hết giới tinh hoa Đông Nam Á được khảo sát đều tin rằng "Trung Quốc là một cường quốc xét lại và có ý đồ biến Đông Nam Á thành phạm vi ảnh hưởng của nước này". 79% số người được hỏi từ các nước Đông Nam Á đều lo ngại về ảnh hưởng kinh tế ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực, và chỉ 28,1% số người được hỏi hoan nghênh ảnh hưởng kinh tế như vậy.

Với dân số hơn 600 triệu người, Đông Nam Á là một trong những khu vực phát triển nhanh nhất thế giới. Tại đây, lực lượng lao động dồi dào và trẻ, tầng lớp trung lưu đang mở rộng và thị trường có tiềm năng khổng lồ. Với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và chi phí sản xuất thấp, ASEAN có các điều kiện tiên quyết để trở thành công xưởng tiếp theo của thế giới và đóng một vai trò quan trọng hơn trong chuỗi công nghiệp toàn cầu. Việc tái cơ cấu chuỗi cung ứng toàn cầu tạo nhiều cơ hội cho các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam, Indonesia và Campuchia, thúc đẩy sự phát triển của các ngành sản xuất của các nước này và củng cố các ngành phụ trợ. Do đó, các nước Đông Nam Á cần nắm bắt các cơ hội mà việc đa dạng hoá và tái cơ cấu chuỗi công nghiệp toàn cầu đem lại, thực hiện các cải cách táo bạo trong nước và phát triển mạnh mẽ các lĩnh vực sản xuất của mình. Bằng cách thúc đẩy phát triển công nghiệp trong nước, họ sẽ có vị thế tốt hơn để tham gia chuỗi công nghiệp toàn cầu và tăng thị phần.

Yu Hong

Nguyên tác : Wake-up call for ASEAN countries : Curb over-reliance on China and seize opportunities of global supply chain restructuring, Think China, 26/03/2020

Minh Anh giới thiệu

Nguồn : Nghiên cứu Biển Đông, 09/04/2020

Yu Hong, nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Đông Á, Đại học quốc gia Singapore. Bài viết được đăng trên tạp chí ThinkChina

Published in Diễn đàn
lundi, 30 mars 2020 17:05

Bốn nhận thức về ASEAN

Bốn nhận thức cơ bản : (i) những thách thức chính trị nội bộ tiếp tục chi phối nghị trình của hầu hết các nước thành viên ASEAN ; (ii) ASEAN cần thu hẹp khoảng cách giữa sự hợp tác khu vực và cảm nhận của công chúng về tác động của khối ; (iii) mong muốn mạnh mẽ giữ gìn trật tự khu vực cởi mở và bao trùm ; (iv) củng cố sự thống nhất nội bộ và đa dạng hóa quan hệ bên ngoài nhằm tìm ra hướng đi trong cuộc cạnh tranh nước lớn.

asean0

Logo ASEAN 2020 - Ảnh minh họa

Tóm tắt

- Báo cáo Khảo sát tình trạng Đông Nam Á năm 2020 của Trung tâm nghiên cứu ASEAN thuộc Viện nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore xác nhận rằng các nước thành viên ASEAN vẫn bận tâm đến những vấn đề trong nước. Điều này có thể hạn chế năng lực tư duy và hành động của họ ở tầm khu vực.

- ASEAN cần nỗ lực hơn nữa nhằm mang lại những kết quả rõ ràng cho người dân trong khu vực, gia tăng nỗ lực quảng bá và đóng vai trò nổi bật hơn trong việc xử lý các vấn đề khu vực, chẳng hạn như cuộc khủng hoảng nhân đạo ở bang Rakhine, Myanmar.

- Có sự ủng hộ rộng rãi đối với việc ASEAN đẩy mạnh cam kết bảo vệ một trật tự khu vực cởi mở và bao trùm, cũng như can dự với tất cả các cường quốc nhằm duy trì tính đa cực trong khu vực.

- Sự chia rẽ giữa những người tham gia khảo sát khi phải lựa chọn giữa Trung Quốc và Mỹ nêu bật hậu quả mang tính phân cực của việc lựa chọn một trong hai đối với sự thống nhất của ASEAN.

- Những khác biệt về dữ liệu cấp quốc gia nhấn mạnh tính đa dạng của các ý kiến và khuynh hướng chiến lược ở Đông Nam Á.

Giới thiệu

Khảo sát tình trạng Đông Nam Á 2020 thăm dò quan điểm của 1.308 quan chức nhà nước, học giả, doanh nhân, nhà lãnh đạo xã hội dân sự và chuyên gia truyền thông về tình trạng của khu vực. Từ kết quả khảo sát, có thể rút ra 4 điểm then chốt làm cơ sở cho việc ra quyết định của ASEAN cũng như các nước thành viên.

Thứ nhất, các nước thành viên ASEAN vẫn bận tâm đến những vấn đề trong nước và nội khối, hạn chế năng lực tập trung vào các thách thức khu vực. Thứ hai, mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN hướng tới con người và lấy con người làm trung tâm vẫn còn xa vời khi những quan ngại về sự thiếu kết nối giữa hành động của ASEAN ở cấp liên chính phủ và tác động của khối trên thực địa vẫn còn rất lớn. Thứ ba, những phát hiện qua khảo sát chứng thực cam kết lâu dài của ASEAN và các nước thành viên trong việc bảo vệ một trật tự khu vực cởi mở và bao trùm ở Đông Nam Á và bên ngoài khu vực này. Thứ tư, tỷ lệ chọn Mỹ và Trung Quốc gần như nhau - trong một kịch bản giả định mà ở đó cuộc cạnh tranh giữa hai bên buộc khu vực phải chọn phe - nêu bật hậu quả mang tính phân cực của việc đưa ra sự lựa chọn đối với sự thống nhất của ASEAN, và đòi hỏi cấp thiết phải duy trì vị thế của ASEAN là trung gian cởi mở và bao trùm cho sự hợp tác đa phương giữa các đối tác bên ngoài.

Những người tham gia khảo sát vừa chú trọng các vấn đề trong nước vừa muốn ASEAN chủ động và hướng ngoại hơn, hai điều vốn dĩ mâu thuẫn với nhau, vì một ASEAN chủ động đòi hỏi nỗ lực và cam kết nhất quán từ phía các nhà lãnh đạo ASEAN. Điều này nêu bật thách thức tối quan trọng đối với các nhà lãnh đạo ASEAN khi vừa phải đáp ứng yêu cầu của các cử tri trong nước, vừa phải đầu tư thích đáng vào năng lực của ASEAN. Họ cần nắm bắt bản chất cộng sinh giữa lợi ích quốc gia và lợi ích khu vực, đồng thời vun đắp cả hai nhằm củng cố năng lực của ASEAN trong việc định hình những diễn biến trong khu vực.

Bận tâm đến những thách thức trong nước

Những người tham gia khảo sát xác định 3 thách thức an ninh hàng đầu mà Đông Nam Á đang phải đối mặt, bao gồm bất ổn chính trị trong nước (70,5%), suy thoái kinh tế (68,5%) và biến đổi khí hậu (66,8%). Bất ổn chính trị trong nước bao gồm những thách thức như căng thẳng sắc tộc và tôn giáo, cũng như nhận thức về nguy cơ sụp đổ của các chính phủ và thể chế công. Đây là năm thứ hai liên tiếp bất ổn chính trị trong nước được xếp cao hơn các mối đe dọa khác mang tính khu vực hoặc toàn cầu hơn. Trong cuộc khảo sát năm 2019, bất ổn chính trị trong nước và căng thẳng sắc tộc và tôn giáo (hai lựa chọn này trước đây được tách riêng) cũng được xếp cao hơn căng thẳng quân sự gia tăng phát sinh từ những điểm nóng như Biển Đông và chủ nghĩa khủng bố.

Việc những mối quan ngại trong nước tiếp tục được ưu tiên phản ánh nguy cơ đổ vỡ đã tồn tại bao lâu nay trong việc xây dựng nhà nước ở Đông Nam Á. Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp các nước mà ở đó, chính phủ phải đối mặt với tình trạng thiếu tính hợp pháp, những biến động trong giai đoạn chuyển tiếp dân chủ hay những căng thẳng sắc tộc-tôn giáo bùng phát trong các chu kỳ bầu cử. Do đó, đại đa số người tham gia khảo sát ở Campuchia (88,5%), Indonesia (83,8%), Malaysia (81%), Myanmar (88,1%) và Thái Lan (86,5%) cho rằng bất ổn chính trị trong nước là mối đe dọa an ninh lớn nhất đối với họ. Mối quan tâm cao độ về sự ổn định chính trị trong nước ở các quốc gia này cũng phản ánh thứ hạng trung bình-thấp của các nước này về chỉ số Ổn định chính trị và Không bạo lực/khủng bố trong Bộ chỉ số quản trị toàn cầu của Ngân hàng thế giới : Campuchia (51,4/100), Indonesia (27,6), Malaysia (54,3), Myanmar (10,5) và Thái Lan (19,5).

Mặc dù việc chú trọng những vấn đề trong nước và có tầm nhìn khu vực không nhất thiết loại trừ lẫn nhau, nhưng việc dành nhiều thời gian hơn cho một mục tiêu chắc chắn sẽ chuyển hướng sự chú ý và nguồn lực ở mức độ nào đó khỏi mục tiêu còn lại. Trong ngắn hạn, các kết quả cho thấy Đông Nam Á và cộng đồng quốc tế cần có những kỳ vọng thực tế về khả năng của ASEAN trong việc xử lý các vấn đề khu vực. Tuy nhiên, nếu trong dài hạn, lãnh đạo các nước thành viên ASEAN tiếp tục bận tâm đến sự bất ổn trong nước, thì khả năng của họ trong việc xoay xở và tiếp cận các vấn đề khu vực với tư duy khu vực sẽ bị suy giảm. Quả thật, nhiều nhà quan sát than phiền về tình trạng thiếu vắng sự lãnh đạo lâu dài trong ASEAN, khi mà các nước thành viên chỉ đủ sức chịu đựng để đảm nhận vai trò này trong 1 năm nhiệm kỳ chủ tịch luân phiên.

Trong kỷ nguyên kết nối rộng rãi và phụ thuộc lẫn nhau này, những người tham gia khảo sát được hỏi ý kiến về việc liệu ASEAN có nên nỗ lực hơn nữa để giúp các nước thành viên giải quyết những thách thức trong nước, cho dù phải chịu sự kiềm chế của nguyên tắc không can thiệp hay không. Chẳng hạn, ASEAN đã thực hiện việc này khi cung cấp viện trợ nhân đạo cho những người tha hương ở bang Rakhine, Myanmar và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hồi hương người Rohingya thông qua đánh giá nhu cầu và xây dựng năng lực. Tuy nhiên, một nửa số người tham gia khảo sát (54,6%) không tán thành cách ASEAN xử lý cuộc khủng hoảng Rakhine vì họ cho rằng ASEAN có thể đóng góp nhiều hơn nữa. Trong nhóm những người không tán thành, 62,2% muốn ASEAN gia tăng viện trợ nhân đạo hoặc làm trung gian hòa giải giữa Chính phủ Myanmar và cộng đồng người Rakhine và Rohingya, trong khi 37,8% còn lại ủng hộ những bước đi mang tính can thiệp hơn như gia tăng sức ép ngoại giao đối với Yangon hoặc chỉ đạo sứ mệnh duy trì hòa bình khu vực. Sự đan xen các mối quan ngại quốc gia và khu vực đồng nghĩa với việc ASEAN cần phải tăng cường phối hợp và tham vấn nội bộ để tạo ra sự hài hòa giữa nguyên tắc không can thiệp và đòi hỏi cấp thiết về sự can thiệp ở mức độ khu vực.

Tìm kiếm một ASEAN nổi bật và có sức nặng hơn

Mặc dù những người được hỏi bận tâm về các mối quan ngại trong nước, nhưng kết quả thăm dò cho thấy họ ủng hộ một ASEAN nổi bật và có sức ảnh hưởng hơn. Đại đa số (74,9%) coi việc người dân không cảm nhận được những lợi ích hữu hình của ASEAN là mối quan ngại hàng đầu của họ về khối này. Năm 2019, mối quan ngại này cũng xếp trên các vấn đề khác. Sự thiếu kết nối giữa ASEAN và công chúng là một mối quan ngại dai dẳng, và lời kêu gọi ASEAN chú trọng hơn đến việc lấy con người làm trung tâm đã tồn tại từ lâu. Cách đây 15 năm, Nhóm các nhân vật nổi tiếng (EPG) khi góp ý về Hiến chương ASEAN đã nêu bật rằng ASEAN cần rũ bỏ hình ảnh một tổ chức dành cho giới tinh hoa chỉ bao gồm các nhà ngoại giao và quan chức chính phủ. Tham khảo đề xuất của EPG, Hiến chương ASEAN đặt ra mục tiêu thúc đẩy một ASEAN hướng tới con người mà trong đó mọi bộ phận của xã hội đều được khuyến khích tham gia và hưởng lợi từ tiến trình hội nhập và xây dựng cộng đồng ASEAN.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, ASEAN cần tăng cường nỗ lực thông tin về công việc của khối tới công chúng. ASEAN không nên bằng lòng với việc "áo gấm đi đêm", mà cần đẩy mạnh những nỗ lực tiếp cận cộng đồng và các chương trình giáo dục nhằm tăng cường nhận thức về công việc của khối - điều mà nhiều người trong ASEAN không hề biết tới. Người dân ASEAN sẽ khó có thể ủng hộ những sáng kiến hay thể chế mà họ không hiểu rõ. Do đó, các công dân ASEAN phải được hòa nhập xã hội để nhìn nhận Cộng đồng ASEAN như một trong những trụ cột chính trong việc duy trì bản sắc của họ. Việc tạo ra Cộng đồng ASEAN là chưa đủ ; người dân ASEAN phải nhận ra rằng cộng đồng này có tồn tại và họ là một phần trong đó. Khi thiếu đi ý thức về sự hòa nhập và liên kết như vậy, ASEAN không còn là tổ chức hướng tới con người như đã tuyên bố, và điều đó có thể làm xói mòn sự ủng hộ dành cho các sáng kiến thực chất của khối.

Có thể nhận thấy tác động của sự "vô hình" của ASEAN và tình trạng thiếu tiến bộ trong việc giải quyết vấn đề này trong sự suy giảm nhận thức của người dân về sức ảnh hưởng của ASEAN trong khu vực. Chỉ 8,3% số người được hỏi coi ASEAN là bên tham gia kinh tế có ảnh hưởng lớn nhất trong khu vực, giảm so với tỷ lệ 10,3% vào năm 2019. Tỷ lệ người được hỏi coi ASEAN là bên tham gia chính trị-chiến lược có ảnh hưởng lớn nhất cũng giảm từ 20,8% (2019) xuống còn 18,1% (2020).

Tuy nhiên, cũng có những hạn chế vốn có về mặt cấu trúc khiến người dân khó có thể cảm nhận được sức ảnh hưởng của ASEAN ở địa phương. ASEAN là một tổ chức liên chính phủ, nên các thỏa thuận của ASEAN phải được cụ thể hóa thành luật và thực thi ở từng nước, trước khi mang lại lợi ích cho địa phương. Sự chậm trễ hay chệch hướng trong việc thực thi ở từng quốc gia là nút thắt lớn nhất trong hoạt động cung cấp hàng hóa công cộng của ASEAN. Chính phủ một số nước thành viên ASEAN đã đưa ra những sáng kiến nhằm lấp đầy khoảng trống này, chẳng hạn như thiết lập làn đường nhập cảnh ASEAN tại sân bay quốc tế của các nước ASEAN, phát hành Thẻ đi lại của doanh nhân ASEAN nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển của những người này trong khu vực, hay cử các phái đoàn ASEAN đến hỗ trợ thủ tục lãnh sự cho công dân những nước thành viên ASEAN ở các nước thứ ba mà họ không có cơ quan đại diện. Mặc dù đó là những mục tiêu dễ dàng đạt được, nhưng việc thực thi vẫn còn chậm chạp và thường bị trì hoãn do những vấn đề liên quan đến thủ tục hành chính, khó khăn trong chia sẻ chi phí hay khác biệt về khung pháp lý giữa các nước thành viên. Những giải pháp được đề xuất có tác động lớn khác như thiết lập múi giờ chung ASEAN hay cấp thị thực chung ASEAN đều vấp phải những rào cản.

Duy trì trật tự khu vực cởi mở và bao trùm

Kết quả thăm dò cho thấy rõ rằng phần lớn những người tham gia khảo sát vẫn tiếp tục xem xét các giải pháp trong một khu vực cởi mở và hướng ngoại hơn khi phải đối mặt với khó khăn. Chẳng hạn, ngay cả khi ASEAN bị mắc kẹt trong cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung, thì phương án ASEAN nên giữ Mỹ và Trung Quốc ở bên ngoài khu vực được ít người lựa chọn nhất (2,9%), trong khi đó 14,7% muốn ASEAN tìm kiếm các bên thứ ba để mở rộng không gian và lựa chọn chiến lược.

Trong số các bên thứ ba ngoài bộ đôi Mỹ-Trung, Nhật Bản và Liên minh Châu Âu (EU) là những đối tác được tin cậy nhất của khu vực, với tỷ lệ ủng hộ tương ứng là 61,2% và 38,7%, so với 30,3% dành cho Mỹ và 16,1% dành cho Trung Quốc. Những lý do chính giải thích cho sự thiếu tin tưởng này là nhận thức về tình trạng thiếu năng lực và thiếu ý chí chính trị của các nước lớn, hoặc sự xao nhãng của họ do các vấn đề nội bộ. Trung Quốc là ngoại lệ duy nhất, với 53,5% số người tham gia khảo sát bày tỏ quan ngại rằng Bắc Kinh có thể sẽ sử dụng sức mạnh kinh tế và quân sự của mình để đe dọa lợi ích và chủ quyền của đất nước họ. Nhìn chung, lý do giải thích cho sự thiếu tin tưởng của khu vực đối với các nước lớn không nhất thiết là thái độ không hoan nghênh sự can dự của họ, mà là sự không chắc chắn về chiều sâu và độ tin cậy của cam kết của họ.

Mong muốn duy trì một Đông Nam Á cởi mở và bao trùm được phản ánh trong suốt cuộc khảo sát. Chẳng hạn, hầu hết những người được hỏi hoan nghênh việc ASEAN ủng hộ nước Anh hậu Brexit : 42,4% ủng hộ Anh trở thành đối tác đối thoại của ASEAN cho dù tiến trình thiết lập quan hệ đối tác đối thoại mới giữa ASEAN và Anh đã bị đình chỉ suốt 2 thập kỷ qua, và 54,8% lựa chọn cách tiếp cận theo từng giai đoạn với các hình thức can dự mới vào lúc này, chẳng hạn như quan hệ đối tác theo lĩnh vực hay quan hệ đối tác phát triển. Một phát hiện đáng chú ý khác là nhận thức của những người tham gia khảo sát về Đối thoại an ninh Tứ giác (Bộ tứ) gồm Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Úc, với 61,6% cho rằng nước họ nên tham gia các sáng kiến an ninh và các cuộc tập trận có liên quan tới nhóm này. Việc hầu hết các nước trong khu vực vẫn muốn can dự với các thành viên Bộ tứ, cho dù bất đồng về tác động của Bộ tứ đối với an ninh khu vực hay nhạy cảm với Trung Quốc, cho thấy động lực chính đằng sau sự ủng hộ này không phải là thái độ ủng hộ đối với bản thân Bộ tứ, mà là lợi ích mà Đông Nam Á sẽ có được khi duy trì không gian chiến lược cởi mở và bao trùm của mình ở mức độ như nhau đối với tất cả các cường quốc bên ngoài.

Hơn nữa, quan điểm chung của khu vực vẫn thiên về thương mại tự do và cởi mở, cho dù kết quả khảo sát ở từng quốc gia cho thấy một bức tranh phức tạp hơn. Lập trường ủng hộ thương mại mạnh mẽ nhất được thấy ở những người tham gia khảo sát đến từ Việt Nam và Singapore - hai nền kinh tế cởi mở nhất trong ASEAN với tỷ trọng thương mại năm 2018 tương ứng là 208% và 326% GDP. Trái lại, những người tham gia khảo sát đến từ Indonesia và Malaysia có thái độ dè dặt hơn. Chẳng hạn, hơn một nửa số người được hỏi (55,8%) cho rằng Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) cần được mở ra cho tất cả các bên đủ điều kiện và không nên bị giới hạn bởi địa lý, để bao gồm cả các bên như EU và Anh. Quan điểm này được đa số những người tham gia khảo sát đến từ các nước Campuchia, Lào, Myanmar, Philippines, Singapore và Việt Nam ủng hộ. Tuy nhiên, quan điểm mở rộng RCEP bị phản đối nhiều hơn ở các nước Brunei, Indonesia, Malaysia và Thái Lan. Trong khi đó, một thỏa thuận thương mại tự do ASEAN-EU, được sự ủng hộ nhiều hơn trên khắp khu vực với 88,7% số người được hỏi bày tỏ sự ủng hộ ở mức độ nhất định hoặc ủng hộ mạnh mẽ. Một lần nữa, sự ủng hộ mạnh mẽ nhất đến từ Singapore (95,9%) và Việt Nam (92,8%), trong khi đó thái độ dè dặt hơn được ghi nhận ở Indonesia (14,2%) và Malaysia (14,1%). Nhìn chung, kết quả khảo sát cho thấy người dân trong khu vực vẫn hào hứng với việc tăng cường hợp tác kinh tế đa phương và đa dạng hóa các mối quan hệ đối tác của ASEAN nhằm duy trì tính cởi mở và bao trùm của khu vực.

Hậu quả của việc lựa chọn một trong hai

Về tình thế tiến thoái lưỡng nan hiện tại của ASEAN khi bị kẹt giữa Trung Quốc và Mỹ, cuộc khảo sát cũng là cơ hội để ASEAN tự xem xét lại mình. Cuộc khảo sát năm 2020 yêu cầu những người tham gia khảo sát lựa chọn giữa Mỹ và Trung Quốc nếu tình hình trở nên cấp bách. Tỷ lệ lựa chọn gần như nhau - 53,6% đối với Mỹ và 46,4% đối với Trung Quốc - có ý nghĩa không phải vì nó là thước đo định lượng về sự ủng hộ đối với hai bên, mà vì nó nhấn mạnh điểm cốt lõi của vấn đề : Khu vực này không thể cho phép mình chọn phe trong cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung, vì hành động này sẽ làm chia rẽ ASEAN và khu vực.

Hậu quả gây chia rẽ của việc lựa chọn một trong hai là rất rõ ràng khi xem xét dữ liệu từ câu hỏi này ở cấp độ từng quốc gia. Đa số những người được hỏi đến từ 7 quốc gia thành viên ASEAN (Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar và Thái Lan) chọn theo phe Trung Quốc, trong khi 3 nước thành viên Philippines, Singapore và Việt Nam lựa chọn Mỹ. Kết quả cho thấy rõ rằng khu vực này sẽ bị chia rẽ nếu bị buộc phải chọn phe trong cuộc cạnh tranh này, điều chắc chắn sẽ gây thiệt hại lâu dài cho sự thống nhất trong nội bộ ASEAN và sự tồn tại của chính ASEAN với tư cách là nhóm đại diện cho khu vực Đông Nam Á.

Những câu trả lời khác trong cuộc khảo sát cung cấp thêm bối cảnh giúp giải thích cho sự chia rẽ nói trên. Trong một câu hỏi trước đó, những người tham gia khảo sát được yêu cầu trình bày quan điểm về phản ứng mà họ cho là tốt nhất đối với ASEAN trước cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung. Phản ứng được nhiều người ủng hộ nhất (48%) là ASEAN cần tăng cường khả năng phục hồi và sự thống nhất của mình để chống lại sức ép từ hai cường quốc, trong khi câu trả lời được lựa chọn nhiều thứ hai (31,3%) là ASEAN nên tiếp tục lập trường không đứng về phía Trung Quốc hay Mỹ. Trái lại, chỉ 3,1% số người được hỏi cho rằng ASEAN không có lựa chọn nào khác ngoài việc đứng về một phe nào đó, và chỉ 2,9% cho rằng ASEAN phải giữ cả hai cường quốc ở bên ngoài khu vực. Do đó, thế tiến thoái lưỡng nan chiến lược của ASEAN xuất phát từ việc khối này từ chối chọn phe như một giải pháp cho cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung ngay cả khi tình hình trở nên cấp bách.

Kết luận

Khảo sát tình trạng Đông Nam Á 2020 cho thấy 4 điểm then chốt về ASEAN. Tất cả những điểm này đều không mới, nhưng giúp củng cố các điểm dữ liệu cho việc hoạch định chính sách về các vấn đề có liên quan tới ASEAN.

Thứ nhất, những thách thức chính trị nội bộ tiếp tục chi phối nghị trình của hầu hết các nước thành viên ASEAN, nhất là những nước đang trong quá trình chuyển tiếp dân chủ (Myanmar), củng cố nền dân chủ (Indonesia và Malaysia) hoặc đang có bước lùi về dân chủ (Campuchia và Thái Lan). Điều này cũng ngụ ý rằng mối bận tâm của các nhà lãnh đạo ASEAN về những vấn đề trong nước có khả năng sẽ cản trở năng lực tư duy của họ ở tầm khu vực, và tình trạng thiếu vắng vai trò lãnh đạo hiện tại trong ASEAN có khả năng sẽ kéo dài. Các nhà lãnh đạo ASEAN cần chống lại sự cám dỗ của tư duy thiển cận, nhưng phải công nhận những lợi ích mà tổ chức khu vực này mang lại cho họ khi theo đuổi các lợi ích quốc gia tương ứng.

Thứ hai, ASEAN cần thu hẹp khoảng cách giữa sự hợp tác khu vực và cảm nhận của công chúng về tác động của khối. Đây là một nhiệm vụ khó khăn, vì ASEAN cần vượt qua những hạn chế về mặt cấu trúc trong việc thực thi và tuân thủ các thỏa thuận khu vực tại các nước, và từng bước chuyển đổi từ văn hóa chú trọng vào tiến trình sang văn hóa chú trọng vào kết quả trong việc thiết kế và đánh giá các chương trình của khối. Bên cạnh đó, ASEAN cần đẩy mạnh những nỗ lực quảng bá những hàng hóa công cộng của mình nhằm thu hút sự tham gia tích cực hơn của cộng đồng khu vực, nhất là đối với các sáng kiến có tác động lớn như các thỏa thuận thương mại tự do, Cơ chế một cửa ASEAN và nhiều sáng kiến khác.

Thứ ba, báo cáo cho thấy mong muốn mạnh mẽ là giữ gìn trật tự khu vực cởi mở và bao trùm, vốn đã trở thành giá trị cốt lõi của Đông Nam Á. Điều này sẽ giúp duy trì tính đa cực trong khu vực, mà đến lượt nó sẽ tạo ra không gian và cơ hội để các nước thành viên ASEAN phát huy thực lực trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn gia tăng.

Cuối cùng, phản ứng của ASEAN được ủng hộ nhiều nhất trong khu vực trước cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung là củng cố sự thống nhất nội bộ và đa dạng hóa quan hệ bên ngoài nhằm tìm ra hướng đi trong cuộc cạnh tranh nước lớn. Kết quả khảo sát cho thấy những hậu quả thảm khốc sẽ chờ đợi ASEAN nếu các nước thành viên của khối bị buộc phải chọn phe trong cuộc cạnh tranh chiến lược này.

Phân tích trên cũng bao hàm một lưu ý mang tính cảnh báo khác. Mặc dù kết quả khảo sát chỉ ra những xu hướng trên phạm vi khu vực, nhưng dữ liệu cấp quốc gia lại thường bộc lộ những khác biệt và sắc thái khác nhau. Khi xét tới việc ASEAN ra quyết định trên cơ sở đồng thuận giữa tất cả 10 nước thành viên của khối, thì cần tránh việc "vơ đũa cả nắm" khi đưa ra những nhận định về quan điểm của khu vực, đồng thời cần phân tích dữ liệu ở cấp quốc gia để có thể đánh giá đầy đủ tính đa dạng của các ý kiến trong khu vực.

Hoàng Thị Hà & Glenn Ong

Nguyên tác : Surveying ASEAN’s Horizons : The State of Southeast Asia’s 2020 Key Takeaways, ISEAS, Singapore, 12/03/2020

Minh Anh giới thiệu

Nguồn : Nghiên cứu Biển Đông, 30/03/2020

Hoàng Thị Hà và Glenn Ong lần lượt là Trưởng nhóm nghiên cứu (Chính trị và An ninh) và Cán bộ nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu ASEAN, Viện Yusof Ishak-ISEAS. Bài viết được đăng trên ISEAS-Viện Nghiên cứu Đông Nam Á

Published in Diễn đàn
Trang 1 đến 3